Từ khi thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước chuyển nền kinh tế từ tập trung kế hoạch hóa sang phát triển nền KTTT, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách để khuyến khích phát triển KTTN, do vậy KTTN được khẳng định cả về mặt kinh tế và pháp lý. Về mặt kinh tế, các nghị quyết của Đảng đều coi KTTN là một phương hướng phát triển và là bộ phận hợp thành của nền kinh tế quốc dân. Về mặt pháp lý, chính sách của Nhà nước với kinh tế tư nhân ngày càng rõ và được luật hoá như Hiến pháp (1992 và 2013), Luật Công ty (1990), Luật Doanh nghiệp (2000), Luật Doanh nghiệp chung 01012006 và mới đây là Luật Doanh nghiệp 2015 cùng các quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
Trang 21.2 Quan niệm, nội dung và các nhân tố tác động đến phát
triển kinh tế tư nhân trong công nghiệp và dịch vụ ở
2.2 Nguyên nhân thành tựu, hạn chế và những vấn đề đặt ra
cần giải quyết đối với phát triển kinh tế tư nhân trongcông nghiệp và dịch vụ ở tỉnh Phú Thọ 53
Chương
3.
QUAN ĐIỂM VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN TRONG CÔNG NGHIỆP VÀ DỊCH VỤ Ở TỈNH PHÚ THỌ THỜI
3.1 Quan điểm phát triển kinh tế tư nhân trong công nghiệp
và dịch vụ ở tỉnh Phú Thọ trong thời gian tới 653.2 Giải pháp phát triển kinh tế tư nhân trong công nghiệp và
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Từ khi thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước chuyển nềnkinh tế từ tập trung kế hoạch hóa sang phát triển nền KTTT, Đảng và Nhànước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách để khuyến khích phát triển KTTN,
do vậy KTTN được khẳng định cả về mặt kinh tế và pháp lý Về mặt kinh tế,các nghị quyết của Đảng đều coi KTTN là một phương hướng phát triển và là
bộ phận hợp thành của nền kinh tế quốc dân Về mặt pháp lý, chính sách củaNhà nước với kinh tế tư nhân ngày càng rõ và được luật hoá như Hiến pháp(1992 và 2013), Luật Công ty (1990), Luật Doanh nghiệp (2000), Luật Doanhnghiệp chung 01/01/2006 và mới đây là Luật Doanh nghiệp 2015 cùng cácquyết định của Thủ tướng Chính phủ
Kinh tế tư nhân ra đời phát triển đã khẳng định vị trí, vai trò quan trọngtrong nền kinh tế quốc dân Điều này, đã được khẳng định trong các Văn kiện vàNghị quyết Trung ương của Đảng qua các kỳ Đại hội Trên cơ sở kế thừa, pháttriển quan điểm của Đảng về KTTN qua các kỳ Đại hội, cũng như thông quaviệc đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển KT - XH 5 năm 2011 - 2015
và phương hướng nhiệm vụ phát triển KT - XH 5 năm 2016 – 2020; thông quatổng kết thực tiễn 30 năm công cuộc đổi mới toàn diện đất nước tại Đại hội XIIĐảng tiếp tục khẳng định: “Hoàn thiện cơ chế chính sách khuyến khích, tạothuận lợi, phát triển mạnh kinh tế tư nhân ở hầu hết các ngành và lĩnh vực kinh
tế, trở thành một trong những động lực quan trọng của nền kinh tế Hoàn thiệnchính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp.Khuyến khích hình thành các tập đoàn KTTN đa sở hữu và tư nhân góp vốn vàocác tập đoàn kinh tế nhà nước” [21, tr 108]
Cũng như trong cả nước, KTTN ở Phú Thọ nói chung và KTTN trongcông nghiệp và dịch vụ nói riêng có vị trí vai trò quan trọng và ngày càngđược khẳng định là nhân tố quan trọng trong cơ cấu kinh tế của Tỉnh như:góp phần giải phóng lực lượng sản xuất, thúc đẩy phân công lao động xãhội, tạo thêm nhiều việc làm, tăng thu ngân sách, khai thác được thế mạnh
Trang 4tiềm năng của KTTN đối với các sản phẩm công nghiệp truyền thống vànhững ngành dịch vụ có thế mạnh của Tỉnh, góp phần giữ vững ổn địnhchính trị xã hội trong Tỉnh Song thực tế cho thấy, nhận thức của một bộphận cán bộ đảng viên cũng như người dân trong Tỉnh về phát triển KTTNnói chung, KTTN trong công nghiệp và dịch vụ nói riêng chưa thật sựthống nhất cùng với những bất cập, hạn chế của KTTN về vốn, lao động,khoa học công nghệ, khả năng quản lý, tiếp cận thị trường, sự hỗ trợ từ cơquan quản lý Nhà nước dẫn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh trongKTTN chưa tương xứng với tiềm năng hiện có Do vậy, việc tiếp tụcnghiên cứu làm rõ một số vấn đề lý luận, thực tiễn làm cơ sở để xác địnhquan điểm và giải pháp phát triển KTTN trong công nghiệp và dịch vụ ởtỉnh Phú Thọ đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của Tỉnh là vấn đềcó ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn.
Với những lý do trên, tác giả lựa chọn vấn đề: “Phát triển kinh tế tư nhân trong công nghiệp và dịch vụ ở tỉnh Phú Thọ” làm đề tài luận văn thạc sỹ chuyên
ngành kinh tế chính trị
2.Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Kinh tế tư nhân nói chung, KTTN trong công nghiệp và dịch vụ nóiriêng là vấn đề lớn được nhiều tác giả cũng như các nhà khoa học thamgia nghiên cứu với nhiều cấp độ, phạm vi khác nhau cả trên bình diện lýluận và thực tiễn
* Về quan niệm KTTN và phát triển kinh tế tư nhân
Đinh Thị Thơm (2005), Kinh tế tư nhân Việt Nam sau hai thập kỷ đổi mới, thực trạng và những vấn đề đặt ra, Nhà xuất bản Khoa học - Xã hội, Hà
Nội, 2005 Tác giả đã phân tích quá trình tồn tại và phát triển KTTN ở ViệtNam sau hơn 20 năm đổi mới cùng với những thành tựu đạt được và nhữngyếu kém cần khắc phục
GS, TS Nguyễn Thanh Tuyền - PGS, TS Nguyễn Quốc Tế; TS Lương
Mình Cừ (2006), Sở hữu tư nhân và kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà
Trang 5Nội, 2006 Trong cuốn sách này, các tác giả đã phân tích sâu sắc những luận cứkhoa học về sự tồn tại khách quan của sở hữu tư nhân và KTTN từ đó đưa raquan niệm về KTTN trong nền KTTT định hướng XHCN.
Tô Huy Rứa - Hoàng Chí Bảo - Trần Khắc Việt - Lê Ngọc Tòng (2008), Quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng từ năm 1986 đến nay, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội - 2008; Trịnh Thị Hoa Mai (2006), Kinh tế tư nhân Việt Nam trong tiến trình hội nhập, Nhà xuất bản Thế giới, Hà Nội, 2006 Các tác giả đã đưa ra cơ sở
lý luận và thực tiễn để khẳng định phát triển KTTN ở nước ta hiện nay là một tất yếukhách quan; luận giải đặc điểm, tính chất của cơ cấu kinh tế nhiều thành phần trongTKQĐ đi lên CNXH Đồng thời, phân tích thực tiễn phát triển KTTN đáp ứng yêucầu xây dựng nền KTTT định hướng XHCN và hội nhập quốc tế
Lương Minh Cừ (2011), Sở hữu tư nhân và kinh tế tư nhân ở Việt
Nam hiện nay, một số nhận thức về lý luận và thực tiễn, Nhà xuất bản
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011 Công trình làm rõ thêm nhận thức chung về sởhữu và sở hữu tư nhân, trên cơ sở đó đi đến khẳng định việc thực hiện đa dạnghóa các hình thức sở hữu, các loại hình kinh tế là một tất yếu khách quan trongnền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay Đồngthời, làm rõ bản chất, vị trí, vai trò của vấn đề sở hữu tư nhân, KTTN cũng nhưnguồn gốc hình thành và những đặc điểm cơ bản của sở hữu tư nhân, KTTNtrong tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại nói chung và ở Việt Nam nóiriêng, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm thiết thực cho sự nghiệp đổi mớihiện nay ở Việt Nam; trên cơ sở đó nhận thức rõ hơn quy luật vận động, xu thếphát triển của sở hữu tư nhân, kinh tế tư nhân thời điểm hiện tại và tương lai
Thái Doãn Tước (2011), Phát triển kinh tế tư nhân ở Nghệ An, Luận
văn cao học, Học viện Chính trị, Hà Nội, 2011, đã luận giải những vấn đề lýluận về phát triển KTTN ở tỉnh Nghệ An, trên cơ sở khảo sát đánh giá thựctrạng sự phát triển KTTN trên địa bàn Tỉnh Đồng thời, chỉ ra những cơ chếchính sách còn bất cập cản trở sự phát triển KTTN ở Nghệ An Trên cơ sở đó,tác giả đã đề xuất quan điểm và một số giải pháp nhằm tạo điều kiện cho khuvực KTTN phát triển
Trang 6* Về vai trò của kinh tế tư nhân
Đào Văn Phùng (2005), Kinh tế tư nhân Phú Thọ thức dậy một tiềm năng, Tạp chí Kinh tế và dự báo, số 9 (5/2005), đã luận giải, chứng minh quá
trình phát triển KTTN trên địa bàn tỉnh Phú Thọ; đánh giá vai trò KTTN trongquá trình phát triển KT-XH trên địa bàn Tỉnh; chỉ ra những khó khăn vướngmắc của khu vực KTTN trong quá trình phát triển, từ đó đưa ra một số địnhhướng, giải pháp phát triển KTTN trên địa bàn tỉnh Phú Thọ trong thời gian tới
Đặng Hiển (2006), Kinh tế tư nhân - Một trong những động lực của nền kinh tế nước ta hiện nay, Nhà xuất bản Lao động Xã hội, Hà Nội, 2006 đã
đánh giá thực trạng và tầm quan trọng cũng như những đóng góp của KTTNtrong phát triển kinh tế - xã hội của nước ta qua các giai đoạn
Phạm Văn Sơn (2008), Phát triển kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và tác động của nó đến củng cố quốc phòng ở nước ta hiện nay, Luận án tiến sỹ kinh tế, Học viện Chính trị, Hà
Nội, 2008 Tác giả đã luận giải quan niệm, sự cần thiết phát triển KTTN trongnền KTTT định hướng XHCN; chỉ ra những tác động tích cực và tiêu cực củaphát triển KTTN đến củng cố quốc phòng; đánh giá thực trạng và đề xuất một
số quan điểm cơ bản và giải pháp chủ yếu vừa thúc đẩy phát triển KTTN vừabảo đảm củng cố quốc phòng ở Việt Nam
TS Vũ Hùng Cường, Viện kinh tế Việt Nam (2010), Một số vấn đề cơ bản về phát triển khu vực KTTN với tư cách là động lực của mô hình tăng trưởng kinh tế mới giai đoạn 2011 - 2020 Trên cơ sở phân tích thực trạng vai
trò, khuyết điểm của khu vực KTTN Việt Nam, tác giả đã khẳng định trong
mô hình tăng trưởng kinh tế mới, KTTN có một động lực to lớn trong việcthúc đẩy kinh tế - xã hội nước ta phát triển Đồng thời, đề xuất các quan điểm
và giải pháp nhằm định hướng, phát huy vai trò của khu vực KTTN trong môhình tăng trưởng kinh tế mới giai đoạn 2011 - 2020
Trần Thị Tố Linh (2013), Huy động nguồn lực tài chính từ kinh tế tư nhân nhằm phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Kinh tế chính trị,
Trường Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội - 2013 Công trình đã làm rõ những
Trang 7vấn đề lý luận cơ bản về nguồn lực tài chính từ KTTN và huy động nguồn lực tài
từ KTTN cho phát triển kinh tế xã hội; trên cơ sở đó phân tích, đánh giá thực trạnghuy động nguồn lực tài chính từ kinh tế tư nhân cho phát triển kinh tế xã hội ởViệt Nam; đề xuất phương hướng, giải pháp nhằm đẩy mạnh thu hút nguồn lực tàichính từ KTTN nhằm phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam trong thời gian tới
sự phân biệt, đối xử làm hạn chế vai trò của KTTN đối với sự nghiệp phát triểnkinh tế đất nước trong TKQĐ
Nguyễn Minh Tuấn (2006), Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế tư nhân trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Quốc gia thành phố
Hồ Chí Minh, 2006 Đề tài đã khái quát một số vấn đề lý luận cơ bản về KTTN,những điều kiện phát triển KTTN ở thành phố Hồ Chí Minh Đánh giá đúng thựctrạng phát triển KTTN trên địa bàn thành phố trong thời kỳ CNH, HĐH Trên cơ
sở đó, đề ra các giải pháp phát triển KTTN ở thành phố Hồ Chí Minh thời giantới
Phạm Văn Thuần (2007), Đảng viên làm kinh tế tư nhân ở Phú Thọ,
Tạp chí Xây dựng Đảng, Số 1 (3/2007) Tác giả đã cho thấy, tỉnh Phú Thọsớm thống nhất được nhận thức và hành động để phát huy vai trò của đảngviên làm kinh tế tư nhân Các doanh nghiệp do đảng viên làm chủ hoạt độngcó hiệu quả và khẳng định được chỗ đứng của mình, đóng góp không nhỏ chongân sách của Tỉnh, góp phần khôi phục một số ngành nghề truyền thống Tácgiả cũng chỉ ra một số khó khăn về quy mô, tài chính, quản lý, đặc biệt là việcthành lập tổ chức đảng trong các doanh nghiệp do đảng viên lãnh đạo
Trang 8Trần Quang Tuấn (2009), Hoàn thiện cơ chế chính sách quản lý nhà nước đối với kinh tế tư nhân trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ ở thành phố Hải Phòng, Luận án tiến sỹ kinh tế, Đại học kinh tế - Đại học Quốc gia, Hà Nội.
Trên cơ sở phân tích thực trạng KTTN trong lĩnh vực Thương mại - dịch vụ ởthành phố Hải Phòng cũng như công tác quản lý Nhà nước đối với KTTN hoạtđộng trong lĩnh vực Thương mại - dịch vụ còn nhiều hạn chế, cơ chế quản lýchưa rõ ràng, thậm chí nảy sinh những hoạt động phi phạm pháp luật của KTTNtrong lĩnh vực này như: hàng giải, trốn thuế, gian lận thương mại, dịch vụ tráhình Từ đó, tác giải xây dựng hệ thống quan điểm và giải pháp nhằm nâng caohiệu quả, hoàn thiện cơ chế chính sách quản lý Nhà nước đối với KTTN trongThương mại - dịch vụ làm cho KTTN có đóng góp quan trọng vào chiến lượcphát triển KT-XH chung của thành phố Hải Phòng
Phạm Văn Khai (2011), Giải pháp phát triển kinh tế tư nhân tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2011-2015, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế phát triển, Đại học Đà
Nẵng, 2011 Công trình đã khái quát hoá các vấn đề lý luận về phát KTTN; phântích, đánh giá thực trạng phát triến KTTN tỉnh Quảng Ngãi trong thời gian qua.Qua đó, thấy được những mặt thành công cũng như những hạn chế trong pháttriến của KTTN tỉnh Quảng Ngãi Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp góp phầnphát triến KTTN trong tỉnh trong thời gian tới
Điêu Kim Thắng (2013), Giải pháp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Phú Thọ, Đại học kinh tế - Đại học Thái Nguyên, 2013 Tác giả đã phân
tích thực trạng phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh PhúThọ kể từ khi có Luật doanh nghiệp ra đời (năm 2000), trong đó tập trung phântích đánh giá thực trạng các doanh nghiệp vừa và nhỏ thuộc khu vực KTTN.Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị với HĐND, UBND tỉnh Phú Thọ trongtháo gỡ khó khăn vướng mắc tạo điều kiện cho doanh nghiệp vừa và nhỏ trênđịa bàn Tỉnh phát triển Đồng thời, cũng đề xuất một số biện pháp chủ yếunhằm năng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp vừa và nhỏtrên địa bàn tỉnh Phú Thọ trong thời gian tới
Trang 9Phan Quốc Anh (2014), Phát triển KTTN trên địa bàn tỉnh Phú Thọ,
Luận văn Thạc sĩ Kinh tế phát triển, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2014 Tác giảnghiên cứu sự phát triển KTTN trên địa bàn tỉnh Phú Thọ tập trung chủ yếuvào nghiên cứu quá trình phát triển các loại hình doanh nghiệp thuộc KTTN,trên cơ sở đánh giá sự phát triển các loại hình doanh nghiệp, tác giả đã chỉ ranhững thành tựu và hạn chế của các loại hình doanh nghiệp KTTN trên địabàn Tỉnh Từ đó, đề xuất một số định hướng và giải pháp để phát triển doanhnghiệp thuộc KTTN trên địa bàn tỉnh Phú Thọ trong những năm tiếp theo
Tóm lại, mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đếnKTTN nói chung và KTTN ở tỉnh Phú Thọ nói riêng, các công trình nghiêncứu đã đề cập đến những vấn đề về vị trí, vai trò của KTTN, đánh giá sự pháttriển và đưa ra những giải pháp nhằm phát triển KTTN Tuy nhiên, chưa cócông trình nào đi nghiên cứu hoàn chỉnh, hệ thống về phát triển KTTN trongcông nghiệp và dịch vụ ở tỉnh Phú Thọ dưới giác độ một luận văn thạc sỹ
kinh tế chính trị Vì vậy, đề tài “Phát triển kinh tế tư nhân trong công nghiệp
và dịch vụ ở tỉnh Phú Thọ” sẽ tiếp tục luận giải làm rõ những vấn đề lý luận,
thực tiễn về phát triển KTTN nói chung, KTTN trong công nghiệp và dịch vụnói riêng Trên cơ sở đó, đề xuất quan điểm và những giải pháp phát triểnKTTN nói chung, KTTN trong công nghiệp dịch vụ nói riêng ở tỉnh Phú Thọtương xứng với tiềm năng, thế mạnh của thành phần kinh tế này
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Luận giải cơ sở lý luận, thực tiễn và đề xuất quan điểm, giải pháp pháttriển KTTN trong công nghiệp và dịch vụ ở tỉnh Phú Thọ trong thời tới
* Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận giải quan niệm, nội dung và các nhân tố tác động đến phát triểnKTTN trong công nghiệp và dịch vụ ở tỉnh Phú Thọ
Trang 10Phân tích, đánh giá đúng thực trạng phát triển KTTN trong côngnghiệp và dịch vụ ở tỉnh Phú Thọ, xác định nguyên nhân và những vấn đềđặt ra cần giải quyết.
Đề xuất quan điểm và giải pháp phát triển KTTN trong công nghiệp
và dịch vụ ở tỉnh Phú Thọ trong thời gian tới
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Phát triển kinh tế tư nhân dưới góc độ kinh tế chính trị học
* Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: tập trung nghiên cứu sự phát triển kinh tế tư nhân trongcông nghiệp và một số lĩnh vực dịch vụ chủ yếu như: dịch vụ thương mạibuôn bán hàng hóa, dịch vụ ăn uống, du lịch
Về không gian: nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân trong lĩnh vựccông nghiệp và dịch vụ ở tỉnh Phú Thọ
Về thời gian: các số liệu khảo sát, đánh giá thực trạng tập trung chủ yếu
* Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp trừu tượng hóa khoa học, kết hợp lô gícvới lịch sử và sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu của khoa học xãhội như: phân tích, tổng hợp, thống kê so sánh và phương pháp chuyên gia
để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu
6 Ý nghĩa của đề tài
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần cung cấp thêm luận cứ khoa học
để cấp ủy, chính quyền và các ban, ngành tỉnh Phú Thọ tham khảo trong xác địnhchủ trương, giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo phát triển KTTN nói chung, KTTN trong
Trang 11công nghiệp và dịch vụ nói riêng ở Tỉnh, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hộiđặt ra.
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo trong học tập, nghiên cứu mônkinh tế chính trị ở các trường đại học, cao đẳng trong và ngoài quân đội
7 Kết cấu của đề tài
Luận văn gồm mở đầu, 3 chương (6 tiết), kết luận, danh mục tài liệutham khảo và phụ lục
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN
TRONG CÔNG NGHIỆP VÀ DỊCH VỤ Ở TỈNH PHÚ THỌ
1.1 Một số vấn chung về kinh tế tư nhân, phát triển kinh tế tư nhân
1.1.1 Quan niệm, đặc điểm và vai trò của kinh tế tư nhân
* Quan niệm về kinh tế tư nhân
Trong các tác phẩm của mình C.Mác, Ph.Ăngghen và Lênin đã nghiêncứu rất sâu sắc nền kinh tế dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất nhưngcác ông chưa đưa ra thuật ngữ “kinh tế tư nhân” mà chỉ đề cập đến sở hữu tưnhân Theo các nhà kinh điển Mác xít, sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất là cơ
sở nảy sinh và tồn tại của các hình thức kinh tế tư hữu Điều đó, đã đượcPh.Ăngghen trình bày rất rõ trong tác phẩm: “Nguồn gốc của gia đình, củachế độ tư hữu và của nhà nước”
Trong tác phẩm này, Ph.Ăngghen đã chứng minh sự ra đời sở hữu tư nhân
về tư liệu sản xuất, là kết quả phát triển lâu dài của lực lượng sản xuất và kinh tếgia đình cá thể là loại hình kinh tế tư hữu đầu tiên dựa trên chế độ sở hữu tưnhân ấy Ph Ăngghen viết:" Chế độ một vợ một chồng là hình thức gia đình đầutiên căn cứ vào điều kiện kinh tế, tức là thắng lợi của sở hữu tư nhân đối với sởhữu công cộng nguyên thuỷ và tự phát" [2, tr 104] C.Mác và Ph Ăngghen cũng
đã chỉ ra rằng, sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất tồn tại trong nhiều phương thứcsản xuất khác nhau và việc xoá bỏ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất cùng cáchình thức kinh tế tương ứng phải là một quá trình lâu dài, gắn liền với sự phát
Trang 12triển của lực lượng sản xuất Ph.Ăngghen cho rằng" Cuộc cách mạng của giaicấp vô sản đang có tất cả các triệu chứng là sắp nổ ra, sẽ chỉ có thể cải tạo xã hộihiện nay một cách dần dần và chỉ khi nào tạo ra được khối lượng tư liệu sản xuấtcần thiết cho việc cải tạo đó thì khi ấy mới thủ tiêu được chế độ tư hữu".[3, tr.469] Theo đó, các hình thức kinh tế dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuấtvẫn còn tồn tại trong quá trình xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho CNXH.
Kế tục và phát triển tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen trong hoàncảnh lịch sử mới, V.I.Lênin cho rằng: “Sự tồn tại của nhiều thành phần kinh
tế trong thời kỳ quá độ lên CNXH là một tất yếu, cụ thể là ở nước Nga, vẫncòn tồn tại các thành phần kinh tế nông dân kiểu gia trưởng, sản xuất hànghoá nhỏ, chủ nghĩa tư bản tư nhân, chủ nghĩa xã hội” [32, tr 248] Sự tồn tạinhiều thành phần kinh tế trong TKQĐ đặt ra yêu cầu phải thực hiện nhữngchính sách phù hợp để khai thác tối đa nguồn lực xã hội cho công cuộc kiếnthiết đất nước Chính sách kinh tế mới (NEP) do V.I.Lênin đề xướng và tổchức thực hiện ở nước Nga những năm 20 của thế kỷ XX đã tạo điều kiện vàmôi trường phù hợp để các thành phần kinh tế, trong đó có các hình thức kinh
tế tư nhân phát triển đáp ứng nhu cầu của công cuộc khôi phục kinh tế và xâydựng chủ nghĩa xã hội ở nước Nga lúc bấy giờ Lênin đã chỉ ra vai trò to lớncủa kinh tế tư nhân kể từ khi thực hiện (NEP) Lênin cho rằng “Họ đã nộp chonhà nước một cách thoải mái lạ thường và hầu như không bị gò ép một sốthuế lên đến hàng trăm triệu pút lúa đại đa số dân cư mà sản xuất mới quy
mô nhỏ hẹp và nằm trong tay tư nhân, đem lại những số lãi to lớn nhất Toàn
bộ nền sản xuất nông nghiệp của nông dân là thế Nền sản xuất công nghiệpcũng cung cấp những món lãi cũng bằng như thế hay ít hơn một tí, nền sảnxuất này một phần do những tư nhân nắm” [32, tr 310] Từ đó, V.I Lênin,khẳng định sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế trong TKQĐ lên CNXHkhông phải là đặc điểm riêng của nước Nga
Như vậy, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin tuy chưa đưa rathật ngữ" kinh tế tư nhân" nhưng họ đã khẳng định sự tồn tại khách quan của
sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và các hình thức kinh tế dựa trên chế độ tư
Trang 13hữu Các hình thức kinh tế này đã tồn tại trong nhiều phương thức sản xuất vàtiếp tục còn tồn tại trong thời kỳ quá độ lên CNXH
Nghiên cứu về KTTN đã có nhiều công trình của các nhà khoa học kinh
tế nghiên cứu với những góc độ tiếp cận khác nhau Do vậy, cũng có nhữngquan niệm khác nhau về KTTN với cách trình bày và diễn đạt khác nhau
Trước khi có Nghị quyết Trung ương 5 khoá IX thì khái niệm KTTNchưa có nội hàm xác định, trong các văn kiện của Đảng quan niệm về KTTNcũng đã được trình bày Đại hội VI, đã nêu ra năm thành phần kinh tế, trongđó hai thành phần: thành phần kinh tế tiểu sản xuất hàng hóa (bao gồm thợthủ công, nông dân cá thể, những người buôn bán và kinh doanh dịch vụ cáthể) và thành phần kinh tế tư bản tư nhân được hiểu là những thành phầnKTTN Trong cương lĩnh xây dựng đất nước trong TKQĐ được thông quaĐại hội VII của Đảng chỉ nói đến thành phần kinh tế cá thể, còn trong báo cáochính trị của Ban chấp hành Trung ương trình Đại hội VII thì thành phần nàyđược gọi là thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ và tư bản tư nhân được coi làhai thành phần kinh tế hợp thành KTTN Nhưng đến Đại hội VIII của Đảngkhái niệm KTTN không được nói đến trong hệ thống các thành phần kinh tế
mà chỉ được xác định cụ thể là kinh tế cá thể tiểu chủ và tư bản tư nhân Theocách phân chia thành phần kinh tế trong văn kiện Đại hội IX của Đảng thì nềnkinh tế quốc dân nước ta bao gồm sáu thành phần kinh tế là: kinh tế nhà nước;kinh tế tập thể; kinh tế cá thể, tiểu chủ; kinh tế tư bản tư nhân; kinh tế tư bảnnhà nước; kinh tế có vốn đấu tư nước ngoài Trong các thành phần trên, có thểhiểu kinh tế cá thể, tiểu chủ và tư bản tư nhân là thuộc về KTTN Thực ra,kinh tế có 100% vốn đầu tư nước ngoài cũng nằm trong KTTN (nếu thuộc sởhữu tư nhân) Điều đó cho thấy quan niệm về KTTN cũng còn có nhiều quanniệm khác nhau Song chỉ cho đến khi có Hội nghị lần thứ Năm Ban chấphành Trung ương Đảng (khóa IX) trong Nghị quyết Số 14/NQ/TƯ “Về tiếptục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triểnKTTN thì quan niệm về KTTN được xác định: gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ
Trang 14và kinh tế tư bản tư nhân hoạt động dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể vàcác loại hình doanh nghiệp tư nhân” [18, tr 55]
Trong nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X (4/2006) đã xácđịnh trên cơ sở ba chế độ sở hữu cơ bản đang tồn tại ở nước ta, hình thành nêncác thành phần kinh tế với những hình thức tổ chức kinh doanh đa dạng, trongđó có KTTN Kinh tế tư nhân là thành phần kinh tế dựa trên chế độ sở hữu tưnhân về tư liệu sản xuất với quy mô trình độ phát triển từ thấp (kinh tế cá thể,tiểu chủ) đến cao kinh tế tư bản tư nhân Trên cơ sở kế thừa và phát triểnnhững quan điểm của Đảng tại các kỳ Đại hội trước về phát triển các hìnhthức sở hữu và thành phần kinh tế Tại Đại hội XI Đảng ta xác định có bốnthành phần kinh tế: kinh tế Nhà nước; kinh tế tập thể; kinh tế tư nhân; kinh tếcó vốn đầu tư nước ngoài Đến nay, Đại hội XII của Đảng hoàn toàn nhất tríquan điểm về các hình thức sở hữu và thành phần kinh tế như Đại hội XI
Có thể xem KTTN trên các quan hệ kinh tế cơ bản sau:
Xét về quan hệ sở hữu, kinh tế tư nhân dựa trên sở hữu tư nhân về tư
liệu sản xuất (hoặc vốn) cũng như phần của cải vật chất được tạo ra từ tư liệusản xuất hoặc vốn đó Nó bao gồm sở hữu tư nhân nhỏ, là sở hữu của ngườilao động tự do, sản xuất ra sản phẩm nhờ chính lao động của mình và cácthành viên trong gia đình (như thợ thủ công cá thể, tiểu thương, các hộ nôngdân ) và sở hữu tư nhân lớn của các nhà sản xuất kinh doanh trong nước vànước ngoài đầu tư ở Việt Nam
Xét về quan hệ quản lý, xuất phát từ quan hệ sở hữu nêu trên của
KTTN, quan hệ quản lý của khu vực kinh tế này gồm các quan hệ quản lý dựatrên sở hữu tư nhân nhỏ và quan hệ quản lý dựa trên sở hữu tư nhân lớn
Trong quan hệ quản lý dựa trên sở hữu tư nhân nhỏ là quan hệ dựa trên
sự tổ chức, điều hành, giữa các thành viên trong gia đình với nhau Quan hệquản lý dựa trên sở hữu lớn là quan hệ quản lý giữa chủ thể quản lý với đốitượng quản lý và khách thể quản lý, giữa người quản lý và người bị quản lýhay nói cách khác đó là mối quan hệ giữa chủ và thợ, giữa người sử dụng laođộng với lao động làm thuê
Trang 15Xét về quan hệ phân phối, trong KTTN, quan hệ phân phối dựa trên cơ
sở các loại hình sở hữu tư nhân cũng có sự khác nhau Đối với các cơ sở sảnxuất kinh doanh mà người sở hữu đồng thời là nguời trực tiếp lao động,không thuê mướn nhân công thì phân phối kết quả sản xuất là tự phân phốitrong nội bộ chủ thể kinh tế đó Còn đối với các cơ sở sản xuất kinh doanhlớn, chủ sở hữu tư liệu sản xuất (hay vốn) sử dụng lao động của lao động làmthuê thì phân phối kết quả sản xuất căn cứ vào sở hữu giá trị, tức là giá trị sức laođộng của lao động làm thuê và sở hữu tư bản Tất nhiên, trong các chế độ chínhtrị khác nhau thì quan hệ phân phối của KTTN cũng có sự khác biệt nhất định
Khi nghiên cứu thành phần KTTN ta thấy biểu hiện qua hai hìnhthức là hình thức kinh tế cá thể, tiểu chủ và hình thức kinh tế tư bản tưnhân Việc phân địch rạch ròi giữa hai hình thức kinh tế này còn có nhiềukhó khăn, dễ đánh đồng bản chất giữa hai hình thức, điểm cần chú ý là xét
về mặt quan hệ sở hữu, kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhânđều thuộc loại hình sở hữu tư nhân, khác với sở hữu toàn dân và tập thể,điểm khác nhau giữa hai hình thức này là khác nhau về trình độ phát triểnlực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
Kinh tế cá thể, tiểu chủ bao gồm những đơn vị kinh tế hoạt động trên
cơ sở sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, với quy mô nhỏ hơn các loại hìnhdoanh nghiệp tư nhân, hoạt động chủ yếu dựa vào sử dụng lao động trong giađình, là đơn vị kinh tế tự chủ trong sản xuất kinh doanh, tự chịu trách nhiệm
về kết quả sản xuất của mình
Kinh tế tư bản tư nhân là hình thức kinh tế dựa trên cơ sở chiếm hữu
tư nhân TBCN về tư liệu sản xuất của một hay nhiều chủ có sử dụng laođộng làm thuê, hoạt động một cách độc lập trong đó chủ thể tư bản đồngthời cũng là chủ doanh nghiệp Kinh tế tư bản tư nhân tồn tại dưới các loạihình doanh nghiệp như: doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, công ty cổphần, công ty hợp danh
Từ cách hiểu và tiếp cận khác nhau trong từng giai đoạn của Đảng về
KTTN, có thể hiểu: Kinh tế tư nhân là thành phần kinh tế dựa trên sở hữu tư nhân
Trang 16về tư liệu sản xuất, bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và tư bản tư nhân hoạt động dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể và các loại hình doanh nghiệp tư nhân
* Đặc điểm kinh tế tư nhân
So với khu vực KTTN của các nền KTTT trên thế giới, đặc biệt là
ở các nước có nền kinh tế phát triển, KTTN Việt Nam được xem là khuvực kinh tế mới phục hồi và phát triển trong vòng gần 30 năm trở lạiđây Do đó, KTTN Việt Nam bên cạnh những đặc điểm chung giống nhưkhu vực KTTN trên thế giới, KTTN Việt Nam còn có những đặc điểmriêng có sau đây:
Thứ nhất, kinh tế tư nhân là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó kinh tế Nhà nước giữ vaitrò chủ đạo
Kinh tế thị trường là cách thức tốt nhất và duy nhất để một nền kinh tếvận hành có hiệu quả Kinh tế thị trường là phương tiện để đạt đến nền sảnxuất lớn, hiện đại và hiệu quả Và cơ chế thị trường hiện đại là môi trường đểKTTN phát triển KTTN bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và tư bản tư nhân làsản phẩm tự nhiên, tất yếu của quy luật QHSX phù hợp với trình độ củaLLSX trong TKQĐ lên CNXH ở Việt Nam và nó ngày càng phát triển rộngkhắp trong môi trường của kinh tế thị trường, và tự lớn lên trong nền kinh tếthị trường định hướng XHCN ngày càng khẳng định được vai trò là động lựcquan trọng của nền kinh tế quốc dân Mặt khác, KTTN ở nước ta là kết quảcủa chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần trong đó kinh tế nhà nướcgiữ vai trò chủ đạo, KTTN là bộ phận của nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa Phát triển KTTN nhằm mục đích phục vụ cho công cuộc đổimới đất nước, xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội Do đó, về mặtbản chất, nó khác với KTTN ở các nước tư bản chủ nghĩa
Thứ hai, kinh tế tư nhân là sản phẩm của công cuộc đổi mới của đất nước.
Trước đổi mới, KTTN bị coi là thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa
và không được khuyến khích phát triển Kể từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lầnthứ VI, Đảng đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước trong đó KTTN được
Trang 17thừa nhận là một thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ởViệt Nam Điều đó có nghĩa cùng với việc thực hiện đường lối đổi mới ở nước
ta, KTTN được chính thức thừa nhận và khuyến khích phát triển trong tất cảnhững ngành nghề, lĩnh vực sản xuất kinh doanh mà pháp luật không cấm, nhằmtăng cường lực lượng sản xuất, thúc đẩy kinh tế phát triển Còn trước đổi mới,KTTN mặc dù vẫn tồn tại trên thực tế, nhưng không được pháp luật thừa nhận,bảo vệ Chính vì KTTN là sản phẩm của công cuộc đổi mới, được sử dụng choviệc thực hiện mục tiêu của công cuộc đổi mới, do vậy chủ trương phát triểnKTTN ở nước ta hiện nay là nhằm góp phần sớm hiện thực hoá các mục tiêu KT
- XH của TKQĐ, chứ không phải để đưa đất nước phát triển theo con đườngcủa chủ nghĩa tư bản Do đó, KTTN ở nước ta khác về bản chất, so với ở cácnước tư bản chủ nghĩa
Thứ ba, kinh tế tư nhân chịu sự tác động của các quy luật KTTT và sự
quản lý điều hành của Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dânnhằm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
Đây là một trong những đặc điểm nổi bật của KTTN trong nền KTTT địnhhướng XHCN ở Việt Nam Một mặt, KTTN hoạt động tuân theo các quy luậtkinh tế khách quan của nền KTTT như quy luật giá trị, cạnh tranh, cung cầu Nhưng mặt khác, sự hoạt động KTTN trong nền KTTT chịu sự điều tiết của Nhànước Pháp quyền XHCN nhằm dẫn dắt, định hướng mọi thành phần kinh tế củanền kinh tế quốc dân, trong đó có KTTN phát triển vì mục tiêu “dân giàu, nướcmạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” Đây là đặc điểm khác biệt so với KTTN ởcác nước tư bản chủ nghĩa vì ở các nước tư bản sở hữu tư nhân và KTTN giữ vaitrò thống trị và chi phối các thành phần kinh tế khác, sự điều tiết của nhà nước tưsản chỉ nhằm mục đích duy trì QHSX thống trị dựa trên chế độ sở hữu tư nhân về
tư liệu sản xuất nhằm mục đích bảo vệ lợi ích một bộ phận trong xã hội tư bản đóchính và giai cấp tư sản
Thứ tư, chủ các doanh nghiệp, các loại hình tổ chức sản xuất kinh doanh
của KTTN đa số là con em lao động, trong đó có cả cán bộ, viên chức nhà nước
đã nghỉ hưu, nhiều người trong số họ là đảng viên
Trang 18Đây là đặc điểm mang nhiều dấu ấn trong TKQĐ lên CNXH ở ViệtNam Bởi lẽ, nước ta đi lên xây dựng CNXH từ một nước thuộc địa nửaphong kiến với nền kinh tế dựa chủ yếu vào sản xuất nông nghiệp Do đó, sauthời kỳ đổi mới với chủ trương của Đảng khuyến khích mọi người dân vươnlên làm giàu chính đáng, thì trong số các chủ các doanh nghiệp, các loại hình
tổ chức sản xuất kinh doanh của KTTN đa số là con em lao động, và một bộphận cán bộ công chức về hưu muốn đóng góp thêm cho xã hội trong pháttriển KT - XH nâng cao chất lượng cuộc sống cho nhân dân Đặc biệt, từ khiĐảng có chủ trương cho phép đảng viên được làm KTTN thì nhiều cán bộđảng viên tích cực tham gia phát triển kinh tế bằng nguồn lực của bản thân vàgia đình, tích cực tham gia phát triển kinh tế dưới nhiều loại hình doanhnghiệp, công ty và các tổ chức sản xuất kinh doanh, vươn lên làm giàu chínhđáng cho bản thân, gia đình và xã hội Trong khi đó, ở các nước tư bản chủnghĩa chủ các doanh nghiệp, các loại hình tổ chức sản xuất kinh doanh củaKTTN chủ yếu là giai cấp tư sản, tiểu tư sản tham gia phát triển KTTN vìmục tiêu và quyền lợi của giai cấp tư sản
* Vai trò của kinh tế tư nhân
Từ khi Đảng ta chủ trương thực hiện đường lối đổi mới toàn diện đấtnước, KTTN trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần được thừa nhận vàkhuyến khích phát triển trong những ngành nghề, lĩnh vực sản xuất, kinhdoanh mà pháp luật không cấm Qua các kỳ Đại hội của Đảng (kể từ Đại hộiVI) và các hội nghị Trung ương, phát triển KTTN luôn là vấn đề được quantâm, chú trọng trong chủ trương, đường lối phát triển KT-XH của đất nước.Trong đó, KTTN được xác định: là bộ phận cấu thành quan trọng, là mộttrong những động lực quan trọng của nền kinh tế, đồng thời góp phần vàoviệc phát triển đồng bộ các loại thị trường trong nền kinh tế thị trường định
hướng XHCN Đại hội XII Đảng ta đã xác định: “Thống nhất nhận thức về
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là nền kinh tếvận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật thị trường, đồng thời đảm bảotính định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của
Trang 19đất nước Có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đókinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quantrọng của nền kinh tế” [21, tr.25 ].
Có thể thấy, vai trò của phát triển KTTN đối với nền kinh tế nước tatrên một số nội dung cơ bản sau:
Thứ nhất, thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế quốc
dân theo hướng CNH, HĐH
Phát triển KTTN tạo ra nhiều sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đáp ứng nhucầu trong nước và xuất khẩu, góp phần bình ổn giá cả, kiềm chế lạm phát Dođó, trong những năm qua KTTN đã khẳng định được vai trò là động lực quantrọng trong thúc đẩy phát triển KT-XH, khai thác các tiềm năng có hiệu quả,đóng góp ngày càng lớn và ngân sách nhà nước
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê trong giai đoạn 2010-2015, khuvực doanh nghiệp Nhà nước chiếm 45% tổng vốn đầu tư nhưng chỉ tạo ra28% GDP, trong khi đó khu vực doanh nghiệp dân doanh chỉ chiếm 28% vốnđầu tư nhưng tạo ra 46% GDP Hiện nay KTTN đóng góp đến hơn 2/3 GDPcủa cả nước; 3/4 giá trị sản xuất công nghiệp; 55% giá trị xuất khẩu của cảnước [40, tr 38] Điều đó chứng tỏ KTTN có sự đóng góp lớn vào việc giatăng sản lượng và tăng trưởng kinh tế, được coi là một động lực quan trọngcủa nền kinh tế quốc dân
Với tốc độ phát triển ngày càng nhiều hoạt động rộng khắp trên tất
cả các lĩnh vực và phát triển ở khắp các địa phương KTTN đã và đang làmchuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch
vụ giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp Điều này cho thấy, cơ cấu kinh tếđang chuyển dịch theo hướng công nghiệp hiện đại Cơ cấu kinh tế có xuhướng chuyển dịch cân bằng không chỉ thể hiện về số lượng giữa KTTNvới các thành phần kinh tế khác, mà còn thể hiện rất rõ trong sự phát triểncủa các vùng lãnh thổ, và giữa các ngành Các doanh nghiệp đăng ký hoạtđộng chủ yếu trong lĩnh vực kinh doanh thương mại chiếm 42% tổng số
Trang 20doanh nghiệp, công nghiệp - xây dựng 31%, dịch vụ khác 22%, nôngnghiệp chỉ chiếm tỷ lệ khiêm tốn khoảng 5%.
Thực tế cho thấy, quá trình phát triển KTTN đồng thời là quá trìnhtìm kiếm phương thức kinh doanh có hiệu quả nhằm giảm bớt chi phí sảnxuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng sức cạnh tranh của hàng hóatrên thị trường Đó cũng là quá trình các chủ doanh nghiệp phải tự đổimới công nghệ, kỹ thuật, khoa học quản lý của doanh nghiệp mình,chuyển hướng sản xuất kinh doanh vào những ngành nghề thế mạnh cótrình độ khọc công nghệ hiện đại, từ đó tự bản thân nó chuyển dịch cơcấu kinh tế hợp lý hơn
Thứ hai, góp phần khai thác và tận dụng có hiệu quả tiềm năng về vốn,
các nguồn nguyên liệu ở từng địa phương
KTTN có hiệu quả đầu tư cao hơn rất nhiều so với doanh nghiệp nhànước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Theo tính toán, để tạo 1 đơn
vị giá trị GDP, các doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân chỉ cần 3,74 đơn vịđầu tư, trong khi ở khu vực nhà nước cần tới 8,28 đơn vị và doanh nghiệp khuvực FDI cần 4,99 đơn vị Doanh thu trên tổng số tài sản khu vực tư nhân cũngcao hơn các khu vực khác, nếu với 1 tỉ đồng tài sản, doanh nghiệp tư nhân sẽtạo ra được 1,18 tỉ đồng doanh thu, thì doanh nghiệp ở khu vực nhà nước chỉtạo ra được 0,80 tỉ đồng và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tạo ra 0,89 tỉđồng [40, tr 128].Chính vì thế, vai trò của KTTN trong nền kinh tế ngày càngtrở nên quan trọng
Với tính chất hoạt động rộng khắp, sản xuất kinh doanh trên tất cả cáclĩnh vực ở các địa phương Do vậy, KTTN có thể khai thác và phát huy lợi thế
về nguyên, nhiên liệu của từng địa phương, góp phần tiêu thụ nguồn nguyênliệu tại địa phương giảm áp lực nhập khẩu, từ đó góp phần giảm giá thành sảnphẩm tăng tính cạnh tranh của hàng hóa trên thị trường Thực tế cho thấy,những năm qua nhờ vào việc phát triển rộng khắp của KTTN trên tất cả cácngành nghề ở các địa phương đã góp phần to lớn đảm bảo tiêu thụ đầu ra chocác vùng nguyên liệu tại các địa phương trên cả nước Từ đó, khai thác triệt
Trang 21để tiềm năng, thế mạnh góp phần duy trì sản xuất ổn định các vùng nguyênliệu của các địa phương thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển ngày càng ổn định.
Thứ ba, góp phần tạo việc làm và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Đối với các nước đang phát triển như Việt Nam, một trong những đặcđiểm chung và lớn nhất là có số lượng lao động thiếu việc làm nhiều, trongkhi quy mô nền kinh tế còn nhỏ Do đó, giải quyết vấn đề việc làm và sử dụnghết số lao động có tầm quan trọng hàng đầu để tăng trưởng kinh tế, giải quyếtcác vấn đề xã hội do thất nghiệp và thiếu việc làm gây ra
Trong thời gian qua, KTTN được khuyến khích và phát triển rộng khắptrong cả nước, đã tạo ra công ăn việc làm cho hàng vạn lao động Bởi vậy, mặc dù
tỷ trọng của KTTN trong GDP chiếm trên 45% nhưng đã sử dụng tới 85% tổng sốlao động xã hội Số liệu thống kê cho thấy, những năm qua KTTN có khảnăng thu hút nhiều lao động nhất Năm 2010 khu vực KTTN là 25 078 324người chiếm 56,3% lao động có việc làm thường xuyên trong tổng lao động
xã hội Trong bốn năm từ 2010 - 2014 thu hút thêm hơn 1 triệu lao động, gấp7,1 lần so với khu vực kinh tế Nhà nước đặc biệt là lao động có tay nghềchuyên môn cao [40, tr 54]
Trong tổng số lao động đang làm việc tăng lên trong nền kinh tế trongnăm 2010 so với năm 2014 (11.546, 4 nghìn người) thì khu vực kinh tế Nhànước tăng 1.100, 3 nghìn người chiếm 10,3%; khu vực ngoài nhà nước tăng
10 456, 0 chiếm hơn 78,3 %; Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 1 423,nghìn người chiếm 12,3% [40, tr 42]
Ngoài việc tạo việc làm cho người lao động, phần lớn các doanh nghiệpđang phải tự đào tạo hoặc bồi dưỡng nâng cao tay nghề cho người lao độnglàm việc trong các loại hình doanh nghiệp và tổ chức kinh tế Hình thức đàotạo đa dạng, linh hoạt, nhạy bén như: kèm cặp hướng dẫn, cầm tay chỉ việchoặc gửi đào tạo tại các trung tâm dạy nghề, … Bên cạnh đó, để đứng vững trongcạnh tranh, các doanh nghiệp KTTN phải luôn tìm tòi những biện pháp tổ chứclao động quản lý có hiệu quả nhất, vì vậy kỷ luật lao động được thực hiện rấtnghiêm, lao động có kỹ năng tác phong công nghiệp Các doanh nghiệp KTTN
Trang 22trong quá trình phát triển đã đẩy nhanh tốc độ đổi mới trình độ công nghệ nêntrình độ của người lao động trong khu vực KTTN không ngừng được nâng cao.
Thứ tư, góp phần làm cho quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển và dân chủhóa đời sống kinh tế được tăng cường
Chính sự phát triển KTTN với nhiều loại hình kinh tế khác nhau, đãgóp phần làm cho QHSX chuyển biến phù hợp với LLSX trong giai đoạnchuyển đổi nền kinh tế nước ta Trong TKQĐ, trình độ LLSX ở nước takhông những thấp mà còn tồn tại nhiều trình độ khác nhau Bởi vậy, tươngứng với nó là sự đa dạng trong quan hệ sở hữu, cùng với sở hữu toàn dân và
sở hữu tập thể còn có sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và sở hữu hỗn hợp Sựchuyển biến trong quan hệ sở hữu kéo theo sự chuyển biến trong quan hệ quản
lý, bên cạnh đội ngũ giám đốc và những người làm công ăn lương trong cácdoanh nghiệp nhà nước, hình thành tầng lớp chủ doanh nghiệp và đội ngũ laođộng làm thuê trong các DNTN… làm xuất hiện quan hệ chủ thợ, quan hệthuê mướn lao động thông qua hợp đồng kinh tế v.v… Cùng với sự chuyểnbiến trong quan hệ sở hữu và quan hệ quản lý, quan hệ phân phối cũng trở nên
đa dạng hơn, ngoài phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế còncó các hình thức phân phối khác như: phân phối theo vốn góp, theo tài sản,theo cổ phần… Sự chuyển biến của cả ba mặt trên đã làm cho QHSX trở nênmềm dẻo, đa dạng, linh hoạt phù hợp với thực trạng của nền kinh tế nước tahiện nay Điều đó cho phép, khơi dậy và phát huy được các nguồn lực của xãhội vào công cuộc phát triển kinh tế Đây thực sự là quá trình xã hội hoáLLSX trên thực tế phù hợp với thực tiễn Việt Nam hiện nay Quá trình nàyđang từng bước thúc đẩy LLSX phát triển
Với việc phát triển các loại hình sản xuất kinh doanh của KTTN làmcho quyền làm chủ về kinh tế của mỗi doanh nghiệp, mỗi người dân đượcphát huy Mọi công dân có quyền tham gia các hoạt động sản xuất kinhdoanh mà pháp luật cho phép, kinh doanh với quyền sở hữu tài sản và quyền
tự do kinh doanh đều được pháp luật bảo hộ; có quyền bình đẳng trong đầu
Trang 23tư kinh doanh, tiếp cận các nguồn lực, thông tin thị trường Quá trình dânchủ hóa đời sống kinh tế ngày càng mở rộng, đặt ra yêu cầu phải đổi mới cơchế quản lý kinh tế của Nhà nước đối với KTTN sao cho phù hợp với nềndân chủ XHCN, cũng như góp phần thúc đẩy, nâng cao đời sống văn hóatinh thần của toàn xã hội.
* Quan niệm về phát triển kinh tế tư nhân
Để làm rõ quan niệm phát triển KTTN trước hết đi từ quan niệm về pháttriển nói chung và phát triển kinh tế nói riêng
Theo từ điển bách khoa Việt Nam “Phát triển : là phạm trù triết họcchỉ ra tính chất của những biến đổi đang diễn ra trong thế giới Không đơngiản chỉ có biến đổi, mà luôn luôn chuyển sang những trạng thái mới, tức
là những trạng thái trước đây chưa từng có và không bao giờ lặp lại hoàntoàn trạng thái đã có” [44, tr.434]… Còn phát triển kinh tế được địnhnghĩa như sau “Phát triển kinh tế : là quá trình biến đổi nền kinh tế quốcdân bằng sự gia tăng sản xuất và nâng cao mức sống dân cư Đối với cácnước đang phát triển thì phát triển kinh tế là quá trình đưa nền kinh tếchậm phát triển thoát khỏi lạc hậu, đói nghèo và thực hiện công nghiệphóa, hiện đại hóa; là sự tăng trưởng kinh tế gắn liền với sự thay đổi cơ cấukinh tế, thể chế kinh tế, văn hóa, pháp luật, thậm chí kỹ năng quản lý,phong cách tập tục…” [45, tr.425]
Theo quan điểm của Đại học Kinh tế quốc dân: phát triển kinh tế có thểhiểu là một quá trình lớn lên (hay tăng tiến) về mọi mặt của nền kinh tế trongmột thời kỳ nhất định Trong đó bao gồm cả sự tăng thêm về quy mô sản xuất(tăng trưởng) và sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế
Trên cơ sở quan niệm về KTTN, “phát triển” và “phát triển kinh tế”
theo hướng tiếp cận đó có thể hiểu: Phát triển KTTN là sự vận động biến đổi của các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất dưới tác động của các quy luật kinh tế thị trường và sự định hướng dẫn dắt của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thể hiện sự gia
Trang 24tăng về số lượng, quy mô cùng với sự dịch chuyển về cơ cấu, trình độ sản xuất kinh doanh theo hướng tiến bộ, hiệu quả…nhằm thực hiện mục tiêu: “ dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”
Trên cơ sở quan niệm về phát triển KTTN có thể hiểu phát triển KTTN
trên một số nội dung cơ bản như: Thứ nhất, phát triển KTTN trước hết, là sự
vận động, biến đổi của KTTN thể hiện ở sự gia tăng về số lượng, quy mô của
nó (bao gồm cả vốn và lao động) Thứ hai, cùng với sự tăng thêm về số
lượng, quy mô là sự chuyển dịch về cơ cấu (ngành, vùng ) của KTTN theo
hướng tiến bộ, hiệu quả Thứ ba, trình độ, hiệu quả sản xuất, kinh doanh trong
KTTN không ngừng được nâng lên v.v
1.2 Quan niệm, nội dung và những nhân tố tác động đến phát triển kinh tế tư nhân trong công nghiệp và dịch vụ ở tỉnh Phú Thọ
1.2.1 Quan niệm về phát triển kinh tế tư nhân trong công nghiệp và dịch vụ ở tỉnh Phú Thọ
* Quan niệm về kinh tế tư nhân trong công nghiệp và dịch vụ
Từ cách tiếp cận nghiên cứu về KTTN, trên cơ sở phân tích đặc điểm,vai trò và quan niệm về KTTN, có thể hiểu kinh tế tư nhân trong công nghiệp
và dịch vụ như sau: Kinh tế tư nhân trong công nghiệp và dịch vụ là loại hình
kinh tế dựa trên sở hữu toàn bộ hay một bộ phận tư liệu sản xuất trong côngnghiệp và dịch vụ thuộc sở hữu tư nhân, phù hợp với nó là các doanh nghiệp,các loại hình tổ chức sản xuất kinh doanh tương ứng
* Quan niệm về phát triển kinh tế tư nhân trong công nghiệp và dịch vụ
ở tỉnh Phú Thọ
Từ quan niệm về phát triển KTTN, KTTN trong công nghiệp và dịch
vụ nêu trên, có thể hiểu phát triển KTTN trong công nghiệp và dịch vụ ở tỉnh
Phú Thọ: Là hoạt động tích cực của chủ thể nhằm thúc đẩy sự vận động biến đổi của các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh của kinh tế tư nhân trong công nghiệp và dịch vụ ở tỉnh Phú Thọ với sự gia tăng về số lượng, quy mô cùng với
Trang 25sự dịch chuyển về cơ cấu, trình độ sản xuất kinh doanh theo hướng tiến bộ, hiệu quả góp phần thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Tỉnh.
Quan niệm về phát triển KTTN trong công nghiệp và dịch vụ ở tỉnhPhú Thọ được thể hiện trên các nội dung cụ thể như:
Mục đích trước hết và thiết thực phát triển KTTN trong công nghiệp vàdịch vụ ở tỉnh Phú Thọ đó chính là vấn đề lợi nhuận, thông qua việc huy động cóhiệu quả các nguồn lực của KTTN nói chung, KTTN trong công nghiệp và dịch
vụ nói riêng và các nguồn lực trong nhân dân ở tỉnh Phú Thọ nhằm nâng caohiệu quả vào sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp và loại hình tổ chức sảnxuất kinh doanh của KTTN Bên cạnh đó, mục đích phát triển KTTN trong côngnghiệp và dịch vụ ở tỉnh Phú Thọ không chỉ là sự phát triển đơn thuần củariêng thành phần KTTN, mà sự phát triển đó còn góp phần tạo tạo việc làm,nâng cao thu nhập cho người lao động; tăng thu ngân sách nhà nước của tỉnh;thúc đẩy quá trình CNH, HĐH và hội nhập kinh tế và hiện thực hóa các mục tiêukinh tế - xã hội của tỉnh Phú Thọ
Chủ thể quá trình phát triển KTTN nói chung, KTTN trong côngnghiệp và dịch vụ nói riêng là Đảng bộ, chính quyền, các ban, ngành, đoànthể, các chủ doanh nghiệp, chủ các loại hình tổ chức sản xuất kinh doanh và ngườilao động trong công nghiệp, dịch vụ của tỉnh Phú Thọ trong việc cụ thể hóa chủtrương, đường lối, của Đảng chính sách của Nhà nước và vận dụng các quy luậtkinh tế khách quan vào phát triển KTTN phù hợp với điều kiện cụ thể của Tỉnh
Phương thức, lực lượng phát triển của KTTN trong công nghiệp và dịch
vụ ở tỉnh Phú Thọ còn là quá trình vận động biến đổi, phát triển của các loại hình
tổ chức sản xuất kinh doanh của KTTN trong công nghiệp và dịch vụ tỉnh PhúThọ Trong đó, bao gồm sự vận động biến đổi theo hướng gia tăng của kinh tế cáthể, tiểu chủ và tư bản tư nhân về số lượng, quy mô cũng như sự chuyển dịch về
cơ cấu của KTTN trong công nghiệp và dịch vụ dưới tác động của quy luật kinh
tế khách quan của nền KTTT như: quy luật giá trị, cung cầu, cạnh tranh… và sựquản lý Nhà nước từ Trung ương tới địa phương thông qua việc thực hiện đường
Trang 26lối, chủ trương của Đảng, chính sách, luật pháp của Nhà nước cũng như chínhsách phát triển KT - XH của Đảng bộ, chính quyền tỉnh Phú Thọ.
1.2.2 Nội dung phát triển kinh tế tư nhân trong công nghiệp và dịch
vụ ở tỉnh Phú Thọ
Trên cơ sở quán triệt quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế nhiều thànhphần và quan niệm về phát triển KTTN trong công nghiệp, dịch vụ cũng như địnhhướng của Đảng bộ, chính quyền tỉnh Phú Thọ về phát triển KTTN, có thể xácđịnh nội dung phát triển KTTN trong công nghiệp và dịch vụ trên địa bàn tỉnhbao gồm một số nội dung cơ bản sau:
Một là, sự phát triển về số lượng, quy mô về vốn, lao động đối KTTN trong công nghiệp và dịch vụ ở tỉnh Phú Thọ.
Sự tăng lên về số lượng, quy mô về vốn, lao động đối với các hình thức tổchức hoạt động sản xuất, kinh doanh của KTTN là những nội dung không thể thiếukhi đề cập đến phát triển KTTN trong công nghiệp và dịch vụ Bởi lẽ, không thểnói phát triển KTTN trong công nghiệp và dịch vụ trong khi số lượng, quy mô củanó lại không có sự tăng thêm Do đó, phát triển KTTN trong công nghiệp và dịch
vụ trước hết là sự tăng lên về số lượng các hình thức tổ chức hoạt động sản xuấtkinh doanh của hai lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ trong KTTN và trong cơ cấukinh tế chung của tỉnh (bao gồm: hộ kinh doanh cá thể, tiểu chủ và các loại hìnhdoanh nghiệp của tư nhân như: DNTN, công ty TNHH, CTCP, công ty hợp danh)cùng với sự mở rộng về quy mô (cả về vốn và lao động) của các hình thức đó
Hai là, huy động vốn cho sản xuất, kinh doanh; tạo việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống nhân dân; tăng thu ngân sách cho Tỉnh.
Đây là nội dung mà phát triển KTTN trong công nghiệp và dịch vụ phảiquan tâm hướng tới Do phát triển KTTN nói chung và trong công nghiệp vàdịch vụ nói riêng tồn tại, phát triển trong môi trường phát triển KTTT địnhhướng XHCN Do vậy, phát triển KTTN trong công nghiệp và dịch vụ khôngthuần tuý chỉ là sự phát triển của bản thân KTTN với các mục tiêu kinh tế mànó còn bao hàm cả mục tiêu xã hội Chính vì thế, nói đến phát triển KTTNtrong công nghiệp và dịch vụ ngoài việc xem xét các yếu tố về mặt “kỹ thuật”
Trang 27còn phải chú trọng đến các yếu tố về mặt “xã hội” Trong đó, huy động vốncho sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm, tăng thu cho ngân sách của tỉnh, nângcao thu nhập và cải thiện đời sống người lao động và nhân dân là những yếu
tố rất cần thiết đối với phát triển KTTN trong công nghiệp và dịch vụ ở tỉnh PhúThọ hiện nay Điều đó cho thấy, quá trình phát triển KTTN trong công nghiệp vàdịch vụ, cùng với sự tăng lên về số lượng, quy mô; cơ cấu chuyển dịch theohướng tiến bộ; nâng cao năng lực cạnh tranh thì các vấn đề như vốn cho sảnxuất, kinh doanh, việc làm và đời sống người lao động, đóng góp cho ngân sáchcủa tỉnh cũng phải có sự phát triển tương ứng
Ba là, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của KTTN trong công nghiệp và dịch vụ theo hướng tiến bộ, hiệu quả
Cùng với sự tăng thêm về số lượng, quy mô thì sự tiến bộ về cơ cấukinh tế cũng là một nội dung của phát triển KTTN trong công nghiệp và dịch
vụ Bởi điều đó, một mặt sẽ thúc đẩy bản thân trong nội bộ KTTN phát triểntheo cơ cấu tiến bộ và hiện đại theo hướng tăng tỷ trọng phát triển các ngànhnghề sản xuất kinh doanh trong công nghiệp và dịch vụ và giảm tỷ trọng củangành nông nghiệp, mặt khác nó bảo đảm phát triển KTTN góp phần tíchcực trong thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh theo hướng tiến bộ,hiệu quả, phát huy được thế mạnh của các vùng, miền, các lĩnh vực củatỉnh cho phát triển kinh tế Đồng thời, từng bước tạo điều kiện để tỉnh PhúThọ tham gia và hội nhập sâu rộng vào phân công lao động, hợp tác quốc
tế Sự chuyển dịch cơ cấu KTTN nói chung, KTTN trong công nghiệp vàdịch vụ nói riêng theo hướng tiến bộ, hiệu quả bao hàm trong đó cả sựchuyển dịch về cơ cấu vùng, cơ cấu ngành , bảo đảm KTTN có mặt ở tất
cả các vùng miền, các lĩnh vực, ngành nghề sản xuất, kinh doanh trong côngnghiệp và dịch vụ đáp ứng yêu cầu phát triển KT - XH của tỉnh
Bốn là, nâng cao năng lực cạnh tranh, xâm nhập thị trường và xây dựng thương hiệu của các doanh nghiệp, các loại hình tổ chức sản xuất,kinh doanh của KTTN trong công nghiệp và dịch vụ.
Trang 28Đây là nội dung cần quan tâm trong phát triển KTTN trong côngnghiệp và dịch vụ Bởi lẽ, đi đôi với sự tăng thêm về số lượng, quy mô; cơcấu; trình độ thì việc nâng cao năng lực cạnh tranh, xâm nhập thị trường củaKTTN trong công nghiệp và dịch vụ được coi như là kết quả của của các yếu
tố trên Sự phát triển KTTN thể hiện ở khả năng cạnh tranh, chiếm lĩnh thịtrường của hàng hóa, dịch vụ của KTTN trong công nghiệp và dịch vụ Điềunày được biểu hiện: sự ủng hộ, lựa chọn của người tiêu dùng về các sản phẩmhàng hóa, dịch vụ cùng loại của KTTN trong công nghiệp và dịch vụ so vớisản phẩm có nguồn gốc khác Qua đó, hình thành uy tín trong đời sống tiêudùng của nhân dân tỉnh Phú Thọ và người tiêu dùng cả nước Đồng thời, từngbước xây dựng và tạo được thương hiệu sản phẩm hàng hóa sản xuất, kinhdoanh mang đậm nét dấu ấn của một tỉnh trung du miền núi phía Bắc
Ngoài những nội dung cơ bản nêu trên, phát triển KTTN trong côngnghiệp và dịch vụ ở tỉnh Phú Thọ còn phải kể đến sự chuyển đổi về cơ chếquản lý kinh tế; sự phát triển về quan hệ sản xuất; việc mở rộng các loại thịtrường, không chỉ thị trường trong nước mà cả thị trường ngoài nước, đó là
sự tham gia có hiệu quả trong hội nhập, phân công lao động trong nước,trong khu vực và trên phạm vi quốc tế
1.2.3 Những nhân tố tác động đến phát triển kinh tế tư nhân trong công nghiệp và dịch vụ ở tỉnh Phú Thọ
* Điều kiện tự nhiên
Phú Thọ được tái lập tỉnh ngày 01/01/1997, là một tỉnh trung du miềnnúi, cửa ngõ phía tây bắc của thủ đô Hà Nội, cách thủ đô Hà Nội 80 km vềphía bắc theo hướng quốc lộ 2 Phú Thọ có vị trí tiếp giáp với các tỉnh: phíaBắc giáp Tuyên Quang, phía Nam giáp Hòa Bình, phía Đông giáp VĩnhPhúc, phía Tây giáp tỉnh Yên Bái, Sơn La Có 3 dòng sông lớn chảy qua vàhợp lưu tại Bạch Hạc (thành phố Việt Trì) là sông Hồng, sông Đà và sông Lô.Phú Thọ có 353.294,93 ha diện tích tự nhiên và 1.313.926 nhân khẩu; 13huyện, thành, thị (thành phố Việt Trì, thị xã Phú Thọ, 11 huyện: Thanh Sơn,Tân Sơn, Yên Lập, Cẩm Khê, Tam Nông, Thanh Thủy, Hạ Hòa, Thanh Ba,
Trang 29Đoan Hùng, Lâm Thao, Phù Ninh) với 277 đơn vị hành chính cấp xã [11, tr.5].
Nằm ở trung lưu của hệ thống sông Hồng, hệ thống sông ngòi của tỉnhphân bố tương đối đồng đều, gồm 3 con sông lớn là Sông Hồng, Sông Đà vàSông Lô cùng với các đầm trữ nước lớn như đầm Ao Châu, đầm Chính Công,
và một hệ thống với 72 ngòi nước lớn đổ dồn từ khắp nơi về ba con sông vớitạo ra nguồn nước dồi dào Tài nguyên nước ngầm dưới đất theo thống kê đạttới 2,068 triệu m3/ ngày đêm, nhưng mới khai thác được 13-15% Và hàng chụcsông, suối nhỏ khác đã tạo ra nguồn cung cấp nước dồi dào cho sản xuất vàsinh hoạt của nhân dân
Ruộng đất là yếu tố quan trọng nhất đối với sản xuất nông nghiệp TỉnhPhú Thọ có diện tích đất tự nhiên là 353.330,47 ha, trong đó, diện tích đấtnông nghiệp là 282,178,49 ha, chiếm 79,86% Hiện nay, Phú Thọ mới sửdụng được khoảng 54,8% tiềm năng đất nông - lâm nghiệp; đất chưa sử dụngcòn 81,2 nghìn ha, trong đó đồi núi có 57,86 nghìn ha [11, tr 5]
Diện tích rừng hiện nay của Phú Thọ nếu đem so sánh với các tỉnh trong cảnước thì được xếp vào những tỉnh có độ che phủ rừng lớn (42% diện tích tựnhiên) Với diện tích rừng hiện có 144.256 ha, trong đó có 69.547 ha rừng tựnhiên, 74.704 ha rừng trồng, cung cấp hàng vạn tấn gỗ cho công nghiệp chế biếnhàng năm Các loại cây chủ yếu như bạch đàn, mỡ, keo, bồ đề và một số loài câybản địa đang trong phát triển (đáng chú ý nhất vẫn là những cây phục vụ chongành công nghiệp sản xuất giấy)
Phú Thọ là tỉnh có tiềm năng về khoáng sản, phong phú về chủng loại, một
số loại khoáng sản có trữ lượng lớn, chất lượng khá cao đáp ứng nhu cầu tiêu thụtrong nước và một phần để xuất khẩu đó là: đá vôi xi măng, sét xi măng, đá silic,puzowlan Khoáng sản công nghiệp có: Barit, Kaolin, Fenspat, sét gốm sứ vànhiều loại khoáng sản có giá trị khác Các khoáng sản trên được phân bố tại 241điểm mỏ và điểm quặng trong đó có 20 mỏ lớn, 52 mỏ nhỏ và 169 điểm quặng.Trong các loại khoáng sản của tỉnh Phú Thọ chiếm ưu thế về chữ lượng, chấtlượng như: Kaolin, Fenspat, cát sỏi Sông Lô, đá xây dựng trong đó Cao lanh có
Trang 30tổng trữ lượng khoảng 30 triệu tấn, điều kiện khai thác thuận lợi, trữ lượng chưakhai thác lên đến 24,7 triệu tấn Fenspat có tổng trữ lượng khoảng 5 triệu tấn, điềukiện khai thác thuận lợi, trữ lượng chưa khai thác còn khoảng 3,9 triệu tấn, nướckhoáng có tổng trữ lượng khoảng 48 triệu lít, điều kiện khai thác thuận lợi, trữlượng chưa khai thác còn khoảng 46 triệu lít Ngoài ra, Phú Thọ còn có một sốloại khoáng sản khác như: quactít trữ lượng khoảng 10 triệu tấn, đá vôi 1 tỷ tấn,pyrít trữ lượng khoảng 1 triệu tấn, tantalcum trữ lượng khoảng 0,1 triệu tấn, vànhiều cát sỏi với điều kiện khai thác hết sức thuận lợi [11, tr 8].
Với những đặc điểm về điều kiện tự nhiên của tỉnh Phú Thọ Đây là mộttrong những nhân tố tác động đến việc hình thành và phát triển của KTTN nóichung, KTTN trong công nghiệp và dịch vụ nói riêng, sự tác động đó trên cả haiphương diện tác động thuận chiều và tác động trái chiều
Tác động thuận chiều: với những thế mạnh về đặc điểm tự nhiên như: vị trí
địa lý, tài nguyên thiên của tỉnh Phú Thọ có nhiều tiềm năng trong phát triển cácngành công nghiệp truyền thống và dịch vụ có thế mạnh của Tỉnh như: phát triểncác ngành công nghiệp dệt may, da giầy; phân bón; vật liệu xây dựng; hóa chất;chế biến gỗ, giấy… và các ngành dịch vụ có thế mạnh như: du lịch sinh thái; kinhdoanh khách sạn, nhà hàng; thương nghiệp sửa chữa… Chính những yếu tố tácđộng của điều kiện tự nhiên của Tỉnh làm cho cơ cấu kinh tế của KTTN dịchchuyển theo chiều hướng tiến bộ, phát huy được những ngành công nghiệp truyềnthống và dịch vụ có thế mạnh, góp phần vào thực hiện thắng lợi chiến lược pháttriển KT – XH của Tỉnh
Tác động trái chiều: Phú Thọ là một tỉnh trung du miền núi Phía Bắc tỉnh
Phú Thọ chịu tác động nhiều bởi hậu quả thiên tai gây ra như hạn hán, lũ lụt; tàinguyên thiên nhiên phong phú đa dạng nhưng phân tán nhỏ lẻ, trữ lượng nhỏ;nguồn nguyên liệu phục vụ ngành công nghiệp chế biến còn phát triển mang tính
tự phát; các di tích, danh lam thắng cảnh phục vụ phát triển dịch vụ, du lịch có xuhướng xuống cấp, công tác duy tu bảo tồn, phát triển chưa được quan tâm đúngmức… Những vấn đề trên là nhân tố ảnh hưởng trái chiều tới chiến lược phát triển
Trang 31KT - XH của Tỉnh nói chung và phát triển KTTN trong công nghiệp và dịch vụnói riêng.
* Điều kiện kinh tế - xã hội
Theo thống kê, trên địa bàn Tỉnh 1.313.926 có 21 dân tộc cư trú, trong đóđông nhất là người Kinh và người Mường Dân số trên địa bàn Tỉnh ngày càngtăng, nhưng tốc độ tăng có xu hướng chậm dần do tỷ lệ tăng dân số tự nhiên vàdân số cơ học đã giảm bình quân mỗi năm khoảng 0,11% Theo kết quả tổng điềutra dân số và nhà ở 1/4/2004, số người trong độ tuổi lao động đang làm việc toànTỉnh hiện có 730 nghìn người chiếm 56% dân số; tỷ lệ tham gia lực lượng laođộng chiếm 88,5% và vẫn đang tiếp tục tăng lên nhanh chóng Như vậy, lựclượng lao động của Tỉnh ở mức cao như hiện nay chính là nguồn nhân lực dồi dàocho phát triển KT - XH ở địa phương [11, tr 3]
Phú Thọ là tỉnh có bề dày lịch sử, văn hóa và truyền thống, là đất Tổ cộinguồn của dân tộc, là nơi ra đời nhà nước Văn Lang của người Lạc Việt, tức làViệt Mường, có bề dày lịch sử lâu đời với truyền thống dựng nước và giữ nướccủa dân tộc Trên địa bàn Tỉnh có trên 1.300 di tích, trong đó đã có 245 di tích lịch
sử văn hóa được xếp hạng Bên cạnh đó, có nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vậtthể có giá trị đặc biệt là di tích các nền văn hóa khảo cổ từ Phùng Nguyên (khoảng4.000 năm), Đồng Đậu (khoảng 3.500 năm), Gò Mun (khoảng 3.000 năm) vàĐông Sơn (hơn 2.000 năm) rất dày đặc ở vùng Mường Phú Thọ [49, tr 34]
Mạng lưới giao thông thuận lợi cả về đường bộ, đường sắt và đường thủy.Qua địa bàn Tỉnh có quốc lộ: 2, 32, 70 Đường cao tốc Nội Bài - Phú Thọ - LàoCai, đường xuyên Á và đường Hồ Chí Minh đang khởi động xây dựng Đườngthủy có cảng Việt Trì (sông Hồng, sông Lô) - là một trong ba cảng sông lớn ởmiền Bắc, cảng Yến Mao (Sông Đà), cảng Bãi Bằng (Sông Lô) Phú Thọ còn cótuyến đường sắt dài hơn 100km nối liền Hà Nội, Hải Phòng, Yên Bái, Lào Cai vàCôn Minh, Vân Nam (Trung Quốc)
Hệ thống điện ở Phú Thọ rất ổn định và điện lưới quốc gia đã được đưa tới
100% xã trong tỉnh bảo đảm đủ điện cho sản xuất và sinh hoạt Hiện tại có 70%
Trang 32dân số đã được dùng nước sạch đủ tiêu chuẩn vệ sinh Thành phố, thị xã, thị trấn
đã có nhà máy cung cấp nước sạch, tổng công suất trên 108.000m3/ngày đêm,thoả mãn nhu cầu cấp nước cho sản xuất và tiêu dùng
Hệ thống bưu chính viễn thông với các dịch vụ chất lượng cao đã được hoà
mạng bưu chính viễn thông quốc gia, bảo đảm liên lạc thông suốt trên toàn quốc
và quốc tế v.v Như vậy, khi phân tích đánh giá những điều kiện KT – XH ở tỉnhPhú Thọ Nó có cả tác động thuận chiều và trái chiều đối với sự phát triển KTTNnói chung, KTTN trong công nghiệp và dịch vụ nói riêng
Tác động thuận chiều: có thể thấy, tỉnh Phú Thọ có nhiều điều kiện thuận
lợi về điều kiện KT – XH Những nhân tố tác động thuận chiều cho phát triểnKTTN nói chung, KTTN trong công nghiệp và dịch vụ nói riêng đó là: dân số,nguồn lao động trẻ dồi dào khả năng tiếp thu trình độ khoa học công nghệ hiện đạinhanh, hạ tầng kinh tế kỹ thuật từng bước phát triển đồng bộ Đây là cơ sở, đểnâng cao chất lượng nguồn nhân lực của KTTN nói chung, KTTN trong côngnghiệp và dịch vụ nói riêng, hình thành nên đội ngũ doanh nhân có tri thức, trình
độ và khả năng tiếp thu khoa học công nghệ, khoa học quản lý tiến tiến của KTTNtrong thời gian tới Bên cạnh đó, với hệ thống kết cấu hạ tầng đang được xây dựng
và phát triển theo hướng đồng bộ là cơ để thu hút các chủ thể của KTTN tham giađầu tư phát triển KTTN nói chung, KTTN trong công nghiệp và dịch vụ nói riêng
ở tỉnh Phú Thọ
Tác động trái chiều: tuy có hiều tác động thuận chiều Song những điều
kiện kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Phú Thọ vẫn còn có những tác trái chiều đến
sự phát triển KTTN nói chung và KTTN trong công nghiệp và dịch vụ nói riêng ởPhú Thọ Do 70% cư dân sống ở nông thôn và làm nông nghiệp là chủ yếu, thunhập và tích lũy thấp, lực lượng lao động tuy đông nhưng tỷ lệ chưa qua đào tạocòn cao; nhận thức của một bộ phận cán bộ, nhân dân ở tỉnh về phát triển KTTNchưa đầy đủ; việc phát triển các khu công nghiệp, cụm công nghiệp còn gặp nhiềukhó khăn, tính đồng bộ chưa cao trong phát triển các khu du lịch, dịch vụ Từ đó,
Trang 33làm cho chất lượng nguồn nhân lực của KTTN nói chung, KTTN trong côngnghiệp và dịch vụ nói riêng còn thiếu và yếu về tay nghề và trình độ chuyên môn.Với tính đồng bộ chưa cao của hệ thống kết cấu hạ tầng nói chung và hạ tầng chophát triển công nghiệp và dịch vự ở Tỉnh nói riêng, làm cho sự hấp dẫn, lôi kéođối với các nhà đầu tư vào phát triển KTTN trong công nghiệp và dịch vụ bị giảmđi.
* Về các chính sách và chương trình trợ giúp cho phát triển KTTN nói chung, KTTN trong công nghệp và dịch vụ nói riêng của tỉnh Phú Thọ.
Trên cở sở các văn bản pháp luật của Chính Phủ, chính quyền tỉnh Phú Thọ
đã có nhiều nỗ lực trong việc đưa ra các chính sách và chương trình thúc đẩy cácdoanh nghiệp phát triển trong đó có KTTN
Để thu hút các nguồn vốn đầu tư cho phát triển trong các lĩnh vực sản xuấtcông nghiệp và dịch vụ và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ pháttriển UBND tỉnh đã có những quyết định ban hành chính sách khuyến khíchKTTN trong Tỉnh Theo đó, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, nếucó dự án đầu tư trên địa bàn Tỉnh, thì ngoài việc được hưởng các chính sách đầu
tư theo quy định của pháp luật khuyến khích đầu tư trong nước, còn được hưởngthêm một số chính sách ưu đãi đầu tư
Trước hết, Tỉnh tạo điều kiện hình thành quỹ hỗ trợ lãi suất vay sau đầu tưđối với KTTN Xây dựng quỹ hỗ trợ xúc tiến thương mại, triển khai xây dựng đivào hoạt động quỹ Khuyến thương Khuyến khích tạo điều kiện cho các doanhnghiệp được hỗ trợ đầu tư của Nhà nước từ quỹ hỗ trợ đầu tư phát triển, bảo lãnhcho vay các doanh nghiệp vừa và nhỏ thong qua ngân hàng Mặt khác, Tỉnh quantâm việc tạo điều kiện cho KTTN tiếp cận các nguồn vốn tín dụng, ngân hàng, đẩymạnh công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở đôthị cho người dân về thủ tục nhà, đất hợp pháp sử dụng thế chấp vay vốn ngânhàng để phát triển KTTN Đồng thời, Tỉnh xây dựng Website về thông tin KT -
XH của Tỉnh nhằm cung cấp thông tin cho các doanh nghiệp KTTN ở Tỉnh Songsong với đó Tỉnh thành lập các trung tâm dạy nghề tăng cường dầu tư nâng cấp
Trang 34các cơ sở dạy nghề có thể đáp ứng nhu cầu cho các doanh nghiệp thuộc các thànhphần kinh tế trong đó có KTTN ở Tỉnh
Để thực hiện triển khai Chương trình hành động của Chính Phủ UBNDtỉnh Phú Thọ đã tập trung chỉ đạo các cơ quan ban ngành quán triệt tinh thần củaChính phủ và Tỉnh ủy về phát triển KTTN, xây dựng và đẩy mạnh thực hiện cácchương trình kế hoạch tạo điều kiện thuận lợi cho KTTN phát triển Ban thường
vụ Tỉnh ủy đã họp bàn và ra nghị quyết chương trình hành động thực hiện Nghịquyết hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX cụ thể:Chương trình hành động số 22/CTr - TU ngày 13 tháng 7 năm 2020 của Banthường vụ Tỉnh ủy về thực hiện Nghị quyết hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hànhTrung ương Đảng khóa IX và Nghị quyết số 10/NQ - TU ngày 20/05/2002 vềđổi mới cơ chế chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển KTTN ở PhúThọ Đồng thời, Tỉnh cũng đã có quyết định số 3681/QĐ - UB ngày 26/10/2002ban hành chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 10/NQ - TU của Banthường vụ Tỉnh ủy Chương trình hành động tập trung đổi mới cơ chế, chính sáchvới KTTN với trọng tâm là: “Tạo môi trường thể chế, môi trường tâm lý xã hộithuận lợi cho sự phát triển KTTN; xây dựng cơ chế chính sách, đất đai, tài chínhtín dụng, chính sách lao động tiền lương; chính sách hỗ trợ thông tin, xúc tiếnthương mại; hoàn thiện và tăng cường quản lý nhà nước để khuyến khích tạo điềukiện thuận lợi cho KTTN phát triển; các cơ sở ban ngành nghiên cứu, tổ chức triểnkhai chương trình hành động với chức năng nhiệm vụ chuyên môn của mình, đềxuất các cơ chế chính sách của mình với UBND Tỉnh để ban hành hoặc hỗ trợ, tạođiều kiện cho KTTN chuyển dịch theo cơ cấu kính tế của Tỉnh” [ 49, tr.11]
Ngoài ra Tỉnh ủy, UBND, HĐND Tỉnh còn ra nhiều Nghị quyết, Quyếtđịnh ban hành cách chính sách và cải cách thủ tục hành chính nhằm thúc đẩy KT-
XH ở Tỉnh phát triển trong đó có cả KTTN như: Quyết định số 3259/QĐ - UBngày 21/10/2004 về “quy định một số chính sách phát triển công nghiệp”; Quyếtđịnh số 3239/QĐ - UB ngày 22 tháng 10 năm 2004 về “Quy định về phối hợp vàtrách nhiệm các cấp, các ngành trong việc quản lý hoạt động của doanh nghiệpsau kinh doanh”; Quyết định số 2147/ QĐ - UNND ngày 27 tháng 8 năm 2007 về
Trang 35“Việc thực hiện quy chế phối hợp một cửa liên thông giữa các cơ quan giải quyếtđăng ký kinh doanh, đăng ký thuế và cấp giấy phép khắc dấu đối với doangnghiệp thành lập, hoạt động theo luật doanh nghiệp”; HĐND Tỉnh đã ban hànhNghị quyết số 135/2008/NQ - HDND ngày 01 tháng 04 năm 2008 về “ phát triểncác loại hình KTTN, kinh tế hợp tác và đổi mới nâng cao hiệu quả hoạt độngdoanh nghiệp Nhà nước trong nông, lâm nghiệp giai đoạn 2007 - 2010 và địnhhướng đến 2015”; Nghị quyết số 180/2009/NQ của HĐND Tỉnh ngày 24 tháng 7
nă, 2009 về “Hỗ trợ đầu tư đối với các dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh Phú Thọ”;Quyết định Ủy ban nhân dân tỉnh số 129/2009/QĐ-UBND ngày 15 tháng 01 năm
2009 về “Qũy hỗ trợ thu hút đầu tư vào thành phố Việt Trì và thị xã Phú Thọ;Quyết định số 1247/QĐ-UBND ngày 27 tháng 8 năm 2007 về “Việc thực hiện cơchế phối hợp một cửa liên thông giữa các cơ quan giải quyết đăng ký kinh doanh,đăng ký thuế và cấp giấy phép khắc dấu đối với doanh nghiệp thành lập, hoạtđộng theo luật doanh nghiệp; Quyết định số 2351/QĐ-UBND ngày 16 tháng 3năm 2011 về “Chính sách hỗ trợ san lấp mặt bằng và thuế doanh nghiệp cho cácdoanh nghiệp tư nhân trên địa bàn tỉnh Phú Thọ năm 2011 và định hướng đến2015” Có thể thấy những năm qua HĐND, UBND tỉnh Phú Thọ có nhiều chinhsách về ưu đãi đầu tư, cải cách thủ thục hành chính nhằm thúc đẩy KTTN ở Tỉnhphát triển Từ việc chỉ ra cơ chế, chính sách và chương trình trợ giúp cho pháttriển KTTN nói chung, KTTN trong công nghiệp và dịch vụ nói riêng của tỉnhPhú Thọ Đây được coi là nhân tố có tác động lớn nhất tới sự phát triển của KTTNnói chung, KTTN trong công nghiệp và dịch vụ nói riêng trên cả hai bình diện tíchcực và tiêu cực
Tác động thuận chiều: các chính sách và chương trình trợ giúp cho phát
triển KTTN nói chung, KTTN trong công nghệp và dịch vụ nói riêng của tỉnh PhúThọ có tác động rất lớn tới các chủ thể của KTTN nói chung, KTTN trong côngnghiệp và dịch vụ nói riêng, nó là cơ sở tiền đề để các nhà đầu tư tư nhân yên tâm
bỏ vốn vào đầu tư sản xuất, kinh doanh theo những nhóm mặt hàng công nghiệp
và dịch vụ theo chương trình khuyến khích, hỗ trợ và định hướng của UBND tỉnh
Trang 36Phú Thọ Đồng thời, nhằm tháo gỡ bớt khó khăn cho các doanh nghiệp, loại hình
tổ chức sản xuất kinh doanh của KTTN vươn ngày càng khẳng định vai trò làđộng lực quan trọng trong phát triển KT - XH của Tỉnh
Tác động trái chiều: chính những cơ chế chính sách nhằm tạo điều kiện
cho KTTN nói chung, trong công nghiệp và dịch vụ nói riêng của UBND Tỉnhcòn chưa nhiều, chủ yếu các chính sách vẫn lồng ghép trong chính sách phát triểnkinh tế chung của Tỉnh, việc thực hiện chính sách ưu đãi đối với KTTN khi triểnkhai thực hiện trên thực tế hiệu quả chưa cao Những vấn đề trên là những ràocản, tác động trái chiều đến sự phát triển KTTN nói chung, trong công nghiệp vàdịch vụ nói riêng ở tỉnh Phú Thọ mà đòi hỏi sự nỗ lực giải quyết của UBDN Tỉnh
và các cơ quan, ban, ngành liên quan
Tóm lại, với những thuận lợi điều kiện tự nhiên, KT-XH và những cơ chế
chính sách ưu đãi đầu tư đối với KTTN của tỉnh Phú Thọ nhằm tạo điều kiệnthuận lợi cho KTTN nói chung, trong công nghiệp và dịch vụ nói riêng phát triển,đây là động lực quan trọng nhằm khai thác tối đa tiềm năng, thế mạnh của KTTNđóng góp chung vào sự phát triển KT - XH ở Tỉnh Đồng thời, những khó khăn vềđiều kiện tự nhiên, KT - XH và những bất cập về cơ chế chính sách của Tỉnh ảnhhưởng tới sự phát triển KTTN nói chung, trong công nghiệp và dịch vụ nói riêngđòi hỏi Đảng bộ, các cấp chính quyền và toàn thể nhân dân trong Tỉnh phải tiếptục nỗ lực phát huy lợi thế, khắc phục khó khăn trở ngại cho kinh tế nói chung vàKTTN nói riêng trong Tỉnh ngày càng phát triển
*
* *Phát triển KTTN trong công nghiệp và dịch vụ ở tỉnh Phú Thọ là hoạt độngtích cực của chủ thể nhằm thúc đẩy sự vận động biến đổi của các hình thức tổchức sản xuất, kinh doanh của kinh tế tư nhân trong công nghiệp và dịch vụ ở tỉnhPhú Thọ với sự gia tăng về số lượng, quy mô cùng với sự dịch chuyển về cơ cấu,trình độ sản xuất kinh doanh theo hướng tiến bộ, hiệu quả, góp phần thực hiện hóamục tiêu KT - XH của Tỉnh
Trang 37Cùng với cả nước, phát triển KTTN của tỉnh Phú Thọ nói chung và trongcông nghiệp và dịch vụ nói riêng là một đòi hỏi khách quan, là vấn đề chiến lượclâu dài Phát triển KTTN trong công nghiệp và dịch vụ ở tỉnh Phú Thọ bao gồmnhiều nội dung: sự tăng lên về số lượng, quy mô; sự chuyển dịch về cơ cấu đối vớiKTTN trong công nghiệp và dịch vụ theo hướng tiến bộ, hiệu quả; huy động cácnguồn vốn trong nhân dân vào sản xuất, kinh doanh, phát triển kinh tế; tạo việclàm, tăng thu nhập cho người lao động; đóng góp cho ngân sách nhà nước; thúcđẩy quá trình hội nhập của tỉnh Phú Thọ… Phát triển KTTN trong công nghiệp
và dịch vụ ở tỉnh Phú Thọ chịu sự tác động của nhiều nhân tố, trong đó phụ thuộcrất lớn vào chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nướcnói chung, cơ chế chính sách của Tỉnh ủy, UBND tỉnh Phú Thọ nói riêng
Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN TRONG CÔNG NGHIỆP VÀ DỊCH VỤ Ở TỈNH PHÚ THỌ
2.1 Thành tựu, hạn chế trong phát triển kinh tế tư nhân trong công nghiệp và dịch vụ ở tỉnh Phú Thọ
2.1.1 Những thành tựu trong phát triển kinh tế tư nhân trong công nghiệp và dịch vụ ở tỉnh Phú Thọ
Nhận thức rõ vị trí vai trò to lớn của KTTN đối với sự phát triển
KT-XH ở tỉnh Phú Thọ, những năm gần đây Tỉnh uỷ, HĐND, UBND Tỉnh cónhiều chủ trương, chính sách thúc đẩy phát triển KTTN nói chung, KTTNtrong công nghiệp dịch vụ nói riêng
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lần thứ XVIII nhiệm kỳ
2015 - 2020 xác định: “khuyến khích phát triển mạnh KTTN, tôn vinhnhững hộ gia đình, cá nhân tiêu biểu trong sản xuất kinh doanh, chấp
Trang 38hành tốt pháp luật; tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho KTTN đầu
tư phát triển; không hạn chế về quy mô đầu tư vào các ngành nghề, lĩnhvực sản xuất kinh doanh mà pháp luật không cấm Phát triển các hìnhthức tổ chức sản xuất kinh doanh hỗn hợp với nhiều hình thức sở hữunhất là dưới hình thức công ty cổ phần nhằm thu hút và sử dụng có hiệuquả các nguồn lực đầu tư” [24, tr 15]
Trong thực tế, những năm qua tỉnh Phú Thọ đã có nhiều chính sách ưuđãi, trải thảm đỏ kêu gọi đầu tư và tạo điều kiện cho KTTN nói chung, KTTNtrong công nghiệp dịch vụ nói riêng phát triển, góp phần tích cực vào hiệnthực hóa các mục tiêu KT-XH mà Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lầnthứ XVIII đề ra Đó là, “phấn đấu đến năm 2020 đưa Phú Thọ thoát khỏi tỉnhnghèo, thu nhập bình quân đầu người bằng mức trung bình của cả nước, nhịp
độ tăng trưởng kinh tế GRDP bình quân trên 10%/ năm, tỷ lệ nghèo xuốngdưới còn 10% ( theo chuẩn mới) số lao động được giải quyết việc làm từ 16đến 18 nghìn người/ năm” [24, tr 40] Có thể thấy, những thành tựu đối vớiphát triển KTTN nói chung, KTTN trong công nghiệp và dịch vụ ở tỉnh PhúThọ nói riêng đã đạt được trên một số điểm sau:
Một là, KTTN nói chung, KTTN trong công nghiệp dịch vụ nói riêng ở tỉnh Phú Thọ có sự phát triển về các loại hình sản xuất, kinh doanh, số lượng và quy mô
Số liệu thống kê cho thấy các doanh nghiệp, loại hình tổ chức sản xuất kinhdoanh của KTTN nói chung và trong công nghiệp dịch vụ nói riêng ở tỉnh PhúThọ đang có xu hướng tăng và phát triển rộng khắp mọi nơi, mọi lĩnh vực, mọingành nghề với nhiều hình thức đa dạng Cụ thể:
* Về lĩnh vực kinh doanh:
Trong những năm qua cơ cấu ngành nghề đăng ký kinh doanh của KTTN ởtỉnh Phú Thọ có sự dịch chuyển theo hướng giảm tỷ trọng doanh nghiệp hoạt độngtrong lĩnh vực thương mại, xây dựng thuần túy để dịch chuyển theo hướng đầu tư
đa ngành nghề, đa lĩnh vực và tăng dần tỷ trọng doanh nghiệp đầu tư trong lĩnhvực khai thác các tiềm năng du lịch và sản phẩm truyền thống của Tỉnh từng bước
Trang 39đáp ứng nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.
Qua số liệu thống cho thấy, nếu như năm 2012 sản xuất công nghiệp, tiểuthủ công nghiệp và xây dựng của KTTN tỉnh Phú Thọ chiếm 42,9% (446 doanhnghiệp); dịch vụ thương mại 53,1% (552 doanh nghiệp) Tỷ lệ này đến năm 2014tương ứng là 3,9%; 46,1%; 50% So với năm 2010, số doanh nghiệp đăng ký kinhdoanh trong công nghiệp xây dựng tăng 12,06 lần, tỷ trọng tăng 3,2%; dịch vụtăng 6,17% tỷ trọng giảm 3,1% [phụ lục 7]
Đối với ngành công nghiệp - xây dựng: Đây là ngành nghề có khá nhiềudoanh nghiệp lựa chọn, đến hết năm 2014 có 1219 doanh nghiệp tham gia vàohoạt động sản xuất, kinh doanh chiếm 46,1% tổng số DNTN và hàng ngàn hộkinh doanh cá thể khác Trong những năm gần đây, số lượng doanh nghiệp thamgia hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp - xây dựng tăng nhanh hơn so với trước,trong 9 năm từ 2005 - 2014 đã có trên 1178 trên tổng số 1219 doanh nghiệp đăng
ký hoạt động ngành nghề này chiếm 91,1% tổng số từ trước đến nay, tập trungchủ yếu vào các ngành nghề như: công nghiệp hóa chất, công nghiệp chế biếnnông lâm sản, gỗ, sản xuất vật liệu xây dựng, công nghiệp chế biến thực phẩm
Thực hiện chính sách mở cửa của Nhà nước, các doanh nghiệp, loại hình
tổ chức sản xuất kinh doanh đã mạnh dạn đầu tư trang thiết bị phục vụ sản xuấtkinh doanh như đầu tư xây dựng các dây chuyền sản xuất: chế biến chè, gỗxuất khẩu, gỗ công nghiệp, tinh bột sắn, dây truyền sản xuất gạch, khai thác đávôi xi măng, đất cao lanh, đá xây dựng… làm tăng giá trị hàng hóa, tăng sứccạnh tranh trên thị trường trong nước và thị trường xuất khẩu
Trong thương mại, dịch vụ: tính đến hết năm 2014 toàn Tỉnh có 1.189doanh nghiệp tư nhân và 295 726 hộ kinh doanh cá thể, trong khi đó chỉ có 4doanh nghiệp nhà nước và 2 doanh nghiệp tập thể hoạt động trong lĩnh vực này.Điều này cho thấy sức hấp dẫn của lĩnh vực dịch vụ đối với các doanh nghiệpKTTN bởi ngành này không cần nhiều vốn, không yêu cầu cao về mặt công nghệ,tính quay vòng vốn nhanh
* Về loại hình tổ chức sản xuất kinh doanh
Mặc dù là một tỉnh trung du miền núi phía Bắc nhưng từ khi Luật doanh
Trang 40nghiệp, Luật công ty năm 1990, Nghị định số 66/HĐBT ngày 02/03/2002 đượcban hành thì các nhà đầu tư bắt đầu thăm dò, từng bước đầu tư vào tỉnh Phú Thọ
và thực sự bùng nổ khi Luật Doanh nghiệp năm 1999 được Quốc hội Khóa
X thông qua ngày 12 tháng 6 năm 1999 thay thế Luật Công ty năm 1990 và LuậtDoanh nghiệp tư nhân năm 1999 và có hiệu lực từ năm 2000 Để đẩy nhanh quátrình cải cách kinh tế, ngày 29 tháng 11 năm 2005 Quốc hội Khóa XI đã thôngqua Luật Doanh nghiệp năm 2005, có hiệu lực thi hành từ ngày 1 tháng 7 năm
2006 Luật Doanh nghiệp năm 2005 đã thống nhất các quy định về thành lập vàquản lý các doanh nghiệp, gần như không còn sự phân biệt là doanh nghiệp thuộc
sở hữu nhà nước hay sở hữu tư nhân về phương diện tổ chức quản trị Luật Doanhnghiệp năm 2005 đã thay thế Luật Doanh nghiệp năm 1999 và mới đây là LuậtDoanh nghiệp sửa đổi bổ sung năm 2014
Với cơ chế mở cửa ngay từ khâu thành lập doanh nghiệp và đăng ký kinhdoanh, đồng thời khẳng định quyền tự do kinh doanh của những ngành nghề màpháp luật không cấm thì Luật Doanh nghiệp đã thực sự đi vào cuộc sống Nếu nhưtrước đây, khi chưa có Luật Doanh nghiệp ra đời người dân trong Tỉnh còn dè dặttrong thành lập các loại hình tổ chức sản xuất, kinh doanh do e ngại thủ tục rườm
rà, tốn kém tiền bạc, thời gian trong việc thành lập doanh nghiệp, thì sau này khiLuật Doanh nghiệp ra đời đã cải thiện đáng kể tư duy kinh doanh của người dântrong việc bỏ vốn ra để thành lập doanh nghiệp; kết quả số lượng doanh nghiệpKTTN và hộ kinh doanh cá thể tăng lên về số lượng cũng như vốn đăng ký
Trong giai đoạn từ 2010 - 2014 Các loại hình KTTN của Tỉnh trong giaiđoạn này có sự tăng giảm và chiếm tỷ trọng khác nhau qua từng năm Tuy nhiên, sốlượng doanh nghiệp hoạt động trong công nghiệp và dịch vụ dưới hình thức công tyTNHH vẫn chiếm tỷ trọng nhiều nhất Đồng thời, trong giai đoạn này cùng với sựphát triển của các loại hình công ty của KTTN thì kinh tế hộ kinh doanh cá thể cũngcó sự phát triển vượt bậc Theo số liệu của Cục thống kê Phú Thọ năm 2014 tổng số
hộ kinh doanh cá thể là 295.276 tăng 78.807 hộ so với năm 2005
Bảng 2.1: Số lượng hộ kinh doanh cá thể giai đoạn 2010 - 2014
Đơn vị: hộ