1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LUẬN văn THẠC sĩ PHÁT TRIỂN kết cấu hạ TẦNG PHỤC vụ PHÁT TRIỂN các KHU CÔNG NGHIỆP ở TỈNH bắc NINH HIỆN NAY

101 613 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 751,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết cấu hạ tầng là nền tảng vật chất có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển KT XH của quốc gia, cũng như mỗi vùng lãnh thổ. Có KCHT đồng bộ và hiện đại, nền kinh tế mới có điều kiện để tăng trưởng nhanh, ổn định và bền vững. Đối với các khu công nghiệp, KCHT là cơ sở, nền tảng cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của KCN. Trong những năm qua, nhờ KCHT phát triển theo hướng ngày càng đồng bộ và hiện đại nên đã làm thay đổi diện mạo các KCN ở nước ta, góp phần quan trọng trong việc thu hút vốn đầu tư thúc đẩy phát triển sản xuất công nghiệp, đóng góp ngày càng tốt hơn nhu cầu trong nước và xuất khẩu, đồng thời tạo điều kiện bảo vệ môi trường sinh thái, bảo đảm phát triển bền vững, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước.

Trang 1

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa CNH, HĐH

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KẾT CẤU HẠ

TẦNG PHỤC VỤ CÁC KHU CÔNG NGHIỆP Ở

1.1 Kết cấu hạ tầng, kết cấu hạ tầng phục vụ các khu công nghiệp 101.2 Quan niệm, nội dung và các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển kết cấu hạ tầng phục vụ các khu công nghiệp ở tỉnh

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KẾT CẤU HẠ TẦNG PHỤC

VỤ CÁC KHU CÔNG NGHIỆP Ở TỈNH BẮC NINH 33

2.1 Thành tựu, hạn chế trong phát triển kết cấu hạ tầng phục

vụ các khu công nghiệp ở tỉnh Bắc Ninh 332.2 Nguyên nhân và những vấn đề đặt ra trong phát triển kết cấu hạ tầng phục vụ các khu công nghiệp ở tỉnh Bắc Ninh 48

Chương 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KẾT CẤU

HẠ TẦNG PHỤC VỤ CÁC KHU CÔNG NGHIỆP Ở

3.1 Quan điểm phát triển kết cấu hạ tầng phục vụ các khu

công nghiệp ở tỉnh Bắc Ninh thời gian tới 613.2 Giải pháp phát triển kết cấu hạ tầng phục vụ các khu

công nghiệp ở tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới 67

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Kết cấu hạ tầng là nền tảng vật chất có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển KT - XH của quốc gia, cũng như mỗi vùng lãnh thổ Có KCHT đồng bộ và hiện đại, nền kinh tế mới có điều kiện để tăng trưởng nhanh,

ổn định và bền vững Đối với các khu công nghiệp, KCHT là cơ sở, nền tảng cho các hoạt động sản xuất - kinh doanh của KCN Trong những năm qua, nhờ KCHT phát triển theo hướng ngày càng đồng bộ và hiện đại nên đã làm thay đổi diện mạo các KCN ở nước ta, góp phần quan trọng trong việc thu hút vốn đầu tư thúc đẩy phát triển sản xuất công nghiệp, đóng góp ngày càng tốt hơn nhu cầu trong nước và xuất khẩu, đồng thời tạo điều kiện bảo vệ môi trường sinh thái, bảo đảm phát triển bền vững, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước

Là một trong các tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, nằm trong tam giác tăng trưởng kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, đồng thời là cửa ngõ phía Đông Bắc của Thủ đô Hà Nội, nên Bắc Ninh là một địa bàn chiến lược quan trọng cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh Vì vậy, Bắc Ninh luôn dành sự quan tâm lớn cho đầu tư phát triển hệ thống KCHT KT -

XH nói chung, KCHT phục vụ các KCN nói riêng Nhờ đó, bên cạnh những thành công về kinh tế, việc phát triển hệ thống KCHT phục vụ các KCN còn tham gia, đóng góp tích cực vào tổ chức đời sống xã hội, góp phần tạo lập và phân bố không gian kinh tế, tạo sự phát triển hài hòa giữa các khu vực trong tỉnh,

là cơ sở để Bắc Ninh hội nhập và phát triển bền vững

Tuy nhiên, quá trình phát triển KCHT phục vụ các KCN trên địa bàn Tỉnh vẫn còn những hạn chế, bất cập như: chất lượng, cơ cấu KCHT chưa đồng bộ giữa các KCN; công tác quản lý Nhà nước đối với KCHT phục vụ các KCN, công tác quy hoạch KCN và phát triển KCHT phục vụ các KCN chưa đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh của các KCN

Vấn đề đặt ra là làm thế nào để phát triển KCHT phục vụ các KCN nhằm tăng cường thu hút đầu tư, tạo công ăn việc làm cho người lao động, đẩy nhanh tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Tỉnh theo hướng công nghiệp,

Trang 4

đồng thời giải quyết tốt các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường Xuất phát từ

những vấn đề trên, tác giả chọn vấn đề “Phát triển kết cấu hạ tầng phục vụ các khu công nghiệp ở tỉnh Bắc Ninh” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình.

2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Phát triển KCHT, trong đó có KCHT phục vụ các KCN là lĩnh vực lớn luôn được các cấp, các ngành quan tâm, nhiều tác giả nghiên cứu dưới nhiều cách tiếp cận khác nhau:

* Một số công trình nghiên cứu về kết cấu hạ tầng nói chung, tiêu biểu có:

Phạm Thị Tuý (2006), Thu hút và sử dụng vốn ODA vào phát triển kết cấu

hạ tầng ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ, Trường đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội

Luận án tập trung làm rõ vai trò của KCHT với quá trình phát triển KT - XH ở Việt Nam, chỉ ra thực trạng phát triển KCHT ở Việt Nam, thực trạng thu hút và sử dụng vốn ODA vào phát triển KCHT ở Việt Nam những năm qua Từ đó, đề ra quan điểm và giải pháp thu hút vốn đầu tư ODA vào phát triển KCHT ở nước ta

Nguyễn Bá Ân (2012), Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Tạp chí Tuyên giáo, số 7

Trên cơ sở phân tích những kết quả đạt được và một số hạn chế, yếu kém của

hệ thống KCHT nước ta từ năm 2000 đến năm 2010 trên một số mặt như hạ tầng giao thông, hạ tầng năng lương, hạ tầng thông tin và truyền thông, kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị, hạ tầng KCN, hạ tầng thương mại…, tác giả đã đưa ra một số giải pháp để xây dựng hệ thống KCHT nước ta một cách đồng

bộ, phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước

Nguyễn Quang Vinh (2015), Phát triển kết cấu hạ tầng ở Việt Nam,

Tạp chí Kinh tế và phát triển, số 217 Trong bài viết này, tác giả đã phân tích

và đánh giá những thành tựu và hạn chế trong phát triển KCHT ở Việt Nam trong thời gian qua Trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp để đẩy mạnh phát triển KCHT đảm bảo phát triển bền vững trong thời gian tới

Trần Kim Chung (2015), Hoàn thiện thể chế quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng ở Việt Nam, Tạp chí Kinh tế và phát triển, số 216 Trong nghiên

cứu này, tác giả chỉ ra rằng thể chế quy hoạch phát triển KCHT của Việt Nam

Trang 5

đã có những nền móng ban đầu để định hướng cho phát triển KCHT nhưng còn thiếu cả về cơ sở pháp lý, cả về lực lượng triển khai và hệ thống thanh tra, kiểm tra, giám sát và chế tài Vì vậy, để hỗ trợ phát triển kinh tế, phát triển KCHT,

hệ thống thể chế quy hoạch phát triển KCHT Việt Nam cần tập trung đổi mới

cả về trí tuệ, nhận thức, tài chính và con người

* Một số công trình nghiên cứu về kết cấu hạ tầng ở các ngành, lĩnh vực, vùng và địa phương, tiêu biểu có:

Nguyễn Đức Độ năm (2002), Phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế và vai trò của nó đối với củng cố quốc phòng ở nước ta hiện nay, Luận án tiến sĩ, Học viện

Chính trị quân sự, Hà Nội, Tác giả đã đi sâu làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn phát triển KCHT kinh tế, vai trò của phát triển KCHT kinh tế đối với củng cố quốc phòng ở nước ta hiện nay Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất hệ thống giải pháp phát triển KCHT kinh tế đối với củng cố quốc phòng ở nước ta hiện nay

Mai Thị Thanh Xuân (2002), Phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở huyện Thạch Hà - thực trạng và kiến nghị, Luận văn thạc sĩ, Đại học Quốc gia Hà Nội Luận văn đã làm rõ

những vấn đề lý luận, thực tiễn của quá trình phát triển KCHT KT - XH theo hướng CNH, HĐH ở huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh Từ đó tác giả đưa ra một

số kiến nghị nhằm phát triển KCHT KT - XH ở huyện Thạch Hà

Lương Xuân Hiến, Phạm Thanh Khôi, (2006), Một số vấn đề kinh tế xã hội trong tiến trình CNH, HĐH vùng đồng bằng sông Hồng, nhà xuất bản

Khoa học xã hội, Hà Nội Trên cơ sở nghiên cứu quá trình CNH, HĐH ở vùng đồng bằng sông Hồng, các tác giả đã chỉ ra một số vấn đề KT - XH trong tiến trình CNH, HĐH của vùng Đề xuất những quan điểm, giải pháp trong quá trình CNH, HĐH ở khu vực đồng bằng sông Hồng, trong đó các tác giả đặc biệt coi trọng việc phát triển KCHT làm cơ sở cho quá trình CNH, HĐH

Nguyễn Đức Tuyên (2008), Phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội ở nông thôn tỉnh Bắc Ninh kinh nghiệm và giải pháp, Luận án tiến sĩ, Đại học Kinh tế

quốc dân, Hà Nội Ở công trình này, tác giả đi sâu làm rõ những vấn đề về lý luận, thực tiễn phát triển hạ tầng KT - XH ở nông thôn tỉnh Bắc Ninh Trên cơ

Trang 6

sở đánh giá thực trạng, nguyên nhân những hạn chế trong quá trình phát triển

hạ tầng KT - XH ở nông thôn tỉnh Bắc Ninh và vận dụng những kinh nghiệm của một số địa phương trong phát triển hạ tầng KT - XH, tác giả đề xuất một

số giải pháp để phát triển KCHT KT - XH ở nông thôn tỉnh Bắc Ninh

Trần Minh Phương (2012), Phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ kinh

tế, Viện Chiến lược phát triển - Bộ Kế hoạch và đầu tư, Hà Nội Ở công trình này, tác giả đã đi sâu nghiên cứu về KCHT ngành giao thông vận tải đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH ở Việt Nam, trong đó đã làm rõ những vấn đề lý luận về phát triển KCHT giao thông, đánh giá thực trạng phát triển KCHT giao thông

ở Việt Nam thời gian qua Trên cơ sở thực trạng phát triển KCHT giao thông, tác giả đề xuất những quan điểm và giải pháp phát triển KCHT giao thông ở Việt Nam, đáp ứng yêu cầu của CNH, HĐH thời gian tới

Đỗ Đức Tú (2012), Phát triển kết cấu hạ tầng giao thông vùng Đồng bằng sông Hồng đến năm 2030 theo hướng hiện đại, Luận án tiến sĩ kinh tế,

Viện Chiến lược phát triển - Bộ kế hoạch và đầu tư, Hà Nội Luận án tập trung làm rõ những vấn đề lý luận, thực tiễn phát triển KCHT giao thông vùng đồng bằng Sông Hồng Đồng thời chỉ ra những yêu cầu phát triển KCHT giao thông của vùng đến năm 2030, đề ra các giải pháp cơ bản phát triển KCHT giao thông vùng đồng bằng sông Hồng theo hướng hiện đại đến năm 2030

Nguyễn Thế Cao (2013), Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Hà Nam, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Học viện

Chính trị, Hà Nội Tác giả đã phân tích làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về KCHT KT - XH trong quá trình CNH, HĐH ở tỉnh Hà Nam Trên cơ

sở đó đề xuất những quan điểm và giải pháp để phát triển KCHT KT - XH trong quá trình CNH, HĐH ở Hà Nam thời gian tới

* Một số công trình nghiên cứu có liên quan đến KCN và kết cấu hạ tầng KCN, tiêu biểu có:

Nguyễn Đức Phượng (2000), Phát triển các khu công nghiệp tập trung trên địa bàn Đồng Nai và tác động của nó đến xây dựng khu vực phòng thủ

Trang 7

tỉnh, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Học viện Chính trị quân sự, Hà Nội Tác giả

khẳng định vai trò quan trọng của KCN tập trung trong phát triển ngành công nghiệp nói riêng và phát triển kinh tế nói chung trong thu hút đầu tư, đẩy mạnh sản xuất góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế, tiếp thu vốn, khoa học công nghệ, trình độ quản lý Trên cơ sở đó tác giả khẳng định các KCN tập trung ở Đồng Nai đã tác động mạnh mẽ đến quá trình phát triển kinh

tế trong thực hiện đường lối đổi mới và tiến hành CNH, HĐH; đồng thời các KCN tập trung cũng tác động lớn đến quá trình xây dựng và tăng cường sức mạnh của các khu vực phòng thủ tỉnh Đồng Nai

Nghiêm Đình Thường (2008), Phát triển các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh: Thực trạng và giải pháp, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Trường

đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội Luận văn đã làm rõ một số vấn đề lý luận

về phát triển KCN và đánh giá những tác động của KCN đến phát triển kinh

tế Bắc Ninh trong đó đã làm rõ được những tác động của KCN đến chuyển dịch cấu kinh tế theo hướng tích cực, tác động đến vấn đề xã hội và môi trường… Trên cơ sở đó đề ra các quan điểm và giải phát phát triển các KCN trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

Hà Sơn Tùng, Nguyễn Thị Nga (2014), Dịch vụ kết cấu hạ tầng kỹ thuật trong khu công nghiệp tỉnh Bắc Ninh - Nhận định và đánh giá, Tạp chí Kinh tế và phát triển, số 205 (II) Bài viết đánh giá loại hình dịch vụ KCHT

kỹ thuật trong KCN - một loại hình dịch vụ hỗ trợ kinh doanh trong KCN tỉnh Bắc Ninh dựa trên nhận định từ: người cung cấp dịch vụ, người sử dụng dịch

vụ và cơ quan, ban ngành có liên quan Nghiên cứu tập trung vào 4 loại dịch

vụ kỹ thuật trong KCN bao gồm: dịch vụ cung cấp điện, dịch vụ cung cấp nước sạch, dịch vụ xử lý chất thải, dịch vụ cho thuê kho bãi Từ nhận định các bên về các dịch vụ này, bài nghiên cứu đưa ra các kết luận và hướng phát triển cho các dịch vụ này trong KCN tỉnh Bắc Ninh

Đào Minh Nhật (2014), Phát triển kết cấu hạ tầng khu công nghiệp ở tỉnh Đồng Nai, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Học viện Chính trị, Hà Nội Luận

văn tập trung làm rõ một số vấn đề lý luận về KCHT nói chung và kết cấu hạ

Trang 8

tầng KCN ở tỉnh Đồng Nai nói riêng Đồng thời trên cơ sở đánh giá thực trạng phát triển kết cấu hạ tầng KCN trên địa bàn Tỉnh, tác giả đã đưa ra một

số quan điểm cơ bản và giải pháp chủ yếu phát triển kết cấu hạ tầng KCN ở tỉnh Đồng Nai trong thời gian tới

Mặc dù các công trình trên đây nghiên cứu KCHT hoặc KCHT KT - XH được tiếp cận trên góc độ kinh tế kỹ thuật hoặc kinh tế ngành, với nhiều phạm trù và không gian khác nhau: cả nước; vùng miền hay lĩnh vực khác, nhưng chưa

có công trình nào đi sâu nghiên cứu về kết cấu hạ tầng phục vụ các khu công

nghiệp ở tỉnh Bắc Ninh Vì vậy, tác giả chọn vấn đề: “Phát triển kết cấu hạ tầng phục vụ các khu công nghiệp ở tỉnh Bắc Ninh” có ý nghĩa cả lý luận và thực

tiễn; đồng thời không trùng lắp với bất kỳ công trình nào

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

* Mục đích nghiên cứu

Luận giải làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển KCHT phục vụ các KCN; trên cơ sở đó đề xuất quan điểm và giải pháp phát triển KCHT phục vụ các KCN ở tỉnh Bắc Ninh thời gian tới

* Nhiệm vụ nghiên cứu

- Phân tích làm rõ cơ sở lý luận về phát triển KCHT phục vụ các KCN

- Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển KCHT phục vụ các KCN ở tỉnh Bắc Ninh

- Đề xuất quan điểm và giải pháp phát triển KCHT phục vụ các KCN ở tỉnh Bắc Ninh thời gian tới

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu

Phát triển kết cấu hạ tầng phục vụ các khu công nghiệp

Trang 9

và KCHT xã hội (y tế, giáo dục, nhà ở… và các dịch vụ an sinh xã hội khác)

Hệ thống KCHT này có thể nằm trong và ngoài KCN Vì vậy, KCHT phục vụ các KCN thuộc phạm vi nghiên cứu của luận văn được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm cả KCHT phục vụ trực tiếp và KCHT phục vụ gián tiếp; không giới hạn về khoảng cách địa lý (gần hay xa KCN); cả trong và ngoài các KCN

- Về thời gian: Thời gian khảo sát và lấy số liệu chủ yếu từ năm 2010 (sau 10 năm kể từ khi thành lập KCN đầu tiên của tỉnh Bắc Ninh) đến nay

- Về không gian: địa bàn tỉnh Bắc Ninh

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

* Phương pháp luận

Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để luận giải cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng phát triển KCHT phục vụ các KCN ở tỉnh Bắc Ninh

* Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp trừu tượng hóa khoa học làm phương pháp nghiên cứu chủ đạo Đồng thời kết hợp với các phương pháp khác như: thống kê, hệ thống hóa, so sánh, phân tích, tổng hợp, khảo sát thực tiễn để thực hiện mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

6 Ý nghĩa của đề tài

- Góp phần hệ thống hóa lý luận và thực tiễn phát triển KCHT phục vụ các KCN ở tỉnh Bắc Ninh

- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và giảng dạy môn học kinh tế chính trị Mác - Lênin, làm tài liệu tham khảo để các chủ thể lãnh đạo, quản lý xây dựng chủ trương, biện pháp phát triển KCHT phục vụ các KCN

7 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, luận văn gồm 3 chương (6 tiết), kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục

Trang 10

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KẾT CẤU HẠ TẦNG

PHỤC VỤ CÁC KHU CÔNG NGHIỆP Ở TỈNH BẮC NINH

1.1 Kết cấu hạ tầng, kết cấu hạ tầng phục vụ các khu công nghiệp

1.1.1 Quan niệm về kết cấu hạ tầng

Cho đến nay đã có rất nhiều quan niệm khác nhau về kết cấu hạ tầng KCHT có thể được hiểu là cơ sở hạ tầng hay hạ tầng cơ sở Có ý kiến cho

rằng: “Cơ sở hạ tầng là tổng thể các ngành kinh tế, các ngành công nghệ dịch vụ” [34, tr.153] Theo quan niệm này thì cơ sở hạ tầng bao gồm: việc xây

dựng đường xá, kênh mương tưới nước, bãi cảng, cầu cống, sân bay, kho tàng, cơ sở cung cấp năng lượng, cơ sở kinh doanh, giao thông vận tải, bưu điện, cơ sở cấp thoát nước, các cơ sở giáo dục, y tế, khoa học, chăm sóc và

bảo vệ sức khoẻ Hoặc quan niệm cho rằng, cơ sở hạ tầng là: “hệ thống các công trình làm nền tảng cung cấp những yếu tố cần thiết cho phát triển sản xuất và nâng cao chất lượng cuộc sống” [43, tr.65], theo đó cơ sở hạ tầng bao

gồm: cung cấp nước, tưới tiêu và phòng chống lụt bão, cung cấp năng lượng,

giao thông, thông tin liên lạc Có quan niệm cho rằng cơ sở hạ tầng “là khái niệm dùng để chỉ những phương tiện làm cơ sở nhờ đó các quá trình công nghệ, quá trình sản xuất và các dịch vụ được thực hiện” [31, tr.14] Dù còn

nhiều quan niệm khác nhau nhưng thực chất cơ sở hạ tầng là một bộ phận cơ bản của KCHT có vai trò tạo điều kiện, thúc đẩy sự phát triển KT - XH của cả nền kinh tế quốc dân hoặc một vùng, ngành kinh tế nhất định

Khi bàn về KCHT, có quan niệm cho rằng kết cấu hạ tầng là “tổng hợp các yếu tố và điều kiện vật chất - kỹ thuật được tạo lập và tồn tại trong mỗi quốc gia, là nền tảng và điều kiện chung cho các hoạt động kinh tế - xã hội ” [35, tr.5] Hay hạ tầng KT - XH được sử dụng để chỉ “những hạ tầng đa năng phục vụ cho cả kinh tế và xã hội; hoặc trường hợp để chỉ những hạ tầng chuyên dùng phục vụ trong hoạt động kinh tế và văn hoá, xã hội khi đề cập đến cả hai loại hạ tầng phát triển kinh tế - xã hội nói chung” [44, tr.158]

Trang 11

Dưới góc độ kinh tế chính trị, có thể thấy rằng quá trình sản xuất cần có người lao động, tư liệu sản xuất và công nghệ Trong tư liệu sản xuất có một bộ phận tham gia vào quá trình sản xuất với tư cách là những cơ sở phương tiện chung nhờ đó mà quá trình công nghệ, sản xuất và dịch vụ được thực hiện Bộ phận này chính là KCHT hay cơ sở hạ tầng Như vậy, KCHT là những yếu tố vật chất làm nền tảng cho các quá trình sản xuất và đời sống xã hội được hình thành và phát triển trên đó Hiểu một cách khái quát, KCHT là một bộ phận đặc thù của cơ sở vật chất kỹ thuật trong nền kinh tế quốc dân có chức năng, nhiệm vụ cơ bản là đảm bảo những điều kiện chung cần thiết cho quá trình sản xuất và tái sản xuất mở rộng được diễn ra bình thường, liên tục.

Trên cơ sở kế thừa và phát triển các quan điểm trên, tiếp cận dưới góc độ

kinh tế chính trị, tác giả cho rằng KCHT là tổng thể cơ sở vật chất, kỹ thuật, kiến trúc với vai trò nền tảng và điều kiện chung bảo đảm cho sự phát triển KT - XH của mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ trong mỗi giai đoạn hay thời kỳ nhất định

KCHT có thể được phân chia thành nhiều loại khác nhau dựa trên các tiêu chí khác nhau Cụ thể như:

Nếu căn cứ theo lĩnh vực KT - XH, thì KCHT có thể được phân chia thành: KCHT phục vụ kinh tế, KCHT phục vụ hoạt động xã hội, và KCHT phục vụ an ninh, quốc phòng Song trên thực tế, ít có loại kết cấu hạ tầng nào hoàn toàn chỉ phục vụ kinh tế mà không phục vụ các hoạt động xã hội khác và ngược lại

Nếu căn cứ theo sự phân ngành của nền kinh tế quốc dân, thì KCHT có thể được phân chia thành: KCHT trong công nghiệp, trong nông nghiệp, giao thông vận tải, bưu chính - viễn thông, xây dựng, hoạt động tài chính, ngân hàng, y tế, giáo dục, văn hoá - xã hội

Nếu căn cứ theo khu vực dân cư, vùng lãnh thổ, thì KCHT có thể được phân chia thành: KCHT đô thị, KCHT nông thôn; KCHT kinh tế biển (ở những nước có kinh tế biển), KCHT đồng bằng, trung du, miền núi, vùng trọng điểm phát triển, các thành phố lớn

KCHT trong mỗi lĩnh vực, mỗi ngành, mỗi khu vực bao gồm những công trình đặc trưng cho hoạt động của lĩnh vực, ngành, khu vực và những công trình

Trang 12

liên ngành đảm bảo cho hoạt động đồng bộ của toàn hệ thống Trong nhiều công trình nghiên cứu về KCHT, các tác giả thường phân chia KCHT thành hai loại

cơ bản, gồm: KCHT kinh tế và KCHT xã hội Trong đó:

KCHT kinh tế bao gồm các công trình hạ tầng kỹ thuật như: năng lượng (điện, than, dầu khí) phục vụ sản xuất và đời sống, các công trình giao thông vận tải (đường bộ, đường sắt, đường biển, đường sông, đường hàng không, đường ống), bưu chính - viễn thông, các công trình thuỷ lợi phục vụ sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp… KCHT kinh tế là bộ phận quan trọng trong hệ thống kinh tế, đảm bảo cho nền kinh tế phát triển nhanh, ổn định, bền vững và là động lực thúc đẩy phát triển nhanh hơn, tạo điều kiện cải thiện đời sống của nhân dân

KCHT xã hội bao gồm các hệ thống, công trình và thiết bị vật chất - kỹ

thuật bảo đảm trực tiếp cho phát triển xã hội như nhà ở, các cơ sở trường học,

y tế, văn hoá, cơ sở nghiên cứu khoa học, công trình phúc lợi công cộng KCHT xã hội là điều kiện thiết yếu để phục vụ, nâng cao mức sống của cộng đồng dân cư, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực KCHT xã hội là tập hợp các ngành có tính chất dịch vụ xã hội, sản phẩm do chúng tạo ra thường thể hiện dưới hình thức dịch vụ và thường mang tính công cộng, liên quan đến sự phát triển cả về thể chất và tinh thần của con người

Tuy có nhiều cách phân loại khác nhau, nhưng việc phân loại chỉ mang tính tương đối, vì ngoài những KCHT đặc biệt gắn với ngành cụ thể, ít có loại KCHT nào chỉ phục vụ kinh tế mà không phục vụ xã hội và ngược lại, hay chỉ phục vụ ngành nghề, lĩnh vực này mà không phục vụ ngành nghề khác, lĩnh vực khác Các sản phẩm, dịch vụ của KCHT hướng đến phục vụ nhiều ngành kinh tế, xã hội Thậm chí đối với hệ thống KCHT phục vụ quốc phòng, an ninh cũng vậy Bên cạnh những công trình chuyên dụng, nhiều công trình vẫn được khai thác, sử dụng phục vụ cho các mục tiêu phát triển KT - XH của khu vực dân sự Sự phân chia một cách chi tiết, cụ thể thành KCHT công nghiệp, KCHT du lịch và dịch vụ, KCHT đô thị, nông thôn, nông nghiệp…, được phân bố, tạo lập và phát huy tác động trực tiếp trong các ngành, các vùng nhất

Trang 13

định nhưng các loại hình KCHT luôn nằm trong một hệ thống cấu trúc tổng thể, có mối liên hệ và ảnh hưởng qua lại lẫn nhau Việc phân loại có ý nghĩa nhiều hơn cho hoạt động quản lý, nhất là khi cần đưa ra các quyết định về quy hoạch, thứ tự ưu tiên và cơ cấu đầu tư phát triển hệ thống KCHT

1.1.2 Quan niệm về kết cấu hạ tầng phục vụ các khu công nghiệp

Với các cách tiếp cận đã nêu ở trên, có thể hiểu KCHT phục vụ các KCN là tổng hợp các cơ sở vật chất - kỹ thuật và xã hội đóng vai trò nền tảng cho phát triển và hoạt động của các KCN KCHT phục vụ các KCN được

chia thành 2 nhóm chính: KCHT kỹ thuật và KCHT xã hội

KCHT kỹ thuật: là các công trình và phương tiện của hệ thống giao thông, đường sá; cung cấp điện; hạ tầng xử lý và bảo vệ môi trường, bưu chính viễn thông, phòng cháy chữa cháy…

Hệ thống giao thông trong các KCN cũng như hệ thống đường giao thông dân sinh được đấu nối với các KCN có vai trò quyết định đến việc mở rộng quy mô sản xuất, tăng năng lực sản xuất, giảm chi phí vận chuyển hàng hóa của các KCN hoặc liên kết giữa các chủ thể kinh tế trong và ngoài địa phương, từ đó sẽ góp phần làm cho giá cả hàng hóa, dịch vụ đến tay người tiêu dùng giảm đi nhiều, nâng cao tính cạnh tranh, mở rộng thị trường Các KCN phát triển tốt đều có hệ thống đường giao thông nội bộ và hệ thống đường giao thông dân sinh đấu nối vào KCN tương đối hoàn chỉnh và thuận tiện Đây là điều kiện quan trọng vì nếu giao thông không thuận tiện thì KCN khó tồn tại lâu dài và bền vững Thực tế cho thấy, hệ thống giao thông yếu kém là một khó khăn, trở ngại to lớn đối với sự phát triển của các KCN

Hạ tầng xử lý và bảo vệ môi trường Vấn đề môi trường đang là một trong những vấn đề bức xúc hiện nay Giải quyết tốt vấn đề môi trường sẽ góp phần tích cực vào việc phát triển bền vững các KCN Chính vì vậy hạ tầng xử

lý và bảo vệ môi trường ở các KCN hiện nay là một vấn đề cần phải được quan tâm đúng mức Hạ tầng xử lý và bảo vệ môi trường bao gồm: hệ thống thu gom nước thải, nhà máy xử lý nước thải tập trung, hệ thống thoát nước

Trang 14

thải, khu vực lưu giữ chất thải rắn (nếu có), hệ thống quan trắc nước thải tự động và các công trình hạ tầng kỹ thuật bảo vệ môi trường khác… được thiết

kế đồng bộ và tuân theo quy định, quy chuẩn kỹ thuật xây dựng và quy định, quy chuẩn kỹ thuật môi trường có liên quan.

Hệ thống cung cấp điện Đây là một yếu tố có tính chất quyết định đến việc các nhà đầu tư có đầu tư vào các KCN hay không Một KCN mà hệ thống điện không ổn định, không đủ cho sản xuất và sử dụng sẽ không thu hút được các hộ kinh doanh tham gia sản xuất Điện năng có nhiều tác dụng, trong đó đặc biệt là đáp ứng nhu cầu cơ khí hóa, mà trước hết là cơ giới hóa ở một số khâu trong quá trình sản xuất, áp dụng công nghệ tiên tiến vào sản xuất nhằm tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường

Hệ thống thông tin liên lạc Trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện đại và với xu thế toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế thì hệ thống thông tin liên lạc có vai trò đặc biệt quan trọng Sự lạc hậu về KCHT thông tin liên lạc trong lĩnh vực này sẽ dẫn đến chậm trễ, thiếu hụt hoặc ách tắc trong cung cấp,

xử lý thông tin Điều này không chỉ làm tăng chi phí và thời gian giao dịch

mà có thể làm mất cơ hội đầu tư, cơ sở kinh doanh của các doanh nghiệp, hoặc làm cho công tác quản lý, điều hành trở nên kém hiệu quả Hiện nay, do

sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, ở các địa phương phần lớn các hộ gia đình đều sử dụng điện thoại cố định hoặc mạng lưới điện thoại di động Nhiều cơ sở sản xuất, kinh doanh trong các KCN đã nối mạng internet khiến cho sản phẩm của họ dễ dàng tham gia vào hệ thống thương mại điện

tử, thuận tiện cho quảng bá, tham gia vào thị trường trong nước và thế giới

KCHT xã hội bao gồm các công trình bảo đảm và là điều kiện duy trì, phát triển nguồn nhân lực một cách toàn diện như: các cơ sở đào tạo, cơ sở y

tế, chăm sóc sức khỏe, nhà ở cho công nhân, dịch vụ ngân hàng, bảo vệ an ninh trong và ngoài KCN

Sự phát triển của KCHT và phát triển các KCN có mối quan hệ tác động qua lại rõ rệt Ở những vùng có KCHT phát triển, quá trình xây dựng và

Trang 15

phát triển KCN diễn ra một cách thuận lợi hơn Ngược lại, ở những nơi có tốc

độ phát triển KCN chậm thường do KCHT không tốt, kém đồng bộ Chính mối quan hệ qua lại chặt chẽ này mà phát triển KCHT vừa được coi là điều kiện, vừa được coi là một nội dung cấu thành không thể tách rời của toàn bộ quá trình hình thành và phát triển các KCN

Đặc điểm của KCHT phục vụ các KCN

Thứ nhất, KCHT phục vụ các KCN là một loại hàng hoá khác với các

loại sản phẩm vật chất khác, nó là một loại hàng hoá công cộng Nó được các chủ thể sản xuất - kinh doanh trong KCN cùng sử dụng, việc sử dụng của cơ sở này không làm ảnh hưởng đến việc sử dụng của các cơ sở khác

Thứ hai, KCHT phục vụ các KCN mang tính hệ thống, đồng bộ, hiện

đại, kết nối với hệ thống KCHT chung của Tỉnh và quốc gia KCHT phục vụ các KCN có nhiều yếu tố hợp thành, bao gồm các yếu tố vật chất (nhà xưởng, đường giao thông, công trình xử lý môi trường, mạng lưới điện…) và các yếu

tố phi vật chất (đào tạo, y tế, hành chính công, nhà ở, an ninh, văn hoá…) Yêu cầu và đặc điểm của KCHT phục vụ các KCN là phải đồng bộ Cụ thể là: đồng

bộ giữa trong và ngoài KCN; đồng bộ giữa KCHT kỹ thuật và KCHT xã hội; đồng bộ giữa các yếu tố cấu thành của KCHT; đồng bộ về thời gian huy động các yếu tố cấu thành KCHT vào sử dụng

Tính hệ thống thể hiện trong sự phát triển đồng thời, cân đối các loại KCHT phục vụ các KCN và sự phối hợp, kết hợp tốt giữa các loại KCHT đó Tính đồng bộ thể hiện sự phù hợp, thích ứng về trình độ kỹ thuật của các yếu

tố cấu thành KCHT đó Tính hệ thống, đồng bộ mang lại ý nghĩa KT - XH, nhân văn rất lớn bởi đây là một trong những yêu cầu của sự phát triển KCHT

Vì vậy, nếu KCHT phục vụ các KCN thiếu tính hệ thống và đồng bộ thì hiệu quả khai thác, sử dụng sẽ không cao

Thứ ba, KCHT phục vụ các KCN đòi hỏi nguồn vốn đầu tư lớn, vượt

quá khả năng của một cơ sở sản xuất - kinh doanh trong KCN, thời hạn thu hồi vốn đầu tư vào KCHT phục vụ các KCN sẽ lâu dài, do đó để xây dựng

Trang 16

KCHT phục vụ các KCN, Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc đầu

tư, khuyến khích đầu tư và tạo lập nó Đặc điểm này đòi hỏi phải có chiến lược phân bổ nguồn vốn không chỉ giữa các yếu tố trong hệ thống hạ tầng, mà còn phân bổ vốn đầu tư hợp lý giữa lĩnh vực hạ tầng và các lĩnh vực phát triển kinh tế, xã hội Phát triển KCHT có ý nghĩa tạo dựng các công trình với nguồn vốn đầu tư lớn Trong điều kiện thiếu những thể chế tài chính, kinh tế chặt chẽ thì hạ tầng là một lĩnh vực chứa đựng nhiều yếu tố tiêu cực ảnh hưởng đến phát triển KT - XH và quốc phòng, an ninh

Thứ tư, KCHT phục vụ các KCN có yếu tố đầu tư tới hạn Đầu tư

tới hạn là đầu tư đưa công trình xây dựng hạ tầng nhanh tới chỗ hoàn bị Mặt khác, giới hạn của KCHT phục vụ các KCN còn nằm trong sự vận hành, sự tác động và hiệu năng của nó trong quá trình hoạt động KT - XH Bản thân KCHT không quyết định tất cả đối với sự phát triển KT - XH mà chỉ là một yếu tố Do đặc điểm như vậy của hạ tầng, nếu quá nhấn mạnh làm phô trương vượt khỏi giới hạn của nó sẽ rơi vào chủ nghĩa hình thức tạo ra những kết cấu hạ tầng hiệu quả thấp, gây lãng phí làm giảm sút năng lực sản xuất thực tế, ảnh hưởng đến sự tăng trưởng, phát triển chung

Vì vậy, sự phát triển KCHT phù hợp với yêu cầu của phát triển các KCN

là cơ sở cho sự phát triển bền vững

Thứ năm, KCHT phục vụ các KCN có chu kỳ dài (chu kỳ xây dựng, sử

dụng) và tính thích ứng trong thời gian dài Nghĩa là nó không chỉ đáp ứng nhu cầu hiện tại trước mắt mà cả trong thời gian dài Do đó đầu tư xây dựng KCHT phục vụ các KCN phải tính đến sự phát triển của khoa học - công nghệ

và thời gian hợp lý của hoàn vốn đầu tư

Thứ sáu, để xây dựng KCHT phục vụ các KCN cần có sự đầu tư, sản

xuất, dịch vụ của nhiều ngành như: xây dựng, giao thông, điện lực, viễn thông, đào tạo, thương mại… Do đó cần có sự phối hợp đồng bộ, chặt chẽ giữa các ngành này trong xây dựng và phát triển KCHT

Vai trò của KCHT đối với KCN

KCHT có vai trò quan trọng đối với việc phát triển KCN, cụ thể:

Trang 17

Một là, KCHT quyết định sự tăng trưởng và phát triển nhanh các ngành

sản xuất, các lĩnh vực sản xuất - kinh doanh và dịch vụ trong KCN Sở dĩ như vậy là vì KCHT là yếu tố để cung cấp các dịch vụ, các yếu tố đầu vào, đầu ra, đảm bảo cho quy trình sản xuất tiến hành một cách thường xuyên, liên tục với quy mô ngày càng mở rộng Đây là yếu tố cơ bản để KCN có cơ hội phát triển trong quá trình hội nhập

Hai là, KCHT sẽ tạo ra sự thay đổi căn bản trong cơ cấu sản xuất và

ngành nghề trong KCN Với một KCHT hiện đại là điều kiện cơ bản cho phát triển nhiều ngành nghề có tính chuyên môn hóa cao trong KCN, có thể làm thay đổi cấu trúc ngành nghề đáp ứng nhu cầu phát triển và hội nhập của địa phương

Ba là, KCHT là cơ sở vật chất và điều kiện quan trọng để phát triển

KCN Nếu xem KCN như một cơ thể con người, thì hệ thống KCHT được ví như các phân hệ hợp thành của cơ thể con người đó: giao thông và điện lực là

hệ thống mạch máu; thông tin liên lạc là hệ thống thần kinh; cấp, thoát nước là

hệ thống tiêu hóa và bài tiết của con người Những hệ thống này không thể thiếu Vì nếu thiếu và yếu một phân hệ nào đó sẽ dẫn đến không cân bằng đối với cơ thể con người Như vậy, nếu hệ thống KCHT kỹ thuật bị trục trặc sẽ làm cho sản xuất, kinh doanh bị đình trệ, thậm chí lâm vào tình trạng rối loạn KCHT tạo điều kiện cơ bản, cần thiết cho sản xuất, thúc đẩy các hoạt động sản xuất - kinh doanh của KCN

Bốn là, KCHT tốt sẽ tạo điều kiện thu hút nguồn vốn đầu tư từ bên

ngoài Thực tế cho thấy, ở các KCN có KCHT tốt sẽ thu hút các nhà đầu tư

bỏ vốn kinh doanh và như vậy giúp cho KCN có cơ hội phát triển tốt hơn

Năm là, KCHT phát triển đồng bộ sẽ giúp thúc đẩy việc giao lưu hàng

hóa, thuận tiện cho việc vận chuyển nguyên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm giữa nơi sản xuất và nơi tiêu thụ KCHT chủ yếu của KCN là dịch vụ,

là sản phẩm trung gian (yếu tố đầu vào của sản xuất) phục vụ hoạt động sản xuất - kinh doanh tiến hành đều đặn và liên tục Vai trò cung cấp đầu vào được thể hiện trước hết bởi các công trình và hệ thống điện, thông tin liên lạc

Đồng thời, KCHT còn đảm bảo dịch vụ tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá, cung cấp

Trang 18

thông tin thị trường Chỉ cần trục trặc trong một khâu nhất định hoặc sự hoạt động yếu kém của hệ thống KCHT, sẽ gây lên sự cố cho hoạt động của các cơ sở sản xuất - kinh doanh của KCN Ngược lại, nếu hệ thống KCHT hiện đại, đồng bộ sẽ tạo điều kiện rút ngắn chu kỳ sản xuất và lưu thông sản phẩm, giảm bớt chi phí sản xuất và góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm, làm cho các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ có sức cạnh tranh tốt hơn Sự phát triển của KCHT là một trong những điều kiện quan trọng để hiện đại hóa sản xuất, kinh doanh.

1.2 Quan niệm, nội dung và các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển

kết cấu hạ tầng phục các khu công nghiệp ở tỉnh Bắc Ninh

1.2.1 Quan niệm về phát triển kết cấu hạ tầng phục vụ các khu công nghiệp ở tỉnh Bắc Ninh

* Quan niệm về phát triển kết cấu hạ tầng và phát triển kết cấu hạ tầng phục vụ các khu công nghiệp

Từ những phân tích trên, tác giả đưa ra khái niệm về phát triển KCHT như sau:

Phát triển KCHT là quá trình làm gia tăng tính ổn định, bền vững, đồng bộ và liên kết của hệ thống các cơ sở vật chất, kỹ thuật, kiến trúc đóng vai trò nền tảng để phục vụ cho quá trình hoạt động và phát triển của mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ trong mỗi giai đoạn hay thời kỳ nhất định.

Khái niệm trên đây về phát triển KCHT phản ánh những vấn đề cơ bản sau:

Một là, phát triển KCHT là sự vận động, biến đổi cả về cơ cấu, số

lượng, chất lượng của hệ thống KCHT kinh tế và KCHT xã hội Hệ thống

KCHT đó đóng vai trò nền tảng để phục vụ cho quá trình hoạt động và phát triển của quốc gia, vùng lãnh thổ trong mỗi giai đoạn hay thời kỳ nhất định

Hai là, phát triển KCHT cần phải đi trước một bước, thể hiện tính tiên

phong, mở đường cho sự phát triển KT - XH của quốc gia, vùng lãnh thổ

Điều này xuất phát từ vai trò nền tảng quan trọng của KCHT đối với quá trình phát triển KT - XH và đòi hỏi thực tế của yêu cầu khai thác có hiệu quả những tiềm năng của đất nước Tiếp đó, sự phát triển của KCHT sẽ có tác

Trang 19

động tích cực đến sự phát triển của các ngành, lĩnh vực và các khu vực của nền kinh tế, góp phần đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh

tế, nâng cao mức sống của người dân nói riêng và của toàn xã hội nói chung, đồng thời sẽ góp phần giảm bớt nguy cơ tụt hậu của nền kinh tế

Ba là, phát triển KCHT phải đảm bảo nâng cao cả hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và môi trường Đây là xu hướng khách quan nhưng tất yếu nhằm tạo việc làm mới, tăng thu nhập, xoá đói giảm nghèo và phát triển kinh

tế, đảm bảo môi trường bền vững, thực hiện công bằng xã hội Do nguồn lực cho phát triển KCHT không phải lúc nào cũng dồi dào, sẵn có mà việc đầu tư xây dựng KCHT phục vụ các KCN cũng không phải là các hoạt động đầu tư kinh doanh đơn thuần, nó đòi hỏi vốn đầu tư lớn Do vậy khi đầu tư phát triển KCHT phải hết sức cân nhắc, tính toán giữa hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội, tránh tình trạng quá tập trung, quá tính toán lợi ích kinh tế mà lãng quên đến lợi ích xã hội mà hạ tầng mang lại Cần thiết phải tính toán, cân nhắc để xác định chiến lược và bước đi của phát triển KCHT để vừa đảm bảo hiệu quả

về mặt kinh tế, đồng thời có thể mang lại những hiệu quả về mặt xã hội, môi trường

Bốn là, phát triển KCHT phải đảm bảo duy trì sự ổn định xã hội Phát triển KCHT đem lại tác động tích cực nhiều mặt, nhưng cũng có thể gây ra tình trạng mất ổn định về mặt xã hội nếu như công tác tuyên truyền, quản lý và quy hoạch không được thực hiện tốt Điển hình là những tác động tiêu cực từ việc thu hồi đất của những người dân để tạo mặt bằng cho xây dựng KCHT Việc xuất hiện tình trạng khiếu kiện kéo dài phần lớn đều xuất phát từ những mâu thuẫn trong công tác đền bù, giải phóng mặt bằng cho xây dựng KCHT

Năm là, phát triển KCHT không phải là quá trình tự phát, mà có sự quản lý, hỗ trợ và định hướng của các cơ quan Nhà nước Có những công trình KCHT Nhà nước sẽ trực tiếp đầu tư, có những công trình KCHT Nhà nước sẽ tạo điều kiện, khuyến khích các nhà đầu tư, các loại

Trang 20

hình kinh tế tham gia xây dựng Đồng thời phát huy những mặt tích cực, hạn chế những tác động tiêu cực của quá trình này đến hoạt động của các KCN cũng như phát triển KT - XH.

Từ sự phân tích về KCHT, KCHT phục vụ các KCN và phát triển

KCHT, có thể hiểu:

Phát triển KCHT phục vụ các KCN là quá trình làm gia tăng tính ổn định, bền vững của hệ thống KCHT vật chất kỹ thuật và KCHT xã hội được tạo lập bảo đảm cho hoạt động và phát triển của các KCN, góp phần vào phát triển KT - XH và đẩy mạnh CNH, HĐH.

Quan niệm trên đây về phát triển KCHT phục vụ các KCN phản ánh

những vấn đề cơ bản sau:

Một là, mục đích của phát triển KCHT phục vụ các KCN là nhằm tạo

lập hệ thống cơ sở vật chất để bảo đảm cho sự hoạt động và phát triển của các KCN Trên cơ sở đó góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, giải quyết tốt các vấn đề xã hội và đẩy mạnh quá trình CNH, HĐH đất nước Hệ thống cơ sở vật chất bảo đảm cho sự hoạt động và phát triển của các KCN bao gồm các công trình KCHT cả bên trong và bên ngoài các KCN.

Hai là, chủ thể quản lý, lãnh đạo quá trình phát triển KCHT phục vụ các KCN là cấp ủy, chính quyền các địa phương có KCN, mà trực tiếp là Ban Quản lý các KCN Tỉnh Với vai trò là chủ thể, cấp ủy, chính quyền địa phương thực hiện chức năng lãnh đạo, quản lý nhà nước thông qua các cơ chế, chính sách để định hướng và quản lý quá trình phát triển KCHT phục

vụ các KCN.

Ba là, lực lượng tham gia phát triển KCHT phục vụ các KCN bao

gồm cả Nhà nước cùng hệ thống chính trị và các cá nhân, doanh nghiệp kinh doanh KCHT thuộc các thành phần kinh tế khác nhau trong và ngoài nước, trong đó Nhà nước và hệ thống chính trị là lực lượng đóng vai trò quan trọng.

Trang 21

* Quan niệm về phát triển kết cấu hạ tầng phục vụ các khu công nghiệp ở tỉnh Bắc Ninh

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận chung về KCHT và phát triển KCHT phục vụ các KCN, vận dụng vào điều kiện phát triển KCHT phục vụ các KCN

cụ thể ở tỉnh Bắc Ninh, tác giả khái quát quan niệm về phát triển KCHT phục

vụ các KCN ở tỉnh Bắc Ninh như sau:

Phát triển KCHT phục vụ các KCN ở tỉnh Bắc Ninh là tổng thể cơ chế, chính sách của các chủ thể lãnh đạo, quản lý nhằm gia tăng về quy mô, chất lượng, cơ cấu của các bộ phận cấu thành KCHT phục vụ các KCN, đáp ứng nhu cầu đầu tư kinh doanh của các chủ thể kinh tế trong các KCN trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

Quan niệm trên thể hiện một số nội dung sau:

Thứ nhất, về mục đích phát triển KCHT phục vụ các KCN ở tỉnh Bắc Ninh

Phát triển KCHT phục vụ các KCN ở tỉnh Bắc Ninh là hoạt động duy

tu, bảo dưỡng và xây dựng mới các công trình vật chất phục vụ nhu cầu đầu

tư kinh doanh của các chủ thể trong các KCN và người công nhân làm việc trong các KCN trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh Nói cách khác, mục đích phát triển KCHT phục vụ các KCN ở Bắc Ninh là phục vụ sản xuất, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các chủ thể kinh tế; đồng thời góp phần nâng cao đời sống, mức sống của công nhân trong các KCN ở Bắc Ninh Việc này liên quan đến các mặt của quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp cũng như đời sống của người công nhân trong các KCN Đó là nhu cầu về đi lại, vận chuyển hàng hóa; nhu cầu sử dụng điện, nước cho sản xuất và sinh hoạt; nhu cầu sử dụng các dịch vụ như: văn hóa, chăm sóc sức khỏe, nhu cầu

về nhà ở… Như vậy, mục đích của việc phát triển KCHT phục vụ các KCN ở Bắc Ninh là đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh và tái sản xuất sức lao động của các chủ thể kinh tế trong các KCN trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

Thứ hai, về chủ thể lãnh đạo, quản lý quá trình phát triển KCHT phục

vụ các KCN ở tỉnh Bắc Ninh

Trang 22

Chủ thể lãnh đạo, quản lý quá trình phát triển KCHT phục vụ các KCN

ở tỉnh Bắc Ninh là cấp ủy, chính quyền địa phương, các cơ quan chức năng, Ban Quản lý các KCN của Tỉnh Trong đó, cấp ủy và chính quyền tỉnh Bắc Ninh là cơ quan có vai trò lãnh đạo, định hướng, quản lý trên cơ sở đưa ra các chủ trương, chính sách phát triển KCHT phục vụ các KCN trên địa bàn Tỉnh; Ban Quản lý các KCN Tỉnh là cơ quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước trực tiếp đối với phát triển KCHT phục vụ các KCN trên địa bàn Tỉnh Ban Quản lý các KCN Tỉnh thông qua Phòng Quản lý Quy hoạch và Xây dựng thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với KCN về quản lý quy hoạch, phát triển KCN, quản lý xây dựng đối với các doanh nghiệp trong KCN, quản

lý chất lượng công trình xây dựng trong các KCN

Thứ ba, về lực lượng tham gia vào quá trình phát triển KCHT phục vụ các KCN ở tỉnh Bắc Ninh

Lực lượng tham gia vào quá trình phát triển KCHT phục vụ các KCN ở tỉnh Bắc Ninh bao gồm các chủ thể trong hệ thống chính trị, các cá nhân, doanh nghiệp trong và ngoài nước thuộc các thành phần kinh tế khác nhau đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực KCHT phục vụ các KCN, trong đó trong đó cấp ủy, chính quyền tỉnh Bắc Ninh là lực lượng đóng vai trò quan trọng

Thứ tư, về phương thức tiến hành

Quá trình phát triển KCHT phục vụ các KCN ở tỉnh Bắc Ninh được tiến hành bằng phương thức kế hoạch hóa và phương thức thị trường Phương thức kế hoạch hóa được sử dụng chủ yếu đối với các công trình KCHT mà vốn đầu tư chủ yếu là từ ngân sách nhà nước và được xác định trong kế hoạch phát triển KT - XH của Tỉnh Phương thức thị trường là sử dụng cơ chế, chính sách mời gọi các thành phần kinh tế khác nhau tham gia phát triển KCHT phục vụ các KCN thông qua các hình thức đầu tư như: hợp tác công tư (PPP), xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT), xây dựng - chuyển giao (BT)

1.2.2 Nội dung phát triển kết cấu hạ tầng phục vụ các khu công nghiệp ở tỉnh Bắc Ninh

Phát triển KCHT phục vụ các KCN là một trong những hướng chủ đạo

Trang 23

góp phần thực hiện những mục tiêu then chốt của quá trình CNH, HĐH đất nước, tạo ra một hệ thống KCHT đồng bộ, có giá trị lâu dài, góp phần hiện đại hóa hệ thống KCHT trên phạm vi cả nước nói chung, tỉnh Bắc Ninh nói riêng Vấn đề này được thể hiện trên một một số nội dung sau:

Phát triển KCHT phục vụ các KCN ở Bắc Ninh về quy mô Theo đó,

KCHT phục vụ các KCN ở tỉnh Bắc Ninh phải vừa đáp ứng yêu cầu của quá trình CNH, HĐH, hội nhập kinh tế quốc tế; vừa đáp ứng nhu cầu hoạt động của các doanh nghiệp hoạt động trong các KCN như: sản xuất kinh doanh, đi lại, thông tin liên lạc, dịch vụ nhà ở, khám chữa bệnh Quá trình đó phải góp phần tạo ra năng suất lao động ngày càng cao cho doanh nghiệp cũng như toàn xã hội Vì vậy, KCHT phục vụ các KCN phải luôn đi trước một bước nhằm hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình phát triển các KCN cũng như KT - XH trên địa bàn và cả nước Như vậy, xét về quy mô KCHT phục

vụ các KCN ở tỉnh Bắc Ninh phải được đầu tư xây dựng ngày càng nhiều, đáp ứng nhu cầu của các KCN trên địa bàn Tỉnh

Phát triển KCHT phục vụ các KCN ở Bắc Ninh về chất lượng Theo đó,

KCHT phục vụ các KCN ở tỉnh Bắc Ninh phải bảo đảm tốt về các tiêu chuẩn như: phải có tính năng sử dụng tốt, bền, tiện dụng, hiện đại, đồng thời phải đảm bảo tính an toàn và hiệu quả cao

Phát triển KCHT phục vụ các KCN ở Bắc Ninh về cơ cấu Theo đó,

KCHT phục vụ các KCN ở tỉnh Bắc Ninh phải phù hợp, đảm bảo tính liên hoàn, đồng bộ, liên thông trong các KCN, giữa các KCN trên địa bàn Tỉnh, đồng thời phải kết nối trong quy hoạch chung với các tỉnh bạn và vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ

Từng nội dung phát triển KCHT phục vụ các KCN ở tỉnh Bắc Ninh

được thể hiện thông qua sự phát triển các yếu tố cấu thành KCHT phục vụ các KCN trên địa bàn Tỉnh Cụ thể:

Một là, phát triển hệ thống hạ tầng giao thông

Nội dung này phản ánh mức độ thuận tiện về giao thông trong các

Trang 24

KCN cũng như giữa các KCN với nhau Hạ tầng giao thông bao gồm giao thông bên ngoài KCN và giao thông nội bộ của KCN Mạng lưới hạ tầng giao thông phục vụ các KCN là hệ thống các tuyến đường nằm trong các KCN và các tuyến đường được đấu nối vào các KCN phục vụ cho việc giao lưu trong KCN và giữa các KCN với nhau Nó được thể hiện ở các chỉ tiêu: độ rộng của lòng đường, vỉa hè theo thiết kế; sự thuận tiện và dễ dàng trong di chuyển, vận chuyển hàng hóa; chất lượng đường; sự thuận tiện trong kết nối vào các trục đường chính; mức độ ùn tắc; thời gian di chuyển; tải trọng theo thiết kế Đây chính là cơ sở để đánh giá mức độ thuận lợi về hạ tầng giao thông phục vụ các KCN, điều này ảnh hưởng rất lớn khả năng vận chuyển hàng hóa

và hoạt động sản xuất kinh - doanh của các cơ sở trong KCN

Hai là, phát triển hệ thống cung cấp điện

Nội dung này phản ánh mức độ thuận lợi trong cung cấp năng lượng để phục vụ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của các cơ sở trong KCN, như: khả năng cung cấp điện, công suất và sản lượng điện, hệ thống đèn chiếu sáng công cộng, trạm biến áp phân phối, đường dây cấp trung áp, đường dây cấp hạ

áp, khoảng cách an toàn và hành lang bảo vệ, chất lượng điện áp theo các chỉ tiêu thông số kỹ thuật theo qui định

Ba là, phát triển hệ thống xử lý chất thải và bảo vệ môi trường

Phát triển hệ thống xử lý nước thải và bảo vệ môi trường trong các KCN phải vừa đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, vừa bảo đảm được các yêu cầu bảo vệ môi trường xung quanh trong quá trình hoạt động của KCN Nội dung này phản ánh mức độ xử lý môi trường như: hệ thống thoát nước; khả năng xử lý chất thải rắn; khả năng thoát nước thải (kích thước của ống thoát); công suất thoát nước thải (m3/ngày); diện tích và tỷ lệ đất trồng cây xanh so với tổng diện tích KCN (m2 và %) Ngoài ra còn có các tiêu chí phản ánh môi trường như khả năng tiết kiệm tài nguyên; chống ô nhiễm môi trường

Bốn là, phát triển hệ thống thông tin liên lạc

Trang 25

Hệ thống thông tin liên lạc phục vụ cho các KCN trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh phát triển phải là hệ thống viễn thông hoàn chỉnh được ghép nối vào mạng viễn thông của bưu điện tỉnh Bắc Ninh, có khả năng kết nối đồng bộ với mạng viễn thông quốc gia Đó phải là hệ thống thông tin liên lạc phát triển với nhiều loại hình khác nhau, đáp ứng nhu cầu đa dạng hóa thông tin của các chủ thể kinh tế trong các KCN trên địa bàn Tỉnh Đồng thời đó phải là hệ thống thông tin liên lạc được phát triển trên cơ sở ứng dụng những công nghệ tiên tiến, hiện đại.

Năm là, phát triển hệ thống nhà ở, cơ sở y tế chăm sóc sức khỏe cho công nhân

Lực lượng lao động làm việc trực tiếp trong các doanh nghiệp trong các KCN là một đối tượng cần phải được quan tâm trong quá trình xây dựng các KCN Khu công nghiệp hoạt động không chỉ riêng là sự hoạt động của các dây chuyền công nghệ, máy móc thiết bị, mà còn có sự tham gia đóng góp vận hành của đội ngũ lao động trong KCN, đối tượng lao động căn bản sáng tạo ra mọi giá trị gia tăng trong hoạt động của KCN Bởi vậy, quá trình xây dựng và phát triển các KCN thì cần phải quan tâm đầu tư và bảo đảm đời sống của lao động trong các KCN một cách lâu dài, cả về đời sống vật chất và đời sống văn hoá tinh thần; bảo đảm cho người lao động trong các KCN có nhà ở, thuận tiện cho việc ăn uống, nghỉ ngơi, giải trí và các nhu cầu thiết yếu khác trong cuộc sống Phát triển hệ thống nhà ở, cơ sở y tế chăm sóc sức khỏe cho công nhân trong các KCN ở Bắc Ninh được thể hiện ở việc đáp ứng tốt nhu cầu về mặt

số lượng; phải thuận tiện cho quá trình sinh hoạt và khám chữa bệnh của người công nhân Nhà ở phải bảo đảm theo đúng thiết kế, tuân thủ các chỉ tiêu thông số kỹ thuật theo qui định và có đầy đủ các tiện ích kèm theo Hệ thống nhà ở, cơ sở y tế chăm sóc sức khỏe cho công nhân phải bảo đảm tính đồng

bộ, liên kết giữa trong và ngoài KCN Xu hướng hiện nay của Bắc Ninh cũng như một số tỉnh thành khác trên cả nước có nhiều KCN tập trung là xây dựng quần thể KCN - dân cư - thương mại nhằm giải quyết các yêu cầu trên; bảo

Trang 26

đảm tính bền vững về mặt xã hội cho lao động trong các KCN.

Sáu là, phát triển hệ thống văn phòng, nhà xưởng, kho bãi

Một trong những dịch vụ đang được các KCN trên địa bàn Bắc Ninh chú ý khai thác đó là xây dựng sẵn hệ thống nhà xưởng, kho bãi để cho thuê Theo các chủ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng ở các KCN, thực tế hiện nay cho thấy đang có nhiều doanh nghiệp nước ngoài (nhất là doanh nghiệp nhỏ) đầu

tư trong lĩnh vực công nghiệp phụ trợ đã sử dụng phương án thuê nhà xưởng

có sẵn để sản xuất Bên cạnh việc không mất thời gian chờ xây dựng, còn đỡ phải bỏ ra ngay một số vốn lớn ban đầu, đặc biệt là những nhà đầu tư mới còn

đang thăm dò thị trường Phát triển hệ thống văn phòng, nhà xưởng, kho bãi

thể hiện ở một số nội dung như: số lượng, diện tích các văn phòng, nhà xưởng, kho bãi; độ an toàn, khả năng sử dụng của văn phòng, nhà xưởng, kho bãi (được đánh giá theo các tiêu chuẩn quy định như: tiêu chuẩn TCVN 4453-

1995, TCVN 5574:2012, TCXDVN 9381:2012, TCXDVN 239:2006 ); tính đồng bộ và liên kết của hệ thống văn phòng, nhà xưởng, kho bãi

Các yếu tố cấu thành KCHT phục vụ các KCN ở tỉnh Bắc Ninh sẽ là những nội dung đánh giá thực trạng phát triển KCHT phục vụ các KCN ở tỉnh Bắc Ninh theo ba nội dung phân tích ở trên

1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển kết cấu hạ tầng phục vụ các khu công nghiệp ở tỉnh Bắc Ninh

Một là, điều kiện tự nhiên

Điều kiện tự nhiên bao gồm: vị trí địa lý, địa hình, khí tượng thủy văn, điều kiện đất đai, dân số Những yếu tố này ảnh hưởng lớn đến xây dựng công trình giao thông, cấp nước, cấp năng lượng

Vị trí địa lý: Bắc Ninh là một tỉnh cửa ngõ phía Bắc của Thủ đô Hà

Nội, trung tâm xứ Kinh Bắc cổ xưa Phía Bắc giáp tỉnh Bắc Giang, phía Tây

và Tây Nam giáp thủ đô Hà Nội, phía Nam giáp tỉnh Hưng Yên, phía Đông giáp tỉnh Hải Dương Bắc Ninh là tỉnh thuộc Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ

có các hệ thống giao thông thuận lợi kết nối với các tỉnh trong vùng như quốc

Trang 27

lộ 1A nối Hà Nội - Bắc Ninh - Lạng Sơn; Đường cao tốc 18 nối sân bay Quốc

tế Nội Bài - Bắc Ninh - Hạ Long; Quốc lộ 38 nối Bắc Ninh - Hải Dương - Hải Phòng; Trục đường sắt xuyên Việt chạy qua Bắc Ninh đi Lạng Sơn và Trung Quốc; Mạng đường thủy sông Cầu, sông Đuống, sông Thái Bình rất thuận lợi nối Bắc Ninh với hệ thống cảng sông và cảng biển của Vùng tạo cho Bắc Ninh là địa bàn mở gắn với phát triển của thủ đô Hà Nội, theo định hướng xây dựng các thành phố vệ tinh và sự phân bố công nghiệp của Hà Nội Đây

là những yếu tố rất thuận lợi để phát triển KT - XH và giao lưu của Bắc Ninh với bên ngoài, trên cơ sở đó tạo điều kiện thuận lợi để Bắc Ninh phát triển hệ thống KCHT KT - XH nói chung cũng như phát triển KCHT phục

vụ các KCN nói riêng

Địa hình: Địa hình Bắc Ninh tương đối bằng phẳng, là vùng đất chuyển

tiếp giữa đồng bằng và miền núi Mức độ chênh lệch địa hình không lớn, vùng đồng bằng thường có độ cao phổ biến từ 3m - 7m, địa hình trung du đồi núi có

độ cao phổ biến từ 300m - 400m, có xen lẫn đồi núi với độ cao từ 20m đến 120m so với mặt nước biển Diện tích đồi núi chiếm tỉ lệ rất nhỏ so với tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh, phân bố chủ yếu ở 2 huyện Quế Võ và Tiên Du

Khí tượng thủy văn:Bắc Ninh nằm trong vùng khí hậu cận nhiệt đới ẩm, chia làm 4 mùa rõ rệt (xuân, hạ, thu, đông) Có sự chênh lệch rõ ràng về nhiệt

độ giữa mùa hè nóng ẩm và mùa đông khô lạnh Sự chênh lệch đạt 15-16 °C Mùa mưa kéo dài từ tháng năm đến tháng mười hàng năm Lượng mưa trong mùa này chiếm 80% tổng lượng mưa cả năm Lượng mưa trung bình trong năm: 1.518,8 mm Nhiệt độ không khí trung bình: 24°C Số giờ nắng trong năm: 1.357,7 giờ Độ ẩm tương đối trung bình: 81,3%

Bắc Ninh có mạng lưới sông ngòi khá dày đặc, mật độ lưới sông khá cao, trung bình 1,0 - 1,2 km/km2, có 3 hệ thống sông lớn chảy qua gồm sông Đuống, sông Cầu và sông Thái Bình Sông Đuống có chiều dài 42 km nằm trên đất Bắc Ninh, tổng lượng nước bình quân 31,6 tỷ m3 Sông Cầu có chiều dài 290 km với đoạn chảy qua tỉnh Bắc Ninh dài 70 km, lưu lượng nước hàng

Trang 28

năm khoảng 5 tỷ m3 Sông Thái Bình thuộc vào loại sông lớn của miền Bắc có chiều dài 385 km, đoạn chảy qua tỉnh Bắc Ninh dài 17 km Ngoài ra trên địa bàn Tỉnh còn có các hệ thống sông ngòi nội địa như sông Ngũ Huyện Khê, sông Dâu, sông Đông Côi, sông Bùi, ngòi Tào Khê, sông Đồng Khởi, sông Đại Quảng Bình [14, tr.19-25].

Với hệ thống sông này nếu biết khai thác trị thuỷ và điều tiết nước sẽ đóng vai trò quan trọng trong hệ thống cung cấp và tiêu thoát nước của Tỉnh Trong khi đó tổng lưu lượng nước mặt của Bắc Ninh ước khoảng 177,5 tỷ m3, trong đó lượng nước chủ yếu chứa trong các sông là 176 tỷ m3; được đánh giá

là khá dồi dào Cùng với kết quả thăm dò địa chất cho thấy trữ lượng nước ngầm cũng khá lớn, trung bình 400.000 m3/ngày, tầng chứa nước cách mặt đất trung bình 3m - 5m và có bề dày khoảng 40m, chất lượng nước tốt Toàn bộ nguồn nước này có thể khai thác để phục vụ chung cho cả sản xuất và sinh hoạt trong toàn Tỉnh, trong đó có các hoạt động của các KCN Bên cạnh đó,

hệ thống sông ngòi dày đặc như vậy cũng là nguồn cung cấp cát, sỏi dồi dào cho các công trình xây dựng, trong đó có các công trình KCHT phục vụ các KCN trên địa bàn Tỉnh

Tài nguyên đất: Tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh Bắc Ninh là

82.271,1 ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm 57,7%, đất phi nông nghiệp chiếm 41,6%, đất chưa sử dụng còn 0,7% [14, tr.16]

Dân số, lao động: Theo số liệu điều tra đến năm 2014, dân số toàn tỉnh

Bắc Ninh là 1.132.231 người, trong đó nam giới là 557.190 người chiếm 49,21%, nữ giới là 575.041 người chiếm 50,79% Mật độ dân số là 1.376 người/km2 Dân số trong độ tuổi lao động là 730.683 người [14, tr.36, tr.39, tr.40] Đây là nguồn cung lao động khá dồi dào cho các KCN Từ đó tạo điều kiện cho phát triển KCHT phục vụ các KCN trên địa bàn Tỉnh

Trong các yếu tố trên thì đất đai và địa hình là yếu tố quan trọng và có tác động trực tiếp đến việc lựa chọn địa điểm, hình thành, xây dựng KCHT phục vụ các KCN Đất đai và địa hình ở mỗi vùng, mỗi địa phương trong

Trang 29

Tỉnh có cấu tạo thổ nhưỡng, đặc điểm và giá trị khác nhau Với những đặc điểm trên thì đất đai và địa hình ảnh hưởng rất lớn đến khả năng xây dựng các công trình, đảm bảo mức độ phát triển và độ bền vững của các dự án đầu tư xây dựng KCHT phục vụ các KCN Từ đó ảnh hưởng đến chi phí xây dựng các công trình đầu tư của KCHT phục vụ các KCN Khả năng về cung cấp điện, nước ảnh hưởng đến tình hình sản xuất của các cơ sở sản xuất, kinh doanh trong các KCN trên địa bàn Tỉnh.

Hai là, đặc điểm kinh tế của Tỉnh

Tăng trưởng kinh tế của Tỉnh được duy trì ở mức cao so với cả nước Giai đoạn 2010 - 2015, tổng sản phẩm trên địa bàn Tỉnh (GRDP) đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 15,7%/ năm, vượt mục tiêu Đại hội Đại biểu Đảng bộ Tỉnh lần thứ XVIII đã đề ra Trong đó công nghiệp - xây dựng tăng 22,2%; dịch vụ tăng 8,5%; nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản tăng 1,3% Năm

2015, quy mô GRDP là 122,5 nghìn tỷ đồng (giá hiện hành), xếp thứ 6 cả nước; GRDP bình quân đầu người đạt 5.192 USD (giá hiện hành), gấp hơn 1,5 lần mục tiêu Đại hội Đại biểu Đảng bộ Tỉnh lần thứ XVIII đã đề ra Thu nhập bình quân đầu người năm 2015 đạt 42 triệu đồng, bình quân 2011 - 2015 tăng 16,3%/năm, trong đó khu vực nông thôn đạt 31,6 triệu đồng, tăng 15,8%/năm [22, tr.19, tr.68].Như vậy, đây là điều kiện để tăng thu ngân sách cho Tỉnh Năm 2015, thu ngân sách của Tỉnh đạt 14.300 tỷ đồng, gấp 1,7 lần mục tiêu Đại hội Đại biểu Đảng bộ Tỉnh lần thứ XVIII đã đề ra, tăng bình quân 18,6%/năm [22, tr.20] Từ

đó góp phần tăng nguồn vốn ngân sách chi cho đầu tư phát triển các công trình KCHT phục vụ các KCN trên địa bàn Tỉnh Tổng chi ngân sách Nhà nước của Bắc Ninh bình quân 5 năm 2010 - 2015 tăng 8,1%, trong đó chi cho đầu tư phát triển luôn dành được sự ưu tiên lớn [22, tr.20]

Cơ cấu ngành kinh tế và cơ cấu lao động của Tỉnh có sự chuyển dịch tích cực theo hướng CNH, HĐH và từng bước khai thác được tiềm năng thế mạnh của Tỉnh Năm 2015, tỷ trọng của ngành công nghiệp, xây dựng ước đạt 74,3%, dịch vụ 20,5%, nông nghiệp đạt 5,2% [22, tr.20] Cơ cấu lao động có

Trang 30

sự biến đổi mạnh mẽ, số người lao động trong lĩnh vực nông, lâm, thuỷ sản ngày càng giảm, năm 2010 chiếm 47,5% thì đến năm 2014 giảm xuống còn là 29% Trong công nghiệp, xây dựng, cơ cấu lao động tăng từ 33,3% năm 2010 lên 47,6% năm 2014 Ngành dịch vụ, cơ cấu lao động tăng từ 19,2% năm

2010 lên 23,4% năm 2014 Để thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động của Tỉnh theo hướng hiện đại, một trong những vấn đề quan trọng là phải phát triển KCHT, trong đó có hệ thống KCHT phục vụ các KCN trên địa bàn Tỉnh Điều đó có nghĩa là phát triển KCHT phải luôn đi trước một bước Tuy nhiên, khi cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động của Tỉnh chuyển dịch theo hướng hiện đại, đến lượt nó sẽ tác động to lớn trở lại đối với phát triển KCHT, trong đó có hệ thống KCHT phục vụ các KCN trên địa bàn Tỉnh

Như vậy, các đặc điểm về kinh tế nói trên của tỉnh Bắc Ninh có tính chất quyết định tới hình thái, quy mô, tốc độ phát triển của hệ thống KCHT nói chung, KCHT phục vụ các KCN nói riêng

Ba là, hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách liên quan đến phát triển KCHT phục vụ các KCN của Trung ương và tỉnh Bắc Ninh

Hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách có vai trò quan trọng đối với phát triển KCHT phục vụ các KCN Nếu hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách liên quan đến phát triển KCHT phục vụ các KCN của Trung ương và tỉnh Bắc Ninh phù hợp sẽ tạo điều kiện thuận lợi và thúc đẩy sự phát triển Ngược lại, nếu hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách đó không phù hợp sẽ kìm hãm sự phát triển Quá trình phát triển KCHT phục vụ các KCN ở tỉnh Bắc Ninh chịu sự chi phối của một hệ thống cơ chế, chính sách về phát triển KCHT phục vụ các KCN của Nhà nước, mà trực tiếp là các cơ chế, chính sách của Tỉnh Hệ thống

cơ chế chính sách đó bao gồm cơ chế chính sách phát triển KCHT trong KCN

và cả cơ chế chính sách phát triển KCHT bên ngoài KCN như: quy hoạch phát triển KCHT, chính sách về quản lý đầu tư xây dựng, chính sách thu hút đầu tư, chính sách quản lý và sử dụng đất đai Các cơ chế chính sách này tác động mạnh mẽ tới tiến độ, chi phí, chất lượng các công trình xây dựng KCHT phục

Trang 31

Năm là, vị trí đặt khu công nghiệp

Đây là cơ sở ban đầu dẫn đến sự thành công của KCN Khu công nghiệp đặt ở vị trí thuận lợi hay khó khăn về KCHT kỹ thuật (nhất là bên ngoài KCN) như đường sá, cầu cống, bến cảng, nhà ga, sân bay, hệ thống viễn thông và sự thuận tiện của KCHT xã hội sẽ ảnh hưởng đến việc triển khai xây dựng nhanh hay chậm và có hấp dẫn các nhà đầu tư, các cơ sở sản xuất - kinh doanh hay không Những điểm trên phải được xem xét trên khía cạnh hiện tại và sự duy trì khả năng ấy trong tương lai

Sáu là, thời gian, tốc độ giải phóng mặt bằng và chất lượng xây dựng các công trình thuộc KCHT phục vụ các KCN

Giải phóng mặt bằng là công việc cần thiết trước khi xây dựng KCHT

kỹ thuật phục vụ các KCN Đây là nhân tố thể hiện mức độ khả thi của xây dựng KCHT phục vụ các KCN Thời gian và tốc độ giải phóng mặt bằng ảnh hưởng đến việc xây dựng KCHT nhanh hay chậm

Chất lượng xây dựng các công trình KCHT phục vụ các KCN ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng hoạt động của các cơ sở sản xuất - kinh doanh trong các KCN Chất lượng công trình tốt sẽ giúp các cơ sở sản xuất - kinh doanh trong KCN hoạt động ổn định, bình thường và ngược lại chất lượng kém có thể khiến các doanh nghiệp tốn thêm chi phí sửa chữa, chờ đợi hay những chi phí phát sinh khác

*

Trang 32

Phát triển KCHT phục vụ các KCN là một chủ trương nằm trong chủ trương phát triển KCHT KT - XH nói chung, đồng thời là nội dung quan trọng trong thực hiện đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước Đó còn là một đòi hỏi tất yếu khách quan trong thực hiện kế hoạch phát triển KT - XH trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh Nó cho phép phát huy tối đa mọi nguồn lực và lợi thế để phát triển hài hòa, vững chắc vừa bảo đảm tăng trưởng, vừa bảo đảm về mặt xã hội

và bảo vệ môi trường sinh thái

Phát triển KCHT phục vụ các KCN ở tỉnh Bắc Ninh có vai trò quan trọng trong sự nghiệp CNH, HĐH, nó chính là động lực thúc đẩy, là cốt vật chất để tiến hành CNH, HĐH nói riêng, phát triển KT - XH nói chung về lâu dài và bền vững trên địa bàn Tỉnh

Bắc Ninh là một trong những tỉnh tập trung nhiều KCN của miền Bắc nước ta Với những đặc điểm về tự nhiên, điều kiện KT - XH và nguồn lực con người, quá trình phát triển KCHT phục vụ các KCN trên địa bàn có những thuận lợi và khó khăn nhất định Để phát triển KCHT phục vụ các KCN ở tỉnh Bắc Ninh cần phải đẩy mạnh hơn nữa việc quy hoạch, tận dụng lợi thế, khắc phục khó khăn để sớm đưa tỉnh Bắc Ninh trở thành một tỉnh công nghiệp hiện đại, góp phần đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH đất nước

Trang 34

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KẾT CẤU HẠ TẦNG PHỤC VỤ CÁC KHU CÔNG NGHIỆP Ở TỈNH BẮC NINH 2.1 Thành tựu, hạn chế trong phát triển kết cấu hạ tầng phục vụ các khu công nghiệp ở tỉnh Bắc Ninh

2.1.1 Tổng quan về các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

Ngày 1 tháng 1 năm 1997, tỉnh Bắc Ninh chính thức được tái lập theo Nghị quyết của Quốc hội khoá IX, kỳ họp thứ 10 (ngày 06 tháng 11 năm 1996) Để định hướng phát triển, Bắc Ninh đã tiến hành công tác quy hoạch tổng thể phát triển KT - XH đến năm 2010 UBND Tỉnh đã có Quyết định số 48/1998/QĐ-VB ngày 06/7/1998 phê duyệt quy hoạch trong đó xác định rõ định hướng phát triển KCN Ngay từ đầu Bắc Ninh đã xác định rõ, để thực hiện CNH, HĐH thì việc phát triển các KCN được coi là giải pháp hàng đầu Phát triển các KCN theo hình thức đa dạng, trong mối liên hệ hữu cơ KCN tập trung

- cụm công nghiệp - làng nghề; đồng thời phát triển cơ sở hạ tầng một cách toàn diện trên cả 3 loại hình giao thông vận tải, đô thị và nông thôn Có thể nói, việc phát triển các KCN ngày càng khẳng định hướng đi đúng đắn của Tỉnh trong tiến trình CNH, HĐH đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế Các KCN đang trở thành điểm sáng trong phát triển kinh tế của Tỉnh Điều đó được thể hiện trên một số nội dung chủ yếu sau:

Thứ nhất, số lượng các KCN tương đối lớn và tăng nhanh

Theo Quyết định số 1129/QĐ-TTg ngày 19/12/1998 của Thủ tướng Chính phủ, KCN đầu tiên của Tỉnh Bắc Ninh được thành lập, đó là KCN Tiên Sơn với diện tích giai đoạn I là 134 ha (tổng diện tích theo quy hoạch là 449

ha, trong đó 30 ha đất đô thị) và được khởi công tháng 12/2000 Tiếp theo, thành lập KCN Quế Võ, tại Quyết định số 1224/QĐ-TTg ngày 19/12/2002 của Thủ tướng Chính phủ với diện tích giai đoạn I là 336 ha (tổng diện tích theo quy hoạch là 636 ha), khởi công ngày 27/4/2003 Sau đó, lần lượt các KCN: Đại Đồng - Hoàn Sơn; Yên Phong I; VSIP Bắc Ninh; Quế Võ II…

Trang 35

được thành lập Tính đến nay, Bắc Ninh có 15 Khu công nghiệp tập trung được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, tổng diện tích đất quy hoạch 6847ha; đã được phê duyệt quy hoạch chi tiết xây dựng diện tích 5961ha, đạt 87,06% (5961ha/6847ha); cấp Giấy chứng nhận đầu tư cho 14 dự án đầu tư xây dựng hạ tầng Trong đó, có 09 KCN đi vào hoạt động với diện tích quy hoạch 2872,98

ha, diện tích đất công nghiệp dành để cho thuê 2017,61 ha; vốn đầu tư hạ tầng đăng ký 909,83 triệu USD, vốn đầu tư thực hiện 314,84 triệu USD; tỷ lệ lấp đầy trên diện tích đất quy hoạch đạt 70,6% (1278,7 ha/1810,57 ha), tỷ lệ lấp đầy trên diện tích đất thu hồi đạt 84,5% (1278,7 ha/1512,97 ha) [Phụ lục 1], [57]

Thứ hai, số lượng các dự án được thu hút vào các KCN ngày càng nhiều

Với các chính sách ưu đãi, những điều kiện thuận lợi về kết cấu hạ tầng

và thủ tục hành chính đơn giản, các KCN Bắc Ninh đã trở thành điểm đến hấp dẫn nhà đầu tư, đặc biệt là nhà đầu tư nước ngoài, có công nghệ hiện đại như: Samsung, Canon, ABB… với các ngành công nghiệp mũi nhọn là: điện tử, cơ khí chế tạo, chế biến công nghệ cao… Từ đó xây dựng được hình ảnh đặc trưng của mỗi KCN, kéo theo chuỗi các nhà đầu tư vệ tinh khác Các KCN Bắc Ninh hiện thu hút được 887 dự án đăng ký đầu tư (trong nước là 332, FDI

là 555) với tổng vốn đầu tư cấp mới và điều chỉnh đạt hơn 12,012 tỷ USD, trong đó vốn FDI là 10,611 tỷ USD, chiếm tới hơn 88,3% tổng vốn đầu tư toàn Tỉnh Số lượng các dự án đầu tư nước ngoài vào các KCN tăng dần qua các năm, đặc biệt tăng mạnh nhất trong giai đoạn 2010 - 2015 với hơn 530 dự

án, tổng vốn đầu tư hơn 9,3 tỷ USD Phần lớn các dự án FDI tập trung trên lĩnh vực công nghiệp điện tử, viễn thông và công nghiệp hỗ trợ cho ngành này với khoảng 80% tổng vốn đầu tư Riêng vốn đầu tư cho máy móc, thiết bị, công nghệ sản xuất các dự án FDI trong giai đoạn 2010 - 2015 đạt khoảng 60% tổng vốn đăng ký [8] Đây là nhân tố chính để thúc đẩy hàm lượng giá trị công nghệ trong giá trị của sản phẩm, giảm thiểu tối đa các yếu tố ảnh hưởng đến môi trường, nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm, giá trị sản xuất

và giá trị xuất khẩu, là cơ sở quan trọng tạo lập ngành công nghiệp mũi nhọn của Tỉnh và thu hút dòng vốn FDI chảy về các KCN

Trang 36

Thực tế quá trình xây dựng và phát triển các KCN ở tỉnh Bắc Ninh cho thấy, các KCN đã có những đóng góp ngày càng lớn vào việc nâng cao tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp trong tổng sản phẩm trên địa bàn Tỉnh (GRDP) Tốc độ gia tăng giá trị sản xuất công nghiệp trong các KCN đều vượt, năm sau cao hơn năm trước Nếu tính bình quân 1ha đất công nghiệp tạo ra giá trị sản xuất công nghiệp 213,55 tỷ đồng/ha, giá trị xuất khẩu 10,65 triệu USD/ha, tạo việc làm cho hơn 100 lao động/ha thì có thể thấy rõ hiệu quả và đóng góp nổi bật của các KCN Mặt khác các KCN tác động rất tích cực thúc đẩy phát triển các loại dịch

vụ, nâng cao hiệu quả tổng hợp của các ngành sản xuất, đời sống KT - XH của người dân ven KCN nâng cao rõ rệt Lực lượng lao động trong các KCN gia tăng cùng sự gia tăng các dự án hoạt động trong KCN Tính đến hết quý I/2015, các KCN Bắc Ninh đã giải quyết việc làm cho trên 189.000 lao động, trong đó lao động địa phương chiếm 32,78%, góp phần hình thành đội ngũ lao động của nền công nghiệp hiện đại.Việc thu hút nhiều lao động làm việc tại các KCN cho thấy hiệu quả xã hội đem lại từ các KCN là rất lớn Thu nhập bình quân của người lao động trong các KCN Bắc Ninh đạt 5,4 triệu đồng/người/tháng [8]

Việc quy hoạch và phát triển các KCN là một bước đi sáng tạo mang tính đột phá, tạo sức hút lớn trong bức tranh kinh tế của Bắc Ninh những năm qua Để đẩy nhanh quá trình xây dựng và phát triển các KCN trên địa bàn Tỉnh thì điều không thể thiếu đó là việc phát triển KCHT

2.1.2 Thành tựu phát triển kết cấu hạ tầng phục vụ các khu công nghiệp ở tỉnh Bắc Ninh

Qua nhiều năm xây dựng, phát triển đến nay Bắc Ninh đã xây dựng được hệ thống KCHT tương đối đồng bộ, đáp ứng yêu cầu phát triển KT - XH của Tỉnh nói chung cũng như phát triển các KCN nói riêng Bên cạnh đó, Bắc Ninh đã và đang đầu tư khá mạnh cho phát triển KCHT, đây là điều kiện tốt

để phát triển các KCN trên địa bàn Tỉnh So với các địa phương khác, hệ

thống KCHT phục vụ các KCN ở tỉnh Bắc tương đối tốt Điều đó được thể hiện trên một số nội dung chủ yếu sau:

Trang 37

Một là, hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ phục vụ các KCN phát triển nhanh, đồng bộ, có tính kết nối cao và ngày càng hiện đại

Trước khi tái lập Tỉnh, hạ tầng giao thông của Bắc Ninh nhìn chung còn hạn chế về nhiều mặt Nhưng từ sau khi tái lập Tỉnh, đặc biệt trong những năm gần đây, hạ tầng giao thông của Tỉnh đã có những bước phát triển mạnh

mẽ Những tuyến đường mở mới như Tỉnh lộ 278 hay hàng loạt tuyến đường khác được mở rộng và nâng cấp như Quốc lộ 17 (Tỉnh lộ 282 cũ), Tỉnh lộ

277, 279, 280, 281, 283, 286, 287… đã tạo thành 1 hệ thống đường bộ mang tính chiến lược ổn định, góp phần làm thay đổi cơ bản bộ mặt giao thông của Tỉnh Bên cạnh đó, các tuyến Quốc lộ 1, 18, 38 chạy qua Bắc Ninh cũng đã và đang được đầu tư mở rộng Giao thông đô thị không ngừng phát triển, trục đường chính của các thị trấn, thị xã được đầu tư, hoàn thiện theo hướng hiện đại Tính đến nay trên địa bàn Tỉnh đã có 375 km đường quốc lộ trải nhựa,

290 km đường tỉnh lộ phần lớn được trải nhựa và hơn 3000 km đường huyện, đường xã, đường thôn xóm trong đó có gần 2000km được trải bê tông và lát gạch [14, tr.112] Nhìn chung, hệ thống KCHT giao thông đường bộ của Tỉnh

cơ bản đã kết nối hoàn chỉnh, liên thông với các KCN, đồng thời kết nối chặt chẽ với các địa phương trong Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, mở ra vận hội mới cho rất nhiều địa phương và người dân Có thể nói, KCHT giao thông đường bộ phục vụ các KCN ở Bắc Ninh được đánh giá là một trong những tỉnh hiện đại nhất khu vực đồng bằng Bắc Bộ

Hệ thống KCHT giao thông đường bộ trong các KCN ở Bắc Ninh được xây dựng tương đối hoàn chỉnh và đồng bộ, kết nối tốt với giao thông bên ngoài, rất thuận tiện cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp Qua khảo sát tại một số KCN trên địa bàn Tỉnh cho thấy:

KCN Tiên Sơn: Hệ thống KCHT giao thông đường bộ trong nội bộ KCN chiếm 15% tổng diện tích KCN, được xây dựng hoàn chỉnh và bố trí hợp lý trong khuôn viên của KCN, bao gồm các đường chính 2 làn xe rộng 37m và các đường nhánh rộng 28m Dọc theo các đường có vỉa hè rộng 6m, là nơi bố trí các

Trang 38

hành lang kỹ thuật ngầm như điện, cấp thoát nước, thông tin KCN Tiên Sơn được nối với Quốc lộ 1A bằng một nút giao thông và cầu vượt.

KCN Quế Võ: Hệ thống đường chính và đường phụ riêng biệt được quy hoạch đạt tiêu chuẩn quốc tế, xây dựng hoàn chỉnh với trọng tải lớn và nối liền trực tiếp với Quốc lộ 18A, Quốc lộ 1B và Cảng Cạn ICD Cảng Cạn ICD với quy mô 20 ha tạo điều kiện thuận lợi cho việc xuất nhập khẩu hàng hoá của các doanh nghiệp trong KCN Quế Võ với các dịch vụ về thủ tục hải quan, vận chuyển, lưu kho bến bãi nhanh chóng và tiết kiệm

KCN Quế Võ III: Đường vào khu công nghiệp gồm tuyến đường số 5 với mặt đường rộng 22,5m và tuyến đường số 3 (trùng với tuyến đường 398 chạy dọc KCN nối Quốc lộ 18 đi huyện Yên Dũng - Bắc Giang) với mặt đường rộng 15m Đường nội khu gồm: tuyến số 5A và tuyến số 2 với mặt đường rộng 22,5 m; tuyến số 1, tuyến số 3 và tuyến số 6 với mặt đường rộng

15 m; tuyến số 4 mặt đường rộng 11,25m Các trục đường đều có vỉa hè, điện chiếu sáng, cây xanh và dải phân cách Các tuyến đường trong KCN được đấu nối với Quốc lộ 18 qua 2 nút giao [5]

Như vậy, có thể nói hệ thống hạ tầng giao thông phục vụ các KCN ở Bắc Ninh đã được đầu tư phát triển, đáp ứng tốt cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong các KCN, đồng thời tạo ra sự kết nối chặt chẽ giữa các KCN trên địa bàn Tỉnh với nhau

Hai là, hệ thống cung cấp điện đã được xây dựng đồng bộ, luôn đáp ứng yêu cầu của các khu công nghiệp

Là một tỉnh đang phát triển mạnh các KCN gắn với đô thị, nhu cầu về điện cho sản xuất kinh doanh của Bắc Ninh ngày càng lớn Quan tâm tới điều này, Ban quản lý các KCN đã yêu cầu các doanh nghiệp đăng ký nhu cầu sử dụng điện ngay khi đăng ký cấp giấy chứng nhận đầu tư, đồng thời đăng ký với cơ quan điện lực địa phương để được cấp điện theo nhu cầu Toàn bộ hệ thống điện trong các KCN đều được thiết kế theo hướng tạo điều kiện thuận lợi và tiết kiệm chi phí cho các nhà đầu tư Hơn nữa, để đảm bảo nhu cầu

Trang 39

cung cấp điện trong KCN, quy hoạch mạng lưới điện của Tỉnh thường xuyên được điều chỉnh, bổ sung bao gồm hệ thống đường dây và các trạm biến áp

220 kV, 110 kV Trong các KCN, điện áp luôn được Ban quản lý các KCN quan tâm đúng mức Các KCN đã đi vào hoạt động đều được cấp điện từ lưới điện quốc gia qua trạm biến áp 110/22 kV với công suất 2 x 63000 kVA hoặc công suất 2 x 40000 kAV và hệ thống truyền tải điện dọc theo các lô đất để đảm bảo cấp điện đầy đủ và ổn định đến hàng rào cho mọi nhà đầu tư trong KCN Nhà đầu tư có thể lựa chọn sử dụng điện trung thế hoặc hạ thế tùy theo yêu cầu Để thuận tiện trong quá trình sử dụng của doanh nghiệp, các trạm biến thế được xây dựng ngầm theo các tuyến đường bao quanh KCN Có thể nhận thấy, nhiều năm qua, với phương châm “điện đi trước một bước”, Điện lực Bắc Ninh đã cơ bản hoàn thành nhiệm vụ cung cấp kịp thời, ổn định điện năng cho các nhà đầu tư Kể cả những thời điểm thiếu điện trầm trọng nhất, các KCN tập trung vẫn được ưu tiên hàng đầu Hệ thống điện cấp cho các KCN ở Bắc Ninh được đánh giá tốt nhất miền Bắc Việt Nam Ngoài các KCN phát triển từ trước như Tiên Sơn, Quế Võ, trong những năm qua ngành Điện

đã đầu tư hàng nghìn tỷ đồng xây dựng hệ thống cung cấp điện cho các KCN mới hình thành Không để xảy ra tình trạng nhà đầu tư chờ điện, hoặc thiếu điện sản xuất kinh doanh Tại KCN Thuận Thành III Điện lực Bắc Ninh đã xây dựng và đóng điện đường dây 35 kV, tổng đầu tư gần 4 tỷ đồng nhằm đưa điện cho 5 trạm biến áp trong KCN Đồng thời lập dự án đầu tư trạm 110 kV

và 2 lộ dây xuất tuyến sau trạm 110 kV Thuận Thành, khoảng 58 tỷ đồng cấp điện cho KCN Thuận Thành III và một số phụ tải khu vực lân cận Đối với KCN Thuận Thành II, ngành Điện dự kiến đặt 1 trạm 110 kV Trước tốc độ thu hút đầu tư mạnh và nhiều nhà máy lớn đi vào hoạt động tại các KCN Yên Phong, Điện lực Bắc Ninh đã dồn sức nhanh chóng thi công và đưa vào sử dụng trạm 110 kV Yên Phong I với thiết kế 2 máy 63.000 kVA/máy; trạm biến áp 110

kV Yên Phong II, có thiết kế công suất như trạm I và đường dây 110 kV nối giữa 2 trạm Ở KCN Việt Nam - Singapo (VSIP), đã xây dựng trạm 110 kV gồm

Trang 40

2 máy 63000 kVA và các tuyến đường dây với tổng kinh phí khoảng 125 tỷ đồng, cung cấp điện cho một số nhà đầu tư đã hoàn thành xây dựng nhà xưởng, chuẩn bị lắp đặt thiết bị bước vào sản xuất kinh doanh… [8].

Ba là, hệ thống xử lý chất thải và bảo vệ môi trường ngày càng hoàn thiện

Đối với một tỉnh có nhiều KCN tập trung như Bắc Ninh, phát triển sản xuất song song với bảo đảm các tiêu chí về môi trường là vấn đề bắt buộc đối với mỗi doanh nghiệp Vấn đề bảo vệ môi trường, xử lý nguồn nước thải của Tỉnh nói chung cũng như của các KCN trên địa bàn Tỉnh nói riêng luôn được quan tâm đúng mức Khi quy hoạch và xây dựng các KCN, diện tích đất dành cho môi trường chiếm một tỷ lệ thỏa đáng Ví dụ như KCN Tiên Sơn, trong tổng quy mô diện tích 449 ha thì diện tích đất công nghiệp dành cho các nhà đầu tư thứ cấp là 226 ha, còn lại là đất dành cho các công trình hạ tầng kỹ thuật, phụ trợ và hệ thống cây xanh Song song với điều đó, Tỉnh cũng lựa chọn những nhà đầu tư có công nghệ cao đăng ký vào các KCN nhằm hạn chế thấp nhất tình trạng ô nhiễm môi trường Nếu công nghệ lạc hậu, không thân thiện với môi trường sẽ không được chấp thuận, dù nhà đầu tư có trả mức phí cao Bắc Ninh hiện có 4 KCN tập trung (Tiên Sơn, Quế Võ I, Yên Phong I, VSIP) đã xây dựng nhà máy xử lý nước thải, 3 KCN đang xây dựng, hướng tới mục tiêu mỗi KCN có một nhà máy xử lý nước thải đáp ứng tiêu chuẩn Xuất phát từ đặc thù nguồn nước thải chung của các KCN tiếp nhận từ nhiều nguồn xả thải (sinh hoạt, sản xuất thực phẩm, cơ khí…) của nhiều doanh nghiệp nên tính chất, nồng độ ô nhiễm, lưu lượng xả thải đầu vào đã được giám sát chặt chẽ theo hệ thống Qua khảo sát tại KCN Tiên Sơn cho thấy:

Sau khi KCN Tiên Sơn được khởi công xây dựng và đi vào vận hành,

nhà máy xử lý nước thải đã được khởi công xây dựng, với chủ đầu tư là Tổng Công ty Thuỷ tinh và Gốm xây dựng (Viglacera) Nhà máy xử lý nước thải

của KCN Tiên Sơn nằm trên một khu đất rộng khoảng 2 ha, với công suất

2000 m3/ngày đêm Đây cũng là trạm xử lý nước thải công nghiệp đầu tiên trong KCN tập trung được xây dựng và đưa vào vận hành trên địa bàn tỉnh

Ngày đăng: 01/10/2016, 22:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Bá Ân (2012), “Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá”, Tạp chí Tuyên giáo, số 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá”, "Tạp chí Tuyên giáo
Tác giả: Nguyễn Bá Ân
Năm: 2012
5. Ban Quản lý các khu công nghiệp Bắc Ninh (2011), Quá trình xây dựng và phát triển các khu công nghiệp tỉnh Bắc Ninh, Kỷ yếu 20 năm xây dựng và phát triển khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế ở Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình xây dựng và phát triển các khu công nghiệp tỉnh Bắc Ninh
Tác giả: Ban Quản lý các khu công nghiệp Bắc Ninh
Năm: 2011
10. Nguyễn Thế Cao (2013), Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Hà Nam, Luận văn thạc sĩ, Bộ Quốc phòng, Học viện Chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Hà Nam
Tác giả: Nguyễn Thế Cao
Năm: 2013
11. Trần Kim Chung (2015), “Hoàn thiện thể chế quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng ở Việt Nam”, Tạp chí Kinh tế và phát triển, số 216 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện thể chế quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng ở Việt Nam”, "Tạp chí Kinh tế và phát triển
Tác giả: Trần Kim Chung
Năm: 2015
12. Cục Thống kê tỉnh Bắc Ninh (2013), Niên giám thống kê Bắc Ninh 2012, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê Bắc Ninh 2012
Tác giả: Cục Thống kê tỉnh Bắc Ninh
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2013
13. Cục Thống kê tỉnh Bắc Ninh (2014), Niên giám thống kê Bắc Ninh 2013, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê Bắc Ninh 2013
Tác giả: Cục Thống kê tỉnh Bắc Ninh
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2014
14. Cục Thống kê tỉnh Bắc Ninh (2015), Niên giám thống kê Bắc Ninh 2014, Bắc Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê Bắc Ninh 2014
Tác giả: Cục Thống kê tỉnh Bắc Ninh
Năm: 2015
15. Đảng Cộng sản Việt Nam, Tỉnh uỷ Bắc Ninh (2000), Nghị quyết của Ban thường vụ Tỉnh uỷ về xây dựng, phát triển khu công nghiệp, cụm công nghiệp tiểu thủ công nghiệp , Bắc Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết của Ban thường vụ Tỉnh uỷ về xây dựng, phát triển khu công nghiệp, cụm công nghiệp tiểu thủ công nghiệp
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam, Tỉnh uỷ Bắc Ninh
Năm: 2000
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X", Nxb
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb "Chính trị quốc gia
Năm: 2006
17. Đảng Cộng sản Việt Nam, Tỉnh uỷ Bắc Ninh (2006), Nghị Quyết của BCH Đảng bộ tỉnh về tiếp tục đẩy mạnh xây dựng và phát triển các khu công nghiệp, cụm công nghiệp gắn với phát triển đô thị theo hướng hiện đại hoá, Số 02 - NQ/TW, Bắc Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị Quyết của BCH Đảng bộ tỉnh về tiếp tục đẩy mạnh xây dựng và phát triển các khu công nghiệp, cụm công nghiệp gắn với phát triển đô thị theo hướng hiện đại hoá," Số 02 - NQ/TW
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam, Tỉnh uỷ Bắc Ninh
Năm: 2006
18. Đảng Cộng sản Việt Nam, Tỉnh ủy Bắc Ninh (2010), Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lần thứ XVIII, nhiệm kỳ 2010 - 2015, Bắc Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lần thứ XVIII, nhiệm kỳ 2010 - 2015
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam, Tỉnh ủy Bắc Ninh
Năm: 2010
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI," Nxb
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb "Chính trị quốc gia
Năm: 2011
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (2012), Văn kiện Hội nghị lần thứ Tư Ban chấp hành Trung ương (khóa XI), Nxb Chính trị quốc gia , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ Tư Ban chấp hành Trung ương (khóa XI)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2012
21. Đảng Cộng sản Việt Nam (2015), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, "Nxb Chính trị quốc gia
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia"
Năm: 2015
22. Đảng Cộng sản Việt Nam, Tỉnh ủy Bắc Ninh (2015), Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lần thứ XIX, nhiệm kỳ 2015 - 2020, Bắc Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam, Tỉnh ủy Bắc Ninh (2015), "Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lần thứ XIX, nhiệm kỳ 2015 - 2020
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam, Tỉnh ủy Bắc Ninh
Năm: 2015
23. Đặng Quang Điều (2012), “Nhà ở của người lao động trong các khu công nghiệp, khu chế xuất - Thực trạng và giải pháp”, Tạp chí Tuyên giáo, số 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà ở của người lao động trong các khu công nghiệp, khu chế xuất - Thực trạng và giải pháp”, "Tạp chí Tuyên giáo
Tác giả: Đặng Quang Điều
Năm: 2012
24. Nguyễn Đức Độ (2002), Phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế và vai trò của nó đối với củng cố quốc phòng ở nước ta hiện nay, Luận án tiến sĩ, Bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế và vai trò của nó đối với củng cố quốc phòng ở nước ta hiện nay
Tác giả: Nguyễn Đức Độ
Năm: 2002
25. Hoàng Thị Thu Hải (2008), Giải pháp hỗ trợ nâng cao chất lượng nhân lực trong các khu công nghiệp tỉnh Bắc Ninh, Luận văn thạc sĩ, Học viện Chính trị hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp hỗ trợ nâng cao chất lượng nhân lực trong "các khu công nghiệp tỉnh Bắc Ninh
Tác giả: Hoàng Thị Thu Hải
Năm: 2008
26. Lưu Đức Hải (2004), “Một số nhận xét về quy hoạch khu công nghiệp, khu chế xuất trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế”, Thông tin Khu công nghiệp Việt Nam, 11/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số nhận xét về quy hoạch khu công nghiệp, khu chế xuất trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế”, "Thông tin Khu công nghiệp Việt Nam
Tác giả: Lưu Đức Hải
Năm: 2004
27. Lương Xuân Hiến, Phạm Thanh Khôi (2006), Một số vấn đề kinh tế - xã hội trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa vùng đồng bằng sông Hồng, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề kinh tế - xã hội trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa vùng đồng bằng sông Hồng
Tác giả: Lương Xuân Hiến, Phạm Thanh Khôi
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2006

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w