Chuyên đề Nâng cao khả năng cạnh tranh xuất khẩu gạo của Công ty vận tải, xây dựng và chế biến lương thực Vĩnh Hà
Trang 1đó đã góp phần không nhỏ vào mức tăng trưởng chung và giữ vững ổn định kinh tế xã hội đất nước Tuy nhiên, sự phát triển nông nghiệp những năm qua cũng tồn tại những yếu kém như cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm, việc ứng dụng khoa học kỹ thuật công nghệ, giống các loại cây trồng, đặc biệt là lúa gạo Như ta biết tuy là mặt hàng xuất khẩu chủ lực đứng thứ 2 trên thế giới nhưng việc xuất khẩu gạo không phải là không còn những vướng mắc cần giải quyết như vấn đề thị trường tiêu thụ, chất lượng và khả năng cạnh tranh Những khó khăn chủ yếu, đồng thời cũng chính là những thách thức đối với nông nghiệp nói chung và gạo nói riêng ở nước ta trước hoàn cảnh của một thiên nên kỷ mới - thiên niên kỷ thứ 21.
Công ty vận tải, xây dựng và chế biến lương thực Vĩnh Hà với vị trí kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp cũng luôn luôn tìm cho mình hướng
đi phù hợp với xu thế phát triên của đất nước Ngoài việc phát triển thị trường nội địa Công ty cũng đặt trọng tâm vào nhiệm vụ xuất khẩu Với ý nghĩa thực tiễn đó em đã lựa chọn đề tài luận văn tốt nghiệp:
“ Nâng cao khả năng cạnh tranh xuất khẩu gạo của Công ty vận tải, xây
dựng và chế biến lương thực Vĩnh Hà”.
Trang 2Ngoài phần mở đầu và kết luận luận văn gồm 2 phần:
Phần I: Phân tích tình hình cạnh tranh gạo xuất khẩu của Công ty vận tải, xây dựng và chế biến lương thực Vĩnh Hà
Phần II: Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường xuất khẩu gạo của Công ty vận tải, xây dựng và chế biến lương thực Vĩnh
Hà
Trang 3Phần I PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH CẠNH TRANH XUẤT KHẨU GẠO CỦA CÔNG TY VẬN TẢI, XÂY DỰNG VÀ CHẾ BIẾN
LƯƠNG THỰC VĨNH HÀ
I.GIỚI THIỆU CÔNG TY VẬN TẢI, XÂY DỰNG VÀ CHẾ BIẾN LƯƠNG THỰC VĨNH HÀ
1.1 Quá trình hình thành và phát triển
”Công ty vận tải xây dựng và chế biến lương thực Vĩnh Hà” là một
doanh nghiệp của nhà nước thuộc Tổng công ty lương thực miền Bắc do Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn thành lập
Công ty được thành lập theo quyết định thành lập doanh nghiệp nhà nước số 44/NN/TCCB - QĐ ngày 08/01/1993 của Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm
Trụ sở chính của công ty: Số 9A - Vĩnh Tuy - Quận Hai Bà Trưng -Hà Nội
Số đăng kí kinh doanh: 105865
Tên giao dịch quốc tế: FOOD TRANSPORTATION COMPANY.
Viết tắt là: FOTRACO.
Điện thoại : 04 8622673
Fax: 9870067
Với ngành nghề kinh doanh khi thành lập là:
- Vận tải hàng hóa: Vận chuyển gạo và phân phối lưu thông hàng hóa
- Thương nghiệp bán buôn, bán lẻ
Căn cứ vào những kết quả thu được và tình hình phát triển hơn 30 năm qua
có thể chia chặng đường đi của công ty thành 3 giai đoạn :
Giai đoạn 1: Từ khi thành lập đến năm 1990
Tiền thân của Công ty vận tải xây dựng và chế biến lương thực Vĩnh
Hà là “Xí nghiệp vận tải lương thực V73” Được thành lập ngày 30/10/1973
Trang 4theo quyết định số 353 - LT - TCCB/QĐ Mục đích của xí nghiệp lúc đó là giải quyết nhu cầu lương thực, thực phẩm cho các tỉnh miền núi phía Bắc và phục vụ cho chiến tranh chống Mỹ ở miền Nam, vận chuyển lương thực cho các tỉnh miền núi và nhu cầu đột xuất của Hà Nội Xí nghiệp V73 khi đó có số vốn đầu tư ban đầu khá lớn là 1 tỷ đồng và tất cả đều do nhà nước cấp, trong đó:
- Chủ yếu là vốn cố định chiếm 700 triệu đồng gồm nhà xưởng, văn phòng làm việc và 80 xe vận tải 5 tấn loại IFA
- Vốn lưu động còn lại là 300 triệu
Giai đoạn này Công ty hoạt động theo các chỉ tiêu, kế hoạch nhà nước giao xuống với nhiệm vụ chủ yếu là vận tải và phân phối lưu thông lương thực cho các tỉnh miền Bắc và giải quyết nhu cầu lương thực đột xuất tại Hà Nội Do mang tính chất phục vụ nên hầu như doanh số của công ty hầu như là bao cấp hạch toán lỗ lãi( làm theo kế hoạch của Bộ Nông nghiệp giao xuống) Lượng vốn kinh doanh đều do nhà nước cấp theo kế hoạch hàng năm tùy theo tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh Số lượng cán bộ công nhân viên thời
kỳ này chỉ khoảng 204 cán bộ, tiền lương cho cán bộ công nhân viên theo bậc thợ (trình độ), ngành nghề
Đến năm 1984 “Xí nghiệp V73” số lượng công nhân viên rút xuống
chỉ còn khoảng 50 người Lý do là xe đã khấu hao và thanh lý toàn bộ nên
cần có kế hoạch chuyển đổi kinh doanh Sau đó đổi tên thành “Xí nghiệp vận
tải lương thực I” và trong thời kỳ này chuyển mình thoát dần khỏi cơ chế bao
cấp Lúc này xí nghiệp đã chuyển từ vận tải sang kinh doanh lương thực và số công nhân viên tăng lên 100 người Doanh thu của xí nghiệp đạt được 500-
600 triệu đồng/năm Thu nhập bình quân đầu người/ tháng là khoảng 260 ngàn đồng Như vậy Xí nghiệp vận tải lương thực vận tải I tiếp tục hoạt động trên lĩnh vực vận chuyển lương thực, bước đầu làm quen với hoạt động kinh doanh và khai thác địa bàn hoạt động của công ty từ chỗ nhà nước bao cấp sang hoạt động theo cơ chế tự hạch toán kinh doanh
Trang 5 Giai đoạn từ năm 1990-1995:
Bao cấp bị xóa bỏ hoàn toàn dẫn đến “ Xí nghiệp vận tải lương thực I
” phải thay đổi, đổi mới cho phù hợp với công cuộc đổi mới của đất nước Lúc này không còn làm theo kế hoạch của nhà nước nên Xí nghiệp đã tự vận động và tìm hướng đi mới cho mình Nhiệm vụ lúc này chủ yếu là vận tải hàng hóa đồng thời tiến đến kinh doanh các mặt hàng lương thực trên thị trường ( chủ yếu là kinh doanh mặt hàng gạo các loại)
Xí nghiệp tiếp tục kinh doanh ngành lương thực, thực phẩm và vận tải
theo tính chất bao thầu( thuê vận tải) Cuối năm 1995 “ Công ty vận tải xây
dựng và chế biến lương thực Vĩnh Hà” chính thức được thành lập với các
nhiệm vụ cơ bản sau:
- Kinh doanh lương thực: Bán buôn, bán lẻ góp phần bình ổn về lương thực ở thị trường Miền Bắc
- Kinh doanh vận tải đường bộ
- Đại lý vận tải
Nhưng kinh doanh vận tải gặp khó khăn do phương tiện cũ dần, đầu tư của tổng công ty lương thực xuống cũng giảm dần và tiến đến cắt hẳn Đời sống của cán bộ công nhân viên lại rất khó khăn, tình trạng chờ việc xảy ra
Để giải quyết vấn đề này qua thăm dò nhu cầu thị trường, được phép của Tổng công ty lương thực Miền bắc Công ty đi đến quyết định mở thêm xưởng bia với công nghệ tiên tiến của nước ngoài, sản phẩm bia được thị trường ( chủ yếu là thành phố Hà Nội) chấp nhận Nhờ đó giải quyết được thêm việc làm và đời sống của cán bộ công nhân viên cũng tăng lên, thu nhập bình quân đầu người trên tháng là 420 ngàn đồng Doanh thu của công ty cung tăng lên đang kể từ khi có sự mở rộng lĩnh vực kinh doanh(1360 triệu đồng
Trang 6trương thành lập các tổng công ty để phát huy vai trò chủ đạo của nền kinh tế Nhà nước đồng thời giảm đầu mối tổ chức tập trung vốn tự có trọng điểm nên
quyết định sáp nhập “ Công ty vật tư bao bì” vào “ Công ty kinh doanh vận
tải lương thực” Đây là vấn đề làm cho ban lãnh đạo của công ty phải cân
nhắc làm thế nào để tạo thêm công ăn việc làm cho khoảng 100 lao động đang chờ việc Từ đó ban lãnh đạo quyết định đi đến việc mở thêm một xưởng chế biến sữa đậu nành và một xưởng chế biến gạo chất lượng cao Ngoài việc tạo thêm được việc làm thì công ty đã tận dụng được hiệu quả mặt bằng của mình
đó là công ty còn cho thuê nhà kho, xưởng sản xuất ( mỗi năm thu được khoảng thêm 200 triệu đồng) và thu nhập bình quân của công nhân viên đã tăng lên 470 ngàn đồng một tháng
Đến năm 1999 Công ty sáp nhập thêm với “ Công ty xây lắp” của tổng
công ty và số công nhân viên lúc này đã tăng lên hơn 300 người Sau đó còn liên doanh với công ty “BIG TUNGSHING” của Hồng Kông Tổng vốn tự có của công ty đã nâng lên 17,3 tỷ đồng, thu nhập bình quân một công nhân trên tháng là 700 ngàn đồng Năm 1999 là năm đột biến của công ty do số lương nhân sự tăng cao và đây cũng là một thách thức lớn đối với công ty
Giai đoạn năm 2000 đến nay:
Sáp nhập 4 công ty ở Hà Nội đó là: Công ty lương thực Cầu Giấy, Công ty lương thực Gia Lâm, Công ty lương thực Thanh Trì, Nhà máy chế biến thực phẩm Trương Định Với số lượng cán bộ công nhân viên lúc này đã
là 500 người, điều này gây xáo trộn về tổ chức và tâm lý người lao động, đây
là một thách thức không nhỏ đối với công ty bởi vì công ty có chủ trương là không cho ai về và mức lương vẫn giữ như vậy Mặt khác diễn tiến thuận lợi cho công ty là trên Tổng công ty đã cho phép mở rộng thị trường Do đó đến cuối năm 2001 công ty đã triển khai thêm xưởng sản xuất bột canh và xí nghiệp sản xuất nước lọc tinh khiết đóng chai Nhờ đó tăng thêm được thu nhập cho công nhân viên (720 ngàn đồng), tạo thêm được việc làm, tăng doanh thu của công ty lên 63,26 tỷ đồng
Trang 7Cuối năm 2001 Tổng công ty cho phép tách “ Nhà máy chế biến thực
phẩm Trương Định” và lúc này lực lương công nhân viên đã giảm xuống còn
400 người, nhưng số lượng công nhân viên hoạt động thực tế chỉ khoảng 250 người Cuối năm 2002 Công ty bắt đầu triển khai thêm xí nghiệp nuôi trồng thủy sản ở Sóc Trăng
Tổng số vốn tự có của công ty lúc này đã đạt ở mức 36,03 tỷ đồng trong đó tiết kiệm phí để lại qua các năm cũ là 10 tỷ đồng, thu nhập bình quân của công nhân trên tháng đạt 1,1 triệu đồng
Hiện nay Công ty vận tải xây dựng và chế biến lương thực Vĩnh Hà là một trong số 35 công ty thành viên của tổng công ty lương thực miền Bắc Công ty có đội ngũ cán bộ công nhân viên là 251 người, với tổng lượng vốn công ty đang sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh là 45,37 tỷ đồng Nếu xét về tổng lượng vốn và quy mô hoạt động của công ty là ở mức khá cao
so với các công ty thành viên khác trong tổng công ty lương thực miền Bắc Công ty không ngừng mở rộng hoạt động kinh doanh thêm chủng loại mặt hàng mới là gạo các loại, thức ăn gia súc, sữa đậu nành, bia, bột canh và kết hợp với nuôi trồng thủy sản
Việc mở rộng quy mô hoạt động này giúp cho công ty khai thác được thị trường kinh doanh mới, giải quyết được số dôi dư trong quá trình sắp xếp lại cơ cấu lao động trong công ty và tăng được doanh thu( đạt khoảng 150 tỷ đồng), thu nhập bình quân tăng lên 1, 1 triệu đồng/người
1.2 Đặc điểm cơ bản của Công ty
1.2.1.Đặc điểm cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý:
Để luôn thích ứng với cơ chế thị trường biến động, để thực hiện tốt các chỉ tiêu, nhiệm vụ được giao công ty đã tổ chức bộ máy theo mô hình ‘trực tuyến - chức năng” Theo cơ cấu này các chức năng được chuyên môn hóa hình thành nên các phòng ban Các phòng ban chỉ tồn tại với tư cách là một
bộ phận tham mưu giúp việc cho giám đốc trong phạm vi chức năng của mình
Trang 8Công ty vận tải xây dựng và chế biến lương thực Vĩnh Hà có 251 cán
bộ công nhân viên được sắp xếp theo cơ cấu sau:
Trang 9
1.2.2.Đặc điểm về mặt hàng của Công ty
Do đặc trưng là chuyên sản xuất và chế biến sản phẩm nông nghiệp nên công ty thường xuyên nâng cao chất lượng, mở rộng chủng loại sản phẩm sao cho ngày càng phù hợp hơn với yêu cầu của người tiêu dùng đặc biệt đáp ứng nhu cầu của xuất khẩu
Chủng loại sản phẩm chủ yếu của Công ty gồm:
Tuy nhiên chủng loại mặt hàng lương thực tương đối đa dạng song đây chính lại là điểm yếu của Công ty vì do kinh doanh quá nhiều mặt hàng nên Công ty ít đầu tư cho xuất khẩu gạo Chính vì thế mà lợi nhuận do hoạt động
Trang 10xuất khẩu gạo đem lại tuy lớn nhất so với các mặt hàng khác nhưng cũng không đủ bù đắp lợi nhuận chung cho cả Công ty Xuất khẩu gạo của Công ty hàng năm chỉ chiếm 1/6 đến 1/5 trong tổng lợi nhuận chung
1.2.3 Thị trường xuất khẩu của Công ty
Thị trường xuất khẩu gạo truyền thống của Công ty gồm các nước Iraq, Cuba, Indonesia Hiện nay Công ty đang mở rộng thị trường tiêu thụ sang các nước ở Châu Phi và Châu Mỹ La Tinh So với các Công ty khác cả ở trong nước và trên thế giới thì có một thị trường tiêu thụ như vậy là quá khiêm tốn
Ngày nay thị trường Iraq, Cuba luôn là thị trường truyền thống nhưng
do những biến động về tình hình chính trị đã làm gián đoạn việc tiêu thụ gạo vào thị trường này Hơn nữa mấy năm trước đây do chất lượng hàng của Công ty rất kém không thể cạnh tranh nổi với hàng của Thái Lan nên giờ đây việc quảng bá nhãn hiệu sản phẩm của Công ty ở các nước này gặp rất nhiều khó khăn
1.2.4 Đặc điểm về máy móc thiết bị phục vụ xuất khẩu gạo
Phần lớn các máy móc thiết bị trong Công ty đều đã lạc hậu, thời gian khấu hao đã hết nên hiệu quả của công việc chế biến gạo ít nhiều bị ảnh hưởng Trước năm 1995, do chưa đầu tư được cả máy đánh bóng nên sản phẩm gạo của Công ty đem ra thị trường bị đánh giá rất thấp Sau đó Công ty
đã bỏ vốn đầu tư dây chuyền công nghệ chế biến hiện đại hơn của Séc nên chất lượng sản phẩm đã có chuyển biến rõ rệt Tuy nhiên sự thay đổi của khoa học công nghệ diễn ra theo từng năm nên cho đến nay dây chuyền đó đã kịp trở thành lỗi thời và Công ty trong thời gian tới cũng cần có sự thay đổi phù hợp để có được sản phẩm tôt nhất đáp ứng yêu cầu xuất khẩu
1.2.4.Đặc điểm về nguồn vốn
Trải qua quá trình hình thành và phát triển hơn 30 năm, Công ty vận tải, xây dựng và chế biến lương thực Vĩnh Hà đã nỗ lực phấn đấu vượt qua nhiều khó khăn để hoàn thành về cơ bản những chỉ tiêu đề ra, ổn định kinh
Trang 11doanh, mở rộng sản xuất, bảo toàn và phát triển nguồn vốn của nhà nước, bảo đảm việc làm và đời sống cho cán bộ công nhân viên
Bảng 3: Nguồn vốn kinh doanh của Công ty
(Nguồn: Phòng kế toán tài chính)
Là một doanh nghiệp Nhà nước, Công ty được Nhà nước giao cho quản
lý và sử dụng nguồn vốn kinh doanh Mặc dù nguồn vốn kinh doanh hạn chế song Công ty đã chủ động huy động nguồn vốn từ bên ngoài, nhờ đó Công ty không những bảo toàn mà còn mở rộng được nguồn vốn phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh
1.2.5 Kết quả sản xuất kinh doanh một số năm của Công ty
Bảng 4: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
Trang 129 Giá trị xuất khẩu 37.000 38.850 41.570 45004
Mặt khác việc bảo đảm đời sống của cán bộ công nhân viên trong Công
ty tăng lên, từ năm 2001 thu nhập bình quân đầu ngời chỉ là 850 ngàn
đồng/tháng nhng đến năm 2004 thu nhập này đã tăng lên 1,2 triệu đồng/tháng Tuy mức tăng nhỏ nhng số lao động phổ thông trong Công ty nhiều nên mức tăng lơng nh vậy đã phần nào làm cho cuốc sống của họ đợc cải thiện
Bảng 4: Kế hoạch sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của công ty
Trang 13(nguồn từ phòng kế toán tài chính)
II PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH KHẢ NĂNG CẠNH TRẠNH GẠO XUẤT KHẨU CỦA CÔNG TY
2.1 Thực trạng khả năng cạnh tranh xuất khẩu gạo của Công ty
2.1.1.Tình hình xuất khẩu gạo một số năm qua của Công ty
Công ty kinh doanh vận tải lương thực Vĩnh Hà là một trong số 35 thành viên của Tổng Công Ty Lương Thực miền Bắc - một trong số 10 doanh nghiệp xuất khẩu gạo lớn nhất của Việt Nam( Năm 2004 Tổng Công Ty
Trang 14Lương Thực miền Bắc xuất khẩu trực tiếp 659.500 tấn, uỷ thỏc 375.000 tấn, chỉ sau cụng ty Lương Thực Miền Nam là 2.662.113 tấn ) - do đú hàng năm cụng ty được giao nhiệm vụ cung ứng gạo xuất khẩu cho Tổng cụng ty hoặc
cú thể thực hiện xuất khẩu nếu đàm phỏn, ký kết được hợp đồng Kết quả kinh doanh của cụng ty trong những năm qua cho thấy hoạt động kinh doanh gạo xuất khẩu đó đem lại nguồn thu lớn cho cụng ty Đõy là một hoạt động kinh doanh chủ lực của cụng ty Trong tất cả cỏc mặt hoạt động sản xuất kinh doanh của cụng ty, chỉ cú kinh doanh gạo xuất khẩu và dịch vụ cho thuờ kho bói là thực sự cú lói Cũn những hoạt động khỏc được duy trỡ nhằm tạo cụng
ăn việc làm cho cụng nhõn viờn Vỡ vậy mặc dự kết quả do hoạt động kinh doanh xuất khẩu gạo đem lại rất lớn nhưng kết quả của cả cụng ty lại khụng cao Việc lấy lợi nhuận từ hoạt động này bự đắp cho hoạt động khỏc tới tỏi đầu tư nhằm mở rộng kinh doanh gạo xuất khẩu của cụng ty gặp rất nhiều khú khăn Đõy là một vấn đề nan giải và khỏ phổ biến ở cỏc doanh nghiệp nhà nước Điều này ảnh hưởng rất lớn đến khả năng cạnh tranh trờn thương trường của cỏc doanh nghiệp Hoạt động kinh doanh gạo xuất khẩu chiếm tỷ trọng chủ yếu trong kinh doanh lương thực của cụng ty Điều này thể hiện rừ trong biểu sau:
Bảng 6: So sỏnh kinh doanh gạo xuất khẩu và gạo nội địa
Xuất khẩu
(tấn)
Tỷ lệ (%)
Nội địa (tấn)
Tỷ lệ (%)
Xuất khẩu (Tr.đ)
Tỷ lệ (%)
Nội địa (Tr.đ)
Tỷ lệ (%)
(Nguồn: Phòng kinh doanh)
Là một doanh nghiệp kinh doanh lơng thực công ty vừa đợc hởng những
đặc quyền trong xuất khẩu gạo đồng thời cũng phải thực hiện những trách nhiệm đối với nhà nớc nh phải mua tạm trữ gạo, phải mua lơng thực đa vào dự
Trang 15trữ lu thông để khi có biến động về giá cả sẽ có lực lợng can thiệp kịp thời Do
đó hoạt động kinh doanh gạo nội địa của công ty hoạt động rất kém hiệu quả Giá trị cũng nh sản lợng kinh doanh thờng thấp hơn nhiều so với kinh doanh xuất khẩu Để thấy rõ hiệu quả của kinh doanh gạo xuất khẩu ta cần phân tích bảng sau :
Bảng 7 : Kết quả xuất khẩu gạo
1.Số lợng xuất (tấn) 11.028,8 13.254,1 15.693,3 17.601,9
2.Doanh thu (Triệu đồng) 30.070,7 36316,2 42528,8 44.004,7
3.Giá vốn+chi phí khác+ thuế
(Nguồn : Phòng kinh doanh)
Từ bảng trên ta thấy hoạt động kinh doanh xuất khẩu gạo đạt kết quả kỷ lục vào năm 1998 là 6,92 tỷ đồng Tuy nhiên cũng trong năm 1998 sự hoạt
động thua lỗ của kinh doanh gạo nội địa, sản xuất sữa,sản xuất bia đã làm cho lợi nhuận của công ty chỉ đạt 975 triệu đồng Những năm tiếp theo, mặc dù kết quả kinh doanh gạo thấp, chi phí mua hàng cao nhng công ty lại đợc hoàn thuế giá trị gia tăng, cùng với việc nắm rõ thị trờng nên kết quả hoạt động từ các lĩnh vực kinh doanh khác bị thua lỗ ít hơn dẫn đến lợi nhuận của công ty ngày một tăng Trong hoạt động cung ứng gạo xuất khẩu, công ty có 2 bạn hàng truyền thống là Cu Ba và Iraq Tình hình xuất khẩu sang các thị trờng đó
Giỏ Trị (Tr.đ)
Sản lượng (Tấn)
Giỏ trị (Tr.đ)
Sản lượng (Tấn)
Giỏ trị (Tr.đ)
Trang 162000 6.875,7 25.426,2 4.153,1 10.644,5
(Nguồn :Phòng Kinh doanh)
Đối với doanh nghiệp kinh doanh lơng thực nh công ty thì sản lợng xuất khẩu nh vậy là cha lớn, bạn hàng nh vậy là cha nhiều Thêm vào đó việc xuất khẩu đều chỉ đợc thực hiện thông qua Tổng Công ty, Công ty cha có một bạn hàng trực tiếp nào Điều này đòi hỏi Công ty cần phải nâng cao uy tín của mình hơn nữa, phải tìm cách ký kết trực tiếp với bạn hàng Muốn làm đợc điều
đó cần phải dựa vào những thế mạnh có khả năng cạnh tranh chủ yếu của Công ty nh : giá, tiềm lực tài chính, đội ngũ cán bộ lãnh đạo giàu kinh nghiệm
Trong thời gian qua nhờ tổ chức tốt mạng lới thu mua nguyên liệu và có thời gian chuẩn bị chu đáo cho nên việc xuất khẩu của Công ty thờng đợc thực hiện ngay tại cảng Sài Gòn gần nơi thu mua của công ty Điều này đã làm giảm đợc chi phí vận chuyển Thêm vào đó chi phí cho hoạt động marketing gạo xuất khẩu rất ít vì vẫn dựa chủ yếu vào Tổng Công ty cho nên giá thành gạo xuất khẩu của công ty rất thấp Điều này khiến cho chênh lệch giữa giá của Tổng công ty ký với bạn hàng so với của Công ty có cách biệt tơng đối lớn thờng từ 880 - 920 đồng/kg
Đối với hoạt động kinh doanh nh hiện nay của Công ty thì tiềm lực tài chính hiện tại là tơng đối ổn định Nếu có thể ký kết đợc hợp đồng thì với số vốn của mình Công ty có thể cung cấp gấp đôi sản lợng gạo xuất khẩu nh hiện nay Tuy nhiên trong thời gian tới việc mở rộng thị trờng hoạt động, việc phải
tự dựa vào năng lực của mình để có thể cạnh tranh đợc trên thị trờng đòi hỏi công ty cần phải có những biện pháp nhằm huy động đợc nguồn vốn lớn hơn
Một trong những thế mạnh nữa của Công ty là có đội ngũ cán bộ lãnh
đạo cao cấp rất năng động Việc chuyển đổi ngành nghề kinh doanh trong những năm mới bớc vào nền kinh tế thị trờng đã khẳng định đợc sự nhạy bén
Trang 17trong kinh doanh, sự mạo hiểm dám chịu trách nhiệm của ban lãnh đạo công
ty Trong thời kỳ tới những kinh nghiệm quý báu của ban lãnh đạo sẽ giúp ích rất nhiều cho công ty để ngày càng đứng vững trên thị trờng trong và ngoài n-ớc
2.2.2 So sánh xuất khẩu gạo của Công ty với cả nớc
Tính đến ngày 04/04/2005 Việt Nam đã xuất khẩu gần 1 triệu tấn gạo Theo tin từ Tổng cục Thống kê, chúng ta đã xuất khẩu đợc khoảng 450.000 tấn gạo trong tháng 3, nâng tổng số trong quý I lên 961.000 tấn, trị giá 266 triệu USD, tăng 5,2% về giá trị so với cùng kỳ năm trớc Giá trị xuất khẩu gạo của Việt Nam trong quý I tăng là do giá gạo tăng mạnh Giá gạo xuất khẩu đạt trung bình khoảng 270,5 USD/tấn, tăng 23% so với cùng kỳ năm ngoái Trong quý I chúng ta cũng đã ký đợc nhiều hợp đồng xuất khẩu gạo lớn, các nhà mua gạo trên thế giới cũng quan tâm nhiều tới gạo Việt Nam do giá cạnh tranh thấp (thấp hơn khoảng 20 USD/tấn so với gạo Thái Lan), chất lợng cũng
ơng nhng nhờ có công tác dự báo kịp thời và hệ thống thuỷ lợi đã đợc xây lắp
và cải tiến, do vậy mà chúnh ta vẫn chủ động đợc mùa vụ sản xuất Diện tích lúa vẫn tăng qua các năm, năm 1998 cả nớc gieo cấy đợc 7362,7 nghìn ha thì tới năm 2002 chúng ta đã gieo cấy đợc 7430 nghìn ha (bình quân tăng 15 nghìn ha một năm) Chính vì thế sản lợng gạo nớc ta có xu hớng tăng trong những năm gần đây
Trang 18
Kết thúc thời vụ gieo cấy vụ Đông xuân 2003 – 2004 cả nớc gieo cấy
đợc gần 3 triệu ha lúa đông xuân, trong đó các tỉnh phía Bắc gieo cấy trên 1,1 triệu ha(tăng 1,5%) Lúa đợc gieo cấy trong khung thời vụ, chăm sóc kịp thời,
đủ nớc, gặp thời tiết thuận lợi, sâu bệnh ít nên sinh trởng và phát triển khá tốt
Dự kiến các tỉnh phía Bắc sẽ đợc mùa trong vụ tới
Các tỉnh phía Nam gieo cấy đợc trên 1,8 triệu ha, giảm khoảng 176.000
ha do chuyển đổi cơ cấu cây trồng và hiện nay tập trung thu hoạch với năng suất bình quân 56 tạ, tăng 0,5 tạ/ha so với năm trớc
2.2.3 Những nhân tố ảnh hởng đến khả năng cạnh tranh gạo xuất khẩu của Công ty
Việc xem xét những nhân tố ảnh hởng đến hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động xuất khẩu nói riêng là rất cần thiết, bởi vì những nhân tố này thờng xuyên làm ảnh hởng đến các kết quả cũng nh tiến triển trong tơng lai của hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp Để việc đánh giá các nhân tố
ảnh hởng đến hoạt động xuất khẩu có tính khái quát và hiệu quả cao, ở đây chúng ta phân loại những nhân tố thành các nhóm, cụ thể:
2.2.3.1 Hoạt động Marketing
Khi nền kinh tế thị trờng càng phát triển thì hoạt động marketing cũng càng giữ vai trò quyết định đến sự thành công trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trên thị trờng Do đó việc nâng cao hiệu quả hoạt
Trang 19động marketing và nghiên cứu thị trờng là mục tiêu mà các doanh nghiệp ớng tới Mặc dù hoạt động trong cơ chế mới hơn 10 năm nhng công tác nghiên cứu thị trờng, khuyếch trơng,quảng cáo sản phẩm và thanh thế nhằm mở rộng thị trờng xuất khẩu, vơn tới những thị trờng đầy triển vọng của công ty còn rất yếu kém Từ khi tham gia kinh doanh gạo xuất khẩu đến nay công ty cha ký
h-đợc một hợp đồng xuất khẩu gạo trực tiếp nào Hoạt động xuất khẩu đều chỉ cung ứng hoặc xuất ủy thác qua Tổng Công ty còn hoạt động tiêu thụ gạo nội
địa do Công ty quyết định nhng số lợng tiêu thụ còn bấp bênh không ổn định, gạo đợc tiêu thụ trên thị trờng chủ yếu do t thơng nắm giữ Gạo của Công ty trên thị trờng chỉ chiếm khoảng 15 - 18% thị trờng miền Bắc Chính vì điều này làm công ty quá dựa dẫm không có những chiến lợc cụ thể nhằm khuyếch trơng sản phẩm gạo xuất khẩu Đối với những hoạt động kinh doanh nội địa
nh sản xuất sữa, sản xuất bia, kinh doanh gạo nội địa thì hoạt động marketing
đợc chú ý hơn Ở xưởng sản xuất bia, sản xuất sữa vào những thời gian cao điểm hoạt động marketing nhằm tiờu thụ sản phẩm diễn ra rất sụi động; mỗi nhõn viờn tiếp thị được hưởng 20% số lói lần đầu của mối hàng mới tỡm được, việc này đó khuyến khớch cỏc nhõn viờn tận dụng mọi phương tiện, phỏt huy
tự chủ trong việc tỡm và duy trỡ cỏc đầu mối của mỡnh dú đú thỳc đẩy việc tiờu thụ sản phẩm
Ở mảng kinh doanh gạo xuất khẩu cụng ty mới chỉ gửi những mẫu hàng, giỏ cả và những thụng tin sơ bộ về sản phẩm của cụng ty đến những nhà kinh doanh nhập khẩu gạo ở Indonexia, Philippin, Cuba, Iraq… Việc cử sang nước ngoài những cỏn bộ cú khả năng đàm phỏn thuyết phục khỏch hàng vẫn chưa được thực hiện vỡ chi phớ cho hoạt động đú quỏ cao Chớnh vỡ vậy cụng
ty hầu như khụng cú được thụng tin phản hồi từ phớa bạn Việc tỡm kiếm những thụng tin về nhu cầu, sở thớch của vựng nhập khẩu là rất khú nếu khụng
cú sự thõm nhập thực tế Do đú thời gian tới cụng ty cần cú những chiến lược hợp lớ nhằm đẩy mạnh hơn nữa hoạt dộng marketing gạo xuất khẩu Cần đề nghị sự hỗ trợ về vốn để cú thể cử được một số cỏn bộ chủ chốt đến những thị
Trang 20trường tiềm năng của công ty nhằm khuyếch trương thanh thế và mở rộng thị trường
2.2.3.2 Mạng lưới thu mua nguyên liệu đầu vào
Theo nghiên cứu của bộ NN - PTNT, trong hệ thống kinh doanh lương thực hiện nay các doanh nghiệp quốc doanh chỉ thu mua trực tiếp khoảng 5 – 8% lượng thóc hàng hoá của nông dân còn chủ yếu mua qua nhiều tầng lớp tư thương Tại Đồng bằng sông Cửu Long hầu như 90% nông dân bán lúa tại nhà cho các điểm thu mua gần nhà hoặc các cơ sở xay sát nhỏ tại chỗ Người mua phần lớn là những tiểu thương "hàng xáo" có phương tiện ghe thuyền nhỏ Các tiểu thương bán lúa gạo cho các thương nhân có phương tiện vận chuyển chế biến và kho lớn hơn Những người này lại bán buôn cho các kho lớn ở thị trấn huyện lị, thị xã, thành phố Sau đó từ kho sẽ cung cấp cho các đơn vị xuất khẩu và các nhà buôn đi tới các vùng trong cả nước Như vậy thực
tế tư thương thu mua và phân phối đến 95% lượng lúa hàng hoá của nông dân
Hệ thống thu mua này đã có từ giữa những năm 80 khi nhà nước xoá bỏ độc quyền về phân phối lương thực Có thể coi đây là một sự phân công tự nhiên, hợp lí tạo nên một thị trường chế biến kinh doanh lương thực có tính cạnh tranh cao Kết quả là nông dân có cơ hội lựa chọn bán cho người trả giá cao nhất và trả tiền mặt Nắm bặt được điều đó với nguồn vốn ngân sách cấp hàng năm cùng nguồn tự bổ sung công ty đã giao cho cán bộ xuống tận các hộ nông dân để thu mua thóc Công việc nay giúp công ty tránh phải thu mua qua khâu trung gian vì thế làm giảm bớt chi phí Công ty đặt một trạm thu mua thóc ở Đồng Tháp để tiện cho việc kinh doanh ở vùng lúa gạo lớn nhất nước
ta Trạm thu mua này thường xuyên túc trực từ 3 - 5 người và đã nắm bắt toàn
bộ thị trường kinh doanh lúa gạo tại đây Do vậy việc huy động một khối lượng lớn lúa gạo cung cấp cho xuất khẩu đều rất dễ dàng Ở các tỉnh miền Bắc, tại các vùng có các loại gạo đặc sản như gạo Tám ấp bẹ, gạo nếp cái hoa vàng ở Nam Định, gạo Bắc Hương ở Hải Dương Công ty đều có những cơ
sở thu mua và có sự hợp tác chặt chẽ với các hợp tác xã tại đó Chính vì có
Trang 21một mạng lưới thu mua tốt như vậy nên Công ty chưa lần nào sai hẹn với khách hàng và sự chênh lệch giữa giá bán và giá mua khá cao đây chính là một lợi thế lớn của Công ty Sở dĩ đạt được điều này là do Công ty đã tận dụng tốt mối quan hệ rộng và kinh nghiệm trong hoạt động vận chuyển lương thực trước đây.
Là một Công ty chuyên sản xuất kinh doanh lương thực là chính với
nguồn nguyên liệu chủ yếu là các sản phẩm từ nông nghiệp nên công tác quản
lý nguồn nguyên liệu được công ty rất đề cao Điều quan trọng ở đây là phải xác định được lượng dự trữ hợp lý, thời điểm thu mua, cách thức mua, lần mua kế tiếp là là vào lúc nào…
Đối với các nguyên vật liệu có thể thu mua quanh năm công ty đã áp dụng theo mô hình sau để tính lượng nguyên vật liệu, số lần mua để có được hiệu quả cao trong công tác dự trữ nguyên vật liệu:
Trong đó: Q* là lượng hàng dự trữ tối đa
D là nhu cầu hàng năm về loại hàng dự trữ
Q là lượng hàng dự trữ cho một đơn đạt hàng
Trang 22S là chi phí đặt hàng tính trên mọt đơn hang
H là chi phí tồn kho trung bình trên một đơn vị dự trữ trong nămThời điểm đặt lại hàng lại là:
Điểm đặt lại hàng ROP = d * LTrong đó:
d là nhu cầu hàng ngày về nguyên vật liệu được đặt hàng
L là thời gian vận chuyển đơn hàng
Đối với các nguyên vật liệu thu mua theo mùa thì công ty áp dụng mô hình dự trữ sau:
Công thức xác định : Vđm = Vn * Tm
Trong đó: Vđm : Lượng vật liệu dự trữ theo mùa
Vn : Lượng vật liệu tiêu hao bình quân ngày đêm
Tm : Số ngày dự trữ theo mùa
Bên cạnh mô hình dự trữ trên Công ty có thể áp dụng các mô hình dự trữ khác đối với các nguyên vật liệu khác nhau sao cho phù hợp với đặc điểm của nguyên vật liệu đó và có được hiệu quả kinh tế tối ưu
2.2.3.3 Công nghệ chế biến và bảo quản.
Trong hoạt động kinh doanh lương thực công đoạn chế biến và bảo quản có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc đảm bảo chất lượng của sản phẩm
Lượng vật
liệu dự trữ
theo mùa
C D E Thời gian dự trữ
Trang 23Thực tế trong hoạt động kinh doanh lương thực người ta đã nghiên cứu và chỉ
ra mức hao hụt lớn nhất là ở khâu xay xát và bảo quản Điều này được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 9 - Tỷ lệ tổn thất hao hụt sau thu hoạch.
Trang 24Luận văn tốt nghiệp Khoa QTKD
Công nghệ này được coi là hiện đại nhất khi mới đầu tư nhưng cho đến nay mặc dù thường xuyên được bảo trì công suất đã giảm đi rất nhiều, thành phẩm thu hồi trung bình chỉ đạt 60% gây lãng phí lớn và không đảm bảo được chất lượng Công ty chỉ đảm bảo cung ứng loại gạo 10%, 15%, và 25% tấm, đối với loại 5% tấm đòi hỏi chất lượng tiêu chuẩn khắt khe hơn thì vẫn chưa đáp ứng được Tiêu chuẩn chất lượng gạo mà công nghệ xay xát của công ty vẫn đáp ứng cho khách hàng quen thuộc như sau:
* Gạo trắng 15%, 25% tấm, xay xát kĩ đóng bao đủ tiêu chuẩn xuất khẩu:
Tiêu chuẩn chất lượng
Tấm : 15% ( 25%)
Độ ẩm : 14,5%
Tạp chất : - Chất hữu cơ :0,5% tối đa
- Chất vô cơ : 1% tối đa
- Thóc : 25 hạt/kg
Hạt phần :10% tối đaHạt vàng : 1% tối đaHạt hỏng : 2% tối đaHạt non : 2% tối đaHạt đỏ sọc đỏ : 5% tối đaHạt nếp : 1% tối đa
Không nhiễm trùng sống, không có hạt kim loại Ngoài ra còn đảm bảo các tiêu chuẩn khác theo tiêu chuẩn xuất khẩu VN
Không có côn trùng sống và aflatoxin sau khi hun trùng trên tàu
Kim loại nặng không vượt quá các chỉ tiêu sau:
Trang 25So với công nghệ chế biến hiện nay trên thị trường thì công nghệ của công ty chỉ vào loại trung bình Để đạt được chất lượng cao hơn thì phải đầu
tư công nghệ mới có thêm công đoạn sàng phân li thóc gạo và sàng tạp chất của thóc Như vậy đối với những bạn hàng hiện nay thì công nghệ chế biến của công ty đủ đáp ứng đòi hỏi về chất lượng Nhưng trong tương lai để cạnh tranh được thì công ty cần phải có sự đầu tư công nghệ mới và nâng cấp kho chứa đủ tiêu chuẩn để bảo quản dự trữ Hiện nay kho dự trữ nguyên liệu 500m2, kho thành phẩm 200m2 đều được cải tạo từ các gara sửa chữa ô tô trước đây nên không đảm bảo chất lượng Hệ thống kho này thực chất chỉ là các kho chứa trong một thời gian ngắn bởi vì nền kho được đổ bê tông chắc chắn không được cách ẩm, hệ thống thông gió, chiếu sáng tự nhiên, hệ thống thông gió cưỡng bức đều chưa đạt tiêu chuẩn Điều nay khiến tỷ lệ hao hụt cao chất lượng giảm đặc biệt là vào mùa hè Khi có nhiệt độ cao hơi nước trong gạo bốc lên gây mốc ẩm Đây là một trong những yếu điểm mà công ty cần khắc phục ngay để đảm bảo cho chất lượng gạo đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế
Tổng tích lượng kho của công ty là 50.000 tấn, tất cả kho tàng của công
ty trong năm vừa qua đã được sửa chữa lại cho phù hợp với yêu cầu của sản
Trang 26xuất kinh doanh Vì công ty có mặt bằng rộng rãi nên các kho được tập trung, không bị phân tán tạo điều kiện thuận lợi cho công tác vận chuyển Vào các thời gian trong năm các kho đều được sử dụng với hiệu suất 100%, trong đó
có khoảng 60% kho được sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh thường xuyên, còn lại 40% là để cá nhân, tổ chức khác thuê
Những điểm thuận lợi đó giúp công ty chủ động trong việc dự trữ sản phẩm phục vụ cho quá trình sản xuất, bảo quản tốt được các thành phẩm sản xuất ra và hàng năm thu được khoản doanh lợi nhất định từ việc cho thuê nhà xưởng
2.2.3.4 Về tiềm lực tài chính
Vốn là yếu tố không thể thiếu được trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Đặc biệt đối với các công ty kinh doanh lương thực thì vốn lưu động đòi hỏi rất lớn
Nếu chỉ xét riêng về phương diện vốn thì công ty được xếp vào những công ty đứng đầu trong tổng số 35 công ty thành viên thuộc Tổng Công ty lương thực miền Bắc, giá trị doanh thu đạt bình quân 65 - 70 tỷ đồng
Tổng số vốn kinh doanh tự có của Công ty vận tải xây dựng và chế biến lương thực Vĩnh Hà tính đến ngày 31/12/2003 là 36,03 tỷ đồng Trong đó:
* Vốn cố định là 23 tỷ đồng gồm kho tàng nơi làm việc, dây chuyền sản xuất bia, sữa đậu nành, bột canh
* Vốn lưu động là 13,03 tỷ đồng chủ yếu là để dành cho hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty
Là doanh nghiệp nhà nước nên công ty có ưu thế được cấp ngân sách hàng năm Vì vậy trong quá trình kinh doanh công ty được hưởng ưu đãi của doanh nghiệp xuất khẩu gạo nên hầu như không phải vay vốn từ ngân hàng Việc này đã làm giảm được khoản chi phí trả lãi ngân hàng Đây là một trong
Trang 27những lợi thế giúp công ty giảm được chi phí trong giá thành do đó sẽ tăng được khả năng cạnh tranh
Bảng 10: Tỷ lệ vốn cố định và vốn lưu động của Công ty
Bảng 12: Cơ cấu lao động các phòng ban phân theo nhóm trình độ của
Trang 28Bảng 11: Cơ cấu lao động các phòng ban theo độ tuổi của công ty năm 2004
2.1.Phõn tớch tỡnh hỡnh thị trường cạnh tranh xuất khẩu gạo
Như chỳng ta đó biết kể từ năm 1989 Việt nam từ một nước nụng nghiệp thiếu đúi phải nhập khẩu gạo triền miờn, đó đột biến trở thành nước xuất khẩu gạo thứ 2 trờn thế giới sau Thỏi Lan vào năm 1997 Xuất khẩu gạo của Việt nam đạt 32,5 triệu tấn với kim ngạch đạt 7,7 tỉ USD Bước sang năm
2001, năm mở đầu của thiờn niờn kỷ mới, triển vọng xuất khẩu gạo của nước
ta diễn ra theo xu hướng khả quan Theo số liệu của Bộ Thương mại, trong 6 thỏng đầu năm 2001, lượng gạo xuất khẩu đạt 2,18 triệu tấn với mức kim ngạch 314 triệu USD tăng 34,5% về số lượng và 6,3% về giỏ trị so với cựng
Trang 29kỳ năm trước Đến năm 2002, xuất khẩu gạo đạt trên 5 triệu tấn, kim ngạch đạt trên 700 triệu USD, và trong quý 1 đầu năm nay chúng ta đã xuất khẩu được khoảng 1 triệu tấn gạo,sỡ dĩ xuất khẩu gạo của Việt nam ngày một gia tăng là do tác động tổng hợp của những yếu tố chủ quan và khách quan như sản xuất và cơ chế thị trường Trong thời gian qua chúng ta không những đảm bảo được ổn định nhu cầu trong nước, duy trì an ninh lương thực quốc gia mà còn dư thừa để xuất khẩu, lượng xuất khẩu gạo trong những năm gần đây tăng trưởng liên tục, năm sau đều đạt mức cao hơn năm trước, nếu như kim ngạch xuất khẩu gạo trong năm 1999 là 1035,090 triệu đồng thì đến năm
2004 là 44.004,7 triệu đồng Sỡ dĩ đạt được những thành quả như vậy là do sản xuất tăng mạnh vượt xa mức dân số, do đó lương thực nói chung và thóc nói riêng theo đầu người liên tiếp tăng với những mức lớn, bên cạnh đó chất lượng gạo xuất khẩu của Việt nam ngày càng tăng, cụ thể cuối năm 1994 Việt nam đã bước đầu sản xuất được gạo cao cấp
Hiện nay, tiềm năng sản xuất lúa của nước ta còn rất lớn Cùng với các yếu tố: Đất đai (độ phì nhiêu cho phép), phân bón, thuỷ lợi, đặc biệt là giống lúa ), Việt nam có điều kiện để gia tăng nhanh hơn năng xuất lúa Năm 2000 năng xuất lúa của Việt nam đạt gần 42.5 tạ/ha/năm, so với Hàn Quốc là 61 tạ/ha, Trung Quốc là 60 tạ/ha… ,năm 2004 sản lựơng lúa bình quân cả nước của Việt Nam đạt 4,2 tấn /ha Đến năm 2005, nếu năng xuất lúa của Việt nam đạt 48 tạ/ha, thì chúng ta sẽ đưa sản lượng lúa vượt 37 triệu tấn Điều đó sẽ tạo nhiều thuận lợi cho xuất khẩu gạo
Trang 30Ngành lúa gạo nước ta thực sự giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế của đất nước Hàng năm ngành lúa gạo đã đóng góp từ 12 – 13% trong tổng GDP
Về chất lượng, chúng ta đã đưa một số giống lúa mới và sản xuất, do vậy chất lượng gạo cùng đã được tăng lên Giá xuất khẩu gạo của chúng ta không thua kém nhiều so với Thái lan Là mặt hàng có giá trị xuất khẩu đứng thứ 5 lúa gạo đã đem về cho đất nước mỗi năm từ 600 – 800 triệu USD Không những thế nó còn có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm an ninh lương thực toàn thế giới Đứng thứ 2 về xuất khẩu gạo, nước ta mỗi năm góp từ 13 – 17% lượng gạo xuất khẩu trên toàn thế giới
2.1.1.Thị trường trong nước
Tuy là nước nông nghiệp nhưng ở nước ta các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực chế biến và xuất khẩu lương thực tư nhân không có nhiều, chủ yếu chỉ là các đơn vị thành viên trực thuộc 2 Tổng Công ty lương thực: Tổng Công ty lương thực miền Bắc và Tổng Công ty lương thực miền Nam Riêng với mặt hàng xuất khẩu gạo thì còn có thêm sự hoạt động của Hiệp hội xuất khẩu gạo
Do nằm ở vị trí trung tâm của Đồng bằng sông Cửu Long, vựa lúa lớn nhất của đất nước nên Tổng Công ty lương thực miền Nam đóng một vai trò quan trọng trong việc điều phối thị trường lương thực nói chung và thị trường
Trang 31gạo nói riêng của cả nước Với khả năng tập trung huy động nguồn gạo nhanh, khả năng tích trữ và bảo quản lớn Tổng Công ty lương thực miền Nam
là đơn vị xuất khẩu chính mặt hàng gạo sang các nước bạn hàng Điều này cũng là lẽ tất nhiên do ở miền Nam thời tiết, khí hậu nóng ấm, rất thuận lợi cho cây lúa phát triển và việc bảo quản dự trữ lương thực đúng tiêu chuẩn cũng dễ dàng hơn so với miền Bắc Ngoài ra do nằm ở vị trí địa lý thuận lợi, cảng biển và cảng sông đều gần nên việc vận chuyển khá đơn giản Hàng năm Tổng Công ty xuất khẩu khoảng 3 triệu tấn, chủ yếu chủ yếu là cho Indonesia, Singapore và thị trường khối Asean
Đối với Tổng công ty lương thực miền Bắc, do điều kiện thời tiết nóng lạnh bất thường, hay có những đợt rét hại gây ra mất mùa và độ ẩm không khí cao gây ra khó khăn trong công tác bảo quản và thu hoạch lúa gạo Đồng thời
do địa hình núi nhiều hơn đồng bằng nên việc đi lại, vận chuyển lương thực với khối lượng lớn đã có những trở ngại nhất định
Hiện nay miền Bắc đã sản xuất đủ gạo để tiêu dùng cho dân miền Bắc
và còn thừa một lượng khoảng 15 đến 20 nghìn tấn/năm, tuy thế đặc điểm của gạo miền Bắc là không đồng đều về chất lượng và chủng loại, người dân miền Bắc làm ăn còn mang tính chất manh mún, chỉ dừng lại ở mức độ sản xuất nhỏ nên rất khó tập trung một lượng lớn gạo tại một thời điểm cần thiết Trong khi đó ở miền Nam người dân lại quen với việc sản xuất gạo xuất khẩu nên việc tập trung nhanh, khối lượng lớn rất dễ dàng Chất lượng gạo miền Nam đồng đều cùng chủng loại và giá cả tương đối ổn định hơn so với miền Bắc
Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, diện tích gieo cấy lúa cả nước năm 2004 khoảng 7,36 triệu ha, năng suất bình quân khoảng 4,7 tấn/ha, sản lượng cả năm ước khoảng 36 triệu tấn; trong đó Vụ Đông xuân chiếm 48,5%, Vụ Hè thu chiếm 28% và Vụ Mùa (chủ yếu ở các tỉnh miền Bắc) khoảng 23,5% Riêng ĐBSCL Vụ Đông Xuân đã gieo cấy đạt 1.466.78 ha, năng suất bình quân đạt khoảng 5,8 tấn/ha, sản lượng cả vụ đạt
Trang 328,6 triệu tấn, tăng khoảng 100.000 tấn so với năm 2003.Sản lượng tăng do thời tiết thuận hoà, giá lúa luôn ở mức cao, phân, nước đầy đủ, cơ cấu giống
đa dạng; các địa phương đã chú trọng hơn về xác định cơ cấu giống lúa thích hợp theo hướng sản xuất lúa hàng hoá với chất lượng cao, phục vụ xuất khẩu
và tiêu dùng Các giống lúa thơm đặc sản và lúa nếp có giá trị xuất khẩu cao cũng được mở rộng diện tích
Thực tế thị trường gạo trong nước có cạnh tranh cũng chỉ là sự cạnh tranh giữa các đơn vị thành viên của hai Tổng Công ty, tuy nhiên do có sự điều chỉnh của Nhà nước mà số lượng gạo xuất khẩu cũng như số các đơn đặt hàng đã được chỉ định cụ thể cho từng Tổng Công ty
2.1.2.Thị trường quốc tế
Gạo là lương thực tiêu dùng tại chỗ của nhiều nước nhưng trong thương mại quốc tế gạo chiếm phần kém quan trọng hơn lúa mì rất nhiều Lượng gạo đưa ra trao đổi trên thị trường từ năm 1989 đến năm 2005 dao động trên dưới 25 triệu tấn, chiếm 20-22% sản lượng và khoảng 50% tổng kim ngạch xuất khẩu lương thực Xuất khẩu gạo thế giới tập trung chủ yếu ở các nước đang phát triển Suốt nhiều thập niên qua, các nước đang phát triển chiếm từ 75-80% tổng lượng xuất khẩu gạo thế giới, những năm gần đây đã chiếm trên 80%, phần còn lại dưới 20% là của các nước phát triển Xét theo phạm vi đại lục thì Châu Á xuất khẩu lớn nhất chiếm tỷ trọng trung bình 77%,
tỷ trọng nhập khẩu đạt 56% Thứ đến là Châu Mỹ với tỷ trọng xuất khẩu trên 20%, tỷ trọng nhập khẩu 17% Cả 3 châu còn lại là Châu Âu, Châu Phi và Châu Đại Dương chiếm khoảng 5% tổng xuất khẩu và 27% tổng nhập khẩu gạo trên thế giới Ngoài trao đổi nội bộ dòng gạo thế giới chảy lớn nhất từ Châu Á sang Châu Âu khoảng gần 1 triệu tấn
Chúng ta đã biết Thái Lan, Mỹ và Ấn Độ là những nước xuất khẩu gạo truyền thống từ nhiều thập niên nay Do vậy họ đã thiết lập được mối quan hệ lâu dài và ổn định về thị trường và khách hàng Gạo của các nước này là
Trang 33những loại đã có thương hiệu và thực chất rất chuẩn về vệ sinh an toàn thực phẩm, về độ tấm, độ thơm cũng như về mặt bảo quản
Chỉ thực sự là nước xuất khẩu gạo có vị trí cao trên thế giới vào năm
1989 cho nên việc việc xâm nhập và mở rộng thị trường của Việt Nam trong những năm đầu gặp phải sự cạnh tranh quyết liệt của Thái Lan Trong những năm gần đây do tích cực mở rộng quan hệ và tham gia vào các tổ chức kinh tế quốc tế nên thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam đã có những thay đổi rõ rệt theo hướng đa dạng hơn Hiện nay gạo Việt Nam có mặt ở gần 40 nước trên thế giới và được tiêu thụ trên các thị trường chính ở Iraq, Cuba, Indonesia, Bắc Triều Tiên, Châu Phi Đây là những thị trường mà gạo của Việt Nam có sức cạnh tranh cao với ưu thế giá rẻ( thậm chí Cuba còn được trả chậm) và đòi hỏi chất lượng gạo phẩm cấp trung bình Còn ở thị trường cao cấp với tiềm năng ngoại tệ lớn như Châu Âu thì chất lượng gạo của ta rất khó
có thể cạnh tranh với Mỹ và Thái Lan Trong những năm gần đây sản lượng gạo của Việt Nam xuất khẩu ngày càng cao, để làm được điều này Tổng công
ty lương thực hai miền luôn chủ động đi sang các nước bạn tìm kiếm hợp đồng, tìm kiếm thị trường Đặc biệt khi khai thác thị trường Châu Âu loại gạo đại trà của ta không thể vào được vì không thể cạnh tranh nổi với gạo của Thái lan hay Mỹ Do đó chúng ta chỉ xuất khẩu các loại gạo có độ thơm đặc biệt như gạo móng chim của vùng duyên hải, gạo nếp…và chủ yếu là cho tiêu dùng Việt kiều ở Nga, Đức, CH Sec, Ba Lan…
Trang 34Thị trường cỏc nước nhập khẩu lỳa gạo chớnh của Việt Nam
Tỷ trọng các thị trường tiêu thụ gạo của Việt Nam
Trang 35Trong những năm gần đây, thị trường gạo thế giới biến động mạnh Bên cạnh những quốc gia có xu hướng tăng lượng gạo xuất khẩu như Thái Lan và Việt Nam, thì có những nước có xu hướng ngược lại như Ấn Độ và Pakistan Tuy nhiên sự biến động có xu hướng trái ngược nhau này không ảnh hưởng tới lượng gạo xuất khẩu trên thế giới, mà ngược lại lượng gạo xuất khẩu trên thế giới vẫn có xu hướng tăng trong 5 năm trở lại đây Năm 2002 lượng gạo giao dịch trên thế giới đạt 26,7 triệu tấn
2.2.2 So sánh xuất khẩu gạo của Công ty với cả nước
Tính đến ngày 04/04/2005 Việt Nam đã xuất khẩu gần 1 triệu tấn gạo Theo tin từ Tổng cục Thống kê, chúng ta đã xuất khẩu được khoảng 450.000 tấn gạo trong tháng 3, nâng tổng số trong quý I lên 961.000 tấn, trị giá 266 triệu USD, tăng 5,2% về giá trị so với cùng kỳ năm trước Giá trị xuất khẩu gạo của Việt Nam trong quý I tăng là do giá gạo tăng mạnh Giá gạo xuất khẩu đạt trung bình khoảng 270,5 USD/tấn, tăng 23% so với cùng kỳ năm ngoái Trong quý I chúng ta cũng đã ký được nhiều hợp đồng xuất khẩu gạo lớn, các nhà mua gạo trên thế giới cũng quan tâm nhiều tới gạo Việt Nam do giá cạnh tranh thấp (thấp hơn khoảng 20 USD/tấn so với gạo Thái Lan), chất lượng cũng đảm bảo
Việc áp dụng các giống lúa mới vào sản xuất và mùa màng được chăm sóc tốt, đã làm cho năng suất lúa bình quân của nước ta trong những năm gần đây ngày một tăng Năm 1998 năng suất lúa bình quân của nước ta đạt 39,6 tạ/ha thì đến năm 2002 đã tăng lên 45,14 tạ/ha (Bình quân mỗi năm tăng hơn
1 tạ) Cùng với năng suất tăng, diện tích trồng lúa của cả nưổctng những năm gần đây cũng tăng lên đáng kể Tuy hiện tượng Elnino diễn ra ở nhiều địa phương nhưng nhờ có công tác dự báo kịp thời và hệ thống thuỷ lợi đã được xây lắp và cải tiến, do vậy mà chúnh ta vẫn chủ động được mùa vụ sản xuất Diện tích lúa vẫn tăng qua các năm, năm 1998 cả nước gieo cấy được 7362,7 nghìn ha thì tới năm 2002 chúng ta đã gieo cấy được 7430 nghìn ha (bình
Trang 36quân tăng 15 nghìn ha một năm) Chính vì thế sản lượng gạo nước ta có xu hướng tăng trong những năm gần đây
Kết thúc thời vụ gieo cấy vụ Đông xuân 2003 – 2004 cả nước gieo cấy được gần 3 triệu ha lúa đông xuân, trong đó các tỉnh phía Bắc gieo cấy trên 1,1 triệu ha(tăng 1,5%) Lúa được gieo cấy trong khung thời vụ, chăm sóc kịp thời, đủ nước, gặp thời tiết thuận lợi, sâu bệnh ít nên sinh trưởng và phát triển khá tốt Dự kiến các tỉnh phía Bắc sẽ được mùa trong vụ tới
Các tỉnh phía Nam gieo cấy được trên 1,8 triệu ha, giảm khoảng 176.000 ha do chuyển đổi cơ cấu cây trồng và hiện nay tập trung thu hoạch với năng suất bình quân 56 tạ, tăng 0,5 tạ/ha so với năm trước
2.2.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh gạo xuất khẩu của Công ty
Việc xem xét những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động xuất khẩu nói riêng là rất cần thiết, bởi vì những nhân tố này thường xuyên làm ảnh hưởng đến các kết quả cũng như tiến triển trong tương lai của hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp Để việc đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu có tính khái quát và hiệu quả cao, ở đây chúng ta phân loại những nhân tố thành các nhóm, cụ thể: