Ứng dụng mô hình camel trong phân tích tài chính tại ngân hàng TMCP các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt Nam : Luận văn ThS.. Một trong những công cụ đánh giá quan trọng mà các nhà quả
Trang 1Ứng dụng mô hình camel trong phân tích tài chính tại ngân hàng TMCP các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt Nam : Luận văn ThS Kinh doanh và quản lý : 60 34 05 / Nguyễn Thu Dung ; Nghd
:PGS TS Trần Thị Thái Hà
1 Sự cần thiết của đề tài
Ngân hàng là một trong các tổ chức trung gian tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế Với tư cách là trung gian tài chính, Ngân hàng thương mại là loại hình doanh nghiệp kinh doanh đặc thù vì kinh doanh các loại hàng hoá đặc biệt là tiền tệ, vàng bạc, chứng khoán,…và cung ứng các dịch vụ ngân hàng theo quy định của pháp luật Thực tế kinh nghiệm trên thế giới cho thấy, đánh giá một doanh nghiệp nói chung đã khó và phức tạp nhưng đánh giá một ngân hàng càng phức tạp và khó khăn hơn với những nét đặc thù của nó Việc đánh giá chính xác
và đúng đắn hoạt động của một ngân hàng không những giúp cho Ngân hàng có những định hướng đúng đắn mà còn sử dụng các kết quả đánh giá này để có những điều chỉnh kịp thời nhằm khắc phục những mặt yếu kém, phát huy những mặt mạnh để đưa công việc kinh doanh đi tới trình độ hoàn thiện hơn Một trong những công cụ đánh giá quan trọng mà các nhà quản trị sử dụng để đánh giá hoạt động của Ngân hàng là phân tích tài chính
Phân tích tài chính là khâu quan trọng nhất trong công tác quản trị ngân hàng
Để quản lý tốt hoạt động kinh doanh, nhà quản trị ngân hàng không những phải biết
tổ chức quá trình hoạt động, nghiên cứu thị trường, hạch toán kế toán,….mà còn phải thường xuyên phân tích tài chính để có thể đưa ra bức tranh toàn cảnh về tình hình và năng lực tài chính, đánh giá được kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng, trên cơ sở đó có những quyết định quản lý hoạt động kinh doanh phù hợp nhằm góp phần hạn chế rủi ro và nâng cao lợi nhuận của ngân hàng Với vai trò
Trang 2quan trọng như vậy, phân tích tài chính ngân hàng được coi là một trong những công cụ quan trọng và hỗ trợ đắc lực cho các nhà quản lý ngân hàng
Một trong các phương pháp phân tích tài chính được công nhận rộng rãi đối với việc phân tích tài chính ngân hàng là mô hình CAMEL Đây là mô hình được xây dựng ở Mỹ từ những năm 1980 Theo mô hình này, các nhà phân tích phải phân tích tài chính của Ngân hàng thương mại cả các nhân tố định tính và định lượng Mô hình CAMEL là mô hình phân tích hoạt động của doanh nghiệp rất phổ biến và được chấp nhận rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới đối với việc phân tích tài chính ngân hàng Mô hình này rất hữu ích cho các nhà phân tích tài chính cũng như nhà quản lý ngân hàng trong việc đánh giá và đưa ra dự đoán sự lành mạnh của NHTM một cách đáng tin cậy, từ đó nhận biết những cơ hội kinh doanh, những dấu hiệu rủi ro và đưa ra các quyết định hợp lý nhằm nâng cao khả năng sinh lời của Ngân hàng
Hiện nay, việc áp dụng mô hình CAMEL vào phân tích tài chính của các Ngân hàng Việt Nam còn nhiều vấn đề cần hoàn thiện Ngân hàng TMCP các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt Nam (VPBank) là ngân hàng thương mại cổ phần đã trải qua 14 năm hoạt động với những thăng trầm trong quá trình hình thành và phát triển Trước những thách thức của xu thế hội nhập kinh tế quốc tế
về trình độ quản lý, vốn, công nghệ, các tiêu chuNn về kế toán và kiểm toán…thì công tác phân tích tài chính của VPBank càng trở nên quan trọng để giúp các nhà lãnh đạo đưa ra các quyết định quản lý kinh doanh phù hợp, nâng cao năng lực cạnh tranh để chiến thắng trong cuộc cạnh tranh khốc liệt đang diễn ra
Tuy nhiên, công tác phân tích tài chính của VPBank hiện nay còn nhiều hạn chế Về đội ngũ phân tích: N gân hàng chưa tổ chức được bộ phận phân tích chuyên nghiệp, trình độ phân tích của nhân viên phân tích còn hạn chế Về điều kiện phân tích: do sự hạn chế về công nghệ tin học ngân hàng nên việc kết xuất các dữ liệu cho công tác phân tích tài chính chưa đáp ứng được yêu cầu, các báo cáo tài chính chỉ mang tính chất thống kê Về nội dung phân tích: N gân hàng chưa
Trang 3xây dựng được hệ thống các chỉ tiêu cho phân tích các báo cáo tài chính nên việc phân tích còn sơ sài, mới chỉ tính toán một số các chỉ tiêu tài chính, chưa có sự
liên kết giữa các chỉ tiêu đó trong phân tích
N hận thấy được tầm quan trọng và sự cần thiết của công tác phân tích tài chính tại N gân hàng N goài quốc doanh cũng như tính hữu ích của mô hình CAMEL trong phân tích tài chính ngân hàng, tôi đã quyết định lựa chọn đề tài:
“Ứng dụng mô hình CAMEL trong phân tích tài chính tại gân hàng TMCP
các doanh nghiệp goài quốc doanh Việt am” để nghiên cứu
2 Tình hình nghiên cứu
Tại VPBank đã thực hiện công tác phân tích tài chính thông qua việc phân tích các báo cáo tài chính Tuy nhiên, do trải qua thời kỳ khó khăn của những năm trước năm 2004, N gân hàng tập trung vào việc củng cố và mở rộng hoạt động kinh doanh nên công tác phân tích tài chính mới chỉ dừng lại ở việc phân tích các báo cáo tài chính và công việc này do Kế toán trưởng đảm nhiệm Hiện nay chưa
có một nghiên cứu nào về việc áp dụng mô hình CAMEL vào công tác phân tích tài chính ở VPBank
Chính vì vậy, công trình nghiên cứu “Ứng dụng mô hình CAMEL trong
phân tích tài chính tại gân hàng TMCP các doanh nghiệp goài quốc doanh Việt am” sẽ nghiên cứu việc ứng dụng mô hình CAMEL vào công tác phân tích
tài chính của VPBank và sẽ cố gắng lấp chỗ trống đối với công tác phân tích tài
chính trước đó
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích: Chỉ ra những hạn chế trong phân tích tài chính tại VPBank hiện
nay và đưa ra các đề xuất nhằm ứng dụng mô hình CAMEL vào công tác phân tích tài chính
- hiệm vụ nghiên cứu:
• N hận diện thực trạng công tác phân tích tài chính tại VPBank
• Trên cơ sở làm rõ bản chất các yếu tố của mô hình CAMEL, đối chiếu với
Trang 4những điều kiện thực tế của N gân hàng trong việc áp dụng mô hình này
• Đưa ra các để xuất nhằm ứng dụng mô hình CAMEL vào phân tích tài chính tại VPBank
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Công tác phân tích tài chính tại VPBank
- Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu của đề tài giới hạn trong hoạt
động phân tích tài chính tại VPBank và lấy số liệu trên các báo cáo tài chính của VPBank trong 3 năm 2004, 2005, 2006 để minh giải cho việc ứng dụng mô hình CAMEL trong phân tích tài chính tại VPBank
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu cơ bản như:
- Duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
- Tổng hợp, so sánh, phân tích số liệu
- Thống kê kinh tế…
6 Dự kiến những đóng góp mới của luận văn
Đưa ra các đề xuất và kiến nghị nhằm ứng dụng thành công mô hình
CAMEL vào công tác phân tích tài chính tại VPBank
7 Cấu trúc của luận văn
Luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: N hững vấn đề lý luận cơ bản về phân tích tài chính N gân hàng
thương mại theo mô hình CAMEL
- Chương 2: Thực trạng phân tích tài chính tại N gân hàng TMCP các doanh
nghiệp ngoài quốc doanh Việt N am
- Chương 3: Các đề xuất nhằm ứng dụng mô hình CAMEL trong phân tích
tài chính tại N gân hàng TMCP các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt N am
Trang 5CHƯƠ<G 1
<HỮ<G VẤ< ĐỀ LÝ LUẬ< CƠ BẢ< VỀ PHÂ< TÍCH TÀI CHÍ<H
<GÂ< HÀ<G THƯƠ<G MẠI THEO MÔ HÌ<H CAMEL
1.1 Tổng quan về phân tích tài chính <gân hàng thương mại
1.1.1 Khái niệm gân hàng thương mại
1.1.1.1 Khái niệm
1.1.1.2 Đặc điểm hoạt động của ngân hàng thương mại
1.1.2 Hoạt động phân tích tài chính gân hàng thương mại
1.1.2.1 Khái niệm và sự cần thiết của phân tích tài chính gân hàng thương mại 1.1.2.2 hững nguyên tắc trong phân tích tài chính ngân hàng thương mại
Khi phân tích tài chính ngân hàng thương mại, nhà phân tích cần đảm bảo các nguyên tắc sau:
Thứ nhất: Phải nghiên cứu, xem xét các sự kiện ở trạng thái vận động và
phát triển
Thứ hai: Phải nghiên cứu hiện tượng kinh tế trong mối quan hệ hữu cơ với
các hiện tượng kinh tế khác
Thứ ba: Phải có quan điểm lịch sử cụ thể khi đánh giá các hiện tượng kinh
Trang 6tế
Thứ tư: Xem xét các hiện tượng kinh tế phải xuất phát từ thực tế khách quan Thứ năm: Chú ý phát hiện những mâu thuẫn, phân loại mâu thuẫn và đề ra
các biện pháp giải quyết mâu thuẫn
Thứ sáu: Phải đi sâu vào từng bộ phận cấu thành chỉ tiêu phân tích
1.2 <ội dung của mô hình CAMEL
1.2.1 Khái niệm
CAMEL là phương pháp phân tích ngân hàng được xây dựng ở Mỹ từ năm những năm 1980 N gày nay, phương pháp này được coi là một phương pháp chuNn được công nhận rộng rãi trên thế giới đối với việc phân tích tài chính trong ngành ngân hàng Đây là một công cụ rất hữu ích trong việc đưa ra các dự đoán liệu ngân hàng có lành mạnh hay không và nó cho phép các nhà phân tích tài chính xác định giá trị của ngân hàng với mức độ tin cậy nhất
Theo mô hình này, các nhà phân tích phải phân tích tài chính của ngân hàng thương mại cả các nhân tố định tính và định lượng CAMEL là chữ viết tắt bằng tiếng Anh của 5 nhân tố mà theo nhận định của cộng đồng ngân hàng thế giới, muốn duy trì được tính lành mạnh và ổn định của một ngân hàng, cần phải có 5 yếu tố này Đó là:
C (capital): Vốn của ngân hàng
A (asset quality): Chất lượng tài sản
M (management ability): N ăng lực quản lý
E (earning): Khả năng sinh lời
L (liquidity): Khả năng thanh khoản
1.2.2 ội dung phân tích tài chính gân hàng thương mại theo mô hình CAMEL
1.2.2.1 Phân tích vốn của HTM
Một ngân hàng cần phải có vốn vì ba lý do: Một là để bù đắp những tổn thất
Trang 7không mong đợi; Hai là đảm bảo sự an toàn cho người gửi tiền cũng như các chủ nợ; Ba là đảm bảo tuân thủ những quy định của cơ quan quản lý đặt ra nhằm bảo
vệ người gửi tiền cũng như ổn định toàn bộ hệ thống ngân hàng
Khi xem xét về vốn, các nhà phân tích thường nghiên cứu tới quy mô vốn chủ sở hữu, khả năng tạo vốn từ lợi nhuận để lại của ngân hàng và quan trọng nhất là xem xét sự hợp lý về vốn của một ngân hàng trong việc bù đắp các tài sản
có rủi ro qua việc xem xét mối tương quan của vốn với tổng tài sản quy đổi theo mức độ rủi ro
* Các tỷ lệ chính đo lường mức độ hợp lý và an toàn vốn của <gân hàng thương mại
(1) Tỷ lệ BIS= Vốn tự có/Tài sản có rủi ro
Mức chất lượng của chỉ tiêu BIS: lớn hơn hoặc bằng 10% đối với các ngân
hàng hạng nhất
(2) Hệ số đòn bey tài chính= Tổng nợ phải trả/Vốn chủ sở hữu
Mức trung bình ở các ngân hàng trên thế giới là 12,5 lần
(3) Hệ số tạo vốn nội bộ= Lợi nhuận không chia/Vốn cấp 1
Hệ số tạo vốn nội bộ cho biết khả năng tăng vốn tự có của ngân hàng từ lợi nhuận để lại Hệ số này càng lớn càng tốt ở các ngân hàng trên thế giới, hệ số này trên 12% được coi là tốt
1.2.2.2 Phân tích chất lượng tài sản Có
Tài sản Có là phần sử dụng nguồn vốn đưa vào kinh doanh và duy trì khả năng thanh toán của một N gân hàng Tài sản Có có chất lượng kém là nguyên nhân chính dẫn đến thất bại của hầu hết các N gân hàng Việc đánh giá chất lượng tài sản Có là một trong những khía cạnh khó nhất trong phân tích tài chính ngân hàng Đối với khó khăn này, nhà phân tích phải đi theo hai hướng: (1) đánh giá mức độ mạnh yếu trong quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng, (2) đánh giá chất lượng của các khoản đầu tư và danh mục cho vay bằng việc sử dụng phân tích xu thế và so sánh
Trang 8*Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tài sản Có
(1) Tỷ lệ dự phòng
Tỷ lệ dự phòng = Lợi nhuận trước thuế, khấu hao và dự phòng/Dự phòng tổn thất nợ
Mức chất lượng của chỉ tiêu: từ 3 đến 4 lần
(2) Tỷ lệ chi phí dự phòng= Dự phòng tổn thất nợ/ Dư nợ bình quân
Mức chất lượng của chỉ tiêu: tối đa 1%
(3) Khả năng bù đắp nợ xấu= Dự phòng tổn thất nợ/N ợ xấu (N PLs)
N ợ xấu được xem là khoản nợ đã quá hạn có nợ gốc và nợ lãi bị quá hạn trả
từ 90 ngày trở lên
Mức chất lượng của chỉ tiêu: > 1
(4) Tỷ lệ nợ xấu= N ợ xấu/ Tổng dư nợ
Mức chất lượng của chỉ tiêu: < 1,5 %
(5) Tỷ lệ nợ xấu/ Tổng tài sản
Mức chất lượng của chỉ tiêu: <2%
(6) Danh mục cho vay trên tổng tài sản có = Dư nợ/Tổng tài sản Có (7)Tốc độ tăng trưởng tín dụng= (Dư nợ cuối kỳ- Dư nợ đầu kỳ)/Dư nợ đầu kỳ
(8) Tỷ lệ đầu tư tài sản cố định= Giá trị tài sản cố định/Vốn tự có
Hiện nay, theo quy ước quốc tế thì tỷ lệ này không vượt quá 20% Còn theo quy định của Việt N am tại Điều 88 Luật các TCTD năm 1997 và Luật sửa đổi, bổ sung Luật các TCTD năm 2004, tỷ lệ này không vượt quá 50%
1.2.2.3 Phân tích khả năng quản lý
Theo mô hình CAMEL, phân tích nhân tố quản lý này đóng vai trò hết sức quan trọng trong phân tích cũng như đưa ra các đánh giá về tình hình hoạt động
và tài chính N HTM Bởi vì sự quản lý và các quyết định quản lý chắc chắn sẽ có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới hoạt động của ngân hàng cũng như sự thành
Trang 9công trong kinh doanh Chính vì thế các nhà phân tích cần tập trung phân tích sâu yếu tố quản lý của các N HTM trong quá trình phân tích để đánh giá được tình hình tài chính các N HTM đúng đắn hơn
1.2.2.4 Phân tích khả năng sinh lời
Khả năng sinh lời phản ánh khá tổng quát kết quả của các hoạt động kinh doanh, chính vì thế để thấy rõ hơn được kết quả đó cần phải xem xét và thực hiện phân tích các nhân tố có ảnh hưởng trực tiếp cũng như gián tiếp tới các chỉ số đó Khả năng sinh lời là rất quan trọng bởi ba lý do:
1 Giúp bù đắp các khoản tổn thất;
2 Cần thiết cho một cấu trúc tài chính cân bằng
3 Là phần thưởng của cổ đông
Cách thức phân tích khả năng sinh lời:
Các bước trong phân tích khả năng sinh lời bao gồm:
Bước 1: Phân tích thu nhập lãi ròng
Chỉ tiêu phân tích:
1 Lãi ròng biên tế= Thu nhập lãi ròng/Tổng tài sản có bình quân
Mức chất lượng của chỉ tiêu:: > 3%
2 Chênh lệch lãi suất đầu ra-đầu vào
Thu từ lãi Chi trả lãi Chênh lệch lãi suất
(%) = Tài sản sinh lời bình
quân
- N ợ phải trả lãi bình quân
Bước 2: Phân tích các khoản thu nhập khác
Các khoản thu nhập khác bao gồm các khoản thu như phí và hoa hồng, kinh doanh ngoại tệ và kinh doanh chứng khoán
Chỉ tiêu phân tích: Thu nhập khác trên tổng thu nhập hoạt động
Trang 10Bước 3: Phân tích chi phí hoạt động
Chi phí hoạt động gọi là chi phí ngoài lãi, bao gồm lương và các khoản liên
quan đến lương, khấu hao, thuế, quản lý và chi phí khác
Chỉ tiêu phân tích: Chi phí trên thu nhập= Tổng chi phí hoạt động/Tổng thu
nhập hoạt động
Bước 4: Phân tích dự phòng tổn thất nợ
Các chỉ tiêu phân tích:
Chỉ tiêu 1: Dự phòng tổn thất nợ/ Tổng tài sản có bình quân
Mức chất lượng của chỉ tiêu: < 0,5%
Chỉ tiêu 2: Dự phòng tổn thất nợ/Tổng dư nợ bình quân
Mức chất lượng của chỉ tiêu: < 1 %; lý tưởng là < 0,5 %
Chỉ tiêu 3: Thu nhập trước thuế, các khoản mục bất thường và dự phòng nợ
tổn thất/Dự phòng tổn thất nợ
Mức chất lượng của chỉ tiêu: > 1
Bước 5: Phân tích thu nhập ròng
Các chỉ tiêu phân tích:
Chỉ tiêu 1: Thu nhập ròng/ Tổng tài sản có bình quân (ROA)
Mức chất lượng của chỉ tiêu: 1%
Chỉ tiêu 2: Thu nhập ròng/ Vốn tự có bình quân(ROE)
Mức chất lượng của chỉ tiêu: 10-15%
1.2.2.5 Phân tích khả năng thanh khoản
Yếu tố cuối cùng để phân tích tình hình tài chính của ngân hàng là khả năng thanh khoản Thanh khoản trong quản trị ngân hàng là cần thiết bởi hai lý do: (1)
để thoả mãn yêu cầu đối với các khoản nợ mới mà không cần phải thu hồi các khoản đang cho vay hoặc bán đi các khoản đầu tư có kỳ hạn như cổ phiếu, (2) để đáp ứng các khoản rút tiền theo ý muốn của người gửi tiền bất kỳ lúc nào
Trang 11N ói chung, thanh khoản phải được xem xét dưới góc độ là khả năng của ngân hàng trong việc tài trợ cho các khoản nghĩa vụ của nó Các yếu tố thanh khoản nên kiểm tra bao gồm: (1) tính không ổn định của các khoản tiền gửi (2) Mức
độ tín nhiệm của các khoản tài trợ nhạy cảm với lãi suất (theo các trường hợp khác nhau có thể gọi là các khoản tài trợ cho vay, các khoản tiền nóng); (3) khả năng chuyển đổi thành tiền mặt của tài sản có; (4) sự ảnh hưởng của thị trường tiền tệ; (5) hiệu quả của chiến lược và chính sách quản trị tài sản nợ-tài sản có; (6) sự tuân thủ chính sách thanh khoản nội bộ; và (7) bản chất, quy mô và các dự đoán trước về cam kết tín dụng
Các chỉ tiêu đo lường khả năng thanh khoản:
Chỉ tiêu 1: Tài sản có động/Tổng tài sản có
Mức chất lượng của chỉ tiêu: 20 đến 30%
Chỉ tiêu 2: Tài sản có động/Tổng tiền gửi
Mức chất lượng của chỉ tiêu: 30 đến 45%
Chỉ tiêu 3:Dư nợ/Tổng tiền gửi
Mức chất lượng của chỉ tiêu:
(1) 80 đến 90 % đối với các ngân hàng nhỏ, các ngân hàng khu vực;
(2) >100% đối với các ngân hàng lớn, các trung tâm tiền tệ và các ngân hàng mang tính quốc tế (do khuynh hướng của họ trong việc sử dụng các tỷ lệ có ý nghĩa hơn đối với các khoản cho vay trong chiến lược cho vay của họ)
Chỉ tiêu 4: Tỷ lệ tài sản có động/Tổng nợ ngắn hạn
Mức chất lượng của chỉ tiêu: 30%
Chỉ tiêu 5: Tổng dư nợ/ Tổng tài sản
Mức chất lượng của chỉ tiêu: < 65 %
Các chỉ tiêu khác:
Một số chỉ tiêu khác cũng thường được sử dụng bởi các nhà phân tích, đó là:
• Tài sản nợ đi vay/ Tổng tài sản có;
Trang 12• Chứng khoán đầu tư đến hạn dưới 12 tháng/ Tổng tài sản có; và
• (Tiền mặt – Dự trữ bắt buộc + Chứng khoán chính phủ)/Tổng tài sản có Trên đây là những lý luận cơ bản nhất về các yếu tố của mô hình CAMEL: vốn, chất lượng tài sản, quản lý, khả năng sinh lời và tính thanh khoản khi đánh giá tình hình hoạt động và tài chính của TCTD Tuy nhiên, đối với các N HTM, khi vận dụng mô hình này trong phân tích tài chính của chính bản thân ngân hàng thì chỉ vận dụng 4 khía cạnh của mô hình là vốn, chất lượng tài sản, khả năng sinh lời và khả năng thanh khoản
CHƯƠ<G 2 THỰC TRẠ<G PHÂ< TÍCH TÀI CHÍ<H TẠI <GÂ< HÀ<G TMCP CÁC
DOA<H <GHIỆP <GOÀI QUỐC DOA<H VIỆT <AM
2.1 Tổng quan về <gân hàng TMCP các doanh nghiệp ngoài quốc
doanh Việt <am (VPBank)
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của VPBank
N gân hàng TMCP các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt N am (tên giao dịch là VPBank) là một pháp nhân được thành lập trên cơ sở tự nguyện của các cổ đông theo Pháp lệnh N gân hàng, Hợp tác xã tín dụng và Công ty tài chính số 38/LCT.HĐN N 8 ngày 24/05/1990 của Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt N am và được Thống đốc N HN N Việt N am cấp giấy phép hoạt động số 0042/GP-N H ngày 12/08/1993 trong thời hạn 99 năm Các chức năng hoạt động chủ yếu của VPBank bao gồm: Huy động vốn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn từ các tổ chức kinh tế và dân cư; cho vay vốn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn đối với