Còn một số luận văn lý luận chính trị cao cấp về “Phát triển làng nghề truyền thống trong nền kinh tế thị trường hiện nay trên địa bàn huyện Đức Thọ - Hà Tĩnh” của Thạc sĩ Nguyễn Quốc Hả
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN VIỆT CƯỜNG
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG HUYỆN THƯỜNG TÍN
Ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số : 60.34.0102
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS Ngô Xuân Bình
HÀ NỘI, 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của tôi Các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là quá trình tìm hiểu, học hỏi đúc rút ra trong quá trình học tập, nghiên cứu và làm việc của tôi, mọi số liệu, tài liệu được sử dụng trong luận văn là trung thực và đều có nguồn gốc rõ ràng
Tác giả luận văn
Nguyễn Việt Cường
Trang 3Chương 2: THỰC TRẠNG CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NGHỀVÀ LÀNG NGHỀ
2.2 Thực trạng của việc phát triển nghề và làng nghề ở huyện trong thời gian qua 322.3 Đánh giá việc phát triển làng nghề ở huyện Thường Tín 52
Trang 4DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CNH-HĐH Công nghiệp hóa- hiện đại hóa CN-TTCN Công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp HĐHNT Hiện đại hóa nông thôn
TNHH Công ty trách nhiệm hữu hạn
UBND-TP Ủy ban nhân dân thành phố WTO Tổ chức thương mại thế giới
Trang 5DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
2.2.2.1 Cơ cấu theo nghề và theo loại hình những doanh nghiệp trong lĩnh
vực nghề truyền thống của huyện năm 2015 37 2.2.2.2 Cơ cấu nghề truyền thống theo hộ gia đình của từng xã và toàn huyện 38
2.2.2.3 Cơ cấu theo nghề của các hộ gia đình làm nghề truyền thống 40 2.2.2.4 Cơ cấu lao động theo xã tính đến năm 2015 41
2.2.2.5 Thu nhập bình quân của một lao động có nghề truyền thống 42
Tên sơ đồ
2.2 Mối quan hệ giữa phát triển làng nghề và phát triển kinh tế xã hội 51
Trang 6MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài
Phát triển làng nghề truyền thống nói chung là một trong những mục tiêu trọng điểm trong việc phát triển kinh tế xã hội ở Việt nam Kể từ khi Việt nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại Thế giới WTO thì đó là một cơ hội rất lớn cho việc phát triển kinh tế xã hội của đất nước Các Làng nghề cũng là một trong những đối tượng chịu tác động trực tiếp và rất mạnh mẽ từ sự kiện này Việc phát triển các Làng nghề có ảnh hưởng rất lớn đến việc cải thiện đời sống kinh tế, xã hội của vùng nông thôn Việt Nam Thực tiễn bước đầu Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn cùng những kinh nghiệm ở các nước châu Á cho thấy phát triển làng nghề, ngành nghề phi nông nghiệp ở nông thôn có ý nghĩa rất to lớn Phát triển làng nghề không chỉ đẩy nhanh CNH, HĐHNN, NT thu hút lao động dư thừa, tăng thu nhập cho nông dân, thu hút vốn nhàn rỗi mà đối với làng nghề truyền thống còn là góp phần bảo tồn và phát triển bản sắc văn hóa của dân tộc
Tuy nhiên, việc phát triển Làng nghề và ngành nghề ở nông thôn nước ta chủ yếu là tự phát và chưa đồng bộ Trong quá trình phát triển đã gặp nhiều khó khăn bất cập Điển hình như việc phát triển làng nghề truyền thống của huyện Thường Tín – Hà Nội cũng đang vấp phải những khó khăn riêng như thiếu mặt bằng, thiếu vốn sản xuất, thị trường tiêu thụ sản phẩm ngày một khó khăn, không có thương hiệu Vì vậy để Làng nghề truyền thống của nước ta phát huy được thế mạnh cần phải có những giải pháp đồng bộ và hiệu quả hơn
Xuất phát từ thực tiễn đó, tôi đã lựa chọn đề tài “Giải pháp phát triển làng nghề
truyền thống huyện Thường Tín” Để nghiên cứu trong luận văn thạc sĩ của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Có thể nêu một số công trình chủ yếu như sau:
“Khôi phục và phát triển làng nghề ở nông thôn vùng đồng bằng sông Hồng - thực trạng và giải pháp” của Thạc sĩ Vũ Thị Hà năm 2002 Tác giả đã nghiên cứu thực
trạng làng nghề truyền thống ở nông thôn vùng Đồng bằng sông Hồng và đưa ra giải pháp về quy hoạch, kế hoạch khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống, đưa ra
Trang 7giải pháp về đào tạo lao động, cán bộ quản lý, thị trường tiêu thụ, đổi mới công nghệ, chính sách của nhà nước để phát triển làng nghề truyền thống
“Tín dụng của ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn với việc phát triển làng nghề tại tỉnh Quảng Nam” của Thạc sĩ Trần Văn Hiến năm 2006 Tác giả đã
nghiên cứu thực trạng công tác tín dụng ngân hàng nông nghiệp của tỉnh Quảng Nam đối với sự phát triển làng nghề của tỉnh; đồng thời tác giả đã ra dự báo sự phát triển của làng nghề, của tín dụng ngân hàng nông nghiệp đến năm 2010, đưa ra cơ chế, chính sách cho vay để khuyến khích làng nghề phát triển
“Giải pháp xây dựng làng nghề trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh theo hướng phát triển bền vững” của Thạc sĩ Nguyễn Hữu Loan năm 2007 Tác giả đánh giá thực trạng
và đề xuất giải pháp tổ chức quản lý, xây dựng làng nghề theo hướng bền vững trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
Còn một số luận văn lý luận chính trị cao cấp về “Phát triển làng nghề truyền thống trong nền kinh tế thị trường hiện nay trên địa bàn huyện Đức Thọ - Hà Tĩnh” của Thạc sĩ Nguyễn Quốc Hải năm 2006 và “Nghề truyền thống trên địa bàn Hà Nội trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế” của Nguyễn Trọng Tuấn cũng đều đề cập
đến thực trạng làng nghề truyền thống của các địa phương khác nhau; đồng thời cũng đưa ra những giải pháp về quy hoạch kế hoạch phát triển nghề truyền thống và đặt vấn
đề thị trường tiêu thụ, đổi mới công nghệ, chính sách, đào tạo nguồn lao động để làng nghề được phát triển trong điều kiện Việt Nam thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn và gia nhập Tổ chức thương mại thế giới
Nhìn chung các công trình nghiên cứu kể trên đã nghiên cứu những khía cạnh khác nhau của các làng nghề, làng nghề truyền thống và đưa ra những giải pháp phát triển cũng chính là giải quyết vấn đề phát triển nông nghiệp, nông thôn và nông dân theo đúng tinh thần nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích của luận văn
Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn, đề xuất các giải pháp phát triển các làng nghề truyền thống trên địa Huyện Thường Tín, Hà Nội
Trang 8Hệ thống hoá có bổ sung một số lý luận cơ bản về phát triển làng nghề truyền thống trong nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta hiện nay
Phân tích, đánh giá đúng thực trạng phát triển làng nghề truyền thống trên địa bàn Huyện Thường Tín
Nêu lên quan điểm và đề xuất các giải pháp phát triển các làng nghề truyền thống trên địa bàn Huyện Thường Tín
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu là các làng nghề truyền thống huyện Thường Tín và các nhân tố tác động tới sự phát triển làng nghề truyền thống hiện nay
4.2 Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Do vấn đề rộng lớn và phức tạp trong khuôn khổ luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh, chúng tôi tập trung phân tích, nghiên cứu một số làng nghề truyền thống trên địa bàn Huyện Thường Tín và giới hạn phân tích hai nhân tố chủ yếu là: Tác động của quản
lý nhà nước tới sự phát triển làng nghề truyền thống và nhân tố từ bản thân các làng nghề
Thời gian nghiên cứu đánh giá thực trạng từ năm 2013 cho đến nay và đề xuất các giải pháp phát triển làng nghề truyền thống huyện Thường Tín
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được tiếp cận trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin; đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; kế thừa có hệ thống và chọn lọc các công trình nghiên cứu khoa học, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ và các tài liệu khoa học, kinh tế, chính trị có nội dung liên quan hoặc đề cập đến vấn đề nghiên cứu của luận văn
Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận văn bao gồm: phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, nghiên cứu thực tế, phỏng vấn trực tiếp và gián tiếp, phỏng vấn qua điện thoại, phương pháp kết hợp logic với lịch sử, lý luận với thực tế
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn phân tích và làm rõ thực trạng các làng nghề truyền thống trên nhiều khía cạnh, khái quát quá trình hình thành và phát triển, đánh giá kết quả những hạn chế tồn tại và nguyên nhân, đề xuất các quan điểm, giải pháp chủ yếu nhằm phát triển bền
Trang 9vững các làng nghề truyền thống trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá trên địa bàn huyện Thường Tín
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo nghiên cứu ở các ngành, các cơ quan nghiên cứu hoạch định chính sách và chỉ đạo thực tiễn của huyện Thường Tín Cũng như thành phố Hà Nội
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về làng nghề và phát triển làng nghề
Chương 2: Thực trạng của việc phát triển nghề và làng nghề ở Huyện Thường Tín trong thời gian qua
Chương 3: Một số giải pháp nhằm phát triển làng nghề truyền thống Huyện Thường Tín, Hà Nội
Trang 10Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ LÀNG NGHỀVÀ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ
1.1 Lý luận chung về làng nghề và phát triển làng nghề
1.1.1 Khái niệm về làng nghề truyền thống
Trong quá trình phát triển của lịch sử cũng như hiện nay đều cho thấy, làng xã Việt Nam có vị trí hết sức quan trọng trong sản xuất, cũng như đời sống dân cư ở nông thôn Qua thử thách của những biến động thăng trầm, những lệ làng phép nước và phong tục tập quán ở nông thôn vẫn được duy trì, phát triển đến ngày nay
Làng xã Việt Nam được phát triển rất lâu đời, nó thường được gắn chặt với nông nghiệp và kinh tế nông thôn Từ buổi ban đầu, ngay trong một làng, phần lớn người dân đều làm nông nghiệp, cùng với sự phát triển, xuất hiện những bộ phận dân
cư sống bằng nghề khác, họ liên kết chặt chẽ với nhau, hình thành thêm một số tổ chức theo nghề nghiệp tạo thành các làng nghề, phường nghề, xã nghề gắn liền với địa danh của địa phương, từ đó các nghề được lan truyền và phát triển thành làng nghề Bên cạnh những người chuyên làm nghề, thì đa phần vừa sản xuất nông nghiệp, vừa làm nghề (nghề phụ) Nhưng do nhu cầu trao đổi hàng hoá, các nghề mang tính chất chuyên môn sâu hơn và thường được giới hạn trong quy mô nhỏ (làng, xã) dần dần tách khỏi nông nghiệp để chuyển sang nghề thủ công Càng về sau xu thế người lao động tách khỏi đồng ruộng, chuyển sang làm nghề thủ công và sống bằng nghề đó ngày càng nhiều
Như vậy, làng xã Việt Nam là nơi sản sinh ra nghề thủ công truyền thống và các sản phẩm mang nặng dấu ấn tinh hoa của nền văn hoá, văn minh dân tộc Thông qua lệ làng mà làng nghề định ra những quy ước như: không truyền nghề cho người khác làng, không truyền nghề cho con gái, hoặc uống rượu ăn thề không để lộ bí quyết nghề nghiệp … trải qua một thời gian dài của lịch sử, lúc thịnh, lúc suy, có những nghề được lưu giữ, có những nghề bị mai một hoặc mất hẳn và có những nghề mới ra đời, trong đó có những nghề đạt tới trình độ công nghệ tinh xảo với kỹ thuật điêu luyện và phân công lao động khá cao
Trong những năm đổi mới, làng nghề có nhiều cơ hội phát triển mạnh mẽ, đồng thời cũng là lĩnh vực được quan tâm nghiên cứu nhiều hơn Cho đến nay, đã có nhiều khái niệm về làng nghề, làng nghề truyền thống khác nhau, có thể nêu một số khái
Trang 11niệm được tổng hợp từ các nguồn tài liệu: [9], [13], [14,Tr 5],[18,Tr 9], [23]
1.1.1.1.Trước hết là khái niệm về làng nghề
Khái niệm thứ nhất: làng nghề là nơi mà hầu hết mọi người trong làng đều hoạt
động cho nghề ấy và lấy đó làm nghề sống chủ yếu Nhưng với quan niệm như vậy thì làng nghề đó hiện nay không còn nhiều
Khái niệm thứ hai: làng nghề là làng cổ truyền làm nghề thủ công, ở đây không
nhất thiết tất cả dân làng đều sản xuất hàng thủ công Người thợ thủ công nhiều khi cũng là người làm nghề nông Nhưng do yêu cầu chuyên môn hoá cao đã tạo ra những người thợ chuyên sản xuất hàng thủ công truyền thống ngay tại làng nghề hay phố nghề ở nơi khác Khái niệm về làng nghề như vậy là chưa đủ, điều đó nói lên rằng không phải bất cứ làng nào có vài ba lò rèn hay vài ba gia đình làm nghề mộc, nghề dệt … đều là làng nghề Để xác định đó có phải là làng nghề hay không, cần xem xét
tỷ trọng lao động hay số hộ làm nghề so với toàn bộ lao động và hộ ở làng hay tỷ trọng thu nhập từ ngành nghề so với tổng thu nhập của làng
Khái niệm thứ ba: làng nghề là trung tâm sản xuất thủ công, nơi quy tụ các nghệ nhân
và nhiều hộ gia đình chuyên tâm làm nghề truyền thống lâu đời, có sự liên kết hỗ trợ trong sản xuất, bán sản phẩm theo kiểu phường hội, theo kiểu hệ thống doanh nghiệp vừa và nhỏ, có cùng tổ nghề Song ở đây chưa phản ánh đầy đủ tính chất của làng nghề; nó là một thực thể sản xuất kinh doanh tồn tại và phát triển lâu đời trong lịch sử là một đơn vị kinh tế TTCN có tác dụng to lớn đối với đời sống kinh tế - văn hoá - xã hội một cách tích cực
Từ cách tiếp cận trên cho thấy khái niệm về làng nghề liên quan đến các nghề thủ công cụ thể Tên gọi của làng nghề gắn liền với tên gọi của các nghề thủ công như nghề gốm sứ, đúc đồng, khảm trai, kim hoàn, dệt vải, dệt tơ lụa, … Trước đây, khái niệm làng nghề chỉ bao hàm các nghề thủ công nghiệp, ngày nay, khi mà trên thế giới khu vực dịch
vụ đóng vai trò quan trọng và trở thành lĩnh vực chiếm ưu thế về mặt tỷ trọng, thì các nghề dịch vụ trong nông thôn cũng xếp vào các làng nghề Như vậy, trong làng nghề sẽ có loại làng một nghề và làng nhiều nghề, tuỳ theo số lượng ngành nghề thủ công và dịch vụ
có ưu thế trong làng Làng một nghề là làng duy nhất có một nghề xuất hiện và tồn tại, hoặc có một nghề chiếm ưu thế tuyệt đối, các nghề khác chỉ có ở một vài hộ không đáng
kể Làng nhiều nghề là làng xuất hiện và tồn tại nhiều nghề có tỷ trọng các nghề chiếm ưu thế gần như tương đương nhau Trong nông thôn Việt Nam trước đây loại làng một nghề
Trang 12xuất hiện và tồn tại chủ yếu, loại làng nhiều nghề gần đây mới xuất hiện và có xu hướng phát triển mạnh
Từ các khái niệm trên đây, có thể khái quát về làng nghề như sau: làng nghề là một cụm dân cư sinh sống trong một làng (thôn) có một hay một số nghề được tách ra khỏi nông nghiệp để sản xuất kinh doanh độc lập Thu nhập từ các nghề đó chiếm tỷ trọng cao trong tổng giá trị sản phẩm của toàn làng
1.1.1.2 Thứ hai là khái niệm về làng nghề truyền thống
Khái niệm thứ nhất: LNTT là một cộng đồng dân cư, được cư trú giới hạn trong
một địa bàn tại các vùng nông thôn tách rời khỏi sản xuất nông nghiệp, cùng làm một hoặc nhiều nghề thủ công có truyền thống lâu đời để sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm bán ra thị trường để thu lợi Khái niệm này mới thể hiện được yếu tố truyền thống lâu đời của làng nghề, còn những làng nghề mới, nhưng tuân thủ yếu tố truyền thống của vùng hay của khu vực chưa được đề cập đến
Khái niệm thứ hai: LNTT là những làng nghề làm thủ công có truyền thống lâu
năm, thường là qua nhiều thế hệ Khái niệm này cũng chưa đầy đủ Bởi vì khi nói đến LNTT ta không thể chú ý tới các mặt đơn lẻ, mà chú trọng đến nhiều mặt trong cả không gian và thời gian, nghĩa là quan tâm đến tính hệ thống, toàn diện của làng nghề
đó, trong đó yếu tố quyết định là nghệ nhân, sản phẩm, kỹ thuật sản xuất và thủ pháp
nghệ thuật
Khái niệm thứ ba: LNTT là những làng có tuyệt đại dân số làm nghề cổ truyền
Nó được hình thành, tồn tại và phát triển lâu đời trong lịch sử, được nối tiếp từ thế hệ này sang thế hệ khác kiểu cha truyền con nối, hoặc ít nhất cũng tồn tại hàng chục năm Trong làng sản xuất mang tính tập trung, có nhiều nghệ nhân tài ba và một nhóm người có tay nghề giỏi làm hạt nhân để phát triển nghề Đồng thời, sản phẩm làm ra mang tính tiêu biểu độc đáo, tinh xảo, nổi tiếng và đậm nét văn hoá dân tộc Thu nhập
từ nghề chiếm tỷ trọng 60% trở lên trong tổng thu nhập của gia đình và giá trị sản lượng của nghề chiếm trên 50% giá trị của địa phương (thôn, làng)
Khái niệm về LNTT còn có nhiều cách hiểu khác nhau do cách tiếp cận nghiên cứu khác nhau, để làm rõ về LNTT cần có những tiêu chí sau:
- Số hộ và số lao động làm nghề truyền thống ở làng nghề đạt từ 50% trở lên so với tổng số hộ và lao động của làng
Trang 13Giá trị SX và thu nhập từ ngành nghề truyền thống ở làng đạt trên 50% tổng giá trị SX và thu nhập của làng trong một năm
Sản phẩm làm ra có tính mỹ nghệ mang đậm nét yếu tố văn hoá và bản sắc dân tộc Việt Nam
Sản xuất có quy trình công nghệ nhất định, được truyền từ thế hệ này sang thế
hệ khác
Từ cách tiếp cận và nghiên cứu trên có thể định nghĩa: LNTT là những thôn, làng có một hay nhiều nghề thủ công truyền thống được tách ra khỏi nông nghiệp để sản xuất kinh doanh và đem lại nguồn thu chiếm phần chủ yếu trong năm Cùng với thời gian, các làng nghề thủ công này đã trở thành nghề nổi trội, một nghề cổ truyền, tinh xảo, với một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp đã chuyên tâm sản xuất, có quy trình công nghệ nhất định và sống chủ yếu bằng nghề đó Sản phẩm làm ra có tính mỹ nghệ và đã trở thành hàng hoá trên thị trường
1.1.2 Đặc điểm của làng nghề truyền thống
Làng nghề truyền thống có năm đặc điểm chính sau đây:
1.1.2.1 Hoạt động làng nghề truyền thống gắn liền với làng quê và sản xuất nông nghiệp
Xuất phát từ nhu cầu tiêu dùng của xã hội, các nghề thủ công truyền thống dần dần xuất hiện với tư cách là nghề phụ, việc phụ trong các gia đình nông dân và nhanh chóng phát triển ở nhiều làng quê Thời gian người lao động ở làng quê dành cho hoạt động sản xuất nông nghiệp (do ruộng đất bình quân thấp, đặc điểm mùa vụ của cây trồng), năng suất lao động nông nghiệp thấp đã không đảm bảo thu nhập đủ sống cho người nông dân Vì vậy, nhu cầu tạo việc làm để có thêm thu nhập ngoài sản xuất nông nghiệp trở thành cấp thiết Đồng thời, do tính thời vụ của sản xuất nông nghiệp đã tạo
ra một sự dư thừa lao động trong một thời gian nhất định; trong khi đó, ngay trên thị trường địa phương có nhu cầu về sản phẩm tiểu thủ công nghiệp để phục vụ cho tiêu dùng, sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp, nguồn nguyên liệu phục vụ cho các nghề thủ công lại tương đối dồi dào … tất cả những điều đó đã thúc đẩy các hoạt động tiểu thủ công nghiệp, ban đầu phục vụ nhu cầu của gia đình mang tính tự sản tự tiêu, sau phát triển thành hoạt động có quy mô nhiều gia đình cùng tham gia và như vậy LNTT hình
Trang 141.1.2.2 Có truyền thống lâu đời
Đặc trưng của LNTT Việt Nam là có truyền thống lâu đời Theo các tư liệu lịch
sử, thời Phùng Nguyên khoảng năm 3000 trước công nguyên, người Việt cổ đã phát minh và sáng chế ra hầu hết các kỹ thuật chế tác một số công cụ như đồ đá, đồ gốm, … thời Đông Sơn từ năm 3000 đến năm 258 trước công nguyên, người Việt đã phát minh
ra công thức luyện đồng thau, đồng thanh và đúc được trống đồng Đông Sơn, sản phẩm chứng minh cho nghề truyền thống thời bấy giờ Sau đó đến thời kỳ Bắc thuộc, thời kỳ Pháp thuộc các LNTT dần dần định hình và cũng có nhiều biến động Sau ngày hoà bình lập lại ở miền Bắc (1954), giải phóng miền Nam thống nhất đất nước (1975) tới nay, LNTT nước ta chịu nhiều biến động về công nghệ, thị trường, chiến tranh, cơ chế chính sách và có nhiều bước thăng trầm nhất định, có lúc phát triển mạnh mẽ về sản lượng, quy mô, đa dạng hoá các ngành nghề, nhưng có thời kỳ bị tác động mạnh
mẽ bởi các yếu tố và bị mai một Song vào thập niên 80, đầu thập niên 90, do nhiều nguyên nhân khác nhau sản xuất tiểu thủ công nghiệp nói chung, sản xuất ở các LNTT nói riêng giảm sút nghiêm trọng, thậm chí một số LNTT bị tan rã Tới những năm gần đây, LNTT cả nước đang được khôi phục và từng bước phát triển Như vậy, hầu hết các làng nghề, LNTT và các làng nghề mới hoặc các làng nghề mới được phục hồi, tính truyền thống thể hiện rất rõ
1.1.2.3 Có bản sắc văn hoá của Việt Nam
Một đặc điểm khác hết sức quan trọng của LNTT là hàng hoá của làng, đặc biệt
là hàng thủ công mỹ nghệ mang bản sắc truyền thống, có tính khác biệt, tính riêng, mang phong cách của mỗi nghệ nhân và nét văn hoá đặc trưng địa phương, tồn tại trong sự giao lưu với cộng đồng Hàng chạm trổ trên từng chất liệu khác nhau (gỗ, đá, sừng, xương, …), hàng sơn (sơn quang, sơn thếp vàng bạc, sơn mài), hàng thêu, dệt (tơ lụa, chiếu, thảm), hàng mây tre đan, kim hoàn, đồ chơi, … ở mỗi LNTT đều có bản sắc riêng, từng nghệ nhân cũng có những nét riêng Những nét riêng đó được thử thách qua thời gian, qua giao lưu trao đổi được chọn lọc, được thừa nhận để tồn tại và phát triển, cùng với sự bổ sung lẫn nhau, trở thành những kiểu mẫu hoàn thiện, đặc sắc cho những sản phẩm cùng loại được sản xuất, chế tác tiếp sau thể hiện bản sắc độc đáo Việt Nam Chính tính khác biệt mang dấu ấn văn hoá mang lại khả năng cạnh tranh cho sản phẩm LNTT trong quá trình phát triển thị trường ra thế giới
Trang 151.1.2.4 Lao động chủ yếu là thủ công
Trước đây, khi kỹ thuật công nghệ còn thô sơ, lạc hậu thì hầu hết các công đoạn trong quy trình sản xuất đều do lao động thủ công đảm nhận Đặc trưng cơ bản của người thợ thủ công là tự định đoạt lấy mọi công việc kể cả cung ứng nguyên vật liệu
và tiêu thụ sản phẩm Công việc có thể tiến hành độc lập hay cùng với một số người trong gia đình, dòng họ hoặc một số người học việc Công việc này đã thể hiện một tay nghề nhất định, một tài khéo léo riêng biệt, độc đáo, kết hợp với đầu óc sáng tạo và nghệ thuật thông qua lao động bằng tay hoặc bằng máy móc công cụ cơ khí, nửa cơ khí Ngày nay, nhiều LNTT đã biết sử dụng máy móc cơ khí và động lực trong sản xuất Tuy nhiên, dấu ấn lao động thủ công vẫn được giữ gìn và chính tính chất thủ công mang lại đặc thù cho các sản phẩm LNTT
1.1.2.5 Làng nghề truyền thống luôn gắn với tên làng (thương hiệu) và có khả năng tồn tại, phát triển lâu dài
Mỗi LNTT thường gắn liền với địa danh của làng đó để đặt tên cho LNTT của mình như làng tranh Đông Hồ, làng gốm Bát Tràng, làng điêu khắc đá Ngũ Hành Sơn, làng mộc Kim Bồng, đúc đồng Phước Kiều, đan mây Chương Mỹ, tơ lụa Tân Châu, … đây chính là đặc điểm tiêu biểu để phân biệt được sản phẩm riêng có của mỗi LNTT
Sản phẩm của LNTT không chỉ đòi hỏi lao động khéo léo của người thợ mà còn đòi hỏi sự tích luỹ kinh nghiệm qua nhiều thế hệ và những kinh nghiệm này trải qua thời gian đã trở thành bí quyết nghề nghiệp và uy tín thương hiệu LNTT đã tồn tại lâu dài từ đời này sang đời khác là nhờ vào đặc tính này của LNTT Trong thời đại hiện nay, đây chính là thương hiệu, chỉ dẫn địa lý của LNTT Việc bảo vệ thương hiệu, chỉ dẫn địa lý có ý nghĩa rất lớn để giữ gìn danh tiếng, thị phần cho LNTT, từ đó tạo điều kiện phát triển LNTT bền vững
1.1.3 Vai trò của làng nghề truyền thống trong sự phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn
Phát triển nghề và LNTT có vai trò chủ yếu sau:
1.1.3.1 Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn, đa dạng hoá kinh tế nông thôn
Quá trình phát triển các LNTT đã có vai trò tích cực góp phần tăng tỷ trọng sản phẩm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, thu hẹp tỷ trọng sản phẩm nông nghiệp, chuyển lao động từ sản xuất có thu nhập còn rất thấp sang ngành nghề phi
Trang 16nông nghiệp có thu nhập cao hơn Như vậy, khi ngành nghề thủ công hình thành và phát triển thì kinh tế nông thôn không chỉ có ngành nông nghiệp thuần nhất mà bên cạnh là các ngành thủ công nghiệp, thương mại và dịch vụ cùng tồn tại phát triển
Nếu xem xét trên góc độ của sự phân công lao động thì các LNTT đã có tác động tích cực tới sản xuất nông nghiệp Chúng không chỉ cung cấp tư liệu sản xuất cho hoạt động sản xuất nông nghiệp mà còn có tác động chuyển dịch cơ cấu trong nội bộ ngành nông nghiệp Khi các ngành nghề chế biến phát triển, yêu cầu nguyên liệu từ nông nghiệp nhiều hơn, đa dạng hơn và chất lượng cao hơn Do đó, trong nông nghiệp hình thành những bộ phận nông nghiệp chuyên canh hoá, tạo ra năng suất lao động cao
và nhiều sản phẩm hàng hoá [24] Đồng thời, người nông dân trước yêu cầu tăng lên của sản xuất sẽ tự thấy nên đầu tư vào lĩnh vực nào là có lợi nhất Như vậy, quá trình chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp đã được thực hiện dưới tác động của sản xuất
và nhu cầu thị trường
1.1.3.2 Giải quyết việc làm ở nông thôn, tăng thu nhập cho người lao động, giúp chuyển dịch lao động nông nghiệp sang các ngành nghề thủ công và dịch vụ
Yêu cầu phát triển toàn diện kinh tế - xã hội ở nông thôn, tạo việc làm nâng cao đời sống cho dân cư ở nông thôn là vấn đề quan trọng hiện nay ở nước ta Do diện tích đất bị thu hẹp do quá trình đô thị hoá, tỷ lệ thất nghiệp, thiếu việc làm ở khu vực nông thôn còn chiếm tỷ lệ cao (hiện nay chiếm khoảng 30 - 35% lao động nông thôn) nên vấn đề giải quyết việc làm cho lao động nông thôn trở nên hết sức cấp bách, đòi hỏi sự
hỗ trợ về nhiều mặt và đồng bộ của các ngành nghề và lĩnh vực
Theo kết quả điều tra, bình quân mỗi cơ sở chuyên làm nghề ở các làng nghề tạo việc làm ổn định cho 27 lao động thường xuyên và 8-10 lao động thời vụ, mỗi hộ chuyên làm nghề tạo việc làm cho 4-6 lao động thường xuyên và 2-5 lao động thời vụ Đặc biệt, nghề dệt may, thêu ren mỗi cơ sở có thể thu hút khoảng 30-50 lao động, cá biệt có những cơ sở hàng trăm lao động; nhiều LNTT thu hút trên 60% lao động tham gia vào các hoạt động sản xuất [20]
1.1.3.3 Cung cấp một khối lượng hàng hóa cho xã hội góp phần tăng trưởng kinh tế
Khôi phục và phát triển LNTT ở nông thôn sẽ tạo điều kiện cho việc huy động một cách tối đa mọi nguồn lực sẵn có ở khu vực nông thôn như nguồn lực tự nhiên, nguồn lực cơ sở vật chất kỹ thuật, tiềm năng vốn, các nguyên liệu sẵn có ở địa phương
… phục vụ vào sản xuất Do đó, sản xuất được đẩy mạnh và tạo ra ngày càng nhiều
Trang 17hàng hoá có chất lượng cao, đa dạng phục vụ cho nhu cầu sản xuất và đời sống Mặt khác, sản xuất trong các LNTT thường tương đối năng động và gắn chặt chẽ với nhu cầu thị trường, vì vậy mà sản xuất của LNTT mang tính chuyên môn hoá và đa dạng hoá cao hơn so với sản xuất nông nghiệp Điều này dẫn đến tỷ trọng sản phẩm hàng hoá ở các LNTT thường cao hơn rất nhiều so với các làng thuần nông và khối lượng sản xuất hàng hoá sản xuất ra cũng lớn hơn nhiều
Sản phẩm của LNTT có giá trị kinh tế và xuất khẩu, nên việc phát triển LNTT góp phần cùng sản xuất nông nghiệp làm tăng trưởng kinh tế ở nông thôn Người có trí tuệ, có vốn thì làm chủ hoặc thợ cả, người không có vốn, trình độ thì làm những công việc giản đơn, phục vụ hoặc dịch vụ Cho nên phát triển LNTT là thực hiện chủ trương xoá đói giảm nghèo trong nông thôn
1.1.3.4 Tận dụng nguồn lực, phát huy thế mạnh nội lực của địa phương
Nguồn nhân lực là một trong những nguồn lực quan trọng của sự phát triển Nguồn lực của LNTT bao gồm những nghệ nhân, những người thợ thủ công và những chủ cơ sở sản xuất kinh doanh Khả năng cạnh tranh, sức sống của không ít sản phẩm LNTT như: tơ lụa, dệt thổ cẩm, rèn, sản xuất gạch ngói, mộc dân dụng, đóng xuồng ghe chủ yếu dựa vào tài hoa, kinh nghiệm, tay nghề của người lao động
Mỗi LNTT thường có những thợ cả, nghệ nhân bậc thầy, họ giữ vai trò quan trọng trong việc giữ nghề, truyền nghề Tuy nhiên, số lượng những người giỏi nghề ngày một ít đi Trong khi đó kinh nghiệm nghề nghiệp được coi là bí mật, chỉ được truyền cho con cháu trong gia đình, dòng họ [8] Điều này cản trở không nhỏ đến chất lượng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm Bên cạnh đó, các nghề thủ công cho phép khai thác triệt để hơn các nguồn lực của địa phương, cụ thể là nguồn lao động, tiền vốn LNTT có thể làm được điều này vì nó có quy mô nhỏ và vừa dễ dàng thay đổi, chuyển hướng kinh doanh phù hợp hơn
Một khi LNTT ở nông thôn phát triển mạnh, nó sẽ tạo ra một đội ngũ lao động
có tay nghề cao và lớp nghệ nhân mới Thông qua lực lượng này để tiếp thu những tiến
bộ kỹ thuật và công nghệ tiên tiến áp dụng vào sản xuất, làm cho sản phẩm có chất lượng cao, giá thành giảm, khả năng cạnh tranh trên thị trường lớn Như vậy, các nghề thủ công phát triển mạnh nó càng có điều kiện để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng ở nông thôn Hơn nữa, khi cơ sở vật chất kỹ thuật được tăng cường và hiện đại, chính là
Trang 18tạo điều kiện cho đội ngũ lao động thích ứng với tác phong công nghiệp, nâng cao tính tổ chức, tính kỷ luật Đồng thời, trình độ văn hoá của người lao động ngày một nâng cao, lại
là cơ sở thuận lợi cho việc đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ vào lĩnh vực sản xuất và hoạt động dịch vụ trong LNTT Bởi vậy, phát triển LNTT trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế tuỳ thuộc rất nhiều vào việc xây dựng đội ngũ nghệ nhân, thợ giỏi và việc truyền nghề cho những lao động trẻ tuổi
1.1.3.5 Khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống góp phần bảo tồn giá trị văn hoá dân tộc của địa phương
Khai thác được tiềm năng cũng như phát huy được lợi thế so sánh, lợi thế nhờ quy
mô ở từng vùng, từng địa phương góp phần thực hiện thành công sự nghiệp CNH, HĐH đất nước nói chung và CNH, HĐH nông thôn nói riêng
Như vậy, LNTT không chỉ là nơi sản xuất ra hàng hoá mà còn chứa đựng những tiềm ẩn giá trị văn hoá tinh thần, truyền thống văn hoá của dân tộc được lưu truyền bao đời nay Ngày nay, trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, thì việc phát triển LNTT còn là cơ sở để tổ chức du lịch làng nghề thu lợi nhuận cao, có khả năng thu hút đông đảo du khách tìm hiểu, chiêm ngưỡng những nét văn hoá, những sản phẩm truyền thống của dân tộc
1.1.4 Sự cần thiết phải phát triển làng nghề truyền thống trong nền kinh tế thị trường
Trong giai đoạn nền kinh tế kế hoạch, tập trung bao cấp do cơ chế quản lý, các
hộ gia đình, các làng nghề không được tự do kinh doanh, sản xuất mà phải gia nhập các HTX tiểu thủ công nghiệp Vì thế, LNTT không được phát triển và có phần mai một, hệ thống HTX tiểu thủ công nghiệp hoạt động kém hiệu quả và bắt đầu tan rã dần vào thời kỳ bắt đầu đổi mới nền kinh tế
Chuyển sang nền kinh tế thị trường, cá nhân, hộ gia đình được tự do đầu tư và sản xuất kinh doanh những sản phẩm mà pháp luật không cấm; được bình đẳng trước pháp luật Nhiều LNTT được khôi phục và phát triển mạnh mẽ, trở thành một xu hướng phát triển tất yếu là do:
Thứ nhất, môi trường sản xuất kinh doanh thuận lợi, cơ chế quản lý của Nhà
nước thay đổi đã cho phép mọi cá nhân, hộ gia đình tự do đầu tư sản xuất kinh doanh, các thành phần kinh tế được bình đẳng trước pháp luật; Do đó, các DNTN, Công ty
Trang 19TNHH, CTCP được ra đời và phát triển Hệ thống pháp luật được xây dựng và hoàn thiện đã cởi trói cho cá nhân và doanh nghiệp, mở đường cho sản xuất phát triển dẫn đến LNTT ở nông thôn cũng được phát triển Nhà nước đầu tư cơ sở hạ tầng như đường giao thông, cầu cống, điện nước, bưu chính viễn thông, trường học, trạm y tế … tạo điều kiện thuận lợi trong giao lưu trao đổi hàng hoá, mở rộng các loại thị trường hàng hoá, lao động, tài chính …
Thứ hai, phát triển LNTT gắn với lợi ích, đời sống thiết thực của nông dân
Xuất phát từ lợi ích cá nhân, hộ gia đình vì mục tiêu lợi nhuận mà bản thân LNTT tự
nó phát triển Mặt khác, trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường, Đảng và Nhà nước đã quan tâm nhiều đến sự phát triển nông nghiệp, nông thôn trong đó có LNTT nhằm mục tiêu nhanh chóng nâng cao đời sống của nông dân, giảm nhanh khoảng cách giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị Những chủ trương, đường lối, chính sách đó là động lực thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển, đa dạng hoá sản xuất kinh doanh, đa dạng hoá sản phẩm của LNTT Trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn, tiến bộ KHCN, máy móc hiện đại được đưa vào sử dụng trong sản xuất nông nghiệp, sản xuất ngành nghề góp phần giải phóng sức lao động, nâng cao trình độ sản xuất
và năng suất lao động; Từ đó, tạo ra một bộ phận lao động, một bộ phận thời gian dư thừa trong nông nghiệp, đòi hỏi phải giải quyết công ăn việc làm cho bộ phận dư thừa đó Phát triển sản xuất kinh doanh các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp trong nông thôn sẽ giải quyết việc làm cho lượng lao động dư thừa và thời gian nhàn rỗi của nông dân, góp phần nâng cao đời sống của nông dân Sự phát triển của LNTT chính là sự phát triển tiểu thủ công nghiệp, là cơ sở cho sự phát triển công nghiệp nông thôn, hình thành các khu đô thị góp phần thay đổi cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp, từng bước chuyển nền kinh tế nông nghiệp nước ta sang nền kinh tế chủ yếu là công nghiệp
Thứ ba, gắn liền với việc giữ gìn thương hiệu sản phẩm, giữ gìn bản sắc văn
hoá dân tộc, bởi vì: Lịch sử phát triển kinh tế cũng như lịch sử của nền văn hoá Việt Nam luôn gắn liền với lịch sử phát triển làng nghề, “Mỗi một làng nghề là một địa chỉ văn hoá nó phản ánh nét văn hoá độc đáo của từng địa phương, từng vùng” LNTT thể hiện những nét văn hoá độc đáo qua từng sản phẩm, qua các lễ hội và phong tục tập quán ứng xử làng nghề Bởi LNTT với những sản phẩm làm bằng tay, chất liệu, hoa
Trang 20văn Việt Nam là biểu tượng cho di sản văn hoá Việt Nam, những chất liệu, kiểu dáng
và từng chi tiết khéo léo tinh xảo trên các sản phẩm thủ công chính là nơi chuyển tải các sắc thái văn hoá địa phương và góp phần làm nên bản sắc văn hoá dân tộc LNTT
là nơi tổ chức các lễ hội thường niên để tưởng nhớ và bày tỏ lòng biết ơn các vị tổ nghề, nhắc nhở thế hệ sau lòng tôn kính, tự hào với những giá trị nghề nghiệp mà cha ông ta để lại và khuyến khích sự truyền nghề kế tục Chẳng hạn, tơ lụa Tân Châu, dệt thổ cẩm Châu Phong (huyện Tân Châu, tỉnh An Giang), tranh Đông Hồ; Lễ hội ở Bát Tràng thường diễn ra từ 14 đến 22 tháng 02 âm lịch hàng năm việc tế tự ở đình, rước
lễ trên sông và quanh làng … Các cuộc thi văn, thơ và đặc biệt là tay nghề, thử tài là sinh hoạt văn hoá rất sôi động và thể hiện giá trị văn hoá truyền thống, là dấu ấn văn hoá dân gian Những sản phẩm của các LNTT sản xuất ra mang tính nghệ thuật cao, mang đặc tính riêng của từng LNTT và những sản phẩm có “hàm lượng” văn hoá đậm đặc, chính những sản phẩm đó đã vượt qua giá trị văn hoá đơn thuần trở thành những
sản phẩm văn hoá mang truyền thống dân tộc
1.2 Các nhân tố tác động tới sự phát triển làng nghề truyền thống
1.2.1 Tác động của quản lý nhà nước tới phát triển làng nghề, làng nghề truyền thống
1.2.1.1 Tác động của yếu tố cơ chế chính sách trong việc phát triển làng nghề, làng nghề truyền thống
Sự phát triển LNTT một cách tự phát, không có tổ chức, quản lý của Nhà nước thì gây ô nhiễm, tàn phá môi trường, gây hậu quả nghiêm trọng về kinh tế, văn hoá, xã hội và môi trường Không có sự quản lý của Nhà nước, LNTT tự do cạnh tranh, chẳng những không phát triển mà còn kìm hãm sự phát triển, không nâng cao được năng lực cạnh tranh của LNTT với thị trường trong và ngoài nước Nhà nước không tổ chức, không quản lý phát triển của LNTT sẽ không thu được thuế, không có điều kiện để phát triển cơ sở hạ tầng Cơ chế chính sách phù hợp với thực tế sẽ thúc đẩy LNTT phát triển và ngược lại cơ chế chính sách đi ngược lại với lợi ích nhân dân sẽ kìm hãm sự phát triển của LNTT Cơ chế là chủ trương, định hướng của Đảng, gắn liền với ý chí chủ quan của con người Chủ trương, định hướng được xác định trên cơ sở căn cứ khoa học và thực tiễn mới tạo ra cơ chế khách quan, phù hợp quy luật và tác động tích cực đến LNTT và ngược lại Chính sách là cụ thể hoá của cơ chế nhằm hướng dẫn hoạt động của LNTT đi đúng hướng, đúng quỹ đạo
Trang 21Trong quá trình CNH, HĐH nông thôn làng nghề luôn giữ một vị trí quan trọng, luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, đề cập nhiều qua các kỳ đại hội Nghị quyết Đại hội VIII của ĐCSVN đã xác định: “Phát triển các ngành nghề, LNTT và các ngành nghề mới bao gồm tiểu thủ công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu …” [6, tr.45]
Đại hội IX của ĐCSVN tiếp tục nhấn mạnh: “Phát triển mạnh công nghiệp và dịch vụ nông thôn, hình thành các khu vực tập trung công nghiệp, các điểm công nghiệp ở nông thôn, các làng nghề gắn với thị trường xuất khẩu …” [7, tr.172]
Để cụ thể hoá quan điểm của Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách và luật pháp có liên quan đến phát triển làng nghề, LNTT như Luật Đất đai, Luật Thuế sử dụng đất nông nghiệp, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư … các chính sách tín dụng, chính sách đầu tư, đặc biệt là quyết định số 132/2000/QĐ-TTg ngày 24 tháng 11 năm 2000 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn
đã tạo động lực cho LNTT phát triển Qua đó, cho thấy Đảng, Nhà nước đánh giá cao vai trò của làng nghề và coi trọng việc phát triển LNTT ở nông thôn Nội dung cụ thể sau:
Nhà nước cho phép chuyển một phần diện tích đất nông nghiệp, lâm nghiệp để phát triển ngành nghề nông thôn
Lập quy hoạch, kế hoạch phát triển các vùng nguyên liệu nông, lâm, thuỷ sản
để đảm bảo nguồn nguyên liệu tại chỗ, ổn định cho ngành nghề nông thôn phát triển
Cơ sở ngành nghề nông thôn được vay vốn của các tổ chức tín dụng dưới hình thức bảo lãnh bằng tín chấp của tổ chức đoàn thể chính trị, xã hội theo quy định tại Điều 26 của Nghị định số 178/1999/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 1999 về bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng
Cơ sở ngành nghề nông thôn được giảm 50% trở lên về chi phí thuê diện tích tham gia hội chợ, triển lãm giới thiệu sản phẩm trong nước Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi và tài trợ một phần chi phí cho các cơ sở ngành nghề nông thôn
và nghệ nhân được tham quan, học tập, tham gia hội chợ triển lãm, giới thiệu sản phẩm
và tìm hiểu thị trường ở nước ngoài
Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường tổ chức, chỉ đạo và dành nguồn kinh phí cần thiết trong kế hoạch hằng năm cho việc nghiên cứu, đổi mới công nghệ, cải tiến mẫu mã, sử dụng các nguồn nguyên liệu trong nước; hướng dẫn việc áp dụng các
Trang 22loại công nghệ phù hợp để nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành, đa dạng hoá sản phẩm, nâng cao giá trị sản phẩm làng nghề; nghiên cứu và chuyển giao công nghệ xử
lý chất thải, giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trường trong ngành nghề nông thôn
Ưu tiên đào tạo và sử dụng lao động đối với những hộ gia đình mà Nhà nước thu hồi đất để phát triển ngành nghề, lao động là người địa phương Khuyến khích các nghệ nhân, HTX, tổ chức, hiệp hội mở các lớp truyền nghề, dạy nghề cho lao động
Nghị định số 134 của Chính phủ ngày 09 tháng 6 năm 2004 về “Khuyến khích phát triển công nghiệp nông thôn” (được gọi là hoạt động Khuyến công), bao gồm những nội dung cụ thể sau:
Hướng dẫn, hỗ trợ tổ chức, cá nhân khởi sự doanh nghiệp lập dự án đầu tư phát triển công nghiệp nông thôn, tìm kiếm mặt bằng sản xuất, tuyển dụng, đào tạo lao động, huy động vốn, xin ưu đãi đầu tư và các thủ tục hành chính khác theo đúng quy định của pháp luật, phù hợp với quy hoạch phát triển công nghiệp theo vùng, lãnh thổ
và địa phương
Hướng dẫn, tư vấn cơ sở sản xuất công nghiệp nông thôn đầu tư xây dựng dây chuyền sản xuất mới, mở rộng quy mô sản xuất, đổi mới và ứng dụng tiến bộ KHCN, nâng cao năng lực sản xuất, quản lý chất lượng sản phẩm và bảo vệ môi trường
Tổ chức đào tạo nghề, truyền nghề và phát triển nghề
Hỗ trợ cung cấp thông tin, tiếp thị, tìm kiếm thị trường, đối tác kinh doanh và
tổ chức triển lãm, hội chợ và giới thiệu sản phẩm
Tổ chức các hoạt động trao đổi kinh nghiệm, tham quan, khảo sát; hỗ trợ tạo điều kiện để các cơ sở sản xuất công nghiệp nông thôn liên doanh, liên kết hợp tác kinh tế, tham gia các hiệp hội ngành nghề
Xây dựng mô hình trình diễn kỹ thuật, chuyển giao công nghệ và thực hiện dịch
vụ tư vấn KHCN để hỗ trợ tổ chức, cá nhân đầu tư sản xuất công nghiệp nông thôn
Thông tư số 03 của Bộ Công nghiệp ngày 23 tháng 6 năm 2005 về “Hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định 134/NĐ-CP của Chính phủ về khuyến khích phát triển công nghiệp nông thôn” Nội dung tóm tắt của hoạt động Khuyến công được thực hiện dưới các hình thức sau:
Tổ chức các lớp, khoá đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn, truyền nghề
Tổ chức các điểm tư vấn hoặc tiến hành tư vấn trực tiếp tại cơ sở sản xuất công nghiệp nông thôn
Trang 23Trực tiếp hỗ trợ cơ sở sản xuất công nghiệp nông thôn lập dự án khởi sự doanh nghiệp, đầu tư mở rộng sản xuất sản phẩm mới, đổi mới và ứng dụng tiến bộ KHCN, nâng cao năng lực sản xuất, quản lý chất lượng sản phẩm và bảo vệ môi trường
Hỗ trợ việc chuyển giao công nghệ có kèm theo đào tạo cho cơ sở sản xuất công nghiệp nông thôn
Xây dựng mô hình trình diễn và tổ chức trình diễn kỹ thuật để phổ biến công nghệ mới, sản xuất sản phẩm mới và nhân rộng các mô hình tốt đã có
Tổ chức, hỗ trợ cơ sở sản xuất công nghiệp nông thôn tham gia hội chợ, triển lãm, tham quan, khảo sát, học tập trao đổi kinh nghiệm, liên doanh liên kết, hợp tác kinh tế và tham gia các hiệp hội ngành nghề
Hỗ trợ cung cấp thông tin, tìm kiếm thị trường, tìm kiếm đối tác kinh doanh
Các hình thức Khuyến công khác phù hợp với các hoạt động quy định tại Điều
Chương trình bảo tồn, phát triển làng nghề gắn với phát triển du lịch
Xây dựng cụm tiểu thủ công nghiệp, làng nghề tập trung
Hỗ trợ xử lý môi trường, tiếp cận tín dụng
Thực hiện các chương trình xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu
tố này có tác động mạnh mẽ tới yếu tố tâm lý sản xuất nhỏ của người sản xuất, tới việc
Trang 24phát triển LNTT
1.2.1.3 Xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển làng nghề, LNTT
Quy hoạch, kế hoạch xây dựng các khu, cụm công nghiệp có cơ sở khoa học trong tổng thể nhằm đạt mục tiêu phát triển bền vững, lâu dài Trên cơ sở quy hoạch
đó mà có kế hoạch thực hiện từng giai đoạn, từng thời kỳ nhằm đảm bảo những chuẩn mực đã đặt ra Có quy hoạch, LNTT mới đủ điều kiện để phát triển, có điều kiện mở rộng quy mô, áp dụng được công nghệ hiện đại vào sản xuất, nâng cao năng lực cạnh tranh; các chính sách hỗ trợ vay vốn ưu đãi hoặc đền bù đất đai của Nhà nước phù hợp với thực tế và lợi ích của nhân dân thì việc xây dựng và phát triển LNTT được thực hiện nhanh chóng Mặt khác, có quy hoạch Nhà nước mới kiểm tra, kiểm soát được sự phát triển cũng như khắc phục được tình trạng sản xuất nhỏ, tự phát của các LNTT, từ
đó có chính sách điều chỉnh phù hợp
1.2.1.4 Tổ chức gắn kết các ngành du lịch, văn hoá với các làng nghề truyền thống
Là một trong những xu hướng được quan tâm trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Tiềm năng du lịch ở các LNTT hiện nay là rất lớn; Mỗi LNTT gắn với một vùng văn hoá, hệ thống di tích và truyền thống riêng, với cung cách sáng tạo sản phẩm riêng Việc du khảo các LNTT là để thấy rõ bản sắc cũng như đặc trưng kinh tế, văn hoá của mỗi vùng Vì vậy, một số LNTT đã phát triển hình thức này, coi đây là một trong những cách thức nhằm giới thiệu, quảng cáo làng nghề và sản phẩm truyền thống, qua đó tạo lập thị trường tiêu thụ sản phẩm Dệt thổ cẩm Châu Phong, tơ lụa Tân Châu, đan đát, mộc chạm trổ mỹ nghệ, mộc dân dụng, đóng xuồng ghe, sản xuất gạch ngói, rập chuột, lưỡi câu, khô cá sặc bổi … đã thực sự thu hút khách tham quan,
du lịch, tìm hiểu sản phẩm truyền thống, quy trình và phương pháp sản xuất, tìm hiểu thị trường và ký kết hợp đồng kinh tế Có thể nói rằng, phát triển tiềm năng du lịch ở các LNTT là một xu hướng rất cần được quan tâm
1.2.1.5 Tạo điều kiện về đầu vào, đầu ra cho sản phẩm
Đây là yếu tố quan trọng có ảnh hưởng không nhỏ tới sản xuất của các LNTT Trong những giai đoạn trước đây, nguồn nguyên vật liệu được coi là một trong những điều kiện tạo nên sự hình thành và phát triển của các LNTT bởi việc hỗ trợ tích cực của các phương tiện giao thông và phương tiện kỹ thuật Tuy nhiên, vấn đề khối lượng,
Trang 25chất lượng, số lượng, chủng loại và khoảng cách của các nguồn nguyên vật liệu này vẫn có những ảnh hưởng nhất định tới chất lượng và giá thành sản phẩm Cho đến nay nguồn nguyên liệu cung cấp cho một số LNTT vẫn phong phú, đặc biệt là nguyên liệu cho các nghề chế biến lương thực, thực phẩm Nhưng đối với nhiều nghề khác thì nguồn nguyên liệu lại là một khó khăn gây nhiều cản trở tới sản xuất do nguồn nguyên vật liệu đang bị cạn dần đi không đủ đáp ứng nhu cầu thị trường
1.2.2 Các nhân tố của bản thân các làng nghề
1.2.2.1 Nhân tố truyền thống của từng hộ gia đình
LNTT thường gắn với những kinh nghiệm truyền thống, cha truyền con nối, do
đó đã xuất hiện nhiều nghệ nhân tài hoa Tính truyền thống của làng nghề tạo nên uy tín lan truyền qua bao thế hệ trong phạm vi rộng lớn, do đó nó tự phát hình thành thị trường cung ứng vật tư, lao động, tiền vốn và thị trường tiêu thụ sản phẩm Đây là yếu
tố tác động cản trở việc di chuyển LNTT đến một địa điểm mới, một khu mới tách biệt dân cư để xây dựng mô hình cụm công nghiệp làng nghề Ngày nay, một số địa phương đã hình thành nhiều làng nghề mới, nhưng làng nghề này nằm xung quanh LNTT đóng vai trò là vệ tinh, là nơi sản xuất gia công cho LNTT, vấn đề tiêu thụ của làng nghề này rất khó khăn
Sản xuất LNTT có nguồn gốc từ nghề tiểu thủ công nghiệp được tách ra từ sản xuất nông nghiệp Lúc đầu người nông dân chỉ tận dụng thời gian lao động nhàn rỗi trong lao động sản xuất nông nghiệp để sản xuất sản phẩm phục vụ cuộc sống và lao động sản xuất của họ Vì thế, sản xuất LNTT mang tính chất sản xuất nhỏ, manh mún
tự phát với kỹ thuật thô sơ, lạc hậu Tính chất này đã ăn sâu trong tâm trí người nông dân và trở thành yếu tố tâm lý Yếu tố này tác động cản trở đến việc xây dựng LNTT với quy mô, máy móc hiện đại và tập trung theo hướng phát triển bền vững Yếu tố tâm lý sản xuất nhỏ biểu hiện ở chỗ họ không muốn và không có vốn đầu tư xây dựng
và sản xuất, không dám vay vốn để mở rộng quy mô; không muốn rời bỏ lối sống tự
do cá nhân, tự phát để vào cụm công nghiệp LNTT, chịu sự kiểm soát của chính quyền, chịu đóng thuế Nhà nước, …
Cơ sở vật chất của các LNTT đều do cá nhân, hộ gia đình đầu tư xây dựng một cách tự phát tuỳ theo khả năng sản xuất, lao động và tiền vốn của từng hộ gia đình Từ
Trang 26việc mua máy móc thiết bị, xây dựng nhà xưởng, cung ứng nguyên vật liệu đến việc tổ chức tiêu thụ cũng đều do người nông dân tự phát xây dựng, không theo quy hoạch, không tính đến tác hại của những người xung quanh, chỉ miễn sao có lợi cho gia đình của họ Như vậy, tính cộng đồng trong các LNTT thường không có, nếu có là tính gia đình, dòng họ Khi xây dựng cụm công nghiệp LNTT theo hướng phát triển bền vững tức là có quy hoạch, có kế hoạch của chính quyền, của pháp luật; người nông dân phải rời bỏ, tháo dỡ cơ sở vật chất cũ của mình để xây dựng mới theo quy hoạch của Nhà nước Điều đó gặp trở ngại lớn ở chỗ người dân phải bỏ cũ, xây mới sẽ không có đủ vốn để làm Mặt khác, trước đây gia đình tận dụng đất đai, lao động của mình và không phải đóng thuế Nhà nước, nay phải thuê đất, thuê lao động và phải đóng thuế sản xuất kinh doanh Đây là một một yếu tố tác động cản trở việc xây dựng và phát triển LNTT theo hướng phát triển bền vững
1.2.2.2.Bảo vệ môi trường để phát triển bền vững
Trong điều kiện đó LNTT phải có năng lực cạnh tranh mới có thể phát triển được nhưng cạnh tranh phải gắn với vấn đề môi trường và xã hội Sở dĩ như vậy, vì quá trình tự do hoá thương mại và toàn cầu hoá đang có xu hướng xoá dần đi các hàng rào thuế quan và phi thuế quan thông thường và thay vào đó là hàng rào quy định về môi trường và sức khoẻ Các ngân hàng nước ngoài sẽ đầu tư vào Việt Nam 100% vốn
và có xu hướng ràng buộc các khoản vay với những chứng chỉ về môi trường Như vậy, để duy trì tăng trưởng cao và ổn định của LNTT không chỉ đơn thuần là kinh tế
mà còn những vấn đề môi trường và xã hội
Phát triển LNTT gắn với mục tiêu thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ
và phát triển bản sắc văn hoá dân tộc Việc tăng trưởng kinh tế của các LNTT đóng góp to lớn vào gia tăng thu nhập bình quân đầu người Thu nhập tăng làm tăng nhu cầu tiêu dùng cho sản xuất và đời sống, dịch vụ phát triển Việc sử dụng máy móc thiết bị vào sản xuất của các LNTT góp phần giải quyết việc làm cho bộ phận lớn lao động nông thôn, thực hiện được việc xoá đói giảm nghèo Điều đó tác động ảnh hưởng tới
sự thay đổi văn hoá truyền thống, phong tục tập quán của LNTT Cho nên để duy trì sự phát triển của LNTT yêu cầu sự phát triển phải gắn liền với sự thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và duy trì, bảo tồn và phát triển văn hoá truyền thống, phong tục tập quán
Trang 27Việc phát triển sản xuất LNTT đòi hỏi phải cung ứng nhiều nguyên vật liệu, nhiều sản phẩm công nghiệp Sản xuất tiểu thủ công của LNTT phần lớn sử dụng lao động thủ công và công nghệ thô sơ, kỹ thuật lạc hậu, mang tính sản xuất nhỏ, do đó gây tốn kém, lãng phí nhiều nguyên vật liệu Điều đó dẫn đến phải khai thác tài nguyên thiên nhiên nhiều hơn, gây cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, việc tái tạo tài nguyên thiên nhiên không kịp với khai thác, đã gây tác động to lớn đến môi trường tự nhiên và môi trường sống của con người Mặt khác, chính lao động thủ công với công nghệ thô sơ, lạc hậu đã tạo ra lượng phát thải rất lớn, nhưng thiếu các biện pháp thích hợp để xử lý chất thải là nguyên nhân trực tiếp gây ra ô nhiễm môi trường sống Sự phát triển của LNTT dẫn tới sự đô thị hoá, thay đổi cơ cấu kinh tế nông thôn, nhu cầu tiêu dùng của đời sống dân cư ở nông thôn ngày càng gia tăng, song cùng vấn đề này
là ý thức, nếp sống của người dân trong LNTT bị thay đổi theo nền kinh tế thị trường, dẫn đến phát thải, gây ô nhiễm môi trường sống ngày càng gia tăng Vì vậy, để phát triển bền vững LNTT cần phải gắn với việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên tiết kiệm
có hiệu quả, phải gắn với việc xử lý chất thải và quản lý môi trường chặt chẽ Muốn vậy, đòi hỏi các cấp, các ngành, các địa phương phải có quy hoạch, khai thác tài nguyên, phải quy hoạch xây dựng LNTT thành những cụm công nghiệp LNTT, gắn với việc sử dụng máy móc hiện đại, xử lý chất thải hợp lý nhằm bảo vệ môi trường tự nhiên và môi trường sống Quản lý và kiểm soát môi trường LNTT phải do chính các
hộ gia đình, các doanh nghiệp thực hiện, không ai có thể làm thay và làm tốt hơn họ
Vì vậy, mọi người dân phải nhận thức được và có năng lực tự điều chỉnh và kiểm soát môi trường Điều đó, đòi hỏi các cấp chính quyền địa phương phải tăng cường giáo dục cho người dân nông thôn nhận thức được ý thức trách nhiệm trước cộng đồng;
Trang 281.3 Những bài học kinh nghiệm về phát triển làng nghề
Ở các quốc gia khác nhau, vai trò và kinh nghiệm phát triển làng nghề ở nông thôn khác nhau Để có được cái nhìn đầy đủ hơn, từ đó rút ra những kinh nghiệm có thể áp dụng vào điều kiện Việt Nam, chúng ta xem xét sự phát triển của làng nghề ở một số quốc gia có trình độ kinh tế khác nhau, từ đó rút ra những kinh nghiệm hữu ích cho Việt Nam cụ thể ở đây là huyện Thường Tín
1.3.1 Kinh nghiệm của Nhật Bản
Nhật bản tiến hành CNH từ nền nông nghiệp cổ truyền Trong quá trình CNH, Nhật bản đã mở mạng lưới công nghiệp gia đình phân tán ở nông thôn làm về tinh cho các xí nghiệp lớn ở đô thị Vừa duy trì và phát triển các ngành nghề cổ truyền, Nhật Bản vừa mở ra các ngành nghề mới, trước hết là các hoạt động dịch vụ kinh tế kỹ thuật
ở nông thôn, huy động thêm lao động nông thôn vào các hoạt động kinh tế ngoài nông nghiệp để nâng cao thu nhập của cư dân ở nông thôn, thúc đẩy nông nghiệp nông thôn phát triển Các ngành nghề thủ công ở nông thôn, các làng nghề truyền thống vẫn được duy trì và phát triển trong quá trình CNH Đến cuối thế kỷ XX, Nhật Bản có 876 nghề TTCN Sản phẩm của nghề Sơn mài cổ truyền không chỉ phục vụ trong nước mà còn xuất khẩu ra nhiều nước trên thế giới Đặc biệt chất liệu sơn son để làm tranh sơn mài nghệ thuật của Nhật được người làm tranh trên thế giới rất ưa chuộng Vào những năm 1970 ở tỉnh OITA đã có phong trào “mỗi thôn làng một sản phẩm”, nhằm phát triển ngành nghề
cổ truyền ở nông thôn Với kết quả rất khả quan ngay từ những năm đầu tiên sản xuất ra
143 loại sản phẩm cho các ngành nghề doanh thu cho đến năm 1992 là hơn 1,2 tỷ USD Phong trào này đã nhanh chóng lan rộng khắp nước Nhật, thu nhập từ làm nghề thủ công
và các hoạt động phi nông nghiệp khác ở Nhật chiếm 85 % tổng thu nhập của nông dân Nhật Năm 1993 nghề thủ công ở Nhật đã đạt giá trị sản lượng 8,1 tỷ USD Làng nghề Nhật Bản còn là nơi tham quan du lịch lý thú cho khách du lịch trong và ngoài nước Xây dựng các xí nghiệp công nghiệp vừa và nhỏ, các cơ sở công nghiệp gia đình ở nông thôn
là hình thức sản xuất công nghiệp được tổ chức đầu tiên ở Nhật
1.3.2 Kinh nghiệm về phát triển làng nghề của Bát Tràng
Bát Tràng là làng gốm lâu đời và lừng danh nhất ở Việt Nam, nghề gốm ở Bát Tràng cũng hết sức nổi tiếng, địa danh gốm Bát Tràng đã đi vào ca dao và thơ:
Trang 29Ước gì anh lấy được nàng
Để anh mua gạch Bát Tràng về xây Chiếu Nga Sơn, gạch Bát Tràng Vải tơ Nam Định, lụa hàng Hà Đông Chúng ta có thể thấy rằng hiếm có một làng nghề nào khác ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, mở cửa và sản xuất kinh doanh theo cơ chế thị trường hiện nay lại có nhiều công ty, xí nghiệp như gốm sứ Bát Tràng Trong thời kỳ đổi mới ở riêng Bát tràng đã có hơn 200 công ty và xí nghiệp đơn vị sản xuất kinh doanh và dịch vụ gốm Sản xuất mở rộng thu hút nhiều họa sĩ, kỹ sư từ các nơi đến làm việc tại Bát Tràng Hiện nay ở Bát Tràng phần lớn các hộ làm gốm đều có tới vài ba lò gốm và sản xuất liên tục trong cả năm Mức thu nhập bình quân các hộ trung bình từ 70-85 triệu đồng Sản phẩm ở làng nghề này đã xuất khẩu đi nhiều nước, đóng góp hàng chục triệu đôla
Mỹ mỗi năm vào ngân sách nhà nước
Trong những năm gần đây, nhờ chất lượng và mẫu mã phong phú, các sản phẩm gốm sứ Bát Tràng đáp ứng được thị hiếu của người tiêu dùng trong và ngoài nước nên sản xuất phát triển ngày càng mạnh Sự thích ứng nhanh nhạy với thị hiếu của người tiêu dùng trong nước và nước ngoài đã giúp cho sản phẩm gốm sứ của Bát Tràng có mặt ở hàng chục nước trên thế giới kể cả những thị trường khó tính như Nhật Bản, Mỹ, Hàn Quốc với doanh thu xuất khẩu hằng năm bình quân đạt khoảng 15 triệu USD Hiện cả làng có gần 100 doanh nghiệp vừa và nhỏ khoảng 1500 hộ gia đình chiếm hơn 60% số hộ trong xã sống bằng nghề sản xuất kinh doanh đồ gốm sứ mỹ nghệ
Một mặt với sự phát triển của mình làng gốm Bát Tràng đã trở thành hình mẫu cho các làng nghề thủ công mỹ nghệ trong việc giải quyết tình trạng thiếu việc làm tại khu vực nông thôn Một thành công đáng kể nữa là sự đầu tư trong việc quảng bá thương hiệu gốm sứ Bát Tràng qua trung tâm xúc tiến xuất khẩu Bát Tràng được thành lập năm 2004 giữa hiệp hội gốm sứ Bát Tràng và chương trình phát triển kinh tế tư nhân Đây là thành tựu mới trên con đường phát triển của làng gốm Bát tràng bởi nó đóng góp một kinh nghiệm tốt cho các làng nghề ở Việt Nam trên con đường tìm cách quảng bá thương hiệu, trước nhu cầu hội nhập và mở rộng thị trường, nhận thức được
Trang 30doanh nghiệp trong làng nghề lại tự tìm cho mình một thương hiệu riêng thông qua việc lập các Website giới thiệu sản phẩm riêng
Bát Tràng đã trở thành một làng nghề thủ công kiểu mẫu, một thương hiệu gốm
sứ truyền thống và là một địa chỉ du lịch hấp dẫn
1.3.3 Bài học kinh nghiệm đối với làng nghề Thường Tín
Từ những kinh nghiệm về bảo tồn và phát triển nghề, làng nghề như trên cần rút
ra một số bài học để phát triển nghề, làng nghề huyện Thường Tín như sau:
- Muốn khôi phục và phát triển nghề, làng nghề có hiệu quả trước hết phải có sự
hỗ trợ tích cực từ phía Nhà nước bằng việc ban hành những cơ chế chính sách, tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho sản xuất kinh doanh, đồng thời hỗ trợ về tài chính và tiếp cận nguồn vốn, trong đó cần có cơ chế, chính sách cho các hộ tại làng nghề vay vốn không cần thế chấp
Sản xuất các loại sản phẩm phải xuất phát từ nhu cầu thị trường
Mời các chuyên gia của những nước nhập khẩu chính để tư vấn thiết kế, cải tiến mẫu mã sản phẩm
Tăng cường công tác đào tạo và bồi dưỡng nâng cao trình độ tay nghề cho người lao động làng nghề thông qua các trung tâm đào tạo, các viện nghiên cứu
Áp dụng công nghệ mới, hiện đại để nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hạn chế ô nhiễm môi trường tại các làng nghề
Tập trung xây dựng và phát triển các sản phẩm chủ lực, sản phẩm thủ công tiêu biểu
Hỗ trợ một số doanh nghiệp làng nghề trở thành doanh nghiệp đủ mạnh, thực hiện vai trò mở rộng thị trường, là đầu mối thu gom sản phẩm xuất khẩu
Chú trọng phát triển các làng nghề truyền thống và có sản phẩm xuất khẩu cho ngoại tệ cao
Chú trọng xây dựng cơ sở hạ tầng (giao thông, điện, mặt bằng sản xuất…) tạo điều kiện cho các cơ sở sản xuất phát triển
Đây cũng là một vấn đề lớn không phải một sớm một chiều mà có thể triển khai ngay được Tuy nhiên đó cũng sẽ là cơ sở để khắc phục và phát triển làng nghề truyền thống của huyện
Trang 31Tiểu kết chương 1
Ở chương này tác giả đã trình bày khái quát về các khái niệm cơ bản về làng nghề, hiểu đúng và hiểu rõ thế nào là làng nghề truyền thống Đồng thời nêu bật lên những quan điểm chính sách hỗ trợ của nhà nước trong việc phát triển làng nghề truyền thống nói chung, đưa ra những bài học kinh nghiệm cụ thể của các làng nghề trong và ngoài nước làm tiền đề cơ sở lý luận cho việc đánh giá thực trạng phân tích tình hình thực tiễn của các làng nghề của huyện Thường Tín tại Chương 2, trên cơ sở
đó đề ra các giải pháp nhằm hoàn thiện nội dung và giải pháp phát triển cho làng nghề truyền thống huyện Thường Tín ở Chương 3
Trang 32Chương 2 THỰC TRẠNG CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NGHỀVÀ LÀNG NGHỀ
Ở HUYỆN THƯỜNG TÍN TRONG THỜI GIAN QUA 2.1 Giới thiệu huyện Thường tín
2.1.1 Vị trí địa lý, diện tích, dân số và điều kiện tự nhiên của Thường tín
Thường Tín là một huyện nằm phía nam của thành phố Hà Nội, Việt Nam Thường Tín nguyên là một phủ thuộc trấn Sơn Nam từ thời Lê đến thời nhà Nguyễn, một phủ thuộc tỉnh Hà đông và là một huyện của tỉnh Hà Tây trước đây
Về đất đai: Diện tích: 127,59 km2, đa phần diện tích đất đai là đồng bằng được bồi đắp bởi hai 2 dòng sông chính là sông Hồng và sông Nhuệ
Về điều kiện tự nhiên:
Phía đông giáp các xã Mễ Sở, Thắng Lợi huyện Văn Giang và giáp các xã Tân Châu, Tứ Dân, Hàm Tử, Dạ Trạch, Bình Minh, huyện Khoái Châu của tỉnh Hưng Yên với ngăn cách tự nhiên là sông Hồng;
Phía nam giáp huyện Phú Xuyên;
Phía tây giáp huyện Thanh Oai, ngăn cách bởi sông Nhuệ;
Phía bắc giáp huyện Thanh Trì;
Huyện Thường Tín có 01 thị trấn huyện lị và 28 xã:
cũ Trên Huyện có tuyến đường sắt Bắc Nam chạy qua với 2 nhà ga là ga Thường Tín
Trang 33và ga Tía Đường thủy có sông Hồng, với cảng Hồng Vân, cảng Vạn Điểm Qua sông
đi Tứ Dân, Khoái Châu, Phố Nối và Thành phố Hưng Yên
2.1.3 Truyền thống văn hóa
Vùng đất Thường Tín có từ rất sớm, gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của kinh thành Thăng Long Ðây là mảnh đất sản sinh nhiều tướng lĩnh, danh nhân và nhà văn hóa lớn Năm 40, vị tướng Hùng Nguyên vùng đất An Duyên, nay thuộc xã Tô Hiệu, đã tham gia cuộc khởi nghĩa chống quân Nam Hán do Hai Bà Trưng lãnh đạo Quê hương các bậc danh nhân như Nguyễn Phi Khanh, Nguyễn Trãi, Lý Tử Tấn, các bậc chí sĩ trong phong trào yêu nước như Lương Văn Can, Lương Ngọc Quyến Huyện là vùng đất khoa bảng Trong lịch sử khoa cử thời phong kiến, Thường Tín có 26 làng có người thi đỗ đại khoa, có 63 người đỗ tiến sĩ Nhiều dòng
họ, nhiều gia đình nối đời đỗ đạt như làng Ba Lăng, xã Dũng Tiến được coi là đất học với nhiều người học rộng tài cao Làng Nghiêm Xá (xã Nghiêm Xuyên) được dân gian tôn vinh là "Làng Tiến sĩ" Họ Từ ở làng Khê Hồi xã Hà Hồi được gọi là "Họ Tiến sĩ"
vì có đông người đỗ khoa bảng Nhiều gia đình có hai người đỗ đại khoa, như hai cha con Nguyễn Phi Khanh, Nguyễn Trãi ở làng Nhị Khê, hai ông cháu Doãn Mậu Khôi,
Doãn Ðàm ở làng An Duyên, hai anh em Ngô Hoan, Ngô Ước ở làng Nghiêm Xá…
Trên địa bàn huyện có 385 điểm di tích lịch sử, văn hóa, trung bình cứ 1 km2
có ba di tích, trong đó 89 di tích được xếp hạng là di tích lịch sử cấp quốc gia Tiêu biểu là đền Nguyễn Trãi (xã Nhị Khê), chùa Ðậu (xã Nguyễn Trãi), chùa Mui (xã Tô Hiệu); đền bến Chương Dương nơi các tướng lĩnh nhà Trần đã chỉ huy trận quyết chiến, tiêu diệt quân Nguyên Mông năm 1285 Hà Hồi nơi mở màn chiến thắng giặc Mãn Thanh của vua Quang Trung trên đường tiến ra giải phóng kinh thành Thăng Long Gắn với các di tích là các lễ hội Một trong những lễ hội tiêu biểu nhất của Thường Tín là lễ hội Chử Ðồng Tử tổ chức hằng năm ở xã Tự Nhiên, ngoài ra còn nhiều lễ hội khác như lễ hội đền Dầm, đền Cửu, đền Lộ
Vì vậy làng nghề truyền thống cũng có sức hút đặc biệt đối với du khách bởi mỗi làng lại gắn với một vùng văn hóa hay một hệ thống di tích lịch sử, văn hóa lễ hội Đến với làng nghề du khách không chỉ được ngắm cảnh quan mà còn được tham quan
Trang 34nơi sản xuất, trực tiếp được tiếp xúc với những người thợ thủ công, thậm chí còn được trực tiếp tham gia làm ra sản phẩm
Người Thường Tín cần cù, sáng tạo, tài hoa trong lao động sản xuất Nơi đây vốn được coi là một trong những "cái nôi làng nghề" lâu đời ở nước ta Với 126 làng nghề thủ công rải rác khắp huyện, trong đó có 46 làng được công nhận là làng nghề cấp thành phố, phần lớn là các ngành nghề thủ công mỹ nghệ, bức tranh làng nghề Thường Tín đa dạng và đầy mầu sắc, mà tên làng gắn liền với sản phẩm của nghề như: lược sừng Thụy Ứng, thêu Quất Ðộng, tiện Nhị Khê, bánh dày Quán Gánh, mây tre Ninh Sở, sơn mài Hạ Thái, chạm Nhân Hiền, sơn Bình Vọng
2.1.4 Về kinh tế
Hiện nay huyện có nhiều dự án đầu tư như:
Khu công nghiệp Hà Bình Phương nằm ở khu vực các xã: Hà Hồi, Văn Bình và Liên Phương
Khu công nghiệp Phụng Hiệp nằm ở vị trí xã Thắng Lợi, xã Dũng Tiến, xã Tô Hiệu,
xã Nghiêm Xuyên
Cụm công nghiệp Quất Động nằm trên Địa bàn xã Quất Động
Cụm công nghiệp Duyên Thái nằm ở xã Duyên Thái, cụm công nghiệp Liên Phương ở
xã Liên Phương
Cụm công nghiệp làng nghề : Vạn Điểm (mộc), cụm công nghiệp làng nghề Duyên Thái(sơn mài); Cụm công nghiệp làng nghề mây tre đan (Ninh Sở), cụm công nghiệp làng nghề Tiền Phong (bông len), cụm công nghiệp làng nghề mộc Văn Tự
Phát triển kinh tế trong đó có phát triển kinh tế nghề truyền thống của huyện
Thường Tín là huyện ngoại thành nằm phía Nam Thủ đô Hà Nội, sau 8 năm sát nhập địa giới hành chính, được sự quan tâm của các cấp chính quyền của Đảngcùng với sự nỗ lực của các doanh nghiệp làm nghề, nền kinh tế huyện tăng trưởng khá, sản xuất nông nghiệp, công nghiệp – TTCN và làng nghề được duy trì phát triển tốt, đời sống vật chất, văn hóa tinh thần của nhân dân từng bước được cải thiện rõ rệt
Phấn đấu là huyện ngoại thành phát triển nhanh và mạnh
Xây dựng các công trình hạ tầng xã hội, phục vụ đời sống nhân dân được huyện đặc biệt quan tâm Trong năm năm qua, toàn huyện đã triển khai xây dựng 602 công
Trang 35trình hạ tầng giao thông, phúc lợi xã hội, cải tạo, nâng cấp 152 km đường liên xã, nội
bộ thôn xóm, giải quyết các vấn đề dân sinh, tạo bộ mặt nông thôn mới, khang trang, trù phú Hoạt động thương mại - dịch vụ có nhiều chuyển biến tích cực, tốc độ tăng bình quân đạt 20% năm
Huyện đặt mục tiêu từ nay đến năm 2020, toàn huyện phấn đấu thực hiện 46%
số xã (13 xã) đạt chuẩn nông thôn mới (NTM) Việc phát triển các làng nghề (LN) theo hướng hiện đại hóa là một trong những nội dung quan trọng được huyện tích cực triển khai
Ông Lưu Văn Phúc - Trưởng phòng Kinh tế huyện Thường Tín cho biết, huyện
có 46/126 làng có nghề nên việc phát triển bền vững làng nghề truyền thống theo hướng hiện đại hóa là một trong những mục tiêu tiên quyết để xây dựng NTM
Năm 2015 huyện đã:
Tổ chức 12 lớp đào tạo nghề và làm nghề truyền thống ngắn hạn cho lao động nông thôn và cho hộ nghèo là 384 lao động (trong đó 10 lớp theo Quyết định 1956/CP
và 02 lớp cho lao động thuộc hộ nghèo)
Giới thiệu và giải quyết cho 2.200/3.000 lao động có việc làm mới đạt 73,3% so với kế hoạch
Công tác giảm nghèo được chỉ đạo sát sao, toàn huyện đã giảm 1.807 hộ nghèo (giảm 3.07%) qua rà soát số phát sinh trong năm 335 hộ, hiện tại toàn huyện có 5.401
Đã phê duyệt đề cương nhiệm vụ đề án cho 27 xã và quy hoạch chung xây dựng
Trang 36Hoàn thành lập và phê duyệt Đề án nông thôn mới tại 3 xã (Duyên Thái, Liên Phương, Vạn Điểm) với thế mạnh là phát triển làng nghề truyền thống sẵn có của huyện theo hướng CNH- HĐHNT
Hoàn thành đề án xây dựng nông thôn mới huyện Thường Tín giai đoạn
2011-2020, định hướng đến năm 2030 trình thành phố phê duyệt
Đến nay huyện đã hoàn thành và phê duyệt đề án nông thôn mới cấp huyện, 28
đề án cấp xã và 28 đồ án quy hoạch xây dựng nông thôn mới của các xã trên địa bàn Riêng đối với xã điểm Nhị Khê đã đạt được 15/19 tiêu chí, và có 05 xã đạt từ 10 đến
13 tiêu chí, còn lại 22 xã đạt dưới 10 tiêu chí xây dựng nông thôn mới Năm 2016, huyện tập trung chỉ đạo hoàn thành xây dựng nông thôn mới tại xã Nhị Khê, và 03 xã Liên Phương, Duyên Thái, Vạn Điểm phấn đấu đạt và cơ bản đạt 18 tiêu chí, 10 xã phấn đấu đạt 14 tiêu chí trở lên
Đóng góp cho sự phát triển của kinh tế địa phương
Hàng năm các làng nghề đóng góp trên 50% giá trị công nghiệp của toàn huyện, tạo công ăn việc làm cho hàng nghìn lao động nông thôn với mức thu nhập ổn định, an ninh trật tự xã hội được giữ vững và ổn định
Kinh tế duy trì tốc độ tăng trưởng khá, cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực, đúng hướng Tỷ trọng công nghiệp - xây dựng đạt 50%, thương mại - dịch vụ đạt 32%, nông nghiệp đạt gần 18%
Sản xuất, kinh doanh của các làng nghề ổn định, phát triển Các cụm, điểm công nghiệp làng nghề được quan tâm xây dựng.Cụm công nghiệp Quất Động được mở rộng với diện tích 43,4 ha; Đến nay đã đi vào hoạt động, tỷ lệ lấp đầy là 77,4% tạo điều kiện cho các hộ dân phát triển sản xuất, kinh doanh và thu hút đầu tư
Với cơ cấu kinh tế đa dạng phong phú, địa hình đồng bằng bằng phẳng thuận lợi như trên, đảm bảo cho Thường tín có điều kiện thuận lợi giao lưu với bốn phương,
có tiềm năng phát triển các làng nghề truyền thống và tiểu thủ công nghiệp một cách
ổn định và bền vững
Trang 372.2 Thực trạng của việc phát triển nghề và làng nghề ở huyện trong thời gian qua
2.2.1 Tổng quan về làng nghề truyền thống của huyện Thường Tín
Thường Tín là huyện có nhiều làng nghề lâu đời với những sản phẩm nổi tiếng như:Tiện gỗ ở Nhị Khê; Sơn mài ở Duyên Thái; Thêu ở Quất Động; Thêu ở xã Dũng Tiến; Làm bánh dày ở Quan Gánh; Mây tre đan ở Bằng Sở, Ninh Sở; Sản xuất vàng
mã ở Văn Bình; Điêu khắc gỗ đá ở Nhân Hiền - Hiền Giang;
Một số nghề mới phát triển mấy chục năm trở lại đây:Xương sừng Thuỵ Ứng -
xã Hoà Bình; Bông len ở Trát Cầu - Tiền Phong; Mộc cao cấp ở Vạn Điểm; Nghề trông cây cảnh ở Hông Vân, Vân Tảo, Tự Nhiên, Thư Phú
Thường Tín hiện có 126 làng nghề, trong đó có 46 làng nghề được UBND TP công nhận là làng nghề truyền thống tính đến tháng 4/2016
Số nghệ nhân được UBND Thành phố công nhận đến nay là 13 nghệ nhân Hiện nay trên địa bàn có 02 Hiệp hội là Sơn mài Thành phố, Thêu Thành phố,
05 Hội trong đó 01 cấp huyện Hội thêu Thường Tín, 04 hội cấp xã là thêu ren xã Lê Lợi, thêu thôn Đông Cứu, gỗ xã Vạn Điểm, sơn mài xã Duyên Thái
2.2.1.1 Một số làng nghề truyền thống điển hình của huyện
LÀNG NGHỀ SƠN MÀI XUẤT KHẨU DUYÊN TRƯỜNG - HẠ THÁI
Làng nghề truyền thống sơn mài Duyên Trường-Hạ Thái thuộc xã Duyên Thái, huyện Thường Tín, có lịch sử hơn 200 năm nay Đến nay, sản phẩm sơn mài Hạ Thái
đã khẳng định được thương hiệu không chỉ nhờ uy tín, chất lượng luôn bóng, mịn, đẹp,
độ bền cao mà còn kết tinh dấu ấn của bàn tay khéo léo, sức sáng tạo của những người thợ tài hoa
Hiện làng có gần 700 hộ với hơn 3.000 nhân khẩu, có tới 90 % số hộ tham gia sản xuất sơn mài Ngoài ra, có khoảng 2 nghìn lao động ở ngoài đang làm việc tại làng, có hộ lên đến 60-70 nhân công Hàng sơn mài chủ yếu dùng để xuất khẩu sang nhiều nước trên thế giới như Mỹ, Tây Ban Nha, Nhật, Úc, Ý, Anh, Pháp, Nga Năm
2013, xuất khẩu đạt hơn 90 tỷ đồng, năm 2014 đạt hơn 120 tỷ đồng Doanh thu của mỗi hộ trung bình hàng năm cũng đạt khoảng 150 triệu đồng, có doanh nghiệp lớn như
Mỹ Thái, Thành Sơn lên đến hàng tỷ đồng
Trang 38Những pho tượng đủ hình dáng, kích cỡ bày la liệt còn các người thợ tài hoa thì miệt mài gọt giũa, sáng tạo những tác phẩm nghệ thuật Đó là hình ảnh quen thuộc ở các
xưởng sản xuất thuộc làng nghề điêu khắc Nhân Hiền, xã Hiền Giang (Thường Tín)
Toàn thôn Nhân Hiền có 583 hộ dân thì có tới 445 hộ làm nghề điêu khắc (chiếm 75% lao động trong thôn) Trong đó có trên chục xưởng lớn thu hút nhiều lao động Đến thăm xưởng sản xuất tượng gỗ điêu khắc của gia đình anh Nguyễn Văn Chúc ở xóm 3, tôi thấy có khoảng 40 lao động đang miệt mài đục đẽo Gần bước sang tuổi 50, anh Chúc trở thành một trong những thợ giỏi và thành đạt của làng nghề Hầu hết các tượng do gia đình sản xuất đều làm theo đơn đặt hàng của khách trong nước và một số lượng lớn được anh xuất khẩu sang nhiều nước như Mỹ, Ô-xtrây-li-a, Nhật, Ấn Độ Nhờ có nhiều hợp đồng xuất khẩu nên lao động trong cơ sở sản xuất của anh luôn có việc làm và thu nhập ổn định đạt trên 3 triệu đồng/người/tháng
Ngoài làm tượng gỗ, thời gian gần đây, một số hộ dân làng nghề Nhân Hiền còn
du nhập thêm nghề điêu khắc đá mỹ nghệ Anh Nguyễn Minh Phú, chủ một cơ sở điêu khắc đá mỹ nghệ trong làng cho biết, mặc dù mới bắt tay vào mặt hàng này, song nhiều sản phẩm đã xuất trên thị trường thế giới Ông Vũ Văn Chương cho biết, ước tính trung bình mỗi năm làng nghề Nhân Hiền xuất ra thị trường vài nghìn pho tượng các loại, trong đó số tượng xuất khẩu chiếm tới khoảng 50% đã mang lại nguồn thu nhập khá cho người dân làng nghề
LÀNG THÊU ĐÀO XÁ
Như nhiều những làng quê có cây đa, giếng nước, sân đình khác, Đào Xá đã có lịch sử tự nghìn đời Trải qua năm tháng, chất quê, hồn quê càng thấm vào cảnh sắc và con người qua nhiều thế hệ Nếu có dịp chúng ta nên ghé thăm Đào Xá,
Quy trình nghề thêu ren Đào Xá cũng gần giống như quy trình, công đoạn của nhiều làng nghề khác Người thêu nhận nguyên vật liệu từ các đại lý phát về cho từng
hộ, từ chỉ thêu, mẫu mã, quy cách, số lượng, hoa văn để thêu, rồi trả lại khách hàng cũng qua các đại lý Sau đó hàng được đưa lên tàu xuất sang Nhật Bản, Mỹ Chính đôi bàn tay khéo thể hiện óng mượt, nuột nà trong đường kim mũi chỉ mà tình người Đào Xá, tình người làng thêu đã được khách quốc tế ghi nhận
Trang 39Hàng thêu ở đây chủ yếu là hàng tranh, với hàng trăm mẫu mã khác nhau Làng cũng có những "họa sĩ" lắm hoa tay, họ là những người ngày đêm miệt mài nghĩ ra những mẫu mã, hoa văn đẹp cho sản phẩm của làng
LÀNG NGHỀ CHẠM SỪNG THỤY ỨNG
Theo dân làng tương truyền thì nghề làm lược sừng của Thụy Ứng đã có cách đây gần bốn trăm năm Có thể nói, Thụy Ứng gần như là nơi chính cung cấp lược chải đầu cho hầu hết dân ở các tỉnh miền Bắc
Không chỉ dừng ở nghề làm lược, nhiều người thợ Thụy Ứng bằng sự tìm tòi, sáng tạo kết hợp với sự khéo léo của đôi tay đã cho ra đời nhiều sản phẩm mỹ nghệ có giá trị kinh tế cao các mặt hàng mỹ nghệ ,hàng xuất khẩu bằng sừng đã đáp ứng được yêu cầu của các khách hàng nước ngoài, nhiều hợp đồng có giá trị kinh tế cao đã được
ký kết Mang lại doanh thu lớn nâng cao đời sống kinh tế của người dân trong huyện
2.2.1.2 Những điều kiện thuận lợi và những khó khăn để phát triển nghề và làng nghề của huyện
Thuận lợi
Với vị trí địa lý: Cửa ngõ thủ đô, thuận lợi cho giao thương buôn bán việc định
vị doanh nghiệp cho các cơ sở sản xuất đối với các doanh nghiệp của làng nghề là một thuận lợi lớn trong quá trình mở rộng quy mô sản xuất hiện có, giảm thiểu được chi phí sản xuất, đặc biệt là chi phí vận chuyển Bên cạnh đó làng nghề rất có điều kiện trong việc mua nguồn nguyên vật liệu đầu vào thuận lợi và sản phẩm đầu ra nhanh chóng đến được với khách hàng (Giảm bớt được chi phí kho bãi, bảo quản, cước phí vận chuyển…)
Gần trung tâm Thủ đô nên thuận tiện cho việc tiếp thị và trao đổi sản phẩm qua các phương tiện giao thông: đường thủy, đường sắt, đường bộ và đường hàng không Việc các chợ làng nghề phát triển đã giúp cho các hộ sản xuất có điều kiện phát triển sản xuất và tiêu thụ sản phẩm dễ dàng hơn Hiện nay trên địa bàn huyện có 4 cụm công nghiệp làng nghề (Duyên Thái, Vạn Điểm, Ninh Sở và Tiền Phong) đã đi vào hoạt động hiệu quả không những giải quyết việc làm cho lao động địa phương mà còn thu hút được lao động tại các địa phương khác đến làm việc và từng bước giải quyết
Trang 40Một lợi thế rất lớn của các làng nghề trên địa bàn Huyện là đều có từ rất lâu đời, do vậy kinh nghiệm sản xuất truyền thống được truyền từ đời này sang đời khác, trên địa bàn huyện có 13 nghệ nhân được thành phố Hà Nội công nhận, đây đều là những “đầu tàu” trong gìn giữ những bản sắc, nét truyền thống của các làng nghề và là những người thợ giỏi, những người thầy để lớp kế cận có thể học hỏi và lối tiếp những truyền thống, những nét đẹp văn hoá của các làng nghề
Chính quyền địa phương luôn tạo những điều kiện thuận lợi như mặt bằng sản xuất, hỗ trợ về đào tạo công nhân và nhân cấy nghề bằng nguồn ngân sách địa phương
và sự hỗ trợ của các cá nhân, tổ chức
Sự chủ động của những người làm nghề trong việc tìm kiếm thị trường tiêu thụ
và quảng bá sản phẩm sản xuất ra
Ðể bảo tồn và phát triển nghề truyền thống, huyện thực hiện quy hoạch chi tiết hai khu công nghiệp Phụng Hiệp và Bắc Thường Tín, cụm công nghiệp Hà Hồi - Quất Ðộng Hoàn thành xây dựng hạ tầng và giao đất tại sáu cụm công nghiệp Liên Phương, Quất Ðộng, Hà Bình Phương, Duyên Thái, Quất Ðộng mở rộng, gas Lưu Xá, bốn điểm công nghiệp ở bốn xã Vạn Ðiểm, Duyên Thái, Ninh Sở, Tiền Phong Ðồng thời, mở các lớp truyền nghề nhằm nâng cao tay nghề cho lớp trẻ UBND huyện phối hợp với các ngân hàng để tạo điều kiện tốt nhất cho các doanh nghiệp tại các làng nghề có điều kiện phát triển Mục tiêu của Thường Tín là ưu tiên phát triển các ngành nghề truyền thống vừa để góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế của toàn huyện, vừa gìn giữ những ngành nghề truyền thống mà ông cha đã để lại
Là địa bàn tập trung nhiều làng nghề, cho nên công tác bảo vệ môi trường được huyện chú trọng Huyện đã quy hoạch địa điểm chứa rác tại các thôn, cụm dân cư, hỗ trợ kinh phí cho các thôn, cụm dân cư tổ chức thu gom rác, xây dựng địa điểm chứa,
xử lý rác theo công nghệ hợp vệ sinh Di chuyển các cơ sở sản xuất kinh doanh gây ô nhiễm môi trường trong khu dân cư ra điểm công nghiệp làng nghề Hoàn thành xây dựng và đưa vào sử dụng nhà máy cấp nước sạch tại thị trấn Thường Tín, triển khai chương trình nước sạch vệ sinh môi trường tại mười xã dọc sông Nhuệ có nguồn nước nhiễm a-sen cao, xử lý chất thải vật nuôi tại các xã