1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chính sách phát triển kinh tế trong xây dựng nông thôn mới từ thực tiễn thị xã sơn tây, thành phố hà nội

88 445 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 597,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngày 04/06/2010, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 800/QĐ-TTg về Phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020, nhằm xây dựng cộng

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐỖ MINH TRANH

CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TỪ THỰC TIỄN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành: Chính sách công

Mã số : 60 34 04 02

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS VÕ KHÁNH VINH

HÀ NỘI, 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của

cá nhân, được thực hiện dưới sự chỉ đạo, hướng dẫn khoa học của GS.TS Võ Khánh Vinh

Vấn đề nghiên cứu, các kết luận được đề cập trong luận văn này trung thực và chưa được công bố ở các công trình khoa học khác

Học viên

Đỗ Minh Tranh

Trang 3

Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH KINH TẾ TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 24

2.1 Những nhân tố tác động đến thực hiện chính sách kinh tế trong xây dựng nông thôn mới tại thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội 24 2.2 Tổ chức thực hiện chính sách phát triển kinh tế trong xây dựng nông thôn mới tại thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội 34 2.3 Kết quả thực hiện chính sách phát triển kinh tế trong xây dựng nông thôn mới tại thị xã Sơn Tây 39 2.4 Đánh giá khái quát việc thực hiện chính sách kinh tế trong xây dựng nông thôn mới tại thị xã Sơn Tây 48

Chương 3 HOÀN THIỆN THỰC THI CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KINH

TẾ TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 54

3.1 Quan điểm, mục tiêu, định hướng hoàn thiện chính sách phát triển kinh tế trong xây dựng nông thôn mới 54 3.2 Các giải pháp hoàn thiện và tổ chức thực hiện chính sách phát triển kinh

tế trong xây dựng nông thôn mới………58 3.3 Các giải pháp tăng cường thực hiện chính sách phát triển kinh tế trong xây dựng nông thôn mới 67

KẾT LUẬN 70 TÀI LIỆU THAM KHẢO 72

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Bộ NN&PTNT

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Giá trị, cơ cấu kinh tế thị xã Sơn Tây qua một số năm 25 Bảng 3.1: Kế hoạch chỉ tiêu kinh tế - xã hội 5 năm, giai đoạn 2016 - 2020 của thị xã Sơn Tây 56

DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC

Phụ lục 2.1: Kết quả thực hiện chỉ tiêu kinh tế - xã hội thị xã Sơn Tây qua một số năm 76 Phụ lục 2.2: Tiêu chí xây dựng nông thôn mới của thị xã Sơn Tây giai đoạn

2011 - 20015 79

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp phát triển đất nước và là nguồn gốc cho việc nâng cao đời sống của người nông dân; là

cơ sở hết sức quan trọng để thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển một cách bền vững

Vì thế Ban chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết số 26/NQ-TW ngày 05/8/2008, Hội nghị l n thứ 7 Ban chấp hành Trung ương khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn Đặc biệt từ khi tiến hành công cuộc đổi mới Đảng, Nhà nước ta đã rất quan tâm tới vấn đề này Qua 30 năm đổi mới nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, đó là: Nông nghiệp phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá, tăng năng suất, đảm bảo dự trữ lương thực quốc gia, một số mặt hàng nông sản xuất khẩu đã có vị thế cao trên thế giới; Bộ mặt nông thôn ngày được đổi mới khang trang, cơ sở hạ t ng kinh tế - xã hội được tăng cường, đời sống người nông dân cũng được nâng cao; Việt Nam đã phát triển từ một nước nghèo, thường xuyên phải nhập khẩu lương thực, trở thành nước thu nhập trung bình, xuất khẩu nhiều loại nông sản, có vị thế trên trường quốc tế Qua đó cho thấy, nông nghiệp đã mở đường trong quá trình đổi mới, tạo nền tảng, động lực cho tăng trưởng kinh tế và là nhân tố quan trọng bảo đảm sự ổn định kinh tế, chính trị,

xã hội của đất nước[21]

Đến quý 2 năm 2015, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên ở khu vực nông thôn nước ta là 47.267.100 người Tình trạng thiếu việc làm phổ biến vẫn ở nông thôn, hiện có tới 85,1% lao động thiếu việc làm ở khu vực này; Tỷ lệ lao động thiếu việc làm ở nông thôn là 2,23% và thất nghiệp là 1,91%; Lương bình quân quý 2/2015 ở thành thị là 5,245 triệu đồng/tháng, trong khi ở nông thôn là 3,837 triệu đồng/tháng[9] Trong khi ở khu vực nông thôn, miền núi tình trạng đói

nghèo, mù chữ vẫn còn (tỷ lệ hộ nghèo cả nước còn 7,8%, tỷ lệ dân số trong cả nước từ 15 tuổi trở lên không biết chữ là 5,2%)[29]

Đến cuối năm 2015, tỷ trọng đóng góp của ngành nông nghiệp trên tổng sản phẩm trong nước theo giá hiện hành ước đạt 712.460 tỷ đồng, theo cơ cấu % ước đạt 17% [41] Vì vậy, phát triển nông nghiệp, nông thôn luôn dành được sự quan

Trang 7

tâm to lớn của Đảng và Nhà nước Việc đề ra chính sách đúng đắn về định hướng phát triển nông nghiệp, nông thôn là điều kiện đ u tiên, quan trọng nhất và chủ yếu nhất nhằm xây dựng nông thôn mới[29]

Ngày 04/06/2010, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 800/QĐ-TTg về Phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020, nhằm xây dựng cộng đồng xã hội văn minh, có hạ t ng kinh tế - xã hội ngày càng hoàn thiện; cơ cấu kinh tế hợp lý, các hình thức tổ chức sản xuất tiên tiến; gắn nông nghiệp với phát triển công nghiệp, dịch vụ và du lịch; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; từng bước thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn; xây dựng xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc; trình độ dân trí được nâng cao; môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh th n của người dân không ngừng được cải thiện, nâng cao Đây là chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước về phát triển nông nghiệp và nông thôn - vừa mang tính tổng hợp và đi sâu giải quyết nhiều vấn đề khắc phục được những yếu kém, tồn tại từ trước tới nay trong chính sách nói chung và chính sách kinh tế nông thôn nói riêng ở nước ta

Từ sau “Đổi mới”, lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu to lớn Tuy nhiên lĩnh vực này cũng bộc lộ nhiều hạn chế như: thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế; nông nghiệp phát triển còn kém bền vững, sức cạnh tranh thấp, chuyển giao khoa học - công nghệ

và đào tạo nguồn nhân lực còn yếu; nông nghiệp, nông thôn phát triển thiếu quy hoạch, kết cấu hạ t ng còn kém, môi trường ngày càng ô nhiễm; đời sống vật chất

và tinh th n của người nông dân chưa được nâng cao, tỷ lệ hộ nghèo còn cao, chênh lệch giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn còn lớn, làm phát sinh nhiều vấn đề xã hội bức xúc

Qua đó cho thấy, việc xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ quan trọng cho

sự nghiệp hội nhập và phát triển đất nước; đồng thời cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh th n cho người dân nông thôn! Không có ở nước phát triển nào mà nền kinh tế nông nghiệp, nông thôn lạc hậu và đời sống của nhân dân còn thấp Do

Trang 8

vậy, việc xây dựng nông thôn mới trong giai đoạn hiện nay là điều kiện tiên quyết

để phát triển của đất nước

Mục tiêu xây dựng nông thôn mới mà Đảng và Chính phủ đề ra là đến năm

2020 có 50% số xã đạt chuẩn nông thôn mới trên tổng số 9.121 xã của cả nước theo 19 tiêu chí được Thủ tướng Chính phủ ban hành tại Quyết định số 491/QĐ-TTg, ngày 16/4/2009[22] Điều này đòi hỏi các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương c n phải thường xuyên quan tâm xây dựng, thực hiện chính sách nông thôn mới, xem xét tính hiệu quả, hiệu suất, tác động của chính sách kinh tế đối với nông nghiệp, nông thôn làm cho nông nghiệp, nông thôn phát triển một cách bền vững Có thể nói chính sách của Nhà nước đối với nông nghiệp, nông thôn hiện tại chưa đáp ứng yêu c u công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn; chưa thực sự hiệu quả, thiếu bền vững, chưa đưa sản xuất nông nghiệp thành sản xuất hàng hoá!

Nguyên nhân cơ bản là do chưa định hướng đúng mô hình phát triển, thể hiện ở một số vấn đề như: t m nhìn, mô hình phát triển và các nguồn lực, thiếu sự xác định lợi ích của các bên liên quan, dẫn đến tình trạng thiếu tính khoa học trong quy trình hoạch định và triển khai chính sách; có nhiều chính sách nhưng hiệu quả kinh tế, hiệu ứng xã hội của các chính sách không tương xứng với nguồn lực đ u

tư hoặc thiếu bền vững[29] Mặt khác, kinh tế nông thôn phát triển nhưng thiếu

tính bền vững cả về kinh tế, xã hội và môi trường Người dân thiếu việc làm ổn định, nghèo đói giảm chậm và có xu thế tái nghèo ở một số địa phương, một bộ phận dân cư còn sống dưới mức nghèo khổ[22]…

Muốn khắc phục tình trạng trên và thiết thực đưa chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về nông nghiệp, nông dân, nông thôn vào cuộc sống; đẩy nhanh tốc độ công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, thì việc c n làm trước mắt hiện nay là: xây dựng nông thôn mới đáp ứng yêu c u hội nhập nền kinh tế Quốc tế và phải dựa vào nội lực là chính!

Để thực hiện thắng lợi mục tiêu trên c n có nhiều chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn mang chiến lược và sát thực tế, trong đó chính sách phát

Trang 9

triển kinh tế có ý nghĩa quyết định thành công Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới

Kết quả mà chúng ta đạt được từ phát triển nông nghiệp và bộ mặt nông thôn thời gian qua, luôn gắn liền với chính sách kinh tế về nông nghiệp Trong thời gian tới, Nhà nước tăng cường nguồn lực cho chương trình xây dựng nông thôn mới tương xứng với mục tiêu đề ra Trong điều kiện Ngân sách Nhà nước còn khó khăn, sức dân lại có hạn, trước yêu c u đó c n có những cơ chế ưu đãi, đủ sức hấp dẫn để mời gọi được nhiều doanh nghiệp về đ u tư kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn; nhân tố quan trọng trong việc tổ chức lại sản xuất, liên kết sản xuất, góp

ph n phát triển bền vững nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới[22] Ngành nông nghiệp phát triển sẽ tạo ra sức mạnh, sự ổn định và tạo đà cho đất nước phát triển trong tương lai

Từ những nội dung ý nghĩa nêu trên, tác giả lựa chọn đề tài: Chính sách phát triển kinh tế trong xây dựng nông thôn mới từ thực tiễn thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội để làm đề tài Luận văn tốt nghiệp của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Đã có nhiều công trình, cuốn sách, bài viết…về XDNTM, về nông nghiệp, nông thôn, nông dân, hoặc chính sách kinh tế trong XDNTM đã được công bố như:

Công trình: "Phát triển nông thôn" do GS.Phạm Xuân Nam (chủ biên) NXB

Khoa học xã hội ấn hành năm 1997 Ở đó, tác giả đã phân tích sâu một số nội dung

về phát triển kinh tế - xã hội nông thôn nước ta như: lao động, việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế; vấn đề sử dụng và quản lý nguồn lực tài nguyên thiên nhiên; xóa đói giảm nghèo Quá trình phân tích những thuận lợi và khó khăn đặt ra trong phát triển nông nghiệp, nông thôn nước ta, đồng thời các tác giả đã chỉ ra giải pháp hoàn thiện cơ chế, chính sách và cách thức chỉ đạo của Nhà nước về nông thôn

Những nghiên cứu chuyên sâu về chính sách phát triển kinh tế xã hội nói chung và chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn nói riêng cũng được các tác giả Việt Nam rất quan tâm: GS Hồ Văn Thông, PGS.TS Phạm Chi Mai, PGS.TS

Trang 10

Ngô Đức Cát đã trình bày những công trình có tính lý thuyết về hoạch định chính sách phát triển kinh tế xã hội

Công trình nghiên cứu: "Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam trong thời kỳ đổi mới" của PGS.TS.Nguyễn Sinh Cúc, NXB Thống kê, năm 2003 Công trình đã luận

giải rõ quá trình đổi mới, hoàn thiện chính sách nông nghiệp, nông thôn nước ta trong những năm đổi mới; những thành tựu và những vấn đề đặt ra trong quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam; Những gợi mở về những vấn đề c n giải quyết của phát triển nông nghiệp, nông thôn nước ta như: vấn đề phân hóa giàu nghèo, vấn đề nâng cao khả năng cạnh tranh, xuất khẩu nông sản đã được tác giả

lý giải với nhiều luận cứ có tính thuyết phục

Tác phẩm: "Vai trò của nhà nước trong phát triển nông nghiệp Thái Lan"

của các tác giả GS.TS.Nguyễn Thế Nhã và TS.Hoàng Văn Hoan do NXB Nông nghiệp ấn hành năm 1995 Trong công trình này các tác giả đã đi sâu phân tích quá trình hoạch định và chỉ đạo thực hiện chính sách nông nghiệp của Thái Lan từng thời kỳ Trong đó một số nội dung được các tác giả đề cập có giá trị tham khảo rất tốt cho Việt Nam như: chính sách phát triển các hợp tác xã nông nghiệp, chính sách xuất khẩu nông sản, chính sách tín dụng và những chính sách liên quan đến hội nhập kinh tế quốc tế

Phát triển nông nghiệp, nông thôn phải luôn đảm bảo các nhân tố phát triển kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa và môi trường Rất nhiều tác giả quan tâm đến

vấn đề này như: GS.Hồ Văn Thông và TS.Nguyễn Văn Sáu về “Thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở và xây dựng chính quyền cấp xã ở nước ta hiện nay”

(NXB.CTQG.H.2003), PGS.TSKH Phan Xuân Sơn và Th.S Lưu Văn Quảng đã bàn

về chính sách, đặc biệt lại là chính sách liên quan đến nông nghiệp, nông thôn và

chính sách dân tộc trong cuốn "Những vấn đề cơ bản về chính sách dân tộc nước ta hiện nay" (NXB LLCT.H.2005)

Những công trình đó đã cung cấp những luận cứ, luận chứng, những dữ liệu rất quan trọng cho việc hoạch định chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn, giải quyết vấn đề nông dân trong thời kỳ Hội nhập và mở cửa ở nước ta Những kết quả nghiên cứu đã nêu cũng là cơ sở lý luận và thực tiễn quan trọng để tiếp thu; đi

Trang 11

sâu nghiên cứu có hệ thống, cơ bản và trực tiếp đến chính sách kinh tế trong xây dựng nông thôn mới; những giải pháp thực hiện để chương trình mục tiêu quốc gia

về nông thôn mới đạt kết quả

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, phân tích và đánh giá thực trạng thực hiện chính sách phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội, để từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách xây dựng nông thôn mới ở nước ta trong thời gian tới

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Đây là khâu quan trọng của quá trình thực hiện luận văn; nó dựa trên cơ sở mục đích đã lựa chọn và tập trung hướng vào giải quyết những công việc, cụ thể:

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về chính sách kinh tế trong xây dựng nông thôn mới;

- Nghiên cứu thực trạng việc thực hiện chính sách phát triển kinh tế trong XDNTM tại thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội;

- Đề xuất, kiến nghị các giải pháp tăng cường thực hiện chính sách này ở nước ta trong thời gian tiếp theo

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là chính sách phát triển kinh tế trong XDNTM từ thực tiễn thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Thời gian: Tập trung nghiên cứu chính sách kinh tế nông thôn được ban

hành từ tháng 7/2011 đến tháng 12/2015

Không gian: Nghiên cứu tại thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội

Giới hạn nội dung nghiên cứu: Đề tài này chủ yếu nghiên cứu chính sách

phát triển kinh tế trong XDNTM bao gồm lý thuyết và thực trạng triển khai chính sách kinh tế gắn với XDNTM từ thực tiễn thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội

Trang 12

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận nghiên cứu

Luận văn vận dụng cách tiếp cận liên ngành, đa ngành để vận dụng phương pháp nghiên cứu chính sách công Đây là cách tiếp cận chính sách công về: chu trình chính sách từ hoạch định đến xây dựng, tổ chức thực hiện và đánh giá chính sách công có sự tham gia của các chủ thể chính sách

5.2 Phương pháp nghiên cứu

5.2.1 Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp

- Tìm hiểu và vận dụng lý thuyết của ngành chính sách công liên quan đến vấn đề nông nghiệp, nông thôn vào việc nghiên cứu, lý giải thực trạng;

- Tập trung phân tích, tổng hợp những công trình nghiên cứu, bài viết của các tác giả trong nước và ngoài nước về vấn đề phát triển nông nghiệp, nông thôn

5.2.2 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp

* Phương pháp đặt câu hỏi: Đây là phương pháp chủ yếu trong tiến trình công tác xã hội cá nhân, nhằm thu thập thông tin c n thiết, phục vụ cho việc tìm ra nguyên nhân, vấn đề từ đó tìm ra biện pháp hỗ trợ người nông dân nông thôn bằng những chính sách phù hợp cho phát triển

* Tiến hành điều tra bằng cách trao đổi, phỏng vấn lãnh đạo địa phương từ Thị xã đến xã; tổ chức đoàn thể chính trị-xã hội; trưởng thôn và một số người dân

* Phương pháp quan sát:

Đây là phương pháp thu thập thông tin xã hội sơ cấp về đối tượng nghiên cứu bằng tri giác trực tiếp, ghi chép đ y đủ mọi nhân tố có liên quan đến đối tượng nghiên cứu và có ý nghĩa đối với mục tiêu của nghiên cứu

6 Ý nghĩa luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Ý nghĩa luận của luận văn là các kết quả, kết luận, kiến nghị, đề xuất rút ra từ việc nghiên cứu đề tài luận văn, sẽ góp ph n hoàn thiện những vấn đề lý luận về chính sách nông nghiệp nói chung và chính sách phát triển kinh tế trong XDNTM nói riêng ở nước ta

Trang 13

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Ý nghĩa thực tiễn của luận văn là giúp UBND thị xã Sơn Tây có những giải pháp tổ chức thực hiện có hiệu quả chính sách XDNTM ở địa phương và có những kiến nghị, đề xuất đến cấp có thẩm quyền để hoàn thiện chính sách XDNTM

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài ph n mở đ u và kết luận, phụ lục, danh mục các chữ viết tắt, danh mục

tài liệu tham khảo, luận văn được cơ cấu theo 3 Chương sau:

Chương 1: Những vấn đề lý luận và chính sách phát triển kinh tế trong xây dựng Nông thôn mới

Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách kinh tế trong xây dựng Nông thôn mới tại thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội

Chương 3: Hoàn chỉnh chính sách kinh tế trong xây dựng Nông thôn mới

Trang 14

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ

TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

1.1 Những vấn đề lý luận về chính sách phát triển kinh tế trong xây dựng nông thôn mới

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản

- Khái niệm về nông thôn: Nông thôn là địa bàn sinh sống chủ yếu của hộ gia đình nông dân, có chức năng quan trọng trong sản xuất và cung ứng nông sản cho xã hội Ngày nay, khái niệm “nông thôn” đã mở rộng nội hàm so với “làng”, “bao gồm

cả những thị trấn mà sự tồn tại và phát triển của nó phụ thuộc vào nông nghiệp, gắn với nông thôn và bảo đảm các dịch vụ c n thiết cho dân cư ở nông thôn” Trong văn

bản quản lý hiện hành ở nước ta: “Nông thôn là phần lãnh thổ được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân xã; Thôn là tên gọi chung của thôn, làng, ấp, bản, buôn, bon, phum, sóc… là tổ chức tự quản của cộng đồng dân cư có chung địa bàn cư trú trong một xã” (Thông tư số 41/2013/TT - BNNPTNT ngày 04/10/2013,

Điều 2)

- Nông thôn mới: Nông thôn mới có thể khái quát theo 5 nội dung cơ

bản: Thứ nhất, đó là làng, xã văn minh, sạch đẹp, hạ t ng hiện đại; Thứ hai, sản xuất phải phát triển bền vững theo hướng kinh tế hàng hóa; Thứ ba, đời sống vật chất và tinh th n của nông dân, nông thôn ngày càng nâng cao; Thứ tư, bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn; Thứ năm,xã hội nông thôn an ninh tốt, quản lý dân chủ

Trên cơ sở bộ tiêu chí quốc gia về XDNTM gồm 5 nhóm nội dung (nhóm quy hoạch, nhóm hạ tầng kinh tế - xã hội, nhóm kinh tế và tổ chức sản xuất, nhóm văn hóa - xã hội - môi trường, nhóm hệ thống chính trị), Chính phủ đã ban hành

Quyết định 800/QĐ-TTg ngày 04-6-2010, về Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020, nêu rõ 19 tiêu chí và 7 nhóm giải pháp[22]

- Khái niệm chính sách: Theo Vũ Cao Đàm: “Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hóa, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra,

Trang 15

trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội”

Chính sách là những đường hướng hành động, ứng xử cơ bản của chủ thể với các hiện tượng tồn tại trong quá trình vận động, phát triển nhằm đạt được mục tiêu nhất định[42]

- Khái niệm về chính sách công:

Thomas R.Dye đưa ra một định nghĩa ngắn gọn về chính sách công: “Chính sách công là cái mà Chính phủ lựa chọn làm hay không làm”[14]

Chính sách công là những đường hướng hành động ứng xử cơ bản của Nhà nước với các vấn đề phát sinh trong đời sống cộng đồng được thể hiện bằng nhiều hình thức khác nhau, nhằm thúc đẩy phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội[42]

Chính sách công là một tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của Đảng và Nhà nước nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể và giải pháp thực hiện giải quyết các vấn đề xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác định[14]

- Chính sách kinh tế: Chính sách kinh tế là tổng thể các quan điểm, giải pháp

và công cụ mà Nhà nước sử dụng để tác động lên chủ thể kinh tế, xã hội nhằm giải quyết một hay một chuỗi vấn đề về kinh tế, xã hội thực hiện những mục tiêu nhất định theo định hướng mục tiêu tổng thể của đất nước[17]

- Chính sách phát triển kinh tế trong XDNTM là chính sách nhằm thúc đẩy phát triển các nội về dung kinh tế trong quá trình XDNTM Chính phủ đã ban hành

bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới gồm 19 tiêu chí theo Quyết định số TTg ngày 16/4/2009 về việc ban hành Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới; Quyết định số 342/QĐ-TTg ngày 20/02/2013 về việc sửa đổi một số tiêu chí của Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới, trong đó phát triển kinh tế là một hợp ph n quan trọng với 9/19 tiêu chí liên quan trực tiếp tới phát triển kinh tế

491/QĐ Chính sách xây dựng nông thôn mới: theo quyết định số 800/QĐ491/QĐ TTg ngày

04 tháng 6 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ thì xây dựng nông thôn mới chúng

ta có thể hiểu là: “Chính sách xây dựng nông thôn mới là tổng thể những quan

Trang 16

điểm, thái độ, quyết định, quy định của Nhà nước với các giải pháp, công cụ cụ thể

để cộng đồng dân cư ở nông thôn phát triển sản xuất toàn diện; có nếp sống văn hoá, môi trường và an ninh nông thôn được đảm bảo; thu nhập, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng cao”

1.1.2 Vai trò kinh tế trong phát triển nông thôn

Nông thôn với địa bàn rộng mang tính đa dạng; Dân cư nông thôn gắn liền với nông nghiệp; Sản xuất phụ thuộc vào thiên nhiên, môi trường và gặp nhiều rủi

ro, nhất là đối với các nước có nền kinh tế lạc hậu; khoa học kỹ thuật kém phát triển Ở những nước đang phát triển và kém phát triển thì ph n đông dân số và lao động xã hội tập trung ở nông thôn, với sản xuất nông nghiệp là chủ yếu

Vai trò của Nhà nước đối với phát triển nông thôn là cung cấp các dịch vụ và hàng hóa công, việc mà thị trường tự do không đảm đương được Ngoài ra, một số lý

do khác biện minh cho sự can thiệp của Nhà nước vào khu vực nông thôn, là Nhà nước phải kích thích quá trình phát triển ngay từ điểm khởi đ u, và sau đó, tạo điều kiện cho các thành ph n tư nhân và thị trường tham gia Hơn nữa, quá trình chuyển đổi nông thôn về phía phát triển và xóa đói giảm nghèo c n nhiều công cụ chính sách, như: chính sách giá, thương mại tạo ra công ăn việc làm, phát triển nông thôn và trợ giúp lương thực Các chính sách cung cấp dịch vụ và hàng hóa công này, góp ph n thúc đẩy phát triển khu vực nông thôn, tạo ra tính năng động, hiệu quả và đồng thời thực hiện xóa đói giảm nghèo và bảo đảm tính công bằng, song song với tăng cường hiệu quả Phát triển nông thôn cũng đòi hỏi cơ sở hạ t ng và hàng hóa dịch vụ công hỗ trợ và thị

trường tốt Tuy nhiên, trong quá trình XDNTM hiện nay thì, vai trò kinh tế của Nhà

nước là một trong những yếu tố quyết định Nhà nước đã can thiệp mạnh và tích cực theo những chiến lược riêng, tuỳ thuộc điều kiện về kinh tế, văn hoá, nguồn lực cụ thể của từng địa phương Nhờ các chính sách kinh tế của Nhà nước đúng đắn, nông thôn đã trở nên năng động, linh hoạt, có tính cạnh tranh, sản xuất hàng hoá đáp ứng nhu c u nội địa và xuất khẩu

Quá trình chuyển đổi nông thôn về mặt phát triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo c n nhiều chính sách, như: chính sách hỗ trợ giống, vốn, tạo công ăn việc làm, chính sách hỗ trợ thị trường…Nhà nước đã có nhiều chính sách đ u tư vào lĩnh

Trang 17

vực kinh tế nông thôn, như: khuyến nông, xây dựng hạ t ng cơ sở, đặc biệt là thuỷ lợi, giao thông nội đồng, chính sách đất đai, can thiệp về giá

Nhà nước có vai trò quan trọng trong phát triển nông thôn và tuỳ thuộc vào điều kiện, nguồn lực, cách làm của mỗi quốc gia thúc đẩy nông thôn phát triển Đối với

Việt Nam trong công cuộc XDNTM - hiện đại hoá nông thôn c n phải nghiên cứu

sâu và thận trọng theo từng thời điểm

Nhà nước ban hành các chính sách kinh tế trong phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn là để Nhà nước thực hiện vai trò quản lý kinh tế đối với lĩnh vực này, nhằm tác động đến cá nhân, tổ chức, xã hội để đạt được mục tiêu quốc gia

về XDNTM

Với khoảng 70% dân số là nông dân, vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở Việt Nam luôn được Đảng và Nhà nước hết sức coi trọng trong các giai đoạn phát triển cách mạng Đảng và Nhà nước đã có những chủ trương và chính sách lớn

về vấn đề này, như:

- Tại đại hội Đảng toàn quốc l n thứ III: Đảng xác định ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, đồng thời ra sức phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ

- Tại Đại hội Đảng toàn quốc l n thứ IV: ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, kết hợp xây dựng công nghiệp và nông nghiệp cả nước thành một cơ cấu kinh tế công - nông - nghiệp

- Tại Đại hội Đảng toàn quốc l n thứ V: tập trung sức phát triển mạnh nông nghiệp, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đ u, đưa nông nghiệp từng bước lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, ra sức đẩy mạnh sản xuất hàng tiêu dùng và tiếp tục xây dựng một số ngành công nghiệp nặng quan trọng, kết hợp nông nghiệp, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và công nghiệp nặng trong một cơ cấu công - nông nghiệp hợp lý

- Tại Đại hội Đảng toàn quốc l n thứ VI: bảo đảm cho nông nghiệp, kể cả

lâm nghiệp, ngư nghiệp thực sự là mặt trận hàng đ u

Trang 18

- Tại Đại hội Đảng toàn quốc l n thứ VII: phát triển nông - lâm - ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến, phát triển toàn diện kinh tế nông thôn và XDNTM là nhiệm vụ quan trọng hàng đ u để ổn định tình hình kinh tế - xã hội , phát triển một

số ngành công nghiệp nặng trước hết để phục vụ cho sản xuất nông, lâm, ngư

nghiệp,

- Tại Đại hội Đảng toàn quốc l n thứ VIII: đặc biệt coi trọng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn, phát triển toàn diện nông, lâm, ngư

nghiệp gắn với công nghiệp chế biến nông - lâm - thủy sản

- Tại Đại hội Đảng toàn quốc l n thứ IX: đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn Tiếp tục phát triển và đưa nông, lâm, ngư

nghiệp lên một trình độ mới

- Tại Đại hội Đảng toàn quốc l n thứ X: đẩy mạnh hơn nữa công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn, giải quyết đồng bộ các vấn đề nông nghiệp,

nông thôn và nông dân Phát triển công nghiệp, xây dựng và dịch vụ

- Tại Đại hội Đảng toàn quốc l n thứ XI: phát triển nông - lâm - ngư nghiệp toàn diện theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với giải quyết tốt vấn đề nông dân, nông thôn

Như vậy, từ thực tiễn và yêu c u phát triển đất nước, nhận thức của Đảng và Nhà nước là quan tâm, chú ý tới phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong tổng thể sự phát triển chung của đất nước Vì nông dân không chỉ là một lực lượng quan trọng cách mạng và hiện còn đang chiếm tỷ lệ lớn trong dân số, mà chính nông nghiệp, nông dân Việt Nam luôn khẳng định vai trò đóng góp hết sức to lớn trong

sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước Nông nghiệp đã mở đường trong quá trình đổi mới, tạo nền tảng, động lực cho tăng trưởng kinh tế và là nhân tố quan trọng bảo đảm sự ổn định kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước Đến nay, kinh tế nước ta đã phát triển khá toàn diện, song sản phẩm nông nghiệp vẫn là những sản phẩm chủ yếu trong sự hội nhập kinh tế thế giới

Nhờ sự quan tâm của Nhà nước thể hiện bằng các chủ trương, chính sách đúng đắn, trong những năm đổi mới, nông nghiệp nước ta đã có bước phát triển vượt bậc, đạt được nhiều thành tựu Liên tục trong nhiều năm, nông nghiệp đạt mức tăng trưởng

Trang 19

khá cả về giá trị, sản lượng Vì vậy, từ chỗ là một nước thường xuyên thiếu lương thực, hàng năm phải nhập hàng triệu tấn lương thực của nước ngoài; hơn thập niên

qua Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo lớn (hiện đứng thứ 2 trên thế giới, năm 2011 có thể xuất khẩu tới 7 triệu tấn), đồng thời bảo đảm an ninh lương thực

quốc gia Ngoài gạo, Việt Nam còn chiếm vị thế cao trong số các nước xuất khẩu về

cà phê, cao su, hạt điều Giá trị xuất khẩu những mặt hàng nông sản khác như thủy sản, chế biến gỗ cũng ngày càng cao và trở thành các sản phẩm chủ lực trong cơ cấu xuất khẩu của đất nước Cơ cấu nông nghiệp cũng chuyển dịch theo hướng tích cực, gia tăng sản phẩm có giá trị kinh tế, có lợi thế cạnh tranh Trong nông nghiệp đã hình thành được một số vùng sản xuất tập trung quy mô lớn Bên cạnh đó, kết cấu

hạ t ng trong nông nghiệp và nông thôn được tăng cường Chẳng hạn, công tác thủy lợi hóa đã được thực hiện hết sức mạnh mẽ, đến nay 94% diện tích lúa, 41% diện tích hoa màu trong cả nước được tưới tiêu Việc áp dụng cơ giới hóa trong sản xuất

nông nghiệp triển khai khá rộng rãi (70% diện tích lúa được sử dụng máy móc)

Công nghệ tiên tiến, nhất là công nghệ sinh học được ứng dụng, góp ph n tăng chất lượng, hiệu quả sản xuất nông nghiệp Nông nghiệp nước ta hiện nay, tuy có tỷ trọng giảm đi trong cơ cấu kinh tế, song giá trị tuyệt đối ngày càng tăng và đóng

góp được 20% GDP cho đất nước Sự phát triển trong nông nghiệp thực sự là cơ sở

quan trọng, tạo tiền đề để nâng cao đời sống vật chất và tinh th n cho đại bộ phận

nông dân, góp ph n xóa đói giảm nghèo (Việt Nam được thế giới công nhận là điểm sáng trong thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo) và làm thay đổi bộ mặt nông

thôn theo hướng ngày càng văn minh, hiện đại hơn[21]

Có thể nói, XDNTM là một chương trình trọng tâm, xuyên suốt của Nghị quyết số 26-NQ/TW về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; là chương trình khung, tổng thể phát triển nông thôn với 11 nội dung lớn, tổng hợp của 16 chương trình mục tiêu quốc gia và 14 chương trình hỗ trợ có mục tiêu đang triển khai ở địa bàn nông thôn trên phạm vi cả nước XDNTM thực chất là chương trình do nhân dân lựa chọn, đóng góp công sức thực hiện và trực tiếp hưởng lợi Chương trình XDNTM có ý nghĩa rất lớn cả về kinh tế - chính trị - xã hội, vì nó mang lại lợi ích

thiết thân cho cư dân nông thôn(chiếm khoảng 70% dân số cả nước); thông qua đó,

Trang 20

chương trình sẽ điều hòa lợi ích, thành quả công cuộc đổi mới cho người dân khu vực nông thôn[19]

Tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả các tiêu chí nông thôn mới đối với các xã, huyện đã được công nhận đạt chuẩn Coi trọng các nội dung tổ chức sản xuất, tái cơ cấu nông nghiệp, phát triển ngành nghề, nâng năng lực sản xuất, nâng cao thu nhập, xóa đói, giảm nghèo, xây dựng đời sống văn hóa, xây dựng môi trường sống xanh - sạch - đẹp, đảm bảo an ninh trật tự ngày càng tốt hơn để nông thôn mới phát triển bền vững[19]

Qua 5 năm đ u triển khai Chương trình (2010-2015), mặc dù gặp nhiều khó khăn về nguồn lực, nhưng Chương trình đã đạt được những kết quả rất quan trọng Trong đó tính đến hết tháng 11/2015, cả nước có 1.298 xã (14,5%) được công nhận

đạt chuẩn Nông thôn mới Đặc biệt, số xã khó khăn nhưng có nỗ lực vươn lên (xuất phát điểm dưới 3 tiêu chí, nay đã đạt được 10 tiêu chí trở lên) là 183 xã

Cũng tính đến hết tháng 11/2015, đã có 11 đơn vị cấp huyện được Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định công nhận đạt chuẩn nông thôn mới là: huyện Xuân Lộc, Thống Nhất, Thị xã Long Khánh (Đồng Nai), Củ Chi, Hóc Môn, Nhà Bè (TP

Hồ Chí Minh), Đông Triều (Quảng Ninh), Hải Hậu (Nam Định), Đơn Dương (Lâm Đồng), Đan Phượng (TP Hà Nội), Thị xã Ngã Bảy (Hậu Giang) Ngoài ra còn 08 huyện, thị xã đã có Tờ trình của UBND tỉnh, thành phố đề nghị xét, công nhận

Đáng chú ý, mức thu nhập bình quân đ u người vùng nông thôn đạt 24,4

triệu đồng/năm (tăng khoảng 1,9 lần so với năm 2010) Đặc biệt trong 5 năm, cả

nước đã huy động được khoảng 851.380 tỷ đồng đ u tư cho Chương trình Trong

đó, Ngân sách Nhà nước (bao gồm các chương trình, dự án khác) 266.785 tỷ đồng

(31,34%), tín dụng 434.950 tỷ đồng (51%), doanh nghiệp 42.198 tỷ đồng (4,9%), người dân và cộng đồng đóng góp 107.447 tỷ đồng (12,62%)[19]

Đã có trên 9.000 mô hình sản xuất, với tổng vốn ngân sách hỗ trợ khoảng 8.400 tỷ đồng, đem lại năng suất thu nhập cao hơn trước từ 15%-40%

Đã có nhiều mô hình phát triển sản xuất hiệu quả cao được các địa phương quan tâm nghiên cứu, nhân rộng: thành phố Hồ Chí Minh, Lâm Đồng triển khai mạnh các

mô hình sản xuất ứng dụng công nghệ cao; tỉnh Lâm Đồng có 10.000 ha (11%) có mức

Trang 21

thu từ 500 triệu đến 1 tỷ đồng/ha/năm Một số tỉnh, thành phố đã bước đ u quan tâm

chỉ đạo, hình thành các mô hình sản xuất nông nghiệp gắn với du lịch ở nông thôn (xã Yên Đức, huyện Đông Triều, Quảng Ninh; xã Thông Nguyên, huyện Hoàng Su Phì,

tỉnh Hà Giang…), hàng năm đã thu hút được hàng trăm ngàn lượt khách du lịch

Các hoạt động nêu trên, đã góp ph n tăng thu nhập cho người dân nông thôn năm

2013 gấp 1,8 l n so với năm 2010 Tỷ lệ hộ nghèo nông thôn đến hết năm 2013 là 12,6% giảm bình quân 2%/năm so với năm 2008[6]

Cùng với Nghị quyết 26 về định hướng phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn thì cũng có nhiều chính sách liên quan tới phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn khác đã được sửa đổi và ban hành, đó là:

- Chính sách đất đai: Luật Đất đai số 45/2013/QH13 được Quốc hội thông

qua ngày 29 tháng 11 năm 2013, là sự đổi mới về chính sách đất đai, nhằm đáp ứng yêu c u phát triển kinh tế -xã hội trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; thực hiện dân chủ, công khai trong quá trình lập quy hoạch, kế hoạch

sử dụng đất; quy định về đảm bảo quyền lợi của người sử dụng đất…phù hợp với đường lối phát triển nông nghiệp, nông thôn, như: kéo dài thời hạn giao đất nông nghiệp từ 20 năm lên 50 năm, thống nhất cho cả đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm và đất lâm nghiệp; cho phép hộ gia đình, cá nhân tích tụ đất, từ đó khuyến khích nông dân gắn bó hơn với đất đai và yên tâm đ u tư sản xuất Mặt khác, Chính phủ có chính sách bảo vệ đất trồng lúa, hạn chế chuyển đất trồng lúa

sang sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp(Nghị định số 42/2012/NĐ-CP ngày 11/5/2012)

- Chính sách hỗ trợ vốn, giống, vật tư… phục vụ sản xuất nông nghiệp: Để

thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp, cải thiện đời sống người nông dân, Chính phủ đã có rất nhiều chính sách hỗ trợ nông dân Các chính sách của Chính phủ đã từng bước mang lại những lợi ích thiết thực, như: Chính sách thu mua lưu trữ tạm thời theo thời gian và khối lượng theo Quyết định số 287/2012/QĐ-TTg và Quyết

định số 311/2013/QĐ-TTg thu mua hàng triệu tấn lúa, gạo[7]; Các biện pháp hỗ trợ

giá Chính phủ đã điều hành hệ thống Dự trữ quốc gia đối với một số hàng hóa,

Trang 22

trong đó có hàng hóa nông nghiệp nằm trong lĩnh vực dự trữ là gạo và các đ u vào

sản xuất khác(Quyết định số 2091/2012/QĐ-TTg ngày 28 tháng 12 năm 2012)[7]…

Tiêu biểu trong số các chính sách là Quyết định số 01/2012/QĐ-TTg ngày 09/01/2012 của Thủ tướng Chính phủ, về một số chính sách hỗ trợ việc áp dụng quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt trong nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản

Từ năm 2008 đến nay, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành các

Quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt(VietGAP) cho rau, quả tươi; chè búp

tươi, lúa và cà phê VietGAP là những nguyên tắc, trình tự, thủ tục hướng dẫn tổ chức, cá nhân sản xuất, thu hoạch, sơ chế đảm bảo sản phẩm an toàn; nâng cao chất lượng sản phẩm, đảm bảo phúc lợi xã hội, sức khoẻ người sản xuất và người tiêu dùng, bảo vệ môi trường và truy nguyên nguồn gốc sản phẩm Những cơ sở sản xuất áp dụng quy trình và được cấp chứng chỉ VietGAP sẽ mang lại lòng tin cho nhà phân phối, người tiêu dùng và cơ quan quản lý Chứng chỉ VietGAP giúp người sản xuất xây dựng thương hiệu sản phẩm và tạo thị trường tiêu thụ ổn định Qua 5 năm thực hiện cho thấy, tác dụng thiết thực của chính sách với phát triển nông nghiệp, nông thôn

Tóm lại, những chính sách nông nghiệp, nông dân, nông thôn được ban hành,

đã làm thay đổi bức tranh nông thôn Việt Nam trong nhiều năm qua Có thể khẳng định chính sách kinh tế có t m quan trọng, vì đó là chủ trương, chính sách lớn của Đảng, Nhà nước nhằm thúc đẩy kinh tế, xã hội nông thôn phát triển; cải thiện và làm tăng mức sống cho người nông dân Chính sách nông nghiệp, một lĩnh vực rộng bao gồm: chính sách ruộng đất; chính sách đ u tư; chính sách thuế nông nghiệp; chính sách khoa học công nghệ và khuyến nông; mở rộng và đổi mới chính sách xã hội nông thôn; chính sách đào tạo, sử dụng, đãi ngộ cán bộ nông nghiệp nông thôn…thể hiện ở các hình thức chính sách sau:

+ Các chính sách tác động trực tiếp vào hoạt động sản xuất, làm thay đổi quy

mô cũng như phương hướng sản xuất trong nông nghiệp Một số chính sách kinh tế cho nông nghiệp như: chính sách giá, chính sách tín dụng, chính sách đ u tư phát triển, cơ sở hạ t ng, chính sách đất đai, chính sách khuyến nông

Trang 23

+ Các chính sách tác động điều chỉnh đến lĩnh vực hoạt động kinh tế, như: chính sách thuế, chính sách hỗ trợ vốn, chính sách đ u tư cơ sở hạ t ng phục vụ sản xuất Các chính sách này có vai trò tác động trực tiếp đến người sản xuất nông nghiệp, nhằm hiệu chỉnh các mối quan hệ giữa nông nghiệp với các khu vực khác trong toàn nền kinh tế, giữa người sản xuất nông nghiệp với người tiêu dùng nông sản trong xã hội

+ Các chính sách tác động hiệu chỉnh mối quan hệ kinh tế quốc gia với kinh

tế quốc tế, như: chính sách thuế, chính sách xuất nhập khẩu, chính sách tỷ giá…

- Chính sách lương thực: Ngày 04/11/2010, Chính phủ ban hành Nghị định

số: 109/2010/NĐ-CP về kinh doanh xuất khẩu gạo, đặt ra những điều kiện quy chuẩn, nhằm giảm bớt các đ u mối xuất khẩu, tránh hiện tượng tranh mua, tranh bán Hệ quả của chính sách này là tập trung xuất khẩu vào một số doanh nghiệp lớn,

loại bỏ các doanh nghiệp nhỏ vì khó đáp ứng được hai điều kiện trên(Điều 4 nghị định 109) Chính sách hỗ trợ sản xuất lương thực hiện nay chủ yếu tập trung vào

khuyến khích nâng cao chất lượng lúa gạo[7]

- Chính sách bảo hiểm nông nghiệp: Ngày 01/3/2011, Thủ tướng Chính phủ

ban hành quyết định số: 315/QĐ-TTg về thực hiện thí điểm bảo hiểm nông nghiệp giai đoạn 2011-2013 Đây là một nỗ lực lớn của Chính phủ nhằm bù đắp tổn thất cho nông dân khi gặp rủi ro trong sản xuất nông nghiệp Chính sách thí điểm bảo

hiểm nông nghiệp được thực hiện tại 20 tỉnh(Nam Định, Thái Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh, Bình Thuận, An giang, Đồng Tháp, Bắc Ninh, Đồng Nai, Vĩnh Phúc, Hải Phòng, Thanh Hoá, Bình Định, Bình Dương, Hà Nội, Bến Tre, Sóc Trặng, Trà Vinh, Bạc Liêu, Cà Mau) trên phạm vi cả nước và cho 3 đối tượng chính là: cây lúa, vật nuôi (trâu, bò, lợn và gia cầm) và thủy sản (tôm, cá tra, cá Ba Sa) Thực tiễn

triển khai hoạt động thí điểm bảo hiểm nông nghiệp cho thấy chủ trương của Đảng, Nhà nước trong việc triển khai bảo hiểm nông nghiệp là hết sức đúng đắn, đây là chính sách nhằm ổn định sản xuất và đời sống của người dân, góp ph n thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội

Trang 24

1.2 Chính sách phát triển kinh tế trong xây dựng nông thôn mới ở nước ta hiện nay

1.2.1 Mục tiêu của chính sách xây dựng nông thôn mới

Nghị quyết Trung ương 7 khoá X(số 26-NQ/TW) về nông nghiệp, nông dân,

nông thôn với mục tiêu là: “Xây dựng nông thôn mới nhằm xây dựng cộng đồng xã hội văn minh, có hạ t ng kinh tế - xã hội ngày càng hoàn thiện; cơ cấu kinh tế hợp

lý, các hình thức tổ chức sản xuất tiên tiến; gắn nông nghiệp với phát triển công nghiệp, dịch vụ và du lịch; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; từng bước thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn; xây dựng xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc; trình độ dân trí được nâng cao; môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh th n của người dân không ngừng được cải thiện, nâng cao”

Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ, phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia XDNTM giai đoạn 2010-2020, với mục tiêu phấn đấu số xã đạt chuẩn Nông thôn mới đến năm 2015 là 20% và đến năm 2020 là 50%; Ban hành Bộ tiêu chí quốc gia

về nông thôn mới làm cơ sở định hướng chỉ đạo XDNTM trên địa bàn xã và 05 quyết định về cơ chế, chính sách để thực hiện chương trình Các Bộ, ngành đã ban hành 05 quyết định và 52 Thông tư hướng dẫn thực hiện các cơ chế chính sách

1.2.2 Các chính sách phát triển kinh tế trong xây dựng nông thôn mới trên phạm

vi quốc gia

Ngày 10/6/2013, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số TTg phê duyệt Đề án “Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững”, trong đó nêu rõ định hướng về kinh tế là:

899/QĐ Hoàn thiện thể chế cho phát triển nông nghiệp theo định hướng thị trường; đổi mới và phát triển hệ thống quản lý và hệ thống tổ chức sản xuất, kinh doanh; tập trung khai thác và tận dụng tốt lợi thế của nền nông nghiệp nhiệt đới

- Xây dựng và phát triển các vùng chuyên canh quy mô lớn theo hình thức trang trại, gia trại, khu nông nghiệp công nghệ cao…đạt các tiêu chuẩn quốc tế với

Trang 25

các sản phẩm có lợi thế và khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới: Cà phê, cao

su, lúa gạo, cá da trơn, tôm, hạt tiêu, hạt điều, các loại hải sản khác, các loại rau, quả Đồng thời, duy trì quy mô và phương thức sản xuất đa dạng, phù hợp với điều kiện thực tế của từng vùng đối với các sản phẩm, nhóm sản phẩm có nhu c u nội địa lớn, nhưng khả năng cạnh tranh trung bình như đường mía

Theo đó, Đề án xác định sửa đổi, hoàn thiện hệ thống chính sách, cụ thể là:

* Thứ nhất, các chính sách hỗ trợ và tạo động lực cho sản xuất nông nghiệp

Xây dựng các chính sách để phát triển và đa dạng hóa các hình thức khuyến nông, giúp nông dân thay đổi tập quán canh tác và nâng cao chất lượng sản phẩm, bảo quản và tiêu thụ sản phẩm Hỗ trợ nông dân kết nối với các doanh nghiệp chế biến, hệ thống tiêu thụ sản phẩm, từng bước hình thành chuỗi cung ứng kết nối sản xuất, chế biến, phân phối và bán sản phẩm; kết nối công nghiệp với sản xuất nông

nghiệp; kết nối “bốn nhà”(Nhà nước, nhà Khoa học, nhà doanh nghiệp, nhà nông)

trong sản xuất, tiêu thụ; khuyến khích đ u tư phát triển công nghiệp chế biến nông,

lâm, thủy sản theo hướng hiện đại, chế biến tinh, chế biến sâu(kéo dài chuỗi sản phẩm); giảm d n và tiến tới hạn chế xuất khẩu nông sản thô

* Thứ hai, về chính sách đất đai

- Rà soát, kiểm soát chặt chẽ quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp; thực hiện công khai, minh bạch trong quản lý và giám sát thực hiện quy hoạch sử dụng đất theo Nghị quyết 17/2011/QH13 của Quốc hội; Đặc biệt đối với đất trồng lúa, đất rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, đất quy hoạch cho phát triển các mặt hàng nông sản chiến lược, mặt hàng xuất khẩu chủ lực, đất cho chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản;

rà soát, điều chỉnh để tăng diện tích đất rừng sản xuất, giảm diện tích đất rừng đặc dụng và rừng phòng hộ nhưng vẫn đảm bảo mục tiêu phòng tránh thiên tai, đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường

- Hạn chế việc thu hồi đất nông nghiệp cho các mục đích khác; áp dụng chính sách hỗ trợ, đảm bảo lợi ích chính đáng của người sử dụng đất bị thu hồi; tạo điều kiện thuận lợi để nông dân chuyển đổi mục đích sử dụng đất trong nội bộ ngành nông nghiệp, đạt hiệu quả sử dụng đất cao hơn, kể cả việc thay đổi cây trồng trên đất lúa nhưng không làm mất năng lực sản xuất lúa về lâu dài

Trang 26

* Thứ ba, về chính sách thương mại

- Nâng cao tính minh bạch, hiệu quả trong hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước về thương mại hàng nông sản; điều hành quản lý xuất, nhập khẩu linh hoạt để vừa thực hiện đúng các cam kết với các tổ chức quốc tế và các quốc gia mà Việt Nam đã ký; vừa bảo vệ được sản xuất trong nước, bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng và bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốc gia

- Thường xuyên cập nhật, thông báo về chính sách thương mại của các đối tác, các tổ chức quốc tế và các quốc gia để người sản xuất, kinh doanh nắm được, kịp thời điều chỉnh phương án sản xuất, kinh doanh hiệu quả; chủ động tiếp cận, đàm phán với các đối tác, quốc gia để giải quyết những tranh chấp hoặc tháo gỡ rào

cản thương mại(như thị trường cá tra, cá ba sa ở Mỹ)

- Tiếp tục hỗ trợ mạnh cho hoạt động xúc tiến thương mại, phát triển thị trường tiêu thụ hàng nông, lâm, thủy sản

- Kiểm soát chặt chẽ, xử lý nghiêm hoạt động buôn lậu và gian lận trong thương mại hàng nông, lâm, thủy sản và đặc biệt là quy trình, chất lượng sản phẩm

* Thứ tư, về Chính sách tiền tệ và tài chính

- Áp dụng cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái linh hoạt, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất, nhập khẩu khẩu nông sản và vật tư nông nghiệp

- Tăng hợp lý tỷ trọng vốn đ u tư của Ngân sách Nhà nước phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn; tiếp tục ưu tiên dành vốn tín dụng cho khu vực nông nghiệp và nông thôn

- Rà soát, sửa đổi, bổ sung cơ chế, chính sách, quy định pháp luật về tài chính, ngân sách nhà nước, bảo đảm công khai, minh bạch và trách nhiệm quản lý của các cấp, các đơn vị sử dụng Ngân sách Nhà nước liên quan đến ngành nông nghiệp, nông thôn

- Tiếp tục rà soát và điều chỉnh các khoản thuế, phí thu từ nông nghiệp, nông thôn, nông dân để vừa “kích thích” vừa hỗ trợ hợp lý cho các địa phương

Chính phủ đã có Nghị định số 61/2010/NĐ-CP, ngày 04/6/2010 về Chính sách khuyến khích doanh nghiệp đ u tư vào nông nghiệp, nông thôn với định hướng

Trang 27

đào tạo chuyển nghề cho lao động nông thôn, gắn đào tạo chuyển nghề với doanh nghiệp là công việc thường xuyên, lâu dài

1.3 Những nhân tố tác động đến chính sách phát triển kinh tế trong xây dựng nông thôn mới

- Về khách quan: khủng hoảng kinh tế thế giới kéo dài từ cuối năm 2008 đến nay và những khó khăn về kinh tế trong nước đã ảnh hưởng đến việc huy động và bố trí nguồn lực thực hiện chính sách

- Về chủ quan: một số cơ chế, chính sách và văn bản hướng dẫn thực hiện còn chậm được ban hành, sửa đổi bổ sung cho phù hợp, nhất là cơ chế, chính sách huy động sự tham gia của doanh nghiệp vào phát triển kinh tế nông thôn

- Về Cơ chế kinh tế: Thực tiễn lịch sử cho thấy kinh tế tự nhiên hay cơ chế

tập trung quan liêu, bao cấp đều cản trở sự phát triển kinh tế; cũng là yếu tố tác

động mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế Cơ chế thị trường với tác động của quy luật: giá trị, cạnh tranh, cung - c u kích thích sự phát minh sáng tạo, tăng năng suất lao động và tăng trưởng kinh tế nhanh Mặt khác, cơ chế thị trường cũng có tiêu cực, gây bất bình đẳng xã hội, làm cạn kiệt tài nguyên môi trường nên đòi hỏi phải có sự quản lý của Nhà nước Vì thế, cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa của Đảng và Nhà nước là cơ chế kinh tế thích hợp nhất đối với sự phát triển nền kinh tế quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta

- Về quan hệ sản xuất: Quan hệ sản xuất dùng để chỉ tổng thể mối quan hệ kinh

tế (quan hệ giữa người với người về mặt thực hiện lợi ích vật chất trong quá trình sản xuất và tái sản xuất xã hội) Quan hệ sản xuất bao gồm: quan hệ sở hữu đối với tư liệu

sản xuất, quan hệ trong tổ chức - quản lý quá trình sản xuất và quan hệ trong phân phối kết quả của quá trình sản xuất đó

Khi quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất thì nó tạo ra động lực thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển; ngược lại, khi nó không phù hợp sẽ là nhân tố cản trở, kìm hãm sự phát triển đó Sự phát triển xã hội phụ thuộc vào nhiều yếu tố tác động, nhưng yếu tố kinh tế giữ vai trò quyết định; trong đó lợi ích kinh tế của người lao động là yếu tố trực tiếp Lợi ích kinh tế là biểu hiện của quan hệ sản xuất được phản ánh trong ý thức, thành động cơ thúc đẩy hoạt

Trang 28

động sản xuất, kinh doanh nhằm thoả mãn nhu c u, mong muốn của các chủ thể trong nền kinh tế Vì vậy, quan hệ sản xuất trực tiếp chi phối lợi ích và tạo động lực cho sự phát triển kinh tế

- Những yếu tố thuộc về lực lượng sản xuất: phát triển kinh tế là sự phát triển lực lượng sản xuất Muốn phát triển kinh tế, phải tập trung phát triển lực lượng sản xuất Khoa học và công nghệ là thành tựu của văn minh nhân loại, nếu biết lựa chọn những công nghệ phù hợp thì sẽ tạo ra động lực tốt cho sự phát triển kinh tế bền vững Muốn vậy, c n phải có chính sách và tạo điều kiện c n thiết khuyến khích sáng tạo và ứng dụng khoa học công nghệ; tăng cường mở rộng hợp tác, liên kết chuyển giao khoa học, công nghệ tiên tiến để hoà nhập với sự phát triển chung của thế giới

- Những yếu tố khác: những yếu tố tồn tại trong xã hội bao gồm những quan điểm chính trị, pháp quyền, triết học, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật cùng với những thiết chế xã hội tương ứng như: Nhà nước, đảng phái, xã hội có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế Tác dụng của các yếu tố trên sẽ là tích cực khi nó tác động cùng chiều với sự vận động của quy luật kinh tế khách quan Ngược lại, nếu tác động ngược chiều với những quy luật đó thì nó sẽ cản trở, gây tác hại cho sự

phát triển sản xuất, cản trở sự phát triển kinh tế - xã hội

Kết luận chương 1

Chính sách XDNTM là nội dung có tính lý luận và thực tiễn rất cao Những vấn đề chung về lý thuyết chính sách công và thực tế hoạch định chính sách phát triển nông thôn ở Việt Nam qua các thời kỳ sẽ là cơ sở để đúc rút bài học kinh nghiệm cho quá trình hoàn thiện chính sách XDNTM Trong đó, muốn thực hiện thành công chính sách XDNTM trong chiến lược phát triển nông nghiệp phụ thuộc rất lớn vào chất lượng hoạch định chính sách

Chính sách XDNTM chịu sự tác động, chi phối của nhiều nhân tố như: về chính trị, kinh tế, xã hội, nhân tố bên trong và bên ngoài… Xây dựng và tổ chức thực hiện hệ thống chính sách xây dựng nông thôn là một quá trình phức tạp và công phu, bao gồm nhiều khâu, liên quan đến cả hệ thống tổ chức, bộ máy và con người

Trang 29

Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH KINH TẾ TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

2.1 Những nhân tố tác động đến thực hiện chính sách kinh tế trong xây dựng nông thôn mới tại thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội

2.1.1 Về tự nhiên, hành chính, dân số

Thị xã Sơn Tây nằm ở phía Tây Bắc của thủ đô Hà Nội, có diện tích tự nhiên 113,45 km2 (trong đó diện tích đất tự nhiên khu vực nông thôn là 92,44 km 2 , chiếm 81,48% diện tích tự nhiên toàn thị xã), dân số g n 18 vạn người (trong đó có khoảng 5 vạn quân nhân các đơn vị quân đội, sinh viên các trường đại học, cao đẳng, THCN và dạy nghề) Có 15 đơn vị hành chính, gồm 9 phường, 6 xã với 143

thôn, tổ dân phố; ngoài ra còn có 53 cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, bệnh viện, trường học của Trung ương, thành phố Hà Nội và 32 đơn vị quân đội đứng chân trên địa bàn thị xã Tổng số hộ dân nông thôn là 16.880 hộ với 61.113 nhân khẩu

(chiếm 44,48% tổng dân số thị xã trực tiếp quản lý); trong đó lao động trong độ tuổi 3,66 vạn người (chiếm khoảng 60%); lao động trực tiếp trong nông nghiệp 2,04 vạn người (chiếm khoảng 55,6%)

Thị xã có địa hình trung du, đất đai thuộc dạng bán sơn địa, nhiều đồi gò, ruộng bậc thang, các thửa đất nông nghiệp manh mún, không có cánh đồng mẫu lớn, nên việc áp dụng cơ giới hoá nông nghiệp, áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất bị hạn chế; đồng thời có nhiều diện tích đất không đưa được hệ thống thuỷ lợi vào, phải sử dụng nước ao, hồ nhỏ hoặc nước tự nhiên, dẫn đến việc tổ chức sản xuất nông nghiệp gặp khó khăn Tỷ lệ lao động nông nghiệp qua đào tạo còn thấp,

đa số hộ nông dân còn giữ nếp sản xuất theo tập quán truyền thống, ngại đổi mới; việc duy trì khung lịch thời vụ gieo cấy và đưa giống mới vào sản xuất còn ít, nên việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp chưa nhiều Thu nhập bình quân

đ u người ở vùng nông thôn còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo còn cao, chưa có bước đột phá, nhằm nâng cao thu nhập cho nông dân để thực hiện công tác xóa đói, giảm nghèo Trước khi xây dựng nông thôn mới, hệ thống đường giao thông liên xã đã

Trang 30

được bê tông và nhựa hoá; đường liên thôn, ngõ xóm, đường cấp phối và đường đất

còn nhiều; tỷ lệ cứng hoá kênh mương, đường nội đồng còn ít; hệ thống điện nông

thôn còn nhiều nơi chưa được đảm bảo; cơ sở vật chất các trường học ở cả 3 cấp đạt

chuẩn chưa nhiều; chưa có chợ theo quy hoạch đạt chuẩn Hạ t ng về y tế, hệ thống

bưu điện văn hóa xã cơ bản đáp ứng được nhu c u của nhân dân; các xã không có

nhà dột nát Do tính đặc thù, thị xã có 6/15 xã, phường xây dựng nông thôn mới,

riêng xã Đường Lâm vừa xây dựng chương trình nông thôn mới vừa phải thực hiện

việc quản lý và bảo tồn làng cổ, nên quá trình lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Chương

trình xây dựng nông thôn mới còn gặp nhiều khó khăn[39]

2.1.2 Chính trị, kinh tế, Văn hóa - xã hội

a) Một số chỉ tiêu kinh tế, xã hội đã đạt được

Qua 5 năm, kinh tế - xã hội của thị xã Sơn Tây phát triển khá đồng bộ, duy

trì được mức tăng trưởng kinh tế khá, góp ph n quan trọng vào việc đẩy mạnh công

nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Tốc độ tăng giá trị sản xuất tăng nhanh, năm 2011 tăng 6,4%(so 2010), đến

năm 2015 tăng 9,6%, gấp 1,5 l n so với năm 2011 Tốc độ tăng trưởng bình quân

giai đoạn 2011-2015 đạt 8,1%; thu nhập bình quân đ u người năm 2011 đạt 24,0

triệu đồng, đến năm 2015 đạt 34 triệu đồng/người/năm(tăng 1,42 lần so với 2011)

Bảng 2.1: Giá trị, cơ cấu kinh tế Sơn Tây qua một số năm

Chỉ tiêu

Đơn

vị tính

Kế hoạch giai đoạn 2011-

2015

Kết quả thực hiện hàng năm Kết quả

thực hiện giai đoạn 2011-

Trang 31

Nguồn: Văn kiện Đại hội Đảng bộ thị xã Sơn Tây nhiệm kỳ 2015-2020 [5]

Cơ cấu kinh tế của Thị xã đã có sự chuyển dịch theo hướng tích cực, giảm tỷ trọng ngành nông, lâm nghiệp - thủy sản và dịch vụ - thương mại - du lịch, tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp - xây dựng, đồng thời phát huy lợi thế trong từng ngành, lĩnh vực

Năm 2011, tỷ trọng ngành nông nghiệp - thuỷ sản chiếm 47,9% đến năm

2015, tỷ trọng ngành nông nghiệp - thuỷ sản giảm xuống còn 45,9% và tỷ trọng ngành dịch vụ - thương mại - du lịch còn 13,6%; tỷ trọng công nghiệp - xây dựng tăng lên 40,5% Tỷ trọng các ngành công nghiệp tăng lên, tạo ra sự thay đổi đáng kể trong cơ cấu kinh tế Bước đ u đã hình thành một số ngành, lĩnh vực, sản phẩm quan trọng tạo động lực cho phát triển kinh tế - xã hội

- Giá trị sản xuất công nghiệp, xây dựng bình quân thực hiện 2.756 tỷ

đồng/năm(giá so sánh năm 2010), tăng bình quân 7,6%/năm Tăng cường công tác quản lý điểm công nghiệp Phú Thịnh và Sơn Đông, với tổng diện tích 21 ha(đến nay, 02 điểm công nghiệp có 15 doanh nghiệp hộ kinh doanh thuê đất sản xuất, kinh doanh đi vào hoạt động ổn định, giải quyết việc làm cho gần 750 lao động) Công

tác dạy nghề, phát triển các ngành nghề, làng nghề được quan tâm, đã mở 109 lớp dạy nghề cho 4.685 học viên với số tiền là 2.332 tỷ đồng; trong nhiệm kỳ thị xã được công nhận 02 làng nghề truyền thống Công tác quản lý chất lượng sản phẩm hàng hóa, về sinh an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường, an toàn lao động và phòng, chống cháy nổ đã đi d n vào nề nếp

Chỉ đạo thực hiện nghiêm túc Nghị quyết số 09/NQ-HĐND ngày 26/10/2012

của Hội đồng nhân dân thị xã về “Phát triển thương mại – du lịch – dịch vụ trên địa bàn thị xã Sơn Tây giai đoạn 2012 – 2016, định hướng đến năm 2020” Tổng mức lưu chuyển hàng hóa bình quân thực hiện 7.271 tỷ đồng/năm(giá thực tế), tăng bình

quân 10,3%/năm Tập chung chỉ đạo thực hiện Nghị quyết số 13/NQ-CP của Chính phủ về một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường, đã tạo điều kiện thuận lợi cho các loại hình dịch vụ phát triển; thị xã hiện có

361 doanh nghiệp và 5.276 hộ hoạt động kinh doanh thương mại, du lịch, dịch vụ Hoàn thành lập Quy hoạch phát triển thương mại đến năm 2020, t m nhìn đến năm

Trang 32

2030; hệ thống chợ, siêu thị được khuyến khích đ u tư phát triển, cơ bản đáp ứng nhu c u tiêu dùng của nhân dân Tỷ trọng hàng hóa lưu thông qua các siêu thị chiếm

từ 5 – 10% trong các kênh phân phối; hệ thống cửa hàng xăng d u phát triển(hiện

có 17 cửa hàng) đáp ứng nhu c u sản xuất, vận tải và tiêu dùng Thực hiện chuyển

đổi mô hình kinh doanh khai thác một số chợ trên địa bàn Quan tâm đ u tư phát triển hệ thống cung cấp nước máy đến các xã, phường Hệ thống vận tải hành khách công cộng, tiếp tục duy trì phát triển các tuyến xe buýt và hơn 200 xe taxi; dịch vụ truyền hình cáp phát triển nhanh đến từng thôn, tổ dân phố Dịch vụ khám chữa bệnh không ngừng phát triển, đáp ứng nhu c u khám chữa bệnh của nhân dân Đẩy mạnh công tác quản lý, kiểm soát thị trường, phát hiện xử lý 1.045 vụ vi phạm, góp

ph n bình ổn giá và chất lượng hàng hóa trên thị trường Đã đ u tư 323,643 tỷ đồng

để nâng cấp toàn bộ hệ thống lưới điện cao áp và trung áp, đảm bảo 100% hộ dân được sử dụng điện sinh hoạt, đáp ứng nhu c u sản xuất kinh doanh

- Quan tâm chỉ đạo phát triển ngành du lịch và dịch vụ Chú trọng công tác bảo tồn, phát huy giá trị các di tích, tăng cường thông tin, quảng bá về du lịch, thu hút ngày càng đông lượng du khách đến thị xã

- Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản bình quân đạt 773 tỷ

đồng/năm(giá so sánh năm 2010), tăng bình quân 8,1%/năm; tổng sản lượng bình quân cây lương thực có hạt đạt 22.100 tấn/năm(tăng 3.000 tấn so năm 2010), giá trị canh tác năm 2015 đạt 80 triệu đồng/ha(tăng 32,2 triệu đồng/ha so năm 2010)

Quan tâm chỉ đạo chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi ở các vùng đất đồi, gò, tập trung ở các xã Sơn Đông, Cổ Đông, Thanh Mỹ, Kim Sơn, Xuân Sơn; đã xét duyệt

78 dự án với diện tích 155,3 ha đất nông nghiệp, hiệu quả kinh tế mỗi dự án đạt 100

triệu đến 700 triệu đồng/năm(t y theo quy mô của mỗi dự án) Công tác khuyến

nông, bảo vệ thực vật được chú trọng, đã mở 179 lớp tập huấn cho 9.850 lượt học viên, tổ chức nhiều đợt thăm quan, học tập kinh nghiệm mô hình sản xuất nông nghiệp hiệu quả, để áp dụng vào sản xuất Chú trọng nâng cao giá trị kinh tế trang trại, tăng tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp Trên địa bàn thị xã hiện có 102 trang trại chăn nuôi gia súc, gia c m, giá trị sản xuất bình quân hàng năm đạt từ 1-3

tỷ đồng/trang trại; tạo việc làm ổn định cho trên 1.000 lao động

Trang 33

- Chỉ đạo thực hiện chương trình XDNTM ở các xã theo 19 tiêu chí Quốc gia bước đ u đạt kết quả tích cực; đến nay 3/6 xã đã được công nhận hoàn thành nông thôn mới Đã quan tâm đ u tư xây dựng hạ t ng xã hội và hạ t ng cơ sở phục vụ sản xuất nông nghiệp; tổng kinh phí đ u tư XDNTM 774 tỷ đồng, trong đó nhân dân tự nguyện đóng góp là 96,788 tỷ đồng; công tác xây dựng hạ t ng nông thôn mới được quan tâm Công tác dồn điều đổi thửa đất nông nghiệp cơ bản hoàn thành, đã thực hiện 1.304,5ha đạt 129,9% kế hoạch Thành phố giao; diện tích dôi dư sau dồn điền đổi thửa 49,7ha Đời sống người nông dân từng bước được cải thiện, cảnh quan, môi trường, nông nghiệp, nông thôn ngày càng xanh, sạch, đẹp và văn minh

- Tập trung đ u tư cải tạo, nâng cấp hệ thống thủy lợi nội đồng phục vụ sản xuất nông nghiệp, chủ động triển khai các phương án phòng, chống thiên tai Quan tâm chăm sóc, bảo vệ và phát triển rừng; chú trọng công tác phòng cháy, chữa cháy rừng; tổng diện tích rừng 636,49ha, trong đó rừng trồng 631,69ha

- Thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 11/NQ-HĐND ngày 26/10/2012 về

“Phát huy tiềm năng, lợi thế, huy động nguồn lực để xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng đô thị, nông thôn, hạ tầng xã hội của thị xã Sơn Tây đến năm 2015, định hướng đến năm 2020” Công tác thu, chi ngân sách nhà nước đã chỉ đạo quyết liệt

và đồng bộ bằng nhiều giải pháp tích cực trong công tác thu thuế, phí và lệ phí đảm bảo công khai nhằm tận thu cho ngân sách; tổng thu Ngân sách Nhà nước trong 5

năm(2011-2015) đạt 921 tỷ đồng(tăng gần 2 lần so 5 năm trước); trong đó các

khoản thu thuế ngoài quốc doanh, phí và lệ phí hàng năm đều vượt chỉ tiêu kế hoạch

Thành phố giao(vượt 11,23%) Tổng thu, chi ngân sách Thị xã và xã, phường đạt 4.005,19 tỷ đồng(tăng gần 4 lần so 5 năm trước) Công tác quản lý ngân sách nhà

nước chặt chẽ, đúng quy định, giải quyết cơ bản nợ đọng trong xây dựng cơ bản

- Hoạt động của các tổ chức tín dụng, ngân hàng trên địa bàn ổn định và từng bước phát triển Tổng huy động vốn của các ngân hàng đạt trên 6.800 tỷ đồng, đảm bảo nhu c u vay vốn cho các thành ph n kinh tế, góp ph n thúc đẩy phát triển kinh

tế - xã hội Ngân hàng chính sách – xã hội đã cho hơn 10.000 lượt hộ nghèo vay vốn phát triển sản xuất và 2.354 sinh viên có hoàn cảnh khó khăn vay vốn đ u tư học tập, với tổng dư nợ đạt 105,4 tỷ đồng, góp ph n bảo đảm an ninh xã hội, giảm tỷ lệ

Trang 34

hộ nghèo trên địa bàn thị xã Thu hút các vốn đ u tư ngoài ngân sách nhà nước đạt

khá(thực hiện 6.141 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 60% tổng vốn đầu tư toàn thị xã)

b) Lĩnh vực văn hóa - xã hội

- Đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ phát triển

văn hóa - xã hội, trọng tâm là Chương trình số 04-CTr/TU của Thành ủy về “Phát triển văn hóa - xã hội, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Thủ đô, xây dựng người

Hà Nội thanh lịch, văn minh giai đoạn 2011 - 2015”

- Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” đi vào chiều

sâu, đạt kết quả thiết thực, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức, hành động của các cấp, các ngành và toàn xã hội Các thiết chế văn hóa ở cơ sở từng bước được hoàn thiện, đáp ứng ngày càng cao nhu c u hưởng thụ của nhân dân Xây

dựng và thực hiện tốt Đề án “Nâng cao chất lượng hoạt động của nhà văn hóa thôn, tổ dân phố”; đến nay có 130/143 thôn, tổ dân phố có nhà văn hóa(đạt 90,4%);

100% thôn, tổ dân phố xây dựng được quy ước văn hóa Công tác quản lý các dịch

vụ văn hóa đã có nhiều chuyển biến tích cực

- Công tác bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể được quan tâm Xây dựng, triển khai Đề án bảo tồn và phát huy văn hóa “xứ Đoài”, gắn với xây dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh; lập hồ sơ đề nghị xếp hạng 5

di tích, nâng tổng số di tích được xếp hạng là 68/226; hoàn thành Quy hoạch bảo tồn và phát huy giá trị di tích Làng cổ ở Đường Lâm Tranh thủ các nguồn vốn đ u

tư tu bổ, tôn tạo một số di tích được xếp hạng như: Thành cổ Sơn Tây, các ngôi nhà

cổ tại di tích Làng cổ ở Đường Lâm, Văn Miếu, đền và lăng Ngô Quyền, Nhà thờ Thám hoa Giang Văn Minh, đình Cam Thịnh… với tổng kinh phí 140 tỉ đồng, trong

đó 25 tỷ đồng từ nguồn kinh phí đóng góp của Nhân dân Các lễ hội và di sản văn hóa phi vật thể, các giá trị truyền thống được quan tâm gìn giữ Công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di tích Làng cổ ở Đường Lâm bước đ u có hiệu quả, ý thức của cán bộ, Nhân dân trong việc bảo tồn, tôn tạo di tích được nâng cao, nhiều

di tích xuống cấp được Nhân dân đóng góp tu bổ

- Công tác thông tin, tuyên truyền được tăng cường, chất lượng hoạt động được nâng lên Đến nay, có 100% các xã, phường sử dụng hệ thống truyền thanh

Trang 35

không dây; hàng năm xây dựng g n 300 chương trình, trên 2.000 tin bài phát thanh,

08 trang truyền hình, tổ chức tốt hoạt động của Trang Thông tin điện tử thị xã; dựng nhiều phóng sự cộng tác truyền hình phục vụ các nhiệm vụ chính trị

- Các hoạt động thể dục, thể thao tiếp tục phát triển, nhất là phong trào thể thao qu n chúng Hiện có 126 câu lạc bộ hoạt động thường xuyên, số người tham gia tập luyện thường xuyên là 51.855 người, đạt 38,5% tổng số dân Số người đạt tiêu chuẩn rèn luyện thân thể 34.070 người; 6.730 gia đình thể thao, đạt 21% tổng

số hộ; tổ chức 209 giải thể thao với 33.428 vận động viên tham dự Cử 122 đội tuyển với 1.549 vận động viên tham dự các giải cấp thành phố đạt 498 huy chương các loại Đăng cai tổ chức thành công nhiều giải thi đấu cấp thành phố

- Công tác xã hội hóa đối với hoạt động thể dục thể thao ngày càng được mở rộng, có 74 doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân tài trợ 1.830 triệu đồng Hàng năm, có khoảng 40 nghìn lượt người đến tập luyện ở bể bơi; phổ cập bơi cho 4.000 thanh thiếu niên, trong đó có 2.500 học sinh được đào tạo miễn phí, giảm đáng kể tình trạng đuối nước ở lứa tuổi thanh thiếu nhi

- Chất lượng giáo dục toàn diện, phổ cập giáo dục ngày càng được nâng lên,

có 100% các xã, phường đạt chuẩn phổ cập giáo dục m m non cho trẻ em 5 tuổi và phổ cập giáo dục tiểu học, trung học cơ sở; đến nay đã có 10 xã, phường đạt phổ

cập bậc trung học phổ thông (tăng 4 đơn vị so với năm 2010) Tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi m m non đến trường tăng từ 58% (năm 2010) lên 62%(năm 2015); tỷ lệ học sinh tiểu học, học 2 buổi/ngày đạt 100% (tăng 30% so với năm 2010); học sinh đạt phổ cập bậc trung học phổ thông và tương đương tăng từ 81,7% (năm 2010) lên 95,3% (năm 2015); 100% giáo viên đạt chuẩn về trình độ đào tạo, trong đó giáo viên đạt trên chuẩn tăng từ 65% (năm 2010) lên 77,7% (năm 2015); tổng kinh phí

đ u tư cơ sở vật chất, cơ bản xóa xong phòng học tạm, phòng học được kiên cố hóa

tăng từ 80%(năm 2010) lên 97,7% (năm 2015); tổng kinh phí đ u tư cho lĩnh vực

giáo dục là 482,431 tỷ đồng; 100% trường học triển khai ứng dụng công nghệ thông tin và hoạt động quản lý, dạy và học Xây dựng 17 trường học đạt chuẩn quốc gia,

nâng tổng số lên 25 trường, đạt 55,5% số trường học(mầm non, tiểu học, trung học

Trang 36

cơ sở) toàn thị xã Xây dựng xã hội học tập, công tác khuyến học, khuyến tài được

quan tâm; trung tâm học tập ở cộng đồng ở 15 xã, phường hoạt động đi vào nề nếp

- Công tác đ u tư ứng dụng khoa học- công nghệ được quan tâm và thực hiện đúng định hướng của thành phố, góp ph n nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất, kinh doanh Trong 5 năm, có 1.152 đề tài nghiên cứu khoa học, sáng kiến cải tiến kỹ thuật trong lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, du lịch, y tế được ứng dụng thực tiễn, mang lại hiệu quả thiết thực; có 585 đề tài, sáng kiến trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo được thành phố công nhận áp dụng trong giảng dạy Xây dựng,

áp dụng hệ thống chất lượng theo tiêu chuẩn ISO của các cơ quan hành chính nhà nước; đến nay có 12 đơn vị đã triển khai áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001: 2008 vào hoạt động đạt hiệu quả

- Hệ thống cơ sở y tế, bệnh viện được đ u tư nâng cấp, trang thiết bị từng bước hiện đại, ứng dụng hiệu quả các kỹ thuật tiên tiến trong khám và điều trị Tích cực, chủ động công tác phòng, chống các loại dịch bệnh, khống chế không để xảy ra dịch bệnh trên địa bàn Các chương trình mục tiêu quốc gia về y tế được triển khai đồng bộ, đạt được nhiều kết quả; tỷ lệ trẻ em được tiêm chủng đ y đủ các loại vắc xin đạt 100% Mạng lưới y tế cơ sở được củng cố, kiện toàn, đến nay có 100% thôn

có nhân viên y tế; 12/15 trạm y tế có bác sỹ làm việc; 13/15 xã, phường đạt chuẩn

Bộ tiêu chí quốc gia về y tế giai đoạn 2011 - 2020; 100% trường học có nhân viên y tế; 45% làng, tổ dân phố sức khỏe Công tác quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm được tăng cường, không để xảy ra các vụ ngộ độc thực phẩm Các cơ sở hành nghề

y dược tư nhân được quản lý chặt chẽ, góp ph n vào sự nghiệp chăm sóc sức khỏe nhân dân

- Công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình được tăng cường: Đẩy mạnh công tác truyền thông dân số - kế hoạch hóa gia đình, đặc biệt chú trọng đến vùng đông dân có mức sinh con cao, gắn với việc đáp ứng thuận lợi các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản cho các đối tượng; duy trì ổn định quy mô dân số, tỷ suất sinh thô

năm 2015 là 14,2%o (giảm 0,2%o so với năm 2010); tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên 9,9%(tăng 1,9% so với năm 2010), tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên dưới 1%

Trang 37

- Trong 5 năm, tổ chức dạy nghề cho 13.477 người, đạt 107,81% kế hoạch;

số người sau học nghề có việc làm ổn định đạt trên 70%; giải quyết việc làm 15.039 lao động, đạt 100,26% kế hoạch, trong đó xuất khẩu lao động được 132 người, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 37,03%

- Triển khai 311 dự án có nguồn ưu đãi cho các hộ nghèo vay 40,2 tỷ đồng, tạo việc làm thêm cho 2.612 lao động; đã cấp 19.240 thẻ bảo hiểm y tế cho hộ nghèo với trị giá 9,4 tỷ đồng, 1.925 thẻ bảo hiểm y tế cho hộ cận nghèo với trị giá 1,1 tỷ đồng Hỗ trợ giải quyết cho 2.366 hộ thoát nghèo, số hộ nghèo giảm bình quân 1,39%/năm; đến hết năm 2015, tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 2,4%

- Thực hiện tốt chính sách đối với thương binh, gia đình liệt sỹ và người có công; phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” được triển khai sâu rộng trong nhân dân Cấp thẻ bảo hiểm y tế cho 12.698 người có công, trị giá 5,7 tỷ đồng; trợ cấp một l n cho 9.028 đối tượng, với số tiền 11,875 tỷ đồng; giải quyết cho 1.538 học sinh hưởng trợ cấp ưu đãi giáo dục, với tổng số tiền 3,67 tỷ đồng; tổ chức cho 1.630 lượt người

có công đi điều dưỡng Vận động ủng hộ quỹ “Đền ơn đáp nghĩa” thu được 2,1 tỷ

đồng, đạt 108,3%; vận động xây 24 nhà tình nghĩa cho gia đình chính sách, trị giá 1,409 tỷ đồng; tặng 61 sổ tiết kiệm cho người có công, trị giá 128 triệu đồng; nâng cấp các nghĩa trang liệt sỹ, tổng trị giá 10,7 tỷ đồng…

c) Về chính trị nội bộ

Đội ngũ cán bộ lãnh đạo từ Thị xã đến xã, phường có năng lực quản lý điều hành bộ máy chính quyền, có ý thức chính trị cao trong hoạch định chính sách, là nhân tố quyết định sự thành công của chính sách Ngoài ra, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ, công chức các phòng, ban, ngành, tính hiệu quả trong công tác chỉ đạo, phối hợp giữa các cơ quan của Đảng, Chính quyền, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và Đoàn thể các cấp đóng góp lớn vào quá trình thực hiện chính sách

Việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở được thực hiện nghiêm chỉnh, các phong trào xây dựng làng, cơ quan văn hóa, xóa đói giảm nghèo; phong trào xây dựng kết cấu hạ t ng ở nông thôn… được triển khai một cách dân chủ, công bằng và đúng pháp luật, tạo ra hiệu ứng tốt trong thực thi chính sách, góp ph n giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội Trên cơ sở đó, các địa phương cơ sở đã có cách

Trang 38

thực hiện sáng tạo, để cho nhân dân tự bàn bạc thống nhất cách tháo gỡ khó khăn, đóng góp ý kiến vào vấn đề chuyển đổi cơ cấu kinh tế, phát triển và mở rộng ngành nghề, giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho nông dân

Thực hiện dân chủ cơ sở, dân chủ trong Đảng thực sự, sẽ tạo ra sự thông thoáng, thuận lợi cho quá trình hoạch định, thực thi, đánh giá chính sách, góp ph n đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, XDNTM Tuy nhiên, việc thực hiện dân chủ có lúc còn hình thức, nên đã làm ảnh hưởng đến lòng tin của dân vào tính phù hợp của chính sách, ít nhiều ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả thực thi chính sách

Bên cạnh đó, còn một bộ phận nhỏ cán bộ, đảng viên còn chưa chấp hành nghiêm pháp luật, chưa tích cực ủng hộ các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, để góp ph n thực hiện thành công chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn Vai trò giám sát, phản biện chính sách của các hội, đoàn thể các cấp chưa thực sự mạnh và chưa có ảnh hưởng sâu rộng đến các quá trình chính sách chung và hiệu quả XDNTM

Tập trung chỉ đạo xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của cấp ủy đảng và đội ngũ đảng viên; Chú trọng công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng độ ngũ cấp ủy các cấp Ban hành nghị quyết chuyên đề số 19-NQ/TU về “Quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ xã, phường giai đoạn 2011 – 2015” Đội ngũ cán bộ diện Thành ủy quản lý có trình độ chuyên môn sau đại học đạt 20%, trình độ lý luận chính trị cao cấp đạt 100%; Cán bộ chủ chốt xã, phường có trình độ lý luận chính trị từ trung cấp

tăng từ 62,8%(năm 2010) lên 96,7%(năm 2015), trình độ đại học tăng từ 38,1% lên

72,5% năm 2015 Quan tâm bố trí, luân chuyển, điều động cán bộ; chú trọng sử dụng cán bộ trẻ, cán bộ nữ Ban hành ”Đề án luân chuyển cán bộ lãnh đạo và định

kỳ chuyển đổi vị trí công tác đối với công chức, viên chức thị xã Sơn Tây giai đoạn 2011-2015” Thực hiện điều động, luân chuyển 46 trường hợp; bổ nhiệm, bổ nhiệm

lại 87 trường hợp; kiện toàn cấp ủy cơ sở 77 trường hợp

d) Đội ng cán bộ lãnh đạo quản lý

Đội ngũ cán bộ đạo quản lý, công chức, cán bộ tổ chức chính trị xã hội các cấp từ Thị xã đến xã, phường hiện nay có khoảng g n 500 người Đây là lực lượng

Trang 39

quan trọng, tham gia vào quá trình lãnh đạo thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh

tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh ở địa phương

Bộ máy chính quyền từ Thị xã đến xã, phường được kiện toàn kịp thời; hoàn thành việc xây dựng đề án vị trí việc làm và cơ cấu ngạch công chức, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp của 12 cơ quan chuyên môn Rà soát, quy định bộ máy, điều chỉnh chức năng nhiệm vụ của các phòng ban thuộc thị xã Công tác tuyển dụng công chức, viên chức được thực hiện đúng quy định của pháp luật; trong 5 năm đã tuyển dụng được 735 công chức, viên chức, bổ sung kịp thời nguồn nhân lực cho các cơ quan đơn vị Đây cũng là yếu tố quyết định sự thành bại của hoạch định và thực thi chính sách Lãnh đạo các cấp quan tâm chú ý hơn đến kỹ năng, nghiệp vụ soạn thảo, hoạch định chính sách, cơ hội, điều kiện tiếp cận thông tin, khả năng tiếp cận thực tế; đội ngũ cán bộ hoạch định chính sách, có khả năng nhận thức các vấn

đề chính trị - xã hội, nâng cao tính khoa học, tính thời đại, tính địa phương vào các chính sách

Tóm lại, các yếu tố nêu trên vừa là điều kiện, vừa là thời cơ, thách thức của Thị xã, vừa là kết quả các chính sách phát triển kinh tế - xã hội của thị xã trong thời gian qua; là cơ sở thực tiễn, nhân tố cơ bản định hướng quá trình hoạch định chính sách kinh tế nông nghiệp, nông thôn toàn thị xã trong thời gian tiếp theo

2.2 Tổ chức thực hiện chính sách phát triển kinh tế trong xây dựng nông thôn mới tại thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội

2.2.1 Mục tiêu và tiêu chí xây dựng nông thôn mới tại thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội

Xuất phát từ đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội ở địa phương và Thực hiện Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010, của Thủ tướng Chính phủ

về phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020, Thị ủy, HĐND, UBND thị xã Sơn Tây đã tập trung mọi nguồn lực và ban hành các chính sách kinh tế nhằm đạt được mục tiêu XDNTM, cụ thể:

Nông thôn mới là nhằm xây dựng cộng đồng xã hội văn minh, có hạ t ng kinh tế - xã hội ngày càng hoàn thiện; cơ cấu kinh tế hợp lý, các hình thức tổ chức sản xuất tiên tiến; gắn nông nghiệp với phát triển công nghiệp, dịch vụ và du lịch;

Trang 40

gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; từng bước thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn;

Xây dựng xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc; trình độ dân trí được nâng cao; môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh th n của người dân không ngừng được cải thiện, nâng cao

Để thực hiện đảm bảo Chương trình mục tiêu quốc gia về XDNTM, Đảng

bộ, chính quyền Sơn Tây đã bám sát yêu c u và đề ra mục tiêu phù hợp với điều kiện của địa phương, đó là:

- Phấn đấu đến năm 2013 xã điểm Sơn Đông đạt chuẩn nông thôn mới theo tiêu chí Quốc gia;

- Đến năm 2015 có ít nhất 03 xã đạt chuẩn nông thôn mới theo tiêu chí Quốc gia;

- Phấn đấu đến năm 2020 hoàn thành việc xây dựng nông thôn mới trên địa bàn thị xã Sơn Tây

2.2.2 Triển khai t chức thực hiện chính sách phát triển kinh tế trong xây dựng nông thôn mới thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội

a) Công tác chỉ đạo, điều hành, quản lý

Bám sát chỉ đạo của thành ủy Hà Nội, Thị ủy đã chỉ đạo xây dựng chương trình, thành lập Ban chỉ đạo do đồng chí Bí thư Thị ủy làm Trưởng ban; đồng chí Chủ tịch UBND Thị xã làm Phó Trưởng ban thường trực; thành viên là đại diện lãnh đạo các phòng, ban chuyên môn; thành lập tổ công tác giúp việc Ban Chỉ đạo

do đồng chí Phó Chủ tịch UBND Thị xã phụ trách khối kinh tế làm Tổ trưởng và thành viên là các đồng chí đại diện lãnh đạo, chuyên viên các phòng, ban chuyên môn; tổ chức phân công rõ nhiệm vụ, trách nhiệm, trách nhiệm đối với từng thành viên Ban Chỉ đạo

Tổ chức tốt lễ phát động toàn dân chung sức XDNTM và thực hiện nghiêm túc việc tổ chức các hội nghị sơ, tổng kết Chương trình theo quy định; Ban chỉ đạo Thị xã thường xuyên họp giao ban, kiểm tra nắm bắt tình hình thực tế triển khai ở

cơ sở và kịp thời tháo gỡ, rút kinh nghiệm Chỉ đạo HĐND, UBND Thị xã, đảng ủy các xã ban hành chương trình, kế hoạch cụ thể để triển khai thực hiện

Ngày đăng: 30/09/2016, 16:34

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1: Kế hoạch, chỉ tiêu Kinh tế - xã hội 5 năm (2016 – 2020) - Chính sách phát triển kinh tế trong xây dựng nông thôn mới từ thực tiễn thị xã sơn tây, thành phố hà nội
Bảng 3.1 Kế hoạch, chỉ tiêu Kinh tế - xã hội 5 năm (2016 – 2020) (Trang 61)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm