VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆN CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ NGUYỄN THÚY HẰNG GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH THÚ
Trang 1VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
VIỆN CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
NGUYỄN THÚY HẰNG
GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY ĐÀO TẠO
NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG LĨNH VỰC ĐIỆN HẠT NHÂN HIỆN NAY TỪ THỰC TIỄN CỦA VIỆN NĂNG LƯỢNG NGUYÊN TỬ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
HÀ NỘI - 2016
Trang 2VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
VIỆN CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
NGUYỄN THÚY HẰNG
GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY ĐÀO TẠO
NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG LĨNH VỰC ĐIỆN HẠT NHÂN HIỆN NAY TỪ THỰC TIỄN CỦA VIỆN NĂNG LƯỢNG NGUYÊN TỬ VIỆT NAM
Chuyên ngành: Quản lý Khoa học và Công nghệ
Mã số: 60.34.04.12
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS NGUYỄN HỮU XUYÊN
HÀ NỘI - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan:
Luận văn này do chính tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của
TS Nguyễn Hữu Xuyên
Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và hoàn toàn do tôi thực hiện Các đoạn trích dẫn và số liệu sử dụng trong luận văn đều được dẫn nguồn và có độ chính xác cao nhất trong phạm
vị hiểu biết của tôi
Hà Nội, ngày 28 tháng 7 năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Thúy Hằng
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY ĐÀO TẠO NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG LĨNH VỰC ĐIỆN HẠT NHÂN 5 1.1 Khái quát đào tạo nhân lực khoa học và công nghệ trong lĩnh vực điện hạt nhân 5
1.2 Vai trò của nhân lực khoa học và công nghệ trong lĩnh vực điện hạt nhân 7
1.3 Chính sách thúc đẩy đào tạo nhân lực khoa học và công nghệ trong lĩnh vực điện hạt nhân 8
1.4 Kinh nghiệm về chính sách thúc đẩy đào tạo nhân lực khoa học và công nghệ trong lĩnh vực điện hạt nhân của một số nước trên thế giới và bài học cho Việt Nam 16
Chương 2: THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY ĐÀO TẠO NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG LĨNH VỰC ĐIỆN HẠT NHÂN TỪ THỰC TIỄN CỦA VIỆN NĂNG LƯỢNG NGUYÊN TỬ VIỆT NAM 24
2.1 Giời thiệu tổng quan về Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam 24
2.2 Thực trạng đào tạo nhân lực điện hạt nhân tại Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam 27
2.3 Thực trạng chính sách thúc đẩy đào tạo nhân lực khoa học và công nghệ trong lĩnh vực điện hạ nhân tại Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam 43
2.4 Đánh giá chính sách thúc đẩy đào tạo nhân lực khoa học và công nghệ trong lĩnh vực điện hạt nhân tại Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam 51
Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY ĐÀO TẠO NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG LĨNH VỰC ĐIỆN HẠT NHÂN TẠI VIỆN NĂNG LƯỢNG NGUYÊN TỬ VIỆT NAM 56
3.1 Quan điểm và mục tiêu của Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam 56
3.2 Giải pháp hoàn thiện chính sách thúc đẩy đào tạo nhân lực khoa học và công nghệ trong lĩnh vực điện hạt nhân hiện nay từ thực tiễn của Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam 58
3.3 Điều kiện để thực hiện giải pháp 71
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 74
1 Kết luận 74
2 Khuyến nghị 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
Trang 5DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
VINATOM Vietnam Atomic Enegry Institute
Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam KH&CN Khoa học và Công nghệ
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Nhân lực NC&PT chia theo loại hình kinh tế và vị trí hoạt động 28
Bảng 2.2: Cán bộ nghiên cứu theo khu vực hoạt động 29
Bảng 2.3: Số lượng đơn đăng ký và văn bằng bảo hộ cấp cho các đối tượng sở hữu công nghiệp năm 2015 (so với năm 2014) 31
Bảng 2.4: Các yếu tố ảnh hưởng đến đào tạo nhân lực ĐHN 33
Bảng 2.5: Nhu cầu đào tạo nhân lực trong lĩnh vực NLNT năm 2013-2015 38 Bảng 2.6: Các khóa đào tạo bồi dưỡng cán bộ 40
Bảng 2.7: Kết quả đào tạo và mức độ đáp ứng nhu cầu đào tạo 41
Bảng 3.1: Nhu cầu tuyển dụng nhân lực giai đoạn 2015 - 2020 62
Bảng 3.2: Nhu cầu đào tạo bồi dưỡng năm 2015 - 2020 62
HÌNH VẼ Hình 2.1: Bài báo khoa học và công nghệ trong nước 30
Hình 2.2: Số lượng công bố khoa học và công nghệ của Việt Nam trong CSDL Web of Science giai đoạn 2011-2015 31
Hình 2.3: Phân bổ trình độ nhân lực của VINATOM (2015) 42
SƠ ĐỒ Sơ đồ 1.1 Quy trình nghiên cứu 3
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam 26
Sơ đồ 2.2: Quy trình đào tạo các khóa ngắn hạn của VINATOM 37
Sơ đồ 2.3: Quy trình phân tích 38
Sơ đồ 2.4: Nội dung của giai đoạn thiết kế 39
Sơ đồ 3.1: Quy trình xây dựng chương trình đào tạo 59
Sơ đồ 3.2: Quy trình tổ chức khóa đào tạo 68
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Chính sách phát triển nhân lực khoa học và công nghệ (KH&CN) nói chung, chính sách phát triển nhân lực KH&CN trong lĩnh vực điện hạt nhân (ĐHN) nói riêng là một trong những hợp phần quan trọng của chính sách đổi mới Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế thì chính sách thúc đẩy đào tạo nhân lực KH&CN trong lĩnh vực ĐHN đã nhận được nhiều
sự quan tâm của các nhà hoạch định chính sách cũng như của Chính phủ
Hiện nay, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là nhân lực KH&CN trong lĩnh vực ĐHN được Chính phủ quan tâm, thể hiện trong một số văn bản quy phạm pháp luật như: Luật Năng lượng nguyên tử (2008),Nghị quyết Quốc hội số 41/2009/QH12 ngày 25/11/2009 về chủ trương đầu tư dự án điện hạt nhân (2009),Quyết định số 906/QĐ-TTg ngày 17/6/2010 về phê duyệt định hướng quy hoạch phát triển điện hạt nhân ở Việt Nam giai đoạn đến năm 2030, Quyết định số 1558/QĐ-TTg ngày 18/8/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử”…và đi kèm theo là những chính sách tiền lương, chính sách khen thưởng, đãi ngộ Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay có rất nhiều yếu tố tác động đến chính sách thúc đẩy đào tạo nhân lực KH&CN trong lĩnh vực ĐHN ở Việt Nam
Vì các lý do nêu trên, tôi chọn đề tài: “Giải pháp chính sách đào tạo nhân lực KH&CN trong lĩnh vực ĐHN hiện nay từ thực tiễn tại Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam (VINATOM)” làm luận văn thạc sĩ
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Nhân lực KH&CN trong lĩnh vực ĐHN cũng là chủ đề thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học Đã có một số công trình nghiên cứu được thực hiện theo nhiều cách khác nhau, như về chính sách đào tạo và phát triển
Trang 8nguồn nhân lực ĐHN, chính sách đào tạo nhân lực quản lý nhà nước, nghiên cứu-triển khai và hỗ trợ kỹ thuật, điển hình có một số công trình nghiên cứu:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng chính sách đào tạo, thu hút, sử dụng nhân lực KH&CN trình độ cao ở Việt Nam đến năm 2020 (Tạ Doãn Trịnh, 2012);
- Nâng cao năng lực giảng dạy thực hành tại Viện Nghiên cứu hạt nhân phục vụ đào tạo nhân lực cho ngành năng lượng nguyên tử giai đoạn 1 (Nguyễn Xuân Hải, 2012);
- Nghiên cứu xây dựng chương trình đào tạo nâng cao về ĐHN cho ngành năng lượng nguyên tử (Nguyễn Mạnh Hùng 2012-2013)
Các công trình nghiên cứu trên đã có những đóng góp tích cực cả về lý luận lẫn thực tiễn Tuy nhiên, chưa làm rõ được các chính sách đào tạo nhân lực KH&CN đặc biệt là trong nhân lực KH&CN trong lĩnh vực ĐHN đây là các nội dung cần nghiên cứu trong đề tài này
3 Mục đích và nghiên cứu
- Hệ thống hóa và làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về giải pháp chính sách thúc đẩy đào tạo nhân lực KH&CN trong lĩnh vực ĐHN;
- Đánh giá thực trạng, phân tích nguyên nhân thành công và những vấn
đề còn tồn tại trong các chính sách thúc đẩy đào tạo nhân lực KH&CN trong lĩnh vực ĐHN từ thực tiễn của VINATOM giai đoạn 2010 – 2014;
- Đề xuất các giải pháp chính sách thúc đẩy đào tạo nhân lực KH&CN trong lĩnh vực ĐHN từ thực tiễn của VINATOM đến năm 2020
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: nhân lực KH&CN, chính sách thúc đẩy đào tạo nhân lực KH&CN trong lĩnh vực ĐHN
Trang 9- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu các chính sách thúc đẩy đào nhân lực KH&CN trong lĩnh vực ĐHN từ thực tiễn của VINATOM trong giai đoạn 2011-2015 và đề xuất giải pháp giai đoạn 2016-2020
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài kết hợp phương pháp thu thập, tổng hợp, phân tích, diễn giải các thông tin thứ cấp, sơ cấp và vận dụng tổng hợp kiến thức chuyên ngành để đề xuất giải pháp
Cụ thể, những thông tin dùng trong phân tích được thu thập gồm:
- Nguồn thông tin thứ cấp: thông tin bên ngoài là sách báo, tài liệu đã xuất bản, mạng internet, các nghiên cứu tổng kết liên quan đến hoạt động thúc đẩy đào tạo nguồn nhân lực trước đây; thông tin bên trong là các báo cáo thường niên của VINATOM từ năm 2011-2015
- Nguồn thông tin sơ cấp: điều tra khảo sát các cán bộ phụ trách đào tạo
và 1 số cán bộ của các đơn vị trực thuộc VINATOM theo phương pháp tự ghi báo (phát và thu phiếu), phỏng vấn nhanh và xử lý số liệu bằng phương pháp thống kê
Sơ đồ 1.1 Quy trình nghiên cứu - Tác giả tổng hợp 2016
Dữ liệu
thứ cấp
Thông tin bên ngoài
Dữ liệu
sơ cấp
Điều tra khảo sát
Thông tin bên trong
Lý thuyết về chính sách thúc đẩy đào tạo NL KH&CN
Thực trạng chính sách thúc đẩy đào tạo NL ĐHN tại VINATOM
Giải pháp hoàn thiện chính sách thúc đẩy đào tạo NL KH&CN trong lĩnh vực ĐHN tại VINATOM
Trang 106 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Luận văn hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về chính sách thúc đẩy đào tạo nhân lực KH&CN trong lĩnh vực ĐHN; đồng thời chỉ rõ các yếu tố ảnh hưởng tới đào tạo nhân lực KH&CN
- Trên cơ sở đánh giá thực trạng về đào tạo nhân lực KH&CN trong lĩnh vực ĐHN tại VINATOM, luận văn đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện các chính sách thúc đẩy đào tạo nhân lực ĐHN từ thực tiễn của VINATOM đến năm 2020 phù hợp với các chính sách của Nhà nước trong phát triển điện hạt nhân
- Luận văn được hoàn thành còn là tài liệu tham khảo có giá trị cho các nghiên cứu tiếp theo liên quan tới đào tạo nhân lực trong lĩnh vực điện hạt nhân
7 Cơ cấu của luận văn
Chương 1: Cơ sở lý luận về chính sách thúc đẩy đào tạo nhân lực KH&CN trong lĩnh vực ĐHN
Chương 2: Thực trạng chính sách thúc đẩy đào tạo nhân lực KH&CN trong lĩnh vực ĐHN từ thực tiễn của Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện chính sách thúc đẩy đào tạo nhân lực KH&CN trong lĩnh vực ĐHN tại Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam
Trang 11Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY ĐÀO TẠO NHÂN
LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG
LĨNH VỰC ĐIỆN HẠT NHÂN 1.1 Khái quát đào tạo nhân lực khoa học và công nghệ trong lĩnh vực điện hạt nhân
1.1.1 Khái niệm nhân lực và nhân lực khoa học và công nghệ
1.1.1.1 Nhân lực
Nhân lực là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau, tùy theo những cách tiếp cận khác nhau mà có những quan niệm khác nhau về nhân lực Trên phạm vi quốc gia nhân lực là bộ phận dân số trong độ tuổi quy định và có khả năng tham gia vào quá trình lao động
Nhân lực là năng lực mà các cá nhân sử dụng quá trình hoạt động, bao gồm cả số lượng các cá nhân cũng như tất cả các tiềm năng của 1 cá nhân con người sẵn sàng hoạt động trong một số tổ chức hoặcxã hội Nói cách khác, nhân lực là tổng hợp các cá nhân cùng kiến thức, kỹ năng, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức của họ để thành lập, duy trì, đóng góp cho sự phát triển của tổ chức, của xã hội [1]
Nhân lực còn được hiểu là lực lượng lao động với kỹ năng tương ứng
sử dụng các nguồn lực khác nhau tạo ra sản phẩm phù hợp với yêu cầu của thị trường và xã hội
1.1.1.2 Nhân lực khoa học và công nghệ trong lĩnh vực điện hạt nhân
Nhân lực KH&CN là một khái niệm rộng, được hiểu theo nhiều cách khác nhau tùy thuộc vào quan điểm cách tiếp cận riêng của mỗi quốc gia và các tổ chức nghiên cứu
Trang 12Theo OECD (1995), nhân lực KH&CN gồm những người đáp ứng được một trong những điều kiện sau đây:
- Đã tốt nghiệp trường đào tạo trình độ nhất định nào đó về một chuyên môn KH&CN (từ công nhận có bằng cấp tay nghề trở lên hay còn được gọi là trình độ 3 trong hệ giáo dục đào tạo; (cao đẳng, cử nhân/kỹ sư, thạc sĩ, tiến sĩ, tiến sĩ khoa học)
- Không được đào tạo chính thức như đã nói ở điều trên nhưng làm một nghề trong lĩnh vực KH&CN mà đòi hỏi trình độ trên Kỹ năng tay nghề ở đây được đào tạo tại nơi làm việc (lập trình viên không bằng cấp)
Theo UNESCO (2002), nhân lực KH&CN là những người trực tiếp tham gia vào hoạt động KH&CN trong một cơ quan, tổ chức và được trả lương hay thù lao cho lao động của họ, bao gồm các nhà khoa học và kỹ sư,
kỹ thuật viên và nhân lực phụ trợ Như vậy, cách tiếp cận của UNESCO có điểm khác với OECD, thể hiện ở chỗ: UNESCO cho rằng nhân lực KH&CN bao hàm cả đội ngũ nhân lực phụ trợ, trong khi đó OECD không tính bộ phận này là nhân lực KH&CN, trừ trường hợp họ có bằng cấp Đồng thời, UNESCO cho rằng nhân lực KH&CN phải làm việc trong lĩnh vực KH&CN còn theo OECD, nhân lực KH&CN không nhất thiết phải làm việc trong lĩnh vực KH&CN
Theo quan điểm của Nhật Bản và Đức,nhân lực khoa học và công nghệ
là những người đã tốt nghiệp đại học về mặt học vấn hoặc đã được tuyển dụng vào một nghề khoa học và kỹ thuật đòi hỏi ở mức cao về trình độ và tiềm năng sáng tạo Thước đo học thuật là đầu vào cơ bản trong hệ thống nhân lực KH&CN, thông thường là bằng cử nhân đại học Thước đo để tính toán nhu cầu của hệ thống nhân lực KH&CN chính là các tiêu chuẩn nghề nghiệp Theo đó, nhân lực KH&CN gồm 3 nhóm: Cán bộ nghiên cứu (nhà
Trang 13nghiên cứu/nhà khoa học/kỹ sư nghiên cứu); nhân viên kỹ thuật và tương
đương; nhân viên phụ trợ trực tiếp trong nghiên cứu phát triển
Theo quan điểm của Singapo,nhân lực KH&CN là công dân của
Singapo hay người ngoại quốc, chỉ cần những người làm việc cho Singapo, phục vụ các mục tiêu phát triển của đất nước và hưởng lương của Chính phủ chi trả, thì họ là nguồn nhân lực KH&CN của Singapo Và đội ngũ nhân lực KH&CN của Singapo bao gồm: các nhà nghiên cứu; kỹ thuật viên và tương
đương; công nhân kỹ thuật
Tại Việt Nam, nhân lực KH&CN gồm những người đã tốt nghiệp đại
học, cao đẳng và làm việc trong một ngành khoa học và công nghệ; chưa tốt nghiệp đại học, cao đẳng nhưng làm một công việc trong một lĩnh vực khoa học và công nghệ đòi hỏi trình độ tương đương (Luật Khoa học và Công nghệ, 2013)
Như vậy trong luận văn này, nhân lực KH&CN trong lĩnh vực ĐHN được hiểu theo tinh thần của Luật Khoa học và Công nghệ (2013) Theo đó, nhân lực KH&CN trong lĩnh vực ĐHN là nhân lực KH&CN gồm: cán bộ nghiên cứu; cán bộ kỹ thuật và công nghệ; cán bộ quản lý các cấp; công nhân
kỹ thuật; trí thức người Việt Nam ở nước ngoài và chuyên gia nước ngoài làm việc trong lĩnh vực ĐHN
1.2 Vai trò của nhân lực khoa học và công nghệ trong lĩnh vực điện hạt nhân
Nhân lực KH&CN có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh
tế - xã hội, nó được thể hiện rõ ở những điểm sau:
Thứ nhất, nhân lực KH&CN là lực lượng chủ yếu trong việc xây dựng
các luận cứ khoa học giúp Đảng và Nhà nước xác định đường lối chiến lược, chính sách, kế hoạch công nghiệp hóa – hiện đại hóa (CNH-HĐH) đất nước;
Trang 14đồng thời là lực lượng nòng cốt trong triển khai thực hiện các đường lối chính sách đó
Thứ hai, nhân lực KH&CN đảm nhiệm việc nghiên cứu, khảo nghiệm
và ứng dụng các quy trình công nghệ mới, các thiết bị, công cụ mới, các vật liệu; cải tiến và hệ thống hóa công nghệ truyền thống, nâng cao trình độ công nghệ tạo ra sự chuyển biến mới về năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất, nâng cao tính cạnh tranh và hiệu quả của nền kinh tế
Thứ ba, đây là lực lượng xung kích trong việc lựa chọn, tiếp thu và ứng
dụng những tiến bộ công nghệ mới của thế giới vào phát triển các ngành KH&CN
Thứ tư, đóng góp vào việc tuyên truyền, phổ biến rộng rãi tri thức khoa
học, kiến thức và công nghệ sản xuất tiên tiến, thực hiện việc dẫn dắt cho những bộ phận có năng lực và trình độ thấp hơn đi lên, qua đó góp phần nâng cao trình độ hiểu biết về KH&CN
Đối với điện hạt nhân, nhân lực KH&CN có vai trò quan trọng trong
chương trình phát triển điện hạt nhân đầu tiên tại Việt Nam, là người tham gia trực tiếp từ xây dựng kế hoạch, lựa chọn công nghệ và nhiên liệu dùng cho nhà máy ĐHN cho đến trực tiếp xây dựng nhà máy ĐHN
1.3 Chính sách thúc đẩy đào tạo nhân lực khoa học và công nghệ trong lĩnh vực điện hạt nhân
1.3.1 Khái niệm chính sách thúc đẩy đào tạo nhân lực khoa học và công nghệ trong lĩnh vực điện hạt nhân
Chính sách là chương trình hành động do các nhà lãnh đạo hay quản lý
đề ra để giải quyết một vấn đề nào đó thuộc phạm vi thẩm quyền của mình Một số chính sách có thể được đề ra và thực hiện trong phạm vi một doanh nghiệp, một tổ chức, một cộng đồng nhỏ, các chính sách như vậy chỉ liên
Trang 15quan đến lợi ích của một số ít người Các chính sách khác có thể do Chính phủ, một Bộ hay chính quyền cấp tỉnh đề ra, có liên quan đến lợi ích rộng lớn Vậy, chính sách là một công cụ quản lý để điều hành các hoạt động kinh tế-xã hội theo mục tiêu nhất định
Chính sách công là những chính sách do Nhà nước đề ra, có phạm vi tác động rộng lớn đến đời sống chính trị, kinh tế-xã hội trên phạm vi quốc gia, một địa phương, một ngành, một nhóm người hay một cộng đồng xã hội Nhà nước là chủ thể chủ yếu ban hành chính sách công, thông qua đó Nhà nước thực hiện vai trò quản lý đối với đất nước Chính sách công được Nhà nước
đề ra như một chương trình hành động trong thời gian lâu dài để giải quyết một số vần đề nhất định Vậy, Chính sách công là tập hợp các quyết định hành động của Nhà nước nhằm giải quyết một vấn đề đặt ra trong đời sống kinh tế-xã hội theo mục tiêu xác định
Trên cơ sở khái niệm chính sách và chính sách công có thể đưa ra một
số khái niệm về chính sách KH&CN [2]:
- Chính sách KH&CN là tập hợp các biện pháp khuyến khích và thúc đẩy đối với một hoặc một số nhóm xã hội thực hiện các hoạt động KH&CN nhằm thực hiện các mục tiêu về KH&CN của chủ thể quyền lực
- Chính sách KH&CN là phương thức hành động của Nhà nước nhằm tác động tới kết quả hoạt động KH&CN, góp phần thực hiện các mục tiêu chung của quốc gia trong từng giai đoạn
- Chính sách KH&CN là các chiến lược, các kế hoạch về KH&CN nhằm đạt được hay một số mục đích nhất định dựa trên đường lối chính trị quốc gia
- Chính sách KH&CN là chính sách công trong lĩnh vực KH&CN, nó bao gồm cả chiến lược và kế hoạch Theo định nghĩa của UNESCO thì chính
Trang 16sách KH&CN là tập hợp các biện pháp lập pháp và hành pháp được thực hiện nhằm nâng cao tổ chức, sử dụng tiềm lực KH&CN quốc gia để đạt được mục tiêu quốc gia đề ra (trong và ngoài hệ thống KH&CN)
- Chính sách KH&CN được hiểu là tổng thể các quan điểm, các nguyên tắc, các mục tiêu, các định hướng, các giải pháp và các công cụ Nhà nước sử dụng nhằm nâng cao tiềm lực và phát triển KH&CN, góp phần thực hiện các mục tiêu khoa học, công nghệ và phát triển kinh tế, xã hội phù hợp với điều kiện trong từng giai đoạn nhất định
Trong hoạt động đào tạo, chính sách thúc đẩy đào tạo nguồn nhân lực
là công cụ để quản lý nguồn nhân lực, bao gồm các chế độ, các quy định cụ thể về quá trình đào tạo và phát triển nguồn nhân lực nhằm nâng cao kiến thức, kỹ năng trình độ của người lao động để họ có thể thực hiện có hiệu quả công việc hiện tại cũng như chuẩn bị những kiến thức, kỹ năng, năng lực để
họ có thể đảm nhiệm những công việc ở vị trí cao hơn trong nghề nghiệp của bản thân họ
Như vậy, chính sách thúc đẩy đào tạo nhân lực KH&CN trong lĩnh vực ĐHN được hiểu là cách thức tác động của Nhà nước vào nhận thức của cá nhân, tổ chức hiểu được tính cấp thiết của việc đào tạo nhân lực KH&CN trong lĩnh vực ĐHN Trên cơ sở đó họ sẽ tự giác, tích cực, chủ động tham gia
vào các hoạt động đào tạo
Trong luận văn này, chính sách thúc đẩy đào tạo nhân lực KH&CN trong lĩnh vực ĐHN được hiểu theo nghĩa hẹp hơn, đó là những chính sách do Viện trưởng Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam đưa ra dựa trên các văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ và Bộ KH&CN nhằm tổ chức thực hiện và quản lý hoạt động đào tạo nguồn nhân lực ĐHN Cụ thể là lực lượng
lao động đang làm việc trong ngành cả về số lượng và chất lượng để có thể
Trang 17đáp ứng được yêu cầu phát triển ĐHN, bao gồm các chính sách: chính sách về nội dung đào tạo, chính sách về quy trình đào tạo, chính sách về đánh giá kết quả đào tạo, chính sách lương thưởng và ưu đãi
1.3.2 Chính sách thúc đẩy đào tạo nhân lực khoa học và công nghệ trong lĩnh vực điện hạt nhân
Chính sách thúc đẩy đào tạo nhân lực KH&CN trong lĩnh vực ĐHN chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, có thể chia làm 2 nhóm yếu tố chính: nhóm yếu tố bên ngoài và yếu tố bên trong
1.3.2.1 Nhóm yếu tố bên ngoài
Các yếu tố bên ngoài bao gồm 5 yếu tố: Thể chế - Pháp luật; Kinh tế; Văn hóa – Xã hội; Công nghệ; Hội nhập
Đây là những yếu tố khách quan bên ngoài ảnh hưởng trực tiếp đến các
tổ chức KH&CN nói chung và lĩnh vực ĐHN nói riêng Dựa trên các điều kiện môi trường vĩ mô, các tổ chức KH&CN sẽ đưa ra những cơ hội và thách thức, là một trong những tiền đề để hình thành chiến lược, chính sách phát triển nhằm thúc đẩy đào tạo theo hướng phù hợp với đặc điểm của môi trường, đảm bảo chất lượng nhân lực đáp ứng được yêu cầu thực tiễn đặt ra
- Yếu tố thể chế - pháp luật: Thể chế pháp luật có sự bình ổn cao, không
có yếu tố xung đột về chính trị, ngoại giao sẽ tác động tốt đến các hoạt động KH&CN, đặc biệt là hoạt động đào tạo trong lĩnh vực ĐHN và ngược lại
- Yếu tố kinh tế: Các tổ chức KH&CN, nhất là các đơn vị được Chính phủ giao nhiệm vụ đào tạo và phát triển nguồn nhân lực ĐHN chịu tác động rất lớn của yếu tố kinh tế Do vậy, khi đưa ra chính sách thúc đẩy đào tạo nhân lực phải chú ý đến các yếu tố kinh tế cả trong ngắn hạn, dài hạn và sự can thiệp của Chính phủ đến nền kinh tế Các chính sách kinh tế vĩ mô của Chính phủ (chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ, luật tiền lương cơ bản, các
Trang 18chiến lược phát triển kinh tế của Chính phủ, các chính sách ưu đãi cho ngành,
…) sẽ tác động tới sự vận hành của nền kinh tế và ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động KH&CN, do đó ảnh hưởng đến các quyết định về chính sách thúc đẩy đào tạo nhân lực Mặt khác, triển vọng kinh tế trong tương lai (tốc độ tăng trường, mức gia tăng GDP, cơ cấu kinh tế, …) sẽ có tác động tới định hướng cho những chính sách thúc đẩy đào tạo nhân lực KH&CN trong lĩnh vực ĐHN
- Yếu tố văn hóa xã hội: Mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ đều có những giá trị văn hóa và các yếu tố xã hội đặc trưng và khác nhau, điều này tạo nên sự khác biệt về lối sống, học thức, các quan điểm về vấn đề học tập, tâm lý sống,… của đại bộ phận người dân các quốc gia khác nhau Do đó, các tổ chức KH&CN phải căn cứ vào những đặc điểm văn hóa, xã hội của quốc gia mình để có những chính sách thúc đẩy đào tạo nguồn nhân lực về nội dung, phương pháp, phù hợp với đặc điểm cư dân, điều kiện sống, truyền thống học tập, tâm lýchung của dân tộc
- Yếu tố công nghệ: Công nghệ và tốc độ phát triển KH&CN luôn tạo
ra nhiều cơ hội phát triển song cũng đặt những tổ chức KH&CN trong sự cạnh tranh khốc liệt Điều này đòi hỏi nhân lực của các tổ chức KH&CN phải nắm bắt được công nghệ, áp dụng những thành tựu KH&CN vào thực tế hoạt động của tổ chức Do đó, nội dung đào tạo, số lượng các chuyên đề đào tạo, phải được thiết lập dựa trên sự phát triển của KH&CN, đảm bảo tính thời sự
và yêu cầu của thực tiễn Mặt khác, các tổ chức KH&CN phải có những chính sách để cải tiến phương pháp đào tạo và phát triển nguồn nhân lực áp dụng những thành tựu của KH&CN vào việc cải tiến phương pháp giảng dạy, nâng cao công tác đào tạo
- Yếu tố hội nhập: Xu thế phát triển theo hướng toàn cầu hóa, quốc tế hóa của nền kinh tế và KH&CN cũng tạo ra những cơ hội phát triển cho
Trang 19những tổ chức KHCN trong nước Quá trình hội nhập sẽ khiến các tổ chức KH&CN phải điều chỉnh phù hợp với các nước trên thế giới Điều này cũng ảnh hưởng đến quá trình nghiên cứu hoạch định chính sách thúc đẩy đào tạo nhân lực KH&CN
Như vậy nghiên cứu các môi trường bên ngoài để xác định được các cơ hội và thách thức trong đào tạo và chính sách thúc đẩy đào tạo nhân lực KH&CN, là một trong những cơ sở quan trọng để xác định các chiến lược đào tạo nhân lực KH&CN trong lĩnh vực ĐHN
1.3.2.2 Nhóm yếu tố bên trong
Nhóm yếu tố bên trong gồm: Chiến lược của tổ chức; Nội dung đào tạo, quy trình đào tạo và phương pháp đánh giá kết quả đào tạo; Các yếu tố khác – nguồn lực, sách và tài liệu
- Chiến lược của tổ chức: là chương trình hành động được thiết kế để đạt những mục tiêu cụ thể, là tổ hợp các mục tiêu dài hạn và các biện pháp, các cách thức, con đường đạt đến mục tiêu đó Như vây, một chiến lược phải giải quyết tổng hợp các vấn đề sau: xác định chính xác mục tiêu cần đạt; xác định con đường hay phương thức để đạt mục tiêu; định hướng phân bổ nguồn lực để đạt được mục tiêu lựa chọn Vì vậy, chiến lược phát triển của đơn vị ảnh hưởng trực tiếp đến các chính sách thúc đẩy đào tạo nhân lực
- Nội dung đào tạo, quy trình đào tạo và phương pháp đánh giá kết quả đào tạo
Thứ nhất,đào tạo nhân lực là một hoạt động xuyên suốt quá trình hình
thành và phát triển của tổ chức Do đó, các cấp lãnh đạo cần có tầm nhìn đủ rộng để xây dựng chiến lược tổng thể về đào tạo cho tổ chức và lên kế hoạch
cụ thể cho từng giai đoạn nhất định và chương trình đào tạo phải phù hợp, năng động, linh hoạt và tạo hiệu quả cao nhất
Trang 20Thứ hai, về quy trình đào tạo gồm các bước sau đây: nhận biết nhu cầu
đào tạo; đề ra mục tiêu đào tạo; lập kế hoạch đào tạo; thực thi đào tạo; đánh giá kết quả đào tạo; tổng hợp và phân tích Xác định nhu cầu đào tạo: chi phí dành cho đào tạo nhân lực tương đối lớn do đó cần tiến hành đào tạo một cách hợp lý đúng mực với nhu cầu đào tạo của đơn vị Nếu đào tạo không hợp lý sẽ gây lãng phí ngân sách và tác động tiêu cực đến người lao động, không khuyến khích họ lao động, vì vậy trước khi đào tạo cần xem xét tới nhu cầu đào tạo của cá nhân và của đơn vị Mục tiêu đào tạo: việc phân tích nhu cầu một cách hiệu quả sẽ chỉ ra mục tiêu đào tạo góp phần vào chất lượng của việc đào tạo và thuận tiện cho việc đánh giá quá trình đào tạo Mục tiêu đào tạo nó phản ánh sự phát triển của đơn vị trong tương lai Lập kế hoạch đào tạo
là thể hiện một cách đi, thông qua những hành động cụ thể để thực hiện các mục tiêu và chỉ tiêu đặt ra Kế hoạch đào tạo phải thể hiện cách thức đạt được các mục tiêu ưu tiên, nội dung cụ thể của các hành động trong chuỗi hành động của phương án, những kết quả kỳ vọng sẽ đạt được từ những hành động Đánh giá kết quả đào tạo để rút ra những bài học lợi ích cho công tác đào tạo nhân lực, tìm ra những tồn tại về nội dung chương trình đào tạo, trình độ của giảng viên, trình độ của học viên, cơ sở vật chất Tổng hợp và phân tích để phân tích ưu và nhược điểm của chương trình đào tạo và đưa ra những giải pháp thích hợp
Thứ ba, phương pháp đánh giá kết quả đào tạo cần phải hiểu được nhân
tố nào là quan trọng khi đánh giá Mục tiêu đào tạo đề ra đã thực hiện được đến đâu? Kỹ năng chuyên môn của người lao động được đào tạo có thay đổi theo chiều hướng tốt hay không?Đánh giá kết quả đào tạo theo mục tiêu đào tạo sẽ giúp đơn vị biết chương trình đào tạo đã thực hiện đến đâu? Những mục tiêu đào tạo đề ra có đạt được mong muốn của đơn vị hay không? Tuy nhiên, nếu đưa ra mục tiêu đào tạo sai do đánh giá nhu cầu đào tạo chưa đúng
Trang 21mức, điều này sẽ làm cho việc đánh giá kết quả đào tạo sẽ bị ảnh hưởng Đánh giá kết quả đào tạo theo trình độ: nó biểu hiện ở chất và lượng, trình độ thành thạo công việc trước và sau khi được đào tạo Đánh giá kết quả đào tạo thông qua trắc nghiệm, phỏng vấn, thi hoặc qua thái độ hành vi ứng xử của học viên
- Các yếu tố về nguồn lực của đơn vị cũng ảnh hưởng đến chính sách thúc đẩy đào tạo nhân lực nói chung và nhân lực KH&CN trong lĩnh vực ĐHN nói riêng như: cơ sở vật chất; vốn; nguồn nhân lực và tính đặc thù của nhân lực; sách và tài liệu tham khảo
+ Cơ sở vật chất: Đối với các tổ chức KH&CN khác nhau thì sẽ có những điều kiện phát triển khác nhau về cơ sở vật chất phục vụ cho công việc nghiên cứu và đào tạo Do đó, những chính sách đào tạo đưa ra phải căn cứ vào thực tế nguồn lực vật chất của cơ sở đảm bảo tính khả thi và sử dụng tối
đa cơ sở vật chất sẵn có của cơ sở
+ Nguồn vốn: tiềm lực tài chính của các tổ chức KH&CN sẽ ảnh hưởng lớn đến kinh phí dành cho chính sách thúc đẩy đào tạo nhân lực Do đó, quy
mô nguồn vốn sẽ quyết định đến quy mô và chất lượng của các chính sách đào tạo được hoạch định
+ Tính đặc thù của nhân lực: nguồn lực có ảnh hưởng lớn nhất đến các chính sách thúc đẩy đào tạo của các tổ chức KH&CN, bởi lẽ nhân lực chính là đối tượng trực tiếp của các chính sách Do đó, các chính sách phải được hoạch định dựa trên sự nghiên cứu, phân tích kỹ lưỡng nhân lực của cơ sở trên các tiêu chí: giới tính, độ tuổi, trình độ chuyên môn Để phát triển ĐHN thì nhân lực đòi hỏi phải phát triển song song 3 lĩnh vực: nhân lực cho các công ty điện lực; nhân lực cho các cơ sở nghiên cứu triển khai; nhân lực của các cơ quan pháp quy hạt nhân, cán bộ quản lý nhà nước về hạt nhân Do đó, nội dung của
Trang 22chính sách thúc đẩy đào tạo nhân lực KH&CN trong lĩnh vực ĐHN phải phù hợp với nhu cầu thực tế, phải chú trọng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ ở
3 lĩnh vực nêu trên
1.4 Kinh nghiệm về chính sách thúc đẩy đào tạo nhân lực khoa học và công nghệ trong lĩnh vực điện hạt nhân của một số nước trên thế giới và bài học cho Việt Nam
1.4.1 Kinh nghiệm về chính sách đào tạo nhân lực khoa học và công nghệ trong lĩnh vực điện hạt nhân của một số nước trên thế giới
1.4.1.1 Kinh nghiệm của Pháp [3]
Năm 1945, Pháp thành lập Cơ quan NLNT (CEA) phục vụ cho việc nghiên cứu, phát triển và đào tạo nhân lực ĐHN của nước này Đến năm
1956, Pháp chính thức triển khai chương trình phát triển năng lượng hạt nhân Theo đó, Viện khoa học và kỹ thuật nguyên tử quốc gia trực thuộc CEA được thành lập để đào tạo các kỹ sư và các nhà khoa học đầu ngành trong lĩnh vực khoa học và công nghệ mũi nhọn mà các trường đại học chưa có Năm 2008, Chính phủ Pháp thành lập Ủy ban điều phối đào tạo khoa học, kỹ thuật hạt nhân với chức năng khớp nối cung-cầu Ủy ban này họp một năm hai lần với
sự tham dự của các tập đoàn công nghiệp lớn trên thế giới và các cơ sở đào tạo trong nước, các cơ quan nghiên cứu chuyên ngành quốc gia Nhiệm vụ của Ủy ban là tìm hiểu nhu cầu nhân lực của các cơ sở NLNT và năng lực đào tạo của các cơ sở đào tạo; thiết lập mối quan hệ đối tác giữa đào tạo và công nghiệp; triển khai hình thức đào tạo mới và đào tạo đội ngũ giáo viên; tuyên truyền về NLNT nhằm thu hút sinh viên, nâng cao chế độ đãi ngộ, tìm nguồn tài chính làm học bổng cho sinh viên
Pháp hiện có khoảng 20 cơ sở đào tạo chuyên ngành liên quan đến ĐHN, với 23 chương trình đào tạo dài hạn và 44 chương trình đào tạo ngắn
Trang 23hạn Pháp là quốc gia có nền giáo dục có bề dày thời gian và kinh nghiệm, do
đó, các cơ sở đào tạo chuyên ngành liên quan đến ĐHN cũng được tiếp cận khá nhanh chóng những kinh nghiệm này Năm 2009 một số trường đại học ở Pháp đã chủ động phối hợp với các cơ sở công nghiệp ĐHN xúc tiến chương trình đào tạo thạc sỹ quốc tế về NLNT (thời gian học 2 năm) Năm 2010 nước này thành lập viện năng lượng nguyên tử quốc tế để thu hút sinh viên nước ngoài Trong 10 năm tới, Pháp dự kiến đào tạo khoảng 25.000 người cho ngành NLNT (2.500 người/năm) Trong đó có 100 tiến sĩ cho các cơ quan quản lý; 1.400 kỹ sư (học 5 năm, tương đương thạc sĩ) và 1.000 công nhân kỹ thuật (hệ 3 năm)
1.4.1.2 Kinh nghiệm của Nga [4]
Từ khi thành lập và phát triển đến nay (hơn 65 năm), ngành công nghệ hạt nhân của Liên bang Nga luôn nhận được sự chỉ đạo, điều hành trực tiếp của lãnh đạo cấp cao Liên bang Nga Ngày 7/10/2008, Tổng thống Nga đã ký Sắc lệnh số 1448 “Về hiện thực hóa Dự án thử nghiệm thành lập các trường đại học tổng hơp quốc gia làm công tác nghiên cứu khoa học”, trong đó có dự
án thành lập Trường Đại học tổng hợp quốc gia nghiên cứu hạt nhân Để triển khai thực hiện, mỗi năm Chính phủ và Tập đoàn năng lượng hạt nhân quốc gia Nga (Rosatom) bảo đảm khoảng 800 triệu rúp (26,7 triệu USD) cho Nhà trường (Chính phủ đảm bảo 50%, còn lại do Rosatom đóng góp)
Để phát triển các ngành khoa học ứng dụng, nhất là ứng dụng sản xuất ĐHN, Nga chú trọng đi sâu phát triển nghiên cứu các bộ môn khoa học cơ bản (vật lý lý thuyết, vật lý lượng tử, toán-vật lý…), đồng thời ưu tiên phát triển các cơ sở đào tạo, nghiên cứu chất lượng cao Theo thống kê, hiện nay Liên bang Nga có hơn 20 trường đại học trực thuộc Bộ Giáo dục và Khoa học chuyên đào tạo các ngành nghề liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu, thiết kế, vận hành, sử dụng nhà máy ĐHN Đứng đầu là các trường đại học kỹ thuật
Trang 24Matxcơva và Trường Đại học năng lượng Matxcơva Ngoài ra, còn có 7 chi nhánh cùng các trường đại học khác Hệ đào tạo trung cấp có 18 trường Tập đoàn Rosatom liên kết với Bộ Giáo dục và Khoa học Nga trong công tác soạn thảo, thống nhất chương trình giảng dạy, mở các bộ môn mới, xác định chỉ tiêu đào tạo, tiếp nhận sinh viên tốt nghiệp, hỗ trợ vất chất cho các trường đại học
1.4.1.3 Kinh nghiệm của Hàn Quốc [5]
Một trong những nguyên nhân dẫn đến thành công đối với dự án ĐHN đầu tiên ở Hàn Quốc là chủ trương tự chủ tạo nhân lực Họ cho rằng: “Nếu không có nhân lực thì không thể xây dựng được nhà máy ĐHN”, đồng thời,
để có được nhân lực giỏi về chuyên môn Hàn Quốc tuyển chọn các kỹ sư trẻ gửi đi đào tạo ở các nước có nền công nghiệp ĐHN tiên tiến như Pháp, Mỹ, Nhật Bản Sau khi kết thúc khóa học, họ được chuyển đến các công trường xây dựng nhà máy ĐHN để tích lũy kinh nghiệm thực hiện các dự án Hàn Quốc coi đây là điểm quan trọng đảm bảo thành công cho chương trình tự chủ
về công nghệ xây dựng nhà máy ĐHN
Việc chuẩn bị nhân lực cho dự án ĐHN đầu tiên ở Hàn Quốc được thực hiện cả trong nước và nước ngoài Sau khi được chỉ định là chủ sở hữu, Dự án ĐHN Hàn Quốc (KEPCO) đã chủ động đưa người đi đào tạo tại các cơ sở hạt nhân trong nước Trong 10 năm đã có khoảng 670 người tham dự khóa học kiểu này Ngoài ra, KEPCO còn tổ chức các lần thi tuyển để tuyển dụng các
kỹ sư trẻ đã được đào tạo về hạt nhân tại các trường đại học để bổ sung nhân lực cho ban quản lý dự án Việc đào tạo ở nước ngoài được thực hiện thông qua các hợp đồng thương mại với nhà thầu chính Số lượng được đào tạo gần
300 người, chủ yếu là các lĩnh vực vận hành, kỹ thuật, xây dựng
Trang 251.4.1.4 Kinh nghiệm của Nhật Bản [6]
Hội đồng phát triển nhân lực ĐHN Nhật Bản được Chính phủ nước này giao trách nhiệm hoạch định chiến lược phát triển trung và dài hạn nhân lực cho ngành ĐHN Việc quy hoạch, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cho ĐHN ở Nhật Bản được kết hợp chặt chẽ giữa 4 tổ chức chính: 1) Các cơ quan hoạch định chính sách, quản lý và giám sát; 2) Các trường đại học có chuyên ngành đào tạo về NLNT và ĐHN; 3) Ngành công nghiệp hạt nhân; 4) Cơ quan nghiên cứu phát triển NLNT
Tại Nhật Bản, hàng năm có khoảng 700-800 sinh viên đại học tốt nghiệp ngành ĐHN, trong đó có 200-300 người được tuyển chọn tiếp tục đào tạo ở cấp cao hơn (thạc sĩ, tiến sĩ), số còn lại bố trí làm việc tại các nhà máy ĐHN và cơ sở nghiên cứu NLNT Công tác phát triển nhân lực ở các nghiên cứu chuyên sâu được thực hiện ở các viện nghiên cứu, trong đó, Cơ quan Nghiên cứu trung tâm về công nghiệp điện lực Nhật Bản là đơn vị chính thực hiện nhiệm vụ này
Trung tâm Đào tạo năng lượng hạt nhân Nhật Bản là cơ sở đào tạo nhân lực chính quy và lớn nhất tại Nhật Bản, và là cơ quan duy nhất có quyền cấp giấy phép hành nghề cho tất cả các thành viên làm việc trong nhà máy ĐHN (từ nhân viên vận hành cho đến giám đốc điều hành) Sinh viên đại học tốt nghiệp chuyên ngành ĐHN chỉ được hành nghề sau khi hoàn thành khóa huấn luyện do Trung tâm Đào tạo năng lượng hạt nhân Nhật Bản tổ chức
Đối với nhân viên vận hành nhà máy ĐHN: chương trình đào tạo gồm những nội dung sát với công việc của nhân viên vận hành Tổ chức thành 5 khóa đào tạo: cơ bản, thường xuyên, nhóm, nhân viên vận hành tuốc bin và theo yêu cầu
Trang 26Khóa đào tạo cơ bản thời gian kéo dài 20 tuần, nhằm cung cấp những kiến thức cơ bản về các lò phản ứng hạt nhân, các trang thiết bị của nhà máy ĐHN và thực hành Trong đó đào tạo lý thuyết theo 3 giai đoạn: Giai đoạn 1 (6 tuần) học các nguyên lý cơ bản về lò phản ứng hạt nhân; giai đoạn 2 (6 tuần), học về các hệ thống vận hành và cấu tạo của hệ thống kiểm soát, an toàn của nhà máy ĐHN; giai đoạn 3 (8 tuần) học trên mô hình mô phỏng phòng vận hành nhà máy ĐHN (học các kỹ năng cần thiết để vận hành nhà máy ĐHN trong các điều kiện bình thường, bất bình thường và khẩn cấp) Nội dung thực hành gồm: khởi động và dừng hoạt động nhà máy; xử lý tình huống khi các thiết bị hoạt động bất thường và xử lý khi xảy ra tình huống khẩn cấp (có khoảng 150 loại tình huống bất thường và khẩn cấp)
Khóa đào tạo thường xuyên: Theo quy định của Nhật Bản, các nhân viên vận hành, từ nhân viên mới đến giám đốc phải tham gia khóa đào tạo này
ít nhất 1 lần/năm Nội dung đào tạo đáp ứng các yêu cầu khác nhau cho từng đối tượng: Đối với nhân viên mới, học từ 7-10 ngày, giúp các nhân viên vận hành làm quen với công việc trong điều kiện hoạt động bình thường, bất thường và trong tình huống khẩn cấp; vận hành viên cao cấp (đã có thâm niên trong nghề) học trong 5 ngày nhằm cập nhật, bổ sung kiến thức và kỹ năng vận hành trong các điều kiện bình thường, bất bình thường và trong tình huống khẩn cấp Nội dung đào tạo cho giám sát viên trong thời gian 5 ngày nhằm nâng cao khả năng đánh giá, phán đoán tình huống, sự cố có thể nảy sinh trong các điều kiện bình thường, bất bình thường và trong tình huống khẩn cấp; kiểm tra, sát hạch năng lực các giám sát viên để gia hạn giấy phép hành nghề học trong 5 ngày; kiểm tra trình độ của các nhà quản lý học trong 9 ngày nhằm kiểm tra năng lực làm việc của giám đốc điều hành
Khóa đào tạo theo yêu cầu từ 2-10 ngày, nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng khác nhau cho đội ngũ kỹ sư làm việc tại nhà máy ĐHN, các kỹ sư của
Trang 27các nhà sản xuất và các đối tượng theo yêu cầu của khách hàng, kể cả người nước ngoài
Đối với nhân viên bảo dưỡng kỹ thuật, do cơ sở đào tạo trực thuộc các công ty điện lực thực hiện Đối tượng đào tạo là các nhân viên bảo dưỡng kỹ thuật trong các nhà máy ĐHN, thuộc quyền quản lý của của công ty điện lực Giáo viên hướng dẫn có thể là giảng viên ở các trường đại học hoặc những nhân viên xuất sắc của công ty Nội dung đào tạo lý thuyết sát với công việc hàng ngày, nhằm đảm bảo cho các nhân viên bảo dưỡng kỹ thuật tiến hành công việc thành thạo trong điều kiện phóng xạ cao Đào tạo thực hành được tiến hành trên mô hình mô phỏng chính xác một số bộ phận chính của nhà máy ĐHN (nắp đậy lò phản ứng hạt nhân, buồng tạo hơi nước, tuốc bin, động
cơ, hệ thống hãm, kiểm soát, an toàn lò phản ứng hạt nhân…) Chương trình đào tạo bao gồm những kiến thức chung áp dụng cho tất cả các đối tượng (nhân viên mới, nhân viên bình thường, chuyên viên cao cấp, giám sát viên và giám đốc) Riêng bảo dưỡng kỹ thuật chỉ áp dụng đối với nhân viên mới và nhân viên bình thường, chia thành 3 công việc chính (bảo dưỡng hệ thống cơ khí, bảo dưỡng hệ thống điện, bảo dưỡng hệ thống kiểm soát)
1.4.2 Bài học cho Việt Nam
Việt Nam cũng như các quốc gia khác khi bắt đầu xây dựng nhà máy ĐHN đầu tiên đều còn thiếu kinh nghiệm về mọi mặt, trong đó có kinh nghiệm về quy hoạch, đào tạo, phát triển nhân lực ĐHN Mỗi quốc gia tuy có những nét riêng về hình thức, nội dung, mô hình đào tạo nhân lực cho ĐHN, nhưng đều sớm coi trọng nguồn nhân lực có chất lượng cao cho nhà máy ĐHN đầu tiên cũng như phát triển NLNT lâu dài với đa dạng hóa các loại hình đào tạo; gắn đào tạo, nghiên cứu với thực tế phát triển của NLNT, ĐHN
và có các chính sách hợp lý để thu hút, giữ người lao động trong ngành ĐHN Tuy chưa có mô hình chuẩn nhưng chuyên gia ĐHN một số nước đã có
Trang 28những khuyến nghị và chia sẻ kinh nghiệm đào tạo phát triển nhân lực ĐHN
mà Việt Nam nói chung và VINATOM nói riêng có thể tham khảo
Một là, coi nhân lực KH&CN trong lĩnh vực ĐHNlà yếu tố quyết định
Bởi trong điều kiện hiện nay, những nước có hoàn cảnh như Việt Nam hoàn toàn có khả năng mua những công nghệ và thiết bị tiên tiến nhất, nhưng ngành ĐHN của một quốc gia không thể không có hiểu biết về ĐHN
Hai là, coi trọng cân đối hai quá trình đào tạo nhân lực phát triển công
nghệ và đào tạo nhân lực vận hành công nghệ ĐHN Theo các chuyên gia Nga, những quốc gia đi sau như Việt Nam, thông thường được hưởng lợi từ các nước đi trước về công nghệ hạt nhân Do vậy, để tránh thiên lệch, cách đào tạo tốt nhất nhân lực ĐHN là phải kết hợp hai mục tiêu: (i) Đào tạo nhân lực để phát triển ngành công nghệ hạt nhân của Việt Nam; (ii) Đào tạo để sử dụng, vận hành an toàn nhà máy ĐHN cùng các công việc phụ trợ Họ nhấn mạnh, nếu không kết hợp hai mục tiêu này thì Việt Nam chỉ đào tạo được những chuyên gia vận hành mà không có chuyên gia về công nghệ hạt nhân
Ba là, đào tạo nhân lực ĐHN phải luôn gắn bó chặt chẽ và song hành
với sự tồn tại và phát triển của công nghệ hạt nhân Bởi công nghệ hạt nhân cũng như mọi loại hình công nghệ khác biến đổi và phát triển rất nhanh, nếu con người không nắm bắt kịp thời và làm chủ được nó thì hậu quả sẽ rất nghiêm trọng
Bốn là, có các chính sách ưu đãi nghề nghiệp, chính sách về đào tạo bồi
dưỡng, chính sách về các giải thưởng để thu hút nhân lực KH&CN có chất lượng vào làm việc trong lĩnh vực ĐHN
Năm là, có các chính sách khuyến khích và hỗ trợ tổ chức, cá nhân
tham gia đầu tư cho các hoạt động đào tạo nhân lực KH&CN trình độ cao
Trang 29Kết luận Chương 1
Trong chương 1 của luận văn, tác giả đã làm rõ các nội dung cơ bản nhân lực KH&CN, chính sách đào tạo nhân lực KH&CN, mục tiêu và nhiệm
vụ của các chính sách đào tạo nhân lực KH&CN trong lĩnh vực ĐHN
Các nội dung ở trên là tiền đề để tác giả luận văn phân tích, đánh giá thực trạng chính sách thúc đẩy đào tạo nhân lực KH&CN trong lĩnh vực ĐHN
từ thực tiễn của VINATOMtrong chương 2 Từ đó có cơ sở đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách thúc đẩy đào tạo nhân lực đến năm 2020 tại VINATOM trong chương 3
Trang 30Chương 2 THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY ĐÀO TẠO NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG LĨNH VỰC ĐIỆN HẠT NHÂN
TỪ THỰC TIỄN CỦA VIỆN NĂNG LƯỢNG NGUYÊN TỬ VIỆT NAM 2.1 Giời thiệu tổng quan về Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam
2.1.1 Nhiệm vụ và chức năng
Viện Năng lượng nguyên tử được thành lập theo Nghị định số HĐBT ngày 11/6/1984 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) Viện Năng lượng nguyên tử là tổ chức sự nghiệp khoa học công lập trực thuộc Bộ KH&CN, giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và triển khai các hoạt động ứng dụng kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực NLNT, hỗ trợ kỹ thuật phục vụ công tác quản lý nhà nước về NLNT, an toàn bức xạ và hạt nhân; tổ chức hoạt động đào tạo, dịch vụ trong lĩnh vực NLNT theo quy định của pháp luật
87-Tên giao dịch quốc tế bằng tiếng Anh của Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam là: Vietnam Atomic Energy Institute (viết tắt là VINATOM)
Nhiệm vụ chính của VINATOM là:
- Nghiên cứu xây dựng chính sách, phương hướng, chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển ngành năng lượng nguyên tử Việt Nam tham gia, phối hợp nghiên cứu xây dựng các dự án, văn bản pháp luật về NLNT; tham gia, phối hợp thực hiện các chính sách hạt nhân đã được Chính phủ phê duyệt
- Thực hiện nghiên cứu cơ bản định hướng ứng dụng trong lĩnh vực NLNT
- Nghiên cứu, triển khai ứng dụng kỹ thuật hạt nhân và công nghệ bức
xạ trong các ngành kinh tế - xã hội của đất nước
Trang 31- Nghiên cứu, tiếp thu, làm chủ và phát triển khoa học, kỹ thuật và công nghệ liên quan đến nhà máy điện hạt nhân
- Thực hiện vai trò của cơ quan hỗ trợ kỹ thuật quốc gia độc lập về: Kiểm tra đánh giá và đảm bảo chất lượng, bảo đảm an toàn, an ninh hạt nhân
và bảo vệ môi trường, phục vụ cho chương trình phát triển điện hạt nhân
- Đào tạo, huấn luyện và bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn chuyên ngành NLNT theo quy định của pháp luật
- Tổ chức triển khai thực hiện các hoạt động dịch vụ, tư vấn trong phạm
vi chức năng, nghiệp vụ được giao theo quy định
- Tổ chức sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu các sản phẩm và công nghệ trong lĩnh vực NLNT theo quy định của pháp luật
- Thực hiện các hoạt động hợp tác quốc tế theo quy định của pháp luật; tham gia hoặc là đầu mối đại diện với các tổ chức quốc tế theo sự phân công của Bộ trưởng Bộ KH&CN
- Quản lý công tác tổ chức và cán bộ, kinh phí và tài sản của VINATOM theo phân cấp của Bộ KH&CN và theo quy định của pháp luật
- Thực hiện các nhiệm vụ khác được Bộ trưởng Bộ KH&CN giao
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam
Sau hơn 40 năm tồn tại và phát triển, hiện nay VINATOM có 10 đơn vị trực thuộc với tổng số hơn 700 cán bộ Cơ cấu tổ chức của VINATOM được thể hiện trong sơ đồ 2.1:
Trang 32Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam
Viện trưởng
Phó Viện trưởng Phó Viện trưởng
Phó Viện trưởng
TT Hạt nhân TpHCM
TT NDE
TT NTC
TT N/C
và triển khai
CN bức
xạ
Viện Nghiên cứu hạt nhân
Khối
Cơ
quan
Viện Khoa học
và Kỹ thuật hạt nhân
Viện Công nghệ
xạ hiếm
TT Ư/Dhạ
t nhân trong công nghiệp
TT Chiếu
xạ Hà Nội
Trang 332.1.3 Các thành tựu nghiên cứu và phát triển khoa học và công nghệ của Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam
Trong những năm qua, VINATOM đã thu được nhiều kết quả trong việc đưa KH&CN hạt nhân phục vụ cho mục đích phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Các kết quả nổi bật trong hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ của Viện được tóm tắt theo một số hướng chủ yếu sau:
- Các nghiên cứu phục vụ hoạch định chương trình phát triển ĐHN ở Việt Nam được thực hiện trong các đề tài của chương trình 50B, KC05, KH04
và đề án nghiên cứu làm rõ 7 vấn đề trong chương trình phát triển ĐHN ở Việt Nam Các nghiên cứu đã làm rõ các vấn đề KH&CN và kinh tế xã hội đối với việc phát triển ĐHN ở Việt Nam và chuẩn bị nguồn nhân lực cho chương trình phát triển ĐHN dài hạn của đất nước Đồng thời, các kết quả nghiên cứu này cũng đã được đưa vào trong nội dung của Chiến lược ứng dụng NLNT vì mục đích hoà bình và định hướng quy hoạch phát triển ĐHN
- Với nhiệm vụ được phân công về công nghệ và an toàn ĐHN, Viện đã
tổ chức nhiều hoạt động nghiên cứu vừa nhằm xây dựng tiềm lực vừa góp phần tham gia thực hiện dự án xây dựng nhà máy ĐHN đầu tiên ở Việt Nam Nghiên cứu vật lý, kỹ thuật lò phản ứng và các hệ thống công nghệ của
lò phản ứng trong nhà máy ĐHN, nhiên liệu hạt nhân và xử lý chất thải phóng
xạ cho điện hạt nhân đó góp phần tham gia đánh giá, lựa chọn công nghệ cho
dự án ĐHN Ninh Thuận
2.2 Thực trạng đào tạo nhân lực điện hạt nhân tại Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam
2.2.1 Thực trạng nhân lực khoa học và công nghệ từ năm 2000 đến 2014
2.2.1.1 Số lượng nhân lực khoa học và công nghệ
Theo báo cáo Điều tra thống kê tiềm lực KH&CN năm 2014 của Bộ
Trang 34KH&CN (2015) và Điều tra doanh nghiệp (2014), Việt Nam hiện có 164.744 nhân lực tham gia hoạt động NC&PT và đang làm việc trong 1055 tổ chức KH&CN, bao gồm nhóm tổ chức NC&PT có 505 đơn vị (chiếm 48%), nhóm các cơ sở giáo dục đại học có 338 đơn vị (chiếm 32%) và các tổ chức dịch vụ KH&CN có 212 đơn vị (chiếm 20%)
Số nhân lực NC&PT chia theo loại hình kinh tế và vị trí hoạt động được phản ánh cụ thể theo bảng 2.1:
Bảng 2.1: Nhân lực NC&PT chia theo loại hình kinh tế và vị trí hoạt động
Đơn vị tính: người
Loại hình
kinh tế
Tổng nhân lực nghiên cứu
Tỷ lệ (%)
Chia theo vị trí hoạt động Cán bộ
Nguồn: Tổng hợp từ Điều tra NC&PT và Điều tra doanh nghiệp (2014)
Về hiện trạng cán bộ nghiên cứu theo khuc vực (Bảng 2.2), xem xét cơ cấu tỷ lệ của vị trí hoạt động trong từng khu vực thì ở khu vực đại học, tỷ lệ CBNC trong tổng số CBNC của cả nước là cao nhất, chiếm 49,2%, tiếp đó là khu vực viện nghiên cứu/trung tâm nghiên cứu (23,1%), khu vực doanh nghiệp cũng có tỷ lệ tương đối cao (14,4%)
Trang 35Bảng 2.2: Cán bộ nghiên cứu theo khu vực hoạt động
Nguồn: Tổng hợp từ Điều tra NC&PT và Điều tra doanh nghiệp (2014)
Đối với nhân lực KH&CN trong lĩnh vực ĐHN có khoảng 1300 (chiếm 1%) chủ yếu đang công tác tại Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam, Cục Năng lượng nguyên tử, Cục An toàn bức xạ hạt nhân Từ số liệu, ta thấy được thực trạng của nhân lực KH&CN trong lĩnh vực ĐHN đang rất thiếu [7]
2.2.1.2 Chất lượng nhân lực khoa học và công nghệ
Thông qua việc giải quyết các vấn đề KH&CN do thực tiễn đặt ra, năng lực nghiên cứu trong một số lĩnh vực KH&CN của nước ta đã có sự phát triển vượt bậc, thể hiện qua các công trình công bố quốc tế, các văn bằng bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ Nhiều sản phẩm từ kết quả nghiên cứu đã đạt được trình
độ khu vực và quốc tế, đã và đang được đưa vào ứng dụng thực tiễn, mang lại hiệu quả kinh tế cao
Trang 36- Công bố khoa học trong nước,số lượng bài báo khoa học công bố
hàng năm đều tăng tuy không nhiều, đạt 18.630 bài trong năm 2015 (Hình 2.1)
Hình 2.1: Bài báo khoa học và công nghệ trong nước
Nguồn: Sách trắng về Khoa học và công nghệ (2015)
- Công bố khoa học quốc tế, số lượng công bố KH&CN trên những tạp
chí KH&CN quốc tế có uy tín là một chỉ số được nhiều nước sử dụng trong đánh giá năng suất KH&CN của một quốc gia
Tổng số công bố KH&CN của Việt Nam trong CSDL Web of Science giai đoạn 2011-2015 là 11.953 bài báo Năm 2015, lần đầu tiên Việt Nam đã
có số công bố khoa học được xử lý vào CSDL Web of Science vượt ngưỡng 3.000 bài/năm và đạt đến 3.137 bài (tăng13,7% so với năm trước đó) và gấp gần hai lần so với năm đầu tiên của giai đoạn (Hình 2.2)
Trang 37Hình 2.2: Số lượng công bố khoa học và công nghệ của Việt Nam trong
CSDL Web of Science giai đoạn 2011-2015
Nguồn: CSDL Web of Science ngày 31/3/2016
- Đăng ký sáng chế, số liệu về đơn đăng ký và số văn bằng bảo hộ sở
hữu công nghiệp được cấp thể hiện ở mức độ nhất định về năng lực đổi mới sáng tạo, NC&PT của quốc gia Số liệu về đơn đăng ký và văn bằng bảo hộ sở hữu công nghiệp năm 2015 ở Việt Nam như sau (Bảng 2.3):
Bảng 2.3: Số lượng đơn đăng ký và văn bằng bảo hộ cấp cho các đối tượng sở
hữu công nghiệp năm 2015 (so với năm 2014)
Trang 38-Nguồn: Cục Sở hữu trí tuệ (2015)
Số đơn đăng ký sáng chế nộp vào Việt Nam năm 2015 tiếp tục gia tăng với mức độ cao so với năm 2014, tăng 13,2% Các đối tượng sở hữu công nghiệp cũng có sự gia tăng về số đơn đăng ký, giải pháp hữu ích tăng 20,6%, kiểu dáng công nghiệp tăng 5,8% và nhãn hiệu tăng 12,8%
2.2.2 Thực trạng đào tạo nhân lực khoa học và công nghệ trong lĩnh vực điện hạt nhân tại Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam từ 2011-2015
Chính sách đào tạo nhân lực KH&CN trong lĩnh vực ĐHN chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, bao gồm các yếu tố bên trong (chiến lược phát triển của đơn vị; nội dung đào tạo, quy trình đào tạo và phương pháp đánh giá kết quả đào tạo; yếu tố con người, sách và tài liệu) và các yếu tố bên ngoài (thể chế - pháp luật; kinh tế; công nghệ; hội nhập; văn hóa – xã hội)
Theo kết quả điều tra của tác giả (2016), mức độ ảnh hưởng của các yếu tố được phản ánh trong bảng 2.4, cụ thể như sau:
Trang 39Bảng 2.4: Các yếu tố ảnh hưởng đến đào tạo nhân lực ĐHN
Mức độ ảnh hưởng
Tỷ lệ % Xếp theo
mức độ ảnh hưởng
I Yếu tố bên ngoài
II Yếu tố bên trong
Nội dung đào tạo, quy trình đào tạo và
phương pháp đánh giá kết quả đào tạo
Thứ nhất, đối với đào tạo trình độ tiến sĩ, VINATOM đã ban hành Quy
chế đào tạo trình độ tiến sĩ Quy chế đào tạo trình độ tiến sĩ quy định cách thức tuyển sinh, chương trình học, quy định về số lượng cũng như chất lượng
Trang 40của Hội đồng chấm luận án các cấp, quy định về công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ
Thứ hai, đối với các khóa đào tạo bồi dưỡng VINATOM áp dụng theo
Hướng dẫn triển khai thực hiện Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nhân lực phục
vụ phát triển ĐHN do Cục Năng lượng nguyên tử ban hành Trong hướng dẫn quy định về xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng; nội dung, chương trình và tài liệu đào tạo, bồi dưỡng; cách thức tổ chức và đánh giá kết quả khóa đào tạo, bồi dưỡng
Như vậy, đối với đào tạo nhân lực dài hạn hay ngắn hạn VINATOM đã
có những quy định cụ thể, điều này tạo điều kiện thuận lợi cho việc lên kế hoạch cũng như triển khai các khóa đào tạo Tuy nhiên, khi đi vào thực tế thì
có 1 số quy định chưa sát với thực tế và còn mang tính thủ tục hành chính
- Về kinh tế: VINATOM là tổ chức sự nghiệp khoa học và công nghệ công lập, nên nguồn tài chính dành cho đào tạo nhân lực được lấy từ 3 nguồn chính: Nguồn hỗ trợ từ ngân sách của Bộ KH&CN, nguồn từ Đề án 1558, nguồn xã hội hóa
Đối với nguồn tài chính từ ngân sách của Bộ KH&CN, Đề án 1558 thì Trung tâm Đào tạo hạt nhân cùng với Ban Kế hoạch và Quản lý khoa học sẽ
rà soát, tổng hợp các khóa đào tạo của các đơn vị trược thuộc Viện và trình
Bộ KH&CN, Ban Đề án 1558 phê duyệt tài chính
Đối với nguồn xã hội hóa thì Trung tâm Đào tạo hạt nhân và Ban Kế hoạch và Quản lý khoa học sẽ xác định kinh phí cho từng khóa đào tạo Năm
2014, được đầu tư gần1,4 tỷ cho đào tạo Viện đã tổ chức được 12 khóa đào trong nước và 6 khóa ngoài nước Năm 2015, kinh phí dành cho đào tạo gần 3,0 tỷ Viện đã tổ chức được 9 khóa trong nước và 8 khóa ngoài nước