Khái niệm về chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao Khái niệm chính sách công được hiểu như sau: “Chính sách công là một tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của Đảng v
Trang 1VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN DUY TƯ
CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TỪ THỰC TIỄN
TỈNH HÒA BÌNH
Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số: 60 34 04 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS TRẦN ĐÌNH HẢO
HÀ NỘI, 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn với đề tài: “Chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao từ thực tiễn tỉnh Hòa Bình” là công trình nghiên cứu của riêng
tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Trần Đình Hảo Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã hoàn thành tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Học viện Khoa học xã hội – Viện Hàn lâm khoa học xã hội
Việt Nam
Vậy, tôi viết lời cam đoan này đề nghị Học viện Khoa học xã hội – Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam xem xét để tôi có thể bảo vệ luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Người cam đoan
Nguyễn Duy Tư
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO 8
1.1 Khái niệm về chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao 8
1.2 Vấn đề chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao 10
1.3 Mục tiêu, giải pháp và công cụ chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao 11
1.4 Chủ thể chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao 14
1.5 Thể chế chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao 15
1.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao 16
Chương 2: THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TẠI TỈNH HÒA BÌNH 20
2.1 Thực trạng tổ chức thực hiện chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao tại tỉnh Hòa Bình 20
2.2 Thực trạng triển khai thực hiện giải pháp, công cụ chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao tại tỉnh Hòa Bình 23
2.3 Đánh giá vai trò của các thủ thể tham gia chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao tại tỉnh Hòa Bình 26
2.4 Đánh giá môi trường, thể chế chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao tại tỉnh Hòa Bình 29
2.5 Đánh giá chung về chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao của tỉnh Hòa Bình 32
Chương 3 : HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TẠI TỈNH HÒA BÌNH 35
3.1 Định hướng chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế giai đoạn 2015 – 2020 35
3.2 Các giải pháp về chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển 41 3.3 Điều kiện để triển khai các giải pháp về chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao 57
3.4 Một số kiến nghị về chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao 62
KẾT LUẬN 63
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 65
Phụ lục 68
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CNH-HĐH Công nghiệp hóa – hiện đại hóa
GD&ĐT Giáo dục và đào tạo
LĐTB&XH Lao động thương binh và xã hội
KH&ĐT Kế hoạch và đầu tư
TPP Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương
WTO Tổ chức thương mại thế giới
ASEAN Cộng đồng các quốc gia Đông Nam Á
KT - XH Kinh tế - xã hội
Trang 521
Bảng 2.2
Một số khó khăn của người lao động tỉnh Hòa Bình
Bảng 2.3
Bảng số liệu thể hiện số sinh viên đại học, cao đẳng
là con em ở tỉnh Hòa Bình được đào tạo theo hệ giáo dục (Bộ Giáo dục và Đào tạo) từ năm 2001 đến năm 2010
40
Trang 61
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
“Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp hèn Vì thế các bậc đế vương thánh minh không đời nào không coi trọng việc giáo dục nhân tài, kén chọn kẻ sỹ, vun trồng nguyên khí quốc gia là công việc cần thiết…”
Trải qua hơn 570 năm lịch sử, câu nói của hiền nhân Thân Nhân Trung (1419 – 1499) về nhân tài, giáo dục nhân tài, kén chọn kẻ sỹ, vun trồng nguyên khí quốc gia vẫn còn nguyên giá trị
Ngay từ khi thành lập, Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm đến trọng dụng và thu hút nhân tài Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định tìm người tài để xây dựng đất nước và Người chính là tấm gương sáng cho việc tìm nhân tài, trọng dụng nhân tài Ngày 14/11/1945, trên báo Cứu quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã viết: “Kiến thiết cần có nhân tài, nhân tài nước ta dù chưa có nhiều lắm nhưng nếu chúng ta khéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo dùng thì nhân tài ngày càng phát triển càng thêm nhiều” Người cho rằng phải biết chăm lo
phát hiện nhân tài, phải biết đào tạo, bồi dưỡng nhân tài và phải biết sử dụng nhân tài một cách hợp lý Việc trọng dụng nhân tài theo quan điểm của Chủ
tịch Hồ Chí Minh là phải làm thường xuyên, liên tục như “người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu” Tại Đại hội XI, Văn kiện của Đảng ta đã
khẳng định: phát triển và nâng cao chất lượng NL, nhất là NL chất lượng cao
là một đột phá chiến lược, là yếu tố quyết định đẩy mạnh phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ, cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất, bảo đảm cho phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững
Để phát triển mỗi quốc gia phải dựa vào các nguồn lực cơ bản: nguồn nhân lực, tài nguyên thiên nhiên, tiềm lực khoa học công nghệ và cơ sở vật chất kỹ thuật, nguồn vốn Trong đó, NL luôn luôn là nguồn lực cơ bản và chủ
Trang 72
yếu nhất cho sự phát triển, có tính chất quyết định trong sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của mọi quốc gia từ trước đến nay Trong thời đại ngày nay, tài nguyên thiên nhiên đang dần cạn kiệt, cùng với đó kinh tế tri thức, khoa học công nghệ đang phát triển mạnh mẽ khiến nhân tố con người càng được quan tâm nhiều hơn, đặc biệt là NL chất lượng cao
Từ thực tiễn hiện nay, để nâng cao hiệu quả hoạt động của cả khu vực
tư nhân và khu vực nhà nước, vấn đề phát triển NL chất lượng cao đặc biệt được quan tâm Để nâng cao hiệu lực, hiệu quả của quản lý nhà nước, đảm bảo KT-XH tầm vĩ mô được phát triển một cách ổn định, bền vững thì Nhà nước cần đặc biệt quan tâm chính sách phát triển NL chất lượng cao, bởi lực lượng này có vai trò quyết định đến hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước Hơn nữa, trong xu hướng phát triển nền kinh tế tri thức và toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới, NL có chất lượng cao được coi là điều kiện để rút ngắn khoảng cách tụt hậu và tăng trưởng nhanh
Trong thời gian qua, xác định được ý nghĩa và vai trò to lớn của chính sách phát triển NL chất lượng cao Đảng, Nhà nước ta và các địa phương bao gồm tỉnh Hòa Bình đã có các chính sách phát triển NL chất lượng cao về địa phương, coi đó là nhiệm vụ quan trọng, là biện pháp đột phá trong phát triển bền vững Ban hành nhiều văn bản chính sách liên quan đến chế độ chính sách
để thu hút, đãi ngộ lực lượng NL chất lượng cao của xã hội Đặc biệt, tỉnh Hòa Bình là một tỉnh miền núi, còn gặp nhiều khó khăn, trình độ dân trí còn thấp so với mặt bằng chung, kinh tế phát triển còn ở mức thấp thì việc phát triển, thu hút, đãi ngộ NL chất lượng cao càng quan trọng hơn nữa nếu không muốn khoảng cách ngày càng xa hơn với các tỉnh khác trên cả nước
Dựa vào điều kiện và nhu cầu phát triển KT-XH của đất nước cũng như của tỉnh, HĐND và UBND tỉnh Hòa Bình đã ban hành chính sách phát triển
NL chất lượng cao Tuy nhiên, do năng lực hoạch định chính sách của đội ngũ
CB, CC còn hạn chế và sự phát triển, thay đổi nhanh chóng của xã hội nên
Trang 83
một số điểm của chính sách không còn phù hợp, mục tiêu của chính sách chưa đạt được như mong muốn Điều đó đòi hỏi tỉnh Hòa Bình cần phải nghiên cứu, điều chỉnh chính sách một cách hợp lý để có thể đem lại hiệu quả, phát triển được một lực lượng NL chất lượng cao về phục vụ địa phương
Với những lý do trên, tôi đã lựa chọn đề tài: “Chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao từ thực tiễn tỉnh Hòa Bình” làm luận văn Thạc sĩ
chính sách công để nghiên cứu, qua đó nhằm kiến nghị một số giải pháp, công cụ để có thể nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực tỉnh Hòa Bình nói riêng
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Tỉnh Hòa Bình cũng như trong cả nước đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học, các hội thảo khoa học, các luận văn thạc sĩ, tiến sĩ của các nhà khoa học về đề tài này ở nhiều góc độ, phạm vi Dưới đây là một số công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài:
Mai Quốc Chánh (1999), Phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
Nguyễn Hữu Dũng (2003), Sử dụng hiệu quả nguồn lực con người ở Việt Nam, Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội
Vũ Thị Phương Mai (2004), Luận văn Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở tỉnh Quảng Ninh
Nguyễn Huy Trung (2006), Xung quanh vấn đề xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, Tạp chí Lao động - Xã hội
Lê Thị Hồng Điệp (2009), Kinh nghiệm trọng dụng nhân tài để hình thành nền kinh tế tri thức của một số quốc gia Châu Á và những gợi ý cho Việt Nam, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, đã tập trung vào tổng
kết kinh nghiệm trọng dụng nhân tài trong khu vực công và khu vực sản xuất, kinh doanh để hình thành nền kinh tế tri thức của các quốc gia Châu Á
Mai Thị Lĩnh (2011), nguồn nhân lực chất lượng cao trong sự nghiệp
Trang 94
công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở tỉnh Thái Nguyên hiện nay
Lê Thị Hồng Điệp (2012), Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu xây dựng nền kinh tế tri thức ở Việt Nam, một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Đại học Quốc gia Hà Nội
Đỗ Thị Thủy (2013), Chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao cho các cơ quan hành chính nhà nước tỉnh Phú Thọ, Luận văn Thạc sỹ Quản lý hành chính công, Học viện Hành chính, Hà Nội
Các công trình trên đã đề cập một cách tương đối có hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của nguồn lực con người trong phát triển KT-
XH Đồng thời phân tích một cách khoa học sự tác động qua lại giữa các nguồn lực: Nguồn lực con người, vốn, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất
kỹ thuật, vị trí địa lý, trong đó yếu tố quyết định vẫn là nguồn lực con người
Các đề tài trên chủ yếu nghiên cứu về thực trạng hoạt động thu hút, đãi ngộ mà chưa thực sự đi sâu vào nghiên cứu, đánh giá cụ thể về nội dung của chính sách Đặc biệt, chưa có một công trình nghiên cứu cụ thể nào về chính sách phát triển NL chất lượng cao ở tỉnh Hòa Bình Xuất phát từ lý do
đó tác giả chọn đề tài này làm luận văn thạc sỹ của mình, đề tài luận văn thực hiện có sự kế thừa, phát triển những thành quả của các tài liệu liên quan trước đó để đánh giá, phân tích, từ đó chỉ ra nguyên nhân, đề xuất các giải pháp giải quyết vấn đề về chất lượng NL
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 105
Luận văn đề xuất đưa ra các giải pháp, công cụ nhằm giải quyết tốt nhất vấn đề chất lượng NL
Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được những mục đích trên, luận văn sẽ hướng tới giải quyết các nhiệm vụ:
Đưa ra những vấn đề lý thuyết làm cơ sở khoa học để áp dụng giải
quyết vấn đề phát triển NL chất lượng cao từ thực tiễn tỉnh Hòa Bình
Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng giải quyết vấn đề phát triển
NL chất lượng cao từ thực tiễn tỉnh Hòa Bình trong thời gian qua
Nghiên cứu đưa ra giải pháp chủ yếu để giải quyết vấn đề phát triển
NL chất lượng cao từ thực tiễn tỉnh Hòa Bình đến năm 2020
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu Chính sách phát triển NL chất lượng cao từ thực tiễn tỉnh Hòa Bình
Phạm vi nghiên cứu:
Nghiên cứu Chính sách phát triển NL trên địa bàn tỉnh Hòa Bình, chỉ nghiên cứu mặt chất lượng về chính sách phát triển nguồn NL chất lượng cao trên góc độ giáo dục và đào tạo để có các giải pháp cơ bản về chính sách phát triển NL chất lượng cao ở tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2015-2020
Thời gian:
Nghiên cứu chú trọng đến khảo sát trong thời gian từ năm 2010 - 2016
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận:
Luận văn được nghiên cứu dựa trên, quan điểm, đường lối chính sách của Đảng cộng sản Việt Nam, lý thuyết về chính sách công, chính sách NL
Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp phân tích và tổng hợp: Được sử dụng để thu thập, phân tích
Trang 11Phương pháp thu thập thông tin: Phân tích và tổng hợp, được sử dụng
để thu thập, phân tích và khai thác thông tin từ các nguồn có sẵn liên quan đến đề tài nghiên cứu, bao gồm các văn kiện, tài liệu, nghị quyết, quyết định của Đảng, Nhà nước, bộ ngành ở Trung ương và địa phương; các công trình nghiên cứu, các báo cáo, tài liệu thống kê của chính quyền, ban ngành đoàn thể, tổ chức, cá nhân liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới vấn đề Chính sách phát triển NL nói chung và thực tiễn tỉnh Hòa Bình nói riêng Đồng thời, thu thập các tài liệu của các tổ chức và học giả quốc tế liên quan đến đề tài trong thời gian qua
Thu tập, tìm hiểu và vận dụng các lý thuyết của ngành chính sách xã hội liên quan đến vấn đề chính sách NL
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn luận văn
Ý nghĩa lý luận của luận văn:
Đề tài này thuộc nhóm đề tài nghiên cứu lý thuyết chính sách công vào việc giải quyết một vấn đề xã hội cụ thể Thông qua đó để đưa ra các giải pháp, công cụ hỗ trợ để giải quyết vấn đề xã hội Cung cấp cơ sở lý luận, khoa học phục vụ cho công tác nghiên cứu, đồng thời, là cơ sở lý luận cho những đề tài nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề này
Ý nghĩa thực tiễn:
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể chỉ ra khái quát về thực trạng chất lượng NL và chính sách để giải quyết vấn đề chất lượng NL Từ đó, cung cấp
Trang 127
những cơ sở khoa học cho hoạt động hoạch định chính sách, đưa ra các giải pháp nhằm giải quyết tốt vấn đề về chất lượng NL trong thời gian tới
7 Cơ cấu của luận văn
Luận văn được chia làm 3 chương, không kể phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, bao gồm:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về chính sách phát triển nhân lực
Trang 138
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NHÂN
LỰC CHẤT LƯỢNG CAO 1.1 Khái niệm về chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao
Khái niệm chính sách công được hiểu như sau:
“Chính sách công là một tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của Đảng và Nhà nước nhằm lựa chọn mục tiêu và giải pháp và công cụ thực hiện nhằm giải quyết các vấn đề của xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác định”[18]
Khái niệm nhân lực:
Đã có nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đưa ra các khái niệm NL theo các khía cạnh khác nhau Nhưng nhìn chung các khái niệm đều
thống nhất về nội dung cơ bản là: Nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, là yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất, giữ vai trò quyết định sự phát triển kinh tế - xã hội của mọi quốc gia
Khi nói tới NL trước hết phải hiểu đó là toàn bộ những người lao động đang có khả năng tham gia vào các quá trình phát triển kinh tế - xã hội và các thế hệ những người lao động tiếp tục tham gia vào các quá trình phát triển kinh tế xã hội, con người đóng vai trò là chủ thể sáng tạo và chi phối toàn bộ quá trình đó, hướng nó tới mục tiêu đã được chọn Cho nên NL nó còn bao gồm một tổng thể các yếu tố thể lực, trí lực, kỹ năng lao động, thái độ và phong cách làm việc, đó chính là các yếu tố thuộc về chất lượng NL Khi nói tới NL phải nói tới cơ cấu của lao động, bao gồm cả cơ cấu đào tạo và cơ cấu ngành nghề Khi nói tới NL cần nhấn mạnh sự phát triển trí tuệ, thể lực và trình
độ chuyên môn nghiệp vụ của con người, bởi vì trí lực là yếu tố ngày càng đóng vai trò quyết định sự phát triển NL Ngoài ra, khi nói đến NL cũng cần phải nói tới kinh nghiệm sống, năng lực hiểu biết thực tiễn, đạo đức và nhân cách của con người
Trang 149
Do đó, NL tiếp cận dưới giác độ phổ quát của Kinh tế Chính trị được
hiểu là: Tổng hòa thể lực và trí lực tồn tại trong toàn bộ lực lượng lao động xã hội của một quốc gia, trong đó kết tinh truyền thống và kinh nghiệm lao động
sáng tạo của một dân tộc trong lịch sử được vận dụng để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ cho nhu cầu hiện tại và tương lai của đất nước
Khái niệm Nhân lực chất lượng cao như sau:
Theo cách hiểu mang tính chất định tính thì NL chất lượng cao là một
bộ phận của lực lượng lao động, có khả năng đáp ứng những yêu cầu phức tạp của công việc, từ đó tạo ra năng suất và hiệu quả cao trong công việc, có những đóng góp đáng kể cho sự tăng trưởng và phát triển của cộng đồng cũng như của toàn xã hội Nếu tiếp cận theo cách hiểu mang tính chất định lượng thì NL chất lượng cao được hiểu theo các cách khác nhau:
Một là, NL chất lượng cao là những người lao động đã qua đào tạo, có
bằng cấp và trình độ chuyên môn kỹ thuật Trên thực tế, khái niệm “lao động qua đào tạo” rất phức tạp vì hiện nay có rất nhiều hình thức và phương pháp đào tạo khác nhau, từ học nghề ngắn hạn đến cao đẳng, đại học đều có thể được xem là “lao động qua đào tạo” Như vậy, nếu coi NL chất lượng cao là lao động qua đào tạo sẽ dẫn đến một sự phân hóa lớn về trình độ của NL này
Hai là, một cách hiểu theo định lượng hẹp hơn là coi NL chất lượng
cao là NL có trình độ đại học, cao đẳng, NL lãnh đạo, quản lý và hoạch định chính sách, NL khoa học, công nghệ, đội ngũ giảng viên các trường đại học, cao đẳng Thực tế, có một cách hiểu hẹp hơn nữa là chỉ xem những người có trình độ thạc sĩ, tiến sĩ mới là NL chất lượng cao
Có thể thấy, về mặt khái niệm NL chất lượng cao chưa có sự thống nhất Cả hai cách hiểu mang tính định tính và định lượng đều có những hạn chế nhất định
NL chất lượng cao là NL phải đáp ứng được yêu cầu của thị trường (yêu cầu của các doanh nghiệp trong và ngoài nước), đó là: có kiến thức
Trang 1510
chuyên môn, kinh tế, tin học, có kỹ năng, kỹ thuật; tìm và tự tạo việc làm, làm việc an toàn, làm việc hợp tác; có thái độ, tác phong làm việc tốt, trách nhiệm với công việc
Khái niệm về chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao:
Có thể hiểu chính sách phát triển NL chất lượng cao là: “tập hợp các quyết định có liên quan của Đảng và Nhà nước, nhằm lựa chọn mục tiêu, giải pháp, công cụ để nhằm nâng cao chất người lao động về thể lực, trí lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước”
Nguồn lao động có chất lượng chuyên môn cao sẽ là lực lượng cốt lõi cho quá trình CNH – HĐH đất nước, trong quá trình hội nhập ngày càng sâu rộng, đòi hỏi chất lượng lao động ngày càng cao để đáp ứng được quá trình đó
Các lý thuyết về tăng trưởng kinh tế gần đây chỉ ra rằng, một nền kinh
tế muốn tăng trưởng nhanh và ở mức cao phải dựa trên ít nhất 3 trụ cột cơ bản: áp dụng công nghệ mới, phát triển cơ sở hạ tầng hiện đại và nâng cao chất lượng NL Trong đó, động lực quan trọng nhất của sự tăng trưởng kinh
tế bền vững chính là con người, đặc biệt là NL chất lượng cao, tức là con người được đầu tư phát triển, tạo lập kỹ năng, kiến thức, tay nghề, kinh
nghiệm, năng lực sáng tạo để trở thành “nguồn vốn - vốn con người, vốn nhân lực”
1.2 Vấn đề chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao
Trong quá trình đẩy mạnh CNH - HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đang đứng trước thách thức rất lớn về NL chất lượng cao Tỷ lệ NL chất lượng cao còn thấp so với nhu cầu của thực tế
Trong khi dư thừa rất lớn lao động phổ thông, thì lại thiếu hụt nghiêm trọng lao động có trình độ cao, nhất là lao động cung cấp cho các khu công nghiệp, khu chế xuất và cho xuất khẩu lao động Đây là tình trạng đáng báo động, không phù hợp với quy luật tăng trưởng là tỷ lệ tăng trưởng lao động có
Trang 16và trình độ chuyên môn, kỹ thuật của NL Hơn nữa, quá trình hội nhập kinh tế thế giới là quá trình giao lưu, trao đổi giữa Việt Nam và các nước trên thế giới
về hàng hóa dịch vụ, tiền tệ, công nghệ mới, NL theo hai chiều ra và vào Nguồn vốn đầu tư nước ngoài và công nghệ mới vào Việt Nam kéo theo công việc làm, các nghề mới, kinh nghiệm và kỹ năng quản lý Những diễn biến này tác động trực tiếp vào NL và phát triển NL chất lượng cao của Việt Nam
Do vậy, chính sách phát triển NL chất lượng cao ở Việt Nam đặc biệt quan trọng cho sự thành công của CNH - HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế Cần tạo ra và cải thiện tất cả các điều kiện cần thiết để phát triển NL chất lượng cao nhanh, có chất lượng, đáp ứng nhu cầu cấp bách của công cuộc đổi mới, của CNH - HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế
1.3 Mục tiêu, giải pháp và công cụ chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao
1.3.1 Mục tiêu chính sách
Về mặt giáo dục và đào tạo: “tập trung đào tạo nhân lực trình độ cao, bồi dưỡng nhân tài, phát triển phẩm chất và năng lực tự học, tự làm giàu tri thức, sáng tạo của người học Hoàn thiện mạng lưới các cơ sở giáo dục đại học, cơ cấu ngành nghề và trình độ đào tạo phù hợp với quy hoạch phát triển nhân lực quốc gia; trong đó, có một số trường và ngành đào tạo ngang tầm khu vực và quốc tế Đa dạng hóa các cơ sở đào tạo phù hợp với nhu cầu phát
Trang 171.3.2 Giải pháp và công cụ chính sách
Về thể chế quản lý của Nhà nước đối với giáo dục và đào tạo Cần có
sự thống nhất của Đảng, Nhà nước và các bộ nghành liên quan về chính sách phát triển giáo dục trong tình hình mới, tạo hành lang pháp lý thuận lợi, đảm bảo thúc đẩy giáo dục phát triển Có cơ chế, chính sách đủ mạnh, hiệu quả để thu hút nguồn lực của toàn xã hội đầu tư cho phát triển giáo dục trong khi nguồn lực từ ngân sách nhà nước vừa thiếu vừa dàn trải, mang tính bình quân, không gắn kết với chất lượng đào tạo của nhà trường, không tạo động lực để nhà trường nâng cao chất lượng và đáp ứng nhu cầu thị trường lao động Thực hiện trao quyền tự chủ tài chính cho các cơ sở đào tạo, tạo sự linh hoạt chủ động của từng trường trong việc thích ứng với yêu cầu của xã hội về lực lượng lao động, chất lượng NL
Về phía cơ sở đào tạo theo Bộ trưởng Phạm Vũ Luận: Thay đổi mô hình phát triển giáo dục từ chú trọng phát triển số lượng sang mô hình chú trọng chất lượng và hiệu quả Cụ thể:
Chủ động rà soát và kiến nghị Thủ tướng chính phủ điều chỉnh mạng lưới các cơ sở giáo dục đại học cho phù hợp với quy hoạch phát triển nhân lực
Trang 18Chỉ đạo các trường đổi mới công tác xây dựng chương trình đào tạo trong đó có sự tham gia của các nhà quản lý, các nhà sử dụng lao động; xây dựng và công bố chuẩn đầu ra theo từng ngành đào tạo
Về chính sách giải quyết việc làm: Thành lập Trung tâm Hỗ trợ Đào tạo và Cung ứng nhân lực để điều tra, phân tích và dự báo nhu cầu nhân lực, tăng cường
sự phối hợp gắn kết giữa các cơ sở đào đạo với các đơn vị sử dụng lao động
Tăng cường công tác dự báo và cung cấp thông tin về thị trường lao động kết hợp với việc quy hoạch NL sát thực tế theo từng giai đoạn, theo ngành nghề và từng trình độ đào tạo
Phối hợp với các cơ quan chức năng có liên quan nghiên cứu, tổ chức điều tra về việc làm, hỗ trợ công tác tư vấn tuyển sinh của các cơ sở đào tạo, giúp cho người học có cơ sở lựa chọn những ngành nghề có khả năng tìm việc làm sau khi tốt nghiệp
Phối hợp với các bộ, ngành, địa phương chỉ đạo các cơ sở đào tạo triển khai mạnh mẽ đào tạo theo nhu cầu xã hội, tạo sự gắn kết giữa các cơ sở đào tạo với các đơn vị sử dụng lao động để đào tạo NL phù hợp
1.3.3 Công cụ chính sách
Công cụ dựa vào quyền lực: Nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát về việc xây dựng, thực hiện chính sách phát triển NL chất lượng cao ở từng địa phương, cơ sở đào tạo Thực hiện các chỉ đạo kịp thời với xu thế phát triển của xã hội về yêu cầu của xã hội với NL và giáo dục trong tình hình mới
Trang 1914
Công cụ dựa vào tổ chức: Phối hợp và chỉ đạo thực hiện chính sách phát triển NL chất lượng cao với các cơ sở đào tạo đảm bảo đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ được giao để phù hợp với thời kỳ đẩy mạnh CNH - HĐH đất nước giai đoạn hiện nay
Công cụ dựa vào tài chính: Tiến tới tự chủ tài chính cho các cơ sở đào tạo, chi ngân sách hỗ trợ tài chính cho người lao động trong quá trình học tập, xây dựng cơ sở đào tạo, huy động tài chính từ xã hội
Công cụ dựa vào thông tin, tuyên truyền: Các Bộ ngành, cơ quan truyền thông có tránh nhiệm phổ biến tuyên truyền chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về phát triển NL chất lượng cao để đông đảo người lao động biết và hiểu rõ hơn về chính sách này
1.4 Chủ thể chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao
Chủ thể của chính sách phát triển NL chất lượng cao là hệ thống cơ quan lập, ban hành và thực thi chính sách thường là Nhà nước, Quốc hội và
ủy ban chuyên trách, hệ thống cơ quan hành chính là Chính phủ, Bộ LĐTB&XH, Bộ GD&ĐT, Bộ KH&ĐT, Bộ Tài chính và các bộ ngành liên quan, chính quyền địa phương, sở GD&ĐT, sở Nội vụ, sở LĐTB&XH, đội ngũ thực thi chính sách việc làm là cán bộ công chức, viên chức, đặc biệt là cán bộ quản lý công chức Nhà nước và chính quyền các cấp, những người đứng đầu doanh nghiệp Nhà nước
Mức độ về hiệu quả, hiệu lực của chính sách phát triển NL chất lượng cao phụ thuộc rất lớn vào quan điểm, thái độ, năng lực và trình độ quản lý điều hành của Nhà nước cho đến hoạt động tham mưu của các chủ thể trong quá trình lập và lựa chọn phương án, ban hành và thực thi chính sách phát triển NL chất lượng cao Trong đó:
Chính phủ với chức năng quản lý, điều hành toàn bộ nền kinh tế - xã hội, do đó đối với vấn đề phát triển NL chất lượng cao, Chính phủ ở cấp Trung ương, UBND ở địa phương có trách nhiệm triển khai chính sách phát
Trang 2015
triển NL chất lượng cao thông qua các chức năng chính: (1) Hỗ trợ phát triển ngành đào tạo, giáo dục; (2) Quản lý, điều tiết và kiểm soát thị trường lao động; (3) Dự thảo luật giáo dục, luật lao động, luật việc làm
Bộ LĐTB&XH có trách nhiệm định hướng thị trường lao động, tham mưu xây dựng chính sách, ban hành văn bản cho thị trường lao động vận hành Bộ GD&ĐT có trách nhiệm sản xuất NL dựa trên thông tin dự báo về thị trường lao động và xu thế phát triển Bộ KH&ĐT có trách nhiệm dự báo
Bộ tài chính có trách nhiệm cân đối tài chính cho hoạt động đào tạo Chính quyền địa phương có trách nhiệm tạo môi trường, phối hợp với các bộ ngành, các doanh nghiệp trên địa bàn thực hiện chính sách phát triển NL chất lượng cao cho người lao động sống trên địa bàn
Ngoài ra còn có sự tham gia của các cơ sở đào tạo, các nhà khoa học, nhà tư vấn, chuyên gia, báo giới, các tổ chức xã hội, CB, CC vào thực hiện
chính sách phát triển NL chất lượng cao
1.5 Thể chế chính sách chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao
Môi trường thể chế là tổng hợp các nhân tố pháp lý và những điều kiện tác động đến sự tồn tại và vận động của các chủ thể tham gia hoạt động kinh
tế - xã hội nhằm đạt được mục tiêu kinh tế - xã hội đặt ra
Môi trường thể chế chính sách công bao gồm thể chế chính trị, luật pháp, kinh tế, hành chính và bộ máy, đội ngũ cán bộ của nó Cụ thể hơn, môi trường thể chế chính sách công đó là hệ thống tổng hợp chính sách, pháp luật,
cơ chế quản lý và bộ máy tổ chức quản lý Nhà nước áp dụng trên phạm vi toàn quốc, cùng với tập quán và các quy định thỏa ước của cộng đồng có liên quan trực tiếp/gián tiếp Trong đó:
Hệ thống luật và chính sách công tác động trực tiếp/gián tiếp nhằm tạo môi trường hành lang pháp lý và các điều kiện thiết yếu của đời sống xã hội;
Trang 2116
Hệ thống bộ máy quản lý Nhà nước làm nhiệm vụ soạn thảo, ban hành, sửa đổi các văn bản pháp quy, thực hiện và kiểm tra, giám sát việc thực hiện các luật và chính sách;
Cơ chế quản lý vận hành các hoạt động dựa theo các nguyên lý và quy tắc được tuân thủ của mỗi tổ chức và cá nhân;
Những quy định, nội quy, quy chế và điều lệ của các tổ chức xã hội, tập quán và thỏa ước được hình thành trực tiếp từ cộng đồng
Với một môi trường thể chế như vậy, nó chi phối toàn bộ quá trình chính sách công nói chung và chính sách phát triển NL chất lượng cao nói riêng Môi trường thể chế và chất lượng thể chế không chỉ là yếu tố tự thân tác động, bởi nó còn có tầm ảnh hưởng quyết định đến môi trường kinh tế, xã hội, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, của từng doanh nghiệp và là điều
kiện tiên quyết để phát huy có hiệu quả lợi thế quốc gia Không thể có năng
lực cạnh tranh cao, nếu không có một thể chế chất lượng cao và một nền quản
trị quốc gia hiện đại
1.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao
Thứ nhất, hệ thống trính trị (thể chế chính trị) hay cơ cấu tổ chức của
mỗi quốc gia chi phối, ảnh hưởng đến nội dung, hình thức của chính sách phát triển NL chất lượng cao Hệ thống chính trị bao gồm các yếu tố văn hóa chính trị, hiến pháp, thể chế chính trị
Hiến pháp nước ta quy định, hệ thống chính trị là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến xây dựng chính sách, là cơ sở cao nhất mà mọi chính sách phải tuân theo Hiến pháp thay đổi kéo theo sự thay đổi của toàn bộ các chính sách, các Luật như Luật việc làm, Luật lao động, Luật giáo dục
Thể chế chính trị, hệ thống chính trị là việc hoạch định, xây dựng một chính sách phải căn cứ vào thể chế chính trị của Nhà nước vì chính sách nào
Trang 2217
thì trước hết phải phục vụ lợi ích của Nhà nước, Đảng cầm quyền sau đó mới phục vụ cho lợi ích của cộng đồng, của người dân và toàn xã hội
Thứ hai, các yếu tố bên trong ảnh hưởng tới chính sách công bao gồm:
hệ thống kinh tế, hệ thống giá trị xã hội, công luận và truyền thông, quan hệ bên trong chính quyền
Hệ thống kinh tế ảnh hưởng trực tiếp đến chính sách phát triển NL chất lượng cao, trong khi đất nước đang vận hành nền kinh tế theo định hướng kinh tế thị trường hàng hóa thì chính sách phát triển NL chất lượng cao cũng phải chuyển mình theo phù hợp với thị trường luôn biến động đó, đòi hỏi NL đa dạng, chất lượng không phụ thuộc vào số lượng
Hệ thống giá trị xã hội được xem là một giá trị ẩn, là sự đa dạng về văn hóa, dân tộc, tôn giáo, nghề nghiệp Tuy nhiên, nó có tác động rất lớn đến việc làm chính sách, một giá trị không chính thức nhưng lại được thừa nhận, chính sách ra đời và thực hiện được phải tính tới các yếu tố giá trị xã hội
Công luận và truyền thông thể hiện quan điểm, thái độ, phản ứng, dư luận của người dân, cộng đồng, các doanh nghiệp với chính sách, đánh giá một chính sách tốt hay không tốt, khả thi hay không khả thi
Tính khách quan cũng như chất lượng, hiệu quả của chính sách phát triển NL chất lượng cao đạt được phụ thuộc vào ý kiến tham vấn của người dân (những đối tượng thụ hưởng/chịu tác động trực tiếp) và doanh nghiệp Một trong những cơ sở điều chỉnh kịp thời và nhanh nhất của chính sách phát triển NL chất lượng cao thường bắt nguồn từ ý kiến phản hồi, phản biện/phản ứng của công chúng và giới doanh nghiệp về vấn đề lao động, việc làm qua kênh công luận và báo chí truyền thông, khi làm chính sách cần đặc biệt chú ý tới công luận và truyền thông xem đây như là một cánh tay đắc lực cho việc thực hiện chính sách
Thứ ba, là các yếu tố thuộc về bên trong cơ quan xây dựng chính sách
(lập chính sách) Chính sách công nói chung và chính sách phát triển NL
Trang 2318
chất lượng cao nói riêng là kết quả của một loạt hoạt động từ nhiều cơ quan,
bộ ngành khác nhau gắn liền với vấn đề xã hội nảy sinh Nói cách khác thì chính là thể hiện năng lực của chủ thể xây dựng (lập chính sách) cụ thể:
Năng lực hoạch định chính sách công của Nhà nước được thể hiện trên các mặt như năng lực phân tích, năng lực dự báo, năng lực phát hiện các vấn đề, lựa chọn các vấn đề, tham vấn cộng đồng người dân, doanh nghiệp,
đề xuất mục tiêu, giải pháp, công cụ Ngoài năng lực phân tích thiết kế thì còn tính đến năng lực thuyết phục về tính khả thi của chính sách, sử dụng các nguồn lực trong công tác lập chính sách
Một yếu tố khác cần phải tính đến đó là yếu tố năng lực của đối tượng chính sách, đây là yếu tố nói đến sự thích ứng và phù hợp của chính sách với đối tượng chính sách, nói tới khả năng tiếp cận, tham gia của đối tượng chính sách
Thứ tư, là các yếu tố bên ngoài như vị trí địa chính trị, địa chiến lược
ảnh hưởng đến việc hoạch định chính sách công Trong quá trình hoạch định chính sách công, đặc biệt đối với các chính sách đối ngoại, các nhà lập chính sách đều phải tính đến yếu tố địa chính trị, địa chiến lược của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới, các lợi thế so sánh lợi thế quốc gia và các
quan hệ kinh tế quốc tế, các phản ứng của các liên quan tới chính sách
Trong quá trình hội nhập và mở cửa như hiện nay tất cả các chính sách đều chịu tác động rất lớn từ bên ngoài, chính sách phát triển NL chất lượng cao cũng là một điển hình cụ thể Như việc Việt Nam là thành viên của AEC, TPP, AFTA, WTO đòi hỏi thị trường lao động không danh giới quốc gia, ở đâu có nguồn lao động có chất lượng tốt hơn, hợp lý hơn thì sẽ thu hút được các nhà đầu tư, doanh nghiệp Khi bước vào sân chơi chung của khu vực và thế giới việc chọn lọc, phân hóa sẽ rõ rệt và quốc gia nào có
cơ sở vững chắc, đào tạo bài bản đáp ứng được nhu cầu của thì trường thì quốc gia đó có lợi thế cạnh tranh với các quốc gia khác trong việc cung ứng lao động Lực lượng lao động ở Việt Nam khá dồi dào song đang yếu về kỹ
Trang 2419
năng lao động, tỉ lệ qua đào tạo thấp, khả năng làm chủ công nghệ còn yếu nhưng một mặt trái nữa cần kể đến là lực lượng lao động đã qua đào tạo cũng rất khó cạnh tranh với các lao động của nước khác và có nguy cơ thua thiệt về lợi thế cạnh tranh ngay tại “sân chơi” nhà
Trong khi các các quốc gia khác ở khu vực và thế giới họ sẽ hướng các công ty xuyên quốc gia đầu tư vào những nước có điều kiện và lợi thế sản xuất (có lợi thế động là mạnh về vốn, công nghệ, trình độ lao động lành nghề,
cơ sở hạ tầng hiện đại) Vì vậy, để có thể phát huy lợi thế so sánh, có thể cạnh tranh NL với các nước, Việt Nam cần phải kết hợp các yếu tố về địa chính trị, tài nguyên, thể chế quản lý, về đào tạo NL để có thể thu hút đầu tư Mặt khác tạo bước nhảy vọt trong lao động sản xuất của các doanh nghiệp trong nước, quyết định khả năng cạnh về kinh tế, về lực lượng lao động cả ở trong nước
và xuất khẩu lao động
Trang 2520
Chương 2 THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC CHẤT
LƯỢNG CAO TẠI TỈNH HÒA BÌNH
2.1 Thực trạng tổ chức thực hiện chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao tại tỉnh Hòa Bình
Với mục tiêu xây dựng NL chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, tạo bước đột phá trong thời gian tới, tỉnh Hòa Bình đã thực hiện quy hoạch phát triển nhân lực tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2011 – 2020 và
Đề án đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT Tập trung xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ công chức cơ sở (huyện, xã); ưu tiên đào tạo nghề nông thôn gắn với giải quyết việc làm, chuyển dịch lao động nông thôn theo Quyết định
số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính Phủ
Sau 5 năm thực hiện dưới sự chỉ đạo của UBND tỉnh các huyện, thành phố, các sở, ban ngành cùng phối hợp thực hiện đã đạt được một số thành tựu nhất định Các định hướng của tỉnh đã đến được với các doanh nghiệp, các cơ
sở đào tạo và người lao động, góp phần thay đổi nhận thức, quan điểm trong công tác đào tạo nghề và lựa chọn của người lao động, đã có sự kết nối giữa người lao động với các doanh nghiệp sử dụng lao động
Theo Sở LĐTB&XH, tỷ lệ lao động qua đào tạo trên địa bàn tỉnh tăng
từ 35 năm 2011 lên 55 năm 2015 Trong 5 năm, đã mở 415 lớp cho 33.507 lượt học viên được đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ; 359 cán bộ, công chức, viên chức được cử đi tu nghiệp, bồi dưỡng trong và ngoài nước Từ năm
2011 đến năm 2013 đã giải quyết việc làm cho trên 45 nghìn lao động, ước thực hiện giai đoạn 2011 - 2015 giải quyết việc làm trong nước cho 76,5 nghìn lao động
Trang 26(Nguồn: Sở Nội vụ tỉnh Hòa Bình)
Bên cạnh đó, tỉnh Hòa Bình đã tăng cường đầu tư cơ sở vật chất cho các hoạt động dạy và học tại các cơ sở đào tạo, sắp xếp lại cho phù hợp, tinh gọn, hoạt động hiệu quả Cùng với đó, mạng lưới cơ sở dạy nghề được đầu tư
mở rộng Đến nay toàn tỉnh có 41 cơ sở dạy nghề, bao gồm 4 trường cao đẳng nghề, 17 trung tâm dạy nghề và các cơ sở dạy nghề khác, tăng 17 cơ sở sở so với năm 2010; cơ cấu ngành nghề ngày càng đa dạng và phong phú theo nhu cầu của xã hội Chất lượng NL trong tỉnh được xây dựng theo hướng toàn diện về đạo đức, trí tuệ, trẻ hóa có khả năng thích ứng với môi trường lao
Trang 2722
động 100% cán bộ, công chức, viên chức của tỉnh đạt chuẩn theo quy định Trong đó, cán bộ công chức có trình độ chuyên môn đại học và trên đại học chiếm tỷ lệ 74,3 , cao đẳng, trung cấp chiếm 23,41 ; trình độ lý luận chính trị cao cấp, cử nhân chiếm 14%; trung cấp chiếm 6,15%
Đến năm 2015 có ít nhất 50 Chủ tịch Hội đồng quản trị, Giám đốc các doanh nghiệp được tham gia các lớp đào tạo, tập huấn về Luật doanh nghiệp, các Luật về thuế, đầu tư, đấu thầu, xây dựng, các quy định pháp luật
có liên quan và các chính sách mới do tỉnh tổ chức Đội ngũ doanh nhân, chuyên gia quản trị doanh nghiệp có đủ trình độ ngày càng phát triển đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng của địa phương và năng lực cạnh tranh hội nhập ngày càng sâu rộng
Những năm qua, nhờ sự quan tâm đầu tư phát triển NL đã góp phần thúc đẩy nền kinh tế trên địa bàn tỉnh tăng trưởng khá nhanh Theo đó, giai đoạn 2010 - 2015, tăng trưởng kinh tế (tính theo GDP, không tính thủy điện Hòa Bình) đạt 7,2 /năm; tốc độ tăng trưởng năm sau cao hơn năm trước, các ngành kinh tế đều tăng trưởng khá và ổn định Trong đó: công nghiệp - xây dựng chiếm 40,2%, dịch vụ chiếm 34,5%, nông nghiệp chiếm 25,3% Thu nhập bình quân đầu người năm 2015 ước đạt 32,2 triệu đồng/năm; cao gấp 2,5 lần so với năm 2010, cao hơn trung bình khu vực miền núi phía Bắc khoảng 6,2 triệu đồng; góp phần đưa tỷ lệ hộ nghèo trong tỉnh giảm từ 31,5 đầu năm 2011 xuống còn 13,7 (năm 2015)
Tuy nhiên trong quá trình thực hiện phát triển NL chất lượng cao còn gặp nhiều khó khăn: Tổng nhu cầu kinh phí lớn ảnh hưởng đến việc triển khai, thực hiện Một số cơ sở dạy nghề hoạt động kém hiệu quả, cơ sở vật chất, thiết bị dạy nghề còn thiếu, đội ngũ giáo viên thiếu về số lượng và hạn chế về chất lượng Ngành nghề đào tạo chưa gắn kết với nhu cầu sử dụng lao động của các doanh nghiệp Các doanh nghiệp trong tỉnh quy mô nhỏ do đó
Trang 281 Khó tìm được việc làm phù hợp với chuyên môn 31,9%
2 Khó tìm được việc làm có thu nhập phù hợp 6,5%
3 Trình độ không đáp ứng được yêu cầu của nhà
4 Thiếu thông tin từ phía nhà tuyển dụng 10,2%
5 Thiếu sự tư vấn hỗ trợ tìm kiếm thông tin việc làm 10,2%
Kết quả phân tích bảng hỏi cho thấy: khó khăn lớn nhất của người lao
động tỉnh Hòa Bình trong tìm kiếm việc làm thường gặp khi tìm việc là khó
tìm được việc làm phù hợp với khả năng chuyên môn, không đáp ứng được
trình độ và kinh nghiệm làm việc theo yêu cầu của nhà tuyển dụng
2.2 Thực trạng triển khai thực hiện giải pháp, công cụ chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao tại tỉnh Hòa Bình
Tỉnh Hòa Bình đã xác định phát triển NL là trọng tâm của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, vì vậy tỉnh đã và đang thực hiện hàng loạt các giải pháp, công cụ để có thể phát triển NL chất lượng cao một cách hiệu quả
Về thể chế, ngoài việc tuân thủ các chính sách của Nhà nước về giáo
dục, việc làm, lao động, thu hút nhân lực như: Luật giáo dục, Luật lao động, Luật việc làm, thì tỉnh cũng vận dụng các chính sách một cách sáng tạo, linh hoạt phù hợp với địa phương Mặt khác tỉnh cũng xây dựng và thực hiện các
Đề án, kế hoạch như ban hành kế hoạch: Thực hiện phát triển giáo dục - đào
Trang 2924
tạo, dạy nghề và nâng cao chất lượng giáo dục tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2015-2020 (QĐ-UBND, 5/8/2015)
Quyết định về việc ban hành quy định danh mục nghề và mức kinh phí
hỗ trợ dạy nghề ngắn hạn cho người khuyết tật trên địa bàn tỉnh Hòa Bình
Về nâng cao chất lượng giáo dục, tỉnh chủ động rà soát điều chỉnh
mạng lưới các cơ sở đào tạo cho phù hợp với quy hoạch phát triển nhân lực của tỉnh nói riêng và cả nước nói chung, định hướng quy hoạch và phát triển kinh tế - xã hội và nhu cầu nhân lực của các địa phương bằng cách đề nghị sở, ban ngành, huyện, thành phố trong tỉnh rà soát lại mạng lưới các cơ sở đào tạo Đồng thời, thực hiện đổi mới công tác xác định chỉ tiêu tuyển sinh, tiêu chí đảm bảo chất lượng đào tạo
Chú trọng phát triển hệ thống định hướng nghề nghiệp, tiếp tục công tác thanh tra, kiểm tra, rà soát các điều kiện đảm bảo chất lượng của các cơ
sở đào tạo, các ngành đào tạo, xây dựng chương trình đào tạo trong đó có sự tham gia của các nhà quản lý, các nhà sử dụng lao động
Trang 3025
Bảng 2.3 Bảng số liệu thể hiện số sinh viên đại học, cao đẳng là con em ở tỉnh hòa Bình được đào tạo theo hệ giáo dục (Bộ Giáo dục và Đào tạo) từ năm 2001 đến năm 2010
Đơn vị: người
Số sinh viên/1 vạn dân 0,02 0,05 0,17
Số sinh viên/1 vạn dân 0,07 0,10 0,19
(Nguồn: Sở giáo dục và Đào tạo tỉnh Hòa Bình)
Nhìn vào bảng số liệu, ta thấy được rằng trình độ dân trí của người dân
đã được tăng lên nhanh chóng thể hiện qua số lượng sinh viên đại học, cao đẳng qua các năm như sinh viên đại học từ 222 sinh viên năm 2001 đã tăng lên là 1727 sinh viên năm 2010
Tỉnh đã đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục theo hướng: xây dựng cơ chế đầu tư, ưu đãi về đất đai, vốn để hỗ trợ các cơ sở ngoài công lập Thực hiện quy hoạch NL sát thực tế, theo từng giai đoạn, theo ngành nghề
Tỉnh triển khai có hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm và dạy nghề, nhất là đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Về sự phối hợp của các chủ thể chính sách, UBND tỉnh đã chấp hành
nghiêm chỉnh các chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về giáo dục, việc làm, lao động, thu hút, đồng thời tỉnh đã phân công cho các cơ quan, sở, ban ngành thực hiện các quyết định, kế hoạch của tỉnh đề ra về phát triển NL chất lượng cao
Về nguồn lực chính sách, ngoài ngân sách nhà nước tỉnh đã chủ động
tăng cường huy động các nguồn vốn của doanh nghiệp và các tổ chức cho đào tạo nâng cao trình độ người lao động
Trang 3126
Về phía NL tỉnh đã chú trọng quan tâm tới đời sống của người lao
động nâng cao chất lượng toàn diện về dân số và NL trên cơ sở nâng cao thể chất của con người, phát triển thể lực của người lao động thông qua những chương trình dinh dưỡng Nâng cao chất lượng cuộc sống thông qua công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu, phòng và chữa bệnh cho nhân dân, quan tâm đến điều kiện vui chơi, giải trí, nghỉ ngơi và thể dục thể thao của người dân, chú trọng giải quyết vấn đề việc làm
2.3 Đánh giá vai trò của các thủ thể tham gia chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao tại tỉnh Hòa Bình
Trong giai đoạn 2010-2015, thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV, XVI và những chủ trương định hướng của Đảng, chính sách của Nhà nước, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành Nghị quyết về phát triển NL chất lượng cao giai đoạn 2011-2020, HĐND, UBND ban hành 02 Quyết định về phát triển NL trong lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp trên địa bàn tỉnh Những văn bản, nghị quyết được ban hành thể hiện quá trình nhận thức lớn của cấp ủy, chính quyền các cấp của tỉnh về phát triển NL đối với sự phát triển toàn diện của tỉnh trong quá trình CNH - HĐH và hội nhập sâu rộng hiện nay
Các sở, ngành trong tỉnh tham gia thực hiện chính sách đã chủ động xây dựng chương trình, kế hoạch đảm nhận thực hiện những nội dung theo chức năng, nhiệm vụ của đơn vị Sở LĐTB&XH đã tổ chức nhiều chương trình trong công tác đào tạo, dạy nghề cho lao động nông thôn theo Đề án 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ, đồng thời là cơ quan thường trực thực hiện Nghị quyết 30A/CP về chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững đã tham mưu cho cấp ủy, chính quyền và phối hợp với các ngành, địa phương triển khai thực hiện nội dung của chương trình về công tác đào tạo, dạy nghề, giới thiệu việc làm cho lao động trong tỉnh, kịp thời triển khai các chính sách hỗ trợ sản xuất cho người dân
Trang 3227
Mặt khác sở LĐTB&XH cũng đã làm tốt chức năng định hướng nghề nghiệp cho người lao động trong tình hình mới, cung cấp thông tin về thị trường lao động, chủ động kết nối với các doanh nghiệp trong và ngoài nước trong việc giải quyết việc làm cho người lao động, xuất khẩu lao động trong tỉnh ra khu vực tăng cao trong những năm gần đây, sở đã làm tốt chức năng định hướng và cầu nối giữa người lao động và doanh nghiệp
Sở KH&ĐT chịu trách nhiệm trong việc quy hoạch nguồn nhân lực, phối hợp với văn phòng UBND tỉnh chỉ đạo các sở, ngành, địa phương có báo cáo đánh giá cụ thể về kết quả quy hoạch nhân lực theo từng giai đoạn để đánh giá và có điều chỉnh cụ thể Thực hiện tốt chức năng giám sát trong thực hiện kế hoạch phát triển NL chất lượng cao của tỉnh
Sở GD&ĐT chủ động rà soát và kiến nghị điều chỉnh mạng lưới các cơ sở giáo dục cho phù hợp với quy hoạch phát triển nhân lực của tỉnh, định hướng quy hoạch và phát triển kinh tế - xã hội và nhu cầu nhân lực của địa phương
Chú trọng phát triển hệ thống định hướng nghề nghiệp tiếp tục hoàn thiện hệ thống khung pháp lý cho hoạt động giới thiệu việc làm theo hướng tôn trọng các công ước quốc tế về dịch vụ việc làm, tăng cường quyền tự chủ cho các Trung tâm, gắn quyền lợi của Trung tâm với hiệu quả hoạt động giới thiệu việc làm Tổ chức hoạt động dịch vụ việc làm theo hướng chuyên nghiệp dần đi vào chú trọng hoạt động tư vấn, giới thiệu việc làm, thông tin thị trường lao động
Chỉ đạo các trường đổi mới công tác xây dựng chương trình đào tạo trong đó có sự tham gia của các nhà quản lý, các nhà sử dụng lao động; xây dựng và công bố chuẩn đầu ra theo từng ngành đào tạo Xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý trong các trường đại học, cao đẳng, nghề có chất lượng
Trang 3328
Tiếp tục công tác thanh tra, kiểm tra, rà soát các điều kiện đảm bảo chất lượng của các cơ sở đào tạo, các ngành đào tạo; kiên quyết dừng tuyển sinh những cơ sở không đảm bảo chất lượng
Xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý trong các trường đại học, cao đẳng: Chỉ đạo các cơ sở giáo dục đại học tăng cường đào tạo giảng viên có trình độ tiến sĩ Tham mưu ban hành một số chính sách có tính chất đột phá cho đội ngũ giảng viên (Kéo dài thời gian làm việc của giảng viên có trình độ tiến sĩ và học hàm Phó Giáo sư, Giáo sư; chính sách về lương đối với Phó Giáo sư, Giáo sư)
Tập trung dạy nghề chất lượng cao, đột phá vào các ngành kinh tế mũi nhọn, các lĩnh vực trọng tâm của tỉnh như: vận tải, sản xuất điện, du lịch Tiếp tục huy động các nhà khoa học, nghệ nhân, cán bộ kỹ thuật, thợ bậc cao tại các doanh nghiệp tham gia hướng dẫn, đào tạo nghề Gắn đào tạo nghề với nhu cầu sản xuất và tạo việc làm cho người lao động Bên cạnh việc thực hiện chính sách thu hút nhân tài; ưu tiên tuyển dụng các sinh viên tốt nghiệp đại học loại khá, giỏi về công tác tại tỉnh, và đưa đi đào tạo, bồi dưỡng ở trong nước và nước ngoài Đồng thời xây dựng đội ngũ nhân lực khoa học và công nghệ, đặc biệt là đội ngũ chuyên gia đầu ngành có khả năng tư vấn hoạch định, tổ chức triển khai thực hiện các chiến lược, quy hoạch, chương trình, đề
án phát triển ở các ngành, lĩnh vực kinh tế, xã hội trọng yếu của tỉnh
Mục tiêu cụ thể sẽ là tạo sự chuyển biến căn bản và toàn diện về chất lượng nhân lực, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh, vùng thủ
đô và yêu cầu của hội nhập quốc tế Phấn đấu đến năm 2020, nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo trên địa bàn tỉnh đạt 65%; trên 40% giảng viên cao đẳng tại các cơ sở đào tạo có trình độ từ thạc sỹ trở lên; tiếp tục mở rộng quy mô đào tạo; phấn đấu đạt 150 sinh viên đại học, cao đẳng/10.000 dân Trên 90% sinh viên, học viên sau khi tốt nghiệp có đủ khả năng chuyên môn và ngoại ngữ đáp ứng yêu cầu công việc Cán bộ lãnh đạo cấp xã có trình độ trung cấp trở
Trang 3429
lên ở vùng I, vùng II đạt 90 ; vùng III đạt 70 ; đến năm 2020 tỷ lệ cán bộ lãnh đạo xã có trình độ đại học, cao đẳng vùng I, vùng II đạt 20% trở lên; 80% cán bộ lãnh đạo các xã vùng III có trình độ trung cấp chuyên môn, nghiệp vụ Trong số cán bộ lãnh đạo, quản lý ở trên bảo đảm cơ cấu có từ 20 đến 30% cán bộ giữ chức danh lãnh đạo là nữ Từ nay đến năm 2020, tỉnh Hòa Bình dự kiến huy động kinh phí 709 tỷ đồng cho bồi dưỡng phát triển toàn diện và nâng cao chất lượng NL Với những giải pháp đồng bộ nêu trên, tỉnh ta đang từng bước tạo đột phá trong phát triển NL đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế
2.4 Đánh giá môi trường, thể chế chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao tại tỉnh Hòa Bình
Trong thời gian qua một số chính sách mới của Chính phủ về phát triển NL chất lượng, về thu hút, về giáo dục, đào tao, việc làm như: Phê duyệt Quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020 (1216/QĐ-TTg, 22/7/2011), Công văn số 9350/VPCP-TCCV của Văn phòng Chính phủ về việc dự thảo Nghị định của Chính phủ về chính sách thu hút, tạo nguồn cán bộ từ sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, cán bộ khoa học trẻ (12/11/2015), Luật giáo dục 2013, Luật giáo dục nghề nghiệp 2014, bộ Luật lao động 2012, Luật việc làm 2013 Đây là những định hướng, chính sách lớn của Đảng, Nhà nước ta, là cơ cở pháp lý và là điều kiện để các cấp ủy, chính quyền, các ngành các cấp cụ thể triển khai thực hiện
Đặc biệt, môi trường đầu tư trên địa bàn tỉnh không ngừng được cải thiện
và được sự ghi nhận của cộng đồng dôanh nghiệp, năm 2015 tỉnh Hòa Bình xếp 46/63 tỉnh, thành phố trong cả nước về chỉ số năng lực cạnh tranh (PCI)
Trang 3530
Bảng 2.4 Kết quả và thứ hạng của các chỉ số thành phần
1 Chi phí gia nhập thị trường 8,55 26 Khá
(Nguồn: Cổng Thông tin điện tử tỉnh Hòa Bình)
Được sự đồng ý của Thủ tướng Chính phủ, tỉnh đã lập quy hoạch chi tiết 8 khu công nghiệp với quy mô từ 77 đến 282 ha, dọc theo các trục đường Quốc lộ 6, đường Láng - Hòa Lạc, Thành phố Hòa Bình và đường Hồ Chí Minh, thuận tiện về giao thông, điện nước Đến hết tháng 4 năm 2015, 3 khu công nghiệp (Lương Sơn, Bờ trái Sông Đà, Mông Hóa) đã có Quyết định thành lập, 5 khu công nghiệp đã có nhà đầu tư hạ tầng
Từ những định hướng, chính sách đó, Tỉnh ủy, HĐND và UBND tỉnh Hòa Bình đã xây dựng và ban hành các chính sách về phát triển KT-XH, lồng ghép nội dung phát triển NL chất lượng cao trong các thành phần kinh tế địa bàn tỉnh Kết quả trong những năm qua nhân lực trong các lĩnh vực kinh tế chuyển dịch theo đúng định hướng, trình độ tay nghề được nâng lên, đời sống vật chất, tinh thần của lao động được cải thiện
Trang 3631
Tuy nhiên, chính sách phát triển NL chất lượng cao được ban hành chậm, thiếu tính đột phá Chính sách thu hút ban hành chậm so với các tỉnh, thành phố khác trong cả nước, hiệu quả thực hiện chính sách chưa cao Các chính sách chủ yếu được áp dụng trong việc hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng cho cán
bộ, công chức trong tỉnh, chưa có nội dung cụ thể trong phát triển NL chất lượng cao Việc tuyên truyền các chính sách chưa được thực hiện có hiệu quả Vai trò của một số chủ thể cấp sở và chính quyền địa phương chưa rõ nét Thiếu tính định hướng chiến lược của các chính sách ưu đãi cho giai đoạn hiện tại và giai đoạn tiếp theo Bên cạnh đó, thiếu sự kiểm tra, đánh giá, giám sát trong thực hiện các nội dung, giải pháp chính sách Những chính sách phát triển NL chất lượng cao của tỉnh chủ yếu tập trung vào phát triển NL trong các cơ quan nhà nước từ tỉnh đến cơ sở Việc phát triển, thu hút NL chất lượng cao và phát triển nguồn lao động phục vụ cho các khu công nghiệp, khu kinh tế trên địa bàn đã được tỉnh quan tâm như: Ban hành Quy định hỗ trợ đào tạo nghề cho lao động làm việc trong các doanh nghiệp trong các khu công nghiệp tỉnh Hòa Bình Hoặc về chính sách thu hút NL chất lượng cao và sinh viên tốt nghiệp đại học chính quy đến công tác và làm việc tại tỉnh Hòa Bình thì cũng chỉ tập trung vào các ngành y dược và một số lĩnh vực khác Đối với chính sách phát triển NL chất lượng cao đến nay chưa có một nghị quyết, quyết định chuyên đề riêng để tập chung đưa ra các tiêu chí, tiêu chuẩn đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp, của quá trình hội nhập mà nội dung phát triển NL chất lượng cao vẫn mang tính chung chung, dẫn đến việc xác định mục tiêu, giải pháp, công cụ để các chủ thể thực hiện còn nhiều lúng túng, thiếu đồng bộ, còn chồng chéo với những chính sách khác
Trang 37Ông Bùi Văn Cửu, Phó Chủ tịch UBND tỉnh đánh giá thời gian qua việc triển khai quy hoạch NL chất lượng cao đã được các sở, ngành gắn với việc thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, bước đầu đạt kết quả tích cực, quy mô
trường lớp cũng không ngừng được củng cố, phát triển; đội ngũ cán bộ công chức, viên chức không ngừng lớn mạnh về mọi mặt bước đầu đáp ứng được yêu cầu đào tạo NL của tỉnh Đời sống của cán bộ công chức, viên chức được nâng lên một bước; cơ sở vật chất trường lớp, trang thiết bị dạy học được đầu
tư, tăng cường theo chiều hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa Cơ cấu ngành nghề ngày càng đa dạng và phong phú theo nhu cầu của xã hội Hiện nay toàn tỉnh
có 5 trường cao đẳng chuyên nghiệp và nghề; 01 trường trung cấp nghề; 14 trung tâm dạy nghề; 1 trung tâm dạy nghề và giới thiệu việc làm Do có sự quan tâm đầu tư phát triển NL nên đã góp phần thúc đẩy nền kinh tế trên địa bàn tỉnh tăng trưởng khá nhanh Theo đó, giai đoạn 2001-2005, tăng trưởng kinh tế (tính theo GDP, không tính thủy điện Hòa Bình) của tỉnh đạt mức khá cao, bình quân 5 năm là 8 /năm, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt
Trang 3833
Cùng với những kết quả đạt được, những thế mạnh của tỉnh, thì việc thực hiện chính sách phát triển NL chất lượng cao còn gặp phải những khó khăn thách thức: Tổng nhu cầu kinh phí lớn ảnh hưởng đến việc triển khai, thực hiện Một số cơ sở dạy nghề hoạt động kém hiệu quả, cơ sở vật chất, thiết bị dạy nghề còn thiếu, đội ngũ giáo viên thiếu về số lượng và hạn chế về chất lượng Ngành nghề đào tạo chưa gắn kết với nhu cầu sử dụng lao động của các doanh nghiệp Các doanh nghiệp trong tỉnh quy mô nhỏ do đó việc sử dụng lao động đa số mang tính thời điểm Sự phân công, phối hợp, điều hành của các cơ quan, sở ngành trong tỉnh còn nhiều vấn đề, chưa đồng bộ, thiếu minh bạch, hiệu lực thấp, các văn bản hướng dẫn, thi hành còn chậm, hiệu quả không cao chưa gắn sát với thực tế tình hình KT-XH của tỉnh nói riêng của cả nước nói chung, và xu thế hội nhập sâu rộng hiện nay
Nhận định chung
Nhìn chung trong thời gian qua tỉnh Hòa Bình đã có sự quan tâm phát triển NL chất lượng cao, thể hiện qua việc đào tạo, hướng nghiệp, dạy nghề, thu hút nhân tài, đầu tư kinh phí cho việc nâng cao chất lượng NL Qua đó NL của tỉnh có sự chuyển biến tích cực, đáp ứng nhu cầu cho sự phát triển của triển KT-XH của tỉnh Tuy nhiên hiện nay tỉnh Hòa Bình vẫn chưa tạo ra được cơ sở pháp lý để tập trung cho chính sách phát triển NL chất lượng cao Chính sách phát triển NL chất lượng cao chủ yếu mới chú trọng đến thu hút, trong khi đó chất lượng NL đòi hỏi phải tính tới yếu tố đào tạo dạy nghề, môi trường, y tế, giáo dục, thể chất để phát triển NL một cách toàn diện về thể lực
và trí lực, có như thế mới tạo cho NL của tỉnh Hòa Bình trong tương lai phát bền vững và đáp ứng được yêu cầu của thời kỳ mới
Kết luận Chương 2
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, và hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra mạnh
mẽ Với việc Việt Nam liên tiếp đàm phán và ký kết các hiệp định như WTO, TPP, AFTA v.v… hay gần đây nhất là TPP và AEC cho thấy quan điểm của