Điều dễ nhận thấy là người dân chưa có ý thức về bảo vệ môi trường, nên họ có hành động tuỳ tiện theo thói quen; đó là chăn nuôi gia súc thả rông, phân gia súc vương vãi xung quanh nhà v
Trang 1-
LẦU A CHINH
Tên đề tài:
“ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NÔNG THÔN VÀ
ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN
XÃ CHIỀNG LAO, HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Khoa học môi trường
Khóa học : 2011 - 2015
Thái Nguyên, 2015
Trang 2-
LẦU A CHINH
Tên đề tài:
“ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NÔNG THÔN VÀ
ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN
XÃ CHIỀNG LAO, HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành : Khoa học môi trường
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành tốt được khoá luận tốt nghiệp này, dựa trên sự cố gắng rất nhiều của bản thân em, nhưng không thể thiếu sự giúp đỡ hỗ trợ của các thầy cô, bạn bè trong thời gian học tập Với lòng kính trọng và biết ơn sâu
sắc, em xin chân thành cảm ơn Thầy giáo PGS.TS Nguyễn Thế Hùng đã tận
tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện đề tài này
Em xin cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Môi Trường, các thầy giáo, cô giáo và cán bộ trong trường, đã truyền đạt cho
em những kiến thức, kinh nghiệm quý bấu trong quá trình học tập và rèn luyện tại trường
Em xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo cùng toàn thể anh chị chuyên viên phòng TN & MT huyện Mường La đã tạo mọi điều kiện để em được tiếp cận nhiều với kiến thức thực tế hơn trong suốt quá trình thực tập tại phòng
Em xin cảm ơn tới các bác, cô, chú, anh chị cán bộ UBND xã và nhân dân Chiềng Lao đã tạo những điều kiện tốt nhất và giúp đỡ để em thực hiên
đề tài này
Cảm ơn gia đình, người thân, bàn bè đã giúp đỡ động viên em trong suốt quá trình học tập Trong suốt quá trình thực tập và làm đề tài, em đã cố gắng hết mình nhưng không thể tránh khỏi những thiếu sót
Em kính mong các thầy cô giáo và bạn bè đóng góp ý kiến để khoá luận tốt nghiệp của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng 05 năm 2015
Sinh viên
Lầu A Chinh
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang Bảng 4.1 Tình hình nuôi, nhốt gia súc, vật nuôi của các hộ gia đình tại thôn
bản người Thái 33
Bảng 4.2 Tình hình chăn nuôi của các hộ gia đình người Mông 36
Bảng 4.3 Nguồn nước sử dụng ăn uống của các hộ gia đình 37
Bảng 4.4 Chất lượng nguồn nước ăn uống của các hộ gia đình 38
Bảng 4.5 Kết quả phân tích mẫu nước 39
Bảng 4.6 Tình hình hệ thống nước thải của các hộ gia đình 40
Bảng 4.7 Tình hình nguồn tiếp nhận nước thải từ các hộ gia đình 41
Bảng 4.8 Tình hình đổ rác thải của các hộ gia đình 43
Bảng 4.9 Tình hình nhà vệ sinh của hộ gia đình 44
Bảng 4.10 Tình hình sử dụng phân bón của các hộ gia đình 45
Bảng 4.11 Tình hình các hộ gia đình sử dụng thuốc BVTV 46
Bảng 4.12 Tình hình sức khoẻ của các hộ gia đình 47
Bảng 4.13 Nhận thức của người dân về bảo vệ môi trường 48
Trang 5DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 4.1 Một số hình ảnh đất làm nương rẫy trên địa bàn xã chiềng lao 31 Hình 4.2 Nhốt trâu bò dưới gầm sàn 33 Hình 4.3 Biểu đồ thể hiện tình hình nuôi nhốt, gia súc, vật nuôi của các hộ
gia đình tại các bản người Thái 34 Hình 4.4 Buộc gia súc gần nhà ở 35 Hình 4.5 Thả rong vật nuôi, vật nuôi tự tiện thải phân ra đường xóm 35 Hình 4.6 Biểu đồ thể hiện tình hình nuôi nhốt, gia súc, vật nuôi của các hộ
gia đình tại các bản người mông 36 Hình 4.7 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ nguồn nước sử dụng ăn uống của các
hộ gia đình 37 Hình 4.8 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ chất lượng nguồn nước ăn uống của các hộ
gia đình 38 Hình 4.9 Bể nước dùng chung được cấp nước theo mô hình nước tự chảy từ
trên các khe, núi xuống 39 Hình 4.10 Biểu đồ thể hiện tình hình thống cống thải của các hộ gia đình 41 Hình 4.11 Biểu đồ thể hiện tình hình nguồn tiếp nhận nước thải từ HGĐ 42 Hình 4.12 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ tình hình đổ rác của các hộ gia đình 43 Hình 4.13 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ kiểu nhà vệ sinh của các hộ gia đình 44 Hình 4.14 Biểu đồ thể hiện tình hình sử dụng phân bón của các HGĐ 45 Hình 4.15 Biểu đồ thể hiện tình hình sử dụng thuốc BVTV của các HGĐ 46 Hình 4.16 Biểu đồ thể hiện tình hình sức khoẻ của các HGĐ 47 Hình 4.17 Mô hình R-VAC trên đất dốc 51 Hình 4.18 Cấu tạo mô hình đêm lót sinh học trong chăn nuôi 53
Trang 6Hình 4.19 Cấu tạo mô hình bể biogas trong xử lý chất thải chăn nuôi và tạo
khi đốt dùng trong đun nấu gia đình 54 Hình 4.20 Mô hình lộc nước nấu ăn uống cho hộ gia đình mà nước bị đục sau
khi mưa 55 Hình 4.21 Sơ đồ xử lý nước thải bằng bãi lộc ngầm và thực vật thuỷ sinh cho
hộ gia đình 57 Hình 4.22 Mô hình xử lý nước thải bằng bãi lọc ngầm và thực vật thuỷ sinh 57 Hình 4.23 Sơ đồ quy trình xử lý rác thải, phân gia súc vật nuôi làm phân bón
compost 58 Hình 4.24 Mô hình nhà vệ sinh tự hoại 3 ngăn 60 Hình 4.25 mô hình nhà tiếu 2 ngăn không dùng nước chỉ dụng tro 61
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CSSKSS : Chăm sóc sức khoẻ sinh sản
ĐDSH : Đa dạng sinh học
FAO : Tổ chức Lương thực Thực phẩm Thế giới
HGĐ : Hộ gia đình HST Hệ sinh thái
KHHGĐ : Kế hoạch hoá gia đình PCCC Phòng cháy chữa cháy R-VAC : Rừng - Vườn ao chuồng
TN&MT : Tài nguyên & Môi trường
UBND : Uỷ ban nhân dân
Trang 8MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC HÌNH iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v
MỤC LỤC vi
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu của đề tài 2
1.3 Yêu cầu của đề tài 3
1.4 Ý nghĩa của đề tài 3
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Cơ sở lý luận 4
2.1.1 Một số khái niệm cơ bản Error! Bookmark not defined 2.1.2 Cơ sở pháp lí Error! Bookmark not defined 2.2 Một số đặc điểm về hiện trạng và xu thế diễn biến môi trường trên thế giới và trong nước 5
2.2.1 Một số đặc điểm về hiện trạng và xu thế diễn biến môi trường trên
thế giới 5
2.2.2 Tình hình hiện trạng về môi trường ở Việt Nam 11
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NÔI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 19
3.1 Đối tượng và phạm vị nghiên cứu 19
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 19
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 19
Trang 93.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 19
3.2.1 Địa điểm nghiên cứu 19
3.2.2 Thời gian nghiên cứu 19
3.3 Nội dung nghiên cứu 19
3.4 Phương pháp nghiên cứu 20
3.4.1 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 20
3.4.2 Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp 20
3.4.3 Phương pháp lấy mẫu và phân tích 20
3.4.4 Phương pháp quan sát đánh giá 21
3.4.5 Phương pháp thống kê và trình bày số liệu 21
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 22
4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội xã Chiềng Lao - huyện Mường La - tỉnh Sơn La 22
4.1.1 Điều kiện tự nhiện 22
4.1.1.1 Vị trí địa lí 22
4.1.1.2 Đặc điểm địa thế, địa hình 22
4.1.1.3 Thời tiết, khí hậu 23
4.1.1.4 Thuỷ văn 23
4.1.1.5 Đất đai 23
4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 24
4.1.2.1 Điều kiện kinh tế 24
4.1.2.2 Điều kiện về xã hội 26
4.2 Những thói quen của người dân trên địa bàn xã gây ảnh hưởng đến 29
4.2.1 Phát rừng làm nương rẫy ảnh hưởng đến chất lượng môi trường và suy giảm tài nguyên rừng trên địa bàn 29
4.2.2 Thói quen thả rong, nhốt vật nuôi dưới gầm sàn gây ảnh hưởng đến môi trường xung quanh, nguồn nước sinh hoạt 31
Trang 104.3 Hiện trạng môi trường trên địa bàn xã Chiềng Lao - huyện Mường La -
tỉnh Sơn La 36
4.3.1 Vấn đề sử dụng nước sinh hoạt 36
4.3.2 Vấn đề nước thải 39
4.3.3 Vấn đề rác thải 42
4.3.4 Vệ sinh môi trường 44
4.3.5 Phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và môi trường 45
4.3.6 Sức khoẻ và môi trường 47
4.3.7 Nhận thức của người dân về bảo vệ môi trường 48
4.4 Đánh giá chung, đề xuất một số giải pháp bảo vệ và quản lý môi trường 49
4.4.1 Đánh giá chung 49
4.4.2 Đề xuất một số giải pháp bảo vệ và quản lý môi trường 50
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 63
5.1 Kết luận 63
5.2 Kiến nghị 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 11
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Nhìn chung nông thôn Việt Nam có cảnh quan thiên nhiên phong phú,
đa dạng, giàu giá trị văn hoá và môi trường trong lành Tuy nhiên, do đặc điểm khác nhau về điều kiện thiên nhiên, kinh tế - xã hội, cho nên các vùng nông thôn Việt Nam có nét đặc thù riêng và chất lượng môi trường có sự biến đổi khác nhau
Chiềng Lao là xã thuộc vùng nông thôn miền núi của huyện Mường La
- tỉnh Sơn La, do điều kiện cơ sở hạ tầng còn nhiều khó khăn, thiếu thốn và chủ yếu là dân tộc thiểu số chịu ảnh hưởng rất lớn của tập quán, thói quen lạc hậu đã tác động xấu tới môi trường sống Điều dễ nhận thấy là người dân chưa có ý thức về bảo vệ môi trường, nên họ có hành động tuỳ tiện theo thói quen; đó là chăn nuôi gia súc thả rông, phân gia súc vương vãi xung quanh nhà và đường đi, khi gặp nắng bốc mùi, gặp mưa bị rửa trôi làm ô nhiễm nguồn nước Hay tập quán nuôi nhốt gia súc dưới gầm sàn làm ô nhiễm môi trường sống của các thành viên trong gia đình Bên cạnh đó những hố xí tạm
bợ của người dân được làm gần nhà bốc mùi hôi thối hoặc không có hố xí đi đại tiện tự do trên đồi rừng khi gặp mưa bị rửa trôi làm ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt hoặc phát sinh ruồi muỗi gây bệnh tật
Ô nhiễm môi trường nông thôn nói chung và nông thôn miền núi nói riêng còn do người dân sử dụng các loại hoá chất bảo vệ thực vật trong nông nghiệp (thuốc trừ sâu, trừ bệnh, thuốc trừ cỏ dại ) không đảm bảo an toàn; có tình trạng sau khi phun thuốc trừ sâu bệnh hoặc cỏ dại, người nông dân rửa bình bơm và đổ thuốc thừa ở bất cứ nơi nào mà không chú ý đảm bảo an toàn tới nguồn nước; bao bì, chai lọ chứa hoá chất độc hại được người dân vứt bỏ
Trang 12quanh nhà, quanh mương máng hoặc trên nương rẫy Điều đó đã làm ảnh hưởng trực tiếp tới nguồn nước sinh hoạt hàng ngày và là tiền đề phát sinh các loại bệnh tật mà người nông dân không thể nhận thấy ngay được
Ngoài ra, tại các vùng nông thôn miền núi trên địa bàn xã Chiềng Lao, các loại rác thải chưa được thu gom và người dân tự do vứt các loại rác thải (túi nilông, xác động vật nuôi bị chết, các đồ dùng phế thải của gia đình…) ra môi trường xung quanh, cộng với phân gia súc, gia cầm vương vãi càng làm cho môi trường sống thêm ô nhiễm Mặt khác, làm nông nghiệp không chỉ dựa vào mấy loại cây trồng như lúa, ngô, đậu tương mà phải chăn nuôi để tăng nguồn thu nhập và lấy phân bón cho cây trồng Điều đó dĩ nhiên người dân phải tiếp xúc trực tiếp với phân gia súc, gia cầm Nếu không có biện pháp nuôi nhốt, thu gom và sử lý các nguồn phân gia súc hợp lý và khoa học thì vấn đề ô nhiễm môi trường ở các vùng nông thôn miền núi trên địa bàn xã Chiềng Lao hiện nay ngày càng chở nên nghiêm trọng hơn
Xuất phát từ vấn đề đó, được sự nhất trí của ban giám hiệu nhà trường ban chủ nhiệm khoa Môi trường, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của Thầy giáo PGS.TS.Nguyễn Thế Hùng, em
tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá hiện trạng môi trường nông thôn và đề xuất giải pháp bảo vệ môi trường trên địa bàn xã Chiềng Lao - huyện Mường La - tỉnh Sơn La”
1.2 Mục tiêu của đề tài
- Tìm hiểu về một số thói quen của các dân tộc trên địa bàn xã gây ảnh hưởng xấu đến môi trường
- Điều tra, đánh giá hiện trạng môi trường nông thôn tại xã Chiềng Lao
- huyện Mường La - tỉnh Sơn La
- Đánh giá, đề xuất một số giải pháp bảo vệ và quản lý môi trường tại địa phương
Trang 131.3 Yêu cầu của đề tài
- Phỏng vấn đại diện các tầng lớp, các lứa tuổi làm việc ở các ngành nghề khác nhau
- Thu thập các thông tin, tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tại
xã Chiềng Lao
- Số liệu thu thập phải chính xác, khách quan, trung thực
- Tiến hành điều tra theo bộ câu hỏi; bộ câu hỏi phải dễ hiểu đầy đủ các thông tin cần thiết cho việc đánh giá
- Các kiến nghị được đưa ra phải phù hợp với tình hình địa phương và
có tính khả thi cao
1.4 Ý nghĩa của đề tài
- Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học:
+ Nâng cao kiến thức, kỹ năng và rút kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công tác sau này
+ Vận dụng và phát huy được các kiến thức đã học tập và nghiên cứu
- Ý nghĩa trong thực tiễn:
+ Kết quả của chuyên đề sẽ góp phần nâng cao được sự quan tâm của người dân về việc bảo vệ môi trường
+ Xác định hiện trạng môi trường nông thôn tại xã Chiềng Lao huyện Muường La - tỉnh Sơn La
+ Đưa ra các giải pháp bảo vệ môi trường cho khu vực nông thôn thuộc tỉnh Sơn La nói chung
Trang 14PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở lý luận
- Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân
xã Nông thôn là nơi sinh sống và làm việc của một cộng đồng bao gồm chủ yếu là nông dân, là vùng sản xuất nông nghiệp là chính Nông thôn có cơ cấu
hạ tầng, trình độ tiếp cận thị trường, trình độ sản xuất hàng hóa thấp hơn so với thành thị
- Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật (Luật bảo vệ môi trường, 2005) [11]
- Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp; phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; bảo
- “Nâng cao chất lượng môi trường là mục đích chủ yếu của công tác BVMT Chất lượng môi trường phản ánh mức độ phù hợp của môi trường đối với sự tồn tại, phồn vinh cũng như sự phát triển kinh tế xã hội của nhân loại Ở
Trang 15những năm 60 cùng với sự xuất hiện vấn đề chất lượng môi trường cũng ngày càng được quan tâm Người ta dần dần định mức độ tốt xấu của môi trường, để biểu thị mức độ môi trường bị ô nhiễm” (Lê Văn Khoa và cs, 2003).[6]
2.2 Một số đặc điểm về hiện trạng và xu thế diễn biến môi trường trên thế giới và trong nước
2.2.1 Một số đặc điểm về hiện trạng và xu thế diễn biến môi trường trên thế giới
a) Khí hậu toàn cầu biến đổi và tần xuất thiên tai gia tăng
Vào cuối những năm 1990, mức phát tán dioxit cacbon (CO2) hàng năm xấp xỉ bằng 4 lần mức phát tán năm 1950 và hàm lượng CO2 đã đạt đến mức cao nhất trong những năm gần đây Theo đánh giá của Ban Liên Chính Phủ về biến đổi khí hậu thì có bằng chứng cho thấy về ảnh hưởng rất rõ rệt của con người đến khí hậu Toàn cầu Những kết quả dự báo gồm việc dịch chuyển của các đới khí hậu, những thay đổi trong thành phần loài và năng suất của các HST, sự gia tăng các hiện tượng thời tiết khắc nghiệt và những tác động đến sức khoẻ con người Các nhà khoa học cho biết, trong vòng 100 năm trở lại đây, trái đất đã nóng lên khoảng 0,50C và trong thế kỷ này sẽ tăng
từ 1,5 - 4,50C so với nhiệt độ ở thế kỷ XX trái đất nóng lên có thể mang tới những bất lợi đó là:
- Mực nước biển có thể dâng lên cao từ 25 đến 140cm, do sự tan băng
và sẽ nhấn chìm một vùng ven biển rộng lớn, làm đất mất đi nhiều vùng sản xuất nông nghiệp, dẫn đến nghèo đói, đặc biệt ở các nước đang phát triển
- Thời tiết thay đổi dẫn đến gia tăng tần suất thiên tai như gió, bão, động đất, phun trào núi lửa, hoả hoạn và lũ lụt Điều này không chỉ ảnh hưởng đến sự sống của loài người một cách trực tiếp và gây ra những thiệt hại về kinh tế mà còn gây ra nhiều vấn đề môi trường nghiêm trọng khác (Nguồn: Liên Hợp Quốc, 2000, GEO - 2000).[9]
Trang 16b) Sự suy giảm tầng Ôzôn (O3)
Vấn đề gìn giữ tầng Ôzôn có vai trò sống còn đối với nhân loại Tầng Ôzôn có vai trò bảo vệ, chặn đứng các tia cực tím có ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống của con người và các loài sinh vật trên trái đất Bức xạ tia cực tím có nhiều tác động, hầu hết mang tính chất phá huỷ đối với con người, động vật
và thực vật cũng như các loại vật liệu khác, khi tầng Ôzôn tiếp tục bị suy thoái, các tác động này càng trở nên tồi tệ Ví dụ, mức cạn kiệt tầng Ôzôn là 10% thì mức bức xạ tia cực tím ở các bước sóng gây phá huỷ tăng 20% Bức
xạ tia cực tím có thể gây huỷ hoại mắt, làm đục thuỷ tinh thể và phá hoại võng mạc, gây ung thư da, làm tăng các bệnh về đường hô hấp Đồng thời, bức xạ tia cực tím tăng lên được coi là nguyên nhân làm suy yếu các hệ miễn dịch của con người và động vật, đe doạ tới đời sống của động và thực vật nổi trong môi trường nước sống nhờ quá trình chuyển hoá năng lượng qua quang hợp để tạo ra thức ăn trong môi trường thuỷ sinh.[9]
Ôzôn là loại khí hiếm trong không khí nằm trong tầng bình lưu khí quyển gần bề mặt trái đất và tập trung thành một lớp dày ở độ cao từ 16 - 40
km phụ thuộc vào vĩ độ Việc giao thông đường bộ do các phương tiện có động cơ thải ra khoảng 30 - 50% lượng NOx ở các nước phát triển và nhiều chất hữu cơ bay hơi (VOC) tạo ra Ôzôn mặt đất Nếu không khí có nồng độ Ôzôn lớn hơn nồng độ tự nhiên thì môi trường bị ô nhiễm và gây tác hại đối với sức khoẻ con người.[9]
Ví dụ: Nồng độ Ôzôn = 0,2ppm: Không gây bệnh
Trang 17NO, NOx) có khả năng hoá hợp với O3 và biến đổi nó thành ôxy Các chất làm suy giảm tầng Ôzôn trong tầng bình lưu đạt ở mức cao nhất vào năm
1994 và hiện đang giảm dần Theo Nghị định thư Montreal và các văn bản sửa đổi của Nghị định thư dự đoán rằng, tầng Ôzôn sẽ được phục hồi so với trước những năm 1980 vào năm 2050.[9]
c) Tài nguyên bị suy thoái
Rừng, đất rừng và đồng cỏ hiện vẫn đang bị suy thoái hoặc bị triệt phá mạnh mẽ, đất hoang bị biến thành sa mạc Sa mạc Sa - ha - ra có diện tích rộng 8 triệu km2, mỗi năm bành trướng thêm từ 5 - 7km2 Một bằng chứng mới cho thấy, sự biến đổi khí hậu cũng là nguyên nhân gây thêm tình trạng xói mòn đất ở nhiều khu vực Gần đây, 250 nhà Thổ nhưỡng học được Trung tâm Thông tin và Tư vấn Quốc tế Hà Lan tham khảo lấy ý kiến đã cho rằng, khoảng 305 triệu ha đất màu mỡ (gần bằng diện tích của Tây Âu) đã bị suy thoái do bàn tay của con người, làm mất đi tính năng sản xuất nông nghiệp Khoảng 910 triệu ha đất tốt (tương đương với diện tích nước Úc) sẽ bị suy thoái ở mức trung bình, giảm tính năng sản xuất và nếu không có biện pháp cải tạo thì quỹ đất này sẽ bị suy thoái ở mức độ mạnh trong tương lai gần Theo Tổ chức Lương thực Thực phẩm Thế giới (FAO) thì trong vòng 20 năm tới, hơn 140 triệu ha đất (tương đương với diện tích của Alaska) sẽ bị mất đi giá trị trồng trọt và chăn nuôi Đất đai ở hơn 100 nước trên thế giới đang chuyển chậm sang dạng hoang mạc, có nghĩa là 900 triệu người đang bị đe doạ Trên phạm vi Toàn cầu, khoảng 25 tỷ tấn đất đang bị cuốn trôi hàng năm vào các sông ngòi và biển cả Theo tài liệu thống kê của Liên Hợp Quốc, diện tích đất canh tác bình quân đầu người trên thế giới năm 1983 là 0,31ha/người thì đến năm 1993 chỉ còn 0,26 ha/người và còn tiếp tục giảm trong tương lai.[9]
Trang 18- Sự phá huỷ rừng vẫn đang diễn ra với mức độ cao, trên thế giới diện tích rừng có khoảng 40 triệu km2, song cho đến nay diện tích này đã bị mất đi một nửa, trong số đó, rừng ôn đới chiếm khoảng 1/3 và rừng nhiệt đới chiếm 2/3 Sự phá huỷ rừng xảy ra mạnh, đặc biệt ở những nước đang phát triển Chủ yếu do nhu cầu khai thác gỗ củi và nhu cầu lấy đất làm nông nghiệp và cho nhiều mục đích khác, gần 65 triệu ha rừng bị mất vào những năm 1990 - 1995.[9]
- Với tổng lượng nước là 1386.106 km3, bao phủ gần 3/4 diện tích bề mặt trái đất, và như vậy trái đất của chúng ta có thể gọi là "Trái Nước", nhưng loài người vẫn "khát" giữa đại dương mênh mông, bởi vì với tổng lượng nước
đó thì nước ngọt chỉ chiếm 2,5% tổng lượng nước, mà hầu hết tồn
tại ở dạng đóng băng và tập trung ở hai cực (chiếm 2,24%), còn lượng nước ngọt mà con người có thể tiếp cận để sử dụng trực tiếp thì lại càng ít ỏi (chỉ chiếm 0,26%) Sự gia tăng dân số nhanh cùng với quá trình công nghiệp hoá,
đô thị hoá, thâm canh nông nghiệp và các thói quen tiêu thụ nước quá mức đang gây ra sự khủng hoảng nước trên phạm vi Toàn cầu Gần 20% dân số thế giới không được dùng nước sạch và 50% thiếu các hệ thống vệ sinh an toàn
Sự suy giảm nước ngọt ngày càng lan rộng hơn và gây ra nhiều vấn đề nghiêm trọng, đó là nạn thiếu nước ở nhiều nơi và đối với các khu vực ven biển đó là sự xâm nhập mặn Ô nhiễm nước uống là phổ biến ở các siêu đô thị, ô nhiễm nitrat (NO3
) và sự tăng khối lượng các kim loại nặng gây tác động đến chất lượng nước hầu như ở khắp mọi nơi Nguồn cung cấp nước sạch trên thế giới không thể tăng lên được nữa ngày càng có nhiều người phụ thuộc vào nguồn cung cấp cố định này và ngày càng có nhiều người bị ô nhiễm hơn Mất đất, mất rừng, cạn kiệt nguồn nước làm cho hàng chục triệu người buộc phải di cư, tị nạn môi trường, gây xuống cấp các điều kiện sức khoẻ, nhà ở, môi trường Có khoảng 1 tỷ người không có đủ chỗ để che thân
-và hàng chục triệu người khác phải sống trên các hè phố Thật không thể tin
Trang 19được rằng, thế giới ngày nay cứ mỗi năm có 20 triệu người dân chết vì nguyên nhân môi trường, trong khi đó, số người chế trong các cuộc xung đột
vũ trang của hơn nửa thế kỷ tính từ sau năm 1945 tới nay cũng chỉ là 20 triệu người Bài toán tăng 75% lượng lương thực từ nay tới năm 2030 do FAO đề
ra là bài toán khó vẫn chưa có lời giải vì dân số liên tục gia tăng trong khi diện tích đất nông nghiệp không tăng mà còn có xu hướng giảm, độ màu mỡ của đất ngày càng suy giảm.[9]
d) Ô nhiễm môi trường đang xảy ra ở quy mô rộng
Sự phát triển đô thị, khu công nghiệp, du lịch và việc đổ bỏ các loại chất thải vào đất, biển, các thuỷ vực đã gây ô nhiễm môi trường ở quy mô ngày càng rộng, đặc biệt là các khu đô thị Nhiều vấn đề môi trường tác động tương tác với nhau ở các khu vực nhỏ, mật độ dân số cao Ô nhiễm không khí, rác thải, chất thải nguy hại, ô nhiễm tiếng ồn và nước đang biến những khu vực này thành các điểm nóng về môi trường Khoảng 30 - 60% dân số đô thị
ở các nước có thu nhập thấp vẫn còn thiếu nhà ở và các điều kiện vệ sinh Sự tăng nhanh dân số thế giới có phần đóng góp do sự phát triển đô thị Bước sang thế kỷ XX, dân số thế giới chủ yếu sống ở nông thôn, số người sống tại các đô thị chiếm 1/7 dân số thế giới Nhưng đến cuối thế kỷ XX, dân số sống
ở đô thị đã tăng lên nhiều và chiếm tới 1/2 dân số thế giới Ở nhiều quốc gia đang phát triển, đô thị phát triển nhanh hơn mức tăng dân số Châu Phi là vùng có mức độ đô thị hoá kém nhất, nay đã có mức đô thị hoá tăng hơn 4%/năm so với mức tăng dân số là 3%, số đô thị lớn ngày càng tăng hơn
Hiện nay, trên thế giới, nhiều vùng đất đã được xác định là bị ô nhiễm
Ví dụ, ở Anh đã chính thức xác nhận 300 vùng với diện tích 10.000 ha bị ô nhiễm, tuy nhiên trên thực tế có tới 50.000 - 100.000 vùng với diện tích khoảng 100.000ha (Bridges, 1991) Còn ở Mỹ có khoảng 25.000 vùng, ở Hà Lan là 6.000 vùng đất bị ô nhiễm cần phải xử lý.[9]
e) Sự gia tăng dân số
Trang 20Con người là chủ của Trái Đất, là động lực chính làm tăng thêm giá trị của các điều kiện kinh tế - xã hội và chất lượng cuộc sống Tuy nhiên, xung lượng gia tăng dân số hiện nay ở một số nước đi đôi với đói nghèo, suy thoái môi trường và tình hình kinh tế bất lợi đã gây ra xu hướng làm mất cân bằng nghiêm trọng giữa dân số và môi trường.[9]
Đầu thế kỷ XIX, dân số thế giới mới có 1 tỷ người nhưng đến năm
1927 tăng lên 2 tỷ người năm 1960: 3 tỷ năm 1974: 4 tỷ năm 1987: 5 tỷ và năm 1999 là 6 tỷ người, trong đó trên 1 tỷ người trong độ tuổi từ 15 - 24 tuổi Mỗi năm dân số thế giới tăng thêm khoảng 78 triệu người Theo dự tính đến năm 2015, dân số thế giới sẽ ở mức từ 6,9 - 7,4 tỷ người và đến 2025 dân số
sẽ là 8 tỷ người và năm 2050 sẽ là 10,3 tỷ người 95% dân số tăng thêm nằm
ở các nước đang phát triển do đó các nước này sẽ phải đối mặt với những vấn
đề nghiêm trọng cả về kinh tế, xã hội đặc biệt là môi trường, sinh thái Việc giải quyết những hậu quả do dân số tăng của những nước này có lẽ còn khó khăn hơn gấp nhiều lần những xung đột về chính trị trên thế giới.[9]
f) Sự suy giảm tính đa dạng sinh học (ĐDSH) trên trái đất
Các loài động và thực vật qua quá trình tiến hoá trên trái đất hàng trăm triệu năm đã và đang góp phần quan trọng trong việc duy trì sự cân bằng môi trường sống trên trái đất, ổn định khí hậu, làm sạch các nguồn nước, hạn chế xói mòn đất, làm tăng độ phì nhiêu đất Sự đa dạng của tự nhiên cũng là nguồn vật liệu quý giá cho các ngành công nghiệp, dược phẩm, du lịch, là nguồn thực phẩm lâu dài của con người, và là nguồn gen phong phú để tạo ra các giống loài mới ĐDSH được chia thành 3 dạng: Đa dạng di truyền, đa dạng loài và đa dạng sinh thái.[9]
- Đa dạng di truyền: Vật liệu di truyền của vi sinh vật, thực vật và động vật chứa đựng nhiều thông tin xác định các tính chất của tất cả các loài và các
cá thể tạo nên sự đa dạng của thế giới hữu sinh Theo định nghĩa, thì những cá
Trang 21thể cùng loài có những đặc điểm giống nhau, những biến đổi di truyền lại xác định những đặc điểm riêng biệt của những cá thể trong cùng loài.[9]
- Đa dạng loài: Được thể hiện đối với từng khu vực, đa dạng loài được tính bằng số lượng loài và những đơn vị dưới loài trong 1 vùng.[9]
- Đa dạng HST: Sự phong phú về môi trường trên cạn và môi trường dưới nước của trái đất đã tạo nên một số lượng lớn HST Những sinh cảnh rộng lớn bao gồm rừng mưa nhiệt đới, đồng cỏ, đất ngập nước, san hô và rừng ngập mặn chứa đựng nhiều HST khác nhau và cũng rất giàu có về ĐDSH Những HST riêng biệt chứa đựng các loài đặc hữu cũng góp phần quan trọng cho ĐDSH Toàn cầu Các sinh cảnh giàu có nhất của thế giới là rừng ẩm nhiệt đới, mặc dù chúng chỉ chiếm 70% tổng diện tích của bề mặt trái đất, nhưng chúng chiếm ít nhất 50%, thậm chí đến 90% số loài của động và thực vật
Sự đa dạng về các giống loài động thực vật trên hành tinh có vị trí vô cùng quan trọng Việc bảo vệ ĐDSH còn có ý nghĩa đạo đức, thẩm mỹ và loài người phải có trách nhiệm tuyệt đối về mặt luân lý trong cộng đồng sinh vật sống ĐDSH lại là nguồn tài nguyên nuôi sống con người
Nguyên nhân chính của sự mất ĐDSH là:
- Mất nơi sinh sống do chặt phá rừng và phát triển kinh tế
- Săn bắt quá mức để buôn bán
- Ô nhiễm đất, nước và không khí
- Việc du nhập nhiều loài ngoại lai cũng là nguyên nhân gây mất ĐDSH Hậu quả của quá trình này không dễ khắc phục, không chỉ gây tổn thất
về giá trị ĐDSH, mà còn gây tổn thất không nhỏ về kinh tế
Hầu hết các loài bị đe doạ đều là các loài trên mặt đất và trên một nửa sống trong rừng Các nơi cư trú nước ngọt và nước biển, đặc biển là các dải san hô là những môi trường sống rất dễ bị thương tổn
2.2.2 Tình hình hiện trạng về môi trường ở Việt Nam
a) Rừng tiếp tục bị thu hẹp
Trang 22Trước năm 1945, nước ta có 14 triệu ha rừng, chiếm hơn 42% diện tích
tự nhiên của cả nước, năm 1975 diện tích rừng chỉ còn 9,5 triệu ha (chiếm 29%), đến nay chỉ còn khoảng 6,5 triệu ha (tương đương 19,7%) Độ che phủ của rừng nước ta đã giảm sút đến mức báo động Chất lượng rừng ở các vùng còn rừng bị hạ xuống mức quá thấp Trên thực tế chỉ còn khoảng 10% là rừng nguyên sinh (Nguồn: Hiện trạng môi trường Việt Nam và những lời báo động, 2013).[13]
Số liệu của Tổng cục Lâm nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho thấy đến hết năm 2012 có hơn 20.000 ha rừng tự nhiên bị phá để sử dụng vào nhiều mục đích, nhiều nhất là để làm thủy điện, nhưng chỉ mới trồng bù được hơn 700 ha
b) Đa dạng sinh học bị ảnh hưởng nghiêm trọng
Thế giới thừa nhận Việt Nam là một trong những nước có tính đa dạng sinh học vào nhóm cao nhất thế giới Với các điều tra đã công bố, Việt Nam
có 21.000 loài động vật, 16.000 loài thực vật, bao gồm nhiều loài đặc hữu, quý hiếm Tổ chức vi sinh vật học châu Á thừa nhận Việt Nam có không ít loài vi sinh vật mới đối với thế giới.[13]
Thế nhưng, trong 4 thập kỷ qua, theo ước tính sơ bộ đã có 200 loài chim bị tuyệt chủng và 120 loài thú bị diệt vong Và, mặc dù có vẻ nghịch lý nhưng có một thực tế là các trang trại gây nuôi động vật hoang dã như nuôi những loài rắn, rùa, cá sấu, khỉ và các loài quý hiếm khác vì mục đích thương mại ở Việt Nam và khu vực Đông Nam Á lại không hề làm giảm bớt tình trạng săn bắt động vật hoang dã trong tự nhiên, mà thậm chí còn làm cho vấn
đề trở nên tồi tệ hơn bởi những trang trại này đã liên quan tới các hoạt động buôn bán trái phép động vật hoang dã.[13]
Tiến sĩ Elizabeth L Bennett, Giám đốc Chương trình Giám sát nạn săn bắt và buôn bán động vật hoang dã của Hiệp hội Bảo tồn động vật hoang dã,
Trang 23cho biết: “Thay vì hoạt động nhằm mục đích bảo tồn, các trang trại gây nuôi
động vật hoang dã lại vì mục đích thương mại nên trên thực tế trở thành mối
đe dọa với các loài động vật hoang dã trong tự nhiên Các phân tích từ những báo cáo cho thấy tác động tiêu cực của các trang trại này lớn hơn rất nhiều
so với những ích lợi mà chúng có thể đem lại” Thậm chí, những trang trại
gây nuôi các loài sinh trưởng nhanh với tỷ lệ sinh sản cao cũng tác động tiêu cực đến công tác bảo tồn vì những trang trại này liên tục nhập khẩu các loài động vật có nguồn gốc tự nhiên.[13]
Hơn 100 loài sinh vật ngoại lai đang hiện diện tại nước ta cũng là mối nguy lớn cho môi trường sinh thái, như: ốc bươu vàng, cây mai dương, bọ cánh cứng hại dừa, đặc biệt là việc nhập khẩu 40 tấn rùa tai đỏ - một loài đã được quốc tế cảnh báo là một trong những loài xâm hại nguy hiểm.[13]
c) Ô nhiễm sông ngòi
Với những dòng sông ở các thành phố lớn như Hà Nội hay thành phố
Hồ Chí Minh, tình trạng bị ô nhiễm nặng nề là điều dễ dàng nhận thấy qua thực tế, cũng như qua sự phản ánh trên các phương tiện thông tin đại chúng Tuy nhiên, sông ở nhiều vùng nông thôn cũng đang phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm nặng nề do rác thải sinh hoạt, rác thải làng nghề, rác thải nông nghiệp và rác thải từ các khu công nghiệp vẫn đang từng ngày, từng giờ đổ xuống.[13]
Các dòng sông đang phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm nặng nề nhất là: sông Cầu, sông Nhuệ - Đáy, sông Đồng Nai và hệ thống sông Tiền và sông Hậu ở Tây Nam Bộ, đồng bằng sông Cửu Long Những con sông này đã trở nên độc hại, làm hủy hoại nguồn thủy sản và ảnh hưởng trực tiếp tới môi trường sống, sức khoẻ của cộng đồng.[13]
d) Bãi rác công nghệ và chất thải
Trang 24Hiện các doanh nghiệp ở Việt Nam là chủ sở hữu của hơn một nghìn con tàu biển trọng tải lớn, cũ nát Hầu hết các cảng biển trên thế giới đều không cho phép loại tàu này vào, vì nó quá cũ gây ô nhiễm môi trường lại không bảo đảm an toàn hàng hải Thế nhưng, hơn một nghìn con tàu cũ nát đó vẫn đang được neo vật vờ ở các tuyến sông, cửa biển để chờ được “hóa kiếp” thành phế liệu mà việc phá dỡ loại tàu biển cũ này sẽ thải ra rác thải nguy hại làm ô nhiễm môi trường sống.[13]
Nhiều dự án luyện, cán thép lớn đã, đang và sẽ xuất hiện, hứa hẹn đưa Việt Nam trở thành nước xuất khẩu thép lớn, song đồng thời cũng có nguy cơ biến Việt Nam thành nơi tập trung “rác” công nghệ và chất thải Bài học
“xương máu” này đã từng xảy ra với ngành sản xuất xi măng, song vẫn có khả năng lặp lại nếu những dây chuyền luyện gang, thép bị loại bỏ ở Trung Quốc được đưa về lắp đặt ở Việt Nam.[13]
e) Ô nhiễm từ sản xuất nông nghiệp
Báo cáo mới đây của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho thấy, nguồn chất thải vào môi trường từ trồng trọt và chăn nuôi đang có xu hướng gia tăng, trong khi việc kiểm soát chưa đạt hiệu quả cao Trong đó, lo ngại nhất là chất thải từ chăn nuôi Hiện cả nước có 16.700 trang trại chăn nuôi, tập trung chủ yếu ở đồng bằng sông Hồng (45%) và Đông Nam Bộ (13%), với tổng đàn gia súc 37,8 triệu con và trên 214 triệu con gia cầm Theo tính toán của Vụ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), lượng phân thải của bò khoảng 10 - 15 kg/con/ngày, trâu là
15 - 20 kg/con/ngày, lợn là 2,5 - 3,5 kg/con/ngày và gia cầm là 90 gr/con/ngày Như vậy, tính ra tổng khối lượng chất thải trong chăn nuôi của nước ta hiện khoảng hơn 73 triệu tấn/năm.[13]
Nuôi trồng thủy sản cũng đang gặp phải vấn đề tương tự Việc đẩy mạnh các biện pháp thâm canh, tăng năng suất tại các vùng nuôi tôm tập
Trang 25trung, trong đó chủ yếu là tôm sú đã làm gia tăng ô nhiễm nguồn nước Cùng với đó, tình trạng sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật trong trồng trọt một cách tràn lan, không có kiểm soát đã gây ô nhiễm môi trường đất, nước Hiện nay, lượng thuốc bảo vệ thực vật ngoài danh mục được phép sử dụng, quá hạn sử dụng còn tồn đọng cần tiêu hủy là hơn 700 kg (dạng rắn) và hơn 3.400 lít (dạng lỏng).[13]
Kết quả điều tra năm 2006 cho thấy, khu vực nông thôn thải ra khoảng
10 triệu tấn/năm chất thải rắn sinh hoạt, nhưng đến năm 2010 tăng lên tới 13,5 triệu tấn/năm Số rác thải này cộng với lượng chất thải từ sản xuất nông nghiệp đã khiến cho tình trạng ô nhiễm môi trường ở khu vực nông thôn ngày càng trở nên đáng lo ngại.[13]
Ở nước ta, hàng năm sản xuất hàng triệu tấn phân lân từ các nhà máy lớn (Supephotphat Lâm Thao, Long Thành, Đồng Nai, Văn Điển và Ninh Bình) Dự báo đến năm 2015, lượng phân bón sử dụng ở nước ta sẽ trên 3,5 triệu tấn (Trần Văn Hiến, 2011, Viện lúa ĐBSCL).[5]
Trong nguyên liệu sản xuất phân lân có chứa 3% Flo Khoảng 50 - 60% lượng Flo này nằm lại trong phân bón Khi bón nhiều phân lân sẽ làm tăng hàm lượng Flo trong đất và sẽ làm ô nhiễm đất khi hàm lượng của nó đạt tới
10 mg/1kg đất.[5]
Trong các chất thải của nhà máy sản xuất phân lân có chứa 96,9% các chất gây ô nhiễm mà chủ yếu là Flo Flo trong đất sẽ được tích lũy bởi thực vật, Flo gây độc cho người và gia súc, kìm hãm hoạt động của một số enzyme, ngăn quá trình quang hợp và tổng hợp protein ở thực vật [5]
Khi bón đạm cho cây trồng, cây chỉ sử dụng được 40 - 60%, phần còn lại nằm trong đất và gây ô nhiễm đất Các nhà nghiên cứu về dinh dưỡng cây trồng thường nói đến ảnh hưởng xấu của hàm lượng nitrat quá cao trong nông sản có thể gây ung thư.[5]
Trang 26Việc bón thúc đạm sẽ làm cho hàm lượng nitrat tích lũy trên mặt đất và làm giảm chất lượng nước Khi bón đạm cho cây trồng từ phân khoáng và phân hữu cơ thì sẽ có một lượng khí thải đưa vào không khí Trước hết là khí
NH3 làm ô nhiễm môi trường không khí, ngoài ra còn khí NO2 làm ảnh hưởng đến tầng ôzôn, thường số lượng khí N2O sản sinh ra từ phân bón là 15%.[5]
Khi trong sản phẩm có chứa nhiều đạm, nhất là không cân đối thì đạm
sẽ chuyển từ NH4
Sang NO3
Đặc biệt hàm lượng NO3
tồn dư trong các loại rau rất cao, nguyên nhân là do sử dụng không hợp lý liều lượng và tỷ lệ phân đạm vô cơ và hữu cơ bón cho cây, phương thức bón không đúng do chạy theo lợi nhuận, bón thúc trễ, sát với thời điểm thu hoạch, sử dụng nguồn nước tưới
Ở các làng tái chế kim loại, khí độc không qua xử lý đã thải trực tiếp vào không khí như ở làng nghề tái chế chì Đông Mai (Hưng Yên), nồng độ chì vượt quá 2.600 lần tiêu chuẩn cho phép Nghề thuộc da, làm miến dong ở
Hà Tây cũng thường xuyên thải ra các chất như bột, da, mỡ làm cho nước nhanh bị hôi thối, ô nhiễm nhiều dòng sông chảy qua làng nghề.[13]
Kết quả nghiên cứu của Viện Nghiên cứu khoa học kỹ thuật bảo hộ lao động gần đây cho biết, trong các làng nghề, những bệnh mắc nhiều nhất là bệnh liên quan đến hô hấp như viêm họng chiếm 30,56%, viêm phế quản 25% hay đau dây thần kinh chiếm 9,72% Tại làng nghề tái chế chì Đông Mai, tỷ lệ
Trang 27người dân mắc bệnh về thần kinh chiếm khoảng 71%, bệnh về đường hô hấp chiếm khoảng 65,6% và bị chứng hồng cầu giảm chiếm 19,4% Còn tại làng nghề sản xuất rượu Vân Hà (Bắc Giang) tỷ lệ người mắc bệnh ngoài da là 68,5% và các bệnh về đường ruột là 58,8%.[13]
g) Khai thác khoáng sản
Cùng với nhịp độ tăng trưởng xuất khẩu, nguồn tài nguyên khoáng sản dưới lòng đất của nước ta đã bị khai thác khá mạnh Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, từ năm 2009 - 2011, mỗi năm Việt Nam xuất khẩu 2,1 - 2,6 triệu tấn khoáng sản các loại (không kể than, dầu thô) với điểm đến chủ yếu là Trung Quốc, nhưng chỉ mang lại giá trị 130 - 230 triệu USD Riêng năm
2012, lượng khoáng sản xuất khẩu vẫn gần 800.000 tấn thông qua đường chính ngạch Nếu cộng cả số xuất lậu, xuất qua đường biên mậu, số lượng xuất khẩu còn lớn hơn nữa (vào năm 2008, chỉ riêng xuất lậu quặng ti-tan ước tính đã lên đến 200.000 tấn).[13]
Và hậu quả của ô nhiễm môi trường từ những hoạt động khai thác khoáng sản đã quá rõ ràng Qua điều tra, cứ 4.000 người dân Quảng Ninh có 2.500 người mắc bệnh, chủ yếu là mắc bệnh bụi phổi, hen phế quản, tai mũi họng (80%) Kết quả quan trắc của các cơ quan chuyên môn cho thấy nồng độ bụi ở khu vực Cẩm Phả vượt từ 3 - 4 lần tiêu chuẩn cho phép, gần 0,3 mg/m3trong 24 giờ (gồm bụi lơ lửng, bụi Pb, Hg, SiO2, khí thải CO, CO2, NO2) Mỏ Đèo Nai phải xử lý lượng đổ thải chất cao thành núi trong mấy chục năm qua
Mỏ Cọc Sáu với biển nước thải sâu 200m chứa 5 triệu m3 có nồng độ a-xít cao và độ pH4 - 4,5mgđl/l sẽ phải tìm công nghệ phù hợp để xử lý.[13]
h) Ô nhiễm không khí
Việt Nam cũng đang bị coi là nước có ô nhiễm không khí cao tới mức báo động Tại Thành phố Hồ Chí Minh, nồng độ chất ô nhiễm trong không khí khu vực ven đường giao thông, trong đó chủ yếu là CO tăng 1,44 lần và
Trang 28bụi PM10 (tức bụi có kích thước bé hơn 10µ) tăng 1,07 lần Kênh rạch ở khu vực nội thành bị ô nhiễm hữu cơ và vi sinh ở mức độ cao Phần lớn nước thải sinh hoạt chỉ mới được xử lý sơ bộ qua bể tự hoại gia đình Nhiều nhà máy,
cơ sở sản xuất chưa có hệ thống xử lý nước thải, hoặc nếu có trang bị thì không vận hành thường xuyên.[13]
Trang 29PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NÔI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vị nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Hiện trạng môi trường nông thôn trên địa bàn xã Chiềng Lao - huyện Mường La - tỉnh Sơn La
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu hiện trạng môi trường nông thôn trên địa bàn xã Chiềng Lao - huyện Mường La giai đoạn 2014-2015
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
3.2.1 Địa điểm nghiên cứu
Tại UBND Xã Chiềng Lao - huyện Mường La
3.2.2 Thời gian nghiên cứu
Thời gian: từ 10 tháng 01 năm 2015 đến 10 tháng 04 năm 2015
3.3 Nội dung nghiên cứu
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội xã Chiềng Lao - huyện Mường
La - tỉnh Sơn La
- Những thói quen ảnh hưởng xấu đến môi trường của các dân tộc thiểu số + Phát rừng làm nương rẫy ảnh hưởng đến chất lượng môi trường đất, suy giảm tài nguyên rừng trên địa bàn
+ Thói quen thả rong, nhốt vật nuôi dưới gầm sàn gây ảnh hưởng đến môi trường xung quanh, nguồn nước sinh hoạt
- Điều tra, đánh giá hiện trạng môi trường nông thôn tại xã Chiềng Lao
- huyện Mường La - tỉnh Sơn La
+ Nước thải
+ Vệ sinh môi trường
+ Phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và môi trường
Trang 30+ Sức khoẻ và môi trường
+ Nhận thức của người dân về bảo vệ môi trường
- Đánh giá chung, đề xuất một số giải pháp bảo vệ và quản lý môi trường tại địa phương
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
Nội dung điều tra, phỏng vấn: Điều tra phỏng vấn người dân về tình hình hiện trang môi trường, chất lượng đời sống của nhân dân
Đối tượng phỏng vấn: Hộ gia đình và cá nhân
Cách lấy phiếu: Mỗi thôn bản đại diện 5 phiếu, phỏng vấn 25/25 thôn bản Hình thức phỏng vấn: Phỏng vấn trực tiếp bằng các câu hỏi trong phiếu điều tra
3.4.2 Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp
Thu thập các số liệu, tài liệu, văn bản pháp luật, có liên quan đến hiện trạng môi trường và bảo vệ môi trường
Thu thập các tài liệu thứ cấp của UBND xã Chiềng Lao và Phòng tài nguyên và môi trường huyện Mường La
Thu thập các tài liệu có liên quan đến thực địa, sách báo, …
3.4.3 Phương pháp lấy mẫu và phân tích
Lấy 3 mẫu nước về nước ao, giếng và nước suối
Trang 31Cách bảo quản: Trong điều kiện bình thường
Tiến hành: Mẫu lắc điều
- Dùng pipet hút 100ml mẫu vào bình tam giác, thêm 2ml H2S04 đặc
- 10ml KMn04 0,1N vào bình Dùng giấy bạc bịt kín miệng bình rồi tiến hành đun sôi, vặn lửa nhỏ, để sôi trong 10 phút, lấy dung dịch ra khỏi bếp Để nguội, thêm 10ml axit oxalic 0,1N lắc đều cho mất mầu
- Ghi thể tích ddKMn04 0,1N đã chuẩn độ (a)
- Kết quả phân tích được thể hiện ở bảng 4.5
3.4.4 Phương pháp quan sát đánh giá
Đối tượng quan sát: Hiện trang cảnh quan những khu vực nông thôn có nhiều bức xúc về môi trường trên địa bàn xã
Phương thức quan sát: Quan sát trực tiếp, chụp hình kết hợp tham vấn ý kiến cộng đồng tại khu vực quan sát
3.4.5 Phương pháp thống kê và trình bày số liệu
Trình bày số trung bình theo bảng, đồ thị
Trang 32PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội xã Chiềng Lao - huyện Mường
Phía Nam giáp với xã Mường Trai (huyện Mường La)
Phía Tây giáp với xã Nậm Giôn (huyện Mường La) và xã Liệp Tè (huyện Thuận Châu)
Tổng diện tích tự nhiên theo địa giới hành chính cuả xã có diện tích 12.962.0 ha
4.1.1.2 Đặc điểm địa thế, địa hình
Xã Chiềng Lao có độ cao trung bình với mặt 500 - 700 m so nước biển, đất nông nghiệp phân bố chủ yếu ở độ cao 380 - 449,2m Nhìn chung, địa hình phức tạp, chủ yếu là đồi núi dốc bị chia cắt liên tục bởi các đồi núi cao
và khe sâu Chiềng lao tồn tại ở 3 dạng địa hình: Địa hình núi cao chiếm khoảng 25%, địa hình thoại đồi bát úp chiếm khoảng 55% và địa hình thung lũng chiếm khoảng 20%
Đất sản xuất nông nghiệp chủ yếu theo các khe suối, dọc các triền sông, các mỏm núi bát úp và thung lũng của đồi núi
Trang 334.1.1.3 Thời tiết, khí hậu
Xã Chiềng Lao chịu ảnh chung của khí hậu nhiệt đới gió mùa của vùng Tây Bắc đƣợc chia thành 2 mùa rõ dệt trong năm Mùa mƣa từ tháng 4 đến tháng 9 tập trung lƣợng mƣa lớn vào các tháng 6,7,8 chiếm khoảng 80% lƣợng mƣa cả năm Mùa khô tập trung từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau Lƣợng mƣa bình quân 1600 mm/ năm nhiệt độ trung bình trong năm từ 200
- Đất nâu đỏ đá vôi 5.110 ha, chiếm 25,3% diện tích tự nhiên
- Đất vàng nhạt trên đá cát 4.210 ha, chiếm 30,7% diện tích tự nhiên của xã và hai loại đất Nâu đỏ đá vôi và đât Vàng nhạt trên đá cát phân bố chủ yếu ở các đồi núi, thung lũng và triền sông
Trang 344.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
4.1.2.1 Điều kiện kinh tế
a) Sản xuất nông nghiệp:
Theo số liệu “Báo cáo đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh 6 tháng đầu năm; mục tiêu nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu 6 tháng cuối năm 2014”, đặc điểm kinh tế - xã hội của xã Chiềng Lao được tóm tắt qua những nét chính sau đây:
- Trồng trọt: Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm 2.510,97/2.090,9
ha, đạt 120% kế hoạch,so với năm 2013 tăng 416,87 ha
Sản lượng lương thực có hạt đạt: 6.183,5 tấn; đạt 124,3% KH; so với
cùng kỳ năm trước tăng 23%; trong đó: 1.114,1 tấn; đạt 90,2% KH (Thóc
không đạt so với kế hoạch 120 tấn bằng 9,8% là do chuyển diện tích lúa nương sang trồng ngô)
+ Lúa ruộng diện tích gieo trồng được 160,5/160,5 ha, đạt 100% kế hoạch năng suất 50 tạ/ha, sản lượng đạt 802,5 tấn
+ Lúa nương diện tích gieo trồng được 222,6/286,4 ha,đạt 77,7% kế
hoạch năng suất 14 tạ/ha, sản lượng đạt 311,6 tấn (không đạt 63,8 ha là do
chuyển diện tích trồng lúa nương sang trồng ngô)
+ Ngô xuân hề diện tích gieo trồng 1.491/1.100 ha, đạt 135,5% kế hoạch, năng suất 34 tạ/ha sản lượng đạt 5.069,4 tấn
Cây sắn: diện tích gieo trồng 589/422,6 ha, đạt 139,3% kế hoạch năng suất đạt 100 tạ/ha, sản lượng đạt 5.890 tấn
Cây có hạt chứa dầu: diện tích gieo trồng 18,7/23,3 ha, đạt 80,2% kế hoạch, trong đó; lạc 7,5 ha, vừng 1,8 ha, đậu các loại 9,4 ha đạt 89,8 tấn
Râu các loại: Tổng diện tích gieo trồng 29,17/29,7 ha đạt 111,3% kế hoạch; trong đó diện tích trồng mới 45,7 ha; diện tích chon sản phẩm 91,9 ha chủ yếu là nhẵn, xoài,chuối, năng suất đạt 150 tạ/ha,sản lượng đạt 1.378,5 tấn
Trang 35- Chăn nuôi, thuỷ sản:
Chăn nuôi: Năm 2014 xã Chiềng Lao tiết tục được nhà nước đầu tư 03
mô hình phát triển chăn nuôi (01 mô hình nuôi lợn thịt quy mô 721 con, 01
mô hình lợn nái sinh sản quy mô 97 con, 01 mô hình chăn nuôi gà quy mô 14.179 con) Tổng số đàn gia súc (thời điểm 25/11/2014): đàn trâu 1.500/1442 con đạt 104% kế hoạch;đàn bò 1.138/1.299 con đạt 87,6% kế hoạch; đàn lợn 3.656/3.500 con đạt 104% kế hoạch; đàn dê 1.567/2.056 con đạt 76,2% kế hoạch; đàn ngựa 102/104 con đạt 98% kế hoạch; gia cầm 42,672/42000 con đạt 101,6% kế hoạch.Công tác phòng chống dịch bệnh cho đàn gia súc gia cầm được quan tâm chỉ đạo thực hiện Diện tích gieo trồng cỏ phát triển chăn nuôi 21,8 ha; trong đó trồng mới được 11,3 ha cỏ, đạt 70,3% kế hoạch
Thủy sản: Tính đến tháng 11/2014, toàn xã có diện tích nuôi trồng thủy sản là 34/27,5 ha, đạt 123,6% kế hoạch; được nhà nước hỗ trợ 1000kg cá giống cho 100 hộ dân TĐC Hiện nay trên địa bàn xã có 38 lồng cá nuôi trên lòng hồ thủy điện Sơn La, đạt 146% kế hoạch Gồm bản cun 04 lồng, Tà sài
02 lồng, Bản Nhạp 09 lồng, Bản Nà Nong 09 lồng, Bản Lếch 03 lồng, bản Huổi Choi 11 lồng sản lượng cá đạt 13,6 tấn Sản lượng khai thác thủy sản trên lồng hồ thủy diện Sơn La đạt 3,57 tấn
b) Công tác lâm nghiệp
Diện tích rừng hiện có 7.619,3 ha, trong đó rừng trồng 150,5 ha, công tác bảo vệ, phòng cháy chữa cháy rừng được tăng cường, trong năm trên địa bàn xã không để xảy ra cháy rừng Công tác kiểm tra, xử lý các trường hợp vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng được triển khai tích cực
Công tác tuyên truyền quản lý bảo vệ rừng tiết tục được tăng cường, trong năm đã tổ chức 25 buổi tuyên truyền về công tác phòng cháy, chữa cháy rừng (Xây dựng quy ước bảo vệ rừng tại các địa bàn Tập trung tăng cường
công tác kiểm tra, kiếm soát lâm sản trên địa bàn
Trang 36c) Công tác thu chi ngân
- Tổng thu ngân sách đạt: 7,82 tỷ đồng, đạt 131%.Trong đó:
+ Thu ngân sách trên địa bàn 472,44 triệu đồng, đạt 1.431%
+ Quỹ An ninh quốc phòng: 51,3 triệu đồng
+ Thu khác: 11,6 triệu đồng
- Tổng chi ngân sách đạt: 6,6 tỷ đồng
4.1.2.2 Điều kiện về xã hội
a) Văn hoá - thể thao
- Các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể duc thể thao diễn ra sôi nổi,đa dạng, tập trung phản ánh diễn biến đời sống chính trị, kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng của xã, tổ chức các hoạt động văn hóa kỷ niệm các ngày lễ tết Chỉ đạo, củng cố ban chỉ đạo phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, hướng dẫn đăng ký các danh hiệu văn hóa năm 2014 Củng cố
và duy trì 22 đội văn nghệ quần chúng hoạt động có hiệu quả, biểu diễn 12 buổi, 1.558 lượt người xem
- Phong trào thể dục thể thao được duy trì và phát triển, tổ chức các hoạt động thể dục thể thao mang đậm đà bản sắc dân tộc trong dịp tết như: múa xòe, ném còn, kéo co, đẩy gậy, bắn nỏ, giao lưu bóng chuyền…
- Công tác truyền thanh: từ xã đến bản đã bố trí cán bộ nhân viên văn hóa trực thu phát lại các chương trình phát thanh của trung ương, của tỉnh, của huyện phục vụ nhân dân theo kế hoạch Phản ánh tiến độ sản xuất, nhằm đáp ứng xã hội của đất nước
- Về công tác bưu tá: cơ bản được thông suất, công văn, thư, báo kịp thời phục vụ sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền và nhu cầu nhân dân Đẩy mạnh và nâng cao phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”,ngày càng khởi sắc Năm 2014 đạt 512 hộ gia đình văn hóa;
Trang 37trong đó 98 hộ gia đình đạt 3 năm gia đình văn hóa, 5/25 bản văn hóa Thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội
Phong trào thể dục, thể thao quần chúng ở nông thôn được pháp triển rộng khắc thu hút ngày càng đông số lượng người tham gia luyện tập thể thao như: bóng đá bóng chuyền Duy trì các môn thể thao dân tộc như ném còn, kéo co, đẩy gậy, bắn nỏ…
b) Giao dục - Đào tạo
- Công tác giá dục - đào tạo trên địa bàn xã đã được phát triển, có đủ 3 bậc học, cơ sở vật chất được quân tâm đầu tư bằng nhiều chương trình, dự án, nhiều phòng họ đã được kiên cố hóa Cơ sở vật chất trường học năm 2014 -
2015 đạt 78% đảm bảo tốt cho việc dạy và học
- Năm 2014 - 2015 Tổng số giá viên: 165 giá viên, trong đó:
+ Trường PTDTBT- THCS: 41 giáo viên
+ Trường tiểu học A: 27 giáo viên
+ Trường tiểu học B: 27 giáo viên
+ Trường tiểu học C: 24 giáo viên
+ Trường Mầm non A: 17 giáo viên
+ Trường Mầm non B: 16 giáo viên
+ Trường Mầm non C: 13 giáo viên
Trang 38Trong năm 2014 Công Ty điện lực Sơn La hỗ trợ làm nhà bếp ăn cho bán trú tại 03 trường tiểu học, với tổng kinh phí là 600 triệu đồng Hiện nay
cơ bản các trường học đã có nhà bếp nấu ăn cho học sinh bán trú tại khu trung tâm trường học
c) Công tác lao động - Thương binh xã hội
- Xã có 02 thương binh, 01 bệnh binh và 03 gia đình liệt sỹ Việc thực hiện chính sách xã hội đối với các gia đình thương binh, liệt sỹ, các đối tượng thuộc diện chính sách xã hội thường xuyên được quan tâm, nhân dịp ngày lễ, tết nguyên đán xã tổ chức thăm và tặng quà động viên tinh thần các gia đình thương binh, bệnh binh và thân nhân gia đình liệt sỹ
- Số người được hưởng trợ cấp hàng tháng là 109 người, trong đó: 92 người cao tuổi, 09 người tàn tật, 04 người tâm thần, 01 không người nuôi dưỡng
và 03 người cô đơn, việc thực hiện chi trả các chế độ đãi ngộ được kịp thời.
d) Y tế - dân số - kế hoạch hoá gia đình
- Y tế:
+ Trạm y tế có đội ngũ y tế gồm 08 nhân viên, trong đó: 06 y sỹ, 01 dược sỹ, 01 nữ hộ sinh Thường xuyên thực hiên công tác khám, chữa bệnh chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân luôn được chủ động, bám sát cơ sở trong năm 2014 không có dịch bệnh lớn xảy ra
+ Kết quả khám, chữa bệnh đạt được như sau: Tổng số giường bệnh được giao 03 giường; Tổng số lần khám bệnh 8.926 lượt người; trong đó kê đơn thuốc điều trị ngoài trú là 6.453 lượt người, chuyển tuyến 2.473 lượt Tỷ
lệ trể dưới 1 tuổi là 1.131 trể, trong đó tỷ lệ trể em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng
là 18,5%, tăng 0,3% so với năm 2013
- Dân số: Theo báo cáo UBND xã về thực hiện chương trình giảm Tổng dân số 2,026 hộ = 9,530 nhân khẩu, trong đó: Nam: 4678 người Nữ:
4852 người Số người trong độ tuổi lao động: 4270 người
- Kế hoạch hoá gia đình: