Được sự nhất trí của Ban Giám hiệu nhà trường, Ban Chủ nhiệm khoa Môi trường, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, em đã nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiện trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-
HOÀNG THỊ DƯƠNG
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT TẠI
XÃ ĐỒNG PHÚC, HUYỆN YÊN DŨNG, TỈNH BẮC GIANG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Khoa học môi trường
Khóa học: : 2011 - 2015
Thái Nguyên, năm 2015
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-
HOÀNG THỊ DƯƠNG
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT TẠI
XÃ ĐỒNG PHÚC, HUYỆN YÊN DŨNG, TỈNH BẮC GIANG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành : Khoa học môi trường
Giảng viên hướng dẫn : TS Nguyễn Thanh Hải
Khoa Môi trường - Trường Đại học Nông Lâm
Thái Nguyên, năm 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Thực tập tốt nghiệp là một giai đoạn cần thiết và hết sức quan trọng của mỗi sinh viên, đó là thời gian để sinh viên tiếp cận với thực tế, nhằm củng cố và vận dụng những kiến thức mà mình đã học được trong nhà trường Được sự nhất trí của Ban Giám hiệu nhà trường, Ban Chủ nhiệm khoa Môi trường, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, em đã nghiên cứu đề tài:
“Đánh giá hiện trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật tại xã Đồng Phúc - huyện Yên Dũng - tỉnh Bắc Giang”
Để hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới: Ban Giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Ban Chủ nhiệm khoa và toàn thể các thầy, cô giáo trong khoa Môi Trường đã
tận tình giúp đỡ và dìu dắt em trong suốt quá trình thực tập
Ban lãnh đạo và toàn thể các cán bộ công nhân viên hiện đang làm việc tại Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Yên Dũng, UBND xã Đồng Phúc cùng toàn thể người dân trong xã đã tạo điều kiện giúp đỡ em hoàn thành tốt đề tài Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn sự quan tâm, chỉ đạo tận tình của thầy giáo hướng dẫn: TS NGUYỄN THANH HẢI khoa Môi Trường, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành khoá luận này
Cuối cùng, em xin được gửi đến gia đình, bạn bè đã động viên giúp đỡ và tạo niềm tin cho em trong quá trình học tập, nghiên cứu cũng như trong thời gian thực hiện đề tài những lời cảm ơn chân thành nhất
Em xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 05 tháng 05 năm 2015
Sinh viên thực hiện
HOÀNG THỊ DƯƠNG
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG KHOÁ LUẬN
Bảng 2.1 Bảng phân loại độ độc của thuốc trừ dịch hại 5
Bảng 2.2 Phân loại nhóm độc của thuốc trừ dịch hại 5
Bảng 2.3 Bảng phân loại độ độc thuốc BVTV ở Việt Nam và cáchiện tượng về độ độc cần ghi trên nhãn 6
Bảng 2.4 Phân loại độc tính thuốc BVTV của Tổ chức Y tế thế giớivà Tổ chức Nông lương thế giới 7
Bảng 2.5 Phân loại hóa chất theo đường xâm nhập 8
Bảng 4.1 Tình hình chăn nuôi xã Đồng Phúc từ năm 2012 - 2014 30
Bảng 4.2 Hiện trạng dân số xã năm 2014 31
Bảng 4.3 Tình hình sản xuất nông nghiệp xã Đồng Phúc năm 2014 32
Bảng 4.4 Tình hình sử dụng thuốc BVTV 34
Bảng 4.5 Số lượng thuốc BVTV được sử dụng tại xã Đồng Phúc năm 2014 35
Bảng 4.6 Tình hình gieo trồng và sử dụng thuốc BVTV vụ mùa 2014 36
Bảng 4.7 Tình hình gieo trồng và sử dụng thuốc BVTV vụ xuân 2015 36
Bảng 4.8 Người dân và những vấn đề liên quan tới thuốc BVTV 37
Bảng 4.9 Hiểu biết về điều kiện đảm bảo sức khỏe trong sử dụng thuốc BVTV 39
Bảng 4.10 Thực trạng sử dụng bảo hộ lao động khi phun thuốc BVTV của người dân xã Đồng Phúc 39
Bảng 4.11 Thực hành pha thuốc BVTV của người dân trước khi sử dụng 40
Bảng 4.12 Cách xử lý bao bì thuốc BVTV sau khi sử dụng của người dân 42
Bảng 4.13 Mức độ tham gia buổi tập huấn sử dụng thuốc BVTV, BVMT và nhận thức của người dân đối với việc sử dụng thuốc BVTV 43
Bảng 4.14 Thực trạng các triệu chứng cơ năng của người dân khi sử dụng thuốc BVTV 44
Bảng 4.15 Tỷ lệ một số bệnh thường gặp đối với người dân trong xã Đồng Phúc 45
Bảng 4.16 Hiện trang môi trường khu vực nghiên cứu 46
Trang 5DANH MỤC CÁC HÌNH TRONG KHÓA LUẬN
Hình 2.1 Tác động của thuốc BVTV đến môi trường và con đường mất đi của
thuốc 9Hình 2.2 Một số loài thiên địch 14Hình 4.1 Bản đồ hành chính huyện Yên Dũng 26
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
BNN & PTNN : Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn
Trang 7MỤC LỤC
PHẦN 1:MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài 2
1.2.1 Mục đích của đề tài 2
1.2.2 Yêu cầu của đề tài 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài 3
1.3.1 Ý nghĩa khoa học 3
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
PHẦN 2:TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Tổng quan về thuốc BVTV 4
2.1.1 Khái niệm thuốc bảo vệ thực vật 4
2.1.2 Phân loại thuốc bảo vệ thực vật 4
2.2 Ảnh hưởng của thuốc bảo vệ thực vật đến môi trường sinh thái và con người 9
2.2.1 Ảnh hưởng của thuốc bảo vệ thực vật đến môi trường đất 10
2.2.2 Ảnh hưởng của thuốc BVTV đến môi trường nước 10
2.2.3 Ảnh hưởng của thuốc BVTV đến môi trường không khí 11
2.2.4 Ảnh hưởng tiêu cực của thuốc bảo vệ thực vật đến nông nghiệp 12
2.2.5 Ảnh hưởng của thuốc bảo vệ thực vật đến con người 12
2.2.6 Ảnh hưởng của thuốc BVTV tới thiên địch 13
2.2.7 Hậu quả từ việc lạm dụng thuốc BVTV 14
2.3 Các nguyên tắc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật 15
2.4 Cơ sở pháp lí của đề tài 18
2.5 Cơ sở thực tiễn 19
2.5.1 Tình hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trên thế giới 19
2.5.2 Tình hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật ở Việt Nam 21
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 24
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 24
Trang 83.3 Nội dung nghiên cứu 24
3.3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Đồng Phúc, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang 24
3.3.2 Hiện trạng sản xuất nông nghiệp của xã Đồng Phúc, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang 24
3.3.3 Đánh giá thực trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp tại xã Đồng Phúc, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang 24
3.3.4 Đánh giá thực trạng hiểu biết và cách sử dụng của người dân về thuốc Bảo vệ thực vật 24
3.3.5 Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng và hạn chế mặt trái của thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp tại xã Đồng Phúc 24
3.4 Phương pháp nghiên cứu 24
3.4.1 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu 24
3.4.2 Công cụ dùng để xử lý số liệu 25
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 26
4.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Đồng Phúc, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang 26
4.1.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên 26
4.1.2 Đặc điểm về điều kiện kinh tế - xã hội 29
4.2 Hiện trạng sản xuất nông nghiệp của xã Đồng Phúc, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang 32
4.3 Đánh giá thực trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp tại xã Đồng Phúc, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang 33
4.3.1 Hệ thống cung ứng thuốc Bảo vệ thực vật 33
4.3.2 Thực trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp 34
4.3.3 Đánh giá thực trạng hiểu biết và cách sử dụng của người dân về thuốc Bảo vệ thực vật 37
4.3.4 Ảnh hưởng của thuốc BVTV tới sức khỏe con người và môi trường 43
Trang 94.4 Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng và hạn chế mặt trái của
thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp tại xã Đồng Phúc 47
4.4.1 Giải pháp về thông tin tuyên truyền 47
4.4.2 Giải pháp về Thanh tra, kiểm tra 47
4.4.3 Giải pháp về tổ chức sắp xếp lại hệ thống kinh doanh thuốc BVTV 48
4.4.4 Giải pháp về đào tạo, huấn luyện 48
4.4.5 Biện pháp ngăn ngừa 49
4.4.6 Biện pháp sử dụng an toàn và hiệu quả 49
4.4.7 Giải pháp trong lĩnh vực kinh doanh 50
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 51
5.1 Kết luận 51
5.2 Đề nghị 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO 1
Trang 10PHẦN 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Việt Nam là nước sản xuất nông nghiệp, phần lớn cư dân sống bằng canh tác nông nghiệp chiếm khoảng 65% diện tích đất nông nghiệp đến thời điểm hiện tại là
9 triệu ha trong đó có trên 4 triệu ha đất trồng lúa Khí hậu nhiệt đới nóng ẩm của Việt Nam thuận lợi cho sự phát triển của cây trồng nhưng cũng thuận lợi cho sự phát sinh, phát triển của sâu bệnh, cỏ dại gây hại mùa màng Do vậy, việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) để phòng trừ sâu bệnh hại, dịch bệnh bảo vệ mùa màng, giữ vững an ninh lương thực quốc gia vẫn là một biện pháp quan trọng và chủ yếu
Các hóa chất thuốc bảo vệ thực vật, thuốc trừ sâu đã được sử dụng rộng rãi ở nước ta từ đầu những năm 1960 để tiêu diệt sâu bọ, côn trùng gây bệnh, bảo vệ mùa màng Từ đó đến nay, thuốc BVTV vẫn gắn liền với tiến bộ sản xuất công nghiệp, quy mô, số lượng, chủng loại ngày càng tăng Đã có hơn 100 loại thuốc được đăng
ký sử dụng ở nước ta
Từ thập niên 70 của thế kỷ 20, cùng với sự phát triển vũ bảo của các ngành khoa học, lĩnh vực hoá học và kỹ thuật sử dụng thuốc BVTV đã có sự thay đổi rất mạnh mẽ: sự hiểu biết sâu hơn về phương thức tác động của thuốc BVTV đã cho phép phát hiện ra nhiều hoạt chất mới có phương thức tác động khác trước, được sử dụng một cách hiệu quả và an toàn trong ngành sản xuất nông nghiệp.Huyện Yên Dũng là một huyện nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Bắc Giang Huyện Yên Dũng nằm liền kề với khu tam giác kinh tế phía Bắc đồng thời cũng là một trung tâm kinh
tế - xã hội lớn của khu vực trung du và miền núi phía Bắc, được xác định là một trong 04 huyện, thành phố trọng điểm của tỉnh Bắc Giang trong quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020 Với điều kiện tự nhiên thuận lợi, nông nghiệp được coi là ngành kinh tế quan trọng trong phát triển cơ cấu kinh tế của huyện, cho phép trên địa bàn huyện có thể phát triển nền nông nghiệp đa dạng với các cây trồng, ngoài các cây lương thực truyền thống, địa phương còn chú trọng đến
Trang 11phát triển các loại cây được coi là thế mạnh của vùng Để tăng năng suất cây trồng,
thuốc BVTV đã được sử dụng ngày càng nhiều Với khả năng diệt trừ dịch hại
nhanh, dễ sử dụng có thể ngăn chặn các đợt địch trong thời gian ngắn, có hiệu quả
mọi lúc mọi nơi, dễ mua bán, trao đổi, đôi khi thuốc BVTV còn là giải pháp duy
nhất Với các ưu điểm trên, thuốc BVTV được coi là thuốc cứu sinh của người
nông dân mỗi khi có dịch bệnh xảy ra và được người dân sử dụng tự phát với số
lượng lớn Điều này không những không mang lại hiệu quả trong việc phòng chống
sâu bệnh, mà ngược lại sẽ đem đến những hậu quả rất khó lường đối với cây trồng,
cũng như với sức khỏe của người sử dụng; và có thể dẫn đến nhờn thuốc gây phát
dịch bệnh trên diện rộng với mức độ nguy hại lớn hơn, phá vỡ quần thể sinh vật trên
đồng ruộng, tiêu diệt sâu bọ có ích (thiên địch), tiêu diệt tôm cá, xua đuổi chim
chóc, phần tồn dư của thuốc bảo vệ thực vật trên các sản phẩm nông nghiệp, rơi
xuống nước bề mặt, ngấm vào đất, di chuyển vào nước ngầm, phát tán theo gió gây
ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng tới súc khỏe con người
Xuất phát từ những vấn đề thực tế nêu trên, được sự nhất trí của ban giám hiệu
nhà trường, ban chủ nhiệm khoa và sự hướng dẫn trực tiếp của thầy giáo TS
Nguyễn Thanh Hải em tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá hiện trạng sử dụng
thuốc Bảo vệ thực vật tại xã Đồng Phúc, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang”
1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài
1.2.1 Mục đích của đề tài
- Đánh giá thực trạng sử dụng thuốc BVTV và tác động của nó trên hai mặt
tích cực và tiêu cực đến sản xuất nông nghiệp tại xã Đồng Phúc
- Đưa ra phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng thuốc bảo vệ
thực vật phù hợp với điều kiện thực tế tại xã Đồng Phúc
1.2.2 Yêu cầu của đề tài
- Số liệu, tài liệu thu thập phải chính xác
- Đánh giá khái quát được hiện trạng sử dụng thuốc BVTV tại địa phương
- Các giải pháp đưa ra phải có nghĩa thực tiễn và phù hợp với địa phương
Comment [H1]: Quá dài, cần rút ngắn lại
Trang 121.3 Ý nghĩa của đề tài
- Sự thành công của đề tài là cơ sở để nâng cao được phương pháp làm việc có khoa học có cơ sở, giúp sinh viên biết tổng hợp bố trí thời gian hợp lý trong công việc
Trang 13PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Tổng quan về thuốc BVTV
2.1.1 Khái niệm thuốc bảo vệ thực vật
- Thuốc BVTV là những chất độc có nguồn gốc tự nhiên hay tổng hợp, được dùng để bảo vệ cây trồng và nông sản, chống lại sự phá hại của những sinh vật gây hại (côn trùng, nhện, tuyến trùng, chuột, chim, thú rừng, nấm, vi khuẩn, rong rêu, cỏ dại, …) (TT 03/2013 – TT/BNNPTNT)[5]
- Chủng loại hóa chất BVTV đang sử dụng ở Việt Nam rất đa dạng Hiện nay, nhiều nhất vẫn là hợp chất lân hữu cơ, Chlor hữu cơ, nhóm độc từ Ia, Ib, đến II và
III, sau đó là các nhóm carbamat và pyrethroid (Lê Huy Bá 2008, Độc chất môi
trường )[1]
- Trong những năm gần đây, hóa chất BVTV được sử dụng tăng lên đáng kể,
cả về số lượng lẫn chủng loại Theo báo cáo của Bộ thương mại thì hàng năm, mức tiêu thụ thuốc bảo vệ trong nước khoảng 1,5 triệu tấn, không kể một số lượng không nhỏ được nhập cảng lậu qua đường biên giới mà chính quyền không thể kiểm soát
được Theo thông tư 36/2011/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và phát triển
nông thôn thì danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng có 1.201 hoạt chất với 3.107 tên thương phẩm, danh mục thuốc BVTV hạn chế sử dụng có 16 hoạt chất với 29 tên thương phẩm, danh mục thuốc BVTV cấm sử dụng có 29 hoạt chất khác nhau
Việc phân loại hóa chất BVTV khá đa dạng, với nhiều cách phân loại khác nhau tủy theo mục đích nghiên cứu:
2.1.2 Phân loại thuốc bảo vệ thực vật
2.1.2.1 Phân loại theo tính độc
Các nhà sản xuất thuốc BVTV luôn ghi rõ độc tính của từng loại, đơn vị đo lường được biểu thị dưới dạng LD50 (Lethal Dose 50) và tính bằng mg/kg cơ thể Các loại thuốc BVTV được chia mức độ độc như sau:
Trang 14Bảng 2.1 Bảng phân loại độ độc của thuốc trừ dịch hại
(Nguồn: Nguyễn Trần Oánh và cs, giáo trình sử dụng thuốc BVTV)[18]
Bảng 2.2 Phân loại nhóm độc của thuốc trừ dịch hại
Nhóm độc
Nguy hiểm (I) Báo động
(II)
Cảnh báo (III)
Cảnh báo (IV)
7 ngày
Đục màng sừng mắt
và gây ngứa niêm mạc 7 ngày
Gây ngứa niêm mạc
Không gây ngứa niêm mạc
Trang 15Trong đó:
LD50 Liều chất độc cần thiết giết chết 50% chuột thực nghiệm, giá trị LD50 càng nhỏ, chứng tỏ chất độc đó càng mạnh
Liều 5mg/kg thể trọng tương đương một số giọt uống hay nhỏ mắt
Liều 5-50mg/kg thể trọng tương đương một thìa cà phê
Liều 50-500mg/kg thể trọng tương đương hai thìa súp
Bảng 2.3 Bảng phân loại độ độc thuốc BVTV ở Việt Nam và các
hiện tượng về độ độc cần ghi trên nhãn
Vạch màu
LD50 đối với chuột (mg/kg)
Thể rắn Thể lỏng Thể rắn
Thể lỏng
Nhóm
độc I Rất độc
Đầu lâu xương chéo trong hình thoi vuông trắng
> 400 – 4.000
Xanh nước biển
500 – 2.000
>2.000 – 3.000 > 1.000 > 4.000
Cẩn
thận
Không biểu tương
Xanh lá cây > 2.000 > 3.000 > 1.000 > 4.000
(Nguồn: Nguyễn Trần Oánh và cs, giáo trình sử dụng thuốc BVTV)[18]
Trang 16Bảng 2.4 Phân loại độc tính thuốc BVTV của Tổ chức Y tế thế giới
và Tổ chức Nông lương thế giới Loại độc LD50(chuột) (mg/kg thể trọng)
IV Loại sản phẩm không gây độc khi sử dụng bình thường
(Nguồn: Nguyễn Trần Oánh và cs, giáo trình sử dụng thuốc BVTV)[18] 2.1.2.2 Phân loại theo đối tượng phòng chống
Theo Nguyễn Thị Hồng Hạnh (2006) [7] thì có rất nhiều cách phân loại khác nhau và được phân ra như sau:
Thuốc trừ sâu (insecticide):
Gồm các chất hay hỗn hợp các chất có tác dụng tiêu diệt, xua đuổi hay di chuyển bất kỳ loại côn trùng nào có mặt trong môi trường Chúng được dùng để diệt trừ hay ngăn ngừa tác hại của côn trùng đến cây trồng, cây rừng, nông lâm sản, gia
Trang 17Thuốc trừ chuột (Rodenticide): Là những hợp chất vô cơ, hữu cơ, hoặc có
nguồn gốc sinh học có hoạt tính sinh học và phương thức tác động rất khác nhau, được dùng để diệt chuột gây hại trên ruộng, trong nhà và các loài gậm nhấm Chúng tác động đến chuột chủ yếu bằng con đường vị độc và xông hơi
Thuốc trừ nhện (Acricide):
Những chất được dung chủ yếu để trừ nhện hại cây trồng và các loài thực vật khác, đặc biệt là nhện đỏ Hầu hết các thuốc trừ nhện hiện nay đều có tác dụng tiếp xúc
Thuốc trừ tuyến trùng (Nematocide): Các chất xông hơi và nội hấp được
dùng để xử lý đất trước tiên trừ tuyến trùng rễ cây trồng, trong đất, hạt giống và cả trong cây
Thuốc trừ cỏ (Herbicide):
Các chất được dùng để trừ các loài thực vật cản trở sự sinh trưởng cây trồng, các loài thực vật mọc hoang dại, trên đồng ruộng, quanh các công trình kiến trúc, sân bay, đường sắt… Và gồm cả các thuốc trừ rong rêu ruộng, kênh mương Đây là nhóm thuốc dễ gây hại cho cây trồng nhất Vì vậy khi dùng thuốc trong nhóm này đặc biệt thận trọng
2.1.2.3 Dựa vào con đường xâm nhập (hay tác động của thuốc) đến dịch hại
Gồm có: Thuốc có tác dụng tiếp xúc, vị độc, xông hơi, nội hấp và thấm sâu
Bảng 2.5 Phân loại hóa chất theo đường xâm nhập
Chất độc tiếp xúc Xâm nhập qua biểu bì của dịch hại Thuốc sẽ phá hủy bộ máy
thần kinh của dịch hại như Bassa, Mipxin…
Chất độc vị độc Là thuốc gây độc cho cơ thể sinh vật khi chúng xâm nhập qua đường tiêu hóa của dịch hại như : 666, Dupterex… Chất độc xông hơi Là loại thuốc có khả năng bốc thành hơi, đầu độc bầu không
khí bao xung quanh cơ thể dịch hại qua bộ máy hô hấp Chất độc nội hấp
Là loại thuốc được xâm nhập vào cây qua lá, thân, rễ, cành… rồi được vận chuyển tích lũy trong hệ thống dẫn nhựa của cây, tồn tại trong đó một thời gian và gây chết cơ thể sinh vật Chất độc
thấm sâu
Là loại thuốc được xâm nhập vào cây qua tế bào thực vật chủ yếu theo chiều ngang, nó có tác dụng tiêu diệt dịch hại sống ẩn nấp trong tổ chức tế bào thực vật như: Wofatox…
(Nguồn: Nguyễn Trần Oánh và cs, giáo trình sử dụng thuốc BVTV)[18]
Trang 182.1.2.4 Dựa vào nguồn gốc hóa học
- Thuốc có nguồn gốc thảo mộc: Bao gồm các thuốc BVTV làm từ cây cỏ hay các sản phẩm chiết xuất từ cây cỏ có khả năng tiêu diệt dịch hại
- Thuốc có nguồn gốc sinh học: Gồm các loài sinh vật, các sản phẩm có nguồn gốc sinh vật có khả năng tiêu diệt dịch hại
- Thuốc có nguồn gốc vô cơ: Bao gồm các hợp chất vô cơ có khả năng tiêu diệt dịch hại
- Thuốc có nguồn gốc hữu cơ: Gồm các hợp chất hữu cơ tổng hợp có khả năng tiêu diệt dịch hại ( Nguyễn Trần Oánh và cs, 2007)[18]
Ngoài ra còn rất nhiều cách phân loại khác nhau
2.2 Ảnh hưởng của thuốc bảo vệ thực vật đến môi trường sinh thái và con người
Trong quá trình sản xuất, vận chuyển, bảo quản và sử dụng, thuốc BVTV đã tác động đến môi trường bằng nhiều cách khác nhau, theo sơ đồ:
Hình 2.1 Tác động của thuốc BVTV đến môi trường và con đường mất đi của thuốc
(Nguyễn Trần Oánh và cs, 2007) [18]
Đất
Không khí
Thuốc bảo vệ thực vật
Nước
Thực vật
Thực phẩm
Trang 192.2.1 Ảnh hưởng của thuốc bảo vệ thực vật đến môi trường đất
Sự tồn tại và vận chuyển HCBVTV trong đất phụ thuộc vào nhiều yếu tố cấu trúc hóa học của hoạt chất, các dạng thành phẩm, loại đất, điều kiện tiết thủy lợi, loại cây trồng và các vi sinh vật trong đất
Hóa chất bảo vệ thực vật có thể hấp thụ từ đất vào cây trồng, đặc biệt các loại
rễ của rau như củ cà rốt và cỏ HCBVTV được hấp thu từ đất vào cỏ, súc vật ăn cỏ như trâu bò sẽ hấp thu toàn bộ dư lượng HCBVTV trong cỏ vào thịt và sữa Nhiều thuốc bảo vệ thực vật có thể tồn lưu lâu dài trong đất, ví dụ DDT và các chất clo hữu cơ sau khi đi vào môi trường sẽ tồn tại ở các dạng hợp chất liên kết trong môi trường, mà những chất mới thường có độc tính hơn hẳn, xâm nhập vào cây trồng và tích luỹ ở quả, hạt, củ sau đó di truyền theo thực phẩm đi vào gây hại cho người, vật như ung thư, quái thai, đột biến gen
Khi thuốc bảo vệ thực vật (chủ yếu là nhóm lân hữu cơ) xâm nhập vào môi trường đất làm cho tính chất cơ lý của đất giảm sút (đất cứng), cũng giống như tác hại của phân bón hoá học dư thừa trong đất Do khả năng diệt khuẩn cao nên thuốc bảo vệ thực vật đồng thời cũng diệt nhiều vi sinh vật có lợi trong đất, làm hoạt tính sinh học trong đất giảm Hệ VSV sống trong đất (nấm, vi khuẩn, các loài côn trùng,
ve bét, giun đất ) có khả năng phân giải xác, tàn dư động thực vật làm cho đất tơi xốp, thoáng khí, tạo điều kiện cho cây phát triển tốt và duy trì độ màu mỡ của đất Các thuốc BVTV khi rơi xuống sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của VSV đất làm cho đất bị chai cứng, cây không hút được dinh dưỡng, do đó dẫn đến hiện tượng cây còi cọc, đất bị thoái hóa
2.2.2 Ảnh hưởng của thuốc BVTV đến môi trường nước
Thuốc BVTV xâm nhập vào môi trường nước theo rất nhiều cách :
- Khi sử dụng cho đất chúng sẽ thấm vào nước thông qua môi trường đất
- Dùng trực tiếp thuốc để diệt côn trùng trong nước
- Nước chảy qua các vùng đất có sử dụng thuốc BVTV
- Do nước thải công nghiệp từ các nhà máy sản xuất thuốc BVTV
Trang 20Theo ước tính hàng năm chúng ta có khoảng 213 tấn thuốc BVTV theo bụi và nước mưa đổ xuống Đại Tây Dương (Nguyễn Thị Dư Loan, 2004) [10]
Thuốc BVTV vào nước gây ô nhiễm môi trường nước gồm cả nước mặt và nước ngầm, suy thoái chất lượng nguồn nước, ảnh hưởng nghiêm trọng đến các hoạt động sống của các sinh vật thủy sinh
2.2.3 Ảnh hưởng của thuốc BVTV đến môi trường không khí
Thuốc BVTV xâm nhập vào môi trường không khí gây mùi khó chịu khiến cho không khí bị ô nhiễm Các tác nhân bên ngoài như gió sẽ thúc đẩy quá trình khếch tán của thuốc làm ô nhiễm không khí cả một vùng rộng lớn Ô nhiễm không khí do thuốc BVTV sẽ tác động xấu đến sức khỏe con người và các động vật khác thông qua con đường hô hấp
- Qua đường qua miệng và hô hấp: Thuốc xâm nhập qua đường miệng thường gây ngộ độc rất nặng
+ Xảy ra bất ngờ do thuốc bắn vào miệng
+ Ăn uống hoặc hút thuốc bằng tay có dính thuốc
Để chung thức ăn, nước uống với thuốc trong quá trình vận chuyển hoặc lưu trữ, đựng thuốc trong chai nước uống hoặc đồ đựng thức ăn (dễ bị dính thuốc vào thức ăn hoặc nhầm lẫn)
+ Ăn phải thực phẩm có thuốc hoặc nông sản có dư lượng thuốc vượt mức cho phép + Uống nước ở các ao hồ hoặc nguồn nước bị nhiễm thuốc BVTV
+ Khi sử dụng thuốc có đặc điểm bay hơi, thuốc dạng bột chúng ta có thể bị hít phải thuốc khi đang phun hoặc hít phải khói thuốc khi đốt hay tiêu huỷ bao bì Thuốc BVTV xâm nhập vào môi trường không khí theo nhiều nguồn khác nhau:
- Khi phun vãi thuốc sẽ xâm nhập vào không khí theo từng đợt dưới dạng bụi, hơi Tốc độ xâm nhập vào không khí tùy loại hóa chất, tùy theo cách sử dụng và tùy theo điều kiện thời tiết
- Do ảnh hưởng của các hiện tượng thời tiết như gió, bão, mưa bào mòn và tung các bụi đất có chứa thuốc BVTV vào không khí
Trang 21- Do tai nạn hoặc do sự thiếu thận trọng gây rò rỉ hóa chất trong quá trình sản xuất, vận chuyển thuốc BVTV ( Nguyễn Thị Dư Loan, (2004),[10]
2.2.4 Ảnh hưởng tiêu cực của thuốc bảo vệ thực vật đến nông nghiệp
Thuốc BVTV được xâm nhập, dịch chuyển và tồn tại ở các bộ phận của cây, ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của cây như sau:
-Thuốc làm cho năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất tăng
- Rút ngắn thời gian sinh trưởng ra hoa sớm, quả chín sớm
- Tăng sức chống chịu với điều kiện bất thuận lợi như: chống rét, chống hạn, chống đổ, chống chịu bệnh
Bên cạnh đó dùng thuốc BVTV cũng có ảnh hưởng xấu đến cây trồng khi sử dụng thuốc không đúng:
- Làm giảm tỷ lệ nảy mầm, rễ không phát triển, cây còi cọc, màu lá biến đổi, cây chết non
- Lá bị cháy, bị thủng, lá non và ngọn cây bị biến dạng, hoa quả bị rụng nhiều, quả nhỏ, chín muộn
- Giảm khả năng chống chịu với điều kiện bất lợi
2.2.5 Ảnh hưởng của thuốc bảo vệ thực vật đến con người
Ảnh hưởng của HCBVTV đến sức khỏe con người bao gồm:
Nhìn chung các loại thuốc BVTV đều độc với người và động vật máu nóng Thuốc có thể xâm nhập vào cơ thể người qua nhiều con đường khác nhau như: Tiếp xúc qua da, ăn hoặc hít phải thuốc do trực tiếp hay qua nông sản, môi trường bị ô nhiễm Mật độ gây độc cho cơ thể người và động vật máu nóng thể hiện ở 2 cấp độ khác nhau:
- Độ độc cấp tính: Xảy ra khi chất độc xâm nhập vào cơ thể với liều lượng lớn, phá hủy mạnh các chức năng sống, được thể hiện bằng các triệu chứng rõ ràng, gây nhiễm độc tức thời gọi là nhiễm độc cấp tính
- Độ độc mãn tính: Xảy ra khi chất độc xâm nhập vào cơ thể với liều lượng nhỏ, nhiều lần, trong thời gian dài, được tích lũy lại trong cơ thể sinh vật (tích lũy hóa học hay chức năng), những triệu chứng thể hiện chậm, lâu dài, gây tốn thương
Trang 22cho các cơ quan của cơ thể, làm cho sinh vật bị ốm, yếu (ảnh hưởng đến sức khỏe của sinh vật, gây đột biến, ung thư, quái thai, thậm chí ảnh hưởng đến sự phát triển
của thế hệ sau) và có thể dẫn đến tử vong (Nguyễn Trần Oánh và cs, 2007)[18]
Các biểu hiện nhiễm độc sau ngày làm việc khá phổ biến: đau đầu, chóng mặt, mệt mỏi, lợm giọng, buồn nôn, chán ăn…
Trên thực tế đã có rất nhiều vụ việc đáng tiếc xảy ra liên quan đến HCBVTV: Tháng 12/2012, Cục Bảo vệ thực vật (Bộ NN&PTNT) kiểm tra 50 mẫu rau ăn sống thì phát hiện 29 mẫu rau (chiếm 58%) có dư lượng thuốc BVTV Các loại rau
ăn lá như rau muống, rau cải ngọt, rau ngót cùng đỗ quả… là những loại có dư lượng thuốc BVTV cao nhất Cũng trong tháng 12, Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn (IPSARD) đã công bố con số thống kê một đợt khảo sát gần nhất là 51,24% mẫu rau phát hiện mức dư lượng thuốc BVTV và kim loại nặng; 47% mẫu rau có dư lượng vượt ngưỡng NO3 Ngay cả trong tháng hành động vì chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm năm 2012 thì vẫn xảy ra 3 vụ ngộ độc tập thể ở các tỉnh Bình Định, Bình Dương và Lâm Đồng
Từ đầu năm đến nay, các bệnh viện, phòng khám đa khoa trên cả nước liên tục tiếp nhận nhiều trường hợp bệnh nhân tự tử bằng thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ dại… Ngày 31/1/2014, tin từ UBND xã Phú Mỹ cho biết, ông Thái Trĩ (57 tuổi, Chủ tịch UBND xã Phú Mỹ, huyện Phú Vang) đang trong tình trạng rất nguy kịch sau khi uống thuốc trừ sâu để tự tử tại nhà riêng Ngày 26/3/2014 2 nữ sinh trường THPT tư thục Bá Thiên, TP.Bảo Lộc tự tử bằng thuốc trừ sâu
2.2.6 Ảnh hưởng của thuốc BVTV tới thiên địch
Thiên địch là danh từ để chỉ các loài kẻ thù tự nhiên của dịch hại, bao gồm các động vật, loài ký sinh, động vật bắt mồi ăn thịt (côn trùng, nhện, chim…) các VSV gây bệnh cho sâu, các VSV đối kháng với các VSV gây bệnh
VD: Trên ruộng lúa của Việt Nam có 38 loài sâu gây hại đã phát hiện có khoảng 300 loài thiên địch Trong đó có 167 loài là côn trùng ăn thịt, khoảng 100 loài là côn trùng ký sinh, 29 loài là nhện bắt mồi ăn thịt… Các loại thuốc trừ sâu
Trang 23đều độc hại với các loài thiên địch là côn trùng và nhện, trong đó thuốc thuộc nhóm độc một và Pyrethroid độc mạnh nhất
Cụ thể: Ở Việt Nam, theo nghiên cứu của viện BVTV cho thấy: Khi phun thuốc Azodrin, Monitor, Methylparathion sau 3 – 5 ngày mật độ bọ rùa và nhện giảm xuống 50 – 90% và rất chậm phục hồi
Hình 2.2 Một số loài thiên địch
2.2.7 Hậu quả từ việc lạm dụng thuốc BVTV
Rau là thực phẩm được sử dụng nhiều thuốc BVTV nhất Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Bùi Bá Bổng cho rằng chỉ với thực tế 3% rau xanh có hàm lượng thuốc bảo vệ thực vật vượt tiêu chuẩn cho phép, tương ứng với hơn 2 triệu người hàng ngày phải ăn rau không đảm bảo Thực tế, việc hàng ngày ăn phải rau không đảm bảo tiêu chuẩn là mầm mống gây nên nhiều căn bệnh nguy hiểm như ung thư, ngộ độc thần kinh, rối loạn chức năng thận Nếu ăn phải rau bị nhiễm kim loại nặng như kẽm, sẽ dẫn đến tích tụ kẽm trong gan có thể gây ngộ độc hệ thần kinh, ung thư đột biến và một loạt các chứng bệnh nguy hiểm khác (Hạnh Vân, 2009)[23]
Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 1990, mỗi năm có khoảng 25-39 triệu lao động trong ngành nông nghiệp bị nhiễm độc, trong đó 3 triệu
ca nhiễm độc nghiêm trọng làm 220.000 ca tử vong liên quan đến HCBVTV Ở các
Trang 24nước đang phát triển chiếm 99 % số trường hợp, cho dù những nước này chỉ tiêu thụ 20 % lượng HCBVTV
Chỉ trong năm 2009, trên cả nước đã có 5.000 người bị nhiễm độc thuốc BVTV, trong đó 138 người tử vong, đó là chưa kể số người bị mắc bệnh ung thư,
bệnh lao phổi, bệnh về đường hô hấp…(Đoàn Nguyên, 2011)[12]
Theo thống kê của Bộ Y tế, mỗi năm Việt Nam có thêm 200 nghìn - 250 nghìn
ca bệnh nhân mới bị ung thư, tương đương với mỗi năm có 1 huyện mới ung thư và một nửa huyện người chết do bệnh ung thư cũ (từ 100 nghìn - 125 nghìn người) Con số này do kết quả tổng hợp từ nhiều nguyên nhân trong đó một phần trong số
đó là lạm dụng hóa chất thuốc bảo vệ thực vật (Ngô Huyền, 2008) Từ năm 1980 -
1985 chỉ riêng 16 tỉnh phía Bắc đã có 2.211 người bị nhiễm độc nặng do HCBVTV,
811 người chết Năm 1997 tại 10 tỉnh, thành phố cả nước với lượng HCBVTV sử dụng mới chỉ là 4.200 tấn nhưng đã có 6.103 người bị nhiễm độc, 240 người chết do nhiễm độc cấp và mạn tính Nghiên cứu của Vụ Y tế dự phòng (chương trình VTN/OCH/01096.97), tại 4 tỉnh Thừa Thiên Huế, Khánh Hòa, Tiền Giang, Cần Thơ trong 4 năm (1994 - 1997) đã có 4.899 người bị nhiễm độc HCBVTV, 286 người chết (5,8%)
Trong năm 2012 đã xảy ra 112 vụ ngộ độc thực phẩm với hơn 3.000 người mắc phải, trong đó nhiều trường hợp đã tử vong, riêng 6 tháng đầu năm 2013 cả nước đã xảy ra 67 vụ ngộ độc thực phẩm với 1.856 người mắc, 1.649 người nhập viện và 18 trường hợp tử vong Cũng theo khảo sát của cơ quan này trong số 200.000 người/năm bị ung thư thì có 35% trong số đó liên quan đến thực phẩm ô nhiễm chất độc Bên cạnh đó tình trạng ngộ độc không xác định được nguyên nhân cũng có con số khá cao
2.3 Các nguyên tắc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật
Trong sản xuất nông nghiệp, cây trồng có nhiều sinh vật hại (SVH) và có một
số SVH xuất hiện trong suốt giai đoạn sinh trưởng của cây trồng, kể cả thời gian đang thu hoạch Do đó để bảo vệ năng suất cây trồng và giữ cho sản phẩm có mẫu
mã đẹp khi bán, người nông dân thường sử dụng thuốc bảo vệ thực vật(BVTV)
Trang 25Trong thời gian qua việc sử dụng thuốc không đúng kỹ thuật đã gây ra những tác hại không nhỏ ảnh hưởng đến sức khoẻ cộng đồng và môi trường
An toàn và hiệu quả trong việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) là vấn
đề cần được quan tâm hôm nay, trong đó người sử dụng thuốc BVTV cần nắm vững
1 - Đúng thuốc: Thuốc BVTV được sản xuất thành nhiều chủng loại, nếu
không được sử dụng đúng vừa không hiệu quả mà còn gây lãng phí, ô nhiễm môi trường Trong từng chủng loại cũng được chia ra loại chọn lọc, loại đa dạng
Thí dụ: thuốc trừ cỏ 2,4D chủ yếu tác dụng với các loại cây hai lá mầm, thuốc Fujione chuyên trị đạo ôn hoặc Validacine hữu hiệu đối với bệnh khô vằn hại lúa hoặc meo hồng trên cao-su v.v
Cần lưu ý ở nguyên tắc là: thuốc trừ sâu chỉ dùng để trừ sâu, thuốc trừ bệnh dùng với bệnh, không được dùng lẫn lộn
2 - Đúng liều lượng, nồng độ: Mỗi loại thuốc, trước khi đưa vào dùng cho cây
trồng đều được khảo nghiệm nhiều lần, từ trong phòng thí nghiệm đến đại trà Qua đó, người ta tìm ra liều lượng và nồng độ tối ưu đối với từng loài hoặc nhóm loài dịch hại, đối với từng loại cây trồng, thậm chí đối với từng giai đoạn sinh trưởng của mỗi loại cây Nồng độ, liều lượng được hướng dẫn trên nhãn thuốc còn được căn cứ vào độ an toàn cho nông sản, môi trường Do vậy, khi sử dụng, bà con nông dân không được tự ý tăng hoặc giảm liều lượng, nồng độ đã quy định Nếu giảm đi, hiệu quả diệt trừ sẽ kém, ngược lại, nếu tăng lên sẽ "lợi bất cập hại", có thể sâu bệnh chết nhiều, nhưng thuốc cũng diệt luôn thiên địch, mức độ tồn dư của thuốc cao, làm mất an toàn vệ sinh nông sản và ảnh hưởng xấu đến môi trường Đối với rau quả, sử dụng không đúng liều lượng còn tạo ra khả năng quen thuốc, kháng
Trang 26thuốc ở nhiều loài dịch hại Việc tuân thủ nguyên tắc đúng liều lượng, nồng độ có tác dụng nhiều mặt
3 - Đúng lúc: Xác định đúng thời điểm cần phun thuốc đòi hỏi phải nắm chắc
các quy luật phát sinh, phát triển của dịch hại
Không phải cứ thấy có sâu, bệnh là phun thuốc; hoặc cứ để chúng phát triển qua nhiều giai đoạn mới xử lý Cả hai trường hợp này đều ít đem lại hiệu quả Cần theo dõi, điều tra chiều hướng phát triển của dịch hại để xác định thời điểm xử lý đúng nhất Nếu điều kiện thuận lợi, dịch hại bùng phát nhanh thì cần phải ngăn chặn sớm.Người ta đã xác định tương đối chính xác ngưỡng kinh tế, thí dụ cần phun thuốc trừ sâu đục thân hai chấm hại lúa khi lúa đẻ nhánh, lúc mật độ trứng là 0,8-1,2 ổ/m2; khi lúa trỗ, mật độ trứng đạt 0,2-0,4 ổ/m2
Đối với sâu cuốn lá nhỏ, cần phun thuốc nếu ở giai đoạn lúa làm đòng, trỗ bông mà mật độ sâu non đạt 6-9 con/m2…v.v
Việc xử lý đúng lúc đòi hỏi kỹ thuật dự tính, dự báo dựa trên kinh nghiệm của
bà con nông dân, đồng thời cần căn cứ các quan trắc, tính toán của các cơ quan chuyên môn
4 - Đúng cách: Đối với từng loại thuốc BVTV đều được hướng dẫn sử dụng
từng thuốc và đa dạng thuốc Chế phẩm dạng bột, thấm nước, dạng sữa phải pha với nước; dạng hạt, viên nhỏ thì rải vào đất; có dạng để phun mù, phun sương với lượng rất nhỏ hoặc có dạng thuốc chỉ để xông hơi, khử trùng kho tàng Đa số thuốc BVTV trong trồng trọt thuộc dạng pha với nước hoặc rải vào đất Cách phun thuốc cũng có hướng dẫn và cần tuân thủ chặt chẽ Dịch hại phát triển ở mặt dưới lá, chỉ ở phần lộc non hoặc ở gốc cổ rễ thì cách sử dụng đúng là phun chủ yếu vào nơi có dịch hại Riêng thuốc trừ cỏ càng phải thận trọng sử dụng đúng cách để không chỉ hạn chế tác hại của cỏ dại mà còn bảo vệ cây trồng, kể cả diện tích cây trồng gần nơi xử lý Cần lưu ý hướng gió và tốc độ gió để thuốc không bay xa vào nơi không cần thiết Trong hệ thống các biện pháp phòng trừ dịch hại tổng hợp (IPM) ngoài hóa chất như vệ sinh, thời vụ, chăm bón, thiên địch, giống chống chịu sẽ phát huy
Trang 27hiệu quả cao với sự phối hợp chặt chẽ của biện pháp hóa học trên cơ sở tuân thủ nguyên tắc "bốn đúng" (Theo Trung tâm Khuyến nông Quốc gia)[20]
2.4 Cơ sở pháp lí của đề tài
- Nghị định 58 ban hành năm 2002 về “Hướng dẫn thi hành pháp lệnh về Bảo
vệ và Kiểm dịch thực vật”, trong đó có “Điều lệ Bảo vệ thực vật”
- Nghị định số 26/2003/NĐ-CP “Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong
lĩnh vực Bảo vệ và kiểm dịch thực vật”
- Quyết định 145/2003/QĐ-BNN-BVTV về quy định thủ tục thẩm định sản xuất, gia công, đăng ký, xuất khẩu, nhập khẩu, buôn bán, lưu trữ, tiêu huỷ, nhãn
thuốc, bao bì đúng gói, hội thảo, quảng cáo thuốc BVTV
- Quyết định số 89/2006/QĐ-BNN ngày 02/10/2006 về việc Ban hành về quy định về quản lý thuốc bảo vệ thực vật
- Quyết định 63/2007/QĐ-BNN của Bộ NN&PTNT về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định về Quản lý thuốc bảo vệ thực vật ban hành theo Quyết định 89/2006/QĐ-BNN ngày 02/10/2006 của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT
- Thông tư số 38/2010/TT-BNNPTNT ngày 28/06/2010 của Bộ NN&PTNT về việc quy định về quản lý thuốc bảo vệ thực vật và Công văn số 1538/BVTV-QLT ngày 8/9/2010 hướng dẫn thi hành Thông tư số 38/2010/TT-BNNPTNT
- Thông tư 36/2011/TT-BNNPTNT ngày 20/5/2011 về việc ban hành Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng, hạn chế sử dụng, cấm sử dụng ở Việt Nam
- Thông tư số 10/2012/TT-BNNPTNT ngày 22/02/2012 Về việc ban hành danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng, hạn chế sử dụng, cấm sử dụng
ở Việt Nam
- Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT Quy định về quản lý chất thải nguy hại
- Luật Bảo vệ Môi trường năm 2014, số 55/2014/QH13 ban hành ngày
23/06/2014
Trang 282.5 Cơ sở thực tiễn
2.5.1 Tình hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trên thế giới
Chỉ trong thời gian hơn nửa thế kỷ qua, nhất là những năm 1980 cho đến nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các ngành KHCN, thuốc BVTV cũng được phát minh và sử dụng ngày càng nhiều và đã đem lại những lợi ích kinh tế to lớn Tới nay đã có hàng ngàn chất được sáng chế và sử dụng làm thuốc BVTV Theo thống
kê của Tổ chức y tế thế giới (WHO), năm 1972 toàn thế giới sử dụng lượng thuốc BVTV trị giá 7,7 tỷ USD, năm 1985 khoảng 16 tỷ USD, đến năm 1990 sử dụng trên
3 triệu tấn hoạt chất thuốc BVTV, trị giá khoảng 25 tỷ USD Trong đó thuốc trừ cỏ chiếm 46%, thuốc trừ sâu chiếm 31%, thuốc trừ bệnh 18%, và 5% là các thuốc khác Khoảng 80% thuốc BVTV sản xuất ra được sử dụng ở các nước phát triển Tuy vậy, tốc độ sử dụng thuốc BVTV ở các nước đang phát triển tăng 7-8%/năm, nhanh hơn các nước phát triển (2-4%/năm) Trong đó chủ yếu là các thuốc trừ sâu
(chiếm 70%) (Nguyễn Thị Hồng Hạnh, 2006)[7]
Việc lạm dụng HCBVTV đã để lại những hậu quả rất xấu cho môi trường và sức khoẻ cộng đồng Trong nhân dân tư tưởng sợ hãi, không dám dùng HCBVTV xuất hiện, thậm chí có người cho rằng cần loại bỏ không dùng HCBVTV trong sản xuất nông nghiệp Chính vì điều này các nhà khoa học đã đầu tư nghiên cứu các loại HCBVTV mới an toàn hơn đối với môi trường và sức khoẻ con người Nhiều HCBVTV mới ra đời như hoá chất trừ cỏ mới, các HCBVTV nhóm perethroid tổng hợp, các HCBVTV bệnh có nguồn gốc sinh học hay tác động sinh học, các chất điều tiết sinh trưởng côn trùng và cây trồng Lượng HCBVTV được dùng trên thế giới không những không giảm mà còn liên tục tăng lên Từ những năm 1980 đến nay, vấn đề bảo vệ môi trường được quan tâm hơn, vai trò của biện pháp hoá học vẫn được thừa nhận Tư tưởng sợ HCBVTV cũng bớt dần , do hiểu biết tốt hơn về tác động qua lại của côn trùng và cây trồng, các loại HCBVTV đã được phát triển lên một tầm cao mới cũng như đã có một chiến lược mới về công thức hoá học và các phương pháp sử dụng Nhiều loại hoá chất mới, trong đó có nhiều HCBVTV sinh học có hiệu quả cao với dịch hại nhưng an toàn với môi trường ra đời Sự phát
Trang 29triển mới này đã tạo ra cơ hội giảm bớt nguy cơ nhiễm độc HCBVTV Sản lượng HCBVTV thế giới tăng lên theo thời gian, năm 1955 thế giới sản xuất ra gần 400 nghìn tấn, thập niên 90 của thế kỷ XX sản xuất ra hơn 3 triệu tấn mỗi năm Đến nay thế giới sản xuất khoảng 4,4 triệu tấn/năm với 2.537 loại HCBVTV Những quốc gia có sản lượng, kim ngạch xuất nhập khẩu và sử dụng HCBVTV đứng hàng đầu thế giới là Trung Quốc và Hoa Kỳ
Tại Trung Quốc để tăng cường tự chủ về HCBVTV, Chính phủ Trung Quốc
đã gia tăng đầu tư vào ngành công nghiệp HCBVTV Chính vì vậy ngành công nghiệp sản xuất HCBVTV phát triển mạnh, hiện tại có hơn 2500 nhà máy sản xuất lớn, nhỏ Sản lượng HCBVTV của Trung Quốc đã tăng trưởng nhanh, năm 2007 đạt
1731 nghìn tấn, năm 2008 đạt 1902 nghìn tấn Trung Quốc là nhà sản xuất lớn nhất trong ngành công nghiệp HCBVTV toàn cầu Năm 2007 lần đầu tiên Trung Quốc vượt qua Hoa Kỳ, Trung Quốc đứng đầu thế giới về sản xuất, sử dụng HCBVTV và cũng là nước xuất khẩu lượng HCBVTV đứng hàng đầu thế giới Theo Tổng cục Hải quan Trung Quốc tổng lượng xuất khẩu HCBVTV năm 2008 là 485 nghìn tấn với kim ngạch hơn 2 tỷ USD
Tại Hoa Kỳ, từ 1966 đến 1986 nhu cầu đối với HCBVTV của nông dân tăng rất mạnh, diện tích cây trồng được phun HCBVTV và chất diệt cỏ tăng gấp đôi 75
% diện tích canh tác nông nghiệp của Hoa Kỳ đã và đang sử dụng HCBVTV Số HCBVTV nông dân sử dụng tăng từ 353 triệu lên 475 triệu Pound Ở Hoa Kỳ sản lượng HCBVTV được chi phối bởi khoảng 28 công ty lớn, Hoa Kỳ là một quốc gia xuất khẩu HCBVTV lớn, năm 2008 xuất khẩu 115 nghìn tấn kim ngạch hơn 2 tỷ USD
Trên đây là 2 quốc gia hàng đầu thế giới về sản lượng, kim ngạch xuất nhập khẩu và sử dụng HCBVTV, ngoài ra một số nước sử dụng nhiều như: Thái Lan, Nhật Bản, Brazil…Tuy vậy, mức đầu tư và cơ cấu tiêu thụ các nhóm hoá chất tuỳ thuộc trình độ phát triển và đặc điểm canh tác của từng nước
Trang 30HCBVTV thế giới là những hoá chất có độc tính cao đã từng bước được loại
ra khỏi thị trường và thay vào đó là các loại HCBVTV ít độc hại hơn đối với môi trường và sức khoẻ cộng đồng
2.5.2 Tình hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật ở Việt Nam
Ở Việt Nam, thuốc BVTV sử dụng rộng rãi từ những năm 1950, đầu tiên là dùng DDT-666 để trừ sâu Tiếp đến là một số loại thuốc có chứa thủy ngân hữu cơ,
sau đó là nhóm lân hữu cơ và carbonat
Trước năm 1975, nước ta có một số nhà máy sản xuất và gia công các bột 666
để phun đắp cho các loại cây, đa phần các hóa chất đều được nhập từ nước ngoài, các cơ sở tư nhân trong nước sẽ chế biến hóa chất dạng bột sang dạng thấm nước, dung dịch
Từ năm 1975-1989 các cơ sở tư nhân phát triển mạnh hơn, việc cung cấp thuốc BVTV tăng lên đáng kể cho nên mức độ sử dụng cũng tăng lên Theo ước tính từ năm 1976-1980 bình quân cả nước mỗi năm sử dụng 5.100 tấn thuốc BVTV, năm 1985 khoảng 22.000 tấn, năm 1998 trên 40.000 tấn Nếu như trước những năm
1990 sử dụng bình quân từ 0,3-0,4 kg thuốc BVTV/ha thì đến năm 1999 lượng thuốc BVTV bình quân tăng lên 1,05kg/ha (Nguyễn Thị Dư Loan, 2004)[10] Theo kết quả thanh tra, kiểm tra sản xuất, kinh doanh thuốc BVTV (2007 – 2010) cho thấy: Số cơ sở, cửa hàng, đại lý được thanh tra, kiểm tra phát hiện có vi phạm chiếm khoảng 14 – 16 % (tổng số đơn vị thanh kiểm tra trung bình 14.000 lượt/năm), trong đó: Buôn bán thuốc cấm: 0,19 – 0,013 %; Buôn bán thuốc ngoài danh mục: 0,85 - 0,72% ; Buôn bán thuốc giả: 0,04 -0,2%; vi phạm về ghi nhãn hàng hóa: 3,12 - 2,44 % và vi phạm về điều kiện buôn bán: 14,4 - 16,46% Lấy mẫu kiểm tra chất lượng thuốc BVTV tại các cơ sở sản xuất, gia công, sang chai, đóng gói và lưu thông hàng năm cho thấy tỷ lệ mẫu không đạt chất lượng là 3 - 10,2% số mẫu kiểm tra
Thực trạng sử dụng thuốc B VTV, theo số liệu kiểm tra từ năm 2007 - 2009, tỷ
lệ số hộ vi phạm: 35 -17,8 %, trong đó: không đảm bảo thời gian cách ly: 2,0 –
Trang 318,43%; không đúng nồng độ và liều lượng: 10,24 - 14,34 %; sử dụng thuốc cấm: 0,19 – 0,0 % ; thuốc ngoài danh mục: 2,17 - 0,52 % (Vương Trường Giang và cs, 2011)[6]
Việc sử dụng thuốc BVTV ngày càng nhiều, đồng thời với lợi ích mang lại cũng đã thể hiện những hậu quả xấu đối với con người và môi trường sinh thái, đi ngược lại nỗ lực nhằm xây dựng một nền nông nghiệp sạch và bền vững
Năm 1991 hoá chất trừ sâu chiếm 83,3 %, hoá chất trừ nấm 9,5 %, hoá chất diệt cỏ 4,1 %, những loại khác 3,1 % Đến năm 2008 tỉ lệ là hoá chất trừ sâu chiếm 37,9%, hoá chất trừ nấm 21,12 %, hoá chất diệt cỏ 13,77 %, hoá chất diệt côn trùng 23,46 % và những loại khác 3,75 % Lượng HCBVTV tiêu thụ qua các năm tăng
dần, kim ngạch nhập khẩu HCBVTV tăng mạnh Theo số liệu của Tổng cục Thống
kê, kim ngạch nhập khẩu HCBVTV và nguyên liệu năm 2007 là 382.830.015 USD tăng 25,4 % so với cùng kỳ năm 2006, năm 2008 là 473.760.692 USD tăng 23,8 %
so với cùng kỳ năm 2007 Nguồn HCBVTV được nhập khẩu về trong năm 2008 chủ yếu từ: Trung Quốc (200.262.568 USD), Singapore (91.116.287 USD), Ấn Độ(42.219.807 USD), kế tiếp là Nhật Bản (19.412.585 USD) Hiện nay số lượng và chủng loại HCBVTV sử dụng ở nước ta tương đối cao so với khu vực
Bộ NN & PTNN đã ban hành Quyết định số 88/CT-BNN-BVTV quy định danh mục HCBVTV trên cây chè Theo quyết định các HCBVTV được sử dụng trên cây chè bao gồm: HCBVTV (11 hoạt chất với 13 tên thương mại) Hoá chất trừ bệnh (4 hoạt chất với 3 tên thương mại) Hoá chất trừ cỏ (các loại hoá chất trừ cỏ được đăng kí sử dụng cho cây chè trong danh mục HCBVTV được phép sử dụng ở
Việt Nam) Ở nước ta, thuốc BVTV đóng vai trò quan trọng trong sản xuất nông
nghiệp, quyết định nhanh chóng dập các dịch bệnh trên diện rộng Nếu không có thuốc BVTV, nhiều dịch hại cây trồng có thể làm giảm 40 đến 60% năng suất trên diện rộng, có nơi có thể mất trắng Song cũng phải thấy hết những hệ lụy xấu cho môi trường, cho con người, nhất là khi quá lạm dụng nó Việc sử dụng thuốc BVTV
đã tăng quá nhanh trong thời gian qua Theo số liệu Cục BVTV trong giai đoạn
Trang 321981 - 1986, số lượng thuốc sử dụng là 6.500 đến 9.000 tấn, tăng 20 đến 30 nghìn tấn giai đoạn 1991 - 2000 và từ 36 đến 75,8 nghìn tấn giai đoạn 2001 - 2007 Trong vòng 10 năm (2000 - 2011) số lượng thuốc BVTV được sử dụng tăng 2,5 lần; số loại thuốc đăng ký sử dụng tăng 4,5 lần và giá trị thuốc nhập khẩu tăng 3,5 lần Số lượng hoạt chất đăng ký sử dụng ở Việt Nam gần 1.000 loại, còn các nước trong khu vực là 400 đến 600 loại (Nguyễn Quang Hiếu, 2012)[8]
Trang 33PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật tại xã Đồng Phúc, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm: Xã Đồng Phúc, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang
- Thời gian: Thực hiện từ 01/2015 đến 05/2015
3.3 Nội dung nghiên cứu
3.3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Đồng Phúc, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang
3.3.2 Hiện trạng sản xuất nông nghiệp của xã Đồng Phúc, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang
3.3.3 Đánh giá thực trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp tại xã Đồng Phúc, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang
3.3.4 Đánh giá thực trạng hiểu biết và cách sử dụng của người dân về thuốc Bảo
vệ thực vật
3.3.5 Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng và hạn chế mặt trái của thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp tại xã Đồng Phúc
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu
- Thu thập tài liệu, số liệu thứ cấp: Sử dụng phương pháp kế thừa và cập nhật
từ các báo cáo khoa học, các tạp chí khoa học và các đề tài đã được tiến hành trước
đó Ở cấp xã, thu thập thông tin về các số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế và tình