Tình hình nghiên cứu đề tài Những năm gần đây, vấn đề “Vai trò của tòa án đối với hoạt động tố tụng trọng tài” được quan tâm nghiên cứu nhằm tăng cường hiệu quả giải quyết các tranh chấp
Trang 1GVHD: TS.Nguyễn Thị Thu Hiền SVTH: Triệu Thị Nhung
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
TRIỆU THỊ NHUNG
LKT 12-02
VAI TRÒ CỦA TÒA ÁN ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG
TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY–
Trang 2VAI TRÒ CỦA TÒA ÁN ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY– MỘT SỐ VẤ ĐỀ LY LUẬN VÀ
THỰC TIỄN
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
TRIỆU THỊ NHUNG
LKT 12-02
Ngành Luật Kinh tế
Mã số: 52380107
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Người hướng dẫn: TS NGUYỄN THỊ THU HIỀN
Hà Nội, 6/2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Khóa luận với đề tài “Vai trò của tòa án đối với hoạt động tố tụng trọng tài thương mại ở Việt Nam hiện nay – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” Em xin cam đoan khóa luận này là do tự bản thân thực hiện cùng với sự hướng dẫn của TS Nguyễn Thị Thu Hiền thuộc Trường Đại học Luật Hà Nội và không sao chép các công trình nghiên cứu của người khác để làm sản phẩm của riêng mình Các thông tin sử dụng trong toàn bộ khóa luận là có nguồn gốc và được trích dẫn rõ ràng Tác giả hoàn
toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực và nguyên bản của khóa luận
Hà Nội, ngày 28 tháng 5 năm 2016
Sinh viên thực hiện Xác nhận của Giáo viên hướng dẫn
Triệu Thị Nhung TS Nguyễn Thị Thu Hiền
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Qua khóa luận này, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Thị Thu Hiền – Trường Đại học Luật Hà Nội đã tận tình hướng dẫn và tạo điều kiện thuận lợi cho em hoàn thành tốt đề tài này Trong quá trình thực hiện khóa luận, em học hỏi được rất nhiều điều từ cô
Đồng thời, em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy giáo, cô giáo giảng dạy ở Khoa Luật – Viện Đại học mở Hà Nội, những người đã cung cấp cho em những kiến thức quý báu trong thời gian học tập, rèn luyện tại khoa
Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã động viên, giúp đỡ trong suốt thời gian qua
Mặc dù đã cố gắng để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh nhất, tuy nhiên do thời gian và kiến thức còn hạn chế, chắc chắn khóa luận sẽ không tránh khỏi những thiếu sót về mặt nội dung và hình thức Vì vậy, em rất mong nhận được sự góp ý, chỉ dẫn của quý thầy cô để đề tài được hoàn thiện hơn
Sinh viên thực hiện
Triệu Thị Nhung
Trang 5MỤC LỤC
BẢNG DANH MỤC VIẾT TẮT 7 LỜI MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI VÀ VAI TRÒ CỦA TÒA ÁN TRONG TỐ TỤNG TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI 5
1.1.1 Khái niệm trọng tài thương mại 5 1.1.2 Đặc điểm trọng tài thương mại 8 1.1.3 Phân loại trọng tài thương mại 12
1.2 Tổng quan về phương thức giải quyết tranh chấp thương mại bằng
1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của phương thức giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài 15 1.2.2 Thẩm quyền giải quyết tranh chấp thương mại của trọng tài 19 1.2.3 Tố tụng trọng tài thương mại 21 1.2.4 Ưu điểm và nhược điểm của phương thức giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài 23
1.3 Khái quát về tòa án và vai trò của tòa án trong tố tụng trọng tài
2.2 Xem xét thỏa thuận trọng tài, thẩm quyền giải quyết tranh chấp của
2.3 Sự hỗ trợ của tòa án trong việc thu thập chứng cứ, triệu tập người
2.3.1 Tòa án hỗ trợ thu thập chứng cứ 34
Trang 62.3.2 Tòa án hỗ trợ triệu tập người làm chứng 35
2.4 Sự hỗ trợ của tòa án trong việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời 36 2.5 Giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài 38
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ VAI TRÒ CỦA TÒA ÁN ĐỐI VỚI TỐ TỤNG TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 40 3.1.Thực trạng thực hiện vai trò của tòa án đối với hoạt động tố tụng
3.1.1 Về quy định Tòa án có thẩm quyền chỉ định, thay đổi Trọng tài viên 42
3.1.2 Về xem xét thỏa thuận trọng tài, thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp
của Hội đồng trọng tài Error! Bookmark not defined
3.1.3 Về việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời 43 3.1.4 Về quy định hủy phán quyết Trọng tài 44
3.2.Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện vai trò của tòa án đối với tố tụng trọng tài thương mại ở Việt Nam 45
3.2.1 Cần có cơ chế hỗ trợ pháp lý từ phía Nhà nước đối với các tổ chức phi Chính phủ, trong đó có trọng tài thương mại 45 3.2.3.Nâng cao năng lực của Thẩm phán trong quá trình thực hiện vai trò của
3.2.4 Lựa chọn Trung tâm trọng tài phù hợp 47 3.2.5 Về chỉ định, thay đổi Trọng tài viên 48 3.2.6 Về quy định hủy phán quyết của trọng tài 49
Trang 7BẢNG DANH MỤC VIẾT TẮT
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Công cuộc đổi mới và mở cửa nền kinh tế đã đem lại những thành quả to lớn
về kinh tế xã hội Nền kinh tế nước ta sau gần ba mươi năm đổi mới đã có những chuyển biến tích cực, hợp tác và giao lưu thương mại ngày càng phát triển Cũng trong bối cảnh đó, các quan hệ thương mại ngày càng trở nên đa dạng và phức tạp
Vì vậy, tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh thương mại là điều không thể tránh khỏi Do tính chất cũng như hậu quả của nó gây ra cho các chủ thể tham gia tranh chấp nói riêng và cho cả nền kinh tế nói chung, pháp luật Việt Nam cũng
đã sớm có những quan tâm nhất định đến hoạt động này, cũng như các phương thức giải quyết nó thể hiện thông qua các quy định cụ thể trong nhiều văn bản pháp luật Pháp luật Việt Nam đã quy định nhiều phương thức giải quyết tranh chấp như: thương lượng, hòa giải, tòa án hay trọng tài thương mại Đối với từng phương thức đều có những ưu điểm, hạn chế, không có phương thức nào chiếm vị thế tuyệt đôi Tuy nhiên, căn cứ vào những ưu điểm vượt trội của trọng tài thì phương thức này đang được các doanh nghiệp lựa chọn Trọng tài thương mại là hình thức giải quyết tranh chấp khá phổ biến trên thế giới, nhất là tại những nước có nền kinh tế thị trường phát triển Có thể nói, từ khi Việt Nam nỗ lực hoàn chỉnh khung pháp lý cho hoạt động của trọng tài bằng việc ban hành Pháp lệnh trọng tài thương mại năm
2003 và Luật trọng tài thương mại 2010, việc giải quyết các tranh chấp thương mại bằng trọng tài đã thực sự chuyển biến và mang lại những dấu hiệu tích cực Cùng với hoạt động của trọng tài thì sự hỗ trợ của tòa án cũng có những tác động nhất định tới hiệu quả giải quyết các tranh chấp đó Tòa án có vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động tố tụng trọng tài thương mại Với tư cách là một cơ quan tài phán nhân danh Nhà nước, tòa án góp phần làm cho hoạt động tố tụng của trọng tài thương mại thực hiện được một cách nhanh chóng, chính xác, công bằng hơn Tuy nhiên, với những quy định của pháp luật hiện hành về vai trò của tòa án đối với hoạt động tố tụng trọng tài đã có một số những bất cập Nhận thấy được điều đó, em
chọn đề tài “Vai trò của Tòa án đối với hoạt động tố tụng Trọng tài thương mại
ở Việt Nam hiện nay – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”
Trang 92 Tình hình nghiên cứu đề tài
Những năm gần đây, vấn đề “Vai trò của tòa án đối với hoạt động tố tụng trọng tài” được quan tâm nghiên cứu nhằm tăng cường hiệu quả giải quyết các tranh chấp thương mại, đồng thời nâng cao hiệu quả trong việc thực hiện vai trò của tòa
án đối với việc giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài Đã có những công trình nghiên cứu về vấn đề này dưới nhiều góc độ khác nhau Trước khi Luật trọng tài thương mại năm 2010 được thông qua, ở Việt Nam đã một số công trình nghiên cứu liên quan đến trọng tài thương mại Sau khi Luật trọng tài thương mại 2010 ra đời, vấn đề nghiên cứu pháp luật về trọng tài thương mại đã nhận được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học và đã có một số đề tài nghiên cứu về vai trò của tòa án đối với hoạt động tố tụng trọng tài
Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, Luật trọng tài thương mại năm 2010 thay thế cho pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003 bị đánh giá là còn nhiều điểm chưa hợp lý, chưa hấp dẫn các doanh nghiệp tìm đến con đường giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại, một phương thức tỏ ra có ưu thế hơn hẳn tòa án được thừa nhận ở hầu hết các nước trên thế giới Trong đó, vai trò của tòa án đối với hoạt động của trọng tài thương mại là một trong những vấn đề cần phải bàn tới nhiều nhất Vì vậy, em chọn đề tài này cũng là để tìm hiểu sâu sắc hơn về các quy định pháp luật về vấn đề này để có thể đưa ra được nhận xét chính xác nhất, qua đó nêu lên một số đề xuất để việc thực hiện thủ tục giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài thương mại được thuận lợi hơn
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu, làm sáng tỏ những quy định pháp luật về TTTM, giải quyết tranh chấp thương mại bằng TTTM và những quy định pháp luật
về sự hỗ trợ của tòa án trong giải quyết tranh chấp thương mại để làm rõ các vấn đề
về vai trò của tòa án trong tố tụng TTTM Qua đó, phân tích làm rõ thực trạng pháp luật về vai trò của tòa án đối với tố tụng trọng tài ở Việt Nam hiện nay và thực tiễn
áp dụng pháp luật của vấn đề này Từ thực tiễn áp dụng, khóa luận đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện vai trò của tòa án đối với hoạt động tố
Trang 10tụng trọng tài ở Việt Nam hiện nay Đề tài nghiên cứu một cách hệ thống các vấn đề
lý luận, các khía cạnh pháp lý về vai trò của tòa án trong tố tụng trọng tài nhằm tiếp cận vấn đề sâu hơn và có cái nhìn toàn diện hơn
Để đạt được những mục đích đã nêu ra ở trên, đề tài thực hiện những nhiệm vụ sau:
- Một là, nghiên cứu và phân tích làm rõ cơ sở lý luận về TTTM và vai trò của tòa án đối với hoạt động tố tụng TTTM
- Hai là, nghiên cứu và phân tích nội dung quy định pháp luật hiện hành về vai trò của tòa án đối với hoạt động tố tụng TTTM ở Việt Nam
- Ba là, phân tích và đánh giá thực trạng thi hành pháp luật về vai trò của tòa
án đối với hoạt động tố tụng trọng tài ở Việt Nam hiện nay và một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của việc thực hiện vai trò của tòa án đối với hoạt động tố tụng TTTM
4 Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lê Nin
Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu, đề tài đã áp dụng một số phương pháp cụ thể như: phương pháp phân tích để làm sáng tỏ nội dung thuộc phạm vi nghiên cứu; phương pháp so sánh được sử dụng để làm rõ mức độ tương quan giữa các quy định, các quan điểm để từ đó có những đánh giá, nhận định khách quan về nội dụng nghiên cứu; phương pháp tổng hợp được sử dụng để khái quát hóa nội dung nghiên cứu một cách có hệ thống, làm cho vấn đề nghiên cứu trở nên ngắn gọn, súc tích, dễ hiểu; phương pháp thống kê đem đến một cách nhìn cụ thể hơn thông qua những con số
Trang 11Chương II: Nội dung quy định pháp luật Việt Nam về vai trò của tòa án đối với hoạt động tố tụng trọng tài thương mại
Chương III: Thực trạng thi hành pháp luật về vai trò của tòa án đối với tố tụng trọng tài thương mại ở Việt Nam hiện nay và một số kiến nghị
Trang 12CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI VÀ VAI TRÒ CỦA TÒA ÁN TRONG TỐ TỤNG TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI
1.1.1 Khái niệm trọng tài thương mại
Trong cơ chế nền kinh tế thị trường, các chủ thể có quyền tự chủ rất cao và họ
có toàn quyền quyết định việc thiết lập các quan hệ kinh tế - thương mại của mình miễn là không trái với các quy định của pháp luật Chính vì vậy, các quan hệ thương mại trong nền kinh tế rất đa dạng và phức tạp Tính phức tạp và chồng chéo đan xen của các quan hệ thương mại ẩn chứa một nguy cơ phát sinh tranh chấp rất cao Các chủ thể kinh tế khi tham gia vào những quan hệ thương mại mà họ cho là có lợi, có thể là vật chất hoặc phi vật chất và khi mục đích có nguy cơ không đạt được cũng sẽ phát sinh tranh chấp Trong quan hệ thương mại, quyền lợi của bên này cũng tương ứng với nghĩa vụ của bên kia, điều đó khiến cho xung đột lợi ích sẽ phát sinh nếu các bên không đi đến một thỏa thuận thống nhất dung hòa được quyền lợi và nghĩa
vụ của họ Khi tranh chấp xảy ra phải có phương thức giải quyết tranh chấp phù hợp
là đòi hỏi khách quan để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể kinh
tế, đảm bảo nguyên tắc pháp chế, thông qua đó góp phần tạo lập môi trường pháp lý lành mạnh để thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế - xã hội
Giải quyết tranh chấp trong kinh doanh trong điều kiện kinh tế thị trường phải đáp ứng các yêu cầu:
- Nhanh chóng, thuận lợi, không làm hạn chế, cản trở các hoạt động kinh doanh
- Khôi phục và duy trì các quan hệ hợp tác, tín nhiệm giữa các bên trong kinh doanh
- Giữ bí mật kinh doanh, uy tín của các bên trên thương trường
- Kinh tế nhất
Căn cứ vào nhu cầu điều chỉnh pháp luật có sự phân hóa đối với các hoạt động kinh doanh thì cho tới thời điểm hiện tại, các phương thức giải quyết tranh chấp chủ yếu được áp dụng rộng rãi bao gồm: thương lượng, hòa giải, trọng tài thương mại
Trang 13và giải quyết thông qua tòa án Cùng với sự phát triển kinh tế, TTTM đã trở thành phương thức giải quyết tranh chấp thương mại phổ biến nhất và được các chủ thể kinh tế ưu tiên lựa chọn
Trọng tài là một trong những phương thức cổ xưa nhất để giải quyết bất hòa giữa người với người, giữa quốc gia với quốc gia Người Hy Lạp và La Mã cổ đại
đã biết sử dụng phương thức này để giải quyết tranh chấp Quy định sơ khai về trọng tài trong luật mua bán hàng hóa cho phép các lái buôn được tự phân xử bất hòa của mình không cần có sự can thiệp của Nhà nước Về sau, Luật La Mã cho phép mở rộng phạm vi tranh chấp, không chỉ trong biên giới lãnh thổ, mà còn ở những nước La Mã có trao đổi hàng hóa, trải rộng trên khắp lục địa Châu Âu
Trong hệ thống pháp luật của Anh, văn bản đầu tiên về trọng tài phải kể đến Luật trọng tài năm 1697, nhưng vào thời điểm luật được thông qua thì nó đã trở thành một phương thức rất phổ biến vì phán quyết đầu tiên của trọng tài ở Anh đã được đưa ra năm 1610 Tuy nhiên, quy định sơ khai về trọng tài trong hệ thống luật pháp Common law thể hiện một hạn chế cơ bản là bất cứ bên tham gia tranh chấp nào cũng có thể từ chối thực hiện phán quyết của trọng tài nếu thấy phán quyết đó bất lợi cho mình Hạn chế này đã được khắc phục trong Luật trọng tài năm 1697 Trong hiệp ước Jay năm 1974, Anh và Mỹ đã thống nhất đưa các vấn đề còn tranh chấp liên quan đến các khoản nợ và biên giới ra giải quyết ở trọng tài Việc giải quyết tranh chấp kéo dài 7 năm và được coi là kết thục thành công Từ đầu thế kỷ
XX, các nước trên thế giới (trong đó có Pháp và Mỹ) bắt đầu thông qua các đạo luật quy định và khuyến khích giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thay cho tòa án
Trước sự phát triển mạnh mẽ của thương mại thế giới, phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài cũng phát triển, dẫn tới việc hình thành những tổ chức trọng tài quốc tế để giải quyết các tranh chấp phát sinh trong các hợp đồng thương mại quốc tế Tầm quan trọng của trọng tài ngày càng được thừa nhận rộng rãi Trọng tài là một cơ chế giải quyết tranh chấp độc lập và ngày càng được sử dụng rộng rãi trong thực tiễn xét xử quốc tế, đặc biệt là trong lĩnh vực quan hệ kinh tế quốc tế Cuối thế kỷ XIX, người ta đã cố gắng hợp thức hóa tư cách pháp lý cho hình thức trọng tài qua hai Hội nghị Quốc tế Đó là hội nghị Hòa Bình được tổ chức
Trang 14tại La – Hay, Hà Lan năm 1899 và năm 1907 Hai hội nghị này đã đi đến việc soạn thảo quy chế và thủ tục và nỗ lực hướng dẫn các quốc gia áp dụng triệt để các hiệp ước trọng tài Cũng như các thuật ngữ khoa học pháp lý khác, khái niệm “trọng tài”
đã được đề cập nhiều trong luật quốc tế Định nghĩa sớm nhất về trọng tài được nêu
trong công ước La – Hay năm 1899, theo đó: “Trọng tài là nhằm để giải quyết
những bất đồng của các bên, thông qua một người thứ ba do chính các bên lựa chọn và đặt trên cơ sở tôn trọng luật pháp” Công ước La-Hay năm 1907 qui định:
“Trọng tài quốc tế có đối tượng giải quyết là những tranh chấp giữa các quốc gia
qua sự can thiệp của những trọng tài viên do các quốc gia tranh chấp lựa chọn và đặt trên cơ sở của sự tôn trọng luật pháp” (Theo: Trần Thị Tường Vân, Hội nghị
khoa học trẻ Đại học Quốc gia Hồ Chí Minh lần 1 “Pháp luật hiện hành về trọng tài thương mại trên hành trình hội nhập và phát triển”)
Trong khoa học pháp lý, TTTM được nghiên cứu dưới nhiều bình diện khác nhau và do đó, hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về trọng tài Tuy nhiên, có hai cách tiếp cận phổ biến nhất, đó là:
Thứ nhất, TTTM là phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt
động thương mại Theo cuốn đại từ điển kinh tế thị trường, Trọng tài được hiểu là phương pháp giải quyết hòa bình các vụ tranh chấp Ở đó, chỉ đôi bên đương sự tự nguyện đem những sự việc, những vấn đề tranh chấp giao cho người thứ ba có tư cách công bằng, chính trực xét xử, lời phán quyết do người này đưa ra có hiệu lực ràng buộc với hai bên tranh chấp (Theo: đại từ điển kinh tế thị trường (1998), Nhà xuất bản bách khoa, Hà Nội) Bên cạnh đó, theo Hội đồng trọng tài Mỹ AAA
(American Arbitration Association) thì: “Trọng tài là cách thức giải quyết tranh
chấp bằng cách đệ trình tranh chấp đó cho một số người khách quan xem xét giải quyết và họ sẽ đưa ra quyết định cuối cùng, có giá trị bắt buộc các bên phải thi hành”
Ở Việt Nam, chế định về TTTM được du nhập vào hệ thống pháp luật từ cuối thế kỷ XIX Tuy nhiên trong giai đoạn sơ khai (giai đoạn trước năm 2003), không
có một luật về trọng tài thống nhất điều chỉnh hệ thống trọng tài trong nước và trọng
Trang 15bảo đảm thi hành Vì thế, mô hình trọng tài thương mại chưa thực sự đạt được những thành tựu đáng kể trên hành trình tiếp cận những chuẩn mực của trọng tài thương mại hiện đại Ngày 25/02/2003, Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh TTTM 2003, thể hiện nỗ lực hội nhập to lớn của Việt Nam cũng như đánh dấu giai đoạn chuyển tiếp trong quá trình phát triển của pháp luật trọng tài ở nước ta
Tại khoản 1, Điều 2 Pháp lệnh TTTM năm 2003 quy định: “Trọng tài thương mại là
phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại được các bên thỏa thuận và được tiến hành theo trình tự, thủ tục do Pháp lệnh này quy định”
Qua hơn sáu năm áp dụng và cùng với sự phát triển của kinh tế – xã hội, một số quy định của Pháp lệnh đã bộc lộ bất cập và không còn phù hợp Do vậy, Pháp lệnh TTTM năm 2003 đã được thay thế bằng Luật TTTM năm 2010 được Quốc Hội thông qua ngày 17/06/2010 và chính thức có hiệu lực ngày 01/01/2011 Theo quy
định tại khoản 1, Điều 3 của Luật TTTM năm 2010 thì “Trọng tài thương mại là
phương thức giải quyết tranh chấp do các bên thỏa thuận và được tiến hành theo quy định của Luật này”
Thứ hai, TTTM là một cơ quan giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt
động thương mại, được thành lập tự nguyện bởi các TTV để giải quyết các tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại theo yêu cầu của các bên tranh chấp Dưới góc độ này, trọng tài bao gồm những cá nhân được các bên lựa chọn để giải quyết các tranh chấp phát sinh từ các vụ việc dân sự của họ hay là một
cơ quan trung gian được các bên đương sự giao tranh chấp cho để xét xử
Dù được tiếp cận dưới góc độ nào, xét về mặt bản chất, TTTM là một phương thức giải quyết tranh chấp do các bên tự thỏa thuận lập ra nhằm giải quyết dứt điểm các vụ tranh chấp Nói cách khác, trọng tài là cơ quan xét xử mang tính chất “tư” do các bên đương sự thỏa thuận lựa chọn để giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại của chính họ
1.1.2 Đặc điểm trọng tài thương mại
Với tư cách là một hình thức giải quyết tranh chấp thương mại, TTTM có những đặc điểm sau:
Trang 16Thứ nhất, Trọng tài là một phương thức giải quyết tranh chấp có sự tham gia
của bên thứ ba – một TTV duy nhất hoặc HĐTT Trọng tài do các bên tranh chấp thỏa thuận lựa chọn trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp sẽ hoàn toàn độc lập với các bên, đưa ra phán quyết có tính chất bắt buộc để bảo vệ quyền lợi của các bên
Thứ hai, Trọng tài là một hình thức giải quyết tranh chấp thông qua một thủ
tục tố tụng chặt chẽ Tuy các quy tắc tố tụng trọng tài ở các quốc gia rất khác nhau nhưng nhìn chung quy tắc lựa chọn TTV và thủ tục của hầu hết các Trung tâm trọng tài trên thế giới đều dựa theo khuôn mẫu của Quy tắc trọng tài mẫu UNCITRAL Khi giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài, các TTV và các đương sự phải tuân thủ đúng trình tự tố tụng mà pháp luật trọng tài, điều lệ và quy tắc tố tụng của tổ chức trọng tài đó quy định
Thứ ba, cơ chế giải quyết tranh chấp bằng trọng tài là sự kết hợp giữa yếu tố
thỏa thuận và tài phán Trọng tài không có thẩm quyền đương nhiên mà xuất phát từ
sự thỏa thuận từ các chủ thể tranh chấp đối với trọng tài Nếu muốn một tranh chấp được đưa ra trọng tài giải quyết thì các bên phải có thỏa thuận lựa chọn trọng tài giải quyết vào thời điểm trước hoặc kể cả sau khi tranh chấp xảy ra Nếu không có thỏa thuận trọng tài hoặc có nhưng thỏa thuận trọng tài vô hiệu thì trọng tài cũng không có thẩm quyền giải quyết Thỏa thuận làm tiền đề cho phán quyết và không thể có phán quyết thoát ly những yếu tố đã được thỏa thuận Bởi vậy, về nguyên tắc thẩm quyền của trọng tài không bị giới hạn bởi pháp luật Các đương sự có thể lựa chọn bất cứ một trọng tài vụ việc (Trọng tài ad-hoc) hoặc một tổ chức trọng tài nào trên thế giới Tuy nhiên, do trọng tài không phải là cơ quan xét xử của Nhà nước như tòa án nên phán quyết của trọng tài không mang tính quyền lực Nhà nước Phán quyết của trọng tài có giá trị ràng buộc đối với các bên tranh chấp nhưng không có giá trị ràng buộc đối với bên thứ ba Ngay cả khi một bên tranh chấp không tôn trọng phán quyết trọng tài và không tự nguyện thi hành phán quyết thì trọng tài cũng không có cơ chế cưỡng chế thi hành Phán quyết trọng tài do các bên tự nguyện thi hành hoặc nhờ đến sự hỗ trợ của cơ quan Nhà nước cụ thể là tòa án để cưỡng chế thi hành
Trang 17Thứ tư, hình thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài đã đảm bảo quyền tự do
định đoạt của các đương sự cao hơn so với quyết định giải quyết tranh chấp bằng tòa án như:
Các đương sự có quyền lựa chọn TTV, lựa chọn địa điểm tranh chấp, quy tắc
tố tụng và được chọn luật áp dụng cho tranh chấp Điều 14, Luật TTTM năm 2010 quy định:
“1 Đối với tranh chấp không có yếu tố nước ngoài, Hội đồng trọng tài áp dụng
pháp luật Việt Nam để giải quyết tranh chấp
2 Đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài, Hội đồng trọng tài áp dụng pháp luật
do các bên lựa chọn; nếu các bên không có thỏa thuận về luật áp dụng thì Hội đồng trọng tài quyết định áp dụng pháp luật mà Hội đồng trọng tài cho là phù hợp nhất
3 Trường hợp pháp luật Việt Nam, pháp luật do các bên lựa chọn không có quy định cụ thể liên quan đến nội dung tranh chấp thì Hội đồng trọng tài được áp dụng tập quán quốc tế để giải quyết tranh chấp nếu việc áp dụng hoặc hậu quả của việc
áp dụng đó không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam”
Ngoài ra, một trong những nguyên tắc khi giải quyết tranh chấp thương mại bằng TTTM đó là phiên họp giải quyết tranh chấp thương mại bằng TTTM không diễn ra công khai trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác Nguyên tắc này đã thể hiện được sự tôn trọng tối đa quyền tự định đoạt do đó ngoài nguyên đơn và bị đơn, Trọng tài chỉ triệu tập các đương sự khác khi cần thiết
Với tư cách là một cơ quan giải quyết tranh chấp, TTTM có những đặc điểm như sau:
Thứ nhất, TTTM là một loại hình tổ chức phi Chính phủ (không hưởng ngân
sách nhà nước), hoạt động theo pháp luật và quy chế trọng tài Thuật ngữ “Trọng tài phi Chính phủ” không có nghĩa là cơ quan này sẽ không chịu sự quản lý, giám sát của Nhà nước Phi Chính phủ là để phân biệt với một cơ quan tài phán Nhà nước,
có quyền lực Nhà nước Nhà nước không can thiệp sâu vào các hoạt động của cơ quan trọng tài, nhưng sẽ thực hiện vai trò quản lý của mình thông qua hệ thống các quy định pháp luật, cũng như những tác động khác như tham gia điều ước quốc tế,
Trang 18đào tạo, hỗ trợ kinh phí và cơ sở vật chất…TTTM hoạt động theo pháp luật và quy chế trọng tài Nó có quyền ban hành phán quyết như Tòa án và có giá trị ràng buộc với các bên tranh chấp Tính Phi Chính phủ được thể hiện:
- Tổ chức Trọng tài không phải được thành lập bởi Nhà nước mà được thành lập theo sáng kiến của TTV sau khi được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép;
- HĐTT, các tổ chức Trọng tài và các TTV không nằm trong hệ thống cơ quan quản lý Nhà nước, cũng không thuộc hệ thống cơ quan xét xử Nhà nước
- Các tổ chức Trọng tài hoạt động theo nguyên tắc tự trang trải mà không được cấp kinh phí hoạt động trong ngân sách Nhà nước
- TTV hoặc HĐTT không nhân danh quyền lực Nhà nước mà nhân danh người thứ ba để ra phán quyết
- HĐTT vẫn luôn đặt dưới sự hỗ trợ và quản lý của Nhà nước, Nhà nước ban hành các văn bản pháp luật tạo cơ sở pháp lý cho việc tổ chức và hoạt động như cấp, thay đổi, bổ sung, thu hồi giấy phép thành lập, giấy đăng ký hoạt động của các Trung tâm trọng tài Nhà nước hỗ trợ các hoạt động tố tụng của trọng tài như: hỗ trợ chỉ định, thay đổi TTV, cưỡng chế thi hành phán quyết trọng tài
Thứ hai, phán quyết của TTTM có giá trị chung thẩm và không thể kháng cáo trước
bất kỳ một cơ quan, tổ chức nào Trong khi tòa án xử từ sơ thẩm đến phúc thẩm, rồi còn thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm, rồi còn khiếu nại, khiếu kiện và còn có sự tham gia của nhiều cơ quan khác (như Viện kiểm sát ) Còn cách thức giải quyết bằng trọng tài lại hết sức đơn giản và linh động Tính chung thẩm của quyết định trọng tài không chỉ có giá trị bắt buộc đối với các bên đương sự mà nó còn khiến các bên không thể chống án hay kháng cáo Xét xử tại trọng tài chỉ có một cấp xét
xử Khi tuyên phán quyết xong, HĐTT hoàn thành nhiệm vụ và chấm dứt sự tồn tại của mình Những ưu điểm này đặc biệt quan trọng đối với hoạt động đầu tư thương mại Chính những ưu điểm đó bảo đảm rằng nếu các bên ưu tiên giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thì các nhà đầu tư sẽ giảm rủi ro cho bên nước ngoài khi quyết định tham gia đầu tư thương mại tại Việt Nam; tạo thuận lợi cho các bên nước ngoài
và cả bên Việt Nam thông qua việc giải quyết tranh chấp tại Việt Nam Phán quyết
Trang 19trọng tài được thực hiện ngay, đáp ứng yêu cầu khôi phục nhanh những tổn thất về tiền, hàng trong kinh doanh thương mại Phán quyết trọng tài là quyết định cuối cùng và có hiệu lực pháp luật, như bản án của tòa án Tuy là chung thẩm, nhưng tố tụng trọng tài không đặt vấn đề cưỡng chế thi hành, nên bên đương sự nào không chấp nhận phán quyết của trọng tài thì có thể kiện ra Tòa kinh tế theo thủ tục giải quyết các vụ án
1.1.3 Phân loại trọng tài thương mại
Trọng tài vụ việc (Ad-hoc) là loại hình xuất hiện sớm nhất và rất phổ biến trên thế
giới Trọng tài vụ việc là hình thức trọng tại được lập ra để giải quyết những tranh chấp cụ thể khi có yêu cầu và tự giải thể khi giải quyết xong những tranh chấp đó Theo khái niệm tại trọng tài và các phương thức giải quyết tranh chấp lựa chọn do Trung tâm Thương mại Quốc tế UNCTAD/WTO – Geneva: ITC thì: “Trọng tài vụ việc có nghĩa là trọng tài không được tiến hành theo quy tắc của một tổ chức Trọng tài thường trực Do các bên không bắt buộc phải tiến hành Trọng tài theo quy tắc của một tổ chức Trọng tài thường trực nên họ có thể tự do quy định quy tắc tố tụng riêng Nói cách khác, Trọng tài vụ việc là trọng tài tự tiến hành (do it yourself arbitration).”
Trọng tài vụ việc là loại hình trọng tài chỉ có tính chất lâm thời, không có trụ sở và
bộ máy cố định và không lệ thuộc vào bất cứ một quy tắc xét xử nào Về nguyên tắc, các bên đương sự khi yêu cầu trọng tài Ad-hoc xét xử có quyền lựa chọn thủ tục, các phương thức tiến hành tố tụng Tính chất của trọng tài vụ việc là hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của các bên đương sự, do vậy, trọng tài vụ việc có một số đặc điểm sau:
Một là, các bên có quyền lựa chọn TTV không bị giới hạn vào một danh sách trọng
tài có sẵn như ở hình thức trọng tài quy chế TTV có thể là bất cứ ai mà các bên tín nhiệm Thông thường đó là các luật gia, luật sư, giáo sư các trường đại học, các thương gia có uy tín, chuyên gia hàng đầu trong nhiều lĩnh vực như ngoại thương, đầu tư, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, xây dựng, công nghệ thông tin, sở hữu công
Trang 20nghiệp Họ là những người vừa có kiến thức về pháp lý lại vừa có kinh nghiệm trong hoạt động thương mại
Hai là, các bên cũng có toàn quyền trong việc xác lập quy chế tố tụng như cách
thiết lập HĐTT và thủ tục giải quyết thích hợp với từng vụ tranh chấp Các bên sẽ
tự tổ chức HĐTT, tự thỏa thuận quá trình tố tụng Hoạt động trọng tài không lệ thuộc vào bất cứ quy tắc xét xử nào miễn là bảo đảm được nguyên tắc xét xử khách quan, vô tư và đúng pháp luật
Trọng tài vụ việc là hình thức tổ chức đơn giản, khá linh hoạt và mềm dẻo về phương thức hoạt động nên nói chung phù hợp với những tranh chấp ít tình tiết phức tạp, có nhu cầu giải quyết nhanh chóng và nhất là các bên tranh chấp có kiến thức và hiểu biết pháp luật cũng như kinh nghiệm tranh tụng Nhưng, trên thực tế, đây là một quá trình tốn thời gian nhằm thảo ra những quy định đặc biệt dành riêng cho trọng tài vụ việc Thông thường hình thức này được áp dụng với TTTM quốc
tế, phù hợp với những trường hợp mà thiệt hại lớn, đặc biệt trong những vụ việc có liên quan tới chủ thể là một quốc gia hay một tổ chức quốc gia có liên quan và các vấn đề thuộc chính sách và quyền lực công có thể phát sinh Thông qua trọng tài vụ việc, có thể tạo ra thủ tục về tố tụng có lợi cho cả hai bên, mà vẫn đạt được những yêu cầu đặt ra trong những vụ việc nhạy cảm có liên quan đến một bên chủ thể là quốc gia Trước khi Pháp lệnh TTTM 2003 ra đời, ở Việt Nam, trọng tài vụ việc chỉ được thừa nhận để giải quyết các tranh chấp quốc tế Điều này được quy định trong nhiều văn bản pháp lý khác nhau như: Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Luật hàng không dân dụng, Pháp lệnh chuyển giao công nghệ…Pháp lệnh TTTM 2003 lần đầu tiên quy định tương đối cụ thể về Trọng tài vụ việc, cho phép Trọng tài vụ việc giải quyết tất cả các tranh chấp phát sinh kể cả tranh chấp quốc tế và trong nước miễn là các bên đương sự thỏa thuận lựa chọn Pháp lệnh quy định về việc chọn TTV để thành lập HĐTT, thủ tục tố tụng, việc hủy quyết định trọng tài, việc thi hành quyết định của trọng tài vụ việc tương tự như trọng tài quy chế Hiện nay, Luật TTTM 2010 được ban hành trên cơ sở kế thừa những quy định của Pháp lệnh TTTM 2003 và bổ sung thêm một số quy định mới về trọng tài vụ việc như việc
Trang 21đăng ký phán quyết trọng tài vụ việc Những quy định này là cơ sở vững chắc để Trọng tài vụ việc hoạt động song song với trọng tài quy chế và tòa án
Trọng tài quy chế là những trọng tài có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, có trụ sở cố định,
có danh sách TTV và hoạt động theo điều lệ riêng, được thành lập để giải quyết các tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại Phần lớn các tổ chức trọng tài lớn, có uy tín riêng trên thế giới đều được thành lập theo mô hình này dưới các tên gọi như: Trung tâm trọng tài (như Trung tâm Trọng tài Quốc tế Singapo (SIAC), Trung tâm Trọng tài Thương mại Quốc tế của Australia, Trung tâm Trọng tài Quốc tế Hồng Kông…), các Hiệp hội trọng tài (Hiệp hội Trọng tài Hoa Kỳ (AAA), Hiệp hội Trọng tài Thương mại Nhật Bản) hay các Viện trọng tài (Viện Trọng tài Stockhom của Thụy Điển, Viện Trọng tài Singapo, Viện trọng tài Luân Đôn) Các tổ chức này tồn tại độc lập, không nằm trong hệ thống cơ quan nhà nước và hoạt động một cách thường xuyên, sẵn sàng giải quyết các tranh chấp khi các đương sự yêu cầu Tuy nhiên cũng có một số ngoại lệ tồn tại trong pháp luật trọng tài ở một số nước Châu Á như Trung Quốc và Thái Lan Ở Trung Quốc, các
Ủy ban Trọng tài Kinh tế là cơ quan nhà nước thuộc Cục Quản lý Hành chính Công thương các cấp Ở Thái Lan, Viện trọng tài trực thuộc Bộ Tư pháp, có quy tắc tố tụng riêng nhằm hỗ trợ, phát triển các hoạt động hòa giải và trọng tài
Ở Việt Nam, trọng tài thường trực hay trọng tài quy chế là hình thức được pháp luật ghi nhận trước Ngay từ năm 1963, trọng tài thường trực đã ra đời Đó là Hội đồng trọng tài ngoại thương được tổ chức theo Nghị định số 59/NĐ-CP ngày 30/04/1963
và Hội đồng trọng tài hàng hải được tổ chức theo NĐ 153 ngày 05/10/1964 của Hội đồng chính phủ Đến năm 1993, theo Quyết định số 204/QĐ-TTg ngày 28/04/1993 của thủ tướng chính phủ, cho phép thành lập Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt Nam bên cạnh Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, trên cơ sở hợp nhất Hội đồng Trọng tài Ngoại thương và Hội đồng Trọng tài Hàng hải Đồng thời với việc ban hành nghị định
116/NĐ-CP ngày 05/09/1994 về tổ chức và hoạt động của trọng tài kinh tế cũng cho ra đời các trung tâm trọng tài là những tổ chức trọng tài thường trực Các Trung tâm trọng tài kinh tế đã mang dáng dấp của một tổ chức phi chính phủ, có Điều lệ
Trang 22và con dấu nhưng vẫn chưa có tư cách pháp nhân Điều lệ của các Trung tâm trọng tài kinh tế cần được sự chuẩn y của Chủ tịch UBND cấp tỉnh, các TTV trong danh sách TTV phải do Hội đồng xét chọn TTV do Bộ Tư pháp thành lập, xét duyệt và được Bộ trưởng Bộ tư pháp công nhận và cấp thẻ TTV có thời hạn hai năm Đến Pháp lệnh TTTM 2003, TTTM được chính thức thừa nhận là tổ chức phi Chính phủ,
có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng, danh sách TTV do tổ chức trọng tài tự lựa chọn Quy định này tiếp tục được ghi nhận trong Luật TTTM năm
2010
Như vậy, Luật TTTM năm 2010 cũng phân loại TTTM thành hai hình thức, đó là trọng tài vụ việc và trọng tài quy chế Đây cũng là một điểm mới của Luật TTTM năm 2010 khi không gọi trọng tài thường trực như trong Pháp lệnh TTTM năm
2003 mà thay bằng trọng tài quy chế Nhìn chung, sự thay đổi này chủ yếu là thay đổi về tên, còn về bản chất thì loại hình trọng tài này không khác biệt đáng kể
1.2 Tổng quan về phương thức giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài
chấp thương mại bằng trọng tài
Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, TTTM, với tư cách là một cơ chế giải quyết tranh chấp ngoài toà án, đã và đang góp phần không nhỏ vào sự ổn định của hoạt động thương mại trên thế giới Chế định trọng tài du nhập vào hệ thống pháp luật nước ta từ cuối thế kỷ XIX Trong một tranh chấp đất đai năm 1897, Tòa thượng thẩm Sài Gòn xét rằng “trọng tài được thừa nhận trong pháp luật An Nam” Trong thời gian này, các bộ luật dân sự rồi toà án thương mại lần lượt ra đời Như vậy, cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, chế định trọng tài đã là một phần trong pháp luật
tố tụng dân sự Tuy nhiên, bối cảnh xã hội đương thời không thuận lợi cho sự phát triển của mô hình trên Do đó, về cơ bản, trọng tài không có tác động đáng kể đến
xã hội Việt Nam trong giai đoạn này
Những sự kiện lịch sử diễn ra vào giữa thế kỷ XX đã làm thay đổi vận mệnh quốc gia, trong đó có hệ thống pháp luật Cùng với chế độ hợp đồng kinh tế, các tổ
Trang 23chức trọng tài kinh tế được hình thành tuy mang nét khác biệt cơ bản so với TTTM hiện đại Bên cạnh đó, còn tồn tại trọng tài phi chính phủ, đó là Hội đồng trọng tài ngoại thương và Hội đồng trọng tài hàng hải Việt Nam Tuy nhiên, hai tổ chức trên chỉ thực sự hoạt động từ năm 1989 khi quan hệ ngoại thương bắt đầu phát triển Sau
đó chúng được sáp nhập thành Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam bên cạnh Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam theo Quyết định số 204/TTg ngày 28/03/1993 của Thủ tướng Chính phủ
Bước vào thời kỳ hội nhập, diện mạo pháp luật nước ta có sự thay đổi Lúc này tồn tại song song hai hệ thống cùng có chức năng giải quyết tranh chấp kinh tế
là trung tâm trọng tài kinh tế và tòa án kinh tế Ngoài ra, tồn tại hai mô hình trọng tài phi Chính phủ khác nhau Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam bên cạnh Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam hoạt động theo Điều lệ và Quy tắc tố tụng riêng Trong khi đó, có 5 trung tâm trọng tài được thành lập theo Nghị định 116/CP ngày 05/09/1994 với hoạt động thực tiễn rất hạn chế Do đó, thành công của Nghị định 116/CP khá khiêm tốn do yếu tố quản lý nhà nước được đề cao mà chưa chú ý đúng mức yếu tố thực tiễn Hơn nữa, các văn bản pháp luật trên đều có hiệu lực pháp lý thấp Do vậy, yêu cầu phải sớm ban hành văn bản thống nhất, có hiệu lực pháp lý cao nhằm ổn định mặt bằng pháp lý cho mô hình trọng tài trở nên bức thiết Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế cũng tác động tích cực đến việc xây dựng hành lang pháp lý, đặc biệt thông qua Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 1988 và các văn bản luật sửa đổi, bổ sung sau đó Năm 1995, Việt Nam gia nhập Công ước New York, đánh dấu sự cải thiện đáng kể môi trường pháp lý nhằm tạo thuận lợi trong việc thu hút đầu tư nước ngoài Trong thời kỳ này, không có một luật về trọng tài thống nhất điều chỉnh hệ thống trọng tài trong nước và trọng tài quốc tế Thêm vào đó, quyết định giải quyết tranh chấp của trọng tài không được bảo đảm thi hành
Vì thế, mô hình TTTM trong giai đoạn này chưa thực sự đạt được những thành tựu đáng kể trên hành trình tiếp cận những chuẩn mực của TTTM hiện đại
Nhằm khắc phục những hạn chế của pháp luật thời kỳ trước, sau sáu năm chuẩn bị, ngày 25/02/2003, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh TTTM gồm 8 chương và 37 điều, thể hiện nỗ lực to lớn của Việt Nam hoà cùng xu
Trang 24thế hội nhập Pháp lệnh TTTM năm 2003 đã đánh dấu bước ngoặt quan trọng mang tính chuyển tiếp trong tiến trình phát triển của pháp luật Việt Nam về TTTM Về cơ bản, Pháp lệnh đã khắc phục được những hạn chế trong các quy định về TTTM mà chính những hạn chế đó là nguyên nhân chủ yếu làm giảm sút đáng kể sự hấp dẫn của chế định trọng tài trong thực tiễn giải quyết tranh chấp nảy sinh trong quá trình kinh doanh, thương mại Trong bối cảnh Pháp lệnh TTTM 2003 được ban hành vào thời điểm Luật Thương mại 1997 vẫn đang còn hiệu lực nhưng các nhà lập pháp đã mạnh dãn đưa ra khái niệm thương mại theo hướng mở, tương thích với Luật mẫu
về TTTM UNICITRAL mà không bị bó buộc trong 14 hành vi quy định trong Luật thương mại năm 1997 Đây được coi là một bước đột phá trong công tác lập pháp thời điểm này Bên cạnh đó, về mô hình và cơ cấu tổ chức, Pháp lệnh TTTM 2003 thừa nhận hai hình thức trọng tài gồm Trung tâm trọng tài (Trọng tài thường trực hoặc tổ chức trọng tài) và trọng tài vụ việc (Trọng tài Ad hoc) Hình thức trọng tài
vụ việc lần đầu tiên được thừa nhận, tạo điều kiện cho các bên tự do lựa chọn hình thức trọng tài Trong một tranh chấp về việc giao nhận thầu xây dựng diễn ra vào cuối năm 2009, các bên đã tiến hành giải quyết tranh chấp thông qua một HĐTT vụ việc Đây được xem là vụ kiện bằng phương thức trọng tài vụ việc đầu tiên tại Việt Nam Hơn nữa, Pháp lệnh TTTM 2003 xác định phạm vi cụ thể hơn thẩm quyền của trọng tài bằng cách liệt kê các loại việc trọng tài được giải quyết (Điều 2) Pháp lệnh đưa ra cơ chế xác định hiệu lực pháp lý của thoả thuận trọng tài, làm cơ sở phân định thẩm quyền giữa trọng tài và tòa án Có thể nói, Pháp lệnh TTTM năm
2003 đã khắc phục được hầu hết những bất cập trong các quy định trước đây đặc biệt là quy định về sự hỗ trợ, giám sát của tòa án, cơ quan thi hành án trong quá trình giải quyết tranh chấp và thi hành quyết định trọng tài, khắc phục tình trạng phán quyết trọng tài được tuyên nhưng không có bất kỳ cơ chế thi hành nào khiến doanh nghiệp mất lòng tin khi lựa chọn trọng tài để giải quyết tranh chấp
Mặc dù Pháp lệnh TTTM 2003 đã thể hiện sự thành công đáng kể trong việc điều chỉnh các vấn đề chủ yếu của trọng tài Tuy nhiên, qua sáu năm thực hiện, Pháp lệnh TTTM 2003 cũng bộc lộ không ít bất cập và cần được khắc phục kịp thời như: thỏa thuận trọng tài vô hiệu, việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, việc
Trang 25việc hủy quyết định trọng tài mà đặc biệt là cơ chế hỗ trợ của tòa án, cơ quan thi hành án đối với quyết định trọng tài Do đó, thực hiện chiến lược cải cách tư pháp nhằm xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật TTTM
2010 được hội thông qua ngày 17/06/2010 và chính thức có hiệu lực ngày 01/01/2011 với mục tiêu ghi nhận chủ trương mở rộng các hình thức giải quyết tranh chấp trong hoạt động thương mại và một số quan hệ dân sự khác, đáp ứng nhu cầu và khuyến khích các bên tranh chấp sử dụng hình thức trọng tài, góp phần giảm tải hoạt động xét xử của hệ thống toà án hiện nay
Luật TTTM năm 2010 đã khắc phục việc phân định không rõ ràng phạm vi thẩm quyền của trọng tài đối với các tranh chấp thương mại, trên cơ sở đó bảo đảm
sự tương thích giữa các văn bản pháp luật hiện hành thông qua việc mở rộng phạm
vi thẩm quyền của trọng tài tới nhiều loại tranh chấp liên quan đến quyền và lợi ích của các bên (Điều 2) Đồng thời, Luật đã giới hạn lại các tình huống làm thoả thuận trọng tài vô hiệu (Điều 18) và quy định hướng giải quyết khi thỏa thuận trọng tài không rõ ràng nhằm nâng cao khả năng tính khả thi trong thực tế Luật TTTM 2010
đã kế thừa Pháp lệnh TTTM 2003 trong quy định về tiêu chuẩn tối thiểu đối với TTV nhằm hình thành đội ngũ TTV có năng lực, chuyên nghiệp và uy tín xã hội Tuy nhiên, Luật TTTM 2010 không yêu cầu TTV phải có quốc tịch Việt Nam như Pháp lệnh TTTM 2003, quy định mới của Luật đã đáp ứng nhu cầu thực tế trong giai đoạn Việt Nam tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế Bên cạnh đó, Luật TTTM năm 2010 đã phân biệt rõ khái niệm “quyết định trọng tài” và “phán quyết trọng tài” (Khoản 9 và 10, Điều 3) Trong quá trình giải quyết tranh chấp, HĐTT có quyền ra nhiều loại quyết định khác nhau, trong đó, phán quyết trọng tài là loại quyết định đặc biệt, giải quyết toàn bộ nội dung tranh chấp và chấm dứt tố tụng trọng tài Việc phân biệt trên phù hợp với thực tiễn cũng như pháp luật và thông lệ quốc tế Luật cũng đã xác định rõ nét mối quan hệ giữa trọng tài với toà án trong toàn bộ quá trình giải quyết tranh chấp bằng việc cụ thể hoá thẩm quyền của toà án đối với hoạt động trọng tài Thêm vào đó, Luật cũng nâng cao vị thế của trọng tài thông qua việc
mở rộng thẩm quyền của HĐTT như cho phép TTTM được thu thập chứng cứ, triệu tập nhân chứng, áp dụng, thay đổi, bổ sung, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời
Trang 26(Điều 47, 48, 49, 50 và 51) Quy định của Luật đã tiếp thu Luật mẫu UNCITRAL được sửa đổi năm 2006 nhằm nâng cao tính hiệu quả của hoạt động tố tụng trọng tài
1.2.2 Thẩm quyền giải quyết tranh chấp thương mại của trọng tài
TTTM được thành lập là để giải quyết các tranh chấp thương mại Nhưng những tranh chấp thương mại cũng chỉ có thể thuộc thẩm quyền giải quyết của TTTM nếu các bên tranh chấp có thỏa thuận trọng tài và thỏa thuận này có hiệu lực Khi các bên đã thỏa thuận đưa vụ tranh chấp ra giải quyết bằng trọng tài, họ trao cho HĐTT thẩm quyền giải quyết tranh chấp và phủ định thẩm quyền xét xử đó của tòa án trừ khi thỏa thuận trọng tài vô hiệu hoặc các bên hủy thỏa thuận trọng tài Theo Luật TTTM năm 2010, để TTTM có thẩm quyền giải quyết thì cần các điều kiện sau:
a Điều kiện về loại tranh chấp:
Thứ nhất, tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại Loại
tranh chấp này đòi hỏi các bên trong tranh chấp đều phải là các chủ thể tiến hành hoạt động thương mại, mà theo quy định tại khoản 1, Điều 3 Luật thương mại năm
2005 thì “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác” Chủ thể tiến hành hoạt động thương mại trước hết là thương nhân, bao gồm thương nhân Việt Nam và thương nhân nước ngoài Bên cạnh hoạt động của thương nhân, hoạt động của các cá nhân dưới hình thức tự mình hằng ngày thực hiện một, một số hoặc toàn bộ các hoạt động được pháp luật cho phép về mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác nhưng không thuộc đối tượng phải đăng ký kinh doanh theo quy định về pháp luật đăng ký kinh doanh và không gọi là “thương nhân” cũng được xem là hoạt động thương mại
Thứ hai, tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt
động thương mại Quy định này mở rộng phạm vị thẩm quyền của trọng tài Trước đây, theo quy định của Pháp lệnh TTTM năm 2003, TTTM chỉ có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại giữa các tổ chức, cá nhân
Trang 27kinh doanh, nên trong thực tế các tranh chấp giữa một bên là thương nhân và bên kia không phải thương nhân đã không được trọng tài giải quyết theo quy định của Pháp lệnh TTTM 2003 Theo quy đinh của Luật TTTM 2010, TTTM có thẩm quyền giải quyết các vụ tranh chấp mà trong đó chỉ cần một bên tranh chấp là thương nhân (thực hiện hoạt động thương mại), còn các bên còn lại có thể không phải thương nhân, cũng không phải thực hiện hoạt động thương mại
Thứ ba, các tranh chấp khác giữa các bên pháp luật quy định được giải quyết
bằng trọng tài Đây là quy định mở nhằm đảm bảo các luật ban hành sau này có thể quy định các tranh chấp phát sinh từ các quan hệ pháp luật thuộc phạm vi điều chỉnh của luật đó có thể được giải quyết bằng trọng tài mà không cần sửa đổi Luật TTTM năm 2010 Ngoài ra, theo quy định của Luật doanh nghiệp năm 2014, các tranh chấp nội bộ doanh nghiệp cũng có thể giải quyết bằng trọng tài Trước Luật TTTM 2010, trên thực tế các tranh chấp nội bộ doanh nghiệp không được trọng tài thụ lý giải quyết
b Điều kiện về thỏa thuận Trọng tài
Theo quy định tại khoản 1 Điều 5 Luật TTTM 2010 quy định: “Tranh chấp
được giải quyết bằng Trọng tài nếu các bên có thoả thuận trọng tài Thỏa thuận trọng tài có thể được lập trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp” Do đó có thể thấy,
một trong những điều kiện để một vụ tranh chấp được giải quyết bằng hình thức TTTM chính là sự thỏa thuận của các bên, TTTM chỉ có thể giải quyết các tranh chấp thương mại nếu các bên tranh chấp có thỏa thuận trọng tài và thỏa thuận này không thuộc vào các trường hợp vô hiệu theo quy định tại Điều 18 Luật TTTM
Trang 28- Hình thức của thoả thuận trọng tài không phù hợp với quy định tại Điều 16 của Luật TTTM 2010
- Một trong các bên bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép trong quá trình xác lập thoả thuận trọng tài và có yêu cầu tuyên bố thoả thuận trọng tài đó là vô hiệu
- Thỏa thuận trọng tài vi phạm điều cấm của pháp luật
Trước khi xem xét nội dung vụ tranh chấp, HĐTT phải xem xét hiệu lực của thỏa thuận trọng tài; thỏa thuận trọng tài có thể thực hiện được hay không và xem xét thẩm quyền của mình Trong trường hợp vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì HĐTT tiến hành giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật Trường hợp không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình, thỏa thuận trọng tài vô hiệu hoặc xác định rõ thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được thì HĐTT quyết định đình chỉ việc giải quyết và thông báo ngay cho các bên biết Khác với thẩm quyền của tòa án, thẩm quyền của trọng tài chỉ là thẩm quyền theo vụ việc, nếu được các bên tranh chấp lựa chọn đích danh Các nguyên tắc phân định thẩm quyền theo lãnh thổ, theo trụ sở hoặc chỗ ở của bị đơn và theo sự thỏa thuận của nguyên đơn không được áp dụng trong tố tụng trọng tài Mặt khác, theo quy định tại
điều 6 Luật TTTM 2010: “Trong trường hợp các bên tranh chấp đã có thỏa thuận
trọng tài mà một bên khởi kiện tại Tòa án thì Tòa án phải từ chối thụ lý, trừ trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu hoặc thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được” Do vậy, khi có người khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết vụ tranh chấp phát
sinh trong hoạt động thương mại thì tòa án yêu cầu người khởi kiện cho biết trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp các bên có thỏa thuận trọng tài hay không Lúc này,
dù không trực tiếp giải quyết, nhưng tòa án có vai trò hỗ trợ và giám sát hoạt động giải quyết tranh chấp bằng TTTM khi một trong các bên HĐTT có yêu cầu
1.2.3 Tố tụng trọng tài thương mại
Tố tụng TTTM được hiểu là trình tự, thủ tục xem xét, giải quyết vụ việc tranh chấp thương mại bằng hình thức TTTM nhằm giải quyết các vụ tranh chấp được nhanh chóng, chính xác, công minh và đúng pháp luật Tố tụng trọng tài là chế định hình thức, bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành và các quy định về trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp của mỗi thiết chế trọng tài (không
Trang 29trái quy định pháp luật), điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình giải quyết tranh chấp và giữa các bên tham gia giải quyết tranh chấp với nhau Việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài là một phương thức mềm dẻo và linh hoạt nhờ các quy định về tố tụng Chính ở phương thức giải quyết này, ý chí của các bên được tôn trọng, cho nên đại bộ phận các quy phạm về tố tụng trọng tài đều là những quy phạm tùy nghi và tính tùy nghi này là ở chỗ: cho phép có thỏa thuận khác và nếu không có thỏa thuận khác thì phải theo quy định của pháp luật Tố tụng trọng tài có
sự khác biệt và có ưu thế hơn so với tố tụng tài tòa án Thông thường, đối với các hợp đồng quốc tế, các bên rất khó thỏa thuận để lựa chọn một tòa án quốc gia Hơn nữa lựa chọn một tòa án quốc gia ở nước thứ ba thì hầu như không thích hợp Tố tụng tòa án thường kéo dài bởi các tòa án quốc gia bị quá tải công việc và tòa án quốc gia có các cấp thẩm quyền khác nhau Điều này khiến cho các bên chưa thỏa mãn có cơ hội yêu cầu xem xét lại nội dung vụ kiện Hơn nữa, tòa án quốc gia không phải bao giờ cũng chuyên về vấn đề thương mại và thẩm phán chưa hẳn đã
có đủ kiến thức để giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế Ở một số nước, tòa án quốc gia có thể được cho là không được đảm bảo về tính độc lập và khách quan, những yêu cầu cơ bản đối với cơ quan tư pháp tốt Nhìn chung, đặc trưng của tố tụng tòa án là các quy tắc thủ tục nghiêm ngặt, thường khá cứng nhắc Trong khi đó, đặc trưng của tố tụng trọng tài là quy tắc “tính độc lập của các bên” Các bên tùy ý
tổ chức tố tụng bằng cách dẫn chiếu quy tắc tố tụng trọng tài sẵn có hoặc soạn thảo quy tắc riêng Các bên có thể tự chọn TTV, ấn định thời hạn hoặc nhờ bên thứ ba ấn định thời hạn Về nguyên tắc, quyết định trọng tài có giá trị chung thẩm Cơ hội để hủy phán quyết trọng tài rất ít, chủ yếu do các sai sót thủ tục cơ bản Giống như các thẩm phán, các TTV cũng phải có tính độc lập Nhưng các TTV có được chọn cho một vụ việc cụ thể hay không còn quỳ thuộc vào nghề nghiệp và trình độ chuyên môn cũng như việc họ có thời gian để làm nhiệm vụ TTV hay không Hơn nữa, trọng tài có tính bí mật, còn tố tụng tòa án thì các phiên xét xử được giải quyết công khai Một điểm khác biệt nữa là các bên không phải trả thù lao cho thẩm phán, nhưng họ phải chịu mọi khoản thù lao và chi phí của các TTV cũng như các khoản phí của tổ chức trọng tài quy chế giám sát vụ việc Các TTV không có quyền ra lệnh cưỡng chế bồi thường hoặc áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc triệu tập
Trang 30nhân chứng hoặc bên thứ ba khi họ không muốn tham gia vào tố tụng Có thể thấy rằng, một sự lựa chọn chủ yếu thay thế cho trọng tài là đưa vụ tranh chấp ra trước tòa án quốc gia Tuy nhiên, các bên trong một vụ tranh chấp thương mại lại chọn đưa ra trọng tài thay vì đưa ra tòa án và TTTM được thành lập khắp nơi trên thế giới như là một phương thức thông thường giải quyết các tranh chấp thương mại Bởi trọng tài tạo cho các bên cơ hội lựa chọn một diễn đàn “trung lập” và một HĐTT
“trung lập” Đồng thời, đối với trọng tài, nếu đi đến cùng sẽ dẫn đến một quyết định
có hiệu lực thi hành đối với bên thua kiện không chỉ ở nơi phán quyết trọng tài được tuyên mà cả ở trên bình diện quốc tế, theo các quy định của các điều ước quốc tế
1.2.4 Ưu điểm và nhược điểm của phương thức giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài
Giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài kết hợp được các ưu điểm của phương thức thương lượng, hòa giải và tòa án nên rất phù hợp, hiệu quả và được nhiều thương nhân lựa chọn sử dụng Nhà nước rất khuyến khích giải quyết tranh chấp bằng trọng tài theo quy định của pháp luật, không những tạo điều kiện phát triển, hoàn thiện hoạt động TTTM phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước mà còn đáp ứng yêu cầu mở rộng kinh doanh quốc tế trong giai đoạn hội nhập Từ những điểm khác nhau giữa chế định trọng tài và tòa án, có thể đưa ra những ưu điểm cũng như nhược điểm của chế định trọng tài, từ đó cũng có thể thấy
rõ được vai trò cần thiết của tòa án trong việc hỗ trợ TTTM giải quyết tranh chấp thương mại
Trang 31giản, thực hiện nhanh chóng, các bên có thể chủ động về thời gian, địa điểm giải quyết tranh chấp, không trải qua nhiều cấp xét xử như ở tòa án, do đó hạn chế được thời gian, chi phí của các bên tranh chấp Bên cạnh đó, các bên được chọn TTV hoặc đề nghị chỉ định TTV thành lập HĐTT giải quyết vụ việc nên các bên chủ động lựa chọn được TTV giỏi, am hiểu sâu sắc vấn đề đang tranh chấp để từ đó họ
có thể giải quyết tranh chấp nhanh chóng, chính xác Các bên có thể tác động đến quá trình trọng tài thông qua việc lựa chọn trọng tài, cung cấp chứng cứ có lợi cho mình, chọn địa điểm giải quyết tranh chấp, nguyên tắc xét xử không công khai giúp các bên giữ được bí mật kinh doanh và hạn chế ảnh hưởng uy tín trên thương trường Đây được coi là ưu điểm được các bên tranh chấp ưa chuộng nhất
TTTM là tổ chức xã hội – nghề nghiệp, không đại diện cho quyền lực Nhà nước mà nhân danh ý chí của các bên nên rất phù hợp để giải quyết tranh chấp có yếu tố nước ngoài
Bên cạnh những ưu điểm so với tòa án, TTTM có những ưu điểm vượt trội mà thương lượng, hòa giải không có:
Việc tham gia thương lượng, hòa giải không chỉ đòi hỏi các bên có thiện chí, trung thực mà còn phải có kiến thức cần thiết về chuyên môn và pháp lý Điều này không dễ dàng có được đối với mỗi bên tranh chấp, trong khi đó trọng tài thường là những người có chuyên môn, am hiểu pháp luật có thể giúp các bên tranh chấp khắc phục những khiếm khuyết về pháp lý của mình đồng thời trọng tài thường có kinh nghiệm giải quyết tranh chấp hơn bên thứ ba trong hòa giải
Tuy là tổ chức phi Chính phủ nhưng trọng tài lại được sự đảm bảo, hỗ trợ về mặt pháp lý của tòa án Trong khi đó, hoạt động thương lượng, hòa giải ở nước ta hiện nay hoàn toàn mang tính tự phát, theo truyền thống, chưa có văn bản nào điều chỉnh quá trình thương lượng, hòa giải Do đó, giá trị của kết quả thương lượng, hòa giải không được xác định rõ ràng, thường bị các bên lợi dụng để kéo dài thời gian thực hiện nghĩa vụ
b Nhược điểm