Tôi xin cam đoan: khóa luận tốt nghiệp “Một số giải pháp phát triển du lịch cuối tuần tại Vĩnh Phúc cho thị trường khách từ Thủ đô Hà Nội” là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kế
Trang 1VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
KHOA DU LỊCH
Nguyễn Thị Thu – A2K20
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Đề tài:
Một số giải pháp phát triển du lịch cuối tuần
tại Vĩnh Phúc cho thị trường khách từ Thủ đô Hà Nội
CHUYÊN NGÀNH : QUẢN TRỊ KHÁCH SẠN
HÀ NỘI, 5 – 2016
Trang 2VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI KHOA DU LỊCH
Họ và tên SV: Nguyễn Thị Thu – A2K20
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Đề tài :
Một số giải pháp phát triển du lịch cuối tuần
tại Vĩnh Phúc cho thị trường khách từ Thủ đô Hà Nội
MÃ NGÀNH : 52340101
CHUYÊN NGÀNH : QUẢN TRỊ KHÁCH SẠN
Giáo viên hướng dẫn : Thầy Trương Nam Thắng
HÀ NỘI, 5 – 2016
Trang 3
LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên : NGUYỄN THỊ THU
Sinh ngày 17 tháng 11 năm 1993 tại Hà Nội
Quê quán: Thanh Lâm – Mê Linh – Hà Nội
Là sinh viên khóa 20, Khoa Du Lịch – Viện Đại Học Mở Hà Nội
Mã số sinh viên: 12A43010137
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, tôi có tham khảo một số tài
liệu liên quan đến chuyên ngành Du lịch nói chung và du lịch cuối tuần nói riêng
Tôi xin cam đoan: khóa luận tốt nghiệp “Một số giải pháp phát triển du lịch cuối tuần tại Vĩnh Phúc cho thị trường khách từ Thủ đô Hà Nội” là công trình
nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu có tính độc lập riêng, không sao chép bất kỳ tài liệu nào và chưa công bố nội dung này ở bất kỳ đâu Các số liệu trong khóa luận được sử dụng trung thực, nguồn trích dẫn có chú thích rõ ràng, minh bạch, có tính kế thừa, phát triển từ các tài liệu, tạp chí, các công trình nghiên cứu đã được công bố, các website
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan danh dự của tôi
Hà Nội, tháng 5 năm 2015
Sinh viên Nguyễn Thị Thu
Trang 4ơn Thầy đã rất bận rộn nhưng vẫn thu xếp dành thời gian quý báu để sửa từng câu, từng chữ trong bài khóa luận Cảm ơn Thầy trong những lần ốm yếu Thầy vẫn cố gắng hướng dẫn khóa luận để tôi hoàn thành một cách tốt nhất
Đồng cảm ơn các thầy cô giáo tại Khoa Du lịch – Viện Đại học Mở Hà Nội đã tạo cơ hội cho tôi được thực hiện khóa luận Cảm ơn Thầy cô vì luôn nhiệt huyết với sinh viên, tận tình trong công tác giảng dạy, theo sát sinh viên trong mọi bước
đi Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc, kính trọng và chân thành nhất tới các Thầy cô trong Khoa Du Lịch Viện Đại Học Mở Hà Nội
Cảm ơn các cô chú tại phòng tư liệu, Sở Văn Hóa Thể Thao tỉnh Vĩnh Phúc, anh chị làm việc tại các công ty lữ hành Hà Nội, công ty lữ hành Vĩnh Phúc đã giúp tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Do vẫn còn hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm nên không tránh khỏi những thiếu xót nhất định trong bản khóa luận, tôi rất mong nhận được sự góp ý của quý Thầy, Cô và những ai quan tâm đến đề tài này để khóa luận được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên tốt nghiệp
Nguyễn Thị Thu
Trang 5VIỆN ĐH MỞ HÀ NỘI
KHOA DU LỊCH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHIỆM VỤ THIẾT KẾ KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Họ và tên: Nguyễn Thị Thu ĐT: 0982622374
Lớp – Khóa: A2K20 Ngành học: Quản trị du lịch, khách sạn
1 Tên đề tài:
“Một số giải pháp phát triển du lịch cuối tuần tại Vĩnh Phúc cho thị trường
khách từ Thủ đô Hà Nội”
2 Các số liệu ban đầu (Lý thuyết đã học và tư liệu thu thập tại cơ sở nơi thực hiện
Khóa luận): Giáo trình, sách, tạp chí, công trình khoa học… và thông tin thu thập tại cơ sở lưu trú trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, công ty lữ hành tại
Hà Nội, người dân thủ đô Hà Nội
3 Nội dung các phần thuyết minh và tính toán:
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 2: Thực trạng về phát triển du lịch tại Vĩnh Phúc và nhu cầu du lịch cuối tuần của người dân thủ đô Hà Nội
Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm phát triển du lịch cuối tuần tại Vĩnh Phúc cho thị trường khách từ thủ đô Hà Nội
4 Các slides máy chiếu, PC
5. Giáo viên hướng dẫn (toàn phần hoặc từng phần): Toàn phần
6 Ngày giao nhiệm vụ Khóa luận tốt nghiệp: 06/01/2016
7 Ngày nộp Khóa luận cho VP Khoa (hạn cuối): 09/05/2016
Giáo viên Hướng dẫn
(Ký và ghi rõ họ tên)
Trang 6MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC HÌNH VẼ, BẢNG BIỂU SỬ DỤNG
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2
2.1 Mục đích nghiên cứu 2
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4.1.Đối tượng nghiên cứu 3
4.2 Phạm vi nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Bố cục của khóa luận tốt nghiệp 4
7 Đóng góp mới của đề tài 4
PHẦN NỘI DUNG 5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 5
1.1 Du lịch và các loại hình du lịch 5
1.1.1 Khái niệm về du lịch 5
1.1.2 Các loại hình du lịch 7
1.2 Du lịch cuối tuần 10
1.2.1 Khái niệm về du lịch cuối tuần 10
1.2.2 Phân loại 11
1.2.3 Vai trò chức năng của du lịch cuối tuần 12
1.2.4.Đặc điểm của du lịch cuối tuần 14
1.2.5 Ý nghĩa việc phát triển du lịch cuối tuần 14
1.2.6 Các yếu tố phát sinh và yếu tố tác động đến phát triển du lịch cuối tuần
15
Trang 71.3 Kết luận chương 1 và nhiệm vụ chương 2 19
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TẠI VĨNH PHÚC VÀ DU LỊCH CUỐI TUẦN CỦA THỦ ĐÔ HÀ NỘI 20
2.1 Thực trạng phát triển du lịch tại tỉnh Vĩnh Phúc 20
2.1.1 Khái quát về Vĩnh Phúc 20
2.1.2 Thực trạng phát triển du lịch tại Vĩnh Phúc 43
2.2 Thực trạng về du lịch cuối tuần của Thủ đô Hà Nội 47
2.2.1 Nhu cầu, xu hướng du lịch cuối tuần của khách du lịch từ thủ đô Hà Nội 47
2.2.2 Thực trạng du lịch cuối tuần của khách du lịch từ Thủ đô Hà Nội 49
2.3 Thực trạng du lịch cuối tuần tại Vĩnh Phúc của khách du lịch từ Hà Nội 51
2.4 Kết luận chương 2 và nhiệm vụ chương 3 57
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH CUỐI TUẦN TẠI VĨNH PHÚC CHO THỊ TRƯỜNG KHÁCH TỪ THỦ ĐÔ HÀ NỘI 58
3.1 Mục tiêu và phương hướng phát triển du lịch Vĩnh Phúc đến năm 2020
58
3.1.1 Mục tiêu phát triển 58
3.1.2 Phương hướng phát triển 58
3.2 Các giải pháp phát triển du lịch cuối tuần tại Vĩnh Phúc cho thị trường khách từ Thủ đô Hà Nội 60
3.2.1.Đối với các cơ quan quản lý 60
3.2.2.Đối với các doanh nghiệp du lịch tại tỉnh Vĩnh Phúc 64
3.2.3.Đối với các doanh nghiệp du lịch Hà Nội 65
3.2.4.Đối với cộng đồng địa phương tại các điểm du lịch ở Vĩnh Phúc 65
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 66 KẾT QUẢ ĐIỀU TRA KHẢO SÁT CÁC CƠ SỞ LƯU TRÚ, KHÁCH DU LỊCH TỪ HÀ NỘI VÀ CÁC CÔNG TY LỮ HÀNH TẠI HÀ NỘI
CÁC MẪU PHIẾU ĐIỀU TRA
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
IOUTO Internation of Union Oficial Travel Organization - Hiệp Hội
Quốc tế các tổ chức du lịch UNWTO World Tourism Organization – Tổ chức Du Lịch Thế Giới VTOS Vietnam Tourism Occupational Skills Standards - Tiêu chuẩn
nghề du lịch Việt Nam MICE Meeting (cuộc họp, gặp gỡ), Incentives (khen thưởng),
Conventions (hội nghị - hội thảo) và Exhibitions/event (triễn lãm hoặc sự kiện)
THCS Trung học cơ sở
THPT Trung học phổ thông
UBND Ủy ban nhân dân
VHTT&DL Văn hóa thể thao và Du lịch
CSLT Cơ sở lưu trú
THCN Trung học chuyên nghiệp
Trang 9DANH MỤC HÌNH VẼ, BẢNG BIỂU SỬ DỤNG
Bảng 1.1: Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước chia theo ngành 2011-2015 16 Bảng 2.1: Lượng khách du lịch đến Vĩnh Phúc giai đoạn 2011-2015 44 Bảng 2.2: Hiện trạng cơ sở lưu trú trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc 45 Bảng 2.3: Kết quả điều tra nhu cầu du lịch cuối tuần của khách du lịch từ Hà Nội 50 Hình 2.1: Bản đồ vệ tinh phác họa khoảng cách từ Hà Nội tới các tỉnh 52 Biểu đồ 2.1: Nhu cầu du lịch cuối tuần tại các địa điểm của khách du lịch từ Hà Nội 53 Bảng 2.4: Đánh giá mức độ hài lòng của khách du lịch từ Hà Nội với Vĩnh Phúc 54 Bảng 2.5: Đánh giá mức độ hài lòng của công ty lữ hành tại Hà Nội với Vĩnh Phúc 55 Biểu đồ 2.2: Nguồn khách du lịch cuối tuần tại Vĩnh Phúc 56
Trang 10ta đã đồng chứng kiến sự bùng nổ trong hoạt động du lịch trên phạm vi toàn cầu Với xu thế hội nhập của đất nước, đời sống của người dân ngày càng được nâng cao Điều kiện sinh hoạt, chất lượng cuộc sống của họ tốt hơn, cũng là lúc nhu cầu
đi du lịch của họ có điều kiện phát triển Đặc biệt là người dân tại các thành phố lớn trực thuộc trung ương như Hà Nội Khi có quyết định vào tháng 10 năm 1999 theo 188/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc tuần làm 40 giờ cũng là lúc thời gian rỗi của người dân Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng tăng lên Cũng vì lẽ
đó, các hoạt động trong thời gian rỗi vào hai ngày nghỉ cuối tuần của người dân trở nên đa dạng hơn trước Người dân Hà Nội đã nghĩ đến chuyện rời xa nơi cư trú trong khoảng thời gian ngắn đó để tham quan du lịch, và du lịch cuối tuần ra đời Tuy nhiên thời gian cuối tuần thường được ưu tiên dành cho gia đình, vì vậy, dịp cuối tuần cũng là dịp cả gia đình cùng nhau lên đường đi du lịch để có thể vừa nghỉ ngơi, vừa chăm sóc gia đình Du lịch cuối tuần dành cho gia đình xuất hiện và dần dần trở nên quen thuộc với các gia đình trên địa bàn thành phố Tuy nhiên, việc lựa chọn xem dành những ngày cuối tuần đó ở đâu để vừa đáp ứng được nhu cầu nghỉ ngơi thư giãn, vừa đảm bảo an toàn về mặt thời gian và khoảng cách di chuyển tránh mệt mỏi khi quay lại làm việc vào tuần tiếp theo thì đó là vấn đề gây đau đầu cho mỗi người dân Bắt được nhịp sống hối hả đó thì Vĩnh Phúc có lẽ là một điểm đến tiềm năng đáp ứng được nhu cầu du lịch cuối tuần cho du khách từ thủ đô Hà Nội Nằm trong nhóm những tỉnh kinh tế phát triển đứng đầu miền Bắc Vĩnh Phúc đang là vựa thóc tiềm năng có thể nuôi dưỡng “gà đẻ trứng vàng” Chỉ cách Hà Nội
60 km về phía Đông Bắc, thiên nhiên và trời đất ban tặng nhiều tài nguyên du lịch phong phú, nhiều khu nghỉ dưỡng xanh Mặc dù vậy, lý do tại sao Vĩnh Phúc hiện tại thu hút được số ít lượng khách du lịch cuối tuần từ thủ đô Hà Nội là vấn đề cần được điều tra sâu, nghiên cứu và phân tích kĩ lưỡng Để đáp ứng được nhu cầu du
Trang 11Trên cơ sở nghiên cứu có căn cứ lý luận và thực tiễn, đánh giá thực trạng hoạt động
du lịch cuối tuần tại Vĩnh Phúc và nhu cầu đi du lịch cuối tuần của người dân thủ đô
Hà Nội Từ đó đề xuất giải pháp phát triển du lịch cuối tuần tại Vĩnh Phúc cho thị trường khách từ thủ đô Hà Nội
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích trên, nhiệm vụ chính của đề tài khóa luận tốt nghiệp này là:
Hệ thống hóa những lý luận chung về du lịch, các loại hình du lịch và du lịch cuối tuần
Đánh giá toàn diện về thực trạng và những tiềm năng du lịch cuối tuần tại Vĩnh Phúc, những mặt lợi thế, mặt khó khăn, nguyên nhân của những vấn đề
đã nêu tại sao lại như vậy.Phân tích chuyên sâu về nhu cầu đi du lịch cuối tuần của người dân thủ đô để có cái nhìn toàn diện từ nhiều chiều khác nhau
Đề xuất giải pháp để làm sao khai thác tốt tài nguyên du lịch, phát triển du lịch cuối tuần tại Vĩnh Phúc cho du khách từ thủ đô Hà Nội
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Với tiềm năng không những phát triển về kinh tế mà còn về lĩnh vực du lịch Vĩnh Phúc đang dần trở thành điểm đến hấp dẫn cho du khách từ các thập phương
Hà Nội là một trong những nơi có thị trường gửi khách lớn nhất miền Bắc Một vấn
đề nhức nhối là dưới sức hút của cuộc sống đô thị, hàng năm Hà Nội phải tiếp nhận, hàng vạn lao động từ nông thôn và các tỉnh đổ về đây để tìm việc làm, khiến cho Hà Nội đất đã chật, người đã đông nay càng thêm chật chội Hà Nội lại là nơi tập trung nhiều các trường đại học, cao đẳng nên lại thêm sức ép do tập trung đông học sinh, sinh viên Dân số quá đông kéo theo tình trạng môi trường, nước thải sinh hoạt, khói công nghiệp, tiếng ồn, rác thải trở thành một vấn đề nan giải Hàng loạt vấn đề
đè lên vai khiến người Hà Nội dễ rơi vào tình trạng ngột ngạt, mệt mỏi, strees Đây
Trang 12SV: Nguyễn Thị Thu-A2K20 3
chính là lý do khiến cho nhu cầu du lịch cuối tuần chở nên thiết yếu Kết hợp giữa bên cung và bên cầu, đáp ứng được nhu cầu của du khách Hà Nội, khoảng cách di chuyển ngắn đồng thời với tài nguyên du lịch phong phú Tuy vậy hầu như chưa có một đề tài nghiên cứu nào chuyên sâu để quảng bá cũng như chữa đúng bệnh và đáp ứng nhu cầu thiết yếu nhất của người dân thủ đô Vì lẽ đó, việc thực hiện nghiên
cứu đề tài “Một số giải pháp phát triển du lịch cuối tuần tại Vĩnh Phúc cho thị trường khách từ thủ đô Hà Nội” là rất cần thiết
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài khóa luận sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp thu thập thông tin ( qua sách báo, các thông tin trên internet, qua phỏng vấn )
Trang 13SV: Nguyễn Thị Thu-A2K20 4
6 Bố cục của khóa luận tốt nghiệp
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài khóa luận tốt nghiệp được kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 2: Thực trạng về phát triển du lịch tại Vĩnh Phúc và nhu cầu du lịch cuối tuần của người dân thủ đô Hà Nội
Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm phát triển du lịch cuối tuần tại Vĩnh Phúc cho thị trường khách từ thủ đô Hà Nội
7 Đóng góp mới của đề tài
Đề tài khóa luận tốt nghiệp: “ Một số giải pháp phát triển du lịch cuối tuần tại Vĩnh
Phúc cho thị trường khách từ thủ đô Hà Nội” đã đạt được kết quả mà mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu đã đề ra:
Một là: đề tài đã nghiên cứu và khái quát được một số vấn đề lý luận liên quan đến
đề tài như du lịch, các loại hình du lịch, du lịch cuối tuần
Hai là: đề tài đã nghiên cứu thực trạng phát triển du lịch cuối tuần tại Vĩnh Phúc, đánh giá những mặt được và mặt chưa được, tìm ra nguyên nhân, cũng đồng thời khảo sát, phân tích nhu cầu du lịch cuối tuần của người dân thủ đô Hà Nội trong 5 năm trở lại đây từ 2011-2015
Ba là: đề tài đã đề xuất một số giải pháp kiến nghị để phát triển tài nguyên du lịch
đã và đang khai thác đồng thời phát triển hơn nữa loại hình du lịch cuối tuần tại Vĩnh Phúc cho thị trường khách từ thủ đô Hà Nội
Trang 14hệ giao lưu văn hóa, xã hội giữa các vùng trong nước, tăng cường tình đoàn kết hữu nghị hòa bình và sự hiểu biết lẫn nhau trong dân tộc Trong vòng 6 thập kỉ qua, kể
từ khi thành lập Hiệp Hội Quốc tế các tổ chức du lịch IOUTO ( Internation of Union Oficial Travel Organization) năm 1925 tại Hà Lan, khái niệm về du lịch luôn
là vấn đề được bàn luận Đúng như giáo sư, tiến sĩ Berneker một chuyên gia hàng đầu về du lịch trên thế giới đã nhận định: “ Đối với du lịch, có bao nhiêu tác giả
nghiên cứu thì có bấy nhiêu định nghĩa.” Điều này nói lên sự đa dạng của hoạt động du lịch và nó có thể được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau
- Trên góc độ của người đi du lịch:
Du lịch là cuộc hành trình và lưu trú tạm thời ở ngoài nơi cư trú thường xuyên của
cá thể, nhằm thỏa mãn các nhu cầu khác nhau, với mục đích hòa bình và hữu nghị Với họ du lịch như một cơ hội để tìm kiếm những kinh nghiệm sống, sự thỏa mãn một số các nhu cầu về vật chất và tinh thần của mình
- Trên góc độ người kinh doanh du lịch:
Du lịch là quá trình tổ chức các điều kiện về sản xuất và phục vụ nhằm thỏa mãn đáp ứng các nhu cầu của người đi du lịch Các doanh nghiệp du lịch coi du lịch như
là một cơ hội để bán các sản phẩm mà họ sản xuất ra, nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách
(người đi du lịch), đồng thời thông qua đó đạt được mục đích số một của mình là tối
đa hóa lợi nhuận
Trang 15SV: Nguyễn Thị Thu-A2K20 6
- Trên góc độ của chính quyền địa phương:
Trên góc độ này du lịch được hiểu như là một việc tổ chức các điều kiện về hành chính, về cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật để phục vụ du khách Du lịch là tổng hợp các hoạt dộng kinh doanh đa dạng, được tổ chức nhằm giúp đỡ việc hành trình
và lưu trú tạm thời của cá thể Du lịch là một cơ hội để bán các sản phẩm địa phương, tăng thu ngoại tệ, tăng các nguồn thu nhập từ các khoản thuế trực tiếp và gián tiếp, đẩy manh cán cân thanh toán và nâng cao mức sống vật chất và tinh thần cho dân địa phương
- Trên góc độ cộng đồng dân cư sở tại:
Du lịch là một hiện tượng kinh tế - xã hội Với họ hoạt động du lịch tại địa phương mình, vừa đem lại những cơ hội để tìm hiểu về văn hóa và phong cách của người ngoài địa phương, người nước ngoài, là cơ hội để tìm kiếm việc làm, để phát sinh và phát triển nghề cổ truyền các nghề thủ công truyền thống của dân tộc Thông qua du lịch, một mặt có thể tăng thu nhập, nhưng mặt khác có thể gây ảnh hưởng đến đời sống của người dân sở tại như về môi trường, trật tự an ninh xã hội, nơi ăn chốn ở
- Trên góc độ văn hóa - ngôn ngữ:
Theo các học giả khác nhau, bản thân thuật ngữ du lịch trong ngôn ngữ nhiều nước, cũng được bắt nguồn từ một số nguồn gốc khác nhau Có một số học giả cho rằng
thuật ngữ du lịch trong ngôn ngữ nhiều nước bắt nguồn từ gốc tiếng Pháp “Le
tourisme” bản thân từ “le tourisme” lại được bắt nguồn từ gốc “le tour” có nghĩa là
một cuộc hành trình đi đến nơi nào đó và quay trở lại Thuật ngữ đó sang tiếng Anh
là “Tourism”, tiếng Nga “TYPN3M” Người Đức không sử dụng gốc tiếng Pháp
mà sử dụng từ “der fremdenverkehrs” có nghĩa là ngoại (lạ), giao thông (đi lại) và
mối quan hệ Trong tiếng Việt, thuật ngữ “du lịch” được dịch ra thông qua tiếng Trung Quốc Tuy chưa có sự thống nhất về nguồn gốc của thuật ngữ “Du lịch” theo
ý kiến của các học giả khác nhau, song điều quan trọng hơn là nghĩa đầu tiên của thuật ngữ đó đều được bắt nguồn từ gốc: cuộc hành trình đi một vòng, từ một nơi này đến một nơi khác và có quay trở lại Theo giáo sư, tiến sỹ Hunziker và giáo sư
tiến sỹ Krapf thì: “Du lịch là tập hợp các mối quan hệ và các hiện tượng phát sinh
trong các cuộc hành trình và lưu trú của những người ngoài địa phương, nếu việc
Trang 16- Một định nghĩa khác cuả UNWTO (World Tourism Organization) : “Du lịch là
tổng hợp cac mối quan hệ và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các hành trình lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hoặc ngoài nước của họ với mục đích hoà bình Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ.”
- Trong pháp lệnh Du lịch của Việt Nam năm 1999, tại điều 10 thuật ngữ “Du lịch ” được hiểu như sau: “Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường
xuyên của mình nhằm thoả mãn nhu cầu thăm quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”.
1.1.2 Các loại hình du lịch
Hoạt động du lịch có thể phân thành các nhóm khác nhau tuỳ thuộc vào tiêu chí đưa
ra Về phần mình các tiêu chí đưa ra phụ thuộc và mục đích việc phân loại và quan điểm chủ quan của tác giả Hiện nay đa số các chuyên gia về du lịch theo các tiêu chí cơ bản sau:
1.1.2.1 Phân loại theo môi trường tự nhiên
Theo Pyonik, du lịch là một ngành có định hướng tài nguyên rõ rệt Tuỳ theo môi trường tài nguyên và hoạt động du lịch được chia thành hai nhóm lớn là:
- Du lịch văn hoá: Là những hoạt động du lịch diễn ra chủ yếu trong môi trường nhân văn, hoạt động du lịch đó tập trung khai thác tài nguyên du lịch nhân văn VD: các di tích lịch sử, các phong tục tập quán
Trang 17SV: Nguyễn Thị Thu-A2K20 8
- Du lịch thiên nhiên: Là những hoạt động du lịch nhằm thoả mãn nhu cầu về với thiên nhiên của con người VD: Như hoạt động du lịch biển, du lịch núi, du lịch nông thôn
1.1.2.2 Phân theo mục đích chuyến đi
- Du lịch nghỉ ngơi, giải trí (nghỉ dưỡng): Loại hình du lịch này nảy sinh do nhu cầu cần phải nghỉ ngơi để phục hồi thể lực và tinh thần của con người Chủ yếu là đến những nơi yên tĩnh, họ không muốn bị quấy rầy, họ muốn sống theo kiểu cô lập nhưng không hẳn vì họ muốn được giao tiếp với những con người mới ở xung quanh
- Du lịch chữa bệnh : Là hình thức di du lịch để điều trị một căn bệnh nào đó về thể xác hay tinh thần Vì vậy họ thường đến những nơi có nguồn nước khoáng, nước nóng, khí hậu, không khí trong lành
- Du lịch công vụ : Với mục đích là nhằm thực hiện nhiệm vụ công tác hoặc nghề nghiệp nào đó Tham gia loại hình này là khách đi dự các hội nghị, kỷ niệm các ngày lễ lớn, các cuộc gặp gỡ
- Du lịch tôn giáo : Du lịch này là nhằm thoả mãn nhu cầu tín ngưỡng đặc biệt của những người theo các tôn giáo khác nhau Loại hình này có 2 dạng là: Đi thăm nhà thờ, đền thờ và đi xưng tội
- Du lịch thăm thân : Nảy sinh do nhu cầu giao tiếp xã hội nhằm thăm hỏi bà con họ hàng bạn bè thân quen hoặc đi dự lễ tang
- Du lịch là để tìm kiếm cơ hội làm ăn : Những người du lịch những người du lịch này thường là các thương gia, những người đầu tư
1.1.2.3 Phân loại theo lãnh thổ hoạt động
Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ của chuyến đi mà phân thành 2 loại:
- Du lịch quốc tế : Tức là điểm đầu và điểm đến không nằm trên lãnh thổ của một quốc gia và có sự thanh toán bằng ngoại tệ
- Du lịch nội địa : Là chuyến đi du lịch từ chỗ này sang chỗ khác trong phạm vi đât nước mình Điểm xuất phát và điểm đến nằm trong lãnh thổ của một đất nước
Trang 18
SV: Nguyễn Thị Thu-A2K20 9
1.1.2.4 Phân loại theo vị trí điểm du lịch
- Du lịch nghỉ biển : Là những cơ sở du lịch nằm ở vùng ven biển với mục đích đón khách tắm biển Loại hình này chủ yếu là các hoạt động nghỉ dưỡng về mùa hè
- Du lịch nghỉ núi : Đó là các loại hình du lịch thể thao, du lịch chữa bệnh
1.1.2.5 Phân loại theo phương tiện đi lại
Có thể phân thành các loại sau:
- Du lịch xe đạp : Thường được tổ chức từ 1 đến 3 ngày vào cuối tuần và đến những đểm du lịch gần Nhiều khách ở Châu Âu rất ưa thích loại hình này vì nó không hao tốn, không ô nhiễm môi trường lại thuận tiện khi muốn đi nhiều nơi
- Du lịch ô tô : Đây là loại hình phổ biến chiếm 80% tổng số khách du lịch
- Du lịch tàu hoả : Có chi phí giao thông thấp hơn, sức khoẻ được đảm bảo nên nhiều người tham gia
- Du lịch tàu thuỷ : Là phương tiện vận chuyển ban đầu của loài người, nó bị mất vị trí khi ô tô và máy bay xuất hiện Nhưng hiện nay đi du lịch bằng tàu thuỷ lại rất tốt
vì đảm bảo nhiều dịch vụ, nhưng chi phí lớn nên chỉ dành cho những người có thu nhập cao
- Du lịch máy bay : Là một trong những loại hình tiên tiến nhất Nó làm cho khoảng cách giữa điểm đi và điểm đến xích lại gần nhau Tuy nhiên giá thành vận chuyển cao không phù hợp với những người có thu nhập thấp
1.1.2.6 Phân loại theo cơ sở lưu trú
- Khách sạn (hotel) : Là cơ sở lưu trú có đầy đủ tiện nghi phục vụ viêc nghỉ qua đêm của du khách
- Khách sạn ven đường (motel) : Là cơ sở lưu trú nằm ven đường giao thông, trong
đó có bộ phận kiểm tra, sửa chữa ô tô
- Cắm trại (camping) : Là nơi mà du lịch khách qua đêm ở lán trại, loại hình lưu trú này rất rẻ phù hợp với du lịch khách là thanh niên, thiếu niên, học sinh, sinh viên
- Bungalow : Là một loại hình cư trú làm bằng gỗ hoặc các vật liệu nhẹ ghép lại
- Làng du lịch : Là quần thể các biệt thự bungalow được bố trí để tạo ra một không gian du lịch, đáp ứng nhu cầu của khách du lịch
Trang 19SV: Nguyễn Thị Thu-A2K20 10
1.1.2.7 Phân loại theo lứa tuổi khách du lịch
- Du lịch thiếu niên : Khách dưới 17 tuổi thường đi du lịch trong mùa hè hoặc trong chương trình học tập, thăm quan Họ thường thích các hoạt động sôi nổi tập thể Khả năng chi trả không cao
- Du lịch thanh niên : Khách tuổi từ 17- 35, đi theo tổ chức của đoàn hoặc cá nhân Nhóm người này thường ưa hoạt động mạo hiểm, hoạt động tập thể, khả năng chi trả không lớn nên đòi hỏi chất lượng không nhiều
- Du lịch trung niên : Khoảng từ 35- 55 tuổi Nhóm người này có khả năng chi trả cao nhất và yêu cầu chất lượng sản phẩm cũng cao
- Du lịch cao cấp : Là những người đã có tuổi Họ có thời gian nhưng có sự hụt hẫng về mặt tâm lý, thu nhập, đòi hỏi chất lượng cao nhưng phải có sự ưu đãi về giá
cả
1.1.2.8 Phân theo độ dài chuyển đi
- Du lịch ngắn ngày : Nó thường được kéo dài đến sáu ngày, tiêu biểu cho loại hình
du lịch này chính là du lịch cuối tuần (1-3 ngày) loại này thường chỉ tổ chức du lịch gần tức là đến những địa điểm gần
- Du lịch dài ngày : Thường từ 7 ngày trở lên và tổ chức vào dịp nghỉ phép, nghỉ đông hoặc nghỉ hè trong năm Với hình thức du lịch dài ngày, du khách thường chọn cho mình các địa điểm xa cơ sở lưu trú của mình
1.1.2.9 Phân loại theo hình thức tổ chức
- Du lịch theo đoàn : Với sự chuẩn bị từ trước hay thông qua các tổ chức du lịch
- Du lịch cá nhân : Cá nhân tự định ra tuyến hành trình kế hoạch lưu trú, địa điểm
ăn uống tuỳ ý
1.2 Du lịch cuối tuần [4, 9-12]
1.2.1 Khái niệm về du lịch cuối tuần
Ở Việt Nam trước đây, khi người lao động vẫn làm việc sáu ngày một tuần thì thời gian dành cho nghỉ cuối tuần chỉ giới hạn trong một ngày chủ nhật Nhưng đến nay, chế độ làm việc năm ngày một tuần đã được thực hiện, người lao động có nhiều thời gian nghỉ ngơi cuối tuần hơn (ngày thứ bảy và chủ nhật) Hiện nay, du lịch nghỉ ngơi cuối tuần đã trở thành một nhu cầu bức thiết, một hiện tượng xã hội khá phổ
Trang 20SV: Nguyễn Thị Thu-A2K20 11
biến đối với các thành phố lớn, các khu công nghiệp và tập trung dân cư Quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa dẫn đến môi trường bị ô nhiễm, gây ra tình trạng căng thẳng thần kinh, xuất hiện nhu cầu du lịch Việc nghỉ ngơi tích cực sẽ đem lại sức khỏe cho con người, giải thoát họ khỏi những bế tắc, căng thẳng
Việc lựa chọn nơi nghỉ ngơi thích hợp cũng là vấn đề quan tâm Một trong những đặc điểm quan trọng của du lịch hiện đại là tính chất giải trí du lịch đối lập nhau Tức là người đi du lịch thường tìm đến môi trường đối lập với nơi họ vẫn thường sinh sống Đối với du lịch cuối tuần, điều này càng thể hiện rõ rệt Do người dân thành phố bị tách khỏi môi trường tự nhiên nên họ vẫn thường chọn những nơi có điều kiện dễ hòa nhập với thiên nhiên để du lịch, nghỉ ngơi Thiên nhiên thực sự đem lại những điều thú vị đối với người dân thành phố vốn phải sống trong những điều kiện chưa thật thoải mái về chỗ ở, đường phố tắc nghẽn, ồn ào, môi trường xung quanh đã có dấu hiệu hoặc đã bị ô nhiễm thực sự
Thường thường, đối với những thành phố lớn ở Châu Âu, các hoạt động này tổ chức ở các vùng ngoại ô, trong những khu rừng trồng hoặc các công viên nhân tạo, các công viên chuyên đề Còn ở nước ta, do diện tích các thành phố chưa lớn nên địa bàn có thể phát triển ra các tỉnh phụ cận, nơi có những điều kiện tài nguyên phù hợp
Và đưa ra khái niệm du lịch cuối tuần, trong cuốn luận án thạc sỹ: “Nghiên cứu các điều kiện tự nhiên kinh tế, xã hội phục vụ mục đích phát triển du lịch cuối tuần của
Hà Nội và phụ cận” của bà Nguyễn Thị Hải đã đưa ra: “Du lịch cuối tuần là một dạng hoạt động của dân cư các đô thị, thành phố, vào những ngày nghỉ cuối tuần, vào những vùng ngoại ô hoặc phụ cận, có điều kiện dễ dàng hoà nhập với thiên nhiên, nhằm nghỉ ngơi, giải trí, phục hồi sức khoẻ, kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên kinh tế và văn hoá”
1.2.2 Phân loại
Hoạt động du lịch từ khi xuất hiện đến nay không ngừng phát triển về mọi mặt, đặc biệt là sự xuất hiện ngày càng nhiều các loại hình du lịch Có thể nói hoạt động du lịch là một dạng hoạt động rất phong phú và đa dạng Để phân loại các loại hình du lịch người ta đã đưa vào các tiêu chí như sau:
Trang 21SV: Nguyễn Thị Thu-A2K20 12
- Mục đích du lịch
- Phương tiện đi du lịch
- Vị trí địa lý của nơi du lịch
- Thời gian đi du lịch
1.2.3 Vai trò chức năng của du lịch cuối tuần
Cũng như nhiều loại hình du lịch khác, du lịch cuối tuần cũng đóng một vai trò quan trọng đối với đời sống kinh tế chính trị của từng cá nhân, của từng địa phương hay của toàn xã hội Chức năng xã hội của du lịch cuối tuần biểu hiện ở việc bảo vệ tăng cường sức khoẻ cho con người Du lịch và nghỉ ngơi đóng một vai trò tích cực
và rất quan trọng trong việc tăng cường tuổi thọ và khả năng lao động của con người một cách hợp lý nhất vì nó được sử dụng đều đặn, thường xuyên và diễn ra sau một tuần làm việc căng thẳng Theo các nghiên cứu y sinh học của hai nhà nghiên cứu nổi tiếng người Pháp là Crivôsep và Dorin năm 1981 cho thấy rằng các chế độ nghỉ ngơi và du lịch hợp lý có thể giảm trung bình 30% các bệnh tật của nhân dân, còn những bệnh phổ biến về tim mạch giảm gần 50% còn những bệnh về đường hô hấp giảm 40%, các bệnh về thần kinh, xương, bắp giảm 30%, bệnh về các
cơ quan tiêu hoá giảm 20% Du lịch tạo điều kiện cho những nhóm người khác nhau được tiếp xúc gần gũi, hiểu biết lẫn nhau hình thành nên những phẩm chất đạo đức tốt đẹp, tạo nên sự phát triển hài hoà của con người Du lịch còn kết hợp với giáo dục tư tưởng, chính trị cho thanh niên, thiếu niên, thu hút vào những hoạt động văn hoá - xã hội bổ ích Những hoạt động này giúp họ sử dụng thời gian nhàn rỗi một cách hợp lý hơn từ đó giảm đi những tệ nạn xấu, hạn chế số thanh niên sa ngã vào tội lỗi Phát triển du lịch tạo việc làm cho người lao động, góp phần thay đổi cơ cấu lao động, từ đó nâng cao đời sống kinh tế - xã hội Du lịch cuối tuần là sự kết hợp giữa con người và môi trường tự nhiên Hoạt động này làm giãn số người ở đô thị
Trang 22SV: Nguyễn Thị Thu-A2K20 13
về nông thôn vào những ngày cuối tuần Phát triển hoạt động du lịch này sẽ khiến
cư dân chú ý, bảo vệ môi trường tại địa điểm du lịch nhằm thu hút khách từ đó góp phần bảo vệ to lớn vào việc bảo vệ môi trường tự nhiên Chính du lịch cuối tuần còn góp phần vào việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá trên cơ sở
đa dạng hoá sản xuất nông nghiệp phục vụ nhu cầu du lịch và xuất khẩu tại chỗ Việc nghỉ ngơi tích cực và du lịch hợp lý tạo điều kiện phục hồi và tăng cường sức khỏe, tăng cường khả năng lao động, tái sản xuất mở rộng sức lao động và cũng làm tăng hiệu quả kinh tế cho đất nước
Hiệu quả này là do việc giảm tiêu hao thời gian lao động vì ốm đau, giảm thời gian chữa bệnh và giảm thời gian đi khám bệnh Mặt khác, phát triển du lịch cuối tuần sẽ tạo ra nhiều việc làm cho người lao động do ngành du lịch chủ yếu là đáp ứng dịch
vụ, đòi hỏi nhiều lao động sống và trong nhiều trường hợp không thể cơ giới hóa được Du lịch phát triển là tạo ra nhiều việc làm và tạo điều kiện tăng thu nhập cho nhân dân địa phương Điều đó thực sự có ý nghĩa quan trọng, nhất là ở những nước đông dân, thiếu việc làm như nước ta hiện nay Du lịch cuối tuần có khả năng phân phối lại thu nhập giữa người dân nông thôn và thành thị Nó cũng là nhân tố quan trọng góp phần nâng cao đời sống kinh tế xã hội của người dân địa phương Du lịch
là ngành kinh tế tổng hợp liên quan mật thiết tới nhiều ngành kinh tế: từ sản xuất lương thực - thực phẩm đến các hàng thủ công mỹ nghệ Việc tiêu thụ trong du lịch
là tiêu thụ tại chỗ vì vậy nó giảm chi phí đóng gói, lưu thông cho người sản xuất Du lịch cuối tuần còn có một chức năng quan trọng, đó là chức năng sinh thái
Du lịch cuối tuần của người dân thành phố thường đòi hỏi môi trường gần gũi với thiên nhiên
Vì vậy, muốn phát triển các điểm du lịch cuối tuần cần bảo vệ, khôi phục và tối ưu hóa môi trường tự nhiên Để thoả mãn nhu cầu du lịch, nghỉ ngơi, cần dành lại những lãnh thổ có thiên nhiên còn ít biến đổi ở những vùng ngoại ô thành phố và tiến hành các biện pháp cải tạo chẳng hạn như cải tạo và trồng rừng, bảo vệ các nguồn nước và các lưu vực nước, xây dựng các công viên tất cả những việc đó đều góp phần bảo vệ môi trường, tạo nên một môi trường sinh thái lâu bền cho sự sống
Trang 23SV: Nguyễn Thị Thu-A2K20 14
1.2.4 Đặc điểm của du lịch cuối tuần
Nhìn chung, du lịch ngắn ngày bao giờ cũng chiếm tỷ lệ cao hơn rất nhiều so với
du lịch dài ngày Ngày nay thị trường về du khách đa phần là thích nghỉ ngơi nhiều lần trong năm hơn là chỉ nghỉ ngơi một vài lần trong những kỳ nghỉ phép Theo Mc Intosh, ở Hoa Kỳ vào những năm 90 thu nhập từ du lịch cuối tuần của họ đã đạt được 68% với số lượng người tham gia lớn hơn 83% Đối với nước ta thì du lịch có những đặc điểm sau:
- Du lịch cuối tuần ở nước ta diễn ra trong phạm vi ngắn khoảng 150 km đối với những phương tiện như ô tô, xe máy Còn đối với những phương tiện bằng xe đạp thì khoảng 10 đến 40 km Thời gian tiêu phí cho mỗi lượt đi hoặc về cho du khách nhỏ hơn hoặc bằng ba giờ đồng hồ Du lịch loại này chỉ diễn ra từ một đến hai ngày
- Đối tượng tham quan du lịch cuối tuần phần lớn là dân cư đô thị đủ mọi tầng lớp, lứa tuổi, nghề nghiệp Nhưng nhiều nhất vẫn là giới trẻ, người lao động và một lực lượng khách nước ngoài có mặt tại đây
- Địa bàn du lịch và nghỉ ngơi cuối tuần có tổ chức rõ rệt là một sinh hoạt định kỳ của xã hội đô thị Những chuyến du lịch ngắn ngày đã trở thành thông lệ của xã hội công nghệ hóa cao và phát triển Du lịch cuối tuần là một dạng hoạt động đa dạng
về loại hình, có thể kể đến một số loại như: tắm biển, du lịch thể thao, tham quan di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, vui chơi, giải trí
- Du lịch cuối tuần chính là sản phẩm của nền văn minh công nghiệp Bởi vì, công nghiệp hóa làm cho cuộc sống của con người được cải thiện nhưng cũng chính nó làm cho con người cảm thấy ngạt thở và căng thằng
1.2.5 Ý nghĩa việc phát triển du lịch cuối tuần
Du lịch cuối tuần tuy chỉ là một dạng hoạt động của du lịch ngắn ngày nhưng trong cấu trúc của toàn ngành du lịch ở nhiều nước thì du lịch cuối tuần chiếm một tỷ trọng khá lớn chính vì vậy mà ý nghĩa của nó càng lớn trong đời sống xã hội và kinh tế của đất nước, và việc nghiên cứu phát triển loại hình này là điều tất yếu Du lịch cuối tuần mang tính nhịp điệu rõ rệt vì nó chỉ thu hút khách đông vào các ngày nghỉ cuối tuần nhưng những ngày nghỉ cuối tuần này lại chiếm phần lớn thời gian trong quỹ ngày nghỉ cả năm của người lao động Theo tính toán người ta thấy rằng
Trang 24SV: Nguyễn Thị Thu-A2K20 15
thời gian nghỉ cuối tuần ở những nước làm việc 5 ngày trên một tuần chiếm tới 80%
số ngày được nghỉ trong một năm Còn thời gian nghỉ phép năm (nghỉ dài hạn) chỉ chiếm có 15 - 20% mà thôi Do đó để thoả mãn nhu cầu nghỉ ngơi cuối tuần của nhân dân lao động nhằm hồi phục sức khoẻ và phát triển thể lực của họ thì vấn đề nghỉ cuối tuần là hết sức quan trọng không thể bỏ qua được Theo thống kê của nhiều nước trên thế giới, chi phí cho các chuyến du lịch cuối tuần của nhân dân trong một năm thường lớn gấp hàng chục lần chi phí cho một chuyến du lịch dài ngày Điều này một lần nữa khẳng định rằng nhu cầu du lịch cuối tuần chiếm một tỷ trọng rất lớn trong toàn bộ cấu trúc của ngành du lịch Vì vậy phát triển du lịch cần đặc biệt chú ý đến phát triển hoạt động du lịch cuối tuần
1.2.6 Các yếu tố phát sinh và yếu tố tác động đến phát triển du lịch cuối tuần
1.2.6.1 Yếu tố phát sinh
- Thời gian nhàn rỗi gia tăng : Những năm gần đây nền kinh tế không ngừng tăng lên, cùng với nó là sự phát triển của khoa học công nghệ và việc áp dụng tối đa những ứng dụng tối đa những ứng dụng khoa học kỹ thuật vào công - nông - thương nghiệp và dịch vụ đã giải phóng sức lao động của con người Điều này làm thời gian nhàn rỗi của người lao động tăng lên Đặc biệt nước ta có quyết định của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện chế độ tuần làm việc 40h, tăng thời gian nghỉ cuối tuần lên 2 ngày thứ 7, chủ nhật, áp dụng từ 2/10/1999 cho cán bộ công chức và người lao động trong cơ quan đơn vị hành chính tổ chức chính trị - xã hội Bên cạnh
đó, nếu hai ngày nghỉ cuối tuần trùng với ngày nghỉ lễ của quốc gia các cán bộ công chức và người lao động trong cơ quan đơn vị hành chính tổ chức chính trị- xã hội sẽ được nghỉ bù vì vậy việc kết hợp nghỉ lễ và du lịch cuối tuần tăng lên, là điều kiện thuận lợi cho du lịch cuối tuần phát triển
Khoa học kỹ thuật phát triển đồng thời với sự có mặt của nhiều máy móc hiện đại trong đời sống sinh hoạt của các gia đình: máy giặt, máy hút bụi, máy rửa chén đĩa giải phóng và tiết kiệm được nhiều thời gian và công sức con người; chính vì vậy người phụ nữ ngày nay cũng có nhiều thời gian và điều kiện đi du lịch Điều dễ nhận thấy là khi thời gian nhàn rỗi tăng lên thì nhân dân cũng sẽ dành thời gian đi
du lịch nhiều hơn vào dịp: các dịp lễ, ngày nghỉ cuối tuần
Trang 25SV: Nguyễn Thị Thu-A2K20 16
- Điều kiện kinh tế phát triển : Nền kinh tế phát triển là tiền đề cho sự phát triển của ngành du lịch Nền kinh tế phát triển, chất lượng cuộc sống nâng cao; khi những nhu cầu về ăn, mặc, ở được thoả mãn người dân sẽ có những nhu cầu cao hơn: tìm hiểu, học hỏi, thẩm nhận cái đẹp từ đó nảy sinh tự nhiên nhu cầu du lịch Thu nhập bình quân trên người tăng lên thì khả năng chi trả cho những nhu cầu cũng tăng, vì thế khả năng chi trả cho nhu cầu du lịch cũng liên tục tăng Dưới đây là bảng tốc độ tăng trưởng chia theo ngành và bình quân đầu người để thấy được sự phát triển trong nền kinh tế đặc biệt là ngành du lịch trong giai đoạn 2011-2015 Bảng 1.1: Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước chia theo ngành 2011-2015 Đơn vị tính: %
Bảng 1.2: Thu nhập bình quân hàng tháng của lao động khu vực nhà nước do địa phương quản lý theo giá thực tế phân theo địa phương giai đoạn 2011 - 2015
Trang 26SV: Nguyễn Thị Thu-A2K20 17
- Quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hóa và sức ép từ môi trường sống: Đây cũng
là yếu tố làm tăng nhu cầu du lịch, đặc biệt là du lịch cuối tuần Quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hóa đã góp phần cải thiện đời sống cho người dân cả về phương diện vật chất lẫn tinh thần Tuy nhiên công nghiệp hóa và hiện đại hóa cũng dẫn tới sự thay đổi về điều kiện tự nhiên, khí hậu, bầu khí quyển Tất cả những điều đó đã ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của con người Sự tập trung dân cư quá đông tại các đô thị và các thành phố lớn đã làm cho môi trường bị ô nhiễm, đường
xá ồn ào, náo nhiệt, phương tiện đi lại đông đúc Từ những mặt trái nêu trên, ta có thể nhận thấy rằng nhu cầu vui chơi giải trí là một nhu cầu không thể thiếu của người dân ở các thành phố và những nơi tập trung đông dân cư Những chuyến du lịch cuối tuần chính là cơ hội để người dân tạm quên đi cái không khí ồn ào, náo nhiệt và ô nhiễm hàng ngày để bắt đầu một tuần mới làm việc hiệu quả
- Yếu tố ý thích, nguyện vọng đi du lịch của người dân: Theo kết quả nghiên cứu hành vi của người tiêu dùng do các nhà nghiên cứu tâm lý du lịch thì: Người tiêu dùng khi có sãn các nguồn tài lực: tiền bạc, thời gian, họ sẵn sàng tìm kiếm mua dùng những sản phẩm và dịch vụ mà họ mong đợi Với người đi du lịch, du lịch chính là cơ hội để tìm kiếm những kinh nghiệm sống, là cơ hội thoả mãn một số nhu cầu về vật chất và tinh thần, du lịch chính là nhu cầu bậc cao khi các nhu cầu khác được đáp ứng Khi đã có sẵn những nguồn tài lực nói trên cộng thêm các tác nhân kích thích: thông tin quảng cáo, gia đình, bạn bè, tập thể nơi mà cá nhân làm việc, kiến thức và kinh nghiệm về sản phẩm của bản thân… sẽ hình thành ý thích, nguyện vọng, mong muốn được đi du lịch trong người dân Du lịch sẽ trở thành nhu cầu thường xuyên, tất yếu
- Yếu tố sức khoẻ : Những năm gần đây, nền kinh tế nước ta phát triển, chất lượng cuộc sống trong nhân dân không ngừng nâng cao, vấn đề sức khoẻ dân số trở thành một trong những mối quan tâm hàng đầu của xã hội Song song với vấn đề dinh dưỡng bữa ăn, vấn đề chăm sóc sức khoẻ nhân dân hết sức được chú trọng Hệ thống các cơ sở y tế, bệnh viện, phòng khám không ngừng đặt ở những khu chung
cư tập trung mà còn có mặt tại các điểm du lịch Khi con người có sức khoẻ họ mới mong muốn di du lịch để khám phá, tận hưởng và thoả mãn các nhu cầu Và cũng
Trang 27SV: Nguyễn Thị Thu-A2K20 18
chính hoạt động du lịch sẽ làm phục hồi sức khỏe, sức lao động cho người dân (du lịch nghỉ dưỡng, chữa bệnh)
1.2.6.2 Các yếu tố tác động đến du lịch cuối tuần
- Do khả năng tài chính : Để có thể đi du lịch cần có thời gian rỗi và ý chí (ý thích, nguyện vọng) nhưng để tiêu dùng du lịch cần phải có những phương tiện vật chất, khả năng tài chính đầy đủ đó là điều kiện cần thiết để biến nhu cầu du lịch thành cầu du lịch, tức là nhu cầu có khả năng thanh toán chi trả (trong hoạt động du lịch tiền của khách du lịch là vấn đề số một) Các nhà nghiên cứu cho thấy: khi thu nhập của người dân tăng thì nhu cầu du lịch tăng
- Hạ tầng giao thông: Hạ tầng giao thông nhất là đường bộ được cải tạo, nâng cấp
và xây mới Nhiều cây cầu lớn, tuyến đường cao tốc nối liền các tỉnh thành được đưa vào hoạt động Phương tiện di chuyển của con người được cải thiện Bên cạnh phương tiện di chuyển là xe máy và xe du lịch, ngày nay ô tô riêng trở nên khá phổ biến ở nhiều gia đình thành phố Không chỉ là đường bộ, đường hàng không cũng đưa ra các chương trình khuyến mãi, giá vé 0 đồng, tăng số lượng chuyến bay, tăng
số lượng tuyến bay mỗi ngày Thời gian nhàn rỗi tăng, phương tiện di chuyển tiện nghi thuận lợi là sự tác động mạnh mẽ cho du lịch cuối tuần phát triển
- Công nghệ thông tin phát triển, thông tin du lịch phong phú, tiếp cận nhanh chóng
và dễ dàng Đặc biệt là trên trang mạng xã hội hay internet Các thông tin được cung cấp một cách đầy đủ, chính xác Thông tin từ điểm du lịch, thông tin từ những người đã từng trải nghiệm họ chia sẻ trên internet Tất cả đều là thông tin hữu ích và
có tốc độ lan truyền mạnh Vì vậy công nghệ thông tin là một trong những yếu tố tác động mạnh mẽ đến nhu cầu du lịch cuối tuần của con người
- Do ảnh hưởng từ bạn bè đồng nghiệp : Ấn tượng về một tour du lịch, về sản phẩm
và dịch vụ du lịch, về giá cả, về điểm du lịch rất dễ trở thành kinh nghiệm được truyền đạt vời người tiêu dùng du lịch Trong một tập thể, một nhóm bạn thân, cơ quan mà cá nhân làm việc chỉ cần một cá nhân truyền đạt lại những ấn tượng tốt về một tour hay một điểm du lịch nó sẽ nhanh chóng lan sang các thành viên khác, sẽ kích thích trí tò mò và mong muốn đi du lịch của cả tập thể Mặt khác đi du lịch sẽ tạo điều kiện kết thân, củng cố tình bạn bè, tình đồng nghiệp trong một nhóm người,
Trang 28SV: Nguyễn Thị Thu-A2K20 19
một cơ quan với nhau và tạo các mối quan hệ mới với các khách du lịch khác Vì vậy yếu tố bạn bè có tác động khá lớn tới nhu cầu du lịch và du lịch cuối tuần
- Do thị hiếu, do mốt : Trong cùng một thời gian, một hoạt động một hiện tượng đi
du lịch được nhiều người trong xã hội thực hiện đôi khi sẽ kích thích người này bắt trước người kia có những nhu cầu du lịch được nảy sinh do thị hiếu, do mốt Thậm chí đối với giới trẻ hay gia đình có điều kiện đi du lịch theo mốt còn thể hiện được cái “tôi”, phong cách sống và địa vị gia đình trong xã hội
- Do trình độ dân trí : Trình độ văn hoá của cộng đồng được nâng cao thì nhu cầu
đi du lịch của người dân ở đó tăng lên rõ rệt; dân cư ở đó sẽ hình thành ngày càng
rõ thói quen di du lịch Khi dân trí ở địa phương có điểm du lịch cao thì cách ứng
xử, cách phục vụ du lịch sẽ lịch sự hơn, trọn vẹn hơn, làm hài lòng khách du lịch Thái độ ứng xử của dân cư địa phương để lại trong khách là rất quan trọng, nó sẽ quyết định tới việc ra đi mãi mãi hay trở lại của khách du lịch
- Do biến động giá cả trên thị trường: Tình hình biến động giá cả trên thị trường cũng là yếu tố tác động mạnh mẽ đến phát triển du lịch Xã hội thay đổi, giá cả mọi sản phẩm lên xuống bấp bênh đặc biệt là xăng dầu Giá xăng dầu giảm, phí vận chuyển giảm, dẫn đến những chi phí bên cung bỏ ra giảm từ đó bên cầu cũng được hưởng lợi ích Từ đó, nhu cầu đi du lịch của người dân càng cao hơn bởi chi phí đã giảm bớt phần nào trong chuyến đi của du khách
1.3 Kết luận chương 1 và nhiệm vụ chương 2
Du lịch cuối tuần là một loại hình du lịch không phải mới tuy nhiên chưa được nghiên cứu và khai thác cụ thể kĩ lưỡng Trong chương 1, đề tài đã tiếp cận và làm
rõ những vấn đề cơ bản nhất về du lịch cuối tuần như khái niệm du lịch, khái niệm
du lịch cuối tuần, phân loại, chức năng, vai trò của du lịch cuối tuần
Bên cạnh đó , đề tài đã nêu ra được những yếu tố tác động và ảnh hưởng đến nhu cầu du lịch cuối tuần của con người nói chung Đây chính là cơ sở đề ra nhiệm vụ tìm hiểu thực trạng nhu cầu du lịch cuối tuần của thị trường khách từ thủ đô Hà Nội, thực trạng phát triển du lịch nói chung và du lịch cuối tuần nói riêng tại Vĩnh Phúc – địa điểm mà đề tài lựa chọn hướng tới để phát triển loại hình du lịch cuối tuần cho thị trường khách từ thủ đô Hà Nội
Trang 29SV: Nguyễn Thị Thu-A2K20 20
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TẠI VĨNH PHÚC VÀ
DU LỊCH CUỐI TUẦN CỦA THỦ ĐÔ HÀ NỘI
2.1 Thực trạng phát triển du lịch tại tỉnh Vĩnh Phúc
2.1.1 Khái quát về Vĩnh Phúc
Điều kiện tự nhiên
Vĩnh Phúc là cái nôi của người Việt cổ, với di chỉ khảo cổ học Đồng Đậu nổi tiếng Tỉnh Vĩnh Phúc được thành lập vào năm 1950, do sự kết hợp của hai tỉnh Vĩnh Yên và Phúc Yên Sau nhiều lần thay đổi địa giới hành chính, tỉnh Vĩnh Phúc chính thức được tái lập vào năm 1997 Tính đến năm 2015 Vĩnh Phúc có diện
tích 1.237,52 km2 với dân số khoảng 1.041.936 người, mật độ dân số khoảng
842 người / km2
Vị trí địa lý
Vĩnh Phúc thuộc Vùng đồng bằng sông Hồng, Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ và Vùng Thủ đô, phía Bắc giáp tỉnh Thái Nguyên và Tuyên Quang, phía Tây giáp Phú Thọ, phía Đông và phía Nam giáp thủ đô Hà Nội
Vĩnh Phúc nằm trên Quốc lộ số 2, đường sắt Hà Nội – Lào Cai và đường cao tốc Nội Bài – Lào Cai – Vân Nam (Trung Quốc), là cầu nối giữa vùng Trung du miền núi phía Bắc với Thủ đô Hà Nội; liền kề cảng hàng không quốc tế Nội Bài, qua đường quốc lộ số 5 thông với cảng Hải Phòng và trục Quốc lộ 18 thông với cảng nước sâu Cái Lân Những lợi thế về vị trí địa lý kinh tế đã đưa tỉnh Vĩnh Phúc trở thành một bộ phận cấu thành của vành đai phát triển công nghiệp các tỉnh phía Bắc Việt Nam
Địa hình
Phía bắc Vĩnh Phúc có dãy núi Tam Đảo kéo dài từ xã Đạo Trù (Tam Đảo) - điểm cực bắc của tỉnh đến xã Ngọc Thanh (Phúc Yên) - điểm cực đông của tỉnh với chiều dài trên 30 km, phía tây nam được bao bọc bởi sông Hồng và sông Lô, tạo nên dạng địa hình thấp dần từ đông bắc xuống tây nam và chia tỉnh thành ba vùng có địa hình đặc trưng: đồng bằng, gò đồi, núi thấp và trung bình
Trang 30SV: Nguyễn Thị Thu-A2K20 21
- Địa hình đồng bằng: gồm 76 xã, phường và thị trấn, với diện tích tự nhiên là 46.800 ha Vùng đồng bằng bao gồm vùng phù sa cũ và phù sa mới Vùng phù sa cũ chủ yếu do phù sa của các hệ thống sông lớn như sông Hồng, sông Lô, sông Đáy bồi đắp nên, diện tích vùng này khá rộng, gồm phía bắc các huyện Yên Lạc, Vĩnh Tường và phía nam các huyện Tam Dương, Bình Xuyên, được hình thành cùng thời
kỳ hình thành châu thổ sông Hồng (Kỷ Đệ Tứ - Thống Pleitoxen) Vùng phù sa mới dọc theo các con sông thuộc các huyện Sông Lô, Lập Thạch, Vĩnh Tường, Yên Lạc, phía nam Bình Xuyên, được hình thành vào thời kỳ Đệ Tứ - Thống Holoxen Đất đai vùng đồng bằng được phù sa sông Hồng bồi đắp nên rất màu mỡ, là điều kiện lý tưởng để phát triển kinh tế nông nghiệp thâm canh
- Địa hình đồi: gồm 33 xã, phường và thị trấn, với diện tích tự nhiên là 24.900 ha Đây là vùng thuận lợi cho phát triển cây công nghiệp, cây ăn quả và hoa màu, kết hợp với chăn nuôi gia súc, tạo điều kiện thuận lợi trong việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng và chăn nuôi theo hướng tăng sản xuất hàng hóa thực phẩm
- Địa hình núi thấp và trung bình: có diện tích tự nhiên là 56.300 ha, chiếm 46,3% diện tích tự nhiên của tỉnh Địa hình vùng núi phức tạp bị chia cắt, có nhiều sông suối Đây là một trong những ưu thế của Vĩnh Phúc so với các tỉnh quanh Hà Nội,
vì có nhiều điều kiện thuận lợi cho việc phát triển các khu công nghiệp tập trung và các khu du lịch sinh thái Vùng núi Tam Đảo có diện tích rừng quốc gia là 15.753
- Lượng mưa: lượng mưa trung bình năm đạt 1.400 - 1.600mm, trong đó, lượng mưa bình quân cả năm của vùng đồng bằng và trung du đo được tại trạm Vĩnh Yên
Trang 31SV: Nguyễn Thị Thu-A2K20 22
là 1.323,8mm, vùng núi tại trạm Tam Đảo là 2.140 mm Lượng mưa phân bố không đều trong năm, tập trung chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm 80% tổng lượng mưa cả năm Mùa khô (từ tháng 11 năm nay đến tháng 4 năm sau) chỉ chiếm 20% tổng lượng mưa trong năm
- Số giờ nắng: tổng số giờ nắng bình quân trong năm là 1.400 - 1.800 giờ Tháng có nhiều giờ nắng nhất là tháng 6 và tháng 7; tháng có ít giờ nắng nhất là tháng 3
- Chế độ gió: trong năm có hai loại gió chính là gió đông nam, thổi từ tháng 4 đến tháng 9; và gió đông bắc, thổi từ tháng 10 năm nay đến tháng 3 năm sau
- Độ ẩm không khí: độ ẩm bình quân cả năm là 83% Nhìn chung, độ ẩm các tháng trong năm không chênh lệch nhiều giữa vùng núi với vùng trung du và đồng bằng
- Lượng bốc hơi: lượng bốc hơi bình quân trong năm là 1.040 mm Từ tháng 4 đến tháng 9, lượng bốc hơi bình quân trong một tháng là 107,58 mm; từ tháng 10 năm nay đến tháng 3 năm sau là 71,72 mm
• Thủy văn
- Thủy văn mặt
Vĩnh Phúc có bốn con sông chính chảy qua, gồm: sông Hồng, sông Lô, sông Đáy và sông Cà Lồ Lượng nước hằng năm của các sông này rất lớn, có thể cung cấp nước tưới cho 38.200 ha đất canh tác nông nghiệp, được chia làm hai hệ thống sông chính: hệ thống sông Hồng và hệ thống sông Cà Lồ
Hệ thống sông Hồng: gồm sông Hồng với hai nhánh lớn là sông Đà ở bờ bên phải
và sông Lô ở bờ bên trái, cùng với hai nhánh của sông Lô là sông Chảy ở Tuyên Quang và sông Đáy ở Vĩnh Phúc
- Sông Hồng: chảy qua địa phận Vĩnh Phúc từ ngã ba Bạch Hạc đến hết xã Trung
Hà, huyện Yên Lạc, dài 30 km
- Sông Lô: chảy vào địa phận Vĩnh Phúc từ xã Quang Yên (huyện Sông Lô) qua xã Việt Xuân (huyện Vĩnh Tường) đến ngã ba Bạch Hạc thì đổ vào sông Hồng, có chiều dài là 34 km
- Sông Đáy: dài 41,5 km, chảy vào địa phận Vĩnh Phúc từ xã Quang Sơn (huyện Lập Thạch) ở bờ phải và xã Yên Dương (huyện Tam Đảo) ở bờ trái, chảy giữa huyện Lập Thạch và hai huyện Tam Đảo, Vĩnh Tường, rồi đổ vào sông Lô, giữa xã Sơn Đông (huyện Lập Thạch) và xã Việt Xuân (huyện Vĩnh Tường)
Trang 32SV: Nguyễn Thị Thu-A2K20 23
- Sông Cà Lồ: là một phân lưu của sông Hồng Nó tách ra khỏi sông Hồng ở xã Trung Hà (huyện Yên Lạc), dài 86 km theo hướng tây nam - đông bắc, giữa hai huyện Bình Xuyên và Mê Linh, vòng quanh thị xã Phúc Yên rồi theo đường vòng cung rộng phía nam hai huyện Kim Anh và Đa Phúc cũ, đổ vào sông Cầu ở thôn Lương Phúc, xã Việt Long (nay thuộc huyện Sóc Sơn - Hà Nội)
- Sông Phan: bắt nguồn từ núi Tam Đảo, thuộc địa phận các xã Hoàng Hoa (huyện Tam Dương), Tam Quan, Hợp Châu (huyện Tam Đảo), chảy qua các xã Duy Phiên, Hoàng Lâu (huyện Tam Dương), Kim Xá, Yên Lập, Lũng Hòa, Thổ Tang (huyện Vĩnh Tường) theo hướng đông bắc - tây nam; vòng sang hướng đông nam qua các
xã Vũ Di, Vân Xuân (huyện Vĩnh Tường) rồi theo hướng tây nam - đông bắc qua các xã Tề Lỗ, Đồng Văn, Đồng Cương (huyện Yên Lạc) đổ vào đầm Vạc (thành phố Vĩnh Yên), qua xã Quất Lưu chảy về Hương Canh (huyện Bình Xuyên), qua xã Sơn Lôi (huyện Bình Xuyên), nhập với sông Bá Hạ rồi đổ vào sông Cà Lồ ở địa phận xã Nam Viêm (thị xã Phúc Yên)
- Sông Cầu Bòn: bắt nguồn từ Thác Bạc trên núi Tam Đảo, đổ xuống làng Hà, xã
Hồ Sơn hợp với suối Xạ Hương, suối Bàn Long thuộc xã Minh Quang (huyện Tam Đảo), chảy từ phía bắc xuống phía nam qua các xã Gia Khánh, Hương Sơn, Tam Hợp rồi đổ vào sông Cánh, xã Tam Hợp, đều thuộc huyện Bình Xuyên
- Sông Bá Hạ: bắt nguồn từ suối Nhảy Nhót giữa xã Trung Mỹ (huyện Bình Xuyên)
và xã Ngọc Thanh (thị xã Phúc Yên), chảy giữa xã Bá Hiến (huyện Bình Xuyên) và
xã Cao Minh (thị xã Phúc Yên) đến hết địa phận xã Bá Hiến, đầu xã Sơn Lôi (huyện Bình Xuyên), nhập với sông Cánh, chảy về sông Cà Lồ
- Suối Cheo Meo: bắt nguồn từ xã Minh Trí (Sóc Sơn - Hà Nội), dài 11,5 km, đổ vào sông Cà Lồ ở xã Nam Viêm (Phúc Yên)
Ngoài ra, Vĩnh Phúc còn có nhiều đầm, hồ lớn, trong đó có tới 94 hồ lớn nhỏ với khả năng cung cấp nước tưới cho 33.500 ha đất canh tác nông nghiệp Các đầm, hồ thiên tạo là: đầm Vạc (Vĩnh Yên), đầm Rưng, vực Xanh, vực Quảng Cư, đầm Kiên Cương (Vĩnh Tường), đầm Tam Hồng, đầm Cốc Lâm (Yên Lạc), hồ Đá Ngang, hồ Khuôn, hồ Suối Sải (Sông Lô), đầm Riệu (Phúc Yên) Các đầm, hồ nhân tạo gồm:
hồ Đại Lải (Phúc Yên), hồ Xạ Hương (Tam Đảo), hồ Làng Hà (Tam Đảo), hồ Vân Trục (Lập Thạch), hồ Bò Lạc (Sông Lô)
Trang 33SV: Nguyễn Thị Thu-A2K20 24
- Thủy văn ngầm
Đặc điểm của các tầng chứa nước trong lãnh thổ Vĩnh Phúc:
- Tầng chứa nước Proterozoi: được cấu tạo bởi các loại đá biến chất cao, chủ yếu là
đá phiến gơnai, quaczit, amphibolit
- Tầng chứa nước Mezozoi: được cấu tạo bởi các loại đá phun trào Triat giữa và muộn cùng các thành tạo chứa than của hệ tầng Văn Lãng
- Tầng chứa nước Kainozoi: Tầng chứa nước đứt gãy trong các đới phá hủy, nước tập trung với tiềm năng lớn, chất lượng tốt
Nhìn chung, nguồn nước ngầm phân bố không đều, chủ yếu ở vùng đồng bằng phía nam của tỉnh Chất lượng nước ngầm khá tốt; tuy nhiên, tại một số nơi có nhiều nhà máy như các khu công nghiệp thì nước ngầm có dấu hiệu bị ô nhiễm, một vài chỉ tiêu như sắt, mangan cao cần phải xử lý
Tại Vĩnh Phúc, trữ lượng nước ngầm tự nhiên gồm trữ lượng động tự nhiên và trữ lượng tĩnh tự nhiên Trong đó, trữ lượngtĩnh tự nhiên (thể tích nước có trong tầng chứa nước) bao gồm: trữ lượng tĩnh phần đàn hồi và trữ lượng tĩnh phần động lực Cho đến thời điểm hiện tại, tỉnh Vĩnh Phúc chỉ có thể tính trữ lượng tĩnh đàn hồi cho tầng Pleistocen Theo kết quả tìm kiếm, thăm dò và đánh giá nước dưới đất ở khu vực đồng bằng tỉnh Vĩnh Phúc, trữ lượng tĩnh đàn hồi tính được khoảng 111,2 triệu m3 Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh còn có 35 công trình cấp nước tập trung, trong
đó có 14 công trình đang hoạt động Chất lượng nước ngầm ở các khu vực trên địa bàn tỉnh có sự khác nhau
- Thổ nhưỡng
Do đặc điểm địa hình, khí hậu, thủy văn như vậy nên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc đã hình thành các nhóm đất khác nhau, bao gồm nhóm đất phù sa, nhóm đất cát, nhóm đất loang lổ, nhóm đất xám, nhóm đất tầng mỏng
- Tài nguyên rừng
Theo số liệu của Chi cục Kiểm lâm Vĩnh Phúc, tính đến ngày 31-12-2011, diện tích
có rừng toàn tỉnh là 28.312,7 ha, độ che phủ rừng đạt 22,4%
Diện tích rừng tự nhiên của tỉnh là 9.358,8 ha, chiếm 32,81%, tập trung chủ yếu ở huyện Tam Đảo với diện tích 6.978,3 ha, chiếm 74,49% diện tích rừng tự nhiên toàn
Trang 34SV: Nguyễn Thị Thu-A2K20 25
tỉnh; đây cũng là nơi có Vườn Quốc gia Tam Đảo Hiện tại, phần lớn rừng tự nhiên
do Ban Quản lý rừng của tỉnh giám sát, kiểm tra và quản lý
Bên cạnh đó, tỉnh còn có 18.953,9 ha diện tích rừng trồng, chiếm 67%, trong đó, diện tích rừng mới trồng là 977,7 ha, chiếm 3,43% Phần lớn rừng trồng do hộ gia đình sở hữu và quản lý, với diện tích 9.161,8 ha (47,76%) Ban Quản lý rừng Vĩnh Phúc quản lý 3.899,2 ha (20,33%) Số còn lại do các doanh nghiệp nhà nước, đơn vị
vũ trang hoặc các tổ chức kinh tế khác khai thác và sử dụng
Vĩnh Phúc có các kiểu rừng sau:
- Rừng kín thường xanh, mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp
- Rừng kín thường xanh, mưa ẩm á nhiệt đới núi trung bình
741 chi trong 219 họ của 6 ngành thực vật Trong đó có 58 loài mang gen quý hiếm
và 68 loài đặc hữu có tên trong sách đỏ của Việt Nam và thế giới1 Dựa vào sinh cảnh phân bố, có thể chia hệ thực vật ở Tam Đảo thành các loại: rảng cỏ, cây bụi, các loài cây gỗ trên núi đất và núi đá Theo giá trị sử dụng, có thể chia hệ thực vật này thành các nhóm: cây cho tinh dầu, cây làm rau ăn, cây làm cảnh, cây cho gỗ, cây dược liệu, cây cho tinh bột, trong đó chiếm tỷ lệ cao nhất là nhóm cây cho gỗ và cây dược liệu Ở Tam Đảo còn có nhiều loài thực vật lần đầu tiên được thu thập và
mô tả ở Việt Nam
Động vật
Hệ động vật ở Tam Đảo rất phong phú về thành phần loài, với khoảng 1.141 loài, thuộc 150 họ của 39 bộ Trong đó, 64 loài có giá trị khoa học cần bảo tồn, 16 loài đặc hữu, 18 loài có tên trong sách đỏ thế giới và 8 loài cấm buôn bán
Trang 35Trong các loài động vật ở rừng Tam Đảo, có 47 loài được xem là quý hiếm, trong
đó có loài đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt diệt Vườn Quốc gia Tam Đảo là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, có giá trị to lớn trong bảo vệ môi trường, điều tiết và cung cấp nước, phục vụ nghiên cứu khoa học và du lịch, nghỉ dưỡng, cung cấp lâm sản, dược liệu Với độ che phủ rừng chiếm 90% diện tích, có thể coi Vườn Quốc gia Tam Đảo là kho dự trữ các nguồn gen động, thực vật quý hiếm của nước ta, và là điểm du lịch hấp dẫn
Khoáng sản
Có thể phân loại khoáng sản ở Vĩnh Phúc thành các nhóm sau:
• Nhóm khoáng sản cháy
• Nhóm khoáng sản kim loại
• Nhóm khoáng sản không kim loại
• Nhóm vật liệu xây dựng
Cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển du lịch
Mạng lưới giao thông
Hệ thống hạ tầng giao thông đối ngoại đã và đang được đầu tư hiện đại là những tuyến chính gắn kết quan hệ toàn diện của Vĩnh Phúc với các tỉnh khác trong cả nước và quốc tế
Quốc lộ 2A: là đường trục chạy song song với đường Cao tốc Hà Nội – Lào
Cai đoạn đi qua tỉnh dài 39 km
Quốc lộ 2B: dài 25 km, chủ yếu thu hút hàng từ các khu công nghiệp trên địa bàn huyện Tam Dương, Tam Đảo và lượng khách du lịch sinh thái Tam Đảo nhằm giải quyết nhu cầu vận tải các khu công nghiệp trên địa bàn và phục vụ khách du lịch
Trang 36SV: Nguyễn Thị Thu-A2K20 27
Quốc lộ 2C: dài 47,75km Tuyến này thu hút hàng hoá từ các tỉnh Thái Nguyên, Tuyên Quang Tuyến này qua cầu Vĩnh Thịnh kết nối 2 khu vực Sơn Tây - nơi tập trung nhiều khu công nghệ cao, du lịch , khu công nghiệp và dân cư…nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội
Đường cao tốc Hà Nội - Lào Cai: đã được đưa vào hoạt động ngày 21/09/2014 với chiều dài 265km bắt đầu từ nút giao quốc lộ 2 và cao tốc Bắc Thăng Long kết thúc
ở xã Quang Kim (huyện Bát Xát) tỉnh Lào Cai Đây được coi là tuyến đường thuận tiện nhất được đưa vào sử dụng
Mạng lưới đường tỉnh lộ: kết nối thông suốt với các tuyến đường quốc lộ Các trục giao thông liên thông trong tỉnh đang được thi công theo hướng mở rộng và rút ngắn thời gian lưu thông hàng hoá đến Cụm cảng hàng không Quốc tế Nội Bài, cảng biển Hải Phòng, Quảng Ninh
Đường sắt:
- Tuyến đường sắt chạy qua địa phận Vĩnh Phúc có chiều dài 35 km và 05 nhà ga, là tuyến giao thông quan trọng thuộc tuyến đường sắt liên vận Hà Nội - Lào Cai đi Vân Nam, Trung Quốc Chính phủ đang triển khai để nâng cấp thành đương sắt cao tốc Hà Nội – Lào Cai; Vĩnh Phúc - Cảng Cái Lân - Cảng Hải Phòng
- Tại khu công nghiệp Sơn Lôi, tỉnh Vĩnh Phúc đang triển khai quy hoạch xây dựng cảng ICD, diện tích 200ha với quy mô hiện đại nhất miền Bắc Việt Nam do Tập đoàn Vinalines đầu tư nhằm cung cấp các dịch vụ kho bãi, chuỗi dịch vụ cung ứng logistics, thông quan hàng hoá với quy trình quản lý tiên tiến, hiện đại nhất
Đường sông:
Vĩnh Phúc có 04 sông chảy qua là sông Hồng, sông Lô, sông Cà Lồ và sông Phó Đáy Sông Hồng và sông Lô là 02 con sông lớn, rất thuận tiện cho việc vận chuyển hàng hóa và hành khách đến một số tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng và một số tỉnh
Trang 37Hệ thống giao thông đa dạng phong phú, có nhiều tuyến giao thông liên tỉnh, tạo điều kiện thuận lợi không chỉ cho việc giao lưu buôn bán, phát triển kinh tế mà còn tạo điều kiện cho phát triển ngành du lịch của tỉnh Từ phương tiện tới mọi hệ thống giao thông là điều kiện cần cho phát triển du lịch cuối tuần nói riêng và phát triển toàn ngành du lịch nói chung
Hệ thống nước
Hệ thống cấp nước đã và đang được đầu tư đảm bảo công suất đủ đáp ứng tốt cho nhu phát triển kinh tế - xã hội và nhu cầu phát triển các khu công nghiệp Vĩnh Phúc hiện có 02 nhà máy nước ngầm có công suất 76.000 m3/ng.đ, xây dựng bằng nguồn vốn ODA của Chính phủ Đan Mạch, Chính phủ Italia, và Nhật Bản:
Trang 38sử lý nước thải công nghiệp và sinh hoạt
Hiện nay, tỉnh Vĩnh Phúc đang đầu tư xây dựng 02 nhà máy xử lý nước thải tại Thành phố Vĩnh Yên và Thị xã Phúc Yên bằng nguồn vốn JBIC của Nhật Bản
Thông tin liên lạc
Nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin liên lạc và tạo môi trường đầu tư thuận lợi, tỉnh Vĩnh Phúc đã thực hiện chủ trương: Ưu tiên đầu tư xây dựng mạng truyền thông có liên quan đến khả năng đáp ứng cho nhu cầu về cung cấp dịch vụ đa dạng, c hất lượng cao, băng thông rộng theo xu thế hội tụ về công nghệ thông tin
Hệ thống thông tin liên lạc do các nhà dịch vụ viễn thông Vinaphone, Mobilphone, Viettel, S-Phone, E-phone cung cấp, mạng cáp gốc bằng cáp quang, thiết bị hiện đại, đồng bộ đáp ứng nhu cầu thông tin liên lạc trong nước và quốc tế của mọi thành phần kinh tế trong sinh hoạt và sản xuất kinh doanh
Ngân hàng
Hệ thống ngân hàng Vĩnh Phúc không ngừng đổi mới công nghệ, tăng cường cơ sở vật chất, thực hiện nối mạng thanh toán giữa các ngân hàng trong nước và quốc tế, đồng thời đảm bảo vốn cho nhu cầu vay của các thành phần kinh tế
Trang 39SV: Nguyễn Thị Thu-A2K20 30
Cơ sở khám chữa bệnh
Vĩnh Phúc có 02 bệnh viện cấp tỉnh, mỗi huyện, thị xã ít nhất có một Trung tâm y tế
và nhiều cơ sở khám bệnh tư nhân Nhiều dịch vụ y tế kỹ thuật cao được thực hiện tại bệnh viện cấp tỉnh Phát huy nội lực và được sự hỗ trợ của Ngân hàng Phát triển Châu á (ADB), hệ thống y tế nông thôn của tỉnh phát triển đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh tại chỗ cho người dân
Dân số và nguồn nhân lực
Dân số trung bình năm 2015 khoảng 1.041.936 người, trong đó dân số nam khoảng 512.384 người chiếm 49.18%, dân số nữ 529.552 người chiếm 50.82% Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 11.5% Tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động chiếm 60%, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo chiếm 63%, tỷ lệ dân số làm việc trong khu vực nhà nước chiếm 8.2%, làm việc ngoài nhà nước chiếm 86.6%, làm việc trong khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 5.2%
Tính đến năm 2015, toàn tỉnh có 564 trường học và cơ sở giáo dục, đào tạo, với trên 299.905 học sinh, sinh viên Trong đó có 183 trường mầm non, 174 trường tiểu học,
147 trường THCS, 39 trường THPT và 14 đơn vị giáo dục thường xuyên; 3 trường đại học, 04 trường cao đẳng, 06 trường trung học chuyên nghiệp Trên địa bàn tỉnh
có 48 cơ sở dạy nghề (04 trường cao đẳng nghề; 02 trường trung cấp nghề; 09 trường cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp có dạy nghề; 27 trung tâm dạy nghề;
06 cơ sở dạy nghề); giai đoạn 2011-2015 đào tạo được 140.801 người, hàng năm có khoảng 27.000 người tốt nghiệp (bao gồm cả đào tạo nghề và đạo tạo chuyên nghiệp), đáp ứng nhu cầu lao động của mọi thành phần kinh tế
Bên cạnh đó, tỉnh đã có nhiều cơ chế chính sách hỗ trợ cho các doanh nghiệp đào tạo nghề cung ứng cho các doanh nghiệp; Cùng với tốc độ gia tăng dân số, trong những năm tới lực lượng lao động sẽ tăng đáng kể do dân số bước vào tuổi lao động ngày càng nhiều Mỗi năm tỉnh có trên 1 vạn người bước vào độ tuổi lao động, đây
là nguồn nhân lực dồi dào cho phát triển kinh tế – xã hội
Trang 40SV: Nguyễn Thị Thu-A2K20 31
Tài nguyên du lịch
Vĩnh Phúc có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch tự nhiên và du lịch nhân văn
Có Tam Đảo là dãy núi hình cánh cung, độ cao trên 1500m, dài 50 km, rộng 10 km với phong cảnh thiên nhiên đẹp, khí hậu trong lành, mát mẻ Đặc biệt có Vườn Quốc gia Tam Đảo và các vùng phụ cận thuộc loại rừng nguyên sinh có nhiều loài động thực vật được bảo tồn tương đối nguyên vẹn Bên cạnh đó Vĩnh Phúc còn có
hệ thống sông ngòi, đầm hồ tương đối phong phú, địa thế đẹp có thể vừa phục vụ sản xuất vừa có giá trị cho phát triển du lịch như: Đại Lải, Dị Nậu, Vân Trục, Đầm Vạc, Đầm Dưng, Thanh Lanh… Tiềm năng tự nhiên cho phát triển du lịch kết hợp với các giá trị (tài nguyên) văn hóa truyền thống phong phú sẽ là nguồn lực quan trọng cho phát triển kinh tế – xã hội Vĩnh Phúc
Tài nguyên du lịch tự nhiên
Một số địa danh tiêu biểu và thu hút khách du lịch tại Vĩnh Phúc:
Khu du lịch Tam Đảo
Khu du lịch Tam Đảo thuộc thị trấn Tam Đảo, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc Khí hậu ở đây rất độc đáo, bốn mùa trong ngày; khung cảnh thơ mộng, hùng vĩ Mùa du lịch đẹp nhất trong năm ở Tam Đảo là vào mùa Hè Thiên nhiên và dấu vết thời gian
đã ban tặng cho Tam Ðảo một khung cảnh tuyệt vời: vừa thơ mộng, u tịch, vừa hùng vĩ, huyền ảo trong cảnh mây gió, sương khói vờn trên đỉnh núi rồi sà xuống những thảm cỏ, những ngôi nhà ven sườn núi
Khu du lịch Tam Đảo nằm trên dãy núi Tam Đảo ở độ cao trên 900 m so với mực nước biển Cách thủ đô Hà Nội khoảng 80 km bao gồm 50 km theo quốc lộ 2 và khoảng 24 km theo đường quốc lộ 2B trong đó có 13 km đường đèo
Khu du lịch Tam Đảo có phong cảnh núi non hùng vĩ, bao quát cả một vùng đồng bằng Bắc bộ rộng lớn Khí hậu mát mẻ quanh năm, nhiệt độ trung bình là 18oC –
25oC Mùa hè từ tháng 5 đến tháng 9 nhiệt độ tại các tỉnh đồng bằng thường oi bức
từ khoảng 27oC – 38oC thì Tam Đảo là nơi nghỉ mát lý tưởng với sự luân chuyển rõ