Tuy vậy, sau khi cơ bão tài chính tiền tệ xảy ra vào tháng 7 năm 1997 vàlan truyền ra toàn khu vực theo hiệu ứng “ Đôminô “ với những tác động hếtsức nghiêm trọng đến nền kinh tế các nướ
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Trước tháng 7- 97, tức là trước thời điểm xẩy ra cơn bão tài chính tiền tệ
ở Châu Á mà tâm điểm là khu vực Đông Nam Á, nhiều nước thành viênASEAN đã kỳ vọng đến việc rút ngắn thời hạn hoàn thành AFTA vào năm
2000 Đối với Việt Nam, nhiều người cũng hy vọng sẽ rút ngắn tiến trìnhthực hiện AFTA vào năm 2003 thay cho mốc thời gian dự kiến ban đầu là
2006 Lý do căn bản là Việt nam và các nước ASEAN đều muốn đẩy nhanhtiến trình AFTA nhằm nhanh chóng biến khu vực ASEAN thành một khuvực kinh tế mở có năng lực thích ứng cao nhất với các xu thế do hoá và toàncầu hoá đang diễn ra hết sức nhanh chóng của nền kinh tế thế giới
Tuy vậy, sau khi cơ bão tài chính tiền tệ xảy ra vào tháng 7 năm 1997 vàlan truyền ra toàn khu vực theo hiệu ứng “ Đôminô “ với những tác động hếtsức nghiêm trọng đến nền kinh tế các nước ASEAN và nền kinh tế toàn cầu
đã khiến không ít người nghi ngờ về tính khả thi của AFTA theo lịch trình đãcam kết của các nước
Vì vậy đối với Việt nam tác động của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệđến tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới là điều không tránh khỏi.Trong một nỗ lực tổng hợp và phân tích, nghiên cứu và đánh giá, bàiviết xin trình bày một số những vấn đề về cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ
ở Đông Nam Á.Cụ thể là :
Phần I : Khủng hoảng tài chính tiền tệ ở châu á và tác động đến Nộidung của đề tài sẽ đi sâu phân tích những nguyên nhân, tác động của cuộckhủng hoảng, từ đó so sánh với hiện trạng của nền kinh tế Việt nam trên cáclĩnh vực: đầu tư, xuất nhập khẩu, tỷ giá hối đoái, thị trường chứng khoán trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp chống đỡ và thoát khỏi cuộc khủnghoảng nhằm thực hiện tiến trình cải cách nền kinh tế, đạt được những mụctiêu đã đề ra: phát triển nhanh và bền vững, thúc đẩy tiến trình hội nhập nền
Trang 2kinh tế Việt nam với các nước trong khu vực và trên thế giới, đưa nước tathành một nước công nghiệp vào năm 2020
Trang 3NỘI DUNG
Phần I : Khủng hoảng tài chính tiền tệ ở Châu Á và những tác động tớinền kinh tế Việt nam
A/ Khủng hoảng tài chính tiền tệ
I Diễn biến cuộc khủng hoảng
Những triệu chứng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ châu á bắtnguồn từ Thái lan Từ cuối năm 1996 nền kinh tế Thái lan đã biểu hiệnnhững dấu hiệu của khủng hoảng : tăng trưởng kinh tế chỉ đạt 6,4% so vớimức 8,6% năm 1995, lạm phát cao 7% so với 4,5% năm 1995, xuất khẩu chỉtăng 7% so với 28% năm 1995, thâm hụt ngân sách trên 7%, cán cân thanhtoán vãng lai thâm hụt 8,2% GDP Nợ nước ngoài lên tới gần 100 tỷ USDtrong đó 40% là nợ ngắn hạn trong khi dự trững ngoại tệ giảm chỉ còn 26,6%GDP( 1994:31,6%GDP, 1995: 29,5%GDP) Cơn bão khủng hoảng tài chínhtiền tệ đã bùng nổ ở Thái lan không phải từ trên trời rơi xuống Sức mạnh tànphá của nó đã được tích luỹ, dồn nén từ nhiều năm và đến đầu năm 1997những mầm bệnh trong nền kinh tế Thái lan đã phát tác gây sức ép nặng nềcho sự phá giá tiền tệ
Ngày 2 tháng 7 Chính phủ Thái lan sau những cố gắng tuyệt vọng buộcphải tuyên bố thả nổi đồng Baht, chấm dứt thời kỳ chế độ tỷ giá cố định kéodài gần 14 năm Giá đồng Baht giảm tới mức thấp nhất trong 12 năm qua(29,55 Baht/1USD)
Sau đó giá trị đồng Baht tiếp tục giảm (ngày 1-8 : 32 Baht/1USD), ngày29-8 : 34,15 Baht/1USD), và nguy cơ khủng hoảng ngày càng lan rộng sangcác lĩnh vực : kinh tế , chính trị, xã hội
Ngày 28-7 : Thống đốc ngân hàng trung ương Thái lan từ chức
Ngày 5-8 : Chính phủ Thái lan đình chỉ hoạt động của 42 ngân hàng vàcông ty tài chính
Trang 4Cùng ngày, Thái lan chấp nhận kế hoạch cứu vãn nền kinh tế do *** đềnghị.
Ngày 10-8: 58/91 công ty tài chính và ngân hàng tại Thái lan đã bị đóngcửa
Ngày 11-8 : Hội nghị tài trợ đa phương quốc tế tại Tokyo đưa ra mộtcam kết viện trợ cả gói 16,7 tỷ USD cho Thái lan kèm theo hàng loạt cacđiều kiện yêu cầu Thái lan phải thực hiện
Ngày 15-10 : So với trước khi được thả nổi, đồng Baht đã bị mất giáhơn 40% và đạt mức 36,72 Baht/1USD
Ngay sau khi sự kiện thả nổi tỷ giá ở Thái lan một phản ứng dây truyền
đã xảy ra tại các nước trong khu vực, nhất là các nước đang có sẵn nhiều
“vấn đề “ nội tại trong phát triển kinh tế như Philippines, Malaysia,Indonexia, và tác động đến cả nền kinh tế khoẻ mạnh của Singapore
Ngày 11-7 : Chính phủ Philippines tuyên bố thả nổi đồng peso Đồngnày sụt giá ngay trong ngày đến 11,6% so với đôla Mỹ (29,45peso/1USD)Trong vòng 10 ngày sau đó, Ngân hàng trung ương Philippines phảiđưa vào thị trường 1,58 tỷ USD để chống đỡ cho đồng peso trước sự tấncông của các nhà đầu cơ tiền tệ, khiến cho dự trữ ngoại tệ của ngân hàng nàyxuống còn 9,7 tỷ USD
Ngày 18-7 : Đồng đôla Singapore giảm giá nhẹ : 1,4680đôla Singapore/1USD
Ngày 21-7 : Inđonesia buộc phải cho đồng Rupiah rớt giá còn 2,640rupiah/1USD
Ngày 11-8 : Đồng Ringgit tại Malaysia sụt giá nhanh : 2, 7060 runggitđổi đượcv 1USD so với 2,6505 của ngày 8-8 Đây là mức thấp nhất kể từ 40tháng qua
Trang 5Ngày 14-8 : chính phủ Inđonesia quyết định thả nổi đồng rupiah (đồngtiền này bị mất giá tới 19% so với đồng đôla Mỹ, trên 3000 rupiah/1USD).Ngày 14-9 : Đồng ringgit của Malaysia lại xuống giá nhanh, sau khi cócác lời chỉ trích lẫn nhau giữa thủ tướng Mahathir và nhà tài chính GeorgeSoros.
Ngày 3-11 : Chính phủ Inđonesia dưới sức ép của IMF (xem như mộttrong các điều kiện tiên quyết để nhận khoản kinh phí khổng lồ 23 tỷ USDgiúp vượt qua khủng hoảng) đã đóng cửa 16 ngân hàng trong đó có ba ngânhàng do con trai, em cùng cha và con gái của Tổng thống Suharto là cổ đôngchính
Ngày 9-11 : Ông Chuan Leekpai được nhà vua Thái lan phê chuẩn làmthủ tướng thay ông Chavalit
Ngày 8-12 : Chính phủ Thái lan ra lệnh đóng cửa 56 trên tổng số 58công ty tài chính đã bị tạm thời đình chỉ hoạt động từ tháng 7 Đây là mộttrong những biện pháp nhằm thoả mãn điều kiện của IMF
Ngày 6-1-1998 : Đồng peso của Philippines giảm còn 46,50/1USD.Ngày 15-1-1998 : Tổng thống Suharto của Inđonesia ký thoả thuận 50điểm với IMF để đổi lấy khoản vay nhằm vượt qua khủng hoảng
Ngày 22-1-1998 : Đồng rupiah của Inđonesia rớt giá xuống còn12.050/1USD
Ngày 18-2-1998 : Inđonexia lên tiếng kêu gọi cộng đồng quốc tế đặcbiệt là các nước châu Âu giúp đỡ các nước Đông Nam á giải quyết cuộckhủng hoảng tiền tệ
Kể từ thời điểm các nước Tháilan, Indonesia, Philippines, Maylaysiatuyên bố thả nổi tiền tệ hay không can thiệp vào thị trường ngoại hối đồngtiền của các nước này lập tức bị mất giá nghiêm trọng, chỉ số chứng khoángiảm mạnh mặc dù đã có những biện pháp mang tính tình thế để đối phó và
Trang 6có sự giúp đỡ của cộng đồng tài chính quốc tế Mức độ mất giá đồng tiền và
sự suy giảm về giá trị chứng khoán của các nước bị khủng hoảng được thểhiện trên Bảng 1 đến Bảng 4
Bảng 1 : Mức độ mất giá của các đồng tiền ASEAN từ tháng 4 năm 1997đến 3 năm 1998
Đơn vị tính : %- Thời điểm gốc là đầu tháng 4/97
Nguồn : Asia Week March 6 -1998Đầu tháng Malaysia
Ringgit
IndonesiaRupiah
SingaporeDollar
PhilipinePeso
ThailandBath4/97
0-1-2-2-9-19-30-36-39-58-85-74
0000-2-5-7-9-11-15-17-13
00+3+3-9-14-24-25-25-35-40-35
00+3+3-19-23-27-35-37-44-53-42
Bảng 2 : Tỷ giá các đồng tiền ASEAN trước khi bị khủng hoảng so vớiUSD
Thời điểm đầu tháng 4/97Nguồn : Tin tham khảo hàng ngày Malaysia Indonesia Singapore Philippines Thailand
Trang 7Ringgit Rupiah Dollar Peso Baht
Bảng 3 : Chỉ số chứng khoán các nước trước khi bị khủng hoảng
Thời điểm đầu tháng 2 năm 97Nguồn : Tin tham khảo hàng ngàyBangkok
SET
ManilaComposite
JakartaComposite
Kuala LumpurComposite
JakartaComposite
KualaLumpurComposite
0-4-10-22-18-19-21-29-32-40-45-49-40
00-8-40+5+3-30-25-29-40-45-25
0-1-6-7-7-11-14-20-34-35-45-55-60
00-7-10-10-10-12-15-14-29-23-30-43
Trang 83 -30 -35 -29 -42 -31
Nguồn : ASIA Week March 6,1998 Như vậy rõ ràng theo như số liệu bảng trên thì luận điểm cho rằng sựphá giá của đồng tiền các nước này như là một phương thức trả lại giá trịđích thực cho chúng nhằm tạo dựng lại niềm tin vào các điều kiện kinh tế vĩ
mô của nền kinh tế các nước, đã hoàn toàn trở nên thiếu sức thuyết phục.Đồng tiền các nước đã không điều chỉnh để mất giá từ 20-30% như IMF đãcảnh báo vào năm 1996 mà hơn thế, mức độ mất giá đã lên tới 45-85% Do
đó những tác động của cuộc khủng hoảng đến bản thân các nước là hết sức
to lớn và thể hiện trên nhiều chỉ tiêu khác nhau
II Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng
Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở châu á năm 1997 có nhiềunguyên nhân hết sức cơ bản và có liên quan mật thiết với nhau Hội nghị Bộtrưởng tài chính của các nước thành viên ASEAN vào ngày 2-12 tạiKulalampur đã chỉ ra ba nguyên nhân cơ bản sau :
1/ Sự mất cân đối vĩ mô gắn liền với thiếu hụt lớn về thanh toán và sựgiảm sút đáng kể và tăng trưởng kinh tế và xuất khẩu
2/ Sự lệ thuộc nặng nề vào các khoản nợ ngắn hạn bên ngoài và cùngvới sự tăng nhanh tín dụng và các khoản vay không hiệu quả trong côngnghiệp ngân hàng đã làm suy yếu năng lực hoạt động của hệ thống ngânhàng tài chính
3/ Nhiều nguồn vốn lớn không công khai đã giữ vai trò chi phối cácthị trường tiền tệ và gây sức ép với thị trường khi quy mô của thị trường lạinhỏ
Diễn giải các nguyên nhân của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ởchâu á bao gồm các điểm cơ bản sau :
Trang 9Thứ nhất : Nền kinh tế phát triển hướng ngoại quá lệ thuộc vào nướcngoài.
Sau những năm 70 các nước bị khủng hoảng đã thực hiện chính sách côngnghiệp hoá hướng về xuất khẩu Bản chất của chính sách này là đẩy mạnhquá trình xuất khẩu để thu ngoại tệ Trên thực tế chiến lược phát triển kinh tếtheo chính sách này đã tỏ ra thành công trong suốt thập kỷ 80 và đầu thập kỷ
90 , giúp cho các nước này duy trì được tốc độ tăng trưởng cao Song do quá
đề cao chiến lược phát triển hướng về xuất khẩu nên nền kinh tế các nước
đã lệ thuộc rất nhiều vào xuất khẩu Chẳng hạn ở Malaysia kim ngạch xuấtnhập khẩu chiếm tới 90% GDP Trong khi đó các nước này lại tập trung quámức vào một số mặt hàng chủ chốt như điện tử , may mặc làm cơ cấu cácmặt hàng sản xuất nghèo nàn, mất cân đối Bình quân từ năm 1994 , 1995 vàđầu năm 1996 khoảng 70% kim ngạch xuất khẩu của Singapore là hàng điện
tử chiếm gần 50% GDP, đối với Malaysia tỷ lệ này là 50% GDP và HànQuốc là 33,3% GDP, Thái lan 21,2% GDP và Philipin là 43,5% GDP Trongbối cảnh ngày càng có nhiều nước cũng tập trung vào các mặt hàng này dẫnđến sự cạnh tranh ngày càng lớn , thị trường có xu hướng bão hoà Đặc biệtphải kể đến Trung quốc , sau những năm 80 Trung quốc tiến hành giảm giáNDT Trong vòng 10 năm từ năm 1980 trở lại đây Trung quốc đã 4 lần giảmgiá NDT , so với USD mức mất giá lên tới 212,6% trong vòng 6 năm ( từ1981-1987) vì vậy hàng hoá xuất khẩu của Trung quốc tăng nhanh và cạnhtranh mạnh mẽ với hàng hoá của Thailand và các nước ASEAN do giá rẻ Năm 1996 xuất khẩu của Trung quốc đã đạt tới 150 tỷ USD gần bằng tổnggiá trị xuất khẩu của cả 4 nước Malaysia Thailand, Indonexia Philipinecộng lại Đầu năm 1997 xuất khẩu của Trung Quốc tăng 25% trong khi đó xuthế đối với các nước ASEAN lại giảm Nhịp độ tăng xuất khẩu của cả khuvực ASEAN đã giảm từ 20% năm 1995 xuống còn chưa đầy 10% năm 1996,hầu hết các nước phải gánh chịu những tổn thất to lớn khi tổng cầu đối vớicác sản phẩm điện tử giảm mạnh , tổng thu nhập tính theo USD từ xuất khẩu
Trang 10đồ điện tử chỉ tính từ 12/1995 đến tháng 7/1996 giảm 10% trong đó Hànquốc giảm 22,5%, Singapo giảm 6,5%, đài loan giảm 13% 2 Xuất khẩu giảmdẫn tới thâm hụt cán cân thanh toán vãng lai tại các nước này ngày càng lớn Khoản thâm hụt này năm 96 của cả Malaysia và Thái lan đều đạt mức 13,5
tỷ USD tương ứng chiếm 5,5% và 7,9% so với GDP , đối với Indonesia vàokhoảng 8,7 tỷ USD chiếm 3,4% GDP
Thứ hai : Vay nợ nước ngoài đặc biệt là nợ ngắn hạn của các doanhnghiệp quá cao và đầu tư bất hợp lý (chủ yếu vào lĩnh vực bất động sản) củacác nước Đông Nam á : Do cán cân các nước này bị thâm hụt nên gánh nợnước ngoài tăng vọt Mức nợ này của các công ty Thái lan là 60 tỷ USD, củacác công ty Indonesia là 130 tỷ USD Xem xét riêng ở Thái lan cho thấy năm
1993 nợ quá hạn đã lên tới 40% GDP, năm 1994 con số này là 45% GDP,năm 95 chiếm 50% GDP đến năm 1996 mức nợ quá hạn là 52% GDP Vay
nợ nước ngoài đã tăng mạnh ở các nước ASEAN trong những năm gần đây Năm 1997 nợ nước ngoài của Indonesia bằng 188,7 % GDP, Malaysia là88,9% GDP, Philipine bằng 79,7% GDP và Thái lan là 97,1% GDP Số nợphải trả của các nước đã vượt quá 10% GDP
Bên cạnh đó, điều nguy hiểm hơn là Chính phủ không kiểm soát được nợcủa các Ngân hàng và các doanh nghiệp Nợ nước ngoài bao nhiêu chính phủkhông nắm rõ Thêm vào đó, chính phủ lại không xây dựng được khuôn khổpháp luật về năng lực giám sát trong quá trình tự do hoá tài chính Trong cơchế quản lí bảo thủ và yếu kém như vậy các doanh nghiệp sản xuất đua nhauvay nợ một cách liều lĩnh, số nợ vượt quá tổng số vốn của doanh nghiệp từ200% đến 400%
Mặt khác các khoản vay nước ngoài với lãi suất thấp lại được đầu tư chovay với lãi suất cao ở hai khu vực không sinh lời trong ngắn hạn là đầu tư bấtđộng sản và chứng khoán Do việc đầu tư quá mức vào bất động sản đãkhiến cho thị trường này mang tính chất của một thị trường “ bong bóng “
Trang 11Các ngân hàng và tổ chức tài chính xuất phát từ sự tin tưởng vào chế độ tỷgiá cố định đã không dùng số ngoại tệ được vay để tài trợ cho các doanhnghiệp xuất khẩu mà không ngừng đầu tư và bất động sản và chứng khoán.Kết quả là khi thị trường bất động sản mất giá các khoản vốn đầu tư này đãtrở thành những khoản nợ khó đòi hoặc không thể đòi được Vì vậy bản chấtcủa cuộc khủng hoảng phần nào là một “ cuộc khủng hoảng nợ “ do vay vốnkhông được kiểm soát và đầu tư thiếu hiệu quả
Thứ ba : Duy trì tỷ giá hối đoái cố định một cách cứng nhắc theo USDcủa các nước có nền kinh tế có dấu hiệu chững lại hoặc đi xuống, trong khinền kinh tế của Mỹ đang phát triển đã khiến cho các nước này thay vì đểđồng tiền của mình sụt giảm theo đúng giá trị của nó lại phải tiêu tốn hàngchục tỷ USD để cố gắng duy trì mức cân bằng giả tạo tới mức không thểkiềm giữ được nữa Đặc biệt là Thái lan, việc 13 năm liền Chính phủ Tháilan duy trì tỷ giá cố định giữa đồng Baht và USD ( khoảng 25 Baht/1USD) làhết sức phi kinh tế, bởi trong khoảng thời gian này, các quá trình kinh tế thếgiới và khu vực diễn ra rất mạnh mẽ, đồng đôla Mỹ ngày càng mạnh lên,đồng Baht yếu dần, cho đến trước thời điểm xảy ra khủng hoảng, đồng Baht
đã giảm xuống còn 30,27 Baht/1USD Lợi dụng điều này, các nhà đầu tư đãtạo ra mức bán khổng lồ hàng chục tỷ Baht để mua vài tỷ USD Sức mạnhtheo kiểu bán khống đã nâng cầu USD lên 100 lần so với bình thường vàđẩy tỷ giá vượt xa tỷ giá thực Kết quả đồng Baht bị bẻ gãy
Thứ tư : Hệ thống ngân hàng tài chính yếu kém, công tác quản lýngoại hối lỏng lẻo : Hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ ở cả Đông Nam á,Hàn quốc và Nhật đã dẫn đến một số lượng nợ lòng vòng khổng lồ mà khôngkịp phát hiện kịp thời Các nước có thị trường tiền tệ khủng hoảng đều cómức nhập siêu quá lớn, trong khi tỷ lệ dữ trữ ngoại tệ trên nợ nước ngoài làquá thấp Trong năm 1996, tỷ lệ này của Hàn quốc là 31%, Inđonesia chỉkhoảng 12% và Thái lan là 43,1%
Trang 12Bảng 8 : Dự trữ ngoại tệ của các nước ASEAN
dự trữ ngoại tệ các nước ASEANNăm Indonexia Malaysia Philippines Xingapore ThailanTháng 1
28,4028,7029,1028,3027,7028,0023,3021,10
11,0011,7911,8311,5611,42-9,60-
77,4577,3678,8278,9980,5481,8579,5178,05
38,2037,2037,1036,3032,2031,4030,4025,90
Nguồn : Viện Phatra Thái lan , tháng 9/1997Cuối cùng chính sách tỷ giá cố định cứng nhắc tại các nước này đặc biệt mâuthuẫn với cơ chế tự do di chuyển vốn trong nền kinh tế các nước từ đó làmhạn chế và sai lệch khả năng kiểm soát các dòng vốn của Chính phủ
***Thứ tư : Hệ thống ngân hàng - tài chính yếu kém, công tác quản língoại hối lỏng lẻo
Nhìn chung hệ thống ngân hàng - tài chính tại các nước bị khủng hoảngchưa đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế phát triển với nhịp độ cao Trong một thời gian dài sự yếu kém của hệ thống ngân hàng tài chính tại cácnước này được che dậy bởi những thành tựu kinh tế của các nước dẫn đếncác thông tin phản ánh bị lệch lạc , méo mó Sự yếu kém của hệ thống ngânhàng do nhiều nguyên nhân đem lại song theo chúng tôi có thể do một sốnguyên nhân chính như :
Thứ nhất : Chính phủ các nước có sự can thiệp ( mức độ khác nhau ) vàohoạt động kinh doanh của các ngân hàng và các công ty tài chính nhằm
Trang 13hướng các hoạt động ngân hàng vào hỗ trợ cho chính sách phát triển kinh tế Điều này dẫn đến việc quản lí tín dụng lỏng lẻo và mở rộng đầu tư quá mứckhiến cho hiệu quả kinh tế thấp.
Hai là : Bản thân các ngân hàng chậm trễ trong việc đổi mới hoạt động vàbảo thủ trong việc hiện đại hoá các hoạt động nghiệp vụ của mình và phụthuộc rất lớn vào sự trợ giúp của chính phủ
Sự yếu kém trong hoạt động của hệ thống ngân hàng - tài chính thể hiện trước hết trong việc quản lí và cấp tín dụng trong nước được coi là kém hiệu quả và không chặt chẽ Trên cơ sở của đà phát triển kinh
tế đã tạo dựng tốc độ mở rộng tín dụng đã tăng nhanh , vượt ra khỏi tầmkiểm soát Tại các nước này trong những năm gần đây tốc độ cho vay đãvượt quá tốc độ tăng tiền gửi ở các ngân hàng thương mại Các ngân hàng tạicác nước này đã chi và đầu tư mà không tính đến khả năng cạnh tranh vớinước ngoài, ngân hàng thương mại trong nước cho vay một cách ồ ạt khôngcần giới hạn bằng hình thức quan hệ tín chấp thay cho quan hệ thế chấp tàisản
Bên cạnh đó việc phân bổ vốn còn bị chi phối nhiều bởi yếu tố chính trị Trong khi đó lượng vốn tín dụng khổng lồ này lại được chủ yếu đầu tư vào các lĩnh vực đòi hỏi vốn lớn song chu kì vốn lại chậm mà điển hình là lĩnh vực bất động sản và đầu tư chứng khoán Tại Malaysia tính từ cuối năm 1992 đến tháng 12 năm 1996 tổng các khoản tín dụng dành cho khu vực bất động sản và cổ phiếu tăng 2 lần , từ 34,24 tỷ Ringgit lên 68,32 tỷ Ringgit trong khi tín dụng dành cho khu vực chế tạo chỉ tăng 88% Tại Indonexia tình trạng cho vay đầu cơ bất động sản cũng diễn ra mạnh mẽ , chiếm tới 25% tổng tín dụng ở Thái lan thực trạng đầu tư cũng không lấy gì làm sáng sủa Vốn vay qua hệ thống ngân hàng thái lan được tập trung phần lớn vào lĩnh vực bất động sản
và đầu tư tài chính(Bảng dưới )***
Trang 14Bảng 9 : Việc sử dụng các khoản vay mượn qua các ngân hàng Thái lan
7,26,45,66,13,82,92,80,22,717,57,80,16,513,716,6
51,862,681,392,644,462,281,547,838,4268,9263,5-3,583,3160,3254,3
3,33,95,15,82,83,95,13,02,416,916,6-0,25,210,116,0
55,0123,3125,356,354,878,818,636,545,9153,6226,13,4-16,4115,6142,3
4,510,110,34,64,56,51,53,03,817,618,50,3-1,39,511,7
Trang 15chức ngân hàng đến bờ vực của sự phá sản, gây lên các cú sốc trong hệthống tài chính ngân hàng và và khởi đầu cho sự khủng hoảng.
Thêm vào đó, chính sách quản lí nợ của hệ thống ngân hàng các nước bịkhủng hoảng chưa được coi trọng đúng mức Trong khi thị trường tài chínhtại các nước này có mức độ tự do hoá mạnh, các luồng vốn được di chuyển
dễ dàng thì cơ chế quản lí, giám sát của NHNN đối với các NHTM và củaNHTM đối với các doanh nghiệp lại lỏng lẻo và không kiểm soát dẫn đếntình trạng vạy nợ nước ngoài tràn lan Tại hầu hết các nước bị khủng hoảngđều duy trì chính sách lãi suất trong nước cao hơn nhiều so với lãi suất bênngoài nên càng khuyến khích hàng loạt các công ty vay nợ từ nước ngoài đểhưởng chi phí vốn thấp Chẳng hạn, tại Thái lan 9/10 công ty do Viện PhartaThankit thống kê đã vay nợ tại nước ngoài với lãi suất là 8,5% năm thấp hơnrất nhiều so với lãi suất trong nước là 13,5% / năm
Đồng thời hệ thống ngân hàng tại các nước này đã không điều chỉnh hợp
lí tỷ lệ vay nợ ngắn hạn và dài hạn Khoản vay ngắn hạn ngày càng gia tăng.Chỉ tính riêng ở Thái lan đã tăng gần 42% trong vòng 2 năm từ 29,3 tỷ USDnăm 1994 lên đến 41,5 tỷ USD năm 1996 Còn đối với Indonesia theo ướctính số nợ nước ngoài ngắn hạn chiếm 34,3 tỷ USD trong tổng số 120,5 tỷvay nợ nước ngoài Trong khi đó các nước đều duy trì tỷ giá cố định theoUSD vì vậy khi nền kinh tế các nước bị lâm vào tình trạng sa sút về xuấtkhẩu , tăng trưởng chậm kéo theo tình trạng thiếu ngoại tệ để thanh toán nợnước ngoài đã đến hạn Tình hình đó dẫn đến sức ép về phá giá đồng bản tệngày càng mạnh Điều này càng xấu thêm khi những lời đồn đại về khả năngphá giá đồng bản tệ đã thúc dục các công ty và cá nhân đổ xô đi mua ngoại
tệ nhằm trang trải các khoản nợ Hành động này cộng hưởng với sự gia tăngđầu cơ càng làm tăng sức ép đối với đồng bản tệ vốn được coi là bị đánh giáquá cao trong bối cảnh nền kinh tế đình đốn của các nước
Trang 16Sự yếu kém của hệ thống ngân hàng các nước này còn thể hiện trongviệc chậm trễ có các giải pháp đối phó với tình trạng di chuyển vốn ngoại tệmột cách khá tự do Chính sách quản lí ngoại hối quá lỏng lẻo đã tạo điềukiện cho sự chuyển đổi dễ dàng giữa đồng bản tệ và ngoại tệ dẫn đến khôngkiểm soát được sự rời đi của các dòng vốn do sự bán tháo đồng nội tệ để lấyUSD khi xuất hiện các dấu hiệu bất ổn định trên thị trường tiền tệ
Tóm lại, theo chúng tôi khủng hoảng tiền tệ tại các nước Châu á năm
1997 là kết quả của một nền kinh tế hướng ngoại bị lệ thuộc nặng nề vào một
số ngành công nghiệp xuất khẩu và vào các khoản vay nợ, đặc biệt là cáckhoản vay ngắn hạn bên ngoài không được kiểm soát Trong khi đó các nướclại duy trì một chính sách tỷ giá hối đoái cố định một cách cứng nhắc với sựvận hành của hệ thống ngân hàng tài chính yếu kém
III/ Tính chất của cuộc khủng hoảng
Tính chất của cuộc khủng hoảng ở Châu á hiện nay cũng là một vấn đềquan trọng được bàn cãi Ban đầu khi cuộc khủng hoảng bắt đầu nổ ra người
ta cho rằng đó là sự biến động tiền tệ hay khủng hoảng tiền tệ thông thường,dần dần với mức độ tác động mạnh và ngày càng sâu rộng nhiều quan điểmnhận định đây là cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ rồi khủng hoảng tàichính Theo chúng tôi cần thiết phải có quan điểm đúng về tính chất củacuộc khủng hoảng, cùng với xác định đúng nguyên nhân việc xác định chuẩnxác tính chất của cuộc khủng hiện nay sẽ là cơ sở để các nước đề ra các biệnpháp phục hồi lại nền kinh tế và đối với các nước chịu ảnh hưởng ít sẽ là cơ
sở để có các biện pháp ngăn chặn Căn cứ vào diễn biến và nguyên nhân cơbản của cuộc khủng hoảng đã phân tích ở trên chúng tôi đồng ý với quanđiểm cho rằng cuộc khủng hoảng hiện nay đã thực sự trở thành cuộc khủnghoảng kinh tế -tài chính và mang tính quốc tế hoá sâu sắc Cuộc khủnghoảng diễn ra theo cơ chế hình sóng, lan toả từng đợt và tác động, xâm nhập
Trang 17vào các nền kinh tế khác theo cơ chế “Đôminô “theo nguyên tắc càng xa,càng cách biệt trong quan hệ kinh tế thì mức độ càng nhẹ.
B Những tác động
I/ Đối với các nước trong khu vực
Sự phá giá của đồng Baht và các đồng tiền khác của các nước ĐôngNam á gây ra hậu quả nghiêm trọng lâu dài và tác động xấu đến mọi hoạtđộng của đời sống kinh tế xã hôị của đất nước
Trong thời gian trước và trong khủng hoảng, các nước đều phải tiêu tốn
số lượng ngoại tệ lớn để chống đỡ giữ cho đồng tiền không bị mất giá quámức Thái lan sử dụng 15 tỷ USD trong tổng số 33 tỷ USD dự trữ ngoại tệcủa Nhà nước để cứu nguy cho đồng Baht, Philippines cũng sử dụng 20%tổng số dự trữ để hỗ trợ cho đồng peso Các nước khác như Malaysia,Indonesia cũng sử dụng nhiều tỷ đôla Mỹ vào mục đích nói trên
Nợ nước ngoài tính bằng ngoại tệ tăng lên khoảng 25-40 % tuỳtheo mức
độ phá giá của đồng tiền Như vậy, nợ nước ngoài của Thái lantừ 85 tỷUSD lên 119 tỷ USD ; Malaysia từ 29 tỷ lên 36,5 tỷ USD ; Philippines từ
43, 5 tỷ lên 54,4 tỷ USD ; Indonesia từ 109,3 tỷ lên150,5 tỷ USD
Hoạt động đầu tư, kinh doanh bị đình đốn Hàng loạt các doanh nghiệpmất khả năng thanh toán hoặc bị phá sản
Do đồng tiền bị mất giá, nền kinh tế vĩ mô không ổn định, nguồn đầu tưnước ngoài sẽ bị giảm sút và có thể sẽ chuyển sang khu vực khác ổn định
và có nhiều lợi thế hơn như Trung quốc, khu vực Mỹ Latinh
Hệ thống tài chính đổ vỡ gây sức ép lớn tới lạm phát, giảm thu nhập củangười lao động, tác động xấu đến các mặt của đời sống chính trị, xã hội.Cuối cùng để khắc phục được hậu quả khủng hoảng, ổn định trở lại nền kinh
tế trên thế cân bằng mới, các quốc gia này phải tiêu tốn một lượng tài chính
Trang 18rất lớn, theo ước tính vào khoảng trên dưới 10% GDP Đây là khó khăn lớnnhất không thể giải quyết ngay được trong một thời gian ngắn.
Bên cạnh những tác động tiêu cực, cuộc khủng hoảng cũng có những yếu tốtích cực sau :
Giảm giá đồng tiền lại góp phần khuyến khích xuất khẩu, hàngxuất khẩu của các nước này có thêm cạnh tranh lớn trên thị trườngquốc tế nhất là trong tương quan so sánh với các mặt hàng cùngloại của các nước trong khu vực có đồng tiền ổn định hơn
Các yếu tố đầu vào tính bằng ngoại tệ, bao gồm tiền lương, đất đai,dịch vụ giảm một cách tương đối cao so với các nước khác, nênkhi khủng hoảng kết thúc thì chính các nước này lại có lợi thế thuhút vốn đầu tư, cả đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp
Nếu xét về lâu dài, thì đây là dịp các nước này rút ra được các bàihọc điều chỉnh lại các chính sách vĩ mô, điều chỉnh lại cơ quanphát triển kinh tế Những kết quả của các cải cách này sẽ tạo rađộng lực thúc đẩy sự phát triển một cách bền vững hơn
Không chỉ ảnh hưởng tới các nước trong khu vực châu á, cuộc khủnghoảng còn có tác động tới nền kinh tế khoẻ mạnh của Mỹ Năm 1997 là nămsức khoẻ nền kinh tế Mỹ tốt hơn bao giờ hết Giới kinh doanh Mỹ tự nhủ nếukhông có khủng hoảng châu á, năm 1998 này họ đã có thể dễ dàng tiên đoánthêm một năm ăn nên làm ra nữa Cuộc khủng hoảng đang làm các nhà xuấtkhẩu Mỹ đau đầu : thâm hụt mậu dịch chừng 115 tỷ USD trong năm 1997 sẽtăng vọt quá con số kỷ lục là 153 tỷ USD như năm 1987, nếu các công ty Mỹkhông tìm được thị trường mới ở châu á và châu Mỹ để bù đắp vào xuấtkhẩu sang châu á đang giảm sút
Vì vậy, tăng trưởng tổng sản phẩm nội địa (GDP) chỉ khoảng 2,4 % sovới 3,7 % của năm 1997, năm có mức tăng trưởng cao nhất của Mỹ kể từ
1988 Lạm phát trong năm 1997 chỉ còn 2,1%, thấp nhất kể từ năm 1965,
Trang 19nhưng nhiều người tin rằng con số này sẽ tăng lên 2,5% năm nay Tỷ lệ thấtnghiệp đã xuống còn 4,6 % vào tháng 11 năm ngoái, cũng là mức thấp nhấttrong vòng 24 năm qua, sẽ nhích lên 5% vào đầu năm 1998
II/ Đối với Việt Nam
Là một quốc gia nằm trong khu vực khủng hoảng, trong bối cảnh quốc
tế hoá cao như hiện nay, rõ ràng Việt Nam không tránh khỏi những tác độngtrực tiếp và gián tiếp, ngắn hạn và dài hạn, tốt và xấu của nó đến tất cả cáclĩnh vực kinh tế - xã hội của đất nước
Ban đầu khi cuộc khủng hoảng vừa bùng nổ nhiều ý kiến phân tíchnhận định rằng nền kinh tế Việt nam sẽ không bị ảnh hưởng hoặc ảnh hưởngkhông đáng kể , căn cứ của luận điểm trên mới chỉ dừng ở sự phân tích bềngoài như :
+ Đồng tiền Việt nam chưa phải là đồng tiền được chuyển đổi dễ dàng ,chưa tham gia vào thị trường tiền tệ khu vực
+ Việt nam chưa có thị trường chứng khoán
Tuy nhiên theo chúng tôi việc phân tích các tác động của cuộc khủnghoảng tiền tệ ở Châu á đến nền kinh tế Việt nam phải xuất phát từ góc độViệt nam đã trở thành thành viên chính thức của ASEAN , bước đầu gianhập AFTA và tới đây trong xu thế hội nhập sẽ gia nhập APEC , WTO Chỉ
có như vậy mới có thể đưa ra được những đánh giá mang tính khoa học.Đối với Việt nam cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trong khu vực đã
có những tác động ở mức độ khác nhau trên nhiều lĩnh vực chủ yếu như :thương mại, đầu tư , tâm lí xã hội và vấn đề nợ nước ngoài Sau đây ta sẽ dixem xét những ảnh hưởng trên từng lĩnh vực cụ thể :
1/ Thương mại