Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là con đường tất yếu để biến một nước có nền nông nghiệp lạc hậu thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất, tinh thần cao.
Trang 1DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Ban Chấp hành Trung ương BCHTƯ
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa CNH, HĐH
Khoa học và công nghệ KH&CN
Trang 2MỤC LỤC
Trang
Chương 1 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ
TỈNH NGHỆ AN VỀ CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN TỪ
1.1 Yêu cầu khách quan và chủ trương của Đảng bộ tỉnh
Nghệ An lãnh đạo về công nghiệp hoá, hiện đại hoá nôngnghiệp nông thôn (2001 - 2005) 101.2 Đảng bộ tỉnh Nghệ An chỉ đạo về công nghiệp hoá, hiện
đại hoá nông nghiệp nông thôn (2001 - 2005) 27
Chương 2 ĐẢNG BỘ TỈNH NGHỆ AN LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH
CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2010 382.1 Yêu cầu mới và chủ trương của Đảng bộ tỉnh Nghệ An
về đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp,
2.2 Đảng bộ tỉnh Nghệ An chỉ đạo đẩy mạnh công nghiệp
hoá, hiện đại hoá nông nhiệp, nông thôn (2006 - 2010) 47
3.1 Nhận xét quá trình Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo công
nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn (2001- 2010) 623.2 Một số kinh nghiệm rút ra từ quá trình Đảng bộ tỉnh
Nghệ An lãnh đạo công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là con đường tất yếu để biến một nước có
Trang 3nền nông nghiệp lạc hậu thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất - kỹthuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình
độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất, tinh thần cao
Đối với nước ta, CNH, HĐH là một chủ trương lớn của Đảng và Nhànước Trong các văn kiện của Đảng và chính sách của Nhà nước đều khẳng địnhCNH, HĐH là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ lên CNXH Trongnhững năm đổi mới, nước ta đã và đang đẩy mạnh CNH, HĐH, đặc biệt là đẩymạnh CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn để đến năm 2020 nước ta cơ bản trởthành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại
Nghệ An là một trong 63 tỉnh thành của cả nước đang trong quá trình đẩymạnh CNH, HĐH nói chung và CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn nói riêng.Quá trình đó đã đạt được những kết quả khá quan trọng: tốc độ tăng trưởng GDPbình quân trong 5 năm (2001 - 2005) đạt 5,5 - 6 %, trong 5 năm (2006 - 2010) đạt
5 - 6 %; giá trị thu nhập trên đơn vị diện tích tăng cao; cơ cấu kinh tế và cơ cấu laođộng nông nghiệp nông thôn có bước chuyển dịch theo hướng tích cực; cơ giớihóa nông nghiệp đang từng bước mang lại hiệu quả to lớn; máy móc hiện đại đangtừng bước thay thế lao động thủ công trong quá trình sản xuất
Tuy nhiên, quá trình CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn ở Nghệ Ancũng còn bộc lộ nhiều yếu kém như: cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thônchuyển dịch chậm; sản xuất nông nghiệp ở nhiều nơi còn phân tán, manhmún, mang nhiều yếu tố tự phát; ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ vàosản xuất chậm; trình độ khoa học, công nghệ của sản xuất còn lạc hậu; laođộng thủ công còn phổ biến, lao động qua đào tạo chiếm tỷ lệ thấp
Tiến trình CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn sẽ góp phần thúc đẩy sựphát triển KT-XH của tỉnh Nghệ An theo hướng nhanh, bền vững, phát triểnCNH, HĐH nông nghiệp nông thôn là một trong những vấn đề có tầm quantrọng đối với Nghệ An Vì vậy, việc nghiên cứu CNH, HĐH nông nghiệp,nông thôn ở tỉnh Nghệ An là vấn đề có tính cấp thiết cả về lý luận và thực
Trang 4tiễn Do đó, tác giả lựa chọn đề tài: “Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn từ năm 2001 đến năm 2010” làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Vấn đề CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn và phát triển CNH, HĐHnông nghiệp nông thôn đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và đã có một sốcông trình nghiên cứu vấn đề này và được công bố dưới dạng sách, kỷ yếu, đề tàinghiên cứu cấp nhà nước, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ và các bài viết đăngtrên các tạp chí Có thể khái quát thành các nhóm công trình nghiên cứu như sau:
* Nhóm các công trình khoa học đã xuất bản thành sách:
Về công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 1997, của Đỗ Mười (Nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp Hành Trung ương
Đảng Cộng sản Việt Nam); Phát triển nông thôn, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1997, của Phạm Xuân Nam; Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn - một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, của Hồng Vinh (chủ biên); Phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998 (tập 1, 2), của Hội Khoa học kinh tế Việt Nam; Con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, của
Ban Tư tưởng Văn hoá Trung ương, Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông
thôn; Chính sách nông nghiệp, nông thôn Việt Nam nửa cuối thế kỷ XX và một số định hướng đến năm 2010, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007 của
Lê Quang Phi Thực trạng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn của Lê Mạnh Hùng và Nguyễn Sinh Cúc, Nxb Thống kê, Hà Nội, 1998; Con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn của PGS.TS
Chu Hữu Quý, PGS.TS Nguyễn Kế Toàn (Đồng Chủ biên), Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 2001; Công nghiệp hoá từ nông nghiệp - Lý luận, thực tiễn và triển vọng áp dụng ở Việt Nam của Đặng Kim Sơn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, 2001;
Trang 5Công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam lý luận và thực tiễn của Nguyễn
Trọng Chuẩn, Nguyễn Thế Nghĩa, Đặng Hữu Toàn (Đồng chủ biên), Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội 2002; Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn ở Bắc Trung Bộ - qua khảo sát thực tiễn các tỉnh Thanh - Nghệ Tĩnh
của PGS TS Mai Thị Thanh Xuân, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004
Các công trình khoa học trên đã đi sâu nghiên cứu làm rõ sự lãnh đạocủa Đảng trước yêu cầu khách quan của quá trình CNH, HĐH nông nghiệpnông thôn ở nước ta Đồng thời khẳng định vai trò của nông nghiệp, nôngthôn trong phát triển đất nước; nêu lên một số xu hướng biến đổi, vận độngcủa kinh tế nông nghiệp, nông thôn của nước ta trong những năm đầu thế kỷXXI; làm rõ nội dung, chủ trương, giải pháp chủ yếu về CNH, HĐH nôngnghiệp nông thôn; nghiên cứu về nông nghiệp, nông thôn dưới khía cạnh laođộng và tạo việc làm ở nông thôn, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, sửdụng và quản lý tài nguyên đất và nước, sự phân tầng xã hội và việc xoá đói,giảm nghèo trong điều kiện mới; tổng kết sự lãnh đạo của Đảng về đẩy mạnhcông nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn từ năm (2001- 2010);rút ra những kinh nghiệm chủ yếu trong qua trình Đảng lãnh đạo sự côngnghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn; cung cấp một số tư liệutham khảo về lĩnh vực công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôntrong tình hình hiện nay
* Nhóm các bài báo khoa học đăng tải trên các tạp chí:
“Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn” của Hải
Đăng, Tạp chí Quốc phòng toàn dân (Số 03/1998); “Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn” của Lê Bá Thăng, Thông tin chuyên đề khoa học Công nghệ & Môi trường - Tổng cục chính trị (số 59/1998); “Phát triển
công nghiệp nông thôn - mấu chốt trong chiến lược phát triển nhanh và bền
vững nông nghiệp, nông thôn” của Nguyễn Đình Bích, Tạp chí Cộng sản (số
17/ 2003); Ngô Văn Giang “Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và
Trang 6nông thôn theo yêu cầu rút ngắn ở nước ta”, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế (số
303/2003); Dương Tùng “Phương pháp tiếp cận vấn đề nông thôn nước ta”,
Tạp chí Cộng sản (số 02/2005); Ngô Đức Thịnh “tiếp cận nông thôn Việt Nam từ mạng lưới xã hội và vốn xã hội cho phát triển”, Tạp chí Cộng sản (số
791/2008) Các tác giả trên đã đưa ra các nhận định, đánh giá về công nghiệphoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn ở nước ta; nêu lên yêu cầu tất yếuphải tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn trongtình hình hiện nay để tạo ra nền tảng vật chất, góp phần phát triển kinh tế - xãhội trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế; khái quát các vấn đề lý luận vàthực tiễn đặt ra, từ đó đưa ra các phương pháp tiếp cận công nghiệp hoá, hiệnđại hoá nông nghiệp, nông thôn một cách toàn diện và xác định chủ trương,giải pháp cơ bản đáp ứng nhu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp,nông thôn ở nước ta trong tình hình mới
* Nhóm các đề tài, luận văn, luận án tiêu biểu là:
Các công trình: “Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nôngthôn đồng bằng Bắc Bộ và tác động của nó đối với tăng cường sức mạnhphòng thủ tỉnh, thành phố thuộc khu vực này”, Luận án tiến sĩ kinh tế, Họcviện chính trị quân sự, Hà Nội, 2002 của Nguyễn Văn Bảy; công trình khoahọc này đề cập về quan niệm, vai trò của công nghiệp hoá, hiện đại hoá nôngnghiệp, nông thôn ở Việt Nam; hệ thống hoá quan điểm của Đảng Cộng sảnViệt Nam về công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn; nhữngvấn đề đặt ra, đề xuất phương hướng, giải pháp trong quá trình công nghiệphoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn; mối quan hệ giữa công nghiệp hoá,hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn ở đồng bằng Bắc Bộ với củng cố, xâydựng, tăng cường sức mạnh phòng thủ ở khu vực này, góp phần xây dựng nềnquốc phòng toàn dân và thế trận chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc
Nguyễn Đức Hưởng“Sự chuyển hướng của giai cấp nông dân trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, Luận án tiến sỹ Triết học,
Hà Nội, 1991; Bùi Thị Thanh Hương “Đặc điểm và xu hướng biến đổi của
Trang 7giai cấp nông dân nước ta trong giai đoạn hiện nay”, Luận án tiến sỹ Triết học, Hà Nội, 2000; Nguyễn Thị Tuyết Nhung “Một vài suy nghĩ về vấn đề nông dân trong xây dựng chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta”, Luận văn thạc sỹ Triết học, Hà Nội,
1995 Trong luận văn, tác giả đã làm rõ cơ sở lý luận về vai trò nông nghiệpnông thôn trong xây dựng nền kinh tế - xã hội hiện nay; bước đầu đi nghiêncứu sự phân hoá giàu nghèo, đặc điểm của giai cấp nông dân Việt Nam tronggiai đoạn tiếp theo, trình bày một số phương hướng đưa giai cấp nông dânViệt Nam phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa Các đề tài này tuy bànđến đối tượng là nông dân nhưng chưa đi sâu vào vai trò của nông dân cũngnhư việc phát huy vai trò của nông dân trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiệnđại hoá trong nông nghiệp nông thôn
Những công trình khoa học nêu trên đã đề cập cơ sở lý luận và thực tiễncủa quá trình đổi mới toàn diện đất nước về lý luận và thực tiễn trong tiến hànhcông nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn trong giai đoạn hiện nay.Nhưng chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập một cách đầy đủ, có hệ thống vềchủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo CNH, HĐH nôngnghiệp nông thôn ở tỉnh dưới góc độ khoa học Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích
Làm sáng tỏ quá trình Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo CNH, HĐHnông nghiệp nông thôn từ năm 2001 đến năm 2010; qua đó rút ra một số kinhnghiệm có thể tham khảo, vận dụng vào thời kỳ mới
Nhiệm vụ
Làm rõ yêu cầu khách quan về CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn ởNghệ An trong những năm 2001 - 2010
Phân tích, luận giải chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Nghệ
An về CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn từ năm 2001 đến năm 2010
Trang 8Đánh giá nhận xét và rút ra một số kinh nghiệm từ quá trình Đảng bộ tỉnhNghệ An lãnh đạo CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn từ năm 2001 đến năm 2010.
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu hoạt động lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Nghệ An về CNH,HĐH nông nghiệp nông thôn
Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Làm rõ chủ trương và chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Nghệ An
về phát triển CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn
Về thời gian: Từ năm 2001 đến năm 2010; tuy nhiên, để thực hiện mục
đích và nhiệm vụ nghiên cứu, đề tài còn đề cập đến khoảng thời gian trướcnăm 2001 và sau năm 2010
Về không gian: CNH, HĐH nông nghiệp trên địa bàn nông thôn tỉnh Nghệ An.
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận
Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin; phương pháp luận sử học
Phương pháp nghiên cứu
Đề tài tổng hợp các phương pháp nghiên cứu của khoa học lịch sử; chủyếu kết hợp sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc Ngoài ra, đềtài còn sử dụng một số phương pháp khác như: phân tích, tổng hợp, thống kê,
so sánh, chuyên gia để làm rõ những vấn đề cụ thể
6 Ý nghĩa của đề tài
Thành công của đề tài góp phần khẳng định vai trò quyết định của Đảng bộtỉnh Nghệ An trong việc phát triển CNH, HĐH nói chung CNH, HĐH nôngnghiệp nông thôn nói riêng ở tỉnh Nghệ An
Đề tài góp phần hệ thống hóa chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộtỉnh Nghệ An về CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn từ năm 2001 đến năm
Trang 92010 Làm sáng tỏ sự đúng đắn, sáng tạo của Đảng bộ tỉnh Nghệ An tronglãnh đạo CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn Những kinh nghiệm rút ra có ýnghĩa tham khảo, vận dụng vào giai đoạn hiện nay.
Đề tài là nguồn tư liệu để các cấp ủy Đảng, chính quyền và các tổ chứcchính trị - xã hội ở tỉnh Nghệ An tiếp tục nghiên cứu, vận dụng trong lãnh đạoCNH, HĐH nông nghiệp nông thôn trong thời kỳ mới Luận văn có thể làmtài liệu tham khảo phục vụ giảng dạy và nghiên cứu bộ môn Lịch sử Đảng ởcác học viện, nhà trường trong và ngoài quân đội
7 Kết cấu của đề tài
Phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luậnvăn gồm có 3 chương (6 tiết)
Trang 10Chương 1 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH NGHỆ
AN VỀ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP
NÔNG THÔN TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2005
1.1 Yêu cầu khách quan và chủ trương của Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn (2001 - 2005)
1.1.1 Yêu cầu khách quan về lãnh đạo phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn ở tỉnh Nghệ An
* Vị trí, vai trò công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn
Kinh tế nông nghiệp nông thôn có vị trí vai trò quan trọng đối với sựphát triển của mỗi quốc gia Những sản phẩm của kinh tế nông nghiệp nôngthôn không những đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của đời sống xã hội, mà còn cungcấp nguyên liệu cho công nghiệp, tạo cơ sở cho công nghiệp và các ngành kinh
tế quốc dân khác phát triển, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụkinh tế - xã hội, xây dựng và phát triển đất nước Do đó, đối với mỗi quốc gia,trong bất cứ thời kỳ nào, tiến hành CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn là mộttrong những nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội,nhất là đối với các quốc gia đi lên từ nền kinh tế nông nghiệp là chủ yếu
Theo đó, CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là quá trình xây dựng
cơ sở vật chất, kỹ thuật và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nôngthôn theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, hiện đại, gắn nông nghiệp với côngnghiệp và dịch vụ, cho phép phát huy có hiệu quả cao mọi nguồn lực và lợithế của nền nông nghiệp nhiệt đới, mở rộng giao lưu trong nước và quốc tếnhằm nâng cao năng suất lao động xã hội trong nông nghiệp và nông thôn,xây dựng nông thôn mới giàu có, dân chủ, công bằng, văn minh và XHCN.Thực chất CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là quá trình phát triển nôngthôn theo hướng tiến bộ KT-XH của một nước công nghiệp Điều đó cónghĩa là không chỉ phát triển công nghiệp nông thôn mà bao gồm cả việc
Trang 11phát triển toàn bộ các hoạt động, các lĩnh vực sản xuất, dịch vụ, và đờisống văn hóa, tinh thần ở nông thôn phù hợp với nền sản xuất công nghiệp
ở nông thôn và cả nước nói chung
C.Mác và Ph.Ăng ghen chỉ rõ: “Trước hết con người phải có ăn, uống,
ở và mặc nghĩa là phải lao động, trước khi có thể đấu tranh để giành quyềnthống trị ” [39, tr 166 ] Xã hội càng phát triển, đời sống càng được cải thiệnthì nhu cầu của con người về các sản phẩm nông nghiệp nông thôn ngày càngtăng về số lượng Để duy trì sự tồn tại và phát triển của xã hội cần phải tiếnhành hoạt động sản xuất nông nghiệp Phát triển kinh tế nông nghiệp cònđóng vai trò quan trọng trong tích lũy vốn ban đầu cho CNH, HĐH cung cấpnguyên liệu cho công nghiệp
Kế thừa và phát triển những tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăng ghen,V.I.Lênin đã vận dụng sáng tạo phù hợp với điều kiện cụ thể của nước Ngasau khi cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi, đất nước bước vào thời kỳquá độ đi lên CNXH V.I.Lênin luôn đánh giá cao vai trò của nông nghiệpnông dân và nông thôn trong sự nghiệp xây dựng CNXH V.I.Lênin khẳngđịnh: “cần phải lấy lương thực làm khởi điểm, vì gốc rễ của tất cả nhữngkhó khăn chính là ở chỗ đó” [38, tr 231] Đây là điều kiện quan trọng đểtiến hành CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn, điều đó không chỉ đúng vớiđiều kiện nước Nga mà còn đúng với các nước khác trong đó Việt Namcũng nằm trong điều kiện đó
Nước ta là một nước nông nghiệp, phát triển kinh tế nông nghiệp,nông thôn có vị trí vai trò hết sức quan trọng đối với sự nghiệp đấu tranhgiải phóng dân tộc Ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công, đứngtrước muôn vàn khó khăn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kịp thời phát độngtăng gia sản xuất, ổn định đời sống Khẩu hiệu được đưa ra lúc này là
“tăng gia sản xuất, tăng gia sản xuất ngay, tăng gia sản xuất nữa” [40, tr.215] Vì thế, Hồ Chí Minh rất quan tâm và đánh giá cao vai trò của phát
Trang 12triển kinh tế nông nghiệp nông thôn, đây là công việc cực kỳ quan trọngcủa quốc kế dân sinh
Nhận thức đúng đắn vai trò, tầm quan trọng về phát triển CNH, HĐHnông nghiệp nông thôn và những thành tựu công cuộc đổi mới của Đảng đãđạt được là một trong những nhiệm vụ chiến lược quan trọng hàng đầu có ýnghĩa quyết định đến thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.Trước yêu cầu của sự nghiệp cách mạng hiện nay, nước ta đang đứng trướcnhiều cơ hội mới Đồng thời cũng phải đối mặt với nhiều khó khăn, tháchthức, đòi hỏi Đảng, Nhà nước ta cần đẩy mạnh hơn nữa những chủ trương,chính sách để thúc đẩy nền kinh tế nước ta phát triển mạnh mẽ, bảo đảm chođất nước đến năm 2020 cơ bản trở thành một nước công nghiệp Thực tiễn đócho thấy tiến hành CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn là một nội dung quantrọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đang được Đảng, Nhà nướctriển khai sâu rộng trên phạm vi cả nước
* Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Nghệ An về phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn
Đặc điểm về điều kiện tự nhiên
Là một tỉnh thuộc Bắc Trung Bộ, Nghệ An nằm ở phía Đông Bắc củadãy Trường Sơn, có độ dốc thoải dần từ Tây Bắc đến Đông Nam.Diện tích tựnhiên của tỉnh là16.490,9 km2.Trong đó miền núi chiếm 3/4 diện tích, phầnlớn đồi núi tập trung ở phía Tây của tỉnh Dải đồng bằng nhỏ hẹp chỉ có 17%chạy từ Nam đến Bắc giáp biển Đông và các dãy núi bao bọc Nghệ An còn làmột đầu mối giao thông quan trọng của cả nước, có đường bộ, đường sắt,đường sông, sân bay và cảng biển, được hình thành và phân bố khá hợp lýtheo các vùng dân cư và các trung tâm hành chính, kinh tế
Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa mang tính chuyển tiếp củakhí hậu miền Bắc và miền Nam, hàng năm Nghệ An có số giờ nắng trongnăm từ 1.500 - 1.700 giờ, bức xạ mặt trời 74,6 Kalo/cm2, nhiệt độ trung bình
Trang 13hàng năm khoảng 230C, cao nhất là 430C và thấp nhất là 20C, lượng mưatrung bình năm là 1.800 - 2.000mm Mặt khác, hàng năm Nghệ An còn phảichịu ảnh hưởng của những đợt gió Tây Nam khô nóng và bão lụt lớn Vì thế,mùa mưa thường gây ngập úng và mùa khô hanh thường hay hạn hán làm chođời sống người nông dân và sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn.
Theo số liệu Niên giám thông kê tỉnh Nghệ An: “Trong số 1.649.085,1 ha
đất tự nhiên của Nghệ An thì đất sản xuất nông nghiệp khoảng 26.935,2 ha,chiếm gần 16,13% diện tích; đất lâm nghiệp có trên 970.570,4 ha (58,86%); đấtchuyên dùng 68.169,9 ha (4,13%); đất ở 20.440,9 ha (1,24%)” Hiện nay, “diệntích rừng của tỉnh là trên 685.000 ha, trong đó rừng phòng hộ là 320.000 ha,rừng đặc dụng chiếm gần 188.000 ha, rừng kinh tế trên 176.000 ha” Nhìn chungrừng ở đây rất đa dạng, có tiềm năng khai thác và giá trị kinh tế cao
Nghệ An có bờ biển dài 82 km, 6 cửa lạch, trong đó Cửa Lò và CửaHội có nhiều điều kiện thuận lợi nhất cho xây dựng cảng biển Đặc biệt, biểnCửa Lò được xác định là cảng biển quốc tế quan trọng của vùng Bắc Trung
Bộ, đồng thời cũng là cửa ngõ giao thông vận tải biển giữa Việt Nam, Lào vàvùng Đông Bắc Thái Lan Hải phận Nghệ An có 4.230 hải lý vuông, tổng trữlượng cá biển trên 80.000 tấn, khả năng khai thác trên 35 - 37 nghìn tấn/năm
Tỉnh có nguồn tài nguyên khoáng sản quý hiếm như vàng, đá quý, ru
bi, thiếc, đá trắng, đá granít, đá bazan Đặc biệt là đá vôi (nguyên liệu sản xuất
xi măng) có trữ lượng trên 1 tỷ m3, trong đó vùng Hoàng Mai, huyện Quỳnh Lưu
có trên 340 triệu m3; vùng Tràng Sơn, Giang Sơn, Bài Sơn thuộc huyện ĐôLương có trữ lượng trên 400 triệu m3 vẫn chưa được khai thác; vùng Lèn KimNhan xã Long Sơn, Phúc Sơn, Hồi Sơn (Anh Sơn) qua khảo sát có trên 250 triệu
m3; vùng Tân Kỳ, Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp ước tính 1 tỷ m3 Đá trắng ở Quỳ Hợp
có trên 100 triệu m3; tổng trữ lượng đá xây dựng toàn tỉnh ước tính trên 1 tỷ m3
Đá bazan trữ lượng 360 triệu m3; thiếc Quỳ Hợp trữ lượng trên 70.000 tấn, nướckhoáng Bản Khạng có trữ lượng và chất lượng khá cao Ngoài ra tỉnh còn có một
số loại khoáng sản khác như than bùn, sản xuất phân vi sinh, quặng mănggan,
Trang 14muối sản xuất sôđa là nguồn nguyên liệu để phát triển các ngành công nghiệp,vật liệu xây dựng, hoá chất, công nghiệp hàng tiêu dùng và xuất khẩu.
Tuy nhiên, trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp nông thôn
ở Nghệ An hiện nay nổi lên đặc điểm mang tính đặc thù đó là: tỷ trọng các ngànhtrồng trọt, chăn nuôi truyền thống ngày càng giảm, trong khi tỷ trọng các ngànhchăn nuôi quy mô lớn, nuôi trồng thủy hải sản ngày càng tăng; cùng với đó là sựxuất hiện nhiều ngành phụ trợ cho nông nghiệp như công nghiệp, nông nghiệp,dịch vụ nông nghiệp; các khu công nghiệp ở nông thôn xuất hiện ngày càngnhiều Chính đặc điểm mang tính đặc thù này có ảnh hưởng rất lớn đến pháttriển nông nghiệp nông thôn ở tỉnh Nghệ An trong những năm tiếp theo của quátrình đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn của tỉnh
Đặc điểm về kinh tế - xã hội
Nghệ An là tỉnh có 19 đơn vị hành chính gồm: Thành phố Vinh, thị xãCửa Lò, thị xã Thái Hòa, 10 huyện miền núi: Thanh Chương, Tân kỳ, AnhSơn, Tương Dương, Con Cuông, Kỳ Sơn, Nghĩa Đàn, Quỳ Châu, Quế Phong
và 7 huyện đồng bằng: Đô Lương, Nam Đàn, Hưng Nguyên, Nghi Lộc, YênThành, Diễn Châu, Quỳnh Lưu với tổng số 473 xã, phường và thị trấn
Nghệ An hội đủ các tuyến giao thông quốc gia đi qua địa bàn như: Đường
bộ, đường sắt, đường thủy, đường hàng không Về đường bộ có 12.971 km,trong đó có 2.828 km đường nhựa, 3.790 km đường bê tông, 976 km đường đádăm và 5.377 km đường cấp phối, đường đất Quốc lộ số 1 dài 91 km, đường HồChí Minh chạy song song với quốc lộ dài 132 km, quốc lộ 15 ở phía Tây dài 149
km chạy xuyên suốt tỉnh Từ đông sang Tây có quốc lộ 7 dài 225 km, quốc lộ 46dài 90km, quốc lộ 48 dài 122 km, là những tuyến đường nối liền phía Đông vàphía Tây của tỉnh, với các cửa khẩu của nước bạn Lào Bên cạnh đó, tỉnh có 421
km đường cấp tỉnh và 3.670 km đường cấp huyện đã tạo nên mạng lưới giaothông đường bộ thuận tiện, đóng vai trò quan trọng trong giao lưu hàng hóa Bắc
- Nam, vận tải quá cảnh và luân chuyển hàng hóa nội tỉnh
Trang 15Về đường sắt, tuyến đường sắt Bắc - Nam qua Nghệ An dài 94 km, với 8
ga, trong đó ga Vinh là ga chính có khối lượng hành khách và hàng hóa thông qualớn Ngoài ra, còn có tuyến đường sắt Cầu Giát - Nghĩa Đàn, Quán Hành - Cửa Lòphục vụ cho việc vận chuyển hành khách, hàng hóa phát triển kinh tế nội tỉnh
Nghệ An có hệ thống đường sông phong phú, với chiều dài gần 1.200 km,
có đường biển nội tỉnh dài 107 km Tỉnh có 3 bến cảng quan trọng: Cảng hàngkhông với sân bay Vinh đang được nâng cấp để trở thành cảng hàng không quốc
tế hiện đại; Cảng biển Cửa Lò với quy mô hiện tại 1,3 triệu tấn, tàu ra vào 1 vạntấn và đạt công suất 3,5 triệu tấn vào 2010, 6 - 7 triệu tấn vào năm 2020, tàu ravào 3 - 4 vạn tấn, là tiềm năng lớn cho vận tải biển và xuất nhập khẩu hàng hóacủa Nghệ An, khu vực Bắc Trung Bộ Đồng thời là cửa ngõ của nước bạn Lào,đông Bắc Thái Lan và cảng Bến Thủy là bến cảng lớn nhất trên Sông Lam
Dân số của Nghệ An năm 2010 là 2.952.000 người Trong đó khu vực
nông thôn có hơn 2.551.500 người, 1,06 triệu lao động trong lĩnh vực lâm-ngư nghiệp, chiếm 87,37% dân số và 66,16% lao động cả tỉnh Cơ cấudân số Nghệ An cũng rất trẻ, độ tuổi dưới 14 chiếm hơn 40% Điều này nóilên tiềm năng lao động của Nghệ An đang và sẽ rất lớn
nông-Tuy nhiên, với hơn 89% dân số sống trên địa bàn nông thôn thì quátrình đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn đối với Nghệ An là côngviệc trước hết mà Đảng bộ và nhân dân Nghệ An hết sức quan tâm, chú trọngtrong công cuộc CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn Nông thôn Nghệ An tậptrung phần lớn dân cư sống tập trung, trong khi đó cơ cấu hạ tầng, điều kiệnkinh tế - xã hội, văn hóa còn nhiều khó khăn Sản xuất nông nghiệp là hoạtđộng kinh tế chính trên địa bàn chính nông thôn, đóng vai trò lớn trong cơ cấukinh tế của tỉnh, đảm bảo an ninh lương thực đồng thời góp phần thúc đẩytăng trưởng kinh tế - xã hội của tỉnh Chính vì vậy, cần sự quan tâm hơn nữacủa chính quyền địa phương
Trang 16Ngoài ra Nghệ An còn có điều kiện thuận lợi trong công cuộc phát triểnkinh tế - xã hội, đặc biệt là có điều kiện thuận lợi để đẩy nhanh công cuộc CNH,HĐH nông nghiệp nông thôn phát triển một nền kinh tế toàn diện, đa dạng Tuynhiên, để Nghệ An có thể phát triển nhanh, mạnh theo hướng CNH, HĐH thìĐảng bộ và nhân dân cần phải hết sức nổ lực và đoàn kết, tận dụng tối đa nhữngtiềm năng thế mạnh hiện có, khắc phục những hạn chế, khó khăn để đưa sựnghiệp CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn sớm đạt kết quả đề ra.
* Thực trạng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn của tỉnh Nghệ An trước năm 2000
Dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy và Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An, tiếnhành CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn của tỉnh trước năm 2000 đã đạtđược nhiều thành tựu quan trong trên tất cả các lĩnh vực Vì vậy tiến hànhCNH, HĐH nông nghiệp nông thôn đã đạt được chỉ tiêu mà nghị quyết Đạihội Đảng bộ tỉnh khóa XIII, XIV đề ra
Sản xuất nông nghiệp có bước phát triển nhanh và khá ổn định:
Về trồng trọt, sản xuất nông nghiệp liên tục phát triển với tốc độ từ 5
- 5,5% năm trong 10 năm qua, bước đầu đã hình thành một số sản phẩmhàng hóa tập trung, gắn với công nghiệp chế biến tạo nên một khối lượngnông sản hàng hóa tương đối khá, đáp ứng nhu cầu trong tỉnh và xuất khẩu.Sản xuất lương thực đạt kết quả khá, sản lượng lương thực liên tục tăngnhanh qua các năm Năm 1991, toàn tỉnh mới đạt 45,3 vạn tấn, năm 2000
đã đạt trên 83 vạn tấn Đảm bảo cơ bản lương thực cho nhân dân trong tỉnh,
có dự trữ, bắt đầu có lương thực hàng hóa Đã hình thành một số vùng sảnxuất cây công nghiệp tập trung với công nghiệp chế biến, tạo khối lượnghàng hóa xuất khẩu khá như: Vùng chè trên 5.000 ha ở Thanh Chương,Anh Sơn Vùng cà phê trên 3.000 ở Phủ Quỳ Gần 2.000 ha cam NghĩaĐàn, Tân kỳ, Quỳ Hợp Gần 30 ngàn ha lạc ở Diễn Châu, Nghi Lộc, NamĐàn, Thanh Chương Trên 20 ngàn ha mía ở Phủ Quỳ, Tân Kỳ, Anh Sơn
Trang 1710 ngàn ha vừng ở Diễn Châu, Nghi Lộc Đã góp phần không nhỏ làmtăng kim ngạch xuất khẩu của tỉnh nhà Năm 1991 kim ngạch xuất khẩu từnông lâm thủy sản đạt 4 triệu USD, đến năm 2000 đạt trên 10 triệu USD.
Về chăn nuôi, tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp đạt 27% Năm
2000 tổng đàn trâu đạt 26,5 vạn con, tăng 57 ngàn con, đàn bò hơn 26,8 vạncon, tăng 69 ngàn con, đàn lợn trên 83 vạn con, tăng 320 ngàn con so với năm
1991 Thực hiện chương trình cải tạo đàn bò đạt kết quả khá, đến nay tỷ lệ bò laisind đạt 33% tổng đàn, lợn giống mới đạt tỷ lệ 40% tổng đàn Bắt đầu hình thànhnghề nuôi lợn sữa, lợn nạc, bò sữa Góp phần đưa ngành chăn nuôi của tỉnh cóbước tăng trưởng nhanh, trở thành một ngành sản xuất chính trong nông nghiệp
Về lâm nghiệp, công tác lâm nghiệp được chú ý phát triển toàn diện,
chuyển từ nền lâm nghiệp truyền thống lấy khai thác làm chính sang nền lâmnghiệp xã hội, lấy bảo vệ, khoang nuôi làm giàu vốn rừng, trồng rừng mớilàm chính Hàng năm trồng mới 10-15 ngàn ha Khoanh nuôi bảo vệ 563 ngàn
ha, từ những năm 1990 về trước mỗi năm khai thác 30-40 ngàn m3 gỗ rừng tựnhiên Nay chỉ khai thác mỗi năm 13-15 ngàn m3(kể cả rừng trồng) Do vậythảm thực vật được phát triển tốt, tăng tỷ lệ che phủ từ 36% năm 1991 - 1995lên 42% năm 2000, môi trường sinh thái được phục hồi
Về thủy sản, đã có sự chuyển đổi nhanh về cơ cấu tàu theo hướng giảm
thuyền nhỏ, tăng thuyền lớn có công suất cao So với năm 1995, tổng số tàuthuyền giảm từ 3.114 CV chiếc xuống còn 277 chiếc, nhưng tổng công suấttăng từ 46.571 CV lên 98.000 CV Thuyền thủ công giảm từ 499 chiếc xuốngcòn 80 chiếc Loại 33 - 90 CV tăng từ 62 chiếc lên 833 chiếc, loại trên 90 CVđến nay toàn tỉnh đã có 103 chiếc với công suất 17.600 CV Bên cạnh đó, sảnlượng đánh bắt năm 2000 đạt 29.000 tấn tăng 14.000 tấn so với năm 1991.Diện tích nuôi trồng tăng từ 9.000 ha năm 1995 lên 13.000 ha năm 2000,trong đó có 40 ha diện tích nuôi tôm công nghiệp Sản lượng tăng từ 5.700 tấnlên 8.000 tấn năm 2000 Phong trào nuôi trồng thủy sản không chỉ phát triển
Trang 18mạnh ở vùng đồng bằng ven biển mà được nhân rộng hầu khắp ở các huyệnmiền núi như Tân Kỳ, Quỳ Hợp, Quế Phong, Kỳ Sơn Góp phần tăng thunhập xóa đói giảm nghèo cho đồng bào các dân tộc vùng sâu, vùng xa.
Đã hình thành một số vùng sản xuất tập trung gắn với công nghiệp chế biến: Công nghiệp chế biến nông, lâm thủy sản phát triển nhanh với nhịp độ
12 - 14% năm Góp phần tăng giá trị sản phẩm nông nghiệp và kim ngạchxuất khẩu Trong năm 2000 công nghiệp chế biến nông lâm sản, thực phẩmchiếm tỷ trọng 36 - 40%, giá trị công nghiệp, tốc độ tăng trưởng bình quân13,8% Đây là ngành công nghiệp được chú trọng ưu tiên đầu tư, năng lực sảnxuất tăng nhanh và hình thành một số cơ sở có quy mô lớn như: Chế biến chè,với diện tích chè hiện có 5.000 ha Trong đó diện tích kinh doanh trên 3.500
ha, sản lượng 15.000 tấn búp tươi, có 3 dây chuyền chế biến lớn 12 tấn búptươi/ngày và 1 số dây chuyền chế biến khác, đưa tổng công suất lên gần 60tấn búp tươi ngày, tiêu thụ cơ bản hết nguyên liệu của nông dân Năm 2000chế biến được 3.000 tấn chè búp khô Xuất khẩu 2.800 tấn, nội tiêu 200 tấn.Chế biến mía đường với diện tích 22.000 ha, sản lượng gần 1 triệu tấn míacây, với 3 nhà máy có công suất gần 8.000 tấn mía cây/ngày Đảm bảo tiêuthụ hết nguyên liệu của các vùng Chế biến dầu thực vật 10.000 tấn/năm, sảnxuất bia 13 triệu lít/năm, lạc bọc đường, sơ chế cà phê, cao su Chế biến xuấtkhẩu súc sản với nhà máy có công suất 2,5 ngàn tấn/năm Hàng năm chế biến
và xuất khẩu 1.500 - 1.600 tấn thịt mảnh, 45 - 50 ngàn con lợn sữa, 200 tấntôm cá xuất khẩu Năm 2000 chế biến được 10 triệu lít nước mắm, tăng 8,16triệu lít so với năm 1991, tăng 3 triệu lít so với năm 1995 Nâng cấp các nhàmáy chế biến hải sản 38A và 38B đủ điều kiện xuất khẩu sang thị trường EU.Đưa kim ngạch xuất khẩu từ 1,2 triệu USD năm 1991 lên 4,1 triệu USD năm
1995 và 10 triệu USD năm 2000 Bên cạnh các nhà máy hiện có, tiếp tục xâydựng các nhà máy mới để tổ chức sản xuất nguyên liệu để chế biến bột giấy,bột sắn, bột chuối, nước dứa cô đặc, chế biến sữa
Trang 19Bên cạnh những kết quả đạt được còn có những tồn tại chủ yếu.
Một là, cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn, đặc biệt trong nội ngành
nông nghiệp chuyển dịch chậm, kinh tế lâm nghiệp chưa phát triển, chủ yếu làsản xuất trồng trọt, chăn nuôi chưa phát triển so với tiềm năng Nuôi trồngthủy sản còn kém, đánh bắt xa bờ hiệu quả thấp Sản lượng xuất khẩu nhỏ bé,chưa tương xứng với tiềm năng và phương thức đầu tư Cơ cấu kinh tế nôngthôn chủ yếu là nông nghiệp, dịch vụ và công nghiệp chế biến tỷ lệ còn thấp,nhiều vùng trong tỉnh vẫn trong tình trạng sản xuất thuần nông, chưa tạo ratiền đề để công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn
Hai là, nhiều tiềm năng to lớn chưa được khai thác đúng mức, trong
nhiều năm qua có nhiều tiềm năng để phát triển sản xuất và xây dựng nôngthôn to lớn chưa được khai thác đúng mức như: Lao động, vốn, vật tư, kinhnghiệm của nhân dân nông thôn, đặc biệt là việc sử dụng đất đai kém hiệuquả, chỉ mới tập trung khai thác đất trồng lúa vùng đồng bằng, thế mạnh đấtđai vùng trung du, miền núi chưa được quan tâm đúng mức Sản xuất còn manhmún, quy mô sản xuất hộ gia đình nhỏ bé, còn mang nặng tính tự cung, tự cấpthiếu bền vững Khối lượng hàng hóa nông sản nhỏ bé phân tán, chưa ổn định.Sản xuất nông nghiệp tăng trưởng chủ yếu theo sản lượng, chưa coi trọng việcnâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả, chưa gắn với công nghiệp chế biến
và thị trường tiêu thụ Sản phẩm nông nghiệp tiêu thụ khó khăn do chất lượng,mẫu mã kém, giá thành lại cao Bình quân diện tích canh tác thấp 0,3 - 0,4 ha/hộ,lại phân chia manh mún 12 - 14 thửa/hộ, có thửa chỉ có 30 - 40 m2 Nếu khôngđược xử lý thì không thể tiến hành CNH, HĐH nông thôn
Ba là, cơ sở hạ tầng đã được tăng cường, nhưng vẫn còn yếu kém, chưa
đáp ứng được yêu cầu sản xuất theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Hệthống thủy lợi mới chỉ đáp ứng được cho cây lúa, thủy lợi cho cây côngnghiệp, cây ăn quả, cây hoa màu gần như chưa có Nhiều công trình được xâydựng đã khá lâu, nay bị xuống cấp nghiêm trọng, chưa được nâng cấp và khôi
Trang 20phục Hệ thống giao thông nông thôn đã được cải thiện nhưng vẫn còn nhiềuyếu kém, đặc biệt là chất lượng đường giao thông: 50% đường cấp xã, 30%đường cấp huyện, ô tô không đi lại được vào mùa mưa Hệ thống điện nôngthôn đang bị xuống cấp nghiêm trọng, tổn thất điện năng lớn, chất lượng điệnkhông ổn định, giá điện nông dân phải trả còn cao hơn 1,5 - 2,5 lần so với giáquy định Thông tin thị trường ở khu vực nông thôn hầu như chưa có.
Bốn là, chưa phát huy được vai trò lãnh đạo, sự chỉ đạo kịp thời của các cấp, các thành phần kinh tế trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, Trong lãnh đạo, chỉ đạo có lúc chưa kịp thời đội ngũ cán bộ các cấp
nhất là cán bộ cơ sở còn thiếu kinh nghiệm, có lúc không sâu sát, thiếu cươngquyết trong tổ chức chỉ đạo thực hiện Bên cạnh đó, kinh tế tập thể, quốcdoanh còn lúng túng về nội dung và phương thức hoạt động, hiệu quả thấp.Quan hệ sản xuất chậm đổi mới, nên chưa khai thác hết thế mạnh của cácthành phần kinh tế Trong khi thực hiện cơ chế thị trường có sự quản lý củaNhà nước, ruộng đất được giao ổn định và lâu dài cho hộ nông dân, vai trò củaHTX kiểu cũ không còn phát huy tác dụng, việc thành lập và chuyển đổi theo luậtcòn chậm và hiệu quả chưa rõ, nhiều địa phương đang để tự người nông dân lođối phó với tất cả những rủi ro của thời tiết, của cơ chế thị trường, tự lo cả đầu vào
và đầu ra của sản xuất, kìm hãm sản xuất nhất là sản xuất nông sản hàng hóa Cácthành phần kinh tế quốc doanh chưa làm tròn chức năng trung tâm văn hóa, khoahọc kỹ thuật, giải quyết đầu vào, đầu ra cho kinh tế hộ Kinh tế hộ nhất là kinh tếtrang trại, kinh tế tư nhân phát triển chậm, quy mô nhỏ, phân tán
Năm là, ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp còn hạn chế Trang thiết bị và công nghệ sản xuất còn yếu kém Tỷ lệ cơ giới hóa
vào các khâu sản xuất nông nghiệp còn rất thấp, nhiều khâu trong sản xuấtchưa được cơ khí hóa như gieo cấy, thu hoạch, một số khâu nặng nhọc nhưlàm đất, vận chuyển, gặt đập tỷ lệ cơ giới vẫn còn quá thấp, lao động thủ công
là chính Máy móc nhiều chủng loại gây khó khăn cho công tác sữa chữa,
Trang 21cung ứng phụ tùng, chất lượng máy kém, giá còn quá cao so với sức mua củanông dân, chưa có định hướng và chính sách đồng bộ để phát triển ngành cơđiện phục vụ nông nghiệp và phát triển nông thôn.
* Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn (2001 - 2005)
Đảng ta xác định, đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn lànhiệm vụ quan trọng hàng đầu, vừa có tính cấp bách trước mắt và có tínhchiến lược lâu dài Từ đòi hỏi khách quan của nền kinh tế - xã hội ở nôngthôn nước ta khi nền nông nghiệp còn lạc hậu, khoa học kỹ thuật kém pháttriển, năng suất lao động nông nghiệp thấp, trong khi nông nghiệp lại chiếmtỷ trọng lớn trong nền kinh tế quốc dân Do đó, CNH, HĐH nông nghiệp nôngthôn là chủ trương đúng đắn của Đảng ta nhằm cơ khí hóa, điện khí hóa, ápdụng KHCN tiên tiến vào sản xuất, tăng năng suất lao động, tăng thu nhập,tạo mức sống ổn định và phát triển, nâng cao đời sống nhân dân và nông thôn.Đây là quan điểm nhất quán của Đảng ta về CNH, HĐH nền kinh tế nước tanói chung và CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn nói riêng Là vấn đề có tínhchiến lược lâu dài để ổn định và phát triển kinh tế đất nước Đại hội đại biểutoàn quốc lần thứ IX của Đảng (4/2001) tiếp tục phát triển và hoàn thiện quanniệm và nội dung CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn và khẳng định:
Đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn, đưa nông nghiệp, lâmnghiệp, ngư nghiệp lên một trình độ mới bằng cách đẩy nhanh thủy lợihóa, cơ giới hóa, điện khí hóa đồng thời ứng dụng khoa học, công nghệnhất là công nghệ sinh học, theo hướng hình thành nền nông nghiệphàng hóa phù hợp với nhu cầu của thị trường và điều kiện sinh thái củatừng vùng Chú trọng tạo và sử dụng giống cây, con giống có năngsuất, chất lượng cao, đưa nhanh công nghệ mới vào sản xuất, thuhoạch, bảo quản, chế biến nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh củanông sản [29, tr 169]
Trang 22Đảng xác định: CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn là một bộ phậnquan trọng của công nghiệp hóa, một nội dung phát triển của nông thôn Chủtrương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta khẳng định con đường tất yếu đểthoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu và đưa nông nghiệp nông thôn nước ta lên sảnxuất lớn Đảng ta không những xác định CNH, HĐH là nhiệm vụ trung tâmcủa thời kỳ quá độ lên CNXH, mà còn nhấn mạnh: “Đẩy nhanh CNH, HĐHnông nghiệp nông thôn theo hướng hình thành nền nông nghiệp hàng hóa lớn,phù hợp với nhu cầu thị trường định hướng XHCN” [29, tr 168].
Tại Hội nghị TW 5 khóa IX (2002) về “Đẩy mạnh công nghiệp hóa,hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn thời kỳ 2001 - 2010”, Đảng ta đãtiếp tục làm rõ hơn về quan niệm, cũng như xác định nội dung tổngquát, quan điểm và mục tiêu, những chủ trương và giải pháp lớn vềCNH, HĐH nông nghiệp nông thôn Trong đó mục tiêu chỉ rõ: “Côngnghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn là một trong nhữngnhiệm vụ quan trọng hàng đầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước Phát triển công nghiệp, dịch vụ phải gắn bó chặt chẽ, hỗ trợ đắclực và phục vụ có hiệu quả cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa nôngnghiệp nông thôn Xây dựng một nền nông nghiệp sản xuất hàng hóalớn, hiệu quả bền vững, có năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh caotrên cơ sở ứng dụng các thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến, đáp ứngnhu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu; xây dựng nông thôn ngàygiàu đẹp, công bằng, dân chủ, văn minh, có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệsản xuất phù hợp, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phát triển ngày cànghiện đại [30, tr 91, 95]
Như vậy, thực chất của quá trình CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn làtạo ra những tiền đề cần thiết về vật chất, kỹ thuật, đào tạo phát triển nguồnlực con người, công nghệ, phương tiện, phương pháp, những yếu tố cơ bảncủa LLSX CNXH Quá trình CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn không chỉ
Trang 23đơn giản là phát triển công nghiệp nông thôn và hiện đại hóa một số côngđoạn sản xuất nông nghiệp như: Cơ giới hóa, điện khí hóa, mà đó còn baogồm toàn bộ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đời sống vật chất vàvăn hóa tinh thần nói chung ở nông thôn phù hợp với nền sản xuất công nghệhiện đại và phương thức tổ chức tiên tiến.
1.1.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Nghệ An về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn (2001 - 2005)
Đánh giá kết quả nền kinh tế nông nghiệp nông thôn của tỉnh giai đoạn(1991- 2000), Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Nghệ An lần thứ XV (2/2001),Đại hội đánh giá 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ lần
thứ XIV, đề ra phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn trong những năm (2001 - 2005)
Phương hướng:
Phát huy thế và lực hiện có, khai thác có hiệu quả các công trình kinh tế
- xã hội đã được xây dựng; tận dụng mọi nguồn lực cho đầu tư sản xuất, pháttriển kết cấu hạ tầng, thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tếtheo hướng CNH, HĐH, trọng tâm là CNH nông nghiệp và nông thôn, tạo ranhiều sản phẩm có giá trị, có chất luợng và sức cạnh tranh cao
Phát triển mạnh nguồn nhân lực, mở rộng và nâng cao chất lượng giáodục và dạy nghề; chăm lo giải quyết tốt các vấn đề xã hội; nâng cao đời sống vănhoá và tinh thần của nhân dân, đấu tranh phòng chống các tệ nạn xã hội; giữvững ổn định chính trị, đảm bảo quốc phòng an ninh và tật tự an toàn xã hội
Bảo vệ môi trường sinh thái; phấn đấu đến năm 2005 thu nhập nội tỉnh(GDP) tăng 1,6 - 1,65 lần và thu nhập bình quân quân đầu người tăng ít nhất1,5 lần so với năm 2000, tạo tiền đề vững chắc đưa Nghệ An ra khỏi tỉnhnghèo vào thời kỳ 2006 - 2010 [25, tr 34, 35]
Quan điểm chỉ đạo:
Trang 24Thứ nhất, có chính sách khuyến khích và tạo thuận lợi cho các hộ nông dân dồn đất, chuyển thửa, trên cơ sở chuyển lao động nông nghiệp sang các
ngành nghề khác, bảo đảm việc làm ổn định, thúc đẩy quá trình tích tụ ruộngđất thông qua các hình thức hợp tác xã cổ phần tạo điều kiện hình thànhvùng chuyên canh, thâm canh Tổ chức việc tưới tiêu có hiệu quả, đưa cơ giớivào sản xuất nông nghiệp nông thôn, đồng thời phát triển các loại hình dịch vụhợp tác xã ở nông thôn, tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho nông dân, giảmbớt nông nghiệp thuần túy, tăng hộ nông dân kiêm ngành nghề và dịch vụ, gắnphát triển nông nghiệp với xây dựng nông thôn mới [25, tr.37, 38]
Thứ hai, tập trung chuyển dịch cơ cấu về mùa vụ, cây trồng, con nuôi, thâm canh, tăng năng suất, bảo đảm an toàn về lương thực, phát triển chăn nuôi, có dự trữ một phần cho xuất khẩu Trên cơ sở đó phát triển mạnh cây
thực phẩm, cây công nghiệp, cây ăn quả, chăn nuôi, trồng rừng và nuôi trồngthủy sản Trong đó, chú trọng xây dựng các khu rừng kinh tế, đưa nghề rừngthành một ngành kinh tế quan trọng, để người dân vùng núi sống và làm giàuchủ yếu bằng nghề rừng [25 ,tr 38]
Thứ ba, phát triển nông nghiệp nông thôn gắn liền với công nghiệp chế biến, thị trường tiêu thụ sản phẩm, thực hiện đường lối thâm canh hợp lý kết
hợp với mở rộng diện tích, sử dụng có hiệu quả đất đai, áp dụng các tiến bộkhoa học kỹ thuật vào quá trình sản xuất cũng như chế biến, tiêu thụ sảnphẩm, gắn quá trình sản xuất với thị trường xuất khấu
Thứ tư, nâng cấp phát triển mạng lưới giao thông và điện nông thôn.
Từng bước đưa công nghiệp chế biến với quy mô thích hợp về vùng nguyênliệu, hình thành các thị trấn, thị tứ mới; khuyến khích phát triển tiểu thủ côngnghiệp, các trung tâm thương mại dịch vụ ở thị trấn, thị tứ, nhằm thúc đẩygiao lưu hàng hóa giữa thành thị và nông thôn [ 25, tr 4]
Thứ năm, kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, xóa đói giảm nghèo và khuyến khích làm giàu trong phát triển
Trang 25nông nghiệp nông thôn Thúc đẩy giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo,
khuyến khích làm giàu, không ngừng nâng cao đời sống vật chất tinh thần của
cư dân và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc; phát triển nông nghiệp nông thôngắn liền với bảo vệ môi trường và phát triển bền vững trên địa bàn tỉnh
Cơ cấu kinh tế nông thôn: Năm 2000, nông nghiệp 50,79%, côngnghiệp xây dựng 21,25%, dịch vụ 27,96% Năm 2005, nông nghiệp 44 - 41%,công nghiệp xây dựng 28 - 29%, dịch vụ 28 - 30%
Thu nhập bình quân/1ha: Năm 2000, 12 triệu đồng/năm; năm 2005, 20triệu đồng
Tỷ lệ lao động nông nghiệp: năm 2000 chiếm 70,5%; năm 2005chiếm 58,7%
Thu nhập bình quân/người/năm ở nông thôn: năm 2000 đạt 3 triệuđồng; năm 2005 đạt 5 triệu đồng
Tỷ lệ hộ đói nghèo: Năm 2000: 19%; năm 2005: 10%
Tỷ lệ số dân nông thôn được dùng nước sạch: Năm 2000: 55%; năm2005: 70 - 80%
Trang 26đất trồng cây công nghiệp, cây ăn quả, trồng rừng, phủ xanh đất trống, đồinúi trọc; sử dụng cao nhất diện tích mặt nước để nuôi trồng thủy, hải sản; bốtrí diện tích cần thiết cho nhu cầu phát triển dịch vụ, xây dựng kết cấu hạtầng nông nghiệp.
Hai là, làm tốt công tác thủy lợi phục vụ tưới tiêu theo yêu cầu thâm canh, tăng vụ, đổi mới cơ cấu cây trồng, mở rộng khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư Tập trung đầu tư cơ sở hạ tầng giao thông, thủy lợi, điện, nước
để phát triển kinh tế nông nghiệp, phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp,làng nghề và dịch vụ ở nông thôn, nhất là ở vùng đồi núi, vùng kinh tế khókhăn Quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên, chủ động giảiquyết tốt vấn đề môi trường sinh thái
Ba là, chú trọng về cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi, cơ cấu mùa vụ, tạo năng suất, chất lượng sản phẩm và hiệu quả kinh tế cao Trước hết, chú
trọng cơ cấu chất lượng giống ( cả giống lúa, rau màu, cây công nghiệp, chănnuôi và cây ăn quả) Tổ chức sản xuất giống lúa lai và giống lúa có chất lượngcao vào sản xuất, đảm bảo vừa nâng cao năng suất vừa có sức chống sâubệnh, úng hạn và chất lượng tốt Chú trọng đảm bảo thời vụ gieo cấy, đảmbảo tỷ lệ thích hợp lúa xuân muộn, lúa mùa sớm Phát triển đàn lợn có tỷ lệnạc cao, đàn bò thịt theo hướng lai sind, nghiên cứu sản xuất giống tôm súcho vùng nuôi tôm ven biển
Bốn là, đẩy mạnh ứng dụng các tiến bộ khoa học, công nghệ mới,
mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm trong nước và xuất khẩu Nâng cao
chất lượng hoạt động khoa học công nghệ, hệ thống dịch vụ khuyến nông,khuyến lâm, khuyến ngư để đẩy nhanh quá trình chuyển giao tiến bộ khoahọc kỹ thuật vào sản xuất Thực hiện cơ giới hóa và điện khí hóa các khâutrong sản xuất, bảo quản và chế biến nông sản Tiếp tục nâng cao hiệu quảđổi mới cơ cấu mùa vụ, cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi, đẩy mạnh nuôi
Trang 27lợn hướng nạc, sind hóa đàn bò và ứng dụng công nghệ sinh học vào sảnxuất nông nghiệp.
Năm là, đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ các cấp nâng cao chất lượng dạy nghề và hướng nghiệp cho lao động nông thôn Các
cấp, các ngành cần phối hợp chặt chẽ với các trường, trung tâm dạy nghề để
có kế hoạch bồi dưỡng, nâng cao trình độ, năng lực cho đội ngũ cán bộ các cấp.Tăng cường công tác quản lý, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, giáo viên, đầu tư cơ sởvật chất kỹ thuật để nâng cao chất lượng đào tạo của các nhà trường và trung tâmdạy nghề Nghiên cứu đổi mới hình thức đào tạo, gắn đào tạo với nhu cầu sửdụng lao động Có cơ chế hỗ trợ cho doanh nghiệp tự đào tạo nghề cho người laođộng và thu hút nhân tài, phục vụ yêu cầu của thực tế đòi hỏi trong quá trìnhthực hiện CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn của tỉnh Nghệ An
1.2 Đảng bộ tỉnh Nghệ An chỉ đạo về phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn (2001 - 2005)
1.2.1 Chỉ đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Thực hiện Nghị quyết của Đại hội Đảng bộ tỉnh lầ thứ XV và Nghịquyết số 11-NQ/TU ngày 24-4-2002 của BCH Đảng bộ tỉnh về chương trìnhhành động thực hiện NQTW5 (khóa IX) đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đạihóa nông nghiệp nông thôn thời kỳ (2001 - 2010) Để triển khai thực hiện cóhiệu quả Nghị quyết quan trọng này trong điều kiện cụ thể của Nghệ An, BanChấp hành Đảng bộ tỉnh chỉ đạo về phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóanông nghiệp nông thôn cụ thể là:
Đối với ngành trồng trọt: Sản xuất lương thực là trọng tâm trong sản xuất
nông nghiệp của tỉnh thực hiện mục tiêu bảo đảm an ninh lương thực trong tỉnh,
có dự trữ và xuất khẩu Do đó, trong chỉ đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nôngnghiệp đối với ngành trồng trọt tỉnh tập trung chỉ đạo thâm canh tăng năng suất,chú trọng cả cây lúa, cây màu lương thực và cây công nghiệp, trên cơ sở ứng
Trang 28dụng tiến bộ khoa học công nghệ, nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sảnphẩm, nâng cao hiệu quả kinh tế trên một đơn diện tích canh tác
Với mục tiêu tập trung sản xuất nhằm đảm bảo vấn đề lương thựccủa tỉnh trong cơ cấu sản xuất nông nghiệp, GTSX trồng trọt liên tục pháttriển, với tốc độ tăng trưởng bình quân 4,5% năm Trong cơ cấu sản xuấtnội bộ ngành nông nghiệp đã có sự chuyển dịch theo hướng: Giảm tỷtrọng GTSX trồng trọt trong tổng thu nhập của ngành từ 71, 90% năm
2000 xuống 65,36% năm 2005, còn tỷ trọng giá trị chăn nuôi tăng 26,70%lên 33,28%, các hoạt động dịch vụ cho nông nghiệp lại giảm từ 1,40%xuống 1,36% trong cùng kỳ
Xác định sản xuất cây công nghiệp là hướng quan trọng để chuyển dịch
cơ cấu kinh tế ngành trồng trọt, căn cứ vào nhu cầu thị trường và khả năngthâm canh tăng năng suất cây lương thực Tỉnh chỉ đạo thực hiện chuyển mộtphần diện tích đất lúa, màu sang phát triển cây công nghiệp và cây ăn quả làthế mạnh của tỉnh như cây lạc, đậu tương, chè, mía, dứa và cam
Thực hiện chủ trương, sự chỉ đạo của tỉnh trong trồng trọt cây lạc vàcây đậu tương là hai loại cây công nghiệp ngắn ngày chính vừa có giá trị kinh
tế cao, vừa có tiềm năng mở rộng diện tích Tỉnh chỉ đạo phải tiến hành ứngdụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất để đến năm 2005 sản xuất được 10 ngàntấn lạc và 4 ngàn tấn đậu tương với diện tích trồng lạc là 35.000 ha, diện tíchtrồng đậu tương là 3.000 ha Sản lượng ngô cũng tăng nhanh qua các năm dodiện tích và năng suất tăng nhanh, sản lượng từ 78.672 tấn năm 2000 lên232.544 tấn năm 2005, tăng 153.872 tấn (195%), năng suất từ 20,99 tạ/hanăm 2000 lên 34,64 tạ/ha năm 2005, tăng 13,65 tạ (65%) Trong trồng trọt, đãxuất hiện các mô hình sản xuất đạt trên 50 triệu/ha như: Quỳnh Hương,Quỳnh Bảng (Quỳnh Lưu), Diễn Xuân (Diễn Châu), Nam Xuân (Nam Đàn),Tân Sơn (Đô Lương)
Trang 29Đối với ngành chăn nuôi: Để đưa chăn nuôi trở thành ngành kinh tế chính
của tỉnh, Đảng bộ tỉnh chỉ đạo nâng cao chất lượng con giống, cải tạo đàn bòtheo hướng Sind hoá, đàn lợn theo hướng nạc hoá Chỉ đạo thực hiện chuyểngiao và ứng dụng công nghệ, kỹ thuật vào phát triển thủy sản Năm 2001, tỷ lệSind hóa đàn bò đạt 20 - 22%, tỷ lệ nạc hóa đàn lợn đạt trên 35% [31, tr.38].Nghệ An đã hình thành vùng nuôi bò sữa và chăn nuôi lợn xuất khẩu
Với chủ trương đúng đắn trong lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ tỉnhngành chăn nuôi trở thành ngành mũi nhọn trong cơ cấu ngành nông nghiệp
và sản xuất hàng hóa chăn nuôi trên địa bàn tỉnh chuyển dần từ hình thứcchăn nuôi nhỏ lẻ hộ gia đình sang chăn nuôi gia trại, trang trại, công nghiệp
và bán công nghiệp Gắn chăn nuôi với chế biến, nâng cao năng suất, chấtlượng, hạ giá thành sản phẩm Tăng nhanh tỷ trọng chăn nuôi trong gái trị sảnlượng nông nghiệp, đưa tỷ lệ giá trị sản xuất ngành chăn nuôi từ 23,3% năm
2000 lên 30% năm 2005, phát triển chăn nuôi toàn diện, đa dạng các loại giasúc, gia cầm Khuyến khích mọi hình thức chăn nuôi, tăng quy mô chăn nuôitập trung hình thành nhiều loại hình chăn nuôi trang trại Tập trung đổi mớicông nghệ ( giống, thức ăn, kỹ thuật chăn nuôi, phòng chống dịch bệnh) đểnâng cao năng suất, chất lượng, hạ giá thành, mở rộng thị trường tiêu thụ
Đối với việc chăn nuôi trâu bò, Ủy ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo chuyểnhướng sản xuất từ trâu, bò cày kéo sang trâu bò sinh sản, bò vỗ béo cho thịt,
bò lai sind, phát triển chăn nuôi bò sữa Để phát triển đàn trâu bò có hiệu quảtỉnh chỉ đạo tập trung phát triển ở tất cả các vùng có điều kiện lớn như HưngNguyên, Nam Đàn, Thanh Chương, Đô lương, Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn Đồngthời chỉ đạo phát triển chăn nuôi đàn gia cầm theo hướng trang trại Bên cạnh
đó, các chương trình dự án chăn nuôi do tỉnh đầu tư như: Chương trình cải tạođàn bò theo hướng Zê bu hóa, bò thịt chất lượng cao, chương trình lợn hướngnạc góp phần cải tạo, nâng cấp chất lượng đàn nên đã nâng cao hiệu quả kinh tế
Trang 30cho người chăn nuôi Đàn gia cầm tăng nhanh từ 6.714 nghìn con năm 2000 lên10.50 nghìn con năm 2005, tăng 4.236 nghìn con (63%)
Đối với ngành Lâm nghiệp: Nhận thức được tầm quan trọng về trồng
rừng trong thời qua, tỉnh đã có nhiều biện pháp chỉ đạo nhằm bảo vệ rừnghiện có, đồng thời đẩy mạnh khoanh nuôi và trồng mới phủ xanh đất trống,đồi núi trọc Đồng thời Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh xác định: Hộ gia đình
là động lực chính trồng và bảo vệ, để thực hiện tốt mục tiêu mà nghị quyếtcủa tỉnh xác định, Ủy ban nhân dân tỉnh tiếp tục chỉ đạo thực hiện công tácgiao khoán đất cho hộ nghèo theo nghị định 01/CP và 02/CP của Chính Phủ
để toàn bộ diện tích rừng và đất rừng phải có chủ thực sự Để phát triển trồngrừng có hiệu quả tỉnh tiếp tục đầu tư xây dựng các cơ sở sản xuất, cung ứnggiống cho các nông trường quốc doanh, các hộ nông dân, bảo đảm đủ giốngtốt, đúng chủng loại cho các hộ trồng cây, trồng rừng Trong đó
Tiến hành giao đất, khoán rừng cho 775.853 ha, trong đó các hộ gia đình,
cá nhân 437.108 ha, các tổ chức kinh tế 113.394 ha, các tổ chức khác224.395 ha Đẩy mạnh công tác khoanh nuôi, làm giàu rừng và trồng rừngmới ở những vùng trọng điểm như: Vùng phòng hộ đầu nguồn và vùngđất trống, đồi núi trọc hai bên đường quốc lộ 48, quốc lộ 7 và ven sông cả.Tỷ lệ độ che phủ tăng qua các năm từ 41,5% năm 2000 lên 48% năm
2005 Một số mô hình rừng kinh tế đã được hình thành như ( Quế Phong,Quỳ Châu) quy mô 7.900 ha, nguyên liệu đã trồng 4.900 ha, nguyên liệu
gỗ ván ép 4.000 ha, cây sở 1.400 ha Nhiều khu rừng đặc dụng đượchình thành như: Vườn Quốc gia Pù Mát, đặc dụng Núi Chung và rừngphòng hộ Pù Huống, Sông Cấm, Vực Mẫu góp phần bảo vệ cảnh quan
và môi trường sinh thái [83, tr 18]
Đối với ngành nuôi trồng thủy sản: Thực hiện chủ trương của Đại hội
Đảng bộ tỉnh lần thứ XV về phát triển mạnh nuôi trồng thủy sản Ủy ban nhândân tỉnh đã có chủ trương phê duyệt dự án hỗ trợ giống thủy sản xây dựng mô
Trang 31hình chuyển đổi diện tích ruộng trũng sang phát triển nuôi trồng thủy sản, dự
án trang trại nuôi tôm sú, tôm càng xanh giống ở các địa bàn Nghi Lộc, Diễnchâu, Quỳnh Lưu Cùng với các quyết định trong quy hoạch ngành thủy sảngiai đoạn (2001 - 2005), Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo tập trung khai thác sửdụng có hiệu quả mặt nước ao hồ, ruộng trũng hiện có Đầu tư kĩ thuật côngnghệ, vốn để phát triển chăn nuôi thả thâm canh, theo hướng công nghiệp,nuôi các loại thủy sản có giá trị kinh tế và xuất khẩu
Trên cơ sở xây dựng đề án phát triển ngành thủy sản tỉnh chỉ đạo thúcđẩy phong trào nuôi tôm, cua, ngao, cá lồng tiếp tục phát triển rộng khắp trêncác huyện, thị ven biển như dự án nuôi tôm, cua, ngao ở Bắc Quỳnh Lưu,Diễn Châu, Nghi Lộc, thành phố Vinh Hoạt động nuôi trồng thủy sản nướcngọt cũng khá phát triển như nuôi cá rô phi đơn tính, nuôi cá trên ruộng lúa,nuôi cá lồng trên bè, sông suối, hồ đập phát triển mạnh
Để tập trung phát triển nghề cá có hiệu quả tiếp tục chỉ đạo đầu tư cơ sở hạtầng dịch vụ nghề cá tiếp tục được đầu tư góp phần thúc đẩy nghề cá phát triển,đồng thời thực hiện nâng cấp hai nhà máy 38A, công suất 1.500 tấn/năm, nhà máychế biến 38B đang được nâng cấp công suất 1.500 tấn/ năm, Cảng cá Cửa Hội (CửaLò), bến cá Nhân dân Lạch Vạn ( Diễn Châu), Lạch Quèn (Quỳnh Lưu) đáp ứngphần lớn nhu cầu khai thác và dịch vụ hậu cần nghề cá Phương tiện tàu thuyền cậpcảng không ngừng được nâng lên, các cơ sở dịch vụ nghề cá trong cảng được đầu
tư khá đồng bộ như: Nhà máy đá, kho lạnh, cơ sở chế biến
1.2.2 Chỉ đạo thực hiện cơ giới hóa, thủy lợi hóa và ứng dụng công nghệ sinh học vào sản xuất
Về cơ giới hóa: Bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp nông
thôn, Đảng bộ tỉnh Nghệ An xác định là một tỉnh nông nghiệp, con đường CNH,HĐH nông nghiệp nông thôn của Nghệ An còn gặp nhiều khó khăn, tỷ lệ cơ giớihóa quá thấp Tỉnh ủy, UBND các cấp, các sở, ban ngành của tỉnh đã xác địnhviệc cơ giới hóa phục vụ sản xuất nông nghiệp là một trong những nội dung của
Trang 32CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn, có tác dụng to lớn đến quá trình chuyển dịch
cơ cấu nông nghiệp nông thôn, giải phóng sức lao động nặng nhọc
Xuất phát từ tình hình thực tế, năm 2001, Đảng bộ tỉnh Nghệ An đã chútrọng trang bị các công cụ cơ giới cho sản xuất, nhằm tăng nhanh năng suấtlao động nông nghiệp và năng suất cây trồng, vật nuôi Ban hành chính sáchkhuyến khích, hỗ trợ nông dân mua máy móc để phục vụ sản suất nôngnghiệp, thực hiện dồn điền đổi thửa để áp dụng cơ giới hóa thuận lợi Đồngthời tỉnh Nghệ An đã có quyết định cấp bù lãi suất cho nông dân vay muamáy vào phục vụ sản xuất nông nghiệp nông thôn Việc mua sắm máy vàophục vụ sản xuất nông nghiệp được các cấp, các ngành tạo mọi điều kiện để
có máy sớm đưa vào sản xuất
Chủ trương cho dân vay vốn có hỗ trợ lãi suất để trang bị máy nhỏ đachức năng là một chủ trương chỉ đạo đúng đắn, qua đó kích thích cho ngườidân về nhiều mặt như chủ động thời vụ sản xuất, giải phóng sức người và tăngnăng suất lao động, hỗ trợ cơ khí trong nước phát triển Với chủ trương đúngđắn đó nên trong nhiều năm qua, các địa phương trong tỉnh đã đầu tư trangthiết bị máy móc, xe vận tải và các công cụ cơ khí khác phục vụ trong cáckhâu như vận chuyển, làm đất, chế biến đạt tỷ lệ 90% khối lượng
Về thủy lợi hóa: Thực hiện chủ trương kiên cố hóa kênh mương, UBND
tỉnh xây dựng quy hoạch để khai thác công trình thủy lợi Sở Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn có công văn hướng dẫn số 140/HC, ngày 28/2/1997 Về việc
tổ chức triển khai chủ trương kiên cố hóa kênh mương thủy lợi nội đồng; xây dựng Đề án “Kiên cố hóa kênh mương năm 2000” Hệ thống kênh mương được
xây dựng trên cơ sở Nhà nước hỗ trợ xi măng và nhân dân cùng làm đã phát huyhiệu quả Với sự chỉ đạo đúng đắn trong sản xuất nông nghiệp diện tích tưới chủđộng 2 vụ tăng từ 34 ngàn ha (năm 2000) lên 45 ngàn ha (năm 2005); tiêu chủđộng 2 vụ tăng từ 5 ngàn ha lên 7,5 ngàn ha [48, tr 3]
Trang 33Ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất: Tiếp tục quán triệt, thực hiện Nghị quyết Trung ương lần 2 (khóa VIII), Nghị quyết 11 - NQ/TU, Ủy
ban nhân dân tỉnh đã xây dựng chương trình hành động về nâng cao chấtlượng KHCN phục vụ cho sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn Tạo
sự thống nhất trong nhận thức của cấp ủy và chính quyền các cấp về vị trí, vaitrò, sự tác động của khoa học công nghệ trong việc hoạch định, quy hoạchphát triển kinh tế - xã hội nông nghiệp nông thôn Chỉ đạo nghiên cứu, ứngdụng tiến bộ KHCN vào sản xuất, góp phần tác động tích cực, hiệu quả vàoviệc nâng cao năng suất, chất lượng một số cây trồng, vật nuôi và sản phẩmhàng hóa chủ yếu, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH,HĐH nông nghiệp nông thôn ở địa phương Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnhchỉ đạo tiến hành điều tra, khảo sát đánh giá toàn diện về thực trạng tiềm lựcKHCN, xác lập luận cứ khoa học vững chắc, phục vụ kịp thời cho sự lãnhđạo, chỉ đạo các cấp ủy, chính quyền các cấp
Có biện pháp ưu tiên phát triển công nghệ cao, công nghệ sạch, đẩynhanh ứng dụng công nghệ thông tin vào sản xuất Chủ động ứng dụng côngnghệ sinh học như: giống, cây trồng, vật nuôi và các tiến bộ kỹ thuật về trồngtrọt, chăn nuôi để tăng năng suất, hạ giá thành, tăng sức cạnh tranh trên thịtrường Đẩy mạnh công tác khuyến nông, tăng cường công tác thú y, tổ chứctốt các hình thức chuyển giao công nghệ thông qua hệ thống khuyến nông,nhằm đẩy mạnh việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong các ngành sảnxuất ở nông thôn, trước hết là các ngành chế biến, khai thác, dịch vụ nuôitrồng cây giống, con giống Triển khai nhanh các đề tài khoa học đã được phêduyệt vào thực tiễn sản xuất, đặc biệt là các đề tài có liên quan làm chuyểnbiến tích cực ở những khâu đột phá như thâm canh tăng năng suất, sản xuấtgiống cây trồng, vật nuôi, bảo quản chế biến, ưu tiên đầu tư kinh phí nghiêncứu khoa học hàng năm và hỗ trợ các đề tài nghiên cứu chương trình công
nghiệp phục vụ nông nghiệp nông thôn
Trang 34Về giáo dục đào tạo: Quán triệt và tổ chức thực hiện nghiêm túc quan điểm,
chủ trương của Đảng về giáo dục đào tạo trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH nôngnghiệp nông thôn thời kỳ mới Thực hiện Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày
27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020”, các văn bản hướng dẫn của các Bộ,
ngành liên quan, tỉnh Nghệ An đã sớm ban hành các văn bản chỉ đạo, hướngdẫn, triển khai thực hiện Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địabàn tỉnh như: quyết định thành lập Ban chỉ đạo; ban hành Quy chế hoạt độngcủa Ban chỉ đạo; quyết định phê duyệt Đề án đào tạo nghề cho lao động nôngthôn tỉnh Nghệ An đến năm 2020; tham mưu cho Tỉnh ủy ban hành chỉ thịtăng cường công tác đào tạo, dạy nghề cho lao động nông thôn và đưa nộidung này vào Nghị quyết đại hội Đảng bộ tỉnh khóa XVI nhiệm kỳ (2006 -2010); phê duyệt kế hoạch đào tạo nghề ngắn hạn lao động nông thôn; banhành kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức cấp xã
Trong giai đoạn (2001 - 2005) các tổ chức như Sở nông nghiệp, Phòngnông nghiệp các huyện, Hội Nông dân các cấp, các Trạm khuyến nông và cáchợp tác xã, các doanh nghiệp nông nghiệp đã tiến hành mở các lớp tập huấncho các hộ nông dân trên địa bàn tỉnh với mục tiêu hoạt động là: Đào tạo tậphuấn hướng dẫn kỹ thuật, khuyến cáo, thông tin sản xuất kinh doanh cho nôngdân.Xây dựng các mô hình trình diễn nhằm giới thiệu và chuyển giao tiến bộ
kỹ thuật cho nông dân Khai thác các nguồn vốn tín dụng, hỗ trợ nông dânthiếu vốn sản xuất
Để triển khai đào tạo nghề cho lao động nông thôn, toàn tỉnh đã huyđộng 62 cơ sở đào tạo nghề bao gồm các trường dạy nghề công lập, cáctrung tâm dạy nghề của huyện và các cơ sở dạy nghề ngoài công lập Sau
05 năm thực hiện Quyết định số 1956 của Thủ tướng Chính phủ, toàn tỉnh
đã tổ chức được 662 lớp với tổng số lao động được đào tạo nghề và cấp
Trang 35chứng chỉ là 20.645/20.686 người tham gia học nghề, lao động nữ là11.403 người chiếm 55% Trong đó: nghề phi nông nghiệp 11.985 ngườichiếm 57,8 %, nghề nông nghiệp 8.701 người chiếm 42,2 % Tổng kinh
phí là 34.240 triệu đồng Chỉ tính riêng trong năm 2005, có 84.000 lượt
người lao động được đào tạo nghề Trong đó, cao đẳng nghề: 4.500người; trung cấp nghề: 9.000 người; sơ cấp nghề và dạy nghề thườngxuyên: 70.500 người; đào tạo nghề cho lao động nông thôn: 9.848 người.Tỷ lệ lao động nông thôn có việc làm sau đào tạo nghề là 75%
1.2.3 Chỉ đạo về đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội , xây dựng đời sống văn hóa nông nghiệp nông thôn
Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội: Nhận thức đúng đắn và tầm
quan trọng về kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, tỉnh đã chú trọng tập trung đầu
tư xây dựng, sữa chữa và nâng cấp Trong hệ thống giao thông quốc lộ là hệthống huyết mạch lớn nhất nối Nghệ An với các tỉnh trong cả nước nên tronggiai đoạn (2001 - 2005), các quốc lộ 1A, quốc lộ 46, 7, 48, 15 được đầu tưnâng cấp, đường mòn Hồ Chí Minh dài 132 km được đưa vào sử dụng, hệthống đường du lịch ven Sông Lam, cảng Cửa Lò được nâng cấp, hệ thốngsân bay Vinh tiếp tục được tu bổ và nâng cấp mở rộng nhiều tuyến bay nốitỉnh Nghệ An với nhiều tỉnh trong nước và sân bay Viên chăn (Lào) đi vàohoạt động, khai thác có hiệu quả
Trên cơ sở đó, tỉnh Nghệ An chỉ đạo đầu tư nâng cấp, làm mới đườnglên cửa khẩu Thanh thủy (Thanh Chương) dài 21 km, đường Nậm Cắn (KỳSơn) dài 8 km và 3 cầu dài 100m, đường vành đai thành phố Vinh Hệ thốnggiao thông phục vụ vận chuyển nguyên liệu mía, dứa, chè như: Đường vùngmía Sông Con (Tân Kỳ), đường giao thông vùng chè Thanh Chương, AnhSơn, đường vùng dứa ở huyện Yên Thành, Quỳnh Lưu
Về giao thông nông thôn, với phương châm “ Nhà nước và nhân dân
Trang 36cùng làm” Từ năm 2001 tỉnh có cơ chế, chính sách đầu tư kinh phí cho các
xã làm đường từ 2m trở lên bằng đá dăm nhựa hoặc bê tông xi măng theo đề
án phê duyệt cụ thể: “Đối với các xã đồng bằng tỉnh đầu tư 20%, huyện 20%,
xã và nhân dân 60%, đến năm 2005 tỉnh hỗ trợ 10%, xã đầu tư 15%, còn 75%nhân dân tự đầu tư Đối với các xã miền núi tỉnh đầu tư 40%, huyện 30%, xã
và nhân dân 30% Đồng thời, ưu tiên đầu tư hoàn thiện kết cấu hạ tầng cáckhu, cụm công nghiệp hiện có, quy hoạch và đầu tư xây dựng các khu,cụmcông nghiệp mới ở những huyện chưa có khu, cụm công nghiệp và dọc cáctrục giao thông quan trọng như: Quốc lộ 7, 15A, 46, 48, và dọc theo quốc lộ1A Các khu cụm công nghiệp trên địa bàn phải hướng tới mục tiêu phát triểnbền vững gắn khu công nghiệp với khu dân cư, khu thương mại - dịch vụ,hình thành khu công nghiệp đô thị hoàn chỉnh Đặc biệt, chú trọng quản lýxây dựng theo quy hoạch đảm bảo tính ổn định, lâu dài, góp phần tạo nên bộmặt nông thôn phát triển mạnh mẽ và rộng khắp
Xây dựng đời sống văn hóa: Đi đôi với phát triển, tăng trưởng kinh tế
phải gắn liền với giải quyết các vấn đề văn hóa - xã hội, gắn tăng trưởng kinh
tế với tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao đời sống vật chất tinh thần chonhân dân, nhất là ở khu vực nông thôn Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạophát triển kinh tế luôn gắn với quan tâm giải quyết các vấn đề phúc lợi xã hội,nâng cao đời sống nhân dân góp phần xây dựng bộ mặt nông thôn có nhiềubiến đổi tích cực Đầu tư thích đáng xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật chohoạt động văn hóa để nâng dần mức sống văn hóa tinh thần cho nhân dân,nhất là ở nông thôn các xã miền núi Tiếp tục chỉ đạo đẩy mạnh chương trìnhxóa đói, giảm nghèo, nhất là đối với nông thôn, vùng sâu, vùng xa, miền núi,đổi mới và mở rộng các hình thức xóa đói giảm nghèo, thực hiện xóa đói,giảm nghèo thông qua hình thức cho vay vốn, cấp đất hoặc cho mượn đất, tưvấn về kỹ thuật sản xuất, giải quyết việc làm cho hộ nghèo, đẩy mạnh côngtác định canh, định cư, phân bố lại lao động trong nông nghiệp nông thôn,
Trang 37khuyến khích tập thể, cá nhân phát triển các cơ sở sản xuất, kinh doanh thuhút nhiều lao động Thực hiện tốt chính sách về phát triển giáo dục, y tế, vănhóa, đào tạo và đào tạo lại cán bộ nông thôn, nhất là cán bộ kỹ thuật nôngnghiệp Đồng thời có chính sách khuyến khích để cán bộ yên tâm phục vụ vàgắn bó với nông thôn vùng sâu, vùng xa.
*
* * Như vậy, từ vị trí, vai trò của CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn trongnền kinh tế quốc dân, từ thực trạng nền nông nghiệp nông thôn tỉnh Nghệ An,trước những yêu cầu mới trong thực hiện chủ trương CNH, HĐH nông nghiệpnông thôn Từ năm (2001- 2005) Đảng bộ tỉnh Nghệ An đã quán triệt, vậndụng sáng tạo chủ trương, đường lối của Đảng về phát triển CNH, HĐH nôngnghiệp nông thôn sự chỉ đạo đúng đắn, kiên quyết, kịp thời của Tỉnh ủy và
Ủy ban nhân dân tỉnh là điều kiện sức mạnh để sự nghiệp CNH, HĐH nôngnghiệp nông thôn phát triển đúng hướng, phát huy được sức mạnh của mọi tổchức, mọi thành phần kinh tế Tận dụng được lợi thế, điều kiện của tỉnh Nghệ
An Trên cơ sở đó hình thành các khu cụm công nghiệp nông thôn, phát huynguồn nhân lực ở địa bàn nông thôn, đem lại những kết quả to lớn làm sơ sở,điều kiện cho phát triển CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn Thực hiện Nghịquyết của Đại hội đảng bộ tỉnh lần thứ XV quá trình phát triển CNH, HĐHnông nghiệp nông thôn ngày càng vững chắc Sản xuất tiểu thủ công nghiệp
và dịch vụ ở nông thôn ngày càng phát triển, chăn nuôi từng bước trở thànhngành chính trong sản xuất nông nghiệp Trong đó, điểm nổi bật của quá trìnhCNH, HĐH nông nghiệp nông thôn là Đảng bộ chú trọng đầu tư phát triển cácchương trình nông nghiệp trọng điểm, coi đây là biện pháp tạo ra sự chuyểnbiến về cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn nhằm thực hiện nhiệm vụCNH, HĐH nông nghiệp nông thôn Đó là cơ sở, tiền đề quan trọng để Đảng
bộ tỉnh Nghệ An tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh CNH, HĐH nông
Trang 38nghiệp nông thôn trong nhiệm kỳ (2006 - 2010).
Chương 2 ĐẢNG BỘ TỈNH NGHỆ AN LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH
CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ NÔNG NGHIỆP NÔNG
THÔN
TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2010 2.1 Yêu cầu mới và chủ trương của Đảng bộ tỉnh Nghệ An về đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn (2006 - 2010)
2.1.1 Yêu cầu mới về đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn (2006 - 2010)
* Vị trí, vai trò công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn trong thời kỳ mới
Nông nghiệp nông thôn có ý nghĩa quan trọng trong việc ổn định tìnhhình kinh tế - xã hội Trong thời kỳ mới, Đảng ta tiếp tục khẳng định coi sự pháttriển nông nghiệp nông thôn vẫn là nhiệm vụ chiến lược có tầm quan trọng hàngđầu Nông nghiệp nông thôn không thể tự mình đổi mới cơ sở vật chất, kỹ thuật
và công nghệ, không có khả năng tăng trưởng đủ nhanh để tạo thêm nhiều công
ăn việc làm cho nông dân nếu không có tác động mạnh của CNH, HĐH nôngnghiệp nông thôn Để tiếp tục giải phóng sức sản xuất, khai thác và huy động cao
Trang 39nhất mọi nguồn lực, mọi tiềm năng, giải quyết vững chắc nhu cầu lương thực và
an ninh lương thực, thực phẩm cho xã hội, đáp ứng nguyên liệu cho công nghiệp,tăng kim ngạch xuất khẩu và tăng tích lũy cho sự nghiệp CNH, HĐH đất nước,đòi hỏi phải tập trung nỗ lực đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn
Trước xu thế hội nhập kinh tế và toàn cầu hóa kinh tế quốc tế, ViệtNam gia nhập WTO càng đặt ra nhiều cơ hội và thách thức lớn cho nước tatrong sự hội nhập và phát triển của kinh tế thế giới thì việc đẩy mạnh CNH,HĐH nông nghiệp nông thôn sẽ tạo tiền đề vững chắc, góp phần thực hiệnthắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Phát triển mạnh mẽ kinh tế là điềukiện quan trọng để giải quyết việc làm, cải thiện đời sống, thay đổi lối sống
cũ, củng cố các quan hệ xã hội, văn hóa ở nông thôn, xây dựng một nền nôngnghiệp nông thôn phát triển lành mạnh, bền vững Hơn nữa, Đảng ta coi đây
là một nhiệm vụ hết sức quan trọng, có ý nghĩa chiến lược trong sự nghiệpcách mạng của đất nước trước đây và trong sự nghiệp đổi mới hiện nay.Trong những năm gần đây yêu cầu mới của tỉnh Nghệ An đang chuyển dần cơcấu kinh tế theo hướng công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp Từ đó đặt ra yêucầu mới về đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn để giải quyết các vấn
đề thực tiễn đặt ra giữa yêu cầu mới phát triển kinh tế - xã hội cũng như pháttriển nông nghiệp nông thôn trong quá trình hội nhập nền kinh tế quốc tế Đểphát triển và đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn ở một tỉnh có tiềmnăng, lợi thế cho phát triển nông nghiệp nông thôn Qui hoạch khu đô thị gắn vớicác địa bàn dân cư nông thôn, vấn đề việc làm và thúc đẩy nhanh quá trìnhchuyển đổi cơ cấu kinh tế, hình thành các vùng trồng trọt chuyên canh, chănnuôi tập trung, các cụm công nghiệp, góp phần vào quá trình phân công lao động
ở nông thôn, từ đó nâng cao hiệu quả kinh tế, tăng thu nhập cho dân cư nôngthôn, tăng khả năng tích lũy nội bộ nông thôn là nhiệm vụ hết sức quan trọng
Thực tế sau những năm tiến hành đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp,nông thôn ở Nghệ An đã thay đổi rõ rệt, đời sống phần lớn dân cư được cải thiện
Trang 40đáng kể Vấn đề an ninh lương thực đã được giải quyết căn bản, chuyển đổi cơcấu cây trồng, vật nuôi đúng hướng đáp ứng được nguyện vọng của nhân dân.Một lực lượng nông dân có vốn, có kinh nghiệm sản xuất, ứng dụng khoa họccông nghệ vào sản xuất trong chăn nuôi, trồng trọt, chế biến nên đã giàu lênnhanh chóng Người nông dân đang thích ứng dần với sản xuất hàng hóa, từngbước tiếp cận với lối sống và tác phong công nghiệp Phát triển điện, đường,trường, trạm là những tiêu chí phản ánh sự tiến bộ rõ nét của kết quả đẩy mạnhCNH, HĐH nông nghiệp nông thôn ở tỉnh Nghệ An trong những năm qua.
Trong giai đoạn (2001 - 2005), những kết quả đạt được về thực hiệnđẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở Nghệ An càng có vị trí đặcbiệt quan trọng trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, trong xây dựngnền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, không phảiphát triển nông nghiệp nông thôn môt cách tự phát, mà phải gắn với sự nghiệpCNH, HĐH nông nghiệp nông thôn đáp ứng yêu cầu mới thực tiễn đặt ra Vìthế, Đảng bộ tỉnh Nghệ An trong giai đoạn (2001 - 2005) thông qua Đại hội,
đã quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng về đẩy mạnh CNH, HĐH nôngnghiệp nông thôn gắn với xây dựng bộ mặt, đời sống của nông thôn, cơ cấumột nền nông nghiệp hợp lý, bố trí sắp xếp giữa các ngành kinh tế mũi nhọnhợp lý, tạo điều kiện để phát triển bền vững CNH, HĐH nông nghiệp nôngthôn ở tỉnh Nghệ An
* Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về công nghiệp hóa, hiện
đại hóa nông nghiệp nông thôn (2006 - 2010)
Tiếp tục khẳng định quan điểm nhất quán của Đảng trong quá trìnhCNH, HĐH nông nghiệp nông thôn, là cơ sở để ổn định tình hình kinh tế - xãhội Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X (2006), Đảng ta tiếp tục khẳng định:
“Hiện nay và trong nhiều năm tới, vấn đề nông nghiệp, nông dân và nôngthôn vẫn có tầm chiến lược đặc biệt quan trọng Phải luôn luôn coi trọng đẩymạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn” [33, tr.191]