1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LUẬN văn THẠC sĩ ĐẢNG bộ TỈNH NAM ĐỊNH LÃNH đạo PHÁT TRIỂN ĐẢNG VIÊN TRONG ĐỒNG bào các tôn GIÁO từ năm 2001 đến năm 2010

92 516 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 132,59 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phát triển đảng viên mới là một nội dung quan trọng của công tác xây dựng Đảng, có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, quyết định sự tồn tại, phát triển của Đảng. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng đánh giá: “Nếu Đảng ta không biết chọn lọc, kết nạp, đề bạt đồng chí mới thì đâu có như ngày nay”. Trong suốt quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam thường xuyên quan tâm đến công tác xây dựng và phát triển đảng viên. Đặc biệt là công tác phát triển đảng viên trong vùng đồng bào các tôn giáo. Việc phát triển đảng viên trong đồng bào các tôn giáo không những có giá trị cho công tác xây dựng Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng, mà còn góp phần quan trọng thực hiện chiến lược đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo có hiệu quả.

Trang 1

MỞ ĐẦU 3

Chương 1 YÊU CẦU KHÁCH QUAN VÀ SỰ LÃNH ĐẠO

CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH NAM ĐỊNH VỀ PHÁT TRIỂN ĐẢNG VIÊN TRONG ĐỒNG BÀO CÁC

1.1 Yêu cầu khách quan và chủ trương của Đảng bộ tỉnh

Nam Định về phát triển đảng viên trong đồng bào các

1.2 Đảng bộ tỉnh Nam Định chỉ đạo công tác phát triển đảng

viên trong đồng bào các tôn giáo và kết quả đạt được 39

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Phát triển đảng viên mới là một nội dung quan trọng của công tác xâydựng Đảng, có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, quyết định sự tồn tại, phát triểncủa Đảng Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng đánh giá: “Nếu Đảng takhông biết chọn lọc, kết nạp, đề bạt đồng chí mới thì đâu có như ngày nay”.Trong suốt quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, Đảng Cộng sản ViệtNam thường xuyên quan tâm đến công tác xây dựng và phát triển đảng viên.Đặc biệt là công tác phát triển đảng viên trong vùng đồng bào các tôn giáo.Việc phát triển đảng viên trong đồng bào các tôn giáo không những có giá trịcho công tác xây dựng Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấucủa tổ chức đảng, mà còn góp phần quan trọng thực hiện chiến lược đại đoànkết dân tộc, đoàn kết tôn giáo có hiệu quả

Là một tỉnh nằm ở ven biển phía Nam đồng bằng châu thổ sông Hồng,Nam Định có vị trí chiến lược quan trọng về kinh tế, chính trị, an ninh, quốcphòng Là tỉnh có dân số đông và tỷ lệ tín đồ các tôn giáo lớn (chiếm hơn40% dân số) Chính vì vậy đảng bộ các cấp ở tỉnh Nam Định xác định kết nạpđảng viên đối với người có đạo là một trong những nội dung quan trọng trongcông tác xây dựng Đảng của Tỉnh Trong thời gian qua nhất là những năm2001- 2010, Đảng bộ tỉnh Nam Định đã có nhiều chủ trương đúng đắn, chỉđạo cụ thể, sâu sát trong xây dựng đội ngũ đảng viên, đặc biệt là vùng cóđông đồng bào tôn giáo Công tác phát triển đảng viên là người có đạo đã gópphần thay đổi cơ cấu đội ngũ đảng viên trong từng đảng bộ, tăng cường vaitrò lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng và đảng viên tại những địabàn có đông đồng bào tôn giáo Phần lớn quần chúng là người có đạo sau khiđược xem xét, bồi dưỡng kết nạp vào Đảng đã phát huy tốt vai trò trong việctham gia các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội ở cơ sở; vận động gia đình vàquần chúng xung quanh gương mẫu thực hiện các chủ trương, đường lối của

Trang 3

Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, sống “Tốt đời, đẹp đạo”, “KínhChúa, yêu nước”; giữ gìn sự đoàn kết dân tộc, tôn giáo; tạo sự đồng thuậnphấn khởi tin tưởng của đồng bào có đạo đối với chủ trương của Đảng, gópphần thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốcphòng – an ninh và công tác xây dựng hệ thống chính trị tại cơ sở Tuy nhiêncông tác phát triển đảng viên ở vùng đồng bào có đạo vẫn còn một số tồn tạinhư: Một số cấp ủy chưa chủ động trong công tác tạo nguồn phát triển đảngviên là người gốc đạo; số lượng kết nạp ở một số chi bộ ít; chưa kết nạpnhững chức việc, chức sắc vào Đảng; việc thu hút đoàn viên thanh niên là cáctín đồ tôn giáo vào các tổ chức đoàn thể còn thấp, công tác tuyên truyền giáodục, bồi dưỡng, giác ngộ quần chúng là người có đạo còn hạn chế…

Thực tiễn trên đòi hỏi phải nghiên cứu có hệ thống chuyên sâu về côngtác phát triển đảng viên trong vùng đồng bào các tôn giáo của Đảng bộ tỉnhNam Định, thông qua đó hệ thống hóa chủ trương, làm rõ sự chỉ đạo củaĐảng bộ tỉnh, rút ra những kinh nghiệm có thể vận dụng vào công tác pháttriển đảng viên trong vùng đồng bào các tôn giáo ở giai đoạn tiếp theo Với ý

nghĩa đó tác giả chọn vấn đề: “Đảng bộ tỉnh Nam Định lãnh đạo phát triển đảng viên trong đồng bào các tôn giáo từ năm 2001 đến năm 2010” làm đề

tài luận văn thạc sĩ Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Phát triển đảng viên nói chung và phát triển đảng viên trong đồng bàocác tôn giáo là vấn đề trọng tâm trong công tác xây dựng Đảng, có ý nghĩaquyết định đến nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng Chính

vì vậy đây là vấn đề được nhiều học giả, nhà khoa học quan tâm nghiên cứu.Các công trình nghiên cứu có thể chia thành các nhóm sau:

Nhóm các công trình lý luận chung nghiên cứu về phát triển đảng viên, tiêu biểu như:

Vũ Ngọc Am (2000), “Góp phần nâng cao chất lượng công tác kết nạp

đảng viên mới”, Tạp chí Cộng sản, số 10 năm 2000; Nguyễn Thị Mỹ Trang

Trang 4

(2001), Xây dựng đội ngũ đảng viên là thanh niên sinh viên các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn thành phố Hà Nội trong thời kỳ mới, Luận án tiến

sĩ khoa học Lịch sử, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội; Cao

Thị Thanh Vân (2002), Nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên ở nông thôn đồng bằng sông Hồng trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Luận án tiến sĩ khoa học Lịch sử; Nguyễn Thế Tư (2005), Nâng cao chất lượng kiểm tra đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm của ủy ban kiểm tra huyện ủy ở các tỉnh duyên hải miền Trung giai đoạn hiện nay, Luận án tiến sĩ khoa học Chính trị; Mạch Quang Thắng (2005), Đảng viên và phát triển đảng viên trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà xuất bản Lao Động, Hà Nội; Đặng Thị Huế (2009), Đảng Cộng sản Việt Nam với quá trình xây dựng đội ngũ đảng viên từ năm 1996 đến năm 2006, Luận văn thạc sĩ khoa

học Lịch sử, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội;

Nguyễn Thị Hải Hà (2012), Đảng bộ tỉnh Hải Dương với công tác phát triển đảng viên ở nông thôn từ năm 2001 đến năm 2010, Luận văn thạc sĩ khoa học

Lịch sử, Trung tâm đào tạo bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị - Đại học

Quốc gia Hà Nội; Nguyễn Văn Hào (2012), Tính tiền phong của đảng viên nông thôn các tỉnh Tây Nguyên giai đoạn hiện nay, Luận án tiến sĩ khoa học Chính trị; Đức Lượng - Trần Quang Nhiếp - Nguyễn Tuấn Phong (2013) Xây dựng đội ngũ đảng viên ở nông thôn vững mạnh, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội; Tăng Văn Trúc (2013), Công tác xây dựng đội ngũ đảng viên của Đảng từ năm 2001 đến năm 2010, Luận văn thạc sĩ khoa học Lịch sử, Học viện Chính

trị

Các công trình này đã nghiên cứu một cách cơ bản mang tính chất lýluận chung về công tác phát triển đảng viên, luận giải dưới nhiều góc độ khácnhau về vị trí, vai trò của đội ngũ đảng viên đối với công cuộc đổi mới, côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đồng thời đề ra các giải pháp nâng caochất lượng công tác xây dựng và phát triển đội ngũ đảng viên trong giai đoạnhiện nay, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp đổi mới của Đảng Dưới góc độ Lịch sử

Trang 5

Đảng, một số công trình đã tập trung làm rõ yêu cầu khách quan, chủ trương

và sự chỉ đạo của Đảng về xây dựng đội ngũ đảng viên trên cơ sở đó đánh giákết quả, rút ra một số kinh nghiệm vận dụng trong giai đoạn tiếp theo

Nhóm các công trình nghiên cứu về công tác xây dựng Đảng trong vùng có đông đồng bào tôn giáo, tiêu biểu như:

Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh

(1995), Xây dựng Đảng ở một số vùng có đông đồng bào theo đạo Thiên Chúa ở miền Bắc hiện nay, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; Trung tâm Khoa học về Tín ngưỡng và Tôn giáo (1998), Mối quan hệ giữa chính trị

và tôn giáo trong thời kỳ mở rộng giao lưu quốc tế và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, Học viện Chính

trị quốc gia Hồ Chí Minh; Ngô Hữu Thảo (1999), “Phát triển Đảng trong các

vùng đồng bào theo đạo Thiên Chúa”, Tạp chí Xây dựng Đảng (số 4); Viện Xây dựng Đảng (1999), Công tác xây dựng Đảng ở những vùng có đông đồng bào theo đạo Thiên Chúa ở các tỉnh phía Nam hiện nay, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; Nguyễn Thị Thu Hiền (1999), Đảng bộ tỉnh Đồng Nai lãnh đạo thực hiện chính sách tôn giáo đối với đạo Thiên Chúa trong thời kỳ đổi mới 1986-1998, Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng, Đại

học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội; Phan Thanh

Kiều (2000), Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng ở vùng có đông đồng bào theo đạo Thiên Chúa ở tỉnh Đồng Nai hiện nay, Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Xây dựng Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; Huỳnh Chí Thắng (2000), Công tác tư tưởng của tổ chức

cơ sở đảng đối với đồng bào theo đạo Thiên Chúa ở huyện Thống Nhất tỉnh Đồng Nai hiện nay, Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Xây dựng Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; Hoàng Mạnh Đoàn (2002), Công tác vận động giáo dân của tổ chức cơ sở đảng(cấp xã) ở đồng bằng Bắc Bộ nước ta hiện nay, Luận án tiến sĩ Lịch sử, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; Ban

Tư tưởng văn hóa Trung ương (2002), Tôn giáo và chính sách tôn giáo của

Trang 6

Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Hà Nội; Nguyễn Văn Giang (2003), Nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên vùng có đông đồng bào công giáo ở các tỉnh ven biển đồng bằng Bắc Bộ trong giai đoạn hiện nay, Luận

án tiến sĩ khoa học Lịch sử, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; Bảo

Trung (2010), “Phát triển đảng viên là người có đạo và dân tộc thiểu số”, Tạp chí Xây dựng Đảng (số 7); Kiều Linh (2010), “Sóc Trăng phát triển đảng viên trong chức sắc tôn giáo”, Tạp chí Xây dựng Đảng (số 1); Bùi Văn Phương (2011), Công tác phát triển đảng viên là người theo đạo Thiên Chúa của các đảng bộ xã, thị trấn của tỉnh Ninh Bình trong giai đoạn hiện nay, Luận văn thạc

sĩ khoa học Xây dựng Đảng, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí

Minh, Hà Nội; Bảo Linh (2014), “Quan tâm phát triển đảng viên là người có đạo”, Tạp chí Xây dựng Đảng (số 3).

Các công trình này đã đi sâu nghiên cứu làm rõ công tác xây dựngĐảng nói chung và công tác phát triển đảng viên nói riêng trong đồng bào cáctôn giáo Đánh giá kết quả đạt được, chỉ rõ yêu cầu khách quan của công tácphát triển đảng viên trong đồng bào các tôn giáo; rút ra một số kinh nghiệm từthực tiễn hoạt động phát triển đảng viên, góp phần vào công tác xây dựngĐảng, đáp ứng yêu cầu thực hiện thành công chiến lược đại đoàn kết toàndân, đoàn kết tôn giáo Các đề tài, công trình nghiên cứu kể trên là thành quảlao động tâm huyết, sáng tạo của các cá nhân, tập thể góp phần thiết thực vàocông tác phát triển đảng viên trong đồng bào các tôn giáo hiện nay

Nhóm các công trình nghiên cứu liên quan trực tiếp đến công tác phát triển Đảng trong đồng bào các tôn giáo ở tỉnh Nam Định như:

Nguyễn Văn Giang (2000), “Công tác phát triển đảng viên ở vùng

công giáo tỉnh Nam Định”, Tạp chí Xây dựng Đảng (số 10); Trọng Thủy (2001), “Phấn đấu vì một Nam Định giàu đẹp, văn minh”, Tạp chí Xây dựng Đảng (số 4); Bùi Hữu Dược (2003), Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của

tổ chức cơ sở đảng nông thôn vùng có đông đồng bào Công giáo ở tỉnh Nam Định trong giai đoạn hiện nay - thực trạng và giải pháp, Luận văn thạc sĩ

Trang 7

khoa học Chính trị, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội;Nguyễn Khắc Hưng (2006), “Đảng bộ thành phố Nam Định xây dựng tổ chức

cơ sở đảng và đội ngũ đảng viên”, Tạp chí Cộng sản (số 19); Nguyễn Thị Thu Hương (2008), Quá trình thực hiện chính sách tôn giáo của Đảng ở tỉnh Nam Định thời kỳ 1986-2007, Luận văn thạc sĩ Lịch sử Đảng, Đại học Quốc gia Hà

Nội; Trần Duy Hưng (2011), “Quản lý đảng viên đi làm ăn xa ở Nam Định”,

Tạp chí Xây dựng Đảng (số 10); Trần Thị Ngọc Tâm (2012), Thực hiện chính sách tôn giáo ở vùng Công giáo tỉnh Nam Định hiện nay, Luận văn thạc sĩ

chuyên ngành Triết học, Đại học Quốc gia Hà Nội; Trần Duy Hưng (2012),

“Trẻ hóa cán bộ cấp xã tại Nam Định”, Tạp chí Xây dựng Đảng (số 10); Phan

Ngọc Lý (2014), “Gắn phát triển Đảng với việc khắc phục cơ sở đảng yếu

kém”, Tạp chí Xây dựng Đảng (số 6); Vũ Thị Phương Anh (2014), Quá trình thực hiện chính sách tôn giáo của Đảng đối với Công giáo ở huyện Xuân Trường (Nam Định) (1997-2010), Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử

Đảng, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội; Bùi

Thị Thanh Thúy (2014), Đảng bộ tỉnh Nam Định lãnh đạo công tác thanh niên từ năm 2001 đến năm 2011, Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử

Đảng, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

Các công trình trên đề cập công tác phát triển Đảng nói chung, xâydựng và phát triển đội ngũ đảng viên trong vùng đồng bào tôn giáo nói riêngtrên địa bàn Tỉnh ở nhiều góc độ và phạm vi khác nhau Đây là các công trìnhnghiên cứu về công tác phát triển Đảng ở từng khu vực, địa bàn cụ thể gắnvới điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của Tỉnh Trên cơ sở luận giải các khíacạnh, các công trình nghiên cứu đã có những đóng góp vào việc đề xuấtnhững vấn đề quan trọng nhằm phát triển đội ngũ đảng viên của Đảng bộ tỉnhNam Định ngày càng vững mạnh hơn

Tất cả các công trình trên đã đi sâu nghiên cứu, làm rõ quá trình pháttriển đảng viên trên phạm vi cả nước, ở một số địa phương và trên địa bàn tỉnhNam Định Đánh giá kết quả phát triển đảng viên, chỉ rõ yêu cầu, tính tất yếukhách quan trong công tác phát triển đảng viên vùng đồng bào tôn giáo Đưa ra

Trang 8

những bài học kinh nghiệm, trong công tác phát triển đảng viên vùng đồng bào

có đạo, đáp ứng yêu cầu công tác xây dựng Đảng trong giai đoạn hiện nay

Tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống và toàndiện về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Nam Định đối với công tác phát triển đảngviên trong vùng đồng bào các tôn giáo của Tỉnh từ năm 2001 đến năm 2010 Cáccông trình trên chính là nguồn tư liệu phong phú, có giá trị lý luận và thực tiễn đángtin cậy để tác giả tham khảo trong quá trình thực hiện đề tài luận văn của mình

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

* Mục đích

Làm sáng tỏ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Nam Định

về phát triển đảng viên trong đồng bào các tôn giáo từ năm 2001 đến năm

2010 Đúc rút kinh nghiệm nhằm vận dụng vào nâng cao hiệu quả lãnhđạo của Đảng bộ về công tác phát triển đảng viên trong đồng bào các tôngiáo những năm tới

* Nhiệm vụ

Làm rõ sự cần thiết phải xây dựng, phát triển đội ngũ đảng viên trong đồngbào các tôn giáo của Đảng bộ tỉnh Nam Định từ năm 2001 đến năm 2010

Phân tích, luận giải chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Nam Định

về phát triển đảng viên trong đồng bào các tôn giáo từ năm 2001 đến năm 2010

Đưa ra một số nhận xét và đúc rút những kinh nghiệm chủ yếu từ quátrình Đảng bộ tỉnh Nam Định lãnh đạo công tác phát triển đảng viên trongđồng bào tôn giáo, làm cơ sở để vận dụng trong những năm tới

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu đề tài

* Đối tượng

Nghiên cứu hoạt động lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Nam Định về pháttriển đảng viên trong đồng bào các tôn giáo từ năm 2001 đến năm 2010

* Phạm vi nghiên cứu

Trang 9

Về nội dung: Nghiên cứu chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnhNam Định về phát triển đảng viên trong đồng bào các tôn giáo: Phật giáo,Công giáo, Tin lành.

Về thời gian: Từ năm 2001 đến năm 2010 Tuy nhiên, quá trình nghiêncứu đề tài để làm rõ yêu cầu khách quan lãnh đạo phát triển đảng viên trongđồng bào các tôn giáo, tác giả có đề cập tới một số vấn đề trước năm 2001

Về không gian: Trên địa bàn tỉnh Nam Định

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài

* Phương pháp luận

Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩaduy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin

và phương pháp luận sử học

* Phương pháp nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu trên cơ sở phương pháp chuyên ngành và liênngành, chủ yếu là phương pháp lịch sử, phương pháp logic

Ngoài ra tác giả còn sử dụng phương pháp khảo sát, so sánh, thống kê,phương pháp phân tích tổng hợp, tổng kết thực tiễn trên cơ sở bảo đảm sự phùhợp với từng nội dung nghiên cứu của luận văn

6 Ý nghĩa của đề tài

Thành công của luận văn góp phần làm rõ tính đúng đắn sáng tạo củachủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Nam Định trong công tác pháttriển đảng viên vùng đồng bào tôn giáo từ năm 2001 đến năm 2010

Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo phục vụcho nghiên cứu giảng dạy Lịch sử Đảng trong tỉnh Nam Định, các học viện, nhàtrường trong và ngoài quân đội

Luận văn là nguồn tư liệu để các cấp ủy Đảng, chính quyền và các tổchức chính trị - xã hội ở tỉnh Nam Định tiếp tục nghiên cứu vận dụng vào lãnhđạo, chỉ đạo phát triển đảng viên trong đồng bào tôn giáo những năm tới

Trang 10

7 Kết cấu của đề tài

Gồm phần mở đầu, 2 chương (4 tiết), kết luận, danh mục tài liệu thamkhảo, phụ lục

Trang 11

Chương 1 YÊU CẦU KHÁCH QUAN VÀ SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH NAM ĐỊNH VỀ PHÁT TRIỂN ĐẢNG VIÊN TRONG

ĐỒNG BÀO CÁC TÔN GIÁO TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2010 1.1 Yêu cầu khách quan và chủ trương của Đảng bộ tỉnh Nam Định về phát triển đảng viên trong đồng bào các tôn giáo (2001-2010)

1.1.1 Yêu cầu khách quan phát triển đảng viên trong đồng bào các tôn giáo ở tỉnh Nam Định

Xây dựng Đảng là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu đối với các chínhđảng nói chung, đặc biệt đối với các Đảng Cộng sản cầm quyền, bởi công tácnày quyết định sự tồn tại phát triển của Đảng Nội dung cơ bản của công tácxây dựng Đảng Cộng sản cầm quyền gồm: xây dựng Đảng về chính trị, tưtưởng, tổ chức, đạo đức và văn hóa

Phát triển Đảng là một nội dung quan trọng của công tác xây dựngĐảng, là việc làm thường xuyên, là biện pháp để nâng cao chất lượng, sốlượng đảng viên; phát triển Đảng về tổ chức cơ sở đảng; phát triển ảnh hưởngcủa Đảng đối với xã hội (tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng); phát triển

mở rộng ảnh hưởng của Đảng đối với cộng đồng quốc tế

Phát triển đảng viên là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên trong côngtác xây dựng Đảng, là toàn bộ hoạt động của các tổ chức đảng từ khâu tuyêntruyền, vận động, tạo nguồn, bồi dưỡng, quản lý nguồn và kết nạp quần chúngvào Đảng; giáo dục đảng viên dự bị trở thành đảng viên chính thức theo đúngquy trình, thủ tục, nhằm tăng cường số lượng và chất lượng đảng viên, gópphần tăng cường sức mạnh nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu củaĐảng, đáp ứng yêu cầu của cách mạng trong mỗi giai đoạn lịch sử

Đảng viên là những tế bào của Đảng Đảng viên tốt hay xấu ảnh hưởngtrực tiếp đến sức chiến đấu của tổ chức đảng, đến việc giữ gìn và phát huy bảnchất giai cấp và tính tiên phong của Đảng Muốn lãnh đạo quần chúng thực hiện

Trang 12

tốt đường lối, chính sách của Đảng, giáo dục quần chúng theo quan điểm, lậptrường của giai cấp công nhân, Đảng phải có những đảng viên tốt Đảng viên cóthật sự gương mẫu, kiên quyết tích cực và biết tổ chức, vận động quần chúng chấphành các chủ trương chính sách của Đảng thì các chủ trương chính sách đó mớiđược thực hiện đầy đủ, đảng viên đi trước làng nước theo sau Mối liên hệ giữaĐảng và quần chúng được củng cố ngày càng chặt chẽ chính là do Đảng có đượcđội ngũ đảng viên tốt, bám rễ chắc trong quần chúng, gắn bó với quần chúng.

* Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển đảng viên trong đồng bào các tôn giáo

Công tác phát triển đảng viên trong tín đồ các tôn giáo là vấn đề có ýnghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng Vấn đề này đã được các nhà kinh điển củachủ nghĩa Mác-Lênin quan tâm, nghiên cứu Trong tác phẩm Điều lệ của Liênđoàn những người Cộng sản năm 1853, C Mác xác định mục đích của Liênđoàn là lật đổ giai cấp tư sản, lập nền thống trị của giai cấp vô sản, tiêu diệt xãhội tư sản để xây dựng một xã hội mới không có giai cấp, không có chế độ tưhữu, không có bóc lột Để thực hiện thắng lợi sứ mệnh này, Liên đoàn cần kếtnạp vào tổ chức của mình mọi đối tượng xã hội khi đáp ứng điều kiện:

Lối sống và hoạt động phù hợp với mục đích ấy; nghị lực cách mạng vàlòng nhiệt thành trong tuyên truyền; thừa nhận chủ nghĩa cộng sản;không tham gia vào mọi tổ chức – chính trị hoặc dân tộc – chống cộngsản, và có nghĩa vụ báo cáo với cơ quan lãnh đạo hữu quan về việctham gia vào một số tổ chức nào đó; phục tùng các nghị quyết của Liênđoàn; giữ bí mật mọi công việc của Liên đoàn; được chi bộ nhất trí kếtnạp [33, tr 732]

Kế thừa và phát triển lý luận của C.Mác trong thời đại mới, V.I.Lênin

đã cụ thể hóa công tác phát triển Đảng với từng đối tượng, trong đó có tín đồcác tôn giáo Theo Ông, để tăng cường khối đoàn kết các giai tầng trong xãhội và chống tư tưởng cực đoan, bè phái, cần kết nạp những tín đồ tôn giáo

Trang 13

vào Đảng Một công dân có tín ngưỡng, tôn giáo hoàn toàn có thể trở thànhđảng viên của Đảng khi người đó chấp nhận và đấu tranh cho cương lĩnh củaĐảng, đồng thời không dùng cơ sở đảng để tuyên truyền cho tôn giáo Bởigiữa những người cộng sản và người có tín ngưỡng tôn giáo có khác nhau vềthế giới quan, nhưng không tất yếu dẫn đến khác nhau hoặc đối lập về quanđiểm chính trị, người có cũng như người không có tín ngưỡng tôn giáo vẫn cóthể cùng nhau phấn đấu cho mục tiêu chính trị chung nhất định Trong bài

“Về thái độ của đảng công nhân đối với tôn giáo”, V.I.Lênin viết:

Chúng ta không những phải sẵn sàng kết nạp, mà còn cố gắng để thuhút vào Đảng dân chủ - xã hội tất cả những công nhân nào còn tintưởng ở thượng đế Chúng ta nhất định phản đối bất cứ một sự xúcphạm nhỏ nào đến tín ngưỡng tôn giáo của họ, việc kết nạp này để giáodục họ theo tinh thần cương lĩnh của chúng ta, chứ không phải để họtích cực chống lại cương lĩnh ấy [31, tr.520]

Công tác kết nạp đảng viên không chỉ với tín đồ ưu tú, mà cả chức sắctiến bộ Trả lời câu hỏi, một linh mục có thể trở thành đảng viên Đảng dânchủ - xã hội, Đảng của những người vô sản được không? V.I.Lênin cho rằng:

Không nên nhất loạt, và bất cứ trường hợp nào, cũng tuyên bố rằng cáclinh mục không thể trở thành đảng viên Đảng dân chủ - xã hội nhưnglại càng không nên nhất loạt tuyên bố ngược lại Nếu có một linh mụcnào lại đi cùng chúng ta để cùng hoạt động chính trị, tận tâm làm trònnhiệm vụ của mình trong đảng và không chống lại cương lĩnh của đảng,thì chúng ta có thể kết nạp người ấy vào hàng ngũ Đảng dân chủ - xãhội, bởi vì trong những điều kiện ấy, mâu thuẫn giữa tinh thần củacương lĩnh Đảng ta và các nguyên tắc của cương lĩnh ấy với những tínngưỡng của các tôn giáo linh mục đó có thể vẫn chỉ là mâu thuẫn riêngcủa người đó, là việc riêng của bản thân người đó thôi; còn như đemkiểm tra các đảng viên của mình xem có phải trong người họ không có

Trang 14

mâu thuẫn giữa quan điểm của họ với cương lĩnh của Đảng không, thìmột tổ chức chính trị không thể nào làm được [31, tr 520].

Từ quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin, có thể thấy để tăng cường sức mạnh

và tính chiến đấu của Đảng, để thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử, Đảng cần kếtnạp vào hàng ngũ của mình tất cả những tín đồ ưu tú và chức sắc tiến bộ

Chủ tịch Hồ Chí Minh có rất nhiều bài viết về tôn giáo nhưng Ngườikhông đi sâu vào nguồn gốc, bản chất tôn giáo mà chủ yếu là tìm ra những nétnhững mặt tích cực của các tôn giáo để vận động đồng bào có đạo tham gia

vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Mặc dù biết rất rõ “ tôn giáo là duy tâm, cộng sản là duy vật” nhưng Hồ Chí Minh không đi đến sự đối lập

giữa tôn giáo và cộng sản mà trái lại, tìm ra điểm tương đồng, các mặt tíchcực của tôn giáo và đồng bào có đạo với cách mạng, với dân tộc Có lẽ trong

số những người cộng sản chỉ có Chủ tịch Hồ Chí Minh, một lãnh tụ vĩ đạinhưng đã ca ngợi cái từ bi của Đức Phật, lòng nhân ái của Đức Giê su và tự

nhận “làm người học trò nhỏ” của các vĩ nhân như Khổng Tử, Mác, Tôn Dật

Tiên, Giê su Hồ Chí Minh viết về Đức Giê su như viết về một nhà cách mạng

lớn: “Cách đây gần hai ngàn năm, trong một đêm đông lạnh lẽo, Đức Thiên chúa đã giáng sinh để cứu vớt nhân loại Đức Thiên chúa là một tấm gương

hy sinh triệt để vì những người bị áp bức, vì những dân tộc bị đè nén, vì hoà bình, vì công lý Từ ngày Ngài hy sinh đến nay, tinh thần bác ái của Ngài toả

ra đã khắp, thấm vào đã sâu” Hồ Chí Minh luôn luôn tin tưởng vào đồng bào

có đạo Người nói: “Phần lớn đồng bào các tôn giáo nhất là các tầng lớp lao động đều yêu nước, kháng chiến như Công giáo ở nhiều nơi, như Cao Đài kháng chiến” Người mạnh dạn giao các chức vụ quan trọng cho những người

có đạo và thường nhắc nhở cán bộ của Đảng không được hẹp hòi, định kiếnvới tôn giáo và đặc biệt không được xúc phạm tín ngưỡng, tôn giáo của dân

Hồ Chí Minh chiếm được lòng tin của đồng bào các tôn giáo vì Người hiểuđạo, hiểu đồng bào có đạo, nói với các tín đồ bằng ngôn ngữ tôn giáo của họ

Trang 15

Nói với Phật giáo, Người nói “ Lợi lạc quần sinh, vô ngã vị tha”, còn nói với Công giáo, Người bảo : “Tôi kính cẩn cầu Đức Chúa phù hộ dân tộc Việt Nam và giúp cho Việt Nam đi đến thắng lợi cuối cùng”.

Kế thừa, phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin về công tác phát triển Đảng

đối với các tín đồ tôn giáo, trong bài nói chuyện tại lớp Chỉnh huấn cán bộ trí thức, Hồ Chí Minh nói:

Có anh em hỏi một người Công giáo có thể vào Đảng lao động đượckhông? Có Người tôn giáo nào cũng được, miễn là trung thành, hănghái làm nhiệm vụ, giữ đúng kỷ luật của Đảng Nước ta kinh tế lạc hậu,

kỹ thuật kém, tôn giáo là duy tâm, cộng sản là duy vật, nhưng trongđiều kiện hiện tại, người theo đạo vẫn vào Đảng được [39, tr 115]

Có thể nói, theo Hồ Chí Minh đồng bào mọi tôn giáo đều có thể vàoĐảng, miễn là luôn trung thành với sự nghiệp cách mạng của dân tộc, trungthành với Đảng và nhân dân Việc kết nạp đồng bào các tôn giáo vào Đảngcũng là để tăng cường sức mạnh và tính chiến đấu của Đảng, bởi theo Người:Đảng ta là trí tuệ, là danh dự và lương tâm của dân tộc

Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện Việt Nam, HồChí Minh không coi sự khác nhau về thế giới quan tất yếu đẫn đến sự đối lập

về lập trường và thái độ chính trị Sự thống nhất ý kiến để xây dựng cảnh cựclạc dưới cõi trần, đem lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc ở hiện thực quantrọng hơn việc thống nhất có thiên đường hay không thiên đường, có haykhông thần thánh Quan điểm này nhận được sự đồng tình từ các tôn giáo, thểhiện ở đường hướng: “Đạo pháp – Dân tộc và chủ nghĩa xã hội” của Giáo hộiPhật giáo, “Sống Phúc âm, phụng sự Thiên chúa, phụng sự Tổ quốc” của Hộithánh Tin lành, “Kính chúa – Yêu nước; Sống Phúc âm giữa lòng dân tộc”của giáo hội Công giáo

Như vậy, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh bàn về côngtác phát triển đội ngũ đảng viên trong đồng bào tôn giáo rất toàn diện và cũng

Trang 16

hết sức cụ thể, thiết thực Những quan điểm, tư tưởng này có ý nghĩa to lớncần phải tiếp tục vận dụng một cách sáng tạo, nhằm xây dựng, phát triển độingũ đảng viên trong đồng bào các tôn giáo của Đảng nói chung, xây dựng độingũ đảng viên có tôn giáo trên địa bản Tỉnh nói riêng, đáp ứng yêu cầu nhiệm

vụ cách mạng trong sự nghiệp đổi mới

*Những yếu tố tác động đến công tác phát triển đảng viên trong đồng bào các tôn giáo của tỉnh Nam Định.

Tác động điều kiện tự nhiên và văn hóa xã hội

Nam Định là một tỉnh ven biển phía Đông Nam đồng bằng châu thổ sôngHồng, cách thủ đô Hà Nội 90km về phía Nam (theo quốc lộ 1A qua Hà Nam) vàcách thành phố Hải Phòng 80km về phía Tây (theo quốc lộ 10 qua Thái Bình)

Phía Đông, Nam Định giáp tỉnh Thái Bình, phía Tây giáp tỉnh NinhBình; phía Nam và Đông Nam giáp biển Đông với tổng chiều dài đường bờbiển là 72km; phía Bắc giáp tỉnh Hà Nam

Nam Định ở vào vị trí trung chuyển giữa các tỉnh phía Nam đồng bằngsông Hồng và các tỉnh Bắc Trung bộ Diện tích tự nhiên Nam Định là1651,4km2, bằng khoảng 0,5% diện tích tự nhiên cả nước Dân số Nam Định là1.830.0000 người, là một trong mười tỉnh thành phố đông dân nhất cả nước

Tỉnh Nam Định có 9 đơn vị hành chính cấp huyện và 1 thành phố trựcthuộc tỉnh Nam Định có 194 xã, 20 phường cùng 15 thị trấn, trong đó có 9 thịtrấn huyện lỵ và 6 thị trấn độc lập khác trực thuộc huyện Là tỉnh nằm trongvùng ảnh hưởng trực tiếp của tam giác tăng trưởng trọng điểm phía Bắc (HàNội - Hải Phòng - Quảng Ninh) Là vùng đất có nền kinh tế đang phát triểnvới nhiều tiềm năng lợi thế về nông nghiệp, chăn nuôi thủy hải sản, các làngnghề truyền thống như đúc đồng, mây, tre, dệt may và các ngành công nghiệpđang trên đà phát triển

Nam Định là mảnh đất địa linh nhân kiệt, có lịch sử truyền thống trên

750 năm của Phủ Thiên Trường nơi phát tích nhà Trần nổi tiếng trong lịch sử

Trang 17

Việt Nam về hào khí Đông A, từng ba lần đại thắng quân Nguyên, nơi sinh ranhiều danh nhân cho đất nước như Quốc công Tiết chế Hưng đạo Đại vươngTrần Quốc Tuấn, Thượng tướng Trần Quang Khải, vua Trần Thái Tông vàTrần Thánh Tông, Thiền sư Dương Không Lộ và Nguyễn Giác Hải, các vịtrạng nguyên như Nguyễn Hiền, Lương Thế Vinh

Nam Định là địa phương có nền văn hóa đa dạng với nhiều danh lamthắng cảnh, di tích lịch sử văn hóa, là địa phương có nhiều người theo các tôngiáo khác nhau Theo Ban Tôn giáo thuộc Sở Nội vụ tỉnh, hiện nay ở NamĐịnh có 3 tôn giáo chính: Công giáo, Phật giáo, Tin Lành (Phật giáo có 858 tăng

ni khoảng 30.000 tín đồ; đạo Tin Lành có 594 tín đồ, đạo Thiên Chúa có385.404 tín đồ, chiếm 22,8% dân số toàn tỉnh), cùng với nhiều loại hình tínngưỡng, nhất là tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên và tín ngưỡng thờ Mẫu tạo nên sự

đa dạng, phong phú trong hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của Tỉnh

Điều kiện thuận lợi cơ bản về vị trí địa lý, về truyền thống văn hiến,nhân dân luôn có truyền thống cách mạng, tinh thần yêu nước, lao động cần

cù sáng tạo là cơ sở để phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội đồng thờicũng tạo ra sự đa dạng trong công tác phát triển Đảng, nhất là công tác pháttriển đảng viên trong đồng bào các tôn giáo

Như vậy, trước những điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội vàtính đặc thù của Tỉnh, vấn đề đặt ra đối với công tác phát triển đảng viêntrong đồng bào các tôn giáo của Đảng bộ tỉnh là phải lãnh đạo thực hiện tốtnhiệm vụ chính trị trung tâm, quan tâm đúng mức tới công tác phát triển đảngviên, đặc biệt là trong vùng có đông đồng bào tôn giáo, đáp ứng yêu cầu của

sự nghiệp xây dựng, bảo vệ, giữ vững tình hình an ninh chính trị trong địa bàntỉnh Nam Định, cũng như sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xãhội chủ nghĩa, góp phần vào sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóađất nước hiện nay

Đặc điểm tình hình tôn giáo ở Nam Định

Ở Nam Định hiện nay có 3 tôn giáo chính hoạt động hợp pháp đượcnhà nước công nhận đó là: Công giáo, Phật giáo, Tin Lành; các tôn giáo được

du nhập vào Nam Định sớm, phát triển và được tổ chức chặt chẽ theo các cấp

Trang 18

Theo quan điểm của Nhà nước Việt Nam: tín đồ là người có niềm tinvào một tôn giáo và được tổ chức tôn giáo đó thừa nhận; chức sắc là tín đồ cóchức vụ, phẩm sắc trong tôn giáo; nhà tu hành là tín đồ tự nguyện thực hiệnthường xuyên nếp sống riêng theo giáo lý, giáo luật của tôn giáo mà mình tintheo [5, tr 9-10].

Đặc điểm đồng bào Công giáo

Đạo Công giáo là đạo do Chúa Giêsu khai sinh giảng dạy để mang ơncứu độ của Thiên Chúa và để cho mọi người thành tâm đón nhận để được cứurỗi Tín đồ đạo Công giáo là người hiệp thông với Giáo hoàng La Mã và thừanhận Giáo hoàng là người đứng đầu Giáo hội, đồng thời tự nguyện thực hiệnnhững thông điệp của Giáo hội Công giáo được du nhập vào tỉnh Nam Định từnăm 1553, đến nay đã trở thành một tôn giáo lớn, tín đồ đạo Công giáo chiếm22,2% tổng số dân toàn tỉnh, có tòa giám mục Bùi Chu được thành lập từ năm

1848, có đền thánh Phú Nhai được phong là Tiểu Vương Cung Thánh Đườngnăm 2008 Đạo Công giáo thuộc giáo phận Bùi Chu và một phần giáo phận HàNội; có 590 nhà thờ, 141 giáo xứ, 525 giáo họ, có 6 dòng tu, 39 cơ sở dòng, có 1Giám mục, 183 linh mục, 3600 chức việc, 1000 nữ tu và 473.000 giáo dân Cáchuyện có tỷ lệ giáo dân cao là Nghĩa Hưng 48,9% (là huyện có tỷ lệ giáo dânxếp thứ hai trong cả nước; Hải Hậu 41,3%; Xuân Trường 30,2%; Giao Thủy26,9%; 200/299 xã phường, thị trấn có tín đồ công giáo; 11 xã có tỷ lệ giáo dântrên 90%, đặc biệt có xã tỷ lệ giáo dân gần toàn tòng như xã Nghĩa Sơn, NghĩaLạc huyện Nghĩa Hưng là 99,8%; xã Trực Hùng, huyện Trực Ninh là 99,6%

Qua quá trình tồn tại và phát triển, đồng bào Công giáo trên địa bàntỉnh Nam Định có một số đặc điểm nổi bật:

Đa số đồng bào Công giáo trên địa bàn tỉnh Nam Định có tinh thần yêunước, đoàn kết với các tôn giáo khác trong chống giặc ngoại xâm Tinh thầnyêu nước, đoàn kết chống giặc ngoại xâm được thể hiện rõ trong các cuộc đấu

Trang 19

tranh chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ Trong các cuộc chiến tranh đó rất nhiềutín đồ, chức sắc đã tham gia tích cực vào phong trào đấu tranh của quần chúngnhân dân Nhà thờ các giáo xứ, giáo họ là nơi trú ẩn cho các chiến sĩ hoạt động

bí mật, cũng là nơi tuyên truyền đường lối kháng chiến cho đồng bào, giáo dân.Nam Định cũng là tỉnh có nhiều thanh niên là tín đồ Công giáo tham gia vào cácđơn vị bộ đội, thanh niên xung phong Sau khi đất nước được giải phóng, đa sốđồng bào thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luậtcủa Nhà nước, tham gia tích cực, hiệu quả công tác từ thiện, nhân đạo Nhiều tín

đồ được bầu vào các cơ quan dân cử, đoàn thể các cấp Tiêu biểu như: Linh mục

Lê Ngọc Hoàn, Phó Chủ tịch Ủy ban Đoàn kết Công giáo tỉnh Nam Định, 15năm liên tục tham gia Ủy ban Đoàn kết Công giáo tỉnh, là đại biểu Quốc hộikhoá XII, XIII Đây là những điểm thuận lợi cho công tác phát triển đảng viêntrong đồng bào Công giáo của Đảng bộ tỉnh

Đặc điểm đồng bào Phật giáo:

Phật giáo là tôn giáo do Đức Phật (Thich Ca Mâu Ni) sáng lập tại Ấn

Độ vào thế kỷ VI trước công nguyên Giáo lý của đạo Phật được tập hợptrong Tam Tạng Kinh (Kinh tạng, Luật tạng, Luận tạng) Tín đồ Phật giáo làngười có niềm tin vào Phật giáo và được Giáo hội Phật giáo thừa nhận Phậtgiáo được truyền vào Việt Nam từ khá sớm Tại Nam Định, Phật giáo pháttriển rực rỡ dưới triều Lý, Trần và tồn tại đến bây giờ Trong suốt quá trìnhphát triển, Phật giáo cũng trải qua những bước thăng trầm cùng những biến cốlịch sử của dân tộc

Phật giáo ở Nam Định có số lượng tín đồ khoảng 30.000 người, trong đó có

858 tăng ni phật tử, sinh hoạt ở 837 chùa Trong 837 chùa ở 197 xã (44 đơn vị có

từ 7 chùa trở lên) có 93 chùa được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp bộ 64chùa được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp Tỉnh, có 1 trường trung cấp Phậthọc, 5 cơ sở hạ và khu trung tâm Trúc Lâm Thiên Trường tại phường Lộcvượng, thành phố Nam Định Ban trị sự Phật giáo Tỉnh gồm 37 thành viên

Trang 20

Đồng bào Phật giáo ở Nam Định luôn gắn bó với quê hương, đất nướcmong muốn xây dựng quê hương thanh bình, ấm no Trong kháng chiến nhiềunhà sư, phật tử tích cực tham gia phong trào yêu nước của nhân dân trongtỉnh, nhiều chùa là cơ sở kháng chiến, nơi thành lập các chi bộ đảng Sau khiđất nước được giải phóng, đồng bào Phật giáo có nhiều đóng góp cho côngcuộc xây dựng quê hương đất nước, giữ vững an ninh chính trị, tham gia cóhiệu quả công tác từ thiện nhân đạo của địa phương và cả nước Với tư tưởng,giáo lý nhà Phật đề cao sự bình yên, tinh thần thanh thản, không đấu tranh vớithế sự thời cuộc, đã tạo những khó khăn nhất định trong công tác phát triểnđảng viên trong đồng bào Phật giáo.

Đặc điểm đồng bào theo đạo Tin Lành:

Đạo Tin Lành là một trong bốn trường phái chính của Kitô giáo, đượctách ra từ giáo hội Công giáo tại châu Âu vào thế kỷ XVI Tin Lành là tên gọichung của một tôn giáo bao gồm nhiều Giáo hội, Giáo phái độc lập Tín đồtheo đạo Tin Lành là những người từ 15 tuổi trở lên, có niềm tin vào đạo TinLành và được Giáo hội Tin Lành thừa nhận

Là tôn giáo du nhập sau, trong quá trình phát triển do ảnh hưởng củalịch sử, đạo Tin Lành không nhận được nhiều sự ủng hộ của đồng bào Gầnmột thế kỷ du nhập, số lượng tín đồ còn ít, chỉ tập trung tại hai cơ sở của NamĐịnh Đạo Tin Lành hiện có 2 chi hội là Hội Thánh Nam Định và Hội ThánhGiao Hà (huyện Giao Thủy) gồm 2 mục sư, số lượng tín đồ gần 500 người.Trong những năm qua, đồng bào Tin Lành trên địa bàn tỉnh Nam Định luônđược Đảng, chính quyền các cấp trong tỉnh quan tâm, tạo điều kiện sinh hoạttín ngưỡng theo quy định của Nhà nước Hầu hết các chức sắc, tín đồ phấnkhởi trước chủ trương của Đảng cho phép đạo Tin Lành được sinh hoạt trongkhuôn khổ pháp luật Do vậy, Hội thánh Tin Lành trong tỉnh đã từng bước ổnđịnh sinh hoạt tôn giáo; đồng bào ngày càng yên tâm, tin tưởng vào chủtrương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước Tuy nhiên,

Trang 21

do yếu tố của lịch sử để lại, và số lượng tín đồ ít chỉ tập trung tại hai địaphương trong tỉnh, đã tạo những khó khăn nhất định trong công tác phát triểnđảng viên là tín đồ theo đạo Tin Lành

* Thực trạng công tác phát triển đảng viên trong đồng bào các tôn giáo ở tỉnh Nam Định trước năm 2001

Thực hiện Nghị quyết kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa IX, ngày 6 tháng

11 năm 1996 Quyết định tách tỉnh Nam Hà thành hai tỉnh Nam Định và HàNam Để phát huy thuận lợi, đẩy lùi khó khăn, Tỉnh ủy đã bám sát đường lốichủ trương của Đảng, đổi mới và tăng cường lãnh đạo trên tất cả các lĩnh vựccủa đời sống xã hội

Về công tác chính trị, tư tưởng: Trước những biến động của tình hình

quốc tế và khu vực và những vấn đề nảy sinh trong quá trình đổi mới, các cấp

ủy Đảng đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo công tác tư tưởng, chú trọng tuyêntruyền, giáo dục bồi dưỡng nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng cho cán

bộ, đảng viên Tăng cường công tác thông tin, bồi dưỡng cán bộ đảng viên vềđường lối chủ trương của Đảng các vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh, truyền thống tốt đẹp của dân tộc, của địa phương đấutranh chống những biểu hiện sai trái trên các mặt của đời sống xã hội, củng cốkhối đoàn kết thống nhất trong Đảng và nhân dân

Tỉnh ủy đã tổ chức quán triệt học tập Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2)khóa VIII; đẩy mạnh các hoạt động sinh hoạt chính trị tự phê bình và phê bìnhnhằm nâng cao nhận thức chính trị , tư tưởng, đạo đức, lối sống cho mọi cán

bộ, đảng viên Kết quả hầu hết cán bộ, đảng viên đều có tư tưởng, chính trịvững vàng, trung thành với mục tiêu, lý tưởng của Đảng; giữ được phẩm chấtđạo đức, lối sống trong sạch, lành mạnh, tiền phong, gương mẫu

Về tổ chức cơ sở đảng: Sau khi tái lập tỉnh có 9 huyện, 1 thành phố,

201 xã, 15 phường, 9 thị trấn, với 84.134 đảng viên, trong đó đảng viên gốcgiáo có 3.352 đồng chí, chiếm 4,05% Đảng bộ tỉnh có 14 đảng bộ trực thuộc; có

Trang 22

927 tổ chức cơ sở đảng; có 194 tổ chức cơ sở đảng có đông đồng bào theo đạoThiên Chúa (385.404 tín đồ), với 170 tổ chức cơ sở đảng có từ 1 đảng viên trởlên là người gốc đạo, có 5 tổ chức cơ sở đảng có trên 70% đảng viên là ngườigốc đạo; 11 tổ chức cơ sở đảng có từ 30 đến 70% đảng viên là người gốc đạo.

Về chi bộ toàn tòng (100% đảng viên gốc giáo): toàn tỉnh có 93 chi bộ

thuộc loại hình này (chiếm 10,1% tổng số chi bộ ở nông thôn) Đảng viêntrong các chi bộ này phần lớn thuộc các gia đình Công giáo, có truyền thốngcách mạng hoặc con em đảng viên gốc giáo, có phẩm chất đạo đức tốt, tíchcực, có uy tín trong quần chúng nhân dân Tại các chi bộ này, công tác pháttriển đảng viên có đạo được chú trọng và đạt kết quả khá tốt

Về chi bộ gồm đảng viên có đạo và đảng viên không có đạo: số chi bộ này

phổ biến, chiếm khoảng hơn 80% tổng số chi bộ ở nông thôn Trong chi bộ nàyđảng viên gốc giáo ít (chiếm 4%) và phần lớn là những người đã nghỉ hưu, bộđội xuất ngũ, đảng viên có đạo được kết nạp tại địa phương ít Công tác pháttriển đảng viên là tín đồ tôn giáo ở loại hình chi bộ này ít, xu hướng giảm nhiều.Nguyên nhân là do đảng viên gốc giáo trong chi bộ này tính năng động thấp,ngại va chạm, tính lan tỏa và uy tín với giáo dân không cao

Chi bộ không có đảng viên là tín đồ các tôn giáo: loại hình chi bộ này ít

(dưới 8%), đảng viên còn nhiều biểu hiện phân biệt giữa các tôn giáo Côngtác phát triển đảng viên có tôn giáo còn nhiều định kiến, thiên lệch, chưa pháthuy được nhân tố mới trong đồng bào các tôn giáo

Về công tác phát triển đảng viên: Công tác xây dựng đội ngũ đảng viên

được quan tâm thường xuyên thông qua việc giáo dục, rèn luyện, quản lý độingũ đảng viên và phát triển đảng viên mới Đội ngũ đảng viên cơ bản có nănglực, phát huy được truyền thống cách mạng của quê hương, giữ vững phẩmchất đạo đức cách mạng của người cán bộ, đảng viên, kiên định mục tiêu lýtưởng của Đảng, hoàn thành nhiệm vụ được giao Công tác phát triển đảngviên được đặc biệt chú trọng, đã tăng cường công tác tạo nguồn bồi dưỡng

Trang 23

quần chúng ưu tú kết nạp vào Đảng, bảo đảm cả số lượng và chất lượng Từnăm 1997 đến năm 2000, toàn Đảng bộ đã kết nạp được 8.919 đảng viên Độingũ đảng viên mới kết nạp có trình độ học vấn, tuổi trẻ, phát huy được nănglực, hoàn thành nhiệm vụ.

Về công tác phát triển Đảng trong đồng bào các tôn giáo: Công tác

phát triển đảng viên mới chỉ tập trung trong tín đồ Thiên Chúa giáo, chưa kếtnạp tín đồ Phật giáo và Tin Lành Trong khi tín đồ Phật giáo khá đông, có ảnhhưởng lớn, có vị trí quan trọng trong xã hội và có những đóng góp nhất định vào

sự phát triển kinh tế - xã hội, sự ổn định chính trị của địa phương

Qua phân tích số liệu từ Ban Tổ chức Tỉnh ủy và Ban Tôn giáo thuộc

Sở Nội vụ tỉnh Nam Định cho thấy: Đến năm 2000 toàn Đảng bộ có 3.407đảng viên gốc giáo là tín đồ Thiên Chúa giáo, không có đảng viên là tín đồPhật giáo và Tin Lành Từ năm 1997 đến năm 2000 số lượng đảng viên là tín

đồ các tôn giáo được kết nạp ít Mỗi năm kết nạp được khoảng 30 đồng chí,tất cả đều là tín đồ Thiên Chúa giáo Số lượng đảng viên gốc giáo giảm 1.593đồng chí so với năm 1990 (toàn tỉnh năm 1990 có 5.000 đảng viên gốc giáo)

Nguyên nhân là do: Chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh chưa sâu sát, các cấp ủyĐảng, chính quyền, đoàn thể chưa thấy rõ tầm quan trọng của công tác pháttriển đảng viên trong đồng bào các tôn giáo Từ đó dẫn đến việc chưa chủđộng kết nạp Đảng đối với tín đồ các tôn giáo, kết nạp sợ sai, sợ vi phạm chủtrương của Đảng

Đánh giá, nhìn nhận của một bộ phận cán bộ đảng viên đối với tôn giáocòn định kiến Bộ máy làm công tác tôn giáo còn yếu, chưa được quan tâmchú trọng Công tác tư tưởng và tổ chức thiếu chặt chẽ, còn nhiều ý kiến khácnhau về vấn đề tôn giáo Vì vậy, các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể cáccấp chưa quan tâm công tác tạo nguồn, bồi dưỡng phát triển đảng viên là tín

đồ các tôn giáo

Trang 24

Đảng viên là tín đồ Thiên Chúa giáo giảm sút về số lượng là do một số

vi phạm kỷ luật bị đưa ra khỏi Đảng (đa số là tuổi trẻ), số già yếu xin miễnsinh hoạt, một số bị thần quyền chi phối nên xin ra khỏi Đảng Điển hình nhưhuyện Hải Hậu từ năm 1996 đến 2000, huyện Hải Hậu kết nạp được 69 đảngviên là người Công giáo nhưng phải đưa ra khỏi Đảng 87 đảng viên là ngườiCông giáo Thực tế này làm cho tỉ lệ đảng viên là tín đồ tôn giáo thấp so với tổng

số đồng bào theo tôn giáo Công tác phát triển đảng viên là tín đồ các tôn giáogặp nhiều khó khăn, nhiều xã trong 10 năm không kết nạp được một tín đồ nàovào Đảng, dù có rất đông đồng bào tôn giáo

Thực tiễn trên cho thấy, công tác phát triển đảng viên trong tín đồ các tôngiáo chưa được các cấp ủy Đảng, chính quyền và đoàn thể các cấp trong tỉnhNam Định quan tâm đúng mức Công tác phát triển đảng viên gốc giáo thời kỳnày đặt ra nhiều vấn đề cho Đảng bộ tỉnh để xem xét có kế hoạch cụ thể tronggiai đoạn mới

Từ thực trạng công tác phát triển đảng viên trong đồng bào các tôn giáocủa tỉnh Nam Định trước năm 2001, cùng với các yếu tố tác động về tình hìnhkinh tế, văn hóa - xã hội của địa phương đã đặt ra tính tất yếu khách quan cầnphải phát triển đảng viên trong đồng bào các tôn giáo Làm tốt công tác pháttriển đảng viên trong đồng bào các tôn giáo sẽ góp phần thực hiện thắng lơinhiệm vụ chính trị của Tỉnh

1.1.2 Chủ trương phát triển đảng viên trong đồng bào các tôn giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng bộ tỉnh Nam Định (2001-2010).

*Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam

Bước sang năm 2001, nước ta đã đạt nhiều thành tựu to lớn trong pháttriển kinh tế, văn hóa xã hội, an ninh quốc phòng, nhưng cũng đứng trướckhông ít khó khăn

Để đề ra đường lối nhằm phát huy thuận lợi, đẩy lùi khó khăn, tháchthức, Đảng đã triệu tập Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (4/2001) Tại

Trang 25

Đại hội, Đảng khẳng định vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc luôn luôn

có vị trí chiến lược quan trọng trong sự nghiệp cách mạng, là nguồn sứcmạnh và động lực to lớn để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Vì vậy, Đảng tiếptục khẳng định chủ trương: thực hiện đại đoàn kết dân tộc, tôn giáo, giai cấp,tầng lớp, thành phần kinh tế, mọi giới, mọi lứa tuổi, mọi vùng của đất nước,người trong Đảng và người ngoài Đảng, người đang công tác và người đãnghỉ hưu, mọi thành viên trong đại gia đình dân tộc Việt Nam dù sống trongnước hay ở nước ngoài

Về tín ngưỡng tôn giáo, Đảng ta xác định là nhu cầu tinh thần của một bộ

phận nhân dân Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự dotín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bìnhthường theo đúng pháp luật Đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau, đồngbào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo [15, tr 123-128]

Tại Hội nghị lần thứ 7 (1/2003) Ban Chấp hành Trung ương khóa IX đãthảo luận và thông qua 4 Nghị quyết: Nghị quyết số 23 – NQ/TW về phát huysức mạnh đại đoàn kết dân tộc vì “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,dân chủ, văn minh”; Nghị quyết số 24 – NQ/TW về công tác dân tộc; Nghịquyết 25 – NQ/TW về công tác tôn giáo; Nghị quyết số 26 – NQ/TW về tiếptục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Về công tác tôn giáo: Nghị quyết xác định: hoạt động tôn giáo và công

tác tôn giáo phải nhằm tăng cường đoàn kết đồng bào các tôn giáo trong khốiđại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, thựchiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng vàbảo vệ vững chắc Tổ quốc Để thực hiện phương hướng này, Đảng ta đãnhấn mạnh 5 quan điểm và chính sách:

Một là, tín ngưỡng tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân

dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trrong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã

Trang 26

hội Đồng bào các tôn giáo là một bộ phận của khối đại đoàn kết dân tộc.Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng,theo hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thườngtheo đúng pháp luật Các tôn giáo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, bìnhđẳng trước pháp luật.

Hai là, Đảng và Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết

dân tộc Đoàn kết đồng bào theo những tôn giáo khác nhau; đoàn kết đồngbào theo tôn giáo và không theo tôn giáo

Ba là, nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần

chúng nhân dân Công tác vận động quần chúng các tôn giáo phải động viênđồng bào nêu cao tinh thần yêu nước, ý thức bảo vệ độc lập và thống nhất Tổquốc; thông qua việc thực hiện tốt chính sách kinh tế - xã hội, an ninh, quốcphòng, bảo đảm lợi ích vật chất và tinh thần của nhân dân nói chung, trong đó

có đồng bào tôn giáo

Bốn là, công tác tôn giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị Công

tác tôn giáo có liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, các cấp, cácngành, các địa bàn Làm tốt công tác tôn giáo là trách nhiệm của toàn bộ hệthống chính trị do Đảng lãnh đạo

Năm là, vấn đề theo đạo và truyền đạo Mọi tín đồ đều có quyền tự do

hành đạo tại gia đình và cơ sở thờ tự hợp pháp theo quy định của pháp luật.Các tổ chức tôn giáo được Nhà nước thừa nhận hoạt động theo pháp luật vàđược pháp luật bảo hộ, hoạt động tôn giáo, mở trường đào tạo chức sắc, nhà

tu hành, xuất bản kinh sách và giữ gìn, sửa chữa, xây dựng cơ sở thờ tự tôngiáo của mình theo đúng quy định của pháp luật

Trên cơ sở các quan điểm chỉ đạo, Nghị quyết xác định nhiệm vụ cụ thểcủa công tác tôn giáo thời gian tới: thực hiện có hiệu quả, chủ trương, chínhsách và các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vậtchất, văn hóa của nhân dân, trong đó có đồng bào các tôn giáo Tạo điều kiện

Trang 27

cho các tôn giáo hoạt động bình thường theo đúng chính sách và pháp luật củanhà nước Đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, xây dựng cuộc sống

“tốt đời, đẹp đạo” trong tín đồ, chức sắc, nhà tu hành ở cơ sở Xây dựng khốiđại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, xây dựng vàbảo vệ đất nước Phát huy tinh thần yêu nước của đồng bào có đạo, tự giác vàphối hợp đấu tranh làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụngvấn đề tôn giáo, dân tộc để phá hoại đoàn kết dân tộc, chống đối chế độ.Hướng dẫn các tôn giáo thực hiện quan hệ đối ngoại phù hợp với đường lốiđối ngoại của Đảng và Nhà nước Đẩy mạnh thông tin tuyên truyền về chínhsách tôn giáo của Đảng và Nhà nước; đấu tranh làm thất bại những luận điệutuyên truyền, xuyên tạc, vu khống của các thế lực thù địch bên ngoài đối vớitình hình tôn giáo và công tác tôn giáo ở nước ta Tổng kết việc thực hiệncác chỉ thị, nghị quyết của Đảng về công tác tôn giáo Tăng cường nghiêncứu cơ bản, tổng kết thực tiễn, góp phần cung cấp luận cứ khoa học cho việcxây dựng và thực hiện các chủ trương, chính sách trước mắt và lâu dài đốivới tôn giáo [20, tr.48-52]

Về công tác phát triển Đảng trong đồng bào các tôn giáo: Từ năm

2004 trở về trước, công tác phát triển Đảng trong đồng bào các tôn giáo đượctriển khai thực hiện theo văn kiện: Thông báo số 76 TB/TW của Ban Bí thư

Trung ương Đảng ra ngày 20/6/1994 về “Sinh hoạt tôn giáo của đảng viên có đạo và kết nạp đảng viên là người có đạo”, chủ trương này được cụ thể hóa

bằng Hướng dẫn số 03 - HD/TCTW ngày 14/4/1995 của Ban Tổ chức Trung

ương về việc “Đảng viên có đạo tham gia sinh hoạt tôn giáo và phát triển đảng viên là người gốc đạo” Nội dung chính của hai văn kiện đã thể hiện rõ

quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác phát triển Đảng trongđồng bào các tôn giáo đó là:

Các tổ chức cơ sở đảng và mỗi cán bộ đảng viên trong vùng đồng bàocác tôn giáo cần thường xuyên tuyên truyền, giáo dục, bồi dưỡng quần chúng

Trang 28

để tạo nguồn phát triển đảng viên Trên cơ sở đó lựa chọn những người ưu tútrong đồng bào các tôn giáo, đã được rèn luyện thử thách trong công tác đểxem xét kết nạp vào Đảng.

Khi xem xét kết nạp đồng bào các tôn giáo vào Đảng phải đảm bảo tiêuchuẩn, thực hiện đúng nguyên tắc, thủ tục đã quy định trong Điều lệ ĐảngCộng sản Việt Nam, đồng thời tính đến đặc điểm và hoàn cảnh cụ thể củavùng đồng bào các tôn giáo

Tùy theo đặc điểm và tính chất của mỗi tôn giáo, các cấp ủy Đảng có

kế hoạch hướng dẫn cụ thể về phương thức hoạt động của các đảng viên là tín

đồ tôn giáo phù hợp [4, tr.2]

Công tác phát triển Đảng trong đồng bào các tôn giáo trên cả nước đạt

được một số kết quả quan trọng Các cấp ủy và tổ chức đảng đã nghiêm túctriển khai thực hiện quy định của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, xác định việc kếtnạp đảng viên là tín đồ các tôn giáo là một nội dung quan trọng của công tácxây dựng Đảng và công tác tôn giáo của Đảng; do đó đã tạo sự chuyển biếnnhận thức trong các cấp ủy, cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhất là đồng bàocác tôn giáo thấy rõ hơn quan điểm đúng đắn của Đảng trong chính sách tôngiáo, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, thực hiện tốt hơn đường lối, chínhsách của Đảng, pháp luật của Nhà nước

Các cấp ủy, tổ chức đảng đã thực hiện nghiêm các chủ trương, chính sáchcủa Đảng, pháp luật của Nhà nước về chính sách tôn giáo, nhận thức và niềm tincủa quần chúng là tín đồ các tôn giáo được nâng lên; đảng viên là tín đồ các tôngiáo đã thực hiện tốt hơn việc vận động gia đình, quần chúng trong cộng đồngchấp hành tốt chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước

Kết quả công tác kết nạp đảng viên mới là tín đồ các tôn giáo ở cácđảng bộ có chuyển biến tích cực, việc quản lý, bố trí, sử dụng cán bộ, đảngviên là tín đồ các tôn giáo chặt chẽ hơn; sự tiến bộ trong công tác kết nạpđảng viên là các tín đồ tôn giáo đã góp phần làm thay đổi cơ cấu đội ngũ đảng

Trang 29

viên, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao sức chiến đấu của các tổchức cơ sở đảng ở vùng có đông đồng bào tôn giáo Tổng số đảng viên là tín

đồ các tôn giáo trên cả nước là: 42.413 người (chiếm 0,5% dân số), trong đótín đồ Công giáo được kết nạp là 18.212 người (chiếm 42,93% đảng viên làtín đồ các tôn giáo), Phật giáo là 16.576 đảng viên (chiếm 39,8%), Hòa Hảo là

4851 đảng viên (chiếm 11,43%), Cao Đài có 2.090 đảng viên (chiếm 4,92%),Tin Lành có 374 đảng viên (chiếm 0,88%), Hồi giáo có (251 đảng viên, chiếm0,59%) Quần chúng là tín đồ các tôn giáo sau khi được kết nạp vào Đảng đãchấp hành tốt chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, phấnđấu là đảng viên đủ tư cách hoàn thành nhiệm vụ trở lên Đảng viên là tín đồcác tôn giáo đã tích cực tham gia các tổ chức đoàn thể, tổ chức chính trị xãhội, động viên, thuyết phục gia đình và đồng bào tôn giáo gương mẫu chấphành chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; thực hiện phương châm

“Kính chúa yêu nước” và “Sống tốt đời, đẹp đạo”; góp phần tích cực trongcông tác xây dựng Đảng, thắt chặt mối quan hệ giữa Đảng với đồng bào cáctôn giáo, giữ gìn sự đoàn kết tôn giáo

Kết quả đạt được của công tác phát triển đảng viên đã góp phần thúcđẩy việc thực hiện chính sách tôn giáo của Đảng, củng cố khối đại đoàn kếtdân tộc và đoàn kết tôn giáo, là cơ sở để thực hiện tốt công tác phát triển đảngviên, góp phần nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng

Bên cạnh kết quả đạt được, công tác phát triển đảng trong đồng bào cáctôn giáo còn một số hạn chế như: một số cơ sở chậm đề ra chủ trương nghịquyết, chưa gắn công tác phát triển đảng viên trong đồng bào các tôn giáo vớiviệc thực hiện công tác tôn giáo Kết quả tạo nguồn kết nạp đảng viên là tín

đồ các tôn giáo còn hạn chế, nhất là ở những nơi thực hiện công tác tôn giáocòn khó khăn, việc xử lý đảng viên vi phạm quy định về sinh hoạt tôn giáochưa nghiêm túc ở một số cấp ủy Đảng

Quán triệt quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh

và trên cơ sở thực tiễn đất nước, ngày 20/6/1994, Ban Bí thư Trung ương

Trang 30

Đảng ra Thông báo số 76-TB/TW về việc Sinh hoạt tôn giáo của đảng viên

có đạo và kết nạp đảng viên là người có đạo (Thông báo số 76) Chủ trương

này được cụ thể hóa bằng Hướng dẫn số 03 – HD/TCTW ngày 14/4/1995 của

Ban Tổ chức Trung ương về việc Đảng viên có đạo tham gia sinh hoạt tôn giáo và phát triển đảng viên là người gốc đạo (Hướng dẫn số 03) Từ thực

tiễn thành tựu, hạn chế của quá trình thực hiện hai văn kiện trên và để côngtác phát triển Đảng trong đồng bào các tôn giáo đạt kết quả tốt, đáp ứng yêucầu của sự nghiệp cách mạng giai đoạn mới, ngày 28/9/2004, Bộ Chính trị ra

Quyết định số 123- QĐ/TW: Một số điểm về kết nạp đảng viên đối với người có đạo và đảng viên có đạo tham gia sinh hoạt tôn giáo (Quyết định số 123) Sau

đó, Ban Tổ chức Trung ương đã cụ thể hóa Quyết định số 123 bằng Hướng

dẫn số 40/HD/BTCTW ngày 08/4/2005 về Thực hiện Quy định số 123 – QĐ/TW ngày 28/9/2004 của Bộ Chính trị: Một số điểm về kết nạp đảng viên đối với người có đạo và đảng viên có đạo tham gia sinh hoạt tôn giáo

(Hướng dẫn số 40) Chủ trương của Đảng về công tác kết nạp đảng viên đốivới đồng bào các tôn giáo thể hiện nhất quán, xuyên suốt trong hai văn kiệnlà: Tiếp tục quán triệt để cán bộ, đảng viên nắm vững và thực hiện đúng mụcđích, yêu cầu, phương châm, phương hướng, tiêu chuẩn, nguyên tắc kết nạpđảng viên là tín đồ các tôn giáo; gắn việc kết nạp đảng viên là tín đồ các tôngiáo với củng cố, xây dựng và nâng cao sức chiến đấu và năng lực lãnh đạocủa tổ chức đảng, làm trong sạch đội ngũ đảng viên và bảo vệ chính trị nội

bộ Đảng, tăng cường sự lãnh đạo của tổ chức đảng trên địa bàn, khu dân cư,góp phần ổn định sinh hoạt tôn giáo và thắt chặt mối quan hệ giữa Đảng vàđồng bào các tôn giáo [4, tr.12]

Chủ trương của Đảng về công tác kết nạp đảng viên đối với đồng bàocác tôn giáo thể hiện cụ thể, nhất quán, xuyên suốt trên các văn kiện trên là:

- Về phương châm kết nạp:

Trang 31

Coi trọng chất lượng, không chạy theo số lượng, đảm bảo chặt chẽ vềtiêu chuẩn, nguyên tắc, thủ tục, quy định của Đảng.

Kết nạp đảng viên gắn liền với củng cố, xây dựng và nâng cao sứcchiến đấu, năng lực lãnh đạo của tổ chức đảng, làm trong sạch đội ngũ đảngviên và bảo vệ chính trị nội bộ Đảng, tăng cường sự lãnh đạo của tổ chứcđảng trên địa bàn, khu dân cư, góp phần ổn định sinh hoạt tôn giáo và thắtchặt mối quan hệ giữa Đảng với đồng bào các tôn giáo

- Về điều kiện, tiêu chuẩn, xét kết nạp:

Chỉ xem xét, kết nạp quần chúng là người có đạo trong những tôn giáo

đã được Nhà nước công nhận Có đủ tiêu chuẩn, điều kiện để kết nạp vàoĐảng theo quy định của Điều lệ Đảng

Người được kết nạp phải thực sự là quần chúng ưu tú, đã được rènluyện thử thách trong công tác, có khả năng thuyết phục, gương mẫu thựchiện và vận động quần chúng thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, phápluật của Nhà nước; được cán bộ, đảng viên và đông đảo đồng bào có đạo,không có đạo ở nơi công tác, nơi cư trú tín nhiệm; có khả năng hoàn thành tốtnhiệm vụ của người đảng viên

Người xin vào Đảng không có vấn đề vi phạm lịch sử chính trị vànhững vấn đề chính trị hiện nay theo quy định của Bộ Chính trị, Ban Bí thư

*Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Nam Định

Phương hướng mục tiêu

Quán triệt quan điểm chủ trương của Đảng, từ tình hình thực tiễn củađịa phương, Đảng bộ tỉnh Nam Định đã đề ra chủ trương: “Tăng cường toàndiện công tác xây dựng Đảng Tiếp tục củng cố tổ chức cơ sở đảng, nâng caovai trò lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng và đảng viên” [56, tr.84]; đồng thờiphải “Tăng cường công tác phát triển đảng, chú trọng những địa bàn chưa cóđảng viên ” [67, tr.86] Phương hướng mục tiêu công tác phát triển đảng

Trang 32

viên trong đồng bào các tôn giáo thời kỳ 2001-2010 được Đại hội Đảng bộtỉnh lần thứ XVI, XVII xác định như sau:

-Về phương hướng: Tăng cường công tác xây dựng Đảng về chính trị,

tư tưởng, bảo đảm thống nhất ý chí và hành động Đổi mới nâng cao châtlượng sinh hoạt chi bộ, phân công nhiệm vụ cho đảng viên, nâng cao vai tròtiền phong gương mẫu của cán bộ, đảng viên Làm tốt công tác tạo nguồn,phát triển đảng viên mới; chú ý những quần chúng ưu tú là đoàn viên thanhniên Cộng sản Hồ Chí Minh, đoàn viên công đoàn, công nhân, người có đạo,nông dân, lực lượng vũ trang, doanh nghiệp tư nhân, những cơ sở khó khăn,những nơi chưa có hoặc ít đảng viên Phấn đấu đến năm 2010 cơ bản các thônxóm, tổ sản xuất, doanh nghiệp, trường học đều có tổ chức đảng Đồng thờikiên quyết đưa những đảng viên không đủ tư cách ra khỏi Đảng

Tỉnh ủy luôn xác định công tác phát triển đảng trong đồng bào các tôngiáo là nhiệm vụ chính trị quan trọng trong chương trình hoạt động của cả hệthống chính trị Tiếp tục phổ biến và quán triệt đến toàn thể cán bộ, đảng viêntrong hệ thống chính trị tỉnh quan điểm của Đảng về phát triển Đảng với đồngbào các tôn giáo thể hiện ở: Hướng dẫn số 03; Quy định 123; Hướng dẫn số 40.Qua đó nhằm nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên, đoàn viên, và hội viên,tín đồ các cấp hiểu đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước, xóa bỏ mặccảm, định kiến và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân Đây là điều kiện tiênquyết để thực hiện tốt công tác phát triển Đảng trong đồng bào các tôn giáo

- Mục tiêu:

Tăng cường sự thống nhất về nhận thức và tư tưởng trong toàn Đảng

bộ Nâng cao hơn nữa chất lượng công tác chính trị, tư tưởng Giữ vững anninh tư tưởng, văn hóa Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chínhtrị cho cán bộ đảng viên, đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền giáo dụctruyền thống cách mạng, quê hương Làm tốt công tác tạo nguồn bồi dưỡngphát triển đảng viên mới, chú ý kết nạp vào đảng những người ưu tú trong

Trang 33

công nhân, nông dân, trí thức, đảng viên nữ, trẻ tuổi, đảng viên gốc giáo; kiênquyết đưa ra khỏi Đảng những đảng viên không đủ tư cách [56, tr.76] Từ nayđến năm 2010, toàn Đảng bộ tỉnh phấn đấu kết nạp mỗi năm hơn 2000 đảng viênmới, trong đó có hơn một trăm đảng viên mới là tín đồ các tôn giáo; quan tâmđến những nơi có tỷ lệ đảng viên thấp, đông đồng bào theo đạo Thiên chúa, phấnđấu tiến tới không còn chi bộ ghép lãnh đạo nhiều đơn vị, thôn xóm [80, tr.9].

Nhiệm vụ và giải pháp

- Về nhiệm vụ

Đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng “Nâng cao hơnnữa chất lượng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng Đảm bảo tính lãnh đạo, tínhchiến đấu, tính giáo dục, thuyết phục của công tác tư tưởng, góp phần chống suythoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảngviên” [67, tr.70-71] Xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có phẩm chất chính trị,đạo đức cách mạng, có trình độ, kiến thức, năng lực vững vàng, trung thành,kiên định với đường lối đổi mới của Đảng Quan tâm bồi dưỡng, tạo nguồnkết nạp đảng viên mới là tín đồ các tôn giáo góp phần nâng cao năng lựclãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng Nâng cao chất lượng côngtác kiểm tra giám sát đảng viên và tổ chức đảng bảo đảm dân chủ công khai,đúng phương châm, phương pháp và quy trình Thi hành kỷ luật nghiêmkhắc theo đúng điều lệ Đảng

- Một số giải pháp nhằm thực hiện tốt công tác phát triển đảng viênvùng đồng bào các tôn giáo

Về công tác giáo dục chính trị, tư tưởng: Tăng cường công tác giáo dục

chính trị tư tưởng cho các tín đồ, chức sắc và những người hoạt động tôn giáo

để đồng bào hiểu rõ chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước, nắm vữngcác quy định về hoạt động tôn giáo và có ý thức tuân thủ pháp luật Thôngqua công tác giáo dục để giúp đồng bào hình thành ý thức chính trị tốt, nângcao tinh thần cảnh giác và thấy rõ âm mưu của các thế lực chống phá cách

Trang 34

mạng lợi dụng tôn giáo để chia rẽ tôn giáo, chia rẽ dân tộc, chống phá Đảng

và Nhà nước Việt Nam, tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa các tôn giáo,phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, tiếp tục sự nghiệp đổi mới, đẩymạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Đẩy mạnh học tập chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thựchiện nghiêm túc cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng Đổi mới việc nghiên cứu,quán triệt nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc, các nghị quyết, chỉ thị củaTrung ương và nghị quyết đại hội đảng các cấp Bồi dưỡng lý luận, nâng caohơn nữa chất lượng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao hiệu quảcủa các phương tiện thông tin đại chúng, đổi mới phương thức nắm bắt tâm

tư, nguyện vọng chính đáng của cán bộ, đảng viên và nhân dân Tập trung bồidưỡng cho đội ngũ cán bộ chủ chốt, cán bộ lãnh đạo, bí thư đảng bộ, chi bộ,trưởng thôn, xóm cơ bản được bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, thông tin theo định hướng Giáo dụctruyền thống cách mạng, truyền thống dân tộc, quê hương, lối sống nhân ái cộngđồng Phát huy sức mạnh tổng hợp của mọi ban ngành, đoàn thể, của toàn Đảng

bộ, làm tốt công tác tư tưởng và tự làm tốt công tác tư tưởng “Đẩy mạnh côngtác tuyên truyền, giáo dục nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, chống âmmưu “diễn biến hòa bình” của các thể lực thù địch” [56, tr.73] Tích cực đấutranh chống tham nhũng, tiêu cực, những biểu hiện tư tưởng đi ngược đườnglối chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước

Các cấp uỷ phải thường xuyên củng cố, kiện toàn bộ máy công tác tưtuởng, công tác tôn giáo Đổi mới hình thức, phương pháp tuyên truyền, giáodục Tăng cuờng tính chủ động trong công tác tư tưởng, kịp thời nắm bắt tìnhhình tư tưởng trong Đảng và dư luận xã hội để phân tích đánh giá, từ đó địnhhướng nội dung công tác tư tưởng sát với tình hình thực tiễn sinh động đặt ratrong công tác xây dựng Đảng, trong cuộc sống, có những nội dung, hìnhthức, biện pháp đối với công tác tư tưởng phù hợp với từng đối tượng đảngviên và quần chúng nhân dân

Trang 35

Bên cạnh việc tuyên truyền, giáo dục, phải thực sự tôn trọng quyền tự

do tín ngưỡng, tôn giáo của đồng bào Các đoàn thể cơ sở cần phát triển hộiviên, đoàn viên là tín đồ các tôn giáo, vận động đồng bào tham gia tích cựcvào các hoạt động tập thể Quan tâm xây dựng, phát triển lực lượng nòng cốttrong tín đồ, phát huy vai trò của đảng viên, đoàn viên trong các tôn giáo

Tăng cường công tác vận động chức sắc, tu sĩ các tôn giáo, nhất là các

vị đứng đầu Mặt trận và các đoàn thể tăng cường giáo dục, thuyết phục, vậnđộng chức sắc, tín đồ giúp đổi mới tư duy, làm cho chức sắc, tín đồ thấy rõ

âm mưu của các lực lượng thù địch, thế lực lợi dụng tôn giáo để chia rẽ dântộc, chống phá đất nước Củng cố Ủy ban Đoàn kết Công giáo, ban Trị sựPhật giáo tỉnh, huyện để hoạt động ngày càng hiệu quả, giữ vững đoàn kết,thống nhất giữa các hệ phái

Làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục tư tưởng chính trị cho đồngbào các tôn giáo, sẽ là cơ sở thuận lợi cho công tác phát triển đảng viên trongđồng bào các tôn giáo

Công tác xây dựng Đảng về tổ chức: từng bước sắp xếp, kiện toàn hệ

thống tổ chức của Đảng phù hợp với điều lệ Đảng và các quy định củaTrung ương Tiến hành kiểm tra, đánh giá định kỳ vai trò, nhiệm vụ củacấp ủy, đảng đoàn, ban cán sự đảng một cách chặt chẽ để nâng cao hiệuquả hoạt động

Coi trọng công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch vững mạnh,nhất là các chi bộ Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện cuộc vận động xây dựng vàchỉnh đốn Đảng “Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chứcđảng, vai trò tiền phong gương mẫu của cán bộ, đảng viên” [67, tr.72] Đổimới nâng cao chất lượng sinh hoạt các chi bộ, thực hiện tốt việc quản lý, giáodục, phân công nhiệm vụ cho đảng viên và định kỳ đánh giá chất lượng đảngviên và tổ chức đảng Tiếp tục thực hiện có nền nếp, chất lượng, hiệu quảcông tác tự phê bình và phê bình theo tinh thần nghị quyết Trung ương 6 (lần

Trang 36

2) khóa VIII Thực hiện tốt các quy định của Ban Bí thư Trung ương về chứcnăng, nhiệm vụ của các loại hình tổ chức cơ sở đảng Phấn đấu thực hiện mụctiêu xây dựng đảng bộ, chi bộ trong sạch vững mạnh, hạn chế thấp nhất cơ sởđảng yếu kém, nhất là những địa phương có đông đồng bào tôn giáo, kinh tếkhó khăn, an ninh nông thôn diễn biến phức tạp Đồng thời gắn xây dựng tổchức đảng trong sạch vững mạnh với nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên.Xây dựng quy chế hoạt động của các cấp ủy và thực hiện theo đúng nguyêntắc lãnh đạo của Đảng, nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo đi đôivới phân công cá nhân chịu trách nhiệm “Những địa phương để xảy ra viphạm Điều lệ Đảng và pháp luật nghiêm trọng thì người đứng đầu phải chịutrách nhiệm và xử lý kỷ luật” [67, tr 72].

Về công tác xây dựng đội ngũ cán bộ đảng viên: Quán triệt các Nghị

quyết, chỉ thị của Đảng; nhất là Nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương Đảnglần thứ 3 (khóa VIII) và Nghị quyết 42-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa IX),vận dụng vào thực hiện chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước ở cơ sở địa phương Trên cơ sở quy hoạch, các cấp ủytích cực đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển cán bộ, đảng viên theo đúng đườnglối, quan điểm của Đảng Quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộchủ chốt và người đứng đầu Cụ thể hóa các quy định của Trungg ương đểnhân dân nơi cư trú, nơi công tác giám sát, góp ý cho cán bộ, đảng viên Tăngcường công tác giáo dục, rèn luyện đảng viên, thực hiện tốt những điều đảngviên không được làm; kiên quyết đưa ra khỏi Đảng những đảng viên không đủ

tư cách Tăng cường công tác tạo nguồn, phát triển đảng viên mới, chú ý bồidưỡng kết nạp vào Đảng những người ưu tú trong công nhân, nông dân, tríthức, đảng viên trẻ, đảng viên gốc giáo “Thực hiện đã là đảng viên phải đượcphân công công tác để đảng viên phát huy được vai trò tiền phong, gươngmẫu Tiếp tục thực hiện tốt chính sách của Đảng và Nhà nước với những cán

bộ, đảng viên có công với cách mạng” [56, tr.75]

Trang 37

Về công tác phát triển đảng viên trong đồng bào các tôn giáo: Phải xác

định công tác xây dựng tổ chức đảng, kết nạp đảng viên vùng có đông đồng bàotôn giáo là một trong những nhiệm vụ chủ yếu nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo,sức chiến đấu của tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên Trên cơ sở đó nângcao nhận thức của các cấp ủy Đảng, cán bộ, đảng viên về vị trí, ý nghĩa, tầm quantrọng đặc biệt của công tác phát triển đảng viên trong đồng bào các tôn giáo

Hàng năm, các đảng bộ cơ sở cần tiến hành sơ kết công tác phát triểnđảng viên, chỉ ra những mặt làm được, chưa làm được; làm rõ nguyên nhâncủa những khuyết điểm, yếu kém, trên cơ sở đó đề ra những chủ trương, biệnpháp thiết thực, chỉ đạo công tác phát triển Đảng trong thời gian tới Tậptrung khắc phục những yếu kém của năm trước, làm cho công tác phát triểnđảng viên đạt chỉ tiêu về số lượng, giao chỉ tiêu kết nạp đảng viên đối với các

cơ sở đảng ở các xã, thôn, xóm có đông đồng bào tôn giáo Khắc phục dứtđiểm tình trạng nhiều chi bộ xã thôn nhiều năm không kết nạp hoặc kết nạpquá ít quần chúng tín đồ vào Đảng

Các cấp ủy Đảng phải xác định công tác tạo nguồn phát triển đảng viên

là người có đạo là khâu quan trọng trong công tác kết nạp đảng viên mới; dovậy phải chú trọng xây dựng các tổ chức trong hệ thống chính trị các cấp,nhất là Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Công đoàn, Hội phụ nữ, Hộinông dân tập thể, Hội cựu chiến binh ngày càng vững mạnh, tiêu biểu luônphát huy được truyền thống, sức mạnh của tổ chức mình, thực sự là chỗ dựavững chắc cho Đảng Lãnh đạo các tổ chức đoàn thể chính trị đẩy mạnh cácphong trào thi đua, phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ chính trị của địa phương,đơn vị, thông qua đó để thu hút đoàn viên, hội viên vào hoạt động, qua đó lựachọn bồi dưỡng những quần chúng ưu tú giới thiệu cho tổ chức đảng

Định kỳ hàng tháng các tổ chức đảng xem xét, thông qua nghị quyếtgiới thiệu quần chúng ưu tú của các tổ chức đoàn thể, đề nghị, giới thiệu quầnchúng ưu tú lên cấp ủy có thẩm quyền để lớp học bồi dưỡng nhận thức vềĐảng Ban thường vụ các huyện, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Tỉnh hàng quý

Trang 38

mở các lớp bồi dưỡng nhận thức về Đảng cho quần chúng ưu tú ở địa phương

có động cơ đúng đắn và tự nguyện phấn đấu vào Đảng

Nguyên tắc, thủ tục kết nạp đảng viên đối với đồng bào các tôn giáo:

Tỉnh ủy chủ trương quán triệt và thực hiện theo đúng Quy định số 123 vàHướng dẫn số 40, trong đó:

Chỉ xem xét, kết nạp quần chúng ưu tú là tín đồ các tôn giáo vào Đảngkhi có đủ các điều kiện sau:

Là tín đồ trong các tôn giáo được Nhà nước công nhận theo quy địnhtại điều 16, chương III, Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo Những người là tín đồhoặc tự nhận là tín đồ trong các tôn giáo chưa được Nhà nước công nhậnkhông thuộc diện xem xét, kết nạp Đảng [7]

Có đủ tiêu chuẩn, điều kiện để kết nạp vào Đảng theo quy định tại Điều

1, Điều lệ Đảng, trong đó cần xem xét thật kỹ các nội dung: qua thực tiễn hoạtđộng chứng tỏ người xin vào Đảng thực sự ưu tú, có khả năng thuyết phục

và vận động quần chúng thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, phápluật của Nhà nước, được cán bộ, đảng viên, quần chúng theo và không theotôn giáo ở nơi cư trú, nơi công tác tín nhiệm; có khả năng hoàn thànhnhiệm vụ đảng viên theo quy định tại Điều 2, Quy định số 75 - QĐ/TWngày 25 tháng 4 năm 2000 của Bộ Chính trị Về trình độ học vấn của tín đồcác tôn giáo xin vào Đảng: căn cứ điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của địaphương, đơn vị để quy định theo hướng sau: người vào Đảng nói chungphải có bằng tốt nghiệp trung học cơ sở (hoặc tương đương trở lên); nếu tín

đồ là người dân tộc thiểu số sống ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, hải đảo

mà điều kiện học tập khó khăn, không đảm bảo quy định thì Ban Thường

vụ Tỉnh ủy xem xét, nhưng sau khi kết nạp vào Đảng, đảng viên phải tiếp tụchọc tập, nâng cao trình độ học vấn

Thực hiện tốt quy trình kết nạp và quản lý đảng viên trong đồng bào các tôn giáo: Đối với những đối tượng có đủ tiêu chuẩn để kết nạp vào Đảng

các chi bộ cần kịp thời hướng dẫn, nhanh chóng hoàn chỉnh hồ sơ xét kết nạp

Trang 39

Việc kết nạp quần chúng tín đồ phải được tiến hành đúng thủ tục quy định củaĐảng, đảm bảo đúng nguyên tắc, phát huy dân chủ coi trọng chất lượng, tránh

tư tưởng xem nhẹ, giản đơn, đồng thời chấn chỉnh kịp thời tư tưởng hẹp hòi,định kiến Lễ kết nạp đảng viên, công nhận đảng viên chính thức và phát thẻđảng viên cần được tổ chức trang trọng, chu đáo, tạo ấn tượng tốt đẹp đối vớiđảng viên Sau khi được kết nạp đảng viên cần phải có chương trình học tập,nâng cao trình độ để đảm bảo đúng quy định của Đảng đối với sự giúp đỡkiểm tra của tổ chức cơ sở đảng Chú trọng việc phân công công tác để thửthách rèn luyện kết hợp với tích cực tuyên truyền, tạo dư luận tốt cho đồngbào, ủng hộ quần chúng tín đồ là đảng viên, cảm tình đảng

Tăng cường công tác kiểm tra nghiệp vụ quản lý đảng viên, công tácquy hoạch, tạo nguồn, xét kết nạp đảng viên Đẩy mạnh việc tổ chức các lớp bồidưỡng cảm tình Đảng ngay tại các khu vực có đông đồng bào tôn giáo, tín đồ,tạo điều kiện thuận lợi cho quần chúng tham gia học tập đạt kết quả tốt, đây làkhâu mấu chốt để tạo nên sự đồng bộ, nhịp nhàng trong hoạt động của tổ chứcđảng và hệ thống chính trị ở cơ sở vùng có đông đồng bào tôn giáo Đồng thời,cần phải xây dựng chương trình, kế hoạch và các giải pháp để khắc phục tìnhtrạng các giáo xứ, giáo họ chưa có đảng viên, chi bộ Xây dựng kế hoạch, triểnkhai có hiệu quả công tác phát triển tổ chức đảng và đảng viên thông qua việctăng cường đưa cán bộ, đảng viên chủ chốt ở huyện, xã xuống thôn, xóm để làmnòng cốt trong các hoạt động và tạo nguồn phát triển đảng viên tại chỗ

1.2 Đảng bộ tỉnh Nam Định chỉ đạo phát triển đảng viên trong đồng bào các tôn giáo và kết quả

1.2.1 Công tác quán triệt và triển khai thực hiện nghị quyết của Đảng

Sau khi có chủ trương mới của Đảng về công tác tôn giáo nói chung,công tác phát triển đảng viên trong đồng bào tôn giáo nói riêng, Ban Thường

vụ Tỉnh ủy đã tổ chức hội nghị quán triệt và xây dựng kế hoạch triển khaithực hiện Các huyện ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc tỉnh đều tổ chức hộinghị quán triệt đến từng cấp ủy cơ sở và đảng viên về tư tưởng, quan điểmchính sách của Đảng đối với các tôn giáo trong giai đoạn cách mạng mới

Trang 40

Tỉnh ủy đã mở nhiều lớp tập huấn ở tỉnh, thành phố, huyện Ban Dânvận Tỉnh ủy phối hợp với trường Chính trị Trường Chinh mở lớp tập huấncho đội ngũ cán bộ cốt cán, đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo

Để cụ thể hóa hướng dẫn của Trung ương, Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dântỉnh đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo đó là: Chỉ thị số 10 - CT/TU ngày23/8/1999 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy “Về việc triển khai thực hiện Chỉ thị

số 37 - CT/TW của Bộ Chính trị về công tác tôn giáo trong tình hình mới”,Quyết định số 3350/2005/ QĐ/UBND, ngày 01/1/2005 của Ủy ban nhân dântỉnh về việc ban hành “Quy định một số điều trong hoạt động tín ngưỡng tôngiáo trên địa bàn tỉnh Nam Định”; Chỉ thị số 22-CT/UBND ngày 7/11/2007

Về việc “Tăng cường công tác quản lý đất đai có liên quan đến tôn giáo”;Quyết định số 386 - QĐ/TU ngày 3/5/2012 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy “Vềtăng cường sự lãnh đạo chỉ đạo công tác tôn giáo trong tình hình mới” Đặcbiệt sau khi có Quy định số 123 - QĐ/TW của Bộ Chính trị công tác tạonguồn, kết nạp quần chúng là người có đạo vào Đảng và đảng viên là người

có đạo tham gia sinh hoạt tôn giáo được quan tâm đúng mức

Ngay sau khi có chủ trương của Trung ương và Tỉnh ủy, các đảng bộhuyện, thành phố đã ban hành Nghị quyết lãnh đạo thực hiện quy định số 123 -QĐ/TW có hiệu quả như: Huyện ủy Hải Hậu ra Nghị quyết chuyên đề khóa

XXIII “Về tăng cường giáo dục, rèn luyện đội ngũ cấp ủy, đảng viên nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng trong giai đoạn cách mạng mới” gắn với việc triển khai thực hiện nội dung Quy định số 123 -

QĐ/TW, các huyện ủy: Xuân Trường, Giao Thủy, Trực Ninh, Nghĩa Hưng cónghị quyết chuyên đề về việc “Kết nạp đảng viên đối với người có đạo”

Hàng năm các huyện, thành uỷ đều có nghị quyết, giao chỉ tiêu kết nạpđảng viên mới cho các đảng bộ, chi bộ trực thuộc, trong đó có chỉ tiêu về kếtnạp đảng viên gốc giáo, nhất là từ khi được quán triệt thực hiện Chỉ thị 44-CT/TW ngày 12-10-2004 của Ban Bí thư "Về kết nạp đảng viên lớp Hồ ChíMinh nhân kỷ niệm 115 năm ngày sinh của Người"

Ngày đăng: 30/09/2016, 08:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Ngọc Am (2000), “Góp phần nâng cao chất lượng công tác kết nạp đảng viên mới”, Tạp chí Cộng sản, 10/2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần nâng cao chất lượng công tác kết nạp đảngviên mới”, "Tạp chí Cộng sản
Tác giả: Vũ Ngọc Am
Năm: 2000
2. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Nam Định (2005), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Nam Định, tập 2 (1975 - 2000), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ tỉnh NamĐịnh, tập 2 (1975 - 2000)
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Nam Định
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2005
3. Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương (2002), Vấn đề tôn giáo và chính sách tôn giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề tôn giáo và chính sách tôn giáocủa Đảng Cộng sản Việt Nam
Tác giả: Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
4. Ban Chấp hành Trung ương (2004), Quy định số 123 - QĐ/TW ngày 28 tháng 9 năm 2004 về Một số điểm về kết nạp đảng viên đối với người có đạo và đảng viên có đạo tham gia sinh hoạt tôn giáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định số 123 - QĐ/TW ngày 28 tháng 9 năm2004 về Một số điểm về kết nạp đảng viên đối với người có đạo và đảng viên có đạotham gia sinh hoạt tôn giáo
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương
Năm: 2004
5. Ban Tôn giáo Chính phủ (2005), Văn bản pháp luật Việt Nam về tín ngưỡng tôn giáo, Nxb Tôn giáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bản pháp luật Việt Nam về tín ngưỡng tôngiáo
Tác giả: Ban Tôn giáo Chính phủ
Nhà XB: Nxb Tôn giáo
Năm: 2005
6. Ban Tổ chức Trung ương (1995), Hướng dẫn số 03 HD - TC/TW ngày 14 tháng 4 năm 1995 về Đảng viên có đạo tham gia sinh hoạt tôn giáo và phát triển đảng viên là người có đạo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn số 03 HD - TC/TW ngày 14 tháng 4năm 1995 về Đảng viên có đạo tham gia sinh hoạt tôn giáo và phát triển đảng viênlà người có đạo
Tác giả: Ban Tổ chức Trung ương
Năm: 1995
7. Ban Tổ chức Trung ương (2005), Hướng dẫn số 40 - HD/BTCTW ngày 08 tháng 4 năm 2005 về Thực hiện Quy định số 123 - QĐ/TW ngày 28/9/2004 của Bộ Chính trị “Một số điểm về kết nạp đảng viên đối với người có đạo và đảng viên có đạo tham gia sinh hoạt tôn giáo”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Hướng dẫn số 40 - HD/BTCTW ngày 08 tháng4 năm 2005 về Thực hiện Quy định số 123 - QĐ/TW ngày 28/9/2004 của BộChính trị" “"Một số điểm về kết nạp đảng viên đối với người có đạo và đảng viêncó đạo tham gia sinh hoạt tôn giáo
Tác giả: Ban Tổ chức Trung ương
Năm: 2005
8. Bộ Chính trị (1990), Nghị quyết 24/NQ - TW ngày 16/10/1990 về Tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 24/NQ - TW ngày 16/10/1990 về Tăng cường côngtác tôn giáo trong tình hình mới
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 1990
9. Phí Văn Chỉ (1999), “Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên”,Tạp chí Nghiên cứu lý luận (số 8) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũđảng viên”",Tạp chí Nghiên cứu lý luận
Tác giả: Phí Văn Chỉ
Năm: 1999
10. Nguyễn Chính (1998), “Đảng viên với tín ngưỡng, tôn giáo”, Tạp chí Cộng sản (11), tr.38-42 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng viên với tín ngưỡng, tôn giáo”, "Tạp chí Cộngsản
Tác giả: Nguyễn Chính
Năm: 1998
11. Chính phủ (1993), Chỉ thị 379/TTg ngày 23 tháng 7 năm 1993 của Thủ tướng Chính phủ về các hoạt động tôn giáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị 379/TTg ngày 23 tháng 7 năm 1993 của Thủ tướngChính phủ về các hoạt động tôn giáo
Tác giả: Chính phủ
Năm: 1993
12. Cục Thống kê tỉnh Nam Định (2001), Niên giám thống kê, Nam Định Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê
Tác giả: Cục Thống kê tỉnh Nam Định
Năm: 2001
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb, Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứVIII, N
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1996
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2000), “Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương (khoá VIII) về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”, Các Nghị quyết của Trung ương Đảng 1996-1999, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấphành Trung ương (khoá VIII) về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệphoá, hiện đại hoá đất nước”, "Các Nghị quyết của Trung ương Đảng 1996-1999
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NxbChính trị quốc gia
Năm: 2000
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứIX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam khoá IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam khoá IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hànhTrung ương Đảng khoá IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hànhTrung ương Đảng khoá IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (2003), Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hànhTrung ương Đảng khoá IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2003
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w