Đặt vấn đề Môi trường là yếu tố vô cùng quan trọng, quyết định sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật trên trái đất.. Môi trường là nơi cung cấp không gian sống của con người
Trang 1Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Khoa học môi trường
Trang 2Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Khoa học môi trường
Khóa học : 2011 - 2015 Giảng viên hướng dẫn : TS.Nguyễn Đức Thạnh
Thái Nguyên, năm 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực tập tốt nghiệp, ngoài sự nỗ lực của bản thân,
em đã nhận được nhiều sự giúp đỡ của các tập thể, cá nhân trong và ngoài trường
Trước hết em xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo khoa Môi trường và các thầy cô Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ em hoàn thành quá trình thực tập tốt nghiệp
Em bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo TS.Nguyễn Đức Thạnh – Trưởng phòng thanh tra khảo thí & Đảm bảo chất lượng giáo dục, trường
ĐH Nông Lâm Thái Nguyên, là người đã tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Em xin chân thành cảm ơn các bác các cô, chú,anh,chị Cán bộ UBND xã Hưng Thịnh đã hết lòng tận tình, chỉ bảo hướng dẫn và giúp đỡ
em trong suốt quá trình thực tập tại xã
Cuối cùng em xin chân thành gửi lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè, những người đã khích lệ em trong suốt quá trình thực tập tốt nghiệp
Trong thời gian thực tập em đã cố gắng hết sức mình, nhưng do kinh nghiệm và kiến thức của bản thân còn hạn chế nên khóa luận chắc không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong thầy cô và các bạn góp ý bổ sung
để khóa luận của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2015
Sinh viên
Hoàng Mùi Sỉnh
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Số hộ dân phân loại rác thải sinh hoạt hàng ngày trước khi xử
lý (N = 49) 24
Bảng 2.2: Đánh giá tầm quan trọng của việc phân loại rác thải sinh hoạt chia theo giới tính (N= 49) 25
Bảng 2.3: Ý kiến người dân về tầm quan trọng của việc xử lý rác thải sinh hoạt ( N = 49) 25
Bảng 2.4: Kiến thức , thái độ thực hành của người dân về nguồn nước sạch 26
Bảng 2.5: Kiến thức , thái độ, thực hành của người dân về vê ̣ sinh môi trường 27
Bảng 4.1: Dân số xã Hưng Thịnh 36
Bảng 4.2: Giới tính của người tham gia phỏng vấn 39
Bảng 4.3: Trình độ học vấn của người tham gia phỏng vấn 40
Bảng 4.4: Nghề nghiệp của người tham gia phỏng vấn 40
Bảng 4.5: Các hình thức cung cấp nước cho ăn uống và sinh hoạt tại địa phương 41
Bảng 4.6: Đánh giá chất lượng nước dùng cho sinh hoạt tại địa phương 41
Bảng 4.7: Tỷ lệ HGĐ sử dụng loại cống thải 42
Bảng 4.8: Tỷ lệ % số HGĐ có các nguồn thải 43
Bảng 4.9: Tỷ lệ hộ gia đình có các hình thức đổ rác 44
Bảng 4.10: Tỷ lệ kiểu nhà vệ sinh 45
Bảng 4.11: Các nguồn tiếp nhận nước thải từ nhà vệ sinh 46
Bảng 4.12: Nhận thức của người dân về các khái niệm liên quan đến môi trường 48
Bảng 4.13: Sự hiểu biết của người dân về hiên tượng mưa axit 49
Trang 5Bảng 4.14: Sự hiểu biết của người dân về thay đổi nhiệt độ 50Bảng 4.15: Bảng khám sức khỏe định kỳ của người dân 50Bảng 4.17: Đánh giá sự ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường tới sức khỏe
của người dân 52Bảng 4.18: Ý thức của người dân trong việc tham gia các hoạt động bảo
vệ môi trường 52Bảng 4.19: Đánh giá tầm quan trọng của việc phân loại, thu gom và xử lý
rác thải 54Bảng 4.20: Nhận thức của người dân về luật môi trường 55
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT STT Từ viết tắt Nghĩa của từ viết tăt
9 IPCC Hội đồng liên Chính Phủ về Biến đổi khí hậu
10 ISWM Hiệp hội quốc tế của trọng lượng và đo lường
19 UNEP Chương trình Môi trường Liên Hiệp Quốc
Trang 7MỤC LỤC
Phần 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu 3
1.2.1 Mục tiêu tổng quát 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Ý nghĩa của đề tài 3
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập, nghiên cứu khoa học 3
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 4
1.4 Yêu cầu của đề tài 4
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5
2.1 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài nghiên cứu 5
2.2 Một số vấn đề môi trường cần quan tâm trên Thế giới và Viê ̣t Nam 8
2.2.1 Một số vấn đề về Môi trường cần quan tâm trên Thế giới 8
2.2.2 Một số vấn đề về môi trường của Viê ̣t Nam [9] 15
2.3 Những nghiên cứu về nhâ ̣n thức người dân về các vấn đề môi trường ở các địa phương của Việt Nam 20
2.3.1 Nhận thức của người dân về Luâ ̣t BVMT 20
2.3.2 Nhận thức của người dân tại TPHCM về tác hại của biến đổi khí hậu [5] 21
2.3.3 Nhận thức của người dân về viê ̣c phân loa ̣i, thu gom, xử lý rác thải 22
2.3.4 Nhận thức của người dân về vê ̣ sinh môi trường 26
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
3.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 28
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 28
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 28
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 28
Trang 83.2.1 Địa điểm 28
3.2.2 Thời gian nghiên cứu 28
3.3 Nội dung nghiên cứu 28
3.3.1 Tình hình cơ bản của xã Hưng Thịnh 28
3.3.2 Hiện trạng môi trường tại xã Hưng Thịnh 28
3.3.3 Tìm hiểu sự hiểu biết của người dân về môi trường 28
3.3.4 Đánh giá chung và đề xuất các giải pháp 29
3.4 Phương pháp nghiên cứu 29
3.4.1 Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu thứ cấp 29
3.4.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 29
3.4.3 Phương pháp tổng hợp, xử lý số liệu 29
Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 30
4.1 Đặc điểm cơ bản xã Hưng Thịnh 30
4.1.1 Vị trí địa lý 30
4.1.2 Địa hình 30
4.1.3 Thổ nhưỡng 30
4.1.4 Khí hậu, thuỷ văn 31
4.1.5 Tài nguyên rừng, thảm thực vật và động vật 31
4.1.6 Tài nguyên nước 32
4.1.7 Hiện trạng sử dụng đất 33
4.2 Thực trạng phát triển kinh tế -xã hội: 33
4.2.1 Thực trạng phát triển các ngành 33
4.2.2 Đánh giá thực trạng dân số, lao động 35
4.3 Tình hình cơ sở hạ tầng 36
4.4 Hiện trạng môi trường tại xã Hưng Thịnh 39
4.4.1 Thông tin về đối tượng điều tra 39
4.4.2 Kết quả điều tra về sử dụng nước sinh hoạt tại địa phương 41
Trang 94.4.3 Vấn đề nước thải tại địa phương 42
4.4.4 Vấn đề rác thải tại địa phương 44
4.4.5 Tình hình sử dụng nhà vệ sinh trong xã 45
4.4.6 Hiểu biết của người dân về môi trường 46
4.7 Đánh giá chung và đề xuất giải pháp 57
4.7.1 Đánh giá chung 57
4.7.2 Đề xuất giải pháp 59
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 61
5.1 Kết luận 61
5.2 Kiến nghị 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 64
Trang 10Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Môi trường là yếu tố vô cùng quan trọng, quyết định sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật trên trái đất Môi trường là nơi cung cấp không gian sống của con người và sinh vật, cung cấp các nguồn tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạt động sản xuất của con người, đồng thời cũng là nơi chứa đựng các phế thải do con người thải ra trong cuộc sống
và hoạt động sản xuất Việt Nam là một nước đang phát triển, đang bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, đô thị hoá thì việc giữ gìn môi
trường là vấn đề hết sức quan trọng
Nông thôn là một bộ phận không thể tách rời trong cơ cấu kinh tế -
xã hội ở Việt Nam Bởi nông thôn không những là một bộ phận tạo ra cơ
sở vật chất lớn, cung cấp nguồn lao động cho xã hội mà nó còn là nguồn động lực lớn cho những quốc gia đang phát triển như Việt Nam
Đi cùng với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế trong cả nước nông thôn Việt Nam cũng ngày càng phát triển thể hiện trên mọi mặt công nghiệp, nông nghiệp, y tế, dịch vụ, văn hóa - xã hội… Bộ mặt nông thôn
đã và đang được thay đổi đáng kể, đời sống của nhân dân được cải thiện cả
về vật chất và tinh thần Nhưng song hành cùng với sự phát triển đó là các vấn đề về an ninh quốc phòng, giáo dục và môi trường là những vấn đề vô cùng bức Hiện nay, ở hầu hết các khu nông thôn đang trong quá trình hội nhập kinh tế, các tỉnh không ngừng đầu tư cơ sở hạ tầng, giao thông, thu hút đầu tư xây dựng các khu công nghiệp, nhà máy khu đô thị… để tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế - xã hội Chính vì vậy mà chất lượng môi trường của chúng ta ngày càng bị suy giảm Điều này không chỉ dừng lại ở môi trường không khí mà cả môi trường nước và môi trường đất.Bảo
Trang 11vệ môi trường đòi hỏi cần có sự chung tay và góp sức của toàn xã hội Ngoài việc đề ra các biện pháp công nghệ kỹ thuật, pháp luật để bảo vệ, phục hồi môi trường thì việc giáo dục, nâng cao nhận thức cho người dân
về vấn đề môi trường cũng là một việc làm vô cùng quan trọng
Cao Bằng là tỉnh nằm ở phía Đông Bắc Việt Nam Đa số diện tích Cao Bằng được che phủ bởi rừng vì thế không khí khá trong sạch ở các vùng nông thôn, các khu dân cư và ở trung tâm thị xã Tuy nhiên do sản lượng quặng lớn cùng với sự khai thác bừa bãi và quản lý không nghiêm ngặt, các tuyến đường chính của Cao Bằng có mức độ ô nhiễm bụi cao Nguồn nước sông đang bị ô nhiễm khá nặng do ý thức vứt rác bữa bãi của người dân cùng với ngành công nghiệp khai khoáng và khai thác cát đã làm cho các dòng sông ở đây bị ô nhiễm thu hẹp dòng chảy, hệ sinh thái bị ảnh hưởng
Bảo Lạc là huyện vùng cao biên giới giáp với Trung Quốc, nằm về phía Tây của tỉnh Cao Bằng, có trung tâm huyện lỵ là thị trấn Bảo Lạc cách thị xã Cao Bằng 134 km theo Quốc lộ 34 Cao Bằng - Hà Giang Trước đây môi trường nơi đây khá trong sạch nhưng mấy năm trở lại đây thì quá trình khai thác tài nguyên thiên nhiên quá mức cùng với sự hiểu biết còn hạn chế của người dân đã dần phá vỡ môi trường trong lành vốn
có
Hưng Thịnh là một xã thuộc huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng Là xã thuộc vùng miền núi có điều kiện kinh tế khó khăn và cũng là một xã mới tách ra từ xã Hưng Đạo năm 2007, giao thông đi lại không thuận tiện, mạng lưới điện quốc gia đầu năm 2014 mới được cung cấp Ngành nghiệp chủ yếu của người dân nơi đây chủ yếu là trồng trọt và chăn nuôi.Những năm gần đây tình hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật không đúng liều lượng trong trồng trọt đã ảnh hưởng không ít tới môi trường tự nhiên nơi
Trang 12đây Không những vậy do người dân chưa có ý thức thu gom xử lý rác thải sinh hoạt cũng đang dần làm mất đi cảnh quan tự nhiên vốn có và môi trường đang ngày một ô nhiễm và suy thoái
Xuất phát từ thực trạng trên và đồng thời muốn đi sâu vào tìm hiểu
môi trường nơi mình sinh sống em tiến hành thực hiện đề tài “Tìm hiểu sự
hiểu biết của người dân về môi trườngnông thôn ở xã Hưng Thịnh, huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng” dưới sự hướng dẫn của thầy giáo
TS.Nguyễn Đức Thạnh– Trưởng phòng thanh tra khảo thí & Đảm bảo chất lượng giáo dục, trường ĐH Nông Lâm Thái Nguyên
1.2 Mục tiêu
1.2.1 Mục tiêu tổng quát
Xác định mức độ hiểu biết của người dân về môi trường, từ đó đề xuất những giải pháp giáo dục phù hợp nhằm nâng cao nhận thức của người dân về môi trường và ý thức bảo vệ môi trường sống
- Đánh giá sự hiểu biết của người dân về Luật Môi trường của Việt Nam
- Đánh giá ý thức của người dân về công tác bảo vệ môi trường trên địa bàn xã
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập, nghiên cứu khoa học
- Nâng cao kiến thức kỹ năng và rút ra những kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công tác sau này
Trang 13- Vận dụng và phát huy các kiến thức đã học tập và nghiên cứu rèn luyện về kỹ năng tổng hợp và phân tích số liệu
1.4 Yêu cầu của đề tài
- Phỏng vấn các hộ gia đình đại diện cho các tầng lớp, các lứa tuổi làm việc ở các ngành nghề khác nhau
- Thu thập các thông tin, tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội
xã Hưng Thịnh, huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng
- Số liệu thu thập phải chính xác, khách quan, trung thực
- Tiến hành điều tra theo bộ câu hỏi, bộ câu hỏi phải dễ hiểu đầy đủ các thông tin cần thiết cho việc đánh giá
- Các kiến nghị được đưa ra phải phù hợp với tình hình địa phương và
có tính khả thi cao
Trang 14Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài nghiên cứu
- Nhận thức: có rất nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm nhận
thức, sau đây là một số khái niệm
+ Theo từ điển triết học: “Nhận thức là quá trình tái tạo lại hiện thực ở trong tư duy của con người, được quyết định bởi quy luật phát triển xã hội
và gắn liền cũng như không thể tách rời khỏi thực tiễn, nó phải là mục đích của thực tiễn, phải hướng tới chân lý khách quan” (Nguyễn văn Tường, 2010) [16]
+ Theo Cuốn “Giải thích thuật ngữ Tâm lý – Giáo dục học”: “Nhận
thức là toàn bộ những quy trình mà nhờ đó những đầu vào cảm xúc được chuyển hoá, được mã hoá, được lưu giữ và sử dụng”(Nguyễn văn Tường, 2010) [16]
+ Theo “Từ điển Giáo dục học”: “Nhận thức là quá trình hay là kết quả
phản ánh và tái tạo hiện thực vào trong tư duy của con người”(Nguyễn văn Tường, 2010) [16]
+ Nhà Tâm lý học người Đức cho rằng: “Nhận thức là sự phản ánh hiện thực khách quan trong ý thức của con người, nhận thức bao gồm:
“Nhậnthức cảm tính và Nhận thức lý tính, chúng có mối quan hệ biện chứng với nhau và cơ sở, mục đích và tiêu chuẩn của Nhận thức là thực tiễn xã hội”[16]
Trang 15+ Theo "Từ điển Bách khoa Việt Nam", nhận thức là quá trình biện
chứng của sự phản ánh thế giới khách quan trong ý thức con người, nhờ đó con người tư duy và không ngừng tiến đến gần khách thể [15]
- Một số khái niệm về môi trường
+ Khái niệm môi trường là gì: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên
và vật chất nhân tạo bao quanh con người, ảnh hưởng đến đời sống sản xuất, sự tồn tại, sự phát triển của con người và sinh vật” (Luật bảo vệ môi trường, 2014) [8]
+Thành phần môi trường : “là yếu tố vật chất tạo thành môi trường như đất, nước, không khí , âm thanh , ánh sáng , sinh vâ ̣t , hê ̣ sinh thái và cá c hình thái vật chất khác ”(Luật bảo vệ môi trường, 2014) [8]
+ Hoạt động bảo vệ môi trường: “là hoạt động giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đến môi trường; ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cải thiện, phục hồi môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhằm giữ môi trường trong lành” (Luật bảo
vệ môi trường, 2014) [8]
+ Phát triển bền vững: “là phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại
mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường” (Luật bảo vệ môi trường, 2014)[8]
+Ô nhiễm môi trường: “là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật”(Luật bảo vệ môi trường, 2014) [8]
Trang 16+ Sự cố môi trường: là tai biến hoặc rủi ro xảy ra trong quá trình hoạt động của con người hoặc biến đổi thất thường của tự nhiên, gây ô nhiễm, suy thoái hoặc biến đổi môi trường nghiêm trọng
+ Chất gây ô nhiễm môi trường: “là các chất hóa học, các yếu tố vật lý
và sinh học khi xuất hiện trong môi trường cao hơn ngưỡng cho phép làm
cho môi trường bị ô nhiễm”(Luật bảo vệ môi trường, 2014) [8]
+ Chất thải: là vật chất được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác
+ Quản lý chất thải: “là quá trình phòng ngừa, giảm thiểu, giám sát, phân loại, thu gom, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý chất
thải”(Luật bảo vệ môi trường, 2014) [8]
+ Khí nhà kính: là các khí trong khí quyển gây ra sự nóng lên toàn cầu
và biến đổi khí hậu
+ Biến đổi khí hậu: “là những ảnh hưởng có hại của biến đổi khí hậu, là những biến đổi trong môi trường vật lý hoặc sinh học gây ra những ảnh hưởng có hại đáng kể đến thành phần, khả năng phục hồi hoặc sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên và được quản lý hoặc đến hoạt động của các
hệ thống kinh tế - xã hội hoặc đến sức khỏe và phúc lợi của con người”
(Luật bảo vệ môi trường, 2014) [8]
+ Ứng phó với biến đổi khí hậu: là các hoạt động của con người nhằm thích ứng và giảm thiểu biến đổi khí hậu
+ Thông tin về môi trường: “là số liệu, dữ liệu về môi trường dưới dạng
ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự”(Luật bảo vệ môi trường, 2014) [8]
+ Mưa axit là hiện tượng nước mưa có độ chua (pH dưới 5,6) và trong thành phần nước mưa có nitơ và lưu huỳnh Nguyên nhân sâu xa của tình
Trang 17trạng mưa axit bắt nguồn từ việc con người tiêu thụ nhiều nguyên liệu tự nhiên như than đá, dầu mỏ… cho quá trình sống, phát triển sản xuất
2.2 Mô ̣t số vấn đề môi trường cần quan tâm trên Thế giới và Viê ̣t
Nam
2.2.1 Mô ̣t số vấn đề về Môi trường cần quan tâm trên Thế giới
Hiện nay chúng ta và thế giới đang phải đối mặt với nhiều vấn đề môi trường, nhưng cấp bách nhất là [9]:
người
Rừng xanh trên thế giới che phủ khoảng mô ̣t phần ba diê ̣n tích đất liền của Trái đấ t, chiếm khoảng 40 triê ̣u km2
Tuy nhiên , các vùng rừng rậm tốt tươi đã bị suy thoái nhanh chóng trong những năm gần đây
Các hệ sinh thái rừng bao phủ khoảng 10% diện tích Trái đất , khoảng 30% diện tích đất liền Tuy nhiên, các vùng có rừng che phủ đã bị giảm đi khoảng 40% trong vòng 300 năm qua và theo đó mà các loài động thực vật , thành phần quan trọng của các hệ sinh thái rừng , cũng bị mất mát đáng kể Từ trước đến nay , lượng CO2 có trong khí quyển luôn ổn định nhờ sự quang hợp của cây xanh Tuy nhiên trong những năm gần đây , mô ̣t diên tích lớn rừng bị phá hủy , nhất là rừng râ ̣m nhiê ̣t đới , do đó hàng năm có khoảng 6 tỷ t ấn CO2 được thải thêm vào khí quyển trên toàn thế giới , tương đương khoảng 20% lượng khí CO2 thải ra do sử dụ ng các nhiên liê ̣u hóa thạch (26 tỷ tấn /năm) Điều đó có nghĩa là viê ̣c giảm bớt sử du ̣ng nhiên liê ̣u hóa tha ̣ch và khuyến khích bảo vê ̣ rừng và trồng rừng để giảm bớt tác đô ̣ng của biến đổi khí hâ ̣u là rất quan tro ̣ng
Chúng ta có thể giảm phát thải khoảng 1,3 đến 4,2 tỷ tấn CO2hàng năm bằng cách tăng cường trồng rừng và bảo vệ rừng Tuy nhiên, hiện nay chúng ta cũng chưa thể nói dự kiến đó có thể hiện thực hay không, vì rằng
Trang 18rừng ở nhiều vùng trên thế giới, nhất là ở Nam Mỹ, châu Phi và Nam Á vẫn đang tiếp tục bị suy thoái nghiêm trọng [1]
Ước tính, đã có khoảng 60% khả năng dịch vụ cho sự sống trên Trái đất của các hệsinh thái, nhất là các hệ sinh thái rừng – như nguồn nước ngọt, nguồn cá, điều chỉnh không khí và nước, điều chỉnh khí hậu vùng, điều chỉnh các thiên tai và dịch bệnh tựnhiên – đã bị giảm sút, gây thiệt hại lớn cho nhiều người, nhất là những người dân nghèo Các nhà khoa học cũng đã cảnh báo rằng, tác động tiêu cực của những suy thoái nói trên sẽ tăng lên nhanh chóng trong 50 năm sắp tới nếu không có các biện pháp tích cực [4]
Đa da ̣ng sinh ho ̣c đem la ̣i rất nhiều lợi ích cho con người như làm sa ̣ch không khí và dòng nước , giữ cho môi trường thiên nh iên trong lành , cung cấp các loa ̣i lương thực thực phẩm , thuốc chữa bê ̣nh , đa da ̣ng sinh ho ̣c còn góp phần tạo ra lớp đất màu , tạo độ phì cho đất để phục vụ sản xuất sinh hoạt…Tất cả các dịch vụ của hệ sinh thái trên thế g iới đã đem la ̣i lợi ích cho con người với giá tri ̣ ước lượng khoảng 21-72 tỷ đôla Mỹ /năm, so với tổng sản phẩm toàn cầu năm 2008 là 58 tỷ đôla Mỹ [3]
Sau lần tuyệt chủng lớn thứ năm, cách đây khoảng 65 triệu năm – tuyệt chủng các loài khủng long – ngày nay các sinh vật trên Trái đất lại đang trải qua một thời kỳ tuyệt chủng lớn lần thứ sáu Các nhà khoa học đã chứng minh được rằng sự mất mát lần này có tốc độ nhanh hơn rất nhiều
so với các lần trước.Có bao nhiêu loài đã bị tuyệt chủng trong những năm qua? Theo nghiên cứu của các nhà khoa học thì ước tính đã có khoảng 40% số loài đã mất đi trong khoảng từ 1970 đến 2000 Riêng các loài ở nước ngọt đã mất đi khoảng 50%
Thế thì có bao nhiêu loài hiện đang tồn tại có nguy cơ bị tuyệt chủng? Con người đã biết được có khoảng 1,6 triệu loài sinh vật hiện đang sống
Trang 19trên Trái đất Hầu hết các loài động vật có xương sống đã được biết, số loài chưa biết đến phần lớn thuộc vềnhóm động vật không xương sống Trong số 1,6 triệu loài đã biết, IUCN đã nghiên cứu kỹ khoảng 45.000 loài
và đã đưa ra kết luận là có khoảng 45% các loài đang có nguy cơ bị tiêu diệt [3]
Mất đa dạng sinh học ngày nay đang diễn ra một cách nhanh chóng chưa từng có, ước tính gấp khoảng 100 lần so với tốc độ mất các loài trong lịch sử Trái đất và trong những thập kỷ sắp tới mức độ biến mất của các loài sẽ gấp 1.000-10.000 lần (MA, 2005) Có khoảng 10% các loài đó thế giới cần phải có những biện pháp bảo vệ, trong đó có khoảng 16.000 loài được xem là đang có nguy cơ bị tiêu diệt Tình trạng nguy cấp của các loài không phân bố đều giữa các vùng trên thế giới, các vùng rừng ẩmnhiệt đới
có số loài nguy cấp nhiều nhất, trong đó có nước ta, rồi đến các vùng rừng khô nhiệt đới, vùng đồng cỏ miền núi Nghề khai thác thủy sản bị suy thoái nghiêmtrọng và có đến 75% ngư trường trên thế giới đã bị khai thác cạn kiệt hay khai thác quá mức (UNEP, 2007) [2]
Sụp đổ hệ sinh thái và mất đa dạng sinh học sẽ gây nên nhiều khó khăn trong cuô ̣c sống nhất Vì thế, viê ̣c bảo tồn đa da ̣ng si nh ho ̣c là hết sức quan trọng trong công cuộc xóa đói giảm nghèo mà chúng ta đang theo đuổi
trong sự phát triển xã hô ̣i ở nước ta
* Tài nguyên nước đang bị cạn kiệt dần
Trái đất là một hành tinh xanh , có nhiều nước , nhưng 95,5% lượng nước có trên Trái đất là nước biển và đa ̣i dương Lượng nước ngo ̣t mà loài người có thể sử du ̣ng được chỉ chiếm khoảng 0,01% lượng nước ngo ̣t có trên Trái đất Cuô ̣c sống của chúng ta và nhiều loài sinh vâ ̣t khác phụ thuô ̣c vào lượng nước ít ỏi đó Lượng nước quý giá đó đang bi ̣ suy thoái
Trang 20mô ̣t cách nhanh chóng do các hoa ̣t đô ̣ng của con người và con người đang phải vật lộn với sự thiếu hụt nước ngọt tại nhiều vùng trên thế giới [9] Để có thể bảo tồn nguồn tài nguyên nước hết sức ít ỏi của chúng ta , chúng ta phải nhận thức được rằng cần phải giữ được sự cân bằng nhu cầu
và khả năng cung cấp bằng cách thực hiên các biện pháp thích hợp Để có thể hồi phục được sự cân bằng mỗi khi đã bi ̣ thay đổi sẽ tốn kém rất lớn , tuy nhiên có nhiều trường hợp không thể sửa chữa được Vì thế cho nên , nhân dân ta ̣i tất cả các vùng phải biết tiết kiê ̣m nước , giữ cân bằng giữa nhu cầu sử du ̣ng với nguồn nước cung cấp , có như thế mới giữ được một cách bền vững nguồn nước với chất lượng an toàn
đang cạn kiê ̣t
Trong lúc vấn đề ca ̣ n kiê ̣t nguồn chất đốt hóa tha ̣ch đang được mo ̣i người quan tâm như dầu mỏ và khí đ ốt, thì Trung Quốc và Ấn Độ với diện tích rộng và dân số lớn , đang là nhưng nước đang phát triển nhanh ta ̣i châu Á, đă ̣c biê ̣t là Trung Quốc có nguồn than đá và khí đốt thiên nhiên dồi dào , đang tăng sức tiêu thu ̣ nguồn năng lượng này mô ̣t cách nhanh chóng Ở Trung Quốc , sức tiêu thu ̣ loa ̣i năng lượng hàng đầu này từ 961 triệu tấn (tương đương dầu mỏ ) vào năm 1997 lên 1.863 triê ̣u tấn vào năm 2007, tăng gần gấp đôi trong khoảng 10 năm Tất nhiên lượng CO 2 thải ra cũng tăng lên gần ½ lượng thải của Mỹ năm 2000, và đến nay Trung Quốc đã trở th ành nước thải lượng khí CO 2 lớ n nhất trên thế gi ới, vượt qua cả Mỹ năm 2007 [9]
Con người đã đa ̣t được bước tiến rất lớn trong quá trình phát triển , bằng cuô ̣c Cách ma ̣ng Công nghiê ̣p nhờ sự tiêu thu ̣ lớn các chất đốt hóa
thạch Tuy nhiên , ước lượng nguồn dự trữ dầu mỏ trên th ế giới chỉ còn sử dụng được trong vòng 40 năm nữa , dự trữ khí tự nhiên được 60 năm và
Trang 21than đá là khoảng 120 năm Nếu chúng ta vẫn bi ̣ lê ̣ thuô ̣c vào chất đốt hóa thạch thì chúng ta không thể đáp ứng được nhu cầu năng lượng ngày càng cao và sẽ phải đối đầu với sự ca ̣n kiê ̣t nhanh chóng nguồn tài nguyên thiên nhiên này trong thời gian không lâu
Viê ̣c sử du ̣ng các nguồn năng lượng hồi phu ̣c được như năng lượng
mă ̣t trời , đi ̣a nhiê ̣t , gió, thủy lực và sinh khối sẽ không làm tăng thêm CO 2
vào khí quyển và có thể sử dụng được một cách lâu dài cho đến lúc nào
Mă ̣t trời còn chiếu sáng lên Trái đất Tuy nhiên , so với chất đốt hóa tha ̣ch , năng lượng mă ̣t trời rất khó ta ̣o ra đ ược nguồn năng lượng lớn , mà giá cả lại không ổn định Làm thế nào để tạo được nguồn năng lượng ổn định từ các nguồn có thể tái tạo còn là vấn đề phải nghiên cứu , và rồi đây khoa học kỹ thuật sẽ có khả năng hạ giá thành về sử dụng năng lượng mặt trời
và các dạng năng lượng sạch khác Chúng ta không thể giải quyết vấn đề năng lượng chỉ bằng cách sử du ̣ng nguồn năng lượng sa ̣ch , mà chúng ta cần phải thay đổi cách mà chúng ta hiê ̣n nay đang sử du ̣ng nguồn năng lượng để duy trì cuô ̣c sống của chúng ta và đồng thời phải tìm các làm
giảm tác động lên môi trường Tiết kiê ̣m năng lượng là hướng giải quyết
mà chúng ta phải theo đuổi mới mong thực hiện được sự phát triển bền vững, trước khi năng lượng mă ̣t trời được sử dụng một cách phổ biến [9]
* Trái đất đang nóng lên :
Nóng lên toàn cầu không phải chỉ có nhiệt độ tăng thêm , nó còn mang theo hàng loa ̣t biến đổi về khí hâ ̣u , mà điều quan tro ̣ng nhất là làm giảm lượng nược mưa ta ̣i nhiều vùng trên thế giới Một số vùng thường đã bi ̣ khô ha ̣n , lượng mưa la ̣i giảm bớt ta ̣o nên ha ̣n hán lớn và sa ma ̣c hóa Theo báo cáo lần thứ tư của IPCC , nhiê ̣t đô ̣ trun g bình toàn cầu đã tăng 0,70
C so với trước kia Do nó ng lên toàn cầu , dù chỉ 0,70
C mà trong những năm qua, thiên tai như bão tố , lũ lụt , hạn hán , nắng nóng bất thường , cháy
Trang 22rừng… đã xảy ra ta ̣i nhiều vùng trên thế giới Theo dự báo thì rồi đây , nếu không có các biê ̣n pháp hữu hiê ̣u để giảm bớt khí thải nhà kính , nhiệt đô ̣
mă ̣t đất sẽ tăng thêm từ 180C đến 6,40
C vào năm 2100, lượng mưa sẽ tăng lên 5-10%, băng ở hai cực và các núi cao sẽ tan nhiều hơn, nhanh hơn , nhiê ̣t đô ̣ nước biển ấm lên , bị giãn nở mà mức nước biển sẽ dâng lên
khoảng 70-100cm hay hơn nữa và tất nhiên sẽ có nhiều biến đổi bất
thường về khí hâ ̣u , thiên tai sẽ diễn ra khó lường trước đượ c cả về tần số
và mức độ [1]
Sự tăng dân số mô ̣t cách quá nhanh chóng của loài người cùng với sự phát triển trình độ kỹ thuật là nguyên nhân hàng đầu gây ra sự suy thoái
thiên nhiên Tuy rằng dân số loà i người đã tăng lên với mức đô ̣ khá cao ta ̣i nhiều vùng ở châu Á trong nhiều thế kỷ qua nhưng ngày nay , sự tăng dân số trên thế giới đã ta ̣o nên mô ̣t hiê ̣n tượng đă ̣c biê ̣t của thời đa ̣i của chúng
ta, được biết đến là như là sự bùng nổ dân số trong thế kỷ XX Hiê ̣n tượng này có lẽ còn đáng chú ý hơn cả phát minh về năng lượng nguyên tử hay phát minh về điều khiển học Tình trạng quá đông dân số loài người trên trái đất đã đạt trung bình khoảng 33 người trên km 2
trên đất liền (kể cả sa mạc và các vùng cực ) Với dân số như vâ ̣y , loài người đang ngày càng gây sức ép ma ̣nh lên vùng đấy có khả năng nông nghiê ̣p để sản xuất lương
thực và cả lên những hệ sinh thái tự nhi ên khác [2]
Vấn đề gìn giữ tầng Ôzôn có vai trò sống còn đối với nhân loại Tầng Ôzôn có vai trò bảo vệ, chặn đứng các tia cực tím có ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống của con người và các loài sinh vật trên Trái Đất Bức xạ tia cực tím có nhiều tác động, hầu hết mang tính chất phá huỷ đối với con người, động vật và thực vật cũng như các loại vật liệu khác, khi tầng Ôzôn
Trang 23tiếp tục bị suy thoái, các tác động này càng trở nên tồi tệ Ví dụ, mức cạn kiệt tầng Ôzôn là 10% thì mức bức xạ tia cực tím ở các bước sóng gây phá huỷ tăng 20% Bức xạ tia cực tím có thể gây huỷ hoại mắt, làm đục thuỷ tinh thể và phá hoại võng mạc, gây ung thư da, làm tăng các bệnh về đường hô hấp Đồng thời, bức xạ tia cực tím tăng lên được coi là nguyên nhân làm suy yếu các hệ miễn dịch của con người và động vật, đe doạ tới đời sống của động và thực vật nổi trong môi trường nước sống nhờ quá trình chuyển hoá năng lượng qua quang hợp để tạo ra thức ăn trong môi trường thuỷ sinh
Ôzôn là loại khí hiếm trong không khí nằm trong tầng bình lưu khí quyển gần bề mặt Trái Đất và tập trung thành một lớp dày ở độ cao từ 16 -
40 km phụ thuộc vào vĩ độ Việc giao thông đường bộ do các phương tiện
có động cơ thải ra khoảng 30 - 50% lượng NOx ở các nước phát triển và nhiều chất hữu cơ bay hơi (VOC) tạo ra Ôzôn mặt đất Nếu không khí có nồng độ Ôzôn lớn hơn nồng độ tự nhiên thì môi trường bị ô nhiễm và gây tác hại đối với sức khoẻ con người [11]
* Ô nhiễm môi trường đang xảy ra ở quy mô rộng
Sự phát triển đô thị, khu công nghiệp, du lịch và việc đổ bỏ các loại chất thải vào đất, biển, các thuỷ vực đã gây ô nhiễm môi trường ở quy mô ngày càng rộng, đặc biệt là các khu đô thị Nhiều vấn đề môi trường tác động tương tác với nhau ở các khu vực nhỏ, mật độ dân số cao Ô nhiễm không khí, rác thải, chất thải nguy hại, ô nhiễm tiếng ồn và nước đang biến những khu vực này thành các điểm nóng về môi trường Khoảng 30 - 60% dân số đô thị ở các nước có thu nhập thấp vẫn còn thiếu nhà ở và các điều kiện vệ sinh Sự tăng nhanh dân số thế giới có phần đóng góp do sự phát triển đô thị Bước sang thế kỷ XX, dân số thế giới chủ yếu sống ở nông thôn, số người sống tại các đô thị chiếm 1/7 dân số Thế giới Nhưng đến
Trang 24cuối thế kỷ XX, dân số sống ở đô thị đã tăng lên nhiều và chiếm tới 1/2 dân số thế giới Ở nhiều quốc gia đang phát triển, đô thị phát triển nhanh hơn mức tăng dân số Châu Phi là vùng có mức độ đô thị hoá kém nhất, nay đã có mức đô thị hoá tăng hơn 4%/năm so với mức tăng dân số là 3%,
số đô thị lớn ngày càng tăng hơn Đầu thế kỷ XX chỉ có 11 đô thị loại 1 triệu dân và phần lớn tập trung ở Châu Âu và Bắc Mỹ, nhưng đến cuối thế
kỷ đã có khoảng 24 siêu đô thị với số dân trên 24 triệu người [9]
2.2.2 Mô ̣t số vấn đề về môi trường của Viê ̣t Nam [9]
Qua quá trình phát triển , đô ̣ che phủ của rừng ở Viê ̣t Nam đã giảm sút đến mức báo động Chất lượng của rừng ở các vùng còn rừng đã bi ̣ ha ̣ thấp quá mức Trước đây , toàn bộ đất nước Việt Nam có rừng che phủ , nhưng chỉ mới mấy thập kỷ qua , rừng bi ̣ suy thoái nă ̣ng nề Diê ̣n tích rừng toàn quốc đã giảm xuống từ năm 1943 chiếm khoảng 43% diê ̣n tích tự nhiên , thì đến năm 1990, chỉ còn 28,4% Tình trạng suy thoái rừng ở nước ta là
do nhiều nguyên nhân khác nhau , trong đó có sự tàn phá của chiến tranh , nhất là chiến tranh hóa ho ̣c của Mỹ Trong mấy năm qua , diê ̣n tích rừng có chiều hướng tăng lên , 28.8% năm 1998 và đến năm 2000, đô ̣ che phủ rừng
là 33,2% năm 2002 đã đa ̣t 35,8% và đến cuối năm 2004 đễ lên đến 36,7% Đây là mô ̣t kết quả hết sức khả quan Chúng ta vui mừng là độ che phủ rừng nước ta đã tăng lên khá nhanh trong những năm gần đây , tuy nhiên chất lượng rừng la ̣ i giảm sút đáng lo nga ̣i Các số liệu chính thức gần đây đã xác đi ̣nh đô ̣ che phủ rừng của Viê ̣t Nam , bao gồm cả rừng tự nhiên và rừng trồng là 12,3 triê ̣u ha , chiếm hơn 37% tổng diê ̣n tích tự nhiên toàn quốc Khoảng 18% diê ̣n tích này là rừng trồng , chỉ có 7% diê ̣n tích rừng là rừng nguyên sinh và gần 70% diê ̣n tích rừng còn la ̣i được coi là rừng thứ sinh nghèo
Trang 25So sánh trong cả nước thì trong vòng 10 năm qua , Tây Nguyên là vùng
mà rừng bị giảm s út với mức độ đáng lo ngại nhất , nhất là ở Đắk Lắk Tuy trong những năm vừa qua , viê ̣c quản lý rừng đã được tăng cường , nhưng trong 6 tháng đầu năm 2005, cũng đã phát hiện được 275 vụ vi phạm khai thác lâm sản trái phép , 1.525 vụ mua bán và vận chuyên lâm sản trái phép Đầu năm 2008, nhiều vùng phá rừng đã x ảy ra ở nhiều nơi , ngay cả trong các khu bảo tồn thiên nhiên , như vườn Quốc gia Yok Đôn , Đắk Lắk , rừng đầu nguồn Thượng Cửu , Phú Thọ , rừng Khe Diêu , Quế Sơn… Sau mô ̣t tháng ra quân , đoàn kiểm tra liên ngành tỉnh Quảng Nam đã mở nhiều
cuô ̣c tấn côngvào sào huyê ̣t lâm tă ̣c đang lô ̣ng hành trên đi ̣a bàn tỉnh , bướ c đầu phát hiê ̣n và bắt giữ gần 620 vụ vận chuyển trái ph ép, với số lượng gỗ
bị bắt giữ ở mức kỷ lu ̣c : 1.300 m3
Viê ̣t Nam được xem là mô ̣t trong những nước thuô ̣c vùng Đông Nam Á giàu về đa dạng sinh học Do sự khác biê ̣t lớn về khí hâ ̣u , từ vùng gầ n xích
đa ̣o tới giáp vùng câ ̣n nhiê ̣t đới , cùng với sự đa dạng về địa hình đã tạo nên tính đa da ̣ng sinh ho ̣c cao ở Viê ̣t Nam Cho đến nay đã thống kê được 11.373 loài thực vật bậc cao có mạch và hàng nghìn loài thực vật thấ p như rêu, tảo, nấm… Hệ đô ̣ng vâ ̣t Viê ̣t Nam cũng hết sức phong phú Hiện đã thống kê được 310 loài thú , 870 loài chim , 296 loài bò sát , 263 loài ếch nhái, trên 1.000 loài cá nước ngọt , hơn 2.000 loài cá biển và thêm vào đó hàng chục ngàn loài động vật không xương sống ở cạn , ở biển và ở nước ngọt Ngoài ra Việt Nam còn có phần nội thủy và lãn h hải rô ̣ng khoảng 226.000 km2, trong đó có hàng nghìn hòn đảo lớn nhở và nhiều ra ̣n san hô phong phú, là nới sinh sống của hàng ngàn động vật , thực vâ ̣t có giá tri ̣ Tuy nhiên , thay vì phải bảo tồn và sử du ̣ng mô ̣t cách hợp lý nguồn tài
nguyên quý giá này ở nhiều nơi đã và đang khai thác quá mức và phí
phạm, không những thế còn sử dụng các biện pháp hủy diệt như dùng các
Trang 26chất nổ , chất đô ̣c , kích điện để săn bắt Nếu được quản lý tốt và biết sử dụng đúng mức , nguồn tài nguyên sinh ho ̣c của Viê ̣t Nam có thể trở thành tài sản rất c ó giá trị Nhưng rất tiếc , nguồn tài nguyên này đang bi ̣ suy thoái nhanh chóng
Ở Việt Nam , tuy đất nông nghiê ̣p chiếm 28,4% diê ̣n tích đất tự nhiên , song bình quân diê ̣n tích đất canh tác trên đầu người rất thấp , xếp thứ 159 trong tổng số 200 nước trên thế giới và bằng 1/6 bình quân trên thế giới
Tỷ lệ này sẽ hạ thấp hơn nữa trong những năm tới do dân số còn tăng và
đất thuâ ̣n lợi cho sản xuất nông nghiê ̣p la ̣i rất ha ̣n chế , chủ yếu thuộc các vùng đồng bằng Diê ̣n tích đất nông nghiê ̣p ngày càng bi ̣ thu he ̣p do bi ̣ thoái hóa , ô nhiễm và chuyển đổi mu ̣c đích sử du ̣ng , nhất là để xây dựng các khu công nghiệp , đô thị, đường giao thông , sân gôn , làm mất đi hơn 50.000 ha đất nông nghiệp trong khoảng 10 năm qua Theo thống kê chưa đầy đủ, trong mấy năm gần đây , trung bình hàng năm có khoảng 72.000 ha đất nông nghiê ̣p được chuyển đổi mu ̣c đích sử dụng Trong khoảng 3 năm trở la ̣i đây viê ̣c quy hoa ̣ch phát triển các khu công nghiê ̣p diễn ra hết sức ồ
ạt ở các địa phương Tỉnh nào cũng có khu công nghiệp , khiến mô ̣t phần không nhỏ đất nông nghiê ̣p tốt bi ̣ chuyển đổi mu ̣c đ ích sử dụng Theo mô ̣t báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cả nước phải giữ
được ít nhất 3,9 triê ̣u hecta đất trồng lúa , vì thế , Chính phủ phải sớm có quy hoa ̣ch tổng thể về đất nông nghiê ̣p của cả nước để các địa phương tuân theo
* Thoái hóa đất
Theo thống kê mới năm 2010, Viê ̣t Nam có 28.328.939 ha đất đã được sử du ̣ng , chiếm 85,70% diê ̣n tích đất tự nhiên , trong đó đất nông - lâm nghiê ̣p có 24.997.153 ha chiếm 75,48%, đất phi nông n ghiê ̣p khoảng
Trang 273.385.786 ha chiếm 10,22% Đất chưa sử dụng là 4.732.786 ha chiếm 13,30% Đất nông nghiệp tăng trong khi diện tích đất trồng lúa
giảm(45,977 ha) Nhìn chung , đất sản xuất nông nghiê ̣p có nhiều ha ̣n chế , với 50% diê ̣n tích là đất có vấn đề như đất phèn , đất cát , đất xám ba ̣c màu , đất xói mòn manh trơ sỏi đá , đất ngâ ̣p mă ̣n , đất lầy úng , và có diện tích khá lớn là đất có tầng mặt mỏng ở vùng đồi núi (Võ Quý, 2011) [9]
Trong thời kỳ đổi mới , cùng với những thành tựu về phát triển kinh tế ,
xã hội , những biến đô ̣ng về tài nguyên đất ngày càng trở nên rõ rê ̣t Về môi trường đất lượng phân bón dùng trên mô ̣t hecta gieo trồng còn thấp
hơn so với mức trung bình thế giới (80kg/ha so với 87kg/ha), và mới chỉ bù đắp được khoảng 30% lượng dinh dưỡng do cây trồng lấy đi Mă ̣t khác do sự cân bằng trong sử du ̣ng phân hóa ho ̣c đang là thực tra ̣ng phổ biến Tình hình đó là nguyên nhân của viê ̣c giảm đô ̣ phì nhiêu của đất và hiê ̣n tượng thiếu kali hoă ̣c lưu huỳnh ở mô ̣t số nơi , ảnh hưởng tới năng suất cây trồng Về hóa chất bảo vê ̣ thực vâ ̣t , trong danh mu ̣c 109 loại đang được sử dụng tại đồng bằng sông Hồng , có những loa ̣i đã bi ̣ cấm sử du ̣ng Trong các vùng thâm canh , tần suất sử du ̣ng thuốc khá cao , nhất là đối với rau quả , cho nên dư lượng trong đất khá cao , kể cả trong sản phẩm
Nhìn chung tài nguyên nước ng ọt Viê ̣t Nam tương đối cao , tuy nhiên với tiến trình gia tăng dân số , thâm canh nông nghiệp , đẩy ma ̣nh công nghiê ̣p hóa , hiê ̣n đa ̣i hóa , đô thi ̣ hóa , tài nguyên và môi trường nước Việt Nam đang thay đổi hết sứ c nhanh chóng , đối mă ̣t với nguy cơ ca ̣n kiê ̣t về số lượng , ô nhiễm về chất lượng , tác động tiêu cực tới cuộc sống của nhân dân và sự lành ma ̣nh về sinh thái của cả nước
Viê ̣c phá rừng mà hâ ̣u quả là hi ện tượng bồi lắng ở mức đô ̣ cao do x ói mòn đất đã làm giảm hiệu năng của những dòng kênh và tuổi thọ của các
Trang 28hồ chứa Năm 1991, hai công trình thủy điê ̣n quan tro ̣ng ở miền trung là
Đa Nhim và Tri ̣ An đã không vâ ̣n hành được bình thường vào mùa khô vì thiếu nước nghiêm tro ̣ng Nhiều vùng bi ̣ thiếu nước trầm tro ̣ng , nhất là Đồng Văn , Lai Châu , Hà Tĩnh và Quảng Trị Giữa tháng 3/2011, nhiều vùng bị hạn nặng , như các tỉnh Tây Nguyên nhất là Gia Lai , Kon Tum, cà phê không đủ nước đã bi ̣ chết hay cháy hoa , nhân dân nhiều vù ng không
có đủ nước cho sinh hoạt (Võ Quý, 2011) [9]
Tình trạng ô nhiễm nước do nước thải sinh hoạt và nước thải công
nghiê ̣p đã trở thành vấn đề quan trọng tại nhiều thành phố , thị xã , đă ̣c biê ̣t
là tại các thành phố lớn như TP Hồ Chí Minh , Hải Phòng , Hà Nội và tại các khu công nghiệp Ô nhiễm nước do hoa ̣t đô ̣ng nông nghiê ̣p cũng là vấn
đề nghiêm trọng tại nhiều miền th ôn quê , đă ̣c biê ̣t ta ̣i châu thổ sông Hồng
và sông Cửu Long Hiê ̣n tượng nhiễm mă ̣n hay chua hóa do quá trình tự nhiên và do hoa ̣t đô ̣ng của con người đang là vấn đề nghiêm tro ̣ng ở vùng châu thổ sông Cửu Long Ở một số vùng ven biể n, nguồn nước ngầm đã bi ̣ nhiễm bẩn do thấm mă ̣n hoă ̣c thấm chua phèn trong quá trình thăm dò
hoă ̣c khai thác nhiễm bẩn vi sinh vâ ̣t và kim loa ̣i nă ̣ng đã xẩy ra ở mô ̣t số nơi, chủ yếu do nhiễm bẩn từ trên mặt đất , như các hố chôn lấp rác
Tỷ lệ dân số sử dụng nước sạch hiện nay là khoảng 50%, trong đó đô thị chiếm 70% và nông thôn chỉ 30% Từ nay cho đến năm 2040, tổng nhu cầu nước ở Viê ̣t Nam có thể chưa vượt quá 50% tổng nguồn nước , song vì
có sự khác biê ̣t lớn về nguồn nước ta ̣i các vùng khác nhau , vào các mùa khác nhau và do nạn ô nhiễm gia tăng , nếu không có chính sách đúng đắn thì nhiều nơi sẽ bị thiếu nước trầm trọng [9]
* Nạn ô nhiễm ngày càng khó giả i quyết [9]
Đô thi ̣ hóa và công nghiê ̣p hóa ở nước ta phát triển khá nhanh trong
hơn 10 năm qua , gây áp lực lớn đối với khai thác đất đa ̣i , tài nguyên thiên
Trang 29nhiên, nhất là rừng và nước Nhiều diê ̣n tích nông nghiê ̣p đã chuyển thà nh đất đô thi ̣ , đất công nghiê ̣p , đất giao thông… ảnh hưởng không nhở đến đời sống người nông dân và an toàn lương thực quốc gia Đô thi ̣ hóa , công nghiê ̣p hóa trong khi ha ̣ tầng cơ sở kỹ thuâ ̣t và xã hô ̣i yếu kém , làm nẩy sinh nhiều vấn đề môi trường bức bách như thiếu nước sạch , thiếu di ̣ch vu ̣
xã hội , thiếu nhà ở , úng ngập , tắc nghẽn giao thông , ô nhiễm không khí , tiếng ồn , ô nhiễm nước và chất thải rắn Tỷ lệ số người bị các bệnh do ô nhiễm m ôi trường ngày càng tăng , như các bê ̣nh đường hô hấp , đường tiêu hóa, các bệnh dị ứng và ung thư …
Môi trường nông thôn bi ̣ ô nhiễm do các điều kiê ̣n vê ̣ sinh và cơ sở ha ̣ tầng yếu kém Viê ̣c sử du ̣ng không hợp lý các loa ̣i hóa c hất nông nghiê ̣p cũng đã và đang làm cho môi trường nông thôn bị ô nhiễm và suy thoái Viê ̣c phát triển tiểu thủ côngnghiê ̣p , các làng nghề cà cơ sở chế biến ở một số vùng do công nghê ̣ sản xuất la ̣c hâ ̣u , quy mô sản xuất nhỏ , phân tán xen
kẽ trong khu dân cư và hầu như không có thiết bị thu gom và xử lý chất
thải đã gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Hiện nay , Viê ̣t Nam có khoảng 1.450 làng nghề truyền thống , trong đó 800 làng tập trung ở vùng đồng bằng sông Hồng , đã và đang làm chất lượng môi trường khu vực ngày càng suy giảm
Nước sinh hoa ̣t và vê ̣ sinh môi trường ở các vùng nông thôn là vấn đề cấp bách Điều kiê ̣n vê ̣ sinh môi trường nông thôn vẫn chưa được cải thiênđáng kểm tỷ lê ̣ số hô ̣ có hố xí hợp vê ̣ sinh chỉ đa ̣t 28-30% và số hộ ở nông thôn được dùng nước hợp vệ sinh là 30-40% [9]
2.3 Như ̃ng nghiên cứu về nhâ ̣n thức người dân về các vấn đề môi
trường ở các đi ̣a phương của Viê ̣t Nam
Trang 30Kết quả điều tra của nhóm Nâng cao nhận thức cộng đồng tại 3 tỉnh Hà Giang, Nghệ An, Bà Rịa - Vũng Tàu [4] cho thấy, nhìn chung cán bộ công chức của 3 tỉnh đều có hiểu biết chính sách pháp luật đất đai và môi trường Sự hiểu biết của họ chủ yếu là do bản thân chủ động nghiên cứu và nghe trên phương tiện truyền thông đại chúng Song sự tiếp cân cũng như hiểu về Luật Đất đai và Bảo vệ môi trường ở những mức độ khác nhau
Đa số cán bộ trong cơ quan Nhà nước hiểu biết về chính sách pháp luật đất đai nhiều hơn và sâu hơn, còn Luật Bảo vệ môi trường thì các cán bộ viên chức chỉ hiểu biết ở tầm khái quát chung Song khi đi vào chi tiết nhiều người còn chưa nắm bắt được Ví dụ như việc phỏng vấn câu hỏi trách nhiệm lập báo cáo đánh giá tác động môi trường là trách nhiệm thuộc
về ai? Tại Hà Giang có tới 80% trả lời là trách nhiệm thuộc cơ quan nhà nước, Nghệ An có 54,9% và Bà Rịa -Vũng Tàu có 53,19% có cùng câu trả lời Trong khi đó nhiệm vụ này là của chủ dự án! Nhận thức về chính sách, pháp luật đất đai và môi trường của cộng đồng dân cư đô thị của 3 tỉnh có cao hơn cộng đồng dân cư nông thôn nhưng cũng chỉ “mạnh” về đất đai, còn mảng môi trường nhiều người hoặc chưa biết, hoặc trả lời sai ở một số câu hỏi Ví như, việc khắc phục ô nhiễm theo nhiều người thì trách nhiệm thuộc về cơ quan quản lý nhà nước, song trên thực tế trách nhiệm này thuộc về người gây ô nhiễm Tuy nhiên, ô nhiễm môi trường hiện vẫn là vấn đề được nhiều người quan tâm bởi có tới 96,15% dân cư tại Hà Giang; 81,82% dân cư tại Nghệ An; 97,98% tại Bà Rịa-Vũng Tàu Từ đó ta thấy cần thiết phải tham khảo ý kiến người dân trong đánh giá tác động môi trường và việc tham khảo này nên tổ chức họp dân là phù hợp nhất [4]
2.3.2 Nhận thức của người dân tại TPHCM về tác hại của biến đổi khí hậu [5]
Trang 31Nhóm nghiên cứu đã thực hiện khảo sát, điều tra xã hội học 400 doanh nghiệp (DN) trong và ngoài KCN; 501 người dân (201 mẫu với CBCNVC,
300 mẫu ở người dân trong đó có 175 phụ nữ); 300 học sinh (tiểu học, THCS, THPT) Theo đó, một số kết quả đáng chú ý là có đến 28,9% (trong
201 mẫu khảo sát) CBCNVC cho biết đã có nghe về BĐKH nhưng chưa hiểu gì về việc này và 3,5% không quan tâm đến BĐKH vì còn nhiều việc trước mắt trong đời sống phải lo, BĐKH là việc của cơ quan Nhà nước, BĐKH còn lâu lắm mới xảy ra…
Trả lời câu hỏi về những hành động sẽ làm nhằm giảm thiểu tác động của BĐKH có 86,2% cán bộ công nhân viên chức bi ết việc tiết kiệm điện, nước là có lợi (giảm chi phí, có lợi cho môi trường, duy trì sự phát triển bền vững…) 93,3% ý kiến tán đồng việc khuyến khích sử dụng các nguồn năng lượng sạch (điện mặt trời, biogas, biomas…); 70% ý kiến cho biết thường chọn mặc quần áo thoáng mát, tận dụng tối đa gió ngoài trời, chỉ
sử dụng máylạnh khi thật sự cần thiết (có thói quen chỉnh máy lạnh trên
260C), có chậu cây xanh trang trí trong phòng làm việc…
Lê Văn Khoa cho biết, nhìn chung các đối tượng người dân đều có sự quan tâm, hiểu biết căn bản về BĐKH Tuy nhiên, việc hiểu đúng và có hành động phù hợp để ứng phó với BĐKH vẫn còn hạn chế [5]
2.3.3 Nhâ ̣n thức của người dân về viê ̣c phân loại , thu gom, xư ̉ lý rác thải
Nhóm tác giả khoa Xã H ội Học Trường Đại học Bình Dương [7] thìmọi người dân đều có hiểu biết về tầm quan trọng của môi trường trong cuộc sống của mình và đồng ý với việc bảo vệ môi trường bằng cách không vứt rác thải bừa bãi và có những thái độ, hành vi nhất định để ngăn chặn hay hạn chế hành vi gây mất vệ sinh môi trường của người khác Xu hướng chung là đều cảm thấy khó chịu, có nhắc nhở hoặc tự lại nhặt và cho vào thùng rác
Trang 32Người dân càng có trình độ học vấn cao thì mức độ quan tâm, hiểu biết
về vấn đề môi trường càng nhiều
Trang 33Bảng 2.1: Số hộ dân phân loại rác thải sinh hoạt hàng ngày trước khi
(Nguồn: Kết quả khảo sát của nhóm tác giả) [7]
Một thực trạng chung là có rất nhiều hộ gia đình biết cách phân loại rác nhưng trong thực tế lại rất ít hộ gia đình thực hiện phân loại, chỉ một
số hộ dân trong phường thường phân loại rác thải sinh hoạt hàng ngày còn
đa số hộ dân thì chưa phân loại Đa số việc phân loại rác sinh hoạt hàng ngày của gia đình là do người vợ đảm nhận nhưng bên cạnh đó sự tham gia của người chồng, con hoặc người khác trong gia đình tham gia phân loại cũng chiếm tỷ lệ không nhỏ
Việc phân loại rác sinh hoạt của người dân tại địa bàn phường chưa đồng bộ, vẫn còn mang tính tự phát và không triệt để
Ý thức tự giác trong việc bảo vệ môi trường thông qua việc phân loại rác của nhiều người dân chưa cao.Nhiều hộ gia đình chưa thực sự quan tâm đến vấn đề phân loại rác thải sinh hoạt của gia đình mình Điều này sẽ gây nhiều khó khăn cho bộ phận thu gom khi phải thu gom với một lượng rác thải lớn như khó tách ra và khó sử dụng rác có thể tái chế
Quá trình xử lý rác thải sinh hoạt của người dân và chính quyền địa phương bao gồm các giai đoạn: Phân loại, thu gom và xử lý
Trang 34Bảng 2.2: Đánh giá tầm quan trọng của việc phân loại rác thải sinh
hoạt chia theo giới tính (N= 49) Đánh giá việc
(Nguồn: Kết quả khảo sát của nhóm tác giả) [7]
Người dân có ý thức coi việc xử lý rác là rất quan trọng mặc dù vậy họ chưa thực sự chú ý đến việc xử lý rác của địa phương, mà họ chỉ quan tâm đến việc làm cho gia đình mình hết rác còn rác sau khi đem đi bỏ được xử
lý như thế nào thì ít được quan tâm đến
Bảng 2.3: Ý kiến người dân về tầm quan trọng của việc xử lý rác thải sinh hoạt ( N = 49)
Trang 352.3.4 Nhâ ̣n thức của ngườ i dân về vê ̣ sinh môi trường
Theo kết quả của Hoàng Thái Sơn (Hoàng Thá i Sơn ) [10]:
Trong số 400 người được phỏng vấn thì có 76,6% người dân kể tên được mô ̣t nguồn nước sa ̣ch 33,2% số người kể được từ hai bê ̣nh trở lên có nguyên nhân do sử du ̣ng nguồn nước không sa ̣ch gây ra Người dân có thái
đô ̣ tích cực đối với việc sử dụng nước sạch , có 98% số người được hỏi cho rằng cần có nguồn nước vê ̣ sinh Số hô ̣ không có nguồn nước sa ̣ch thấp (17,6%), số hộ không thực hiê ̣n các viê ̣c làm thiết thực để bảo vê ̣ nguồn nước rấ t cao (54,3%)
Bảng 2.4: Kiến thức , thái độ thực hành của người dân
về nguồn nước sa ̣ch KAP về
(Nguồn: Kết quả khảo sát của nhóm tác giả)
Qua bảng trên ta thấy kiến thức , thái độ , thực hành của người dân về nguồn nước còn rất thấp , tỷ lệ số người có kiến thức tốt mới đạt 11,3%, thái độ tốt chiếm tỷ lệ khá hơn 38,3% và thực hà nh tốt mới chỉ chiếm 21,7% [10]
Trang 36Bảng 2.5: Kiến thức , thái độ, thực hành của người dân về vê ̣
sinh môi trường KAP về vê ̣ sinh
(Nguồn: Kết quả khảo sát của nhóm tác giả)
Kiến thức tổng hợp chung về vê ̣ sinh môi trường của người dân còn rất thấp, mới đa ̣t 3,4% Kết quả về thái đô ̣ tốt và thực hành tốt về vê ̣ sinh môi trường cũng còn rất thấp
Mô ̣t số yếu tố liên quan đến thực hành về vê ̣ sinh môi trường của người dân là : Kinh tế hô ̣ gia đình , trình độ học vấn , kiến thức , thái độ của người dân và sự quan tâ m của xã hô ̣i đối với vấn đề vê ̣ s inh môi trường [10]
Trang 37Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Sự hiểu biết của người dân về môi trường
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Xã Hưng Thịnh, huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao bằng
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
3.2.1 Địa điểm: Xã Hưng Thịnh, huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng
3.2.2 Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 8/2014 đến tháng 12/2014
3.3 Nội dung nghiên cứu
3.3.1 Tình hình cơ bản của xã Hưng Thịnh
- Điều kiện tự nhiên của xã Hưng Thịnh, huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng
- Điều kiện kinh tế, xã hội của xã Hưng Thịnh, huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng
3.3.2 Hiện trạng môi trường tại xã Hưng Thịnh
- Hiện trạng sử dụng nước sinh hoạt
- Tình hình xả nước thải trong xã
- Vấn đề về rác thải trong xã
- Tình hình sử dụng nhà vệ sinh trong xã
3.3.3 Tìm hiểu sự hiểu biết của người dân về môi trường
- Nhận thức của người dân về môi trường xung quanh
- Nhận thức của người dân về Luật Môi trường của Việt Nam và các văn bản liên quan
- Nhận thức của người dân về công phân loại, thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt
- Ý thức của người dân về bảo vệ môi trường
Trang 383.3.4 Đánh giá chung và đề xuất các giải pháp
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu thứ cấp
Việc thu thập và phân tích tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu là rất quan trọng nhằm nhận biết vấn đề một cách nhanh chóng và tổng quát Những tài liệu này là cơ sở ban đầu định hướng cho kế hoạch và triển khai các mục tiêu nghiên cứu
Thông tin thứ cấp có thể được thu thập từ:
Mạng internet, sách, báo về vấn đề môi trường
Tài liệu từ các phòng thuộc UBND huyện Bảo Lạc
3.4.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
Sử dụng phương pháp điều tra phỏng vấn theo bộ câu hỏi
Trang 39Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 Đặc điểm cơ bản xã Hƣng Thịnh
4.1.1 Vị trí địa lý
Xã Hưng Thịnh có tổng diện tích tự nhiên là 4.629,62 ha, nằm cách trung tâm huyện Bảo Lạc 24 km về phía nam Có vị trí giáp ranh như sau:
+ Phía Bắc giáp xã Kim Cúc
+ Phía Nam giáp xã Sơn Lộ và xã Thái Sơn
+ Phía Đông giáp xã Hưng Đạo
+ Phía Tây giáp xã Vĩnh Phong, huyện Bảo Lâm
- Địa hình núi cao có độ cao từ 900m đến 1.320m so với mực nước biển, dạng địa hình này hiện đang được khoanh nuôi tái sinh rừng
4.1.3 Thổ nhưỡng
Theo kết quả điều tra khảo sát và kết quả tổng hợp được từ Xóm đồ thổ nhưỡng tỉnh Cao Bằng tỷ lệ 1: 100.000 Trên địa bàn xã Hưng Thịnh
có các nhóm đất chính như sau:
- Nhóm đất đỏ vàng trên đá phiến sét và biến chất
- Nhóm đất màu đỏ vàng trên đá phiến sét và biến chất
- Nhóm đất vàng nhạt trên đá cát
- Nhóm đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ
Trang 404.1.4 Khí hậu, thuỷ văn
- Khí hậu
Xã Hưng Thịnh nằm trong tiểu vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nên khí hậu của vùng là sự kết hợp khí hậu vùng nhiệt đới gió mùa với tính chất khí hậu vùng cao cận nhiệt đới Hàng năm có hai mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến hết tháng 10, tập trung 90% lượng mưa cả năm, khí hậu ẩm và dịu mát; mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa không đáng kể, khí hậu mát và lạnh, độ
ẩm thấp Mùa khô thường xuất hiện sương muối vào tháng 12 đến tháng 1 năm sau Nhiệt độ trung bình mùa mưa là260
c và mùa khô là 18,80c
- Thủy văn
Xã Hưng Thịnh có con sông Neo chảy qua với lưu lượng nước tương đối lớn vào mùa mưa, ngoài ra còn nhiều con suối, khe suối nhỏ như suối Cuốn, suối Chàng đều chảy về sông Neo và các suối lớn, do địa hình bị chia cắt mạnh bởi các dãy núi cao với độ dốc chênh lệch đã tạo ra các khe suối nhỏ và ngắn, mùa khô thì cạn kiệt, mùa mưa lưu lượng dòng chảy lớn,
đổ vào con sông Neo đã tạo ra cho lưu lượng nước giữa hai mùa chênh lệch lớn, vì vậy thường xảy ra những cơn lũ cục bộ làm ảnh hưởng nhiều đến sản xuất và đời sống của nhân dân trong xã
4.1.5 Tài nguyên rừng, thảm thực vật và động vật
Diện tích đất lâm nghiệp hiện có 4.071 ha, tuy nhiên diện tích rừng phần lớn đã bị khai thác cạn kiệt, hiện nay rừng của xã đang trong giai đoạn tái sinh nên độ che phủ thấp, trữ lượng không cao, phân bố không đều trên toàn xã, rừng tự nhiên tập trung chủ yếu ở những nơi hiểm trở, diện tích rừng của xã được chia thành 2 dạng:
Thảm thực vật tự nhiên:
Rừng tự nhiên phòng hộ chủ yếu thuộc kiểu rừng kín thường xanh, mưa ẩm nhiệt đới, phát triển chủ yếu trên địa hình núi cao, các khe suối và