Văn hóa là toàn bộ giá trị vật chất và tinh thần mà loài người sáng tạo ra nhằm đáp ứng nhu cầu sinh tồn và phát triển của mình trong quá trình lịch sử. Văn hóa là cội nguồn trực tiếp của phát triển xã hội, có vị trí trung tâm và đóng vai trò điều tiết xã hội. Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, thể hiện tầm cao và chiều sâu về trình độ phát triển của nhân loại nói chung và của từng quốc gia, dân tộc nói riêng; là sự kết tinh những giá trị tốt đẹp nhất trong quan hệ giữa con người với con người, con người với xã hội và tự nhiên. Đó là trình độ nhân bản đích thực của con người, được đo bằng giá trị phổ quát: chân, thiện, mỹ.
Trang 1DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 2MỤC LỤC
Trang
Chương 1 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG
BỘ TỈNH HÀ NAM XÂY DỰNG NỀN VĂN HOÁ TIÊN TIẾN, ĐẬM ĐÀ BẢN SẮC DÂN TỘC TỪ
1.1 Yêu cầu khách quan Đảng bộ tỉnh Hà Nam lãnh đạo xây
dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc 121.2 Chủ trương xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản
sắc dân tộc của Đảng bộ tỉnh Hà Nam 341.3 Sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Hà Nam về xây dựng văn
hóa tiên tiến đậm đà bẳn sắc dân tộc 43
2.1 Nhận xét quá trình Đảng bộ tỉnh Hà Nam lãnh đạo xây dựng
nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc (1997-2010) 54
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Văn hóa là toàn bộ giá trị vật chất và tinh thần mà loài người sáng tạo ranhằm đáp ứng nhu cầu sinh tồn và phát triển của mình trong quá trình lịch sử.Văn hóa là cội nguồn trực tiếp của phát triển xã hội, có vị trí trung tâm vàđóng vai trò điều tiết xã hội Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, thểhiện tầm cao và chiều sâu về trình độ phát triển của nhân loại nói chung vàcủa từng quốc gia, dân tộc nói riêng; là sự kết tinh những giá trị tốt đẹp nhấttrong quan hệ giữa con người với con người, con người với xã hội và tựnhiên Đó là trình độ nhân bản đích thực của con người, được đo bằng giá trịphổ quát: chân, thiện, mỹ
Quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhândân Việt Nam đã xây nên một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đàbản sắc đân tộc, trong đó chủ nghĩa yêu nước và ý chí độc lập dân tộc lànền tảng cốt lõi, được vun đắp suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữnước Sức mạnh bản sắc văn hóa đã góp phần to lớn để dân tộc ViệtNam chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược, giành độc lập dân tộc mà không
bị đồng hóa
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, cục diện thế giới diễn biến nhanh chóng,quan hệ quốc tế có sự điều chỉnh sâu sắc, hội nhập giữa các quốc gia, dân tộcngày càng sâu rộng Vị trí, vai trò của văn hóa đối với phát triển kinh tế- xãhội càng nổi bật; ảnh hưởng của văn hóa ngày càng rộng rãi và sâu sắc Pháthuy bản sắc văn hóa dân tộc đã trở thành chủ đề nóng hổi được quan tâm rộngrãi trên phạm vi toàn thế giới, các nước đều đề ra và thực thi chiến lược pháttriển văn hóa, phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc Tuy nhiên, quá trình đócũng sẽ là hệ lụy mà dân tộc này có thể bị hòa tan, hay trở thành cái bóng củadân tộc khác, tức là đánh mất bản thân mình và đánh mất sức mạnh vốn cócủa chính dân tộc mình
Trang 4Văn hoá Việt Nam là thành quả hàng nghìn năm lao động sáng tạo, đấutranh kiên cường trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước cả cộng đồng, dântộc qua nhiều thế hệ Văn hoá Việt Nam đã hun đúc nên tâm hồn, khí phách,bản lĩnh Việt Nam, làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc.
Từ khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn quan tâm xây dựng nềnvăn hoá đặc sắc, trong đó độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là nềntảng cốt lõi của nền văn hoá Việt Nam
Ngày nay, trong giai đoạn cách mạng mới đẩy mạnh công nghiệp hoá,hiện đại hoá mở rộng hợp tác quốc tế, chúng ta đang có nhiều thuận lợi chophát triển đất nước và dân tộc, song cũng đang phải đối đầu với nhiều nguy cơthách thức, mà một trong những nguy cơ đó là sự mai một giá trị truyền thống
và bản sắc văn hoá dân tộc Vì vậy, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dântộc là vấn đề chiến lược cơ bản lâu dài có tính cấp thiết và quyết định sự tồnvong của dân tộc
Cùng với sự hình thành và phát triển của dân tộc, Hà Nam là một tỉnh cótruyền thống văn hoá lâu đời, yêu nước và cách mạng, là vùng đồng bằngchâu thổ sông Hồng và bán sơn địa đã tạo ra bản sắc riêng của người HàNam; đức quả cảm, trí thông minh và hiếu học; cần cù và sáng tạo trong laođộng; giàu nghị lực Hà Nam là quê hương của những nhà văn, nhà thơ nổitiếng như Nguyễn Khuyến, Nam Cao… Với truyền thống lịch sử văn hoá đó,người Hà Nam ngày nay tự hào, tự tin cùng với Nhân dân cả nước vững bước
đi lên con đường đổi mới xây dựng quê hương giàu đẹp, văn minh Từ đó,xây dựng và phát triển nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là nộidung quan trọng mà Nhân dân Hà Nam đã và đang phấn đấu xây dựng
Quán triệt chủ trương của Đảng về xây dựng nền văn hoá tiên tiến đậm
đà bản sắc dân tộc, Đảng bộ tỉnh Hà Nam đã xác định xây dựng và phát triểnvăn hoá là một chủ trương chiến lược trong thời kỳ mới; là nhân tố quantrọng, góp phần tạo nên sự ổn định về tư tưởng, chính trị, xã hội và thúc đẩy
Trang 5kinh tế – xã hội phát triển Mặt khác, xây dựng và phát triển nền văn hoá còngóp phần khắc phục những nhận thức không đúng về vị trí, vai trò của vănhoá trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phát triển đất nước.
Từ những lý do và ý nghĩa trên, tôi chọn đề tài: “Đảng bộ tỉnh Hà Nam lãnh đạo xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc từ năm
1997 đến năm 2010” làm luận văn Thạc sĩ lịch sử, chuyên ngành lịch sử
Đảng Cộng sản Việt Nam
2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Trong những năm qua đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về vănhoá, về vai trò lãnh đạo của Đảng trong sự nghiệp phát triển văn hoá, xã hội ởphạm vi toàn quốc cũng như ở địa phương Trong số những công trình nghiêncứu văn hoá đã công bố, có thể khái quát trình bày các nhóm cơ bản sau:
Nhóm 1: Các công trình nghiên cứu về xây dựng nền văn hóa Việt Nam có:
Nguyễn Đăng Duy, Trịnh Minh Đức (1993), “Bảo tồn di tích lịch sử văn hóa”, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội Bộ Văn hoá Thông tin (1999)
“Phát huy bản sắc văn hoá trong bối cảnh công nghiệp hoá đất nước” của,
Nxb Bộ Văn hoá Thông tin Hoàng Vinh (1997), “Một số vấn đề bảo tồn và
phát triển di sản văn hóa dân tộc, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Trung tâm
khoa học xã hội nhân văn quốc gia ( 2001), “50 năm đề cương văn hoá ViệtNam”, Nxb CTQG; Bộ Văn hoá thông tin (2003 ) “60 năm công tác văn hoá,
thông tin cơ sở”, Nxb CTQG Hoàng Vinh (1996), “Một số lý luận văn hóa Việt Nam thời kỳ đổi mới”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Trần Quốc
Vượng (2003), “Văn hóa Việt Nam tìm tòi và suy ngẫm”, Nxb Văn học, HàNội Trịnh Thị Minh Đức (chủ biên) (2008), “Bảo tồn di tích lịch sử - văn
hóa” (Giáo trình dành cho sinh viên Đại học và Cao đẳng ngành Bảo tàng),
Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Nguyễn Khoa Điềm (2002), “Xây dựng và
phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, Nxb Văn
Trang 6hóa – Thông tin, Hà Nội Trịnh Thị Hòa (2009), “Bảo tồn và phát huy giá trị di tích trong bối cảnh hội nhập và phát triển’, Tạp chí Di sản văn hóa, số 2 Nguyễn Quốc Hùng (2008), “Vai trò của di sản văn hóa trong sự phát triển ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Di sản văn hóa, số 2; Lưu Trần Tiêu (2011), “Mấy vấn đề về hoạt động tu bổ, phục hồi di tích lịch sử - văn hóa”, Tạp chí Di sản văn hóa, số 3; Hoàng Tuấn Anh (2009), “Bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa – cơ hội mới, thách thức mới”, Tạp chí Di sản văn hóa, số 3; Đoàn Bá Cử (2009), “Làm gì để nâng cao chất lượng tu bổ, bảo tồn, tồn tạo di tích lịch sử văn hóa”, Tạp chí Di sản văn hóa, số 3.
Trịnh Đức Thành (2001), “Bảo tồn văn hoá dân tộc trước xu thế hội
nhập quốc tế”, Tạp chí Cộng sản số 21; Nguyễn Công Thái (2004), “Văn hoá trong xây dựng nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa”, Tạp chí Giáo dục lý luận, Số 6; Mai Thị Hạnh (2005), “Sự cần thiết phải xây dựng thiết kế văn hoá”, Tạp chí Cộng sản số 18; Đoàn Bá Cử ( 2011), “Công tác tu bổ di tích – thực tiễn và quản lý nhà nước”, Tạp chí Di sản văn hóa, số 2; Đặng
Văn Bài (2006), “Tu bổ và tôn tạo các di tích lịch sử văn hóa là hoạt động có
tính đặc thù chuyên ngành”, Tạp chí Di sản văn hóa, số 2; Luật di sản văn
hóa Việt Nam và Nghị định ban hành, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội2005; Phan Ngọc (2004), “Bản sắc văn hóa Việt Nam”, Nxb Văn hóa –Thông tin, Hà Nội; Luật Di sản văn hóa năm 2001 được sửa đổi bổ sungnăm 2009, Nxb Lao động, Hà Nội, 2009; Hà Văn Tấn (2005), “Bảo vệ ditích lịch sử văn hóa trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước”, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 4; Lê Thành Vinh (2005),
“Bảo tồn di tích, nhân tố quan trọng của phát triển bền vững”, Tạp chí Di sản văn hóa, số 41; Trần Quốc Vượng (2003), “Văn hóa Việt Nam tìm tòi
và suy ngẫm”, Nxb Văn học, Hà Nội; Trịnh Thị Hòa ( 2009), “Vài suy nghĩ
về vấn đề bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa ở Việt Nam trong gần 6
thế kỷ qua”, Tạp chí Di sản văn hóa, số 2.
Trang 7Các công trình nghiên cứu đã khái quát những vấn đề cơ bản trong quáxây dựng nền văn hóa Việt Nam trong những năm đất nước đổi mới Đây là cơ
sở khoa học cho chúng ta tiếp tục phát phát huy và bảo tồn giá trị văn hóa ViệtNam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Là tư liệu có giá trịtrong quá trình nghiên cứu các đề tài khoa học về văn hóa Việt Nam
Nhóm 2: Các công trình nghiên cứu về xây dựng nền văn hóa các vùng miền, địa phương:
Cao Văn Thanh (chủ biên) (2004), Bảo tồn và phát triển văn hóa truyền thống của người Thái vùng núi Bắc Trung bộ hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Ngô Bá Thịnh (2003), Tìm hiểu Luật tục các tộc người Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội ; Hoàng Văn Tuyến (1997), Kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc Thái ở Tây Bắc hiện nay, Luận văn thạc sĩ
Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; Đề tài đã đi vào khaithác những đặc điểm chung về bản sắc văn hóa; văn hóa các dân tộc thiểu số;văn hóa của dân tộc Thái ở Việt Nam Tuy nhiên, mới chỉ dừng lại ở việc tìmhiểu những giá trị văn hóa, phong tục tập quán của người Thái (nói chung),người Thái ở Tây Bắc (nói riêng) nhằm giới thiệu về người Thái những nétđặc sắc - cái hay, cái đẹp của văn hóa dân tộc Thái Công trình của tác giảcũng đề cập tới vấn đề bảo tồn, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộcThái, nhưng mới chỉ đề cập một cách chung chung mang tính định hướng,chưa đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống dưới góc độ Lịch sử, chưa bànnhiều tới vấn đề kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Thái ở Tây Bắc
Lê Văn Hòa (2003), Vấn đề giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số ở Gia Lai trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, Luận văn
thạc sĩ Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Đề tài đã khẳngđịnh sự cần thiết phải giữ gìn và phát huy nền văn hóa nói chung và giá trịvăn hóa của các dân tộc thiểu số ở Gia Lai nói riêng trong điều kiện kinh tếthị trường, tác giả đã đưa ra được những giải pháp nhằm giữ gìn, phát huy giá
Trang 8trị văn hóa của các dân tộc thiểu số ở Gia lai Tuy nhiên, kết quả nghiên cứumới chỉ tập trung luận giải về lý luận, chưa đi sâu phân tích làm rõ nguyênnhân, thực trạng và vai trò lãnh đạo của Đảng đối với việc giữ gìn, phát huybản sắc văn hóa của các dân tộc thiểu số ở Gia Lai
Văn hóa và sự phát triển kinh tế- xã hội (1994), Chương trình KHCN
cấp Nhà nước KX - 01- 06, Hà Nội Công trình khoa học nghiên cứu về vănhóa và sự phát triển kinh tế- xã hội rất cơ bản và hệ thống, đã tập trung phântích làm sáng tỏ vai trò của văn hóa, mối quan hệ giữa văn hóa với các lĩnhvực của đời sống xã hội Công trình khoa học đã thống kê, cung cấp một hệthống số liệu khách quan, chính xác và đã đề xuất những nhóm giải pháp cơbản nhằm giải quyết mối quan hệ giữa văn hóa và phát triển kinh tế - xã hộitrong những năm tiếp theo Tuy nhiên, phạm vi của công trình khoa học chỉgiới hạn giải quyết mối quan hệ văn hóa và sự phát triển kinh tế - xã hội Vìvậy, chưa nghiên cứu sâu về chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng đối với việcphát huy bản sắc văn hóa dân tộc Đây là nguồn tài liệu tham khảo để bổsung, kiểm chứng và đối chiếu những tài liệu mà tác giả sử dụng trong luận
văn “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong công cuộc đổi mới 1986 – 2001” của Mai Văn Khoảng, 2002; “Đảng bộ tỉnh Nam Định xây dựng nền văn hoá tiên tiến đậm
đà bản sắc dân tộc từ năm 1997 – 2006” của Nguyễn Khánh Điệp 2007
Đây là những công trình nghiên cứu văn hóa trong một số vùng miền vàđịa phương trong cả nước, đã toát nên tính đa dạng, phong phú và thống nhấtcủa văn hóa Việt Nam, là cơ sở cho việc nghiên cứu khoa học trong xây dựng
và phát huy bản sắc văn hóa từng vùng miền, cũng như của từng địa phương
Nhóm : Các công trình nghiên cứu về xây dựng nền văn hóa của tỉnh
Hà Nam:
Đoàn Bá Cử, “Nhận diện tính đặc thù trong tu bổ di tích”, Tạp chí Di sản
văn hóa, số 01-2002; Từ Mạnh Lương, “Cần thiết phải có chính sách đãi ngộ người
Trang 9trực tiếp quản lý di tích lịch sử - văn hóa”, Tạp chí Di sản văn hóa, số 01-2002;
Nguyễn Quốc Hùng, “Một số suy nghĩ về tình hình thực hiện các dự án bảo tồn, tu
bổ di tích ở nước ta trong thời gian qua”, Tạp chí Di sản văn hóa, số 01-2002; Đặng Văn Bài, “Một số ý kiến về mục tiêu chống xuống cấp, tôn tạo di tích”, Tạp chí Di sản văn hóa, số 01-2002; Trương Quốc Bình, “Những vấn đề cơ bản về Luật
Di sản văn hóa”, Tạp chí Di sản văn hóa, số 01-2002; Ngô Xuân Các (Chủ biên),
(2005) “Văn hoá Hà Nam trong thời kỳ đổi mới”; Đàm Thị Mai (chủ biên),
"Những giá trị văn hoá tinh hoa đặc sắc Hà Nam”, Nxb Hội nhà văn, HN 2001;
“Lê Đức Đông (chủ biên) (1999), “Xây dựng thiết kế làng văn hoá của tỉnh
Làm sáng tỏ quá trình Đảng bộ tỉnh Hà Nam lãnh đạo xây dựng nền văn hoá
tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; từ đó rút ra những kinh nghiệm lịch sử có giá trịtham khảo xây dựng nền văn hoá tỉnh Hà Nam trong thời kỳ mới, góp phần xâydựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ yêu cầu khách quan xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến,đậm đà bản sắc dân tộc tỉnh Hà Nam
- Phân tích, luận giải làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh
Hà Nam về xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
từ năm 1997 đến năm 2010 trên địa bàn tỉnh
Trang 10- Đánh giá thành tựu, hạn chế, nguyên nhân và rút ra những kinh nghiệmlịch sử để vận dụng vào xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bảnsắc dân tộc trong những năm tiếp theo của Đảng bộ tỉnh Hà Nam.
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
* Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu hoạt động lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hà Nam về xây dựngnền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
* Phạm vi nghiên cứu
+ Nội dung: Nghiên cứu chủ trương và chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Hà Nam
về xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
+ Thời gian: Từ năm 1997 đến năm 2010
+ Không gian: Địa bàn tỉnh Hà Nam
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
* Phương pháp luận
Vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủnghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối văn hoá của ĐảngCộng sản Việt Nam về xây dựng nền văn hoá
* Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp chủ yếu là phương pháp lịch sử, phương pháp lôgíc Ngoài ra,
còn sử dụng một số phương pháp khác như: So sánh, thống kê, lịch đại, đồng đại…
6 Ý nghĩa của đề tài
- Kết quả đạt được của đề tài góp phần hệ thống hoá các quan điểm, chủtrương của Đảng và quá trình vận dụng của Đảng bộ tỉnh Hà Nam lãnh đạoxây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc ở Tỉnh
- Góp phần khẳng định sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng
bộ tỉnh Hà Nam trên lĩnh vực văn hoá trong công cuộc đổi mới, mở rộng giaolưu văn hoá quốc tế, giữ gìn và phát huy truyền thống bản sắc dân tộc của Tỉnh
- Luận văn là tài liệu phục vụ cho nghiên cứu, giảng dạy Lịch sử Đảng ởcác nhà trường trong và ngoài quân đội
Trang 117 Kết cấu của đề tài
Luận văn gồm: Mở đầu, 2 chương (5 tiết), kết luận, danh mục tài liệutham khảo và phụ lục
Chương 1 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH HÀ NAM XÂY DỰNG NỀN VĂN HOÁ TIÊN TIẾN, ĐẬM ĐÀ BẢN SẮC DÂN
TỘC TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2010 1.1 Yêu cầu khách quan Đảng bộ tỉnh Hà Nam lãnh đạo xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
1.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Hà Nam tác động đến xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Hà Nam thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ, nằm trên toạ độ 20o vĩ Bắc vàgiữa 105o - 110o kinh độ Đông, trong vùng trọng điểm kinh tế Bắc Bộ, là cáinôi văn hoá lúa nước Phía Bắc giáp với Thành phố Hà Nội, phía Đông giápvới tỉnh Hưng Yên và tỉnh Thái Bình, phía Nam giáp với tỉnh Nam Định vàtỉnh Ninh Bình, phía Tây giáp với tỉnh Hoà Bình Có hệ thống giao thông thuậnlợi, nằm trên trục giao thông quan trọng Bắc Nam Do vậy, Hà Nam thuận lợi trongphát triển, giao lưu kinh tế, văn hóa - xã hội, khoa học - kỹ thuật với các tỉnh trongvùng và cả nước Là tỉnh nông nghiệp, địa hình đa dạng, chủ yếu là vùng đồngbằng chiêm trũng, vùng đồi núi và nửa đồi núi, có nguồn tài nguyên đá vôi trữlượng lớn ở hai huyện Kim Bảng và Thanh Liêm; ngoài sông Hồng, còn có haicon sông lớn chảy qua là sông Đáy và sông Châu Giang thường gây ra xói lở, lũlụt Khí hậu Hà Nam thuộc vùng nhiệt đới, chia làm hai mùa Mùa khô từ tháng
11 năm trước đến tháng 4 năm sau, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, nhiệt độtrung bình trong năm 23,4oC, lượng mưa 1.500 - 2.000 mm/ năm, tạo thuận lợicho phát triển nông nghiệp
Kinh tế Hà Nam có các thế mạnh, đất đai phì nhiêu mầu mỡ, có điềukiện phát triển nền kinh tế toàn diện, có vùng đồi núi để phát triển kinh
Trang 12tế đồi rừng, vùng núi đá vôi, mỏ đất sét có trữ lượng lớn, thuận lợi choviệc phát triển sản xuất xi măng và vật liệu xây dựng; có kết cấu hạ tầng
cơ sở giao thông thuận lợi cả về đường bộ, đường thuỷ và đường sắt; tỷ
lệ trong tuổi lao động trẻ chiếm 70% dân số của tỉnh, có tinh thần laođộng cần cù, sáng tạo chịu khó, chịu khổ Đây là lợi thế để tỉnh Hà Namphát triển kinh tế - xã hội
Phát huy những tiềm năng và lợi thế sẵn có về vị trí địa lý, tài nguyênthiên nhiên, nguồn nhân lực Hà Nam đang từng bước chuyển mình, pháttriển kinh tế theo hướng CNH, HĐH Đảng bộ và nhân dân tỉnh Hà Nam
đã nỗ lực phấn đấu giành nhiều thành tựu quan trọng và rất đáng tự hào:Kinh tế tăng trưởng nhanh, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt xấp xỉ 11%năm, cao nhất 14,3% (năm 2008), thấp nhất 7,9% (năm 2001) Quy mônền kinh tế năm 2011 đã tăng gần 4 lần so với năm 1997 Nền kinh tếchuyển biến căn bản từ nền kinh tế thuần nông nhỏ lẻ, manh mún sangnền kinh tế công nghiệp và dịch vụ Cơ cấu kinh tế chuyển biến rõ rệt, tỷtrọng công nghiệp, xây dựng từ dưới 20% năm 1997 đã tăng lên 50,2%GDP và tương ứng tỷ trọng nông, lâm nghiệp, thủy sản từ 49,6% đã giảmxuống 20% GDP năm 2011 Cùng với đó thu nhập bình quân đầu người
và thu ngân sách địa phương cũng tăng nhanh Năm 2011, thu nhập bìnhquân đầu người đạt 21,1 triệu đồng (tương đương 1.055 USD), tăng 10lần so với năm 1997, bằng 78% cả nước.Tổng vốn đầu tư phát triển trênđịa bàn năm 2011 là 11,5 ngàn tỷ đồng, gấp gần 20 lần năm 1997, gấp6,8 lần năm 2005 Đã hình thành nhiều khu công nghiệp tập trung củatỉnh và cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, đã xuất hiện những cơ sởcông nghiệp có ý nghĩa quan trọng về điện tử, cơ khí, vật liệu xây dựng,dệt may, chế biến thực phẩm, thủ công mỹ nghệ, kết cấu hạ tầng từngbước được hoàn thiện
Trang 13Năm 1997, tỉnh Nam Hà tách ra thành tỉnh Hà Nam và Nam Định Hiệnnay, tỉnh Hà Nam có 5 huyện và 1 thành phố, gồm 116 xã phường, thị trấn,tổng dân số có 83 vạn người, diện tích tự nhiên 851 km2, mật độ bình quân
1038 người/km2
Dân số Hà Nam phân bố không đều trên địa bàn Tỷ lệ tăng dân số củaTỉnh tương đối nhanh; sự di dân tập trung nhiều ở các thành phố, thị trấn, khucông nghiệp Về tôn giáo, trong tỉnh có ba tôn giáo chính là: Công giáo, Tin lành
và Phật giáo, có khoảng trên 20 vạn tín đồ tôn giáo, chiếm 26 % tổng dân số;
có 379 chức sắc các tôn giáo, 762 cơ sở thờ tự tôn giáo (530 chùa, 224 nhàthờ, 07 nhà nguyện, 09 nhà dòng đạo công giáo, 01 nhà thờ đạo tin lành).Hoạt động tôn giáo, nhìn chung tuân thủ pháp luật; quan hệ giữa tổ chức, cánhân tôn giáo đối với hệ thống chính trị ở các cấp theo hướng tích cực
Văn hóa, xã hội có nhiều hoạt động sôi động, kết hợp hài hòa với tăngtrưởng kinh tế Ngành giáo dục đào tạo phát huy truyền thống Bắc Lý anhhùng, luôn giữ vững quy mô và chất lượng giáo dục Hà Nam là một trong
số ít tỉnh hoàn thành phổ cập trung học cơ sở đầu tiên của cả nước Kết quảthi tốt nghiệp THPT, thi học sinh giỏi quốc gia, thi vào các trường đại học,cao đẳng luôn dẫn đầu, xếp ở tốp 10 toàn quốc Xây dựng trường chuẩnquốc gia được xác định là một tiêu chí, kế hoạch hàng năm Đến nay, sốtrường đạt chuẩn quốc gia ở 4 bậc học là 51,85%, trong đó bậc tiểu học đạt91,42% Công tác đào tạo được chú trọng, từ 5 trường đào tạo nghề rất nhỏtrước khi tái lập tỉnh, đến nay đã có 9 trường hoạt động đào tạo, trong đó có
01 trường đại học và 6 trường cao đẳng Riêng trường Đại học Công nghiệp
Hà Nội (đóng trên địa bàn của tỉnh) đã đầu tư và tuyển sinh hàng vạn sinhviên mỗi năm
Công tác chăm sóc sức khỏe Nhân dân có chuyển biến tích cực
Cơ sở vật chất, trang thiết bị được tăng cường Đi đôi với phong trào thiđua thực hiện tốt những quy định về y đức, chất lượng khám chữa bệnh
Trang 14tại các bệnh viện, trình độ của đội ngũ cán bộ thầy thuốc ngày càngđược nâng lên Hệ thống y tế thôn, xóm và các trạm y tế luôn đượcquan tâm củng cố, thực hiện tốt công tác chăm sóc sức khỏe ban đầucho nhân dân.
Hà Nam, là vùng đất có bề dày truyền thống văn hoá, một trong vùng đất
ổn định lâu đời, dân cư quần tụ sinh sống, qua nhiều thế kỷ, làng xã Việt Nam, ở
đó chứa đựng những yếu tố văn hoá lâu bền, đậm đà bản sắc dân tộc Trong quátrình lịch sử dựng nước và giữ nước, nhân dân Hà Nam đã giữ gìn, bồi đắp, sángtạo nên kho tàng văn hoá vật thể và phi vật thể phong phú, đa dạng Từ khiNgô Quyền giành độc lập dân tộc trải qua các triều đại Ngô - Đinh - Tiền Lênền văn hóa độc lập tự chủ từng bước khẳng định và phát triển Văn hóa HàNam cũng như cả nước thời kỳ này có tính cách dân gian sâu sắc, phản ánhmạnh mẽ ý thức độc lập tự chủ của Nhân dân ta lúc bấy giờ Giáo dục chưaphát triển Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo cùng song song tồn tại nhưng Nhogiáo chưa thịnh hành, Phật giáo có thế lực hơn cả, chiếm vị trí quan trọngtrong xã hội Hiện tại, trong các địa phương của Hà Nam còn lưu lại nhữngdấu vết của phật giáo thế kỷ X Sự tích chùa cổ Khánh Linh ở Liêm Tiết -Thanh Liêm cho biết thời Tiền Lê đã có người về đây lập chùa thờ Phật Cáchình thức sinh hoạt văn nghệ dân gian ở Hà Nam thời đó tương đối phong phúnhư hát chèo, bơi thuyền, nhảy múa
Thời Lý - Trần, Hà Nam cũng như các nơi khác trong cả nước, thời kỳnày Phật giáo rất thịnh đạt Chùa tháp mọc lên khắp nơi, tiêu biểu là chùa vàbảo tháp Sùng Thiện Diên Linh (Duy Tiên) Đây là công trình kiến trúc phậtgiáo lớn có giá trị Cùng với bảo tháp, chùa Đọi đã trở thành một trong nhữngtrung tâm Phật giáo lớn của Đại Việt thời bấy giờ Văn nghệ dân gian cũng đểlại nhiều dấu ấn Thời kỳ này ở Hà Nam xuất hiện nhiều điệu múa hát dângian rất đặc sắc như hát Lải Lèn ở Lý Nhân, hát Dậm ở Kim Bảng
Trang 15Văn hóa Hà Nam thời Lê sơ thế kỷ XV, giáo dục thi cử ở Hà Nam cóbước phát triển, đặc biệt vào thời Lê Thánh Tông (1460- 1497) Ở các làng
xã, việc giáo dục theo hình thức hương sư, gia sư rất được chú ý Văn học chữHán, chữ Nôm đều có bước phát triển, các danh sĩ nổi tiếng thời nàynhư Nguyễn Khắc Hiếu, Trần Thuấn Du, Nguyễn Như Lâm, HoàngMông cùng nhiều người khác để lại những tác phẩm văn học có giá trị
ca ngợi tình yêu quê hương đất nước
Từ thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ XIX trong bối cảnh chung xã hộiViệt Nam có nhiều biến động, nhưng truyền thống hiếu học, việc giáodục thi cử ở Hà Nam vẫn được phát huy Thời kỳ này văn học Hà Namtiếp tục phát triển với sự góp mặt của các danh sĩ như Phạm Viết Tuấn,Trương Minh Lượng, Lý Trần Thản có những tên tuổi nổi tiếng trên vănđàn cả nước như Nguyễn Khuyến Nghệ thuật kiến trúc cũng đạt đượcnhững thành tựu rực rỡ Hàng trăm hiện vật như bia đá, khánh đá, tháp đá,chuông đồng cùng các ngôi chùa, ngôi đình mang đậm dấu ấn các thờiMạc, Lê, Nguyễn vẫn còn hiện diện tại hầu hết các làng xã Hà Nam Với hàng trăm công trình kiến trúc nghệ thuật văn hoá như đìnhVăn Xá (xã Đức Lý - Lý Nhân) được xây dựng thế kỷ XVII thời LêTrung Hưng, đền Trần Thương thờ Trần Quốc Tuấn ở xã Nhân Đạohuyện Lý nhân, chùa Long Sơn, chùa do Lý Thái Tông và Vương Phi ỶLan chủ trì xây dựng năm 1054 Ở xã Đội Sơn, huyện Duy Tiên; đình
Đà An Mông xã Tiên Phong Duy Tiên, đền thờ Nguyệt Nga công chúa
-nữ tướng của Hai Bà Trưng… Hà Nam mang đậm nét đặc trưng văn hoálúa nước của người Việt Cổ Nơi đây cũng là xuất xứ của những lễ hộinhư lễ hội hát Dậm (Quyển Sơn - Kim Bảng), lễ hội Tịch điền ở LongĐội Sơn; lễ hội Vật võ Liễu Đôi… Hà Nam cũng là cội nguồn của nềnvăn hoá dân gian đặc sắc Chính nơi đây là một trong những cái nôi sảnsinh ra những làn điệu âm nhạc dân gian đặc trưng của đồng bằng Bắc
Trang 16Bộ Các loại hình dân ca vẫn được lưu giữ trường tồn, thể hiện rõ nétbản sắc văn hoá Hà Nam Hát Dậm Quyển Sơn là hình thức ca múanhạc dân gian phục vụ lễ hội chỉ có ở huyện Kim Bảng; múa hát LảiLèn là điệu hát trong lễ hội mùa hát thờ thần của làng Cội Chuối, xãBắc Lý, huyện Lý Nhân; hát trống quân, hát chèo, hát giao duyên vùngngã ba Sông Móng… Cũng chính mảnh đất này là nơi nuôi dưỡng nhiềudanh nhân nổi tiếng Đó là những nhà quân sự, chính trị, ngoại giao,những nhà văn hoá, khoa học, những bậc chí sĩ cách mạng, anh hùnghào kiệt, những vị tổ nghề Họ đã làm rạng danh quê hương đất nước.Các giá trị văn hoá phải được bảo tồn và phát triển Ý thức được tầmquan trọng đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng bộ, quândân Hà Nam luôn giữ gìn, bảo tồn, không ngừng bồi đắp và phát triển nền vănhoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong mỗi vùng quê.
1.1.2 Thực trạng văn hoá tỉnh Hà Nam trước 1997
Về thành tựu và nguyên nhân
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, Hà Nam đãgóp phần vào xây dựng và phát triển nên văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đàbản sắc dân tộc
Trước năm 1997, Hà Nam thuộc tỉnh Nam Hà, Đảng bộ tỉnh và Đảng bộcác địa phương luôn coi trọng lãnh đạo xây dựng giữ gìn bản sắc văn hoá củaTỉnh nên đã đạt được một số thành tựu nhất định
Công tác xây dựng giữ gìn bản sắc văn hóa ở Hà Nam có nhiều chuyểnbiến tích cực, với phương châm lấy cơ sở làm mục tiêu hoạt động chính, từngbước đổi mới và hoàn thiện hệ thống thiết chế văn hoá từ tỉnh tới cơ sở, gópphần thực hiện có hiệu quả các mục tiêu kinh tế - xã hội và nâng cao đời sốngcủa nhân dân Theo báo cáo tổng kết công tác văn hóa của Sở văn hóa thôngtin số 227/BC-VHTT ngày 22/11/1997: Toàn tỉnh Hà Nam đã công nhận
Trang 17128.900 gia đình văn hoá, 211 làng, khu phố văn hoá cấp huyện, trong đó có
51 làng, khu phố văn hoá cấp tỉnh
Các lễ hội văn hoá truyền thống của tỉnh như: lễ hội đền Trúc và hátDậm Quyển Sơn, xã Thi Sơn huyện (Kim Bảng), Lễ hội Tịch Điền ĐọiSơn, (Duy Tiên), lễ hội đền Lảnh Giang (Duy Tiên) Hội vật võ Liễu Đôi,Thanh Liêm, cùng hàng trăm lễ hội khác được cấp uỷ Đảng quan tâm lãnhđạo, chỉ đạo tổ chức hoạt động đúng hướng góp phần giữ gìn và phát huybản sắc văn hoá dân tộc
Các phong trào đền ơn đáp nghĩa, các hoạt động tình nghĩa giúp đỡ cácgia đình thương binh liệt sĩ, người có công với cách mạng, người tàn tật, giúpnhau xoá đói giảm nghèo… ngày càng phát triển, đang trở thành một nếpsống đẹp trong nhân dân
Công tác quản lý các hoạt động văn hoá và dịch vụ văn hoá, bài trừ các tệnạn xã hội đã được các cấp, các ngành quan tâm chỉ đạo thực hiện triệt để và
đã giành được những kết quả nhất định
Thực hiện nếp sống văn hoá mới trong việc cưới, việc tang, lễ hội và một số
lễ nghi khác trong đời sống xã hội theo chỉ thị của Bộ Văn hoá Thông tin và Nghịquyết của HĐND tỉnh được Nhân dân đồng tình hưởng ứng và tích cực thực hiện
Sự nghiệp giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ ngày càng pháttriển Cấp uỷ các cấp đã xây dựng chương trình hành động thực hiện Nghịquyết Hội nghị lần thứ hai BCH Trung ương và định hướng phát triển giáodục đào tạo và khoa học công nghệ trong thời kỳ CNH, HĐH và nhiệm vụđến năm 2000
Các loại hình trường lớp được khuyến khích mở rộng và sắp xếp hợplý; số học sinh các cấp qua các năm học đều tăng Tỉnh Hà Nam là tỉnhđược Bộ Giáo dục và Đào tạo công nhận hoàn thành phổ cập giáo dục tiểuhọc, chống mù chữ Chất lượng giáo dục toàn diện có chuyển biến tiến bộ;
tỷ lệ học sinh các cấp đỗ tốt nghiệp và đoạt giải trong các kỳ thi học sinh
Trang 18giỏi quốc gia năm 1994 - 1995 đạt khá Kỷ cương nề nếp trong dạy và họcđược duy trì tốt Cơ sở vật chất phục vụ cho sự nghiệp giáo dục - đào tạođược tăng cường Công tác xã hội hoá giáo dục ngày càng được quan tâm;đến năm 1996, trong tỉnh các huyện thị xã và trên 80% xã phường đã tổchức thành công hội nghị sơ kết công tác giáo dục những năm đổi mới.Những kết quả đó đã góp phần quan trọng vào việc nâng cao dân trí vàtrình độ học vấn của Nhân dân.
Đội ngũ cán bộ khoa học, kỹ thuật của Tỉnh trên các lĩnh vực là nhân tốtích cực góp phần quan trọng vào sự phát triển của Tỉnh Nhiều đề tài khoa học,ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật trong nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp vàtiểu thủ công nghiệp, y tế, giáo dục bước đầu phát huy tác dụng tốt Cơ sở vậtchất kỹ thuật phục vụ cho hoạt động khoa học từng bước được tăng cường.Văn học nghệ thuật, nhất là văn nghệ quần chúng phát triển rộng ở nhiềuđịa phương, cơ sở góp phần làm phong phú đời sống tinh thần của nhân dân.Hằng năm tỉnh và các huyện thị đều tổ chức hội diễn văn nghệ quần chúng;phong trào ca hát mới và hát Dậm Quyển Sơn, hát Lải lèn, hát Chèo…, cácloại hình nghệ thuật sân khấu sáng tác… được chú ý khuyến khích, phát triển.Đội ngũ văn nghệ sĩ của Tỉnh có nhiều cố gắng trong hoạt động sáng tác, sưutầm, nghiên cứu nên đã có một số tác phẩm có giá trị được trao giải thưởngcủa các hội văn nghệ Trung ương
Thực tiễn thông qua trao đổi, giao lưu văn hóa trong và ngoài nước đã tạocho tỉnh những bài học kinh nghiệm trong phát triển và xây dựng văn hóa,đồng thời tạo điều kiện mọi người hưởng thụ những cái hay, cái đẹp, cái tiêntiến trong văn hóa đa dạng Tỉnh tổ chức thành công nhiều hội thảo khoa học,hội diễn, trao đổi hoạt động văn hóa trong vùng Đồng bằng Bắc bộ
Thông tin đại chúng của tỉnh có bước phát triển, Báo Hà Nam đã chú trọngđổi mới cả về nội dung hình thức, chất lượng từng bước được nâng lên; đàiphát thanh truyền hình tỉnh và hệ thống các đài trạm tiếp sóng ở các huyện, thị
Trang 19xã, hệ thống truyền thanh ở cơ sở có cố gắng trong hoạt động đạt nhiều kết quả.Đội thông tin lưu động của Tỉnh và các huyện, thị xã đã có nhiều hình thứchoạt động phong phú nhằm đưa thông tin đến tận cơ sở, Tạp chí của Hội vănnghệ, của Sở văn hoá Thông tin và các tạp chí, bản tin chuyên ngành khác ởđịa phương phát hành đều, hình thức, chất lượng có bước đổi mới.
Nguyên nhân của thành tựu
Một là, nhân dân Hà Nam có truyền thống văn hóa lâu đời, có sự cố kết
cộng đồng chặt chẽ, có ý thức tự tôn dân tộc cao.Với truyền thống của dân tộc,được hình thành và phát triển trải qua hàng ngàn năm lịch sử dựng nước vàgiữ nước, tạo nên sự gắn bó, cố kết cộng đồng chặt chẽ với nhau rất tự nhiên,cùng nhau đắp đê ngăn lũ, trị thủy, chiến thắng thiên tai nhằm phát triển nôngnghiệp Đoàn kết gắn bó chống giặc ngoại xâm, làm nên những chiến cônghiển hách, những kỳ tích lịch sử để bảo vệ nền độc lập dân tộc, đưa đất nướcphát triển Sự cố kết cộng đồng trên cơ sở lợi ích và địa lý, lịch sử đã tạo nênnhững tư tưởng, tình cảm, phong tục, tập quán, lối sống của mỗi con người HàNam, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, tạo nên truyền thống, bản sắcriêng của người Hà Nam Trong đó, truyền thống yêu nước là những tư tưởng,tình cảm cao quí nhất, thiêng liêng nhất, cội nguồn của trí tuệ và sáng tạo,lòng dũng cảm của con người Hà Nam, đó cũng chính là “nền tảng”, chuẩnmực đạo đức của nhân dân Hà Nam Truyền thống đó là nguồn sức mạnh tinhthần to lớn, cổ vũ và động viên con người Hà Nam vươn lên trong sự nghiệpgiải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Hai là, có sự tham gia tích cực của nhân dân và những nỗ lực to lớn của
các lực lượng hoạt động trên lĩnh vực văn hóa
Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, những giá trịtruyền thống tốt đẹp nhân dân Hà Nam là trách nhiệm và quyền lợi của mọi cấp,mọi ngành, mọi người và của toàn xã hội, của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnhđạo của Đảng bộ, quản lý của các cấp chính quyền Trong đó, sự tham gia tíchcực đóng góp công sức, tiền của, trí tuệ và trách nhiệm của mọi công dân, của
Trang 20lực lượng chuyên trách là yếu tố quan trọng, bảo đảm giá trị bản sắc dân tộc pháttriển mạnh mẽ và bền vững.
Sự chỉ đạo thống nhất, đồng bộ từ Tỉnh đến cơ sở, nhận thức của mọicông dân và lực lượng chuyên trách về chủ trương, lợi ích, quyền lợi đốiquê hương ngày càng đầy đủ hơn, tích cực hưởng ứng, tham gia các hoạtđộng, phong trào do Đảng bộ, chính quyền các địa phương phát động, tựnguyện rèn luyện, sống có trách nhiệm, nghĩa tình đây cũng là hệ quảcủa phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong những năm qua
Ba là, Đảng bộ, UBND Tỉnh đã có định hướng đúng đắn và từng
bước hoàn thiện cơ chế, chính sách về phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.Với cách nhìn toàn diện về giá trị bản sắc văn hóa dân tộc Đảng bộ,UBND Tỉnh đã xác định rõ mối quan hệ giữa xây dựng nền văn hóa tiên tiến,đậm đà bản sắc dân tộc với phát triển kinh tế, xã hội; thấy được vai trò, nguồnlực nội sinh của văn hóa với sự phát triển đất nước Vì vậy, quá trình xâydựng, phát triển đất nước, cũng chính là quá trình Đảng bộ, UBND Tỉnh xácđịnh, bổ sung và từng bước hoàn thiện chủ trương, chính sách về xây dựngnền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trên địa bàn Tỉnh, đáp ứng yêucầu đòi hỏi của thực tiễn đang đặt ra
Hạn chế và nguyên nhân
Tư tưởng đạo đức và lối sống là vấn đề bức xúc trên lĩnh vực tư
tưởng văn hoá trong đội ngũ cán bộ, nhân dân, nhất là lớp trẻ Có một bộphận nhận thức về chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, vềđường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; vềcon đường đi lên chủ nghĩa xã hội còn hạn chế; mất cảnh giác trước âmmưu, thủ đoạn “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch.Hiện tượng suy thoái về đạo đức, lối sống và các biểu hiện khác nhau củachủ nghĩa cá nhân, bản vị trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và Nhân dân,đang gây hại đến thuần phong mỹ tục của dân tộc Một số tệ nạn như ma tuý,
Trang 21mại dâm có chiều hướng gia tăng, những hiện tượng mê tín, dị đoan còn tồntại trong một bộ phận Nhân dân, nhiều hủ tục lạc hậu không lành mạnh đangphục hồi và phát triển, nhất là trong việc cưới, việc tang, lễ hội…
Trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo chưa quan tâm đúng mức đến giáodục tư tưởng đạo đức, lối sống, truyền thống cách mạng của Đảng, của đấtnước, quê hương cho học sinh, sinh viên Các bộ môn chính trị, khoa học
xã hội và nhân văn còn bị coi nhẹ Môi trường giáo dục chưa được quantâm một cách thoả đáng
Văn hoá, nghệ thuật của Tỉnh chưa có những tác phẩm tiêu biểu xứngtầm với truyền thống vẻ vang của dân tộc, của địa phương Công tác quản
lý nhà nước về văn hoá và dịch vụ văn hoá ở địa phương còn bị buônglỏng Đội ngũ sáng tác, nghiên cứu lý luận, phê bình văn học, nghệ thuậtnhìn chung chưa xứng tầm Hội văn học nghệ thuật Tỉnh chậm được củng
cố, các điều kiện hoạt động còn nhiều hạn chế Lực lượng văn nghệ quầnchúng chưa được đầu tư tập huấn, bồi dưỡng đúng mức Công tác sưutầm, nghiên cứu biên soạn về vốn văn nghệ dân gian chưa được chú trọng.Các thiết chế văn hoá chưa hoàn thiện Thư viện Tỉnh quy mô nhỏ,
cơ sở vật chất yếu kém, chưa đáp ứng với yêu cầu của các tầng lớp Nhândân trong Tỉnh Hoạt động của trung tâm văn hoá - thông tin - triển lãmchưa thực hiện đầy đủ theo chức năng quy định, cán bộ chuyên mônthiếu, nhưng chưa được bổ sung Đoàn nghệ thuật chèo còn lúng túngtrong phương thức hoạt động; công ty điện ảnh và phát hành sách, vậtphẩm văn hoá chưa chuyển đổi kịp thời theo cơ chế thị trường
Nguyên nhân chủ yếu của các mặt tồn tại, yếu kém:
Sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu và Liên xô đã tác động đến tưtưởng, tình cảm đối với cán bộ, đảng viên và Nhân dân, đã tạo nên cơn chấnđộng chính trị dữ dội, tác động mạnh mẽ đến niềm tin vào lý tưởng xã hội chủ
nghĩa, làm nảy sinh chủ nghĩa hoài nghi với nhiều hình thức khác nhau Những
Trang 22vấn đề đó có tác động, ảnh hưởng xấu đến tâm tư, tình cảm, lối sống và ý thứccủa một số cán bộ, đảng viên và Nhân dân trong Tỉnh.
Trong cơ chế thị trường và hội nhập với thế giới, bên cạnh nhữngtác động tích cực còn bộc lộ những mặt tiêu cực ảnh h ưởng đến đờisống xã hội, làm tha hoá đạo đức, lối sống… Trong một bộ phận cán
bộ, đảng viên và Nhân dân Mặt khác, các thế lực thù địch vẫn tăngcường thực hiện âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hoà bình” chống phá trênlĩnh vực tư tưởng, văn hoá
Nhận thức của một số cấp uỷ Đảng, chính quyền, đoàn thể về văn hoá chưađầy đủ, còn có biểu hiện “khoán trắng” cho ngành văn hoá Do vậy, việc quantâm lãnh đạo, chỉ đạo còn hạn chế Bên cạnh đó công tác giáo dục, chính trị, tưtưởng, đạo đức lối sống của các cấp uỷ Đảng chưa đáp ứng yêu cầu của tình hìnhmới
Công tác quản lý nhà nước về hoạt động văn hoá, nhất là quản lý và giữgìn văn hoá truyền thống còn tình trạng buông lỏng, chưa kịp thời uốn nắnnhững lệch lạc mới phát sinh Chưa có chính sách khuyến khích động viênnhững người có thành tích xuất sắc trong hoạt động văn hoá nghệ thuật, chínhsách ưu tiên cho các văn nghệ sĩ…
Đội ngũ những người làm công tác văn hoá, văn nghệ ít được chăm lobồi dưỡng nhằm nâng cao nhận thức chính trị, nghiệp vụ chuyên môn (kể cảcác lớp năng khiếu)
1.1.3 Đặc điểm thời kỳ mới và chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng và phát triển nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc (1997 – 2010)
*Đặc điểm thời kỳ mới
Cuối thế kỷ XX và những năm đầu của thế kỷ XXI, tình hình thếgiới và trong nước có nhiều biến động mau lẹ và khó lường Trên thếgiới, cuộc đấu tranh giai cấp, dân tộc diễn ra gay gắt và phức tạp giữa
Trang 23chủ nghĩa tư bản với chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới Trênlĩnh vực văn hóa, đây là cuộc đấu tranh quyết liệt giữa văn hóa truyềnthống với văn hóa hiện đại, giữa giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa củatừng dân tộc với xu hướng phát triển văn hóa của nhân loại Đấu tranhgiữa xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc với cácluồng văn hóa phản động, lạc hậu, lai căng Quá trình toàn cầu hóa, hộinhập quốc tế ngày càng sâu rộng đã tạo ra cả những cơ hội và thách thứccho tất cả các quốc gia trên thế giới về phát huy bản sắc văn hóa dân tộctrong đó có Việt Nam.
Đối với Việt Nam sau gần 30 năm đổi mới, đất nước đã giành đượcnhững thành tựu to lớn đưa Việt Nam ra khỏi tình trạng nước kém phát triển,trở thành nước có thu nhập trung bình trên thế giới; đời sống nhân dân khôngngừng được cải thiện; chính trị- xã hội ổn định; quốc phòng -an ninh được giữvững và tăng cường; quan hệ ngoại giao được mở rộng Đây là tiền đề cần thiếtcho phép đất nước chuyển sang thời kỳ mới CNH, HĐH và hội nhập kinh tếquốc tế
Giữ gìn bẳn sắc văn hóa dân tộc trong điều kiện hội nhập quốc tế là mộtđòi hỏi khách quan Sự nghiệp CNH, HĐH đất nước đang tiến hành trong bốicảnh thế giới có nhiều biến đổi mau lẹ tạo ra cho Việt Nam có cả thời cơ vàthách thức Nắm bắt thời cơ vượt qua thách thức là đòi hỏi của cả dân tộc.Những người dân Việt Nam không ai muốn nhìn thấy một đất nước nghèonàn, lạc hậu, kém phát triển; những giá trị văn hóa truyền thống bị băng hoại;độc lập chủ quyền lãnh thổ thiêng liêng bị xâm phạm
Đảng phải đổi mới toàn diện, linh hoạt, sáng tạo để xây dựng một nướcViệt Nam phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh thế giới
có nhiều biến đổi nhanh chóng và phức tạp Xây dựng một xã hội dựa trênnền tảng văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, cốt lõi của nền tảng tinhthần đó là giá trị chuẩn mực đạo đức truyền thống và tiên tiến của nhân loại;
Trang 24là hệ thống hiến pháp và pháp luật, là tư tưởng đề cao luật pháp Thực tiễn thếgiới hội nhập càng sâu rộng thì sự xung đột về văn hóa càng phức tạp, nó đãđẩy các dân tộc vào các cuộc xung đột vũ trang với mục đích là bảo tồnnhững giá trị văn hóa truyền thống Hội nhập trong đó có hội nhập văn hóachúng ta phải luôn đề cao những giá trị truyền thống, ngày càng xây dựng vàbồi đắp những giá trị văn hóa truyền thống, đề cao bản sắc văn hóa Việt Vớiquan điểm chúng ta không khép kín, mà luôn mở rộng giao lưu văn hóa đónnhận cái hay, cái đẹp cái tiên tiến từ các nền văn hóa của các nước khác, làmđậm đà hơn bản sắc cốt cách, tâm hồn dân tộc Việt Nam, đồng thời kiên quyếtngăn chặn những giá trị văn hóa không phù hợp với thuần phong mỹ tục củangười Việt.
Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “ Ta phải giữ cốt cách dân tộc,còn phương Đông hay phương Tây có cái gì hay, có cái gì tốt là phải học lấy
để tạo ra nền văn hóa Việt Nam Nghĩa là lấy kinh nghiệm tốt của văn hóaxưa và văn hóa nay, trau dồi cho văn hóa Việt Nam thật có tinh thần thuần túyViệt” [39, tr.245] Tư tưởng của Người đã được Đảng Cộng sản Việt Nam kếthừa và vận dụng sáng tạo trong quá trình hội nhập, giao lưu văn hóa để “ hộinhập mà không hòa tan” Đại hội IX của Đảng xác định:
Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nền kinh tế độclập tự chủ đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp, ưu tiên pháttriển lực lượng sản xuất, đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phùhợp theo định hướng XHCN Phát huy cao độ nội lực đồng thời tranhthủ nguồn lực bên ngoài để phát triển nhanh, có hiệu quả và bềnvững Tăng cường kinh tế đi liền với phát triển văn hoá từng bước cảithiện đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân… [11, tr.101]
Chính vì vậy, trong quá trình xây dựng và phát triển mô hình kinh tế.Chúng ta tích cực chủ động hội nhập kinh tế thế giới; trong hội nhập với thế giớikhông chỉ có quan hệ kinh tế, mà còn hội nhập giao lưu văn hoá với thế giới
Trang 25Hà Nam là một trong những địa bàn cửa ngõ phía Nam Thủ đô cùng với
xu thế hoà nhập chung của các tỉnh trong cả nước với thế giới Hà Nam cũngkhông tránh khỏi sự tác động văn hoá thế giới Đây là xu hướng chung củaviệc giao lưu mở rộng quan hệ quốc tế, trên tất cả các lĩnh vực, tăng cường sựhiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc, tạo điều kiện cho sự mở rộng giao lưu vềvăn hoá, khoa học, giáo dục giữa các quốc gia, dân tộc Đồng thời tạo điềukiện cho chúng ta tiếp thu những giá trị văn hoá của thế giới, làm phong phúnền văn hoá dân tộc
Tuy nhiên, hội nhập, giao lưu với thế giới bên cạnh những mặt tích cực,chúng ta phải chấp nhận một thực tế là chúng ta xây dựng nền văn hóa tiêntiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong một cơ chế thị trường chưa hoàn chỉnh, sựtác động của cơ chế thị trường đã làm những chuẩn mực đạo đức, lối sốngtruyền thống đang bị bào mòn bởi văn hóa ngoại lai; những giá trị văn hóahiện đại đang từng bước xâm nhập vào từng ngôi nhà, ngõ phố, làng, bản từvùng ngược đến vùng xuôi Bản sắc văn hóa dân tộc đang dạt dần ra khỏiđời sống xã hội của một bộ phận tầng lớp Nhân dân Những giá trị truyềnthống văn hóa đang bị tha hóa bởi một bộ phận kẻ có chức, có quyền biếnnhững giá trị truyền thống văn hóa thành món hàng kiếm lợi; các giá trị vănhóa truyền thống đang bị méo mó, biến dạng bởi một bộ phận những ngườilàm văn hóa nhưng không hiểu hoặc cố tình không hiểu biết về văn hóa.Chính vì vậy, giá trị văn hóa truyền thống đang từng bước lui vào quá khứ
để những chuẩn mực văn hóa thời thượng tiến lên, nó đang đẩy xã hội ViệtNam vào tình thế bất ổn Các thế lực thù địch lợi dụng, thực hiện chiến lược
“diễn biến hoà bình” chúng tấn công trên mặt trận tư tưởng văn hoá, xuyêntạc những giá trị văn hoá tiên tiến và truyền thống của dân tộc, tuyên truyềnnhững lối sống thực dụng, hưởng thụ, tạo nên một lớp người có khuynhhướng sùng ngoại, lai căng, mất gốc, sùng bái đồng tiền, bất chấp đạo lý, coithường các giá trị nhân văn Trong quá trình đổi mới đất nước cũng nảy sinh
Trang 26nhiều tệ nạn xã hội, các hủ tục đang có khuynh hướng phục hồi, việc lợidụng lễ hội để thương mại hoá các hoạt động văn hoá đang diễn ra phổ biến,kéo theo là những dịch vụ phi văn hoá đi kèm như lên đồng, bà cốt, bói toán,mại dâm… Đồng thời những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc đang
bị mai một, các làn điệu dân ca như hát Chèo, hát Dậm, những giá trị đạođức, lối sống văn hoá trong sinh hoạt ở các khu dân cư, làng xóm, trong giađình, dòng họ ngày càng thưa dần
Ngày nay, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước do ĐảngCộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo đang diễn ra mạnh mẽ, vai tròvăn hoá được xác định: “Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa làmục tiêu, vừa là động lực" thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội, nhiệm vụcủa văn hoá là phải xây dựng đời sống vật chất, tinh thần tốt đẹp, góp phầnphát triển kinh tế và ổn định xã hội Vì vậy, phát triển kinh tế phải đi đôivới phát triển văn hoá, không thể phát triển kinh tế bằng mọi giá mà bỏquên phát triển văn hoá, sẽ dẫn đến đánh mất bản sắc văn hoá của dân tộc.Quán triệt tư tưởng chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhiều năm qua,Đảng bộ và Nhân dân Hà Nam luôn coi văn hoá là nội sinh cho sự pháttriển kinh tế - xã hội, đặt nhiệm vụ phát triển văn hoá là một trong banhiệm vụ chiến lược của Tỉnh
* Chủ trương xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam
Việt Nam bước vào thời kỳ đổi mới Đặc điểm lớn nhất của toàn bộ sựnghiệp phát triển xã hội Việt nam là xây dựng xã hội chủ nghĩa theo cơ chếthị trường Thực chất của nền văn hóa thời kỳ này là nền văn hóa tiên tiếnđậm đà bản sắc dân tộc mà chúng ta đang xây dựng là nền văn hóa của thểchế kinh tế thị trường trong thời kỳ CNH, HĐH và đô thị hóa đất nước Nềnvăn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, cốt lõi là lý tưởng độc lập dân tộc
và chủ nghĩa xã hội theo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,
Trang 27nhằm mục tiêu tất cả vì con người, vì hạnh phúc và sự phát triển, tự do toàndiện của con người, trong mối quan hệ hài hòa giữa cá nhân với tập thể, giữa
xã hội với tự nhiên bao gồm sự tiên tiến cả về những phương tiện, cách thứcbiểu hiện nội dung Đó cũng là nền văn hóa bao gồm cả văn hóa Đảng vàvăn hóa dân tộc phải quán triệt lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự lực tựcường của dân tộc, tinh thần đoàn kết cá nhân, gia đình với làng xã với Tổquốc; có lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình đạo lý; phát triển tínhcần cù trong lao động sáng tạo, có sự tinh tế trong ứng xử, giản dị trong lốisống, gắn văn hóa dân tộc với tinh hoa văn hóa nhân loại
Trong quá trình xây dựng và phát triển, do thể chế kinh tế thị trường ởViệt Nam có nhiều biến đổi mau lẹ, nó đã tác động đến toàn bộ nền văn hóa.Trước những biến động dữ dội của cơ chế thị trường nhiều chuẩn mực tốt đẹpcủa truyền thống văn hóa dân tộc bị mai một, các điểm nóng văn hóa xuấthiện trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội Nhận thức rõ trong quá trình xâydựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, trước những tácđộng của cơ chế thị trường, Đảng luôn luôn tăng cường và hoàn thiện đường lốichính trị làm cho các hoạt động văn hóa ngày càng sát với cơ chế thị trường.Đến Đại hội VII (1991), Đảng đã chỉ rõ vai trò và chức năng của văn hoá, vănhọc nghệ thuật trong thời kỳ đổi mới: bồi dưỡng đạo đức, tình cảm và năng lựcthẩm mỹ, thoả mãn nhu cầu văn hoá cho con người; Nghị quyết Trung ương 4khoá VII (14/01/1993), khẳng định văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, thểhiện tầm cao và chiều sâu về trình độ phát triển của một dân tộc
Đến Đại hội VIII (1996), tiếp tục khẳng định và bổ sung phát triểnNghị quyết Trung ương 4 khoá VII: Văn hoá là nền tảng tinh thần của xãhội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.Đặc biệt ngày 16/7/1998, Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ươngĐảng khoá VIII đã ra Nghị quyết chuyên đề về văn hoá, về xây dựng vàphát triển nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Đây là nghị
Trang 28quyết chuyên đề về sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hoá ViệtNam Trong thời kỳ mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóađất nước, Nghị quyết đưa ra những quan điểm thể hiện tập trung đườnglối văn hoá của Đảng, là tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt toàn bộ các hoạtđộng văn hoá trước mắt và lâu dài Phương hướng chung về nhiệm vụ xâydựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam là:
… Phát huy chủ nghĩa yêu nước, truyền thống đại đoàn kết dân tộc, ýthức độc lập tự chủ, tự cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủnghĩa, xây dựng và phát triển nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dântộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại, làm cho văn hoá thấm sâu vàotoàn bộ đời sống xã hội và hoạt động xã hội, vào từng người, từng giađình, từng tập thể và cộng đồng, từng địa bàn dân cư vào mọi lĩnh vựcsinh hoạt và quan hệ con người, tạo ra trên đất nước ta đời sống tinh thầncao đẹp, dân trí cao, khoa học phát triển, phục vụ đắc lực sự nghiệp côngnghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội côngbằng, văn minh, tiến bước vững chắc lên CNXH [10, tr 54]
Từ phương hướng nhiệm vụ chung, Nghị quyết Trung ương 5 xác định 5
quan điểm chỉ đạo quá trình xây dựng và phát triển nền văn hoá đó là: 1, Văn
hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy
sự phát triển kinh tế - xã hội; 2, Nền văn hoá mà chúng ta xây dựng là nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; 3, Nền văn hoá Việt Nam là nền văn hoá thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam; 4, Xây
dựng và phát triển văn hoá là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, trong
đó đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng; 5, Văn hoá là một mặt trận, xây
dựng và phát triển văn hoá là một sự nghiệp cách mạng lâu dài, đòi hỏi phải có ýchí cách mạng và sự kiên trì thận trọng
Trang 29Các quan điểm trên mang tính chiến lược cần phải quán triệt và thực hiệnlâu dài, với tư tưởng nhất quán xuyên suốt quá trình xây dựng và phát triển sựnghiệp văn hoá ở Việt Nam cùng với xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội.Những quan điểm này còn được tiếp tục phát triển và hoàn thiện qua cácđại hội và hội nghị BCHTW của Đảng Báo cáo Chính trị trình Đại hội IXcủa Đảng (4/2001) tiếp tục khẳng định:
Xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, vừa
là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội, mọihoạt động văn hoá nhằm xây dựng con người Việt Nam phát triển toàndiện về chính trị tư tưởng, trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo,
có ý thức cộng đồng, lòng nhân ái, khoan dung, tôn trọng nghĩa tình, lốisống có văn hoá, quan hệ hài hoà trong gia đình, cộng đồng và xã hội:Văn hoá trở thành nhân tố thúc đẩy con người tự hoàn thiện nhân cách,
kế thừa truyền thống cách mạng của dân tộc, phát huy tinh thần yêunước, ý thức tự lực, tự cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc [11, tr 38].Đại hội IX của Đảng tiếp tục khẳng định vị trí, vai trò đặc biệt quan trọngcủa văn hoá:
Thứ nhất, Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục khẳng định nền văn hoá mà
chúng ta đang xây dựng là nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Thứ hai, nền văn hoá mà chúng ta xây dựng là nền văn hoá theo định
hướng xã hội chủ nghĩa với những đặc trưng cơ bản là đại chúng, dân tộc, hiệnđại và nhân văn Bốn đặc trưng đó là sự khái quát cao nội dung “ tiên tiến và bảnsắc dân tộc” Đại hội IX (4/2001) chỉ rõ: Nhiệm vụ trọng tâm của sự nghiệp vănhoá là bồi dưỡng con người Việt Nam về trí tuệ, bản lĩnh, đạo đức, tâm hồn, tìnhcảm, lối sống, nhân cách, xây dựng thế giới quan khoa học, nhân sinh quan xãhội chủ nghĩa, hướng con người tới những giá trị chân - thiện - mỹ
Hội nghị lần thứ mười BCHTW khoá IX (5/7/2004), sau khi đánh giá 5năm thực hiện Nghị quyết BCHTW lần thứ năm khoá VIII đã xác định nhiệm
Trang 30vụ trọng tâm xây dựng, phát triển nền văn hoá, đồng thời đề ra những giải pháp
để tạo bước phát triển đồng bộ giữa văn hoá và kinh tế - xã hội Hội nghị xácđịnh mục tiêu cần đạt tới là tạo được sự phát triển đồng bộ về chất lượng vănhoá trên 4 nội dung:
Một là, đảm bảo sự gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm,
xây dựng, chỉnh đốn Đảng là then chốt với không ngừng nâng cao văn hoánền tảng tin thần của xã hội; tạo nên sự phát triển đồng bộ của ba lĩnh vựctrên chính là điều kiện quyết định bảo đảm cho sự phát triển toàn diện và bềnvững của đất nước Đây là bước phát triển và cụ thể hoá đường lối của Đảngtrong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước trên lĩnh vực văn hoá
Hai là, trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và giao lưu văn hoá, cùng
với việc tập trung xây dựng những giá trị mới của văn hoá Việt Nam đươngđại, cần tiếp tục đẩy mạnh công tác bảo tồn, kế thừa, phát huy các giá trị tốtđẹp của truyền thống văn hoá dân tộc và tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hoáthế giới, bắt kịp sự phát triển của thời đại
Ba là, phát huy bản sắc độc đáo và tính đa dạng của văn hoá các dân tộc,
làm phong phú nền văn hoá chung của cả nước, vừa kiên trì củng cố và nghiêncứu tính thống nhất trong đa dạng của văn hoá Việt Nam, đấu tranh chống cáckhuynh hướng lợi dụng văn hoá để chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc
Bốn là, nghiên cứu, nắm bắt kịp thời thành tựu của văn hoá thông tin hiện
đại, huy động mọi tiềm lực xã hội cho sự nghiệp văn hoá, chăm lo các tàinăng, chủ động có kế hoạch, chính sách cơ chế phù hợp để tạo điều kiện chovăn hoá phát triển vững chắc và đúng hướng trong thời kỳ mới
Những nội dung trên là cơ sở hình thành tư tưởng lý luận để xây dựng vàphát triển nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Phát triển quan điểm,mục tiêu về văn hoá của Đảng được các đại hội và hội nghị Trung ương trước
đó, đặc biệt là Nghị quyết BCH Trung ương lần thư năm khoá VIII, Nghịquyết BCH Trung ương lần thứ mười khoá IX xác định phát triển văn hoá,
Trang 31nền tảng tinh thần của xã hội là một trong những nhiệm vụ lớn của toàn Đảng,toàn dân và toàn quân trong những năm tới Các văn kiện của Đảng xác địnhtiếp tục, phát triển sâu rộng và nâng cao chất lượng nền văn hoá Việt Namtiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn với pháttriển kinh tế - xã hội, làm cho văn hoá thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đờisống xã hội xây dựng và hoàn thiện giá trị, nhân cách con người Việt Nam,bảo vệ và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc trong thời kỳ CNH, HĐH, hộinhập quốc tế Bồi dưỡng các giá trị văn hoá trong thanh niên, học sinh sinhviên, đặc biệt phẩm chất đạo đức, lối sống, năng lực trí tuệ và bản lĩnh vănhoá con người Việt Nam.
Trong quá trình lãnh đạo xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắcdân tộc là Đảng đã hoạch định được một chiến lược phát triển văn hóa đúngđắn, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới và phù hợp với bước tiến củathời đại Hai tiêu chí tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc là phản ánh mối liên
hệ giữa tính phổ biến và tính đặc thù của bản sắc văn hóa trong quá trình vậnđộng và phát triển Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, bản sắc văn hóa ViệtNam phải thực sự tiên tiến cả nội dung và hình thức, là hiện thân của chủnghĩa yêu nước và tiến bộ xã hội Bản sắc văn hóa đó phải kết hợp đượcnhững giá trị văn hóa truyền thống, tinh hoa của thời đại và đậm đà bản sắc
dân tộc Đó là những yếu tố bền vững của dân tộc được hun đúc qua hàng
ngàn năm lịch sử, làm nên cốt cách, bản lĩnh, bản sắc văn hóa dân tộc Pháthuy bản sắc văn hóa dân tộc trong cơ chế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa nhằm phát triển các giá trị đạo đức lên một tầm cao mới, tạo nên phẩmchất đạo đức phù hợp với quá trình phát triển của đất nước Giá trị đạo đứcmới gắn với lợi ích của từng cá nhân, mỗi gia đình và toàn xã hội, gắn với cáiđúng, cái đẹp, gắn với truyền thống lâu đời của dân tộc Giá trị phổ quát chân-thiện- mỹ trong bản sắc văn hóa Việt Nam hiện nay đã thấm nhuần chủ nghĩaMác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, ở đó lý tưởng về sự bình
Trang 32đẳng và công bằng xã hội được nâng lên tầm cao mới Việc phát huy bản sắcvăn hóa dân tộc chính là phát huy những phẩm giá tốt đẹp và bản lĩnh, kinhnghiệm của con người Việt Nam - chủ thể của sự nghiệp công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước
Sau Đại hội IX của Đảng, hội nhập quốc tế của Việt Nam ngày càng sâurộng, đã xuất hiện rất nhiều quan hệ văn hóa mới Từ thực tiễn đó, Đại hội Xcủa Đảng (2006), một mặt, khẳng định Việt Nam phải tiếp tục phát triển sâurộng và nâng cao chất lượng những quan hệ văn hóa trong mọi lĩnh vực củacuộc sống; mặt khác, đề xuất vấn đề hoàn thiện giá trị nhân cách con ngườiViệt Nam trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước nhằm giữ gìn các phẩm giá dântộc và phát huy phẩm giá, năng lực và thiên hướng của mọi cá nhân Cơ chếthị trường ở Việt Nam trong xu thế hội nhập đã phát triển rất đa dạng và phứctạp Đã tác động đến môi trường văn hóa của Việt Nam nóng lên bất thường ởmọi nơi từ nông thôn đến thành thị, từ miền ngược đến miền xuôi, từ cáctrung tâm kinh tế chính trị đến tận vùng sâu, vùng xa, nơi biên cương, hảiđảo, len lỏi vào từng gia đình, từng ngõ xóm, hẻm phố đến nơi công sở Đạihội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng (2011), xác định mục tiêu chunglà: xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướngđến chân, thiện, mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoahọc Văn hóa thực sự trở thành nền tảng vững chắc của xã hội, là sức mạnhnội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổquốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
Tóm lại, xuất phát từ điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, tình hình thựctiễn xây dựng văn hóa và đòi hỏi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa củatỉnh Hà Nam Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trên địabàn Tỉnh là tất yếu khác quan, là yêu cầu cấp thiết của Đảng bộ tỉnh Hà Nam,phù hợp với quy luật phát triển, với quan điểm, đường lối, chủ trương của
Trang 33Đảng Cộng sản Việt Nam và xu hướng hội nhập quốc tế Có ý nghĩa quyếtđịnh trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Tỉnh.
1.2 Chủ trương xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc của Đảng bộ tỉnh Hà Nam
Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là một trongnhững mục tiêu cơ bản của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng luôn xác địnhphát triển kinh tế là trọng tâm, xây dựng Đảng là then chốt, văn hóa là nềntảng tinh thần cho sự phát triển Xây dựng các chuẩn mực văn hóa của nềnvăn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc mà chúng ta hướng đến đó là, cáiđúng, cái tốt, cái đẹp và cái hợp lý Chuẩn mực cái đúng: một xã hội, mộtcộng đồng, một gia đình, một cá nhân có văn hóa trước hết phải sống và làmviệc theo Hiến pháp và pháp luật Hiến pháp và pháp luật là chuẩn mực, làthước đo, là công lý, là đạo đức, là truyền thống Sống bên ngoài pháp luật,sống bên trên pháp luật đều là không có văn hóa, một xã hội hiến pháp vàpháp luật không được đề cao là một xã hội có nền văn hóa thấp, một xã hộipháp luật không được tôn nghiêm là một xã hội có nền văn hóa đang suy đồi.Chuẩn mực cái đúng, còn là phải tôn trọng quy luật khách quan
Nhận thức rõ vị trí, tầm quan trọng giá trị văn hóa trong xây dựng phát triểnkinh tế - xã hội của địa phương, ngay từ khi tái thành lập tỉnh, Ban chấp hànhlâm thời Đảng bộ tỉnh Hà Nam đã ra Nghị quyết số 01-NQ/TU (02/01/1997)lãnh đạo những nhiệm vụ trọng tâm trước mắt, trong đó đã xác định:
Tiếp tục đẩy mạnh phát triển giáo dục, ở tất cả các nghành học, cấphọc, đặc biệt quan tâm xây dựng và bảo tồn các giá trị văn hóa truyềnthống Tích cực đấu tranh chống biểu hiện suy thoái đạo đức lối sống,tham nhũng, buôn lậu và các tệ nạn xã hội, xây dựng nếp sống văn hóalành mạnh mang bản sắc dân tộc truyền thống quê hương[ 12, tr 4].Đứng trước những tác động của mặt trái của cơ chế thị trường và tìnhhình tư tưởng của nhân dân sau khi tái thành lập tỉnh Các tệ nạn xã hội có
Trang 34chiều hướng gia tăng, đặc biệt các thủ tục lạc hậu trong ma chay, cưới xin gâynhiều phiền hà, lãng phí trong xã hội Trước tình hình đó, ngày 12/9/1998 BanThường vụ Tỉnh ủy ra Chỉ thị số 15 – CT/TU “Về việc thực hiện nếp sốngvăn hóa, thực hành tiếc kiệm trong việc cưới, việc tang, lễ hội và bài trừ mêtín dị đoan” Đồng thời ngày 8/10/1998, UBND Tỉnh ra Chương trình hànhđộng số 402/CT về thực hiện Nghị quyết hội nghị lần thứ 5 BCHTW (khóaVIII) về “ xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản
sắc dân tộc” đã xác định một số nhiệm vụ cơ bản: 1, Xây dựng đội ngũ cán
bộ, đảng viên và nhân dân có tư tưởng, đạo đức, lối sống lành mạnh Mở rộngcuộc vận động giáo dục chủ nghĩa yêu nước và phong trào “toàn dân đoàn kếtxây dựng đời sống văn hóa”, sâu rộng mọi tầng lớp xã hội, mọi ngành, mọi
cấp; 2, Hoàn thiện các cơ chế về văn hóa trong việc thực hiện các văn bản
pháp lý về hoạt động văn hóa Xây dựng được quy chế, quy ước, quy định vềcác vến đề: văn hóa, nếp sống văn hóa, quản lý văn hóa, hoạt động văn học
nghệ thuật; 3, Xây dựng kế hoạch đào tạo đội ngũ cán bộ làm văn hóa cho
những năn 2000, tạo nguồn cán bộ quản lý đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ
trong tình hình mới; 4, Chú trọng nâng cao đời sống văn hóa ở những vùng đời sống văn hóa còn thấp kém, nhất là những vùng xa trung tâm; 5, Xây
dựng phương án bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa vật thể và phivật thể Nghiên cứu, sưu tầm và bảo tồn những di sản văn hóa tinh thần tiêu
biểu và độc đáo ở các địa phương; 6, Nâng cao chất lượng các chương trình,
các ấn phẩm từng bước hiện đại hóa điện ảnh, xuất bản, thư vện, bảo tàng,nghệ thuật biểu diễn Phát triển văn hóa thông tin cơ sở phong phú đa dạng.Với những chủ trương đúng đắn, sáng tạo phù hợp với điều kiện hoàncảnh thực tiễn ở địa phương, bước đầu đã đạt được những kết quả nhất định.Song để đáp ứng với yêu cầu đòi hỏi của công cuộc đổi mới toàn diện củaTỉnh, trong đó có xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc của Tỉnh,Đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Nam lần thứ XVI (18/11/2000) với tầm nhìn chiến
Trang 35lược và định hướng phát triển văn hóa trong những năm đầu của thế kỷ XXI,Nghị quyết Đại hội Đảng bộ xác định:
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền Nghị quyết Hội nghị lần thứ nămBCHTW khóa VIII, tăng cường công tác quản lý nhà nước trên các lĩnhvực hoạt động, kiên trì giữ vững các định hướng quản lý hoạt động vănhóa Đẩy lùi các tệ nạn xã hội, tạo dựng môi trường văn hóa trong sạchlành mạnh Tạo điều kiện cho Nhân dân cống hiến và hưởng thụ văn hóa[13,tr.52]
Với chủ trương của Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ XVI, ngày12/01/2001 Sở văn hóa tỉnh Hà Nam ra Chương trình hành động số 381/CT-SVHTT, thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ XVI về xây dựng vănhóa, đã xác định những nhiệm vụ chủ yếu:
Một là, tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm BCHTW
(khóa VIII) về xây dựng phát triển văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắcdân tộc Thực hiện có hiệu quả các chương trình, mục tiêu văn hóa
Hai là, đẩy mạnh phong trào “ Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn
hóa” Chăm lo đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân, làm cho văn hóathấm sâu vào mọi lĩnh vực xã hội; tạo ra đời sống tinh thần cao đẹp, nhân ái
và nguồn lực mới phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội
Ba là, thực hiện tốt công tác bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa dân
tộc, văn hóa cách mạng Tuyên truyền giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻthông qua các hoạt động văn hóa
Bốn là, tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chủ trương xã hội hóa hoạt động văn
hóa theo tinh thần Nghị quyết 90/CP và Nghị định 73/NĐ – CP của chínhphủ, huy động mọi nguồn lực đầu tư cho văn hóa
Năm là, tiếp tục thực hiện tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho
đội ngũ cán bộ, đảng viên và Nhân dân về đạo đức lối sống lành mạnh, chống
tệ nạn tham ô, tham nhũng, thực hành tiết kiệm
Trang 36Đứng trước xu thế hội hập quốc tế mạnh mẽ, để bảo tồn những giá trị vănhoá truyền thống đang là một thách thức đối với tỉnh Hà Nam Trước đòi hỏicấp bách từ thực tiễn đặt ra, ngày 16/2/2003, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ra Chỉthị số 05- CT/TU “Về việc bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa vậtthể và phi vật thể”, với chủ trương khôi phục các di tích văn hóa đang bịxuống cấp, đồng thời phục dựng những lễ hội có giá trị văn hóa, các làn điệudân ca, các trò chơi dân gian đẩy mạnh công tác sưu tầm nghiên cứu các giátrị văn hóa mang bản sắc riêng của Tỉnh, tạo mọi điều kiện thuận lợi về cơ sởvật chất và kinh phí để khuyến khích các tổ chức, các nhà nghiên cứu vănhóa, các nghệ nhân, nghệ sĩ đi vào nghiên cứu, sưu tầm, biên soạn, sáng tác,biểu diễn Nhằm phát huy và bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống đồngthời tạo bước phát triển mới về văn hóa của tỉnh.
Sau 5 năm, thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Nam lần thứXVI, đã đạt được những thành tựu to lớn về kinh tế, văn hóa, xã hội, tạo tiền
đề cho Đảng bộ tỉnh Hà Nam xác định những chủ trương lớn trong phát triểnkinh tế, văn hóa, xã hội những năm tiếp theo Trong đó, văn hóa là nền tảngtinh thần cho sự phát triển, nên Đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Nam lần thứ XVII(12/2005) đã đánh giá kết quả hoạt động trên lĩnh vực văn hóa, chỉ ra những
ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân Trên cơ sở đó, Đại hội xác định phươnghướng, nhiệm vụ phát triển văn hóa trong những năm 2005 - 2010:
Tiếp tục quán triệt và thực hiện tốt Nghị quyết BCH Trung ương
5 khóa VIII (7/1998), kết luận Hội nghị lần thứ tư BCH Trung ươngkhóa IX (7/2004) về xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến,đậm đà bản sắc dân tộc Các hoạt động văn hóa nghệ thuật, tuyêntruyền, báo chí đổi mới cả nội dung và hình thức, nâng cao chấtlượng, kịp thời phục vụ nhiệm vụ chính trị của địa phương Đẩymạnh nghiên cứu sáng tác văn học, nghệ thuật, nâng cao mức hưởngthụ văn hóa của Nhân dân Chú trọng nâng cao văn hóa lãnh đạo,
Trang 37quản lý, thừa hành công vụ của cán bộ, Đảng viên, công chức và vănhóa nhân cách của thanh niên [14, tr.57].
Để đưa Nghị quyết Đại hội đi vào cuộc sống, ngày 09/02/2006 Sở vănhóa thông tin tỉnh Hà Nam ra Chương trình hành động số 391/CT- SVHTT,
về việc thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Nam lần thứ XVII, đãxác định những nhiệm vụ và giải pháp xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đàbản sắc dân tộc trên địa bàn Tỉnh
Nhiệm vụ Chương trình hành động số 391/ xác định:
Một là, tiếp tục tuyên truyền nâng cao nhận thức trong toàn Đảng bộ và nhân
dân tỉnh Hà Nam về truyền thống yêu nước, ý thức tự lực, tự cường, tinh thần đoànkết phấn đấu vươn lên làm giàu cho bản thân, gia đình và xã hội, quyết tâm đưatỉnh Hà Nam ra khỏi tình trạng tỉnh nghèo chậm phát triển, góp phần xây dựng conngười Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới với 5 đức tính được đề ra trongNghị quyết BCH Trung ương 5 (khoá VIII)
Hai là, xây dựng môi trường văn hoá và đời sống văn hoá cơ sở lành
mạnh, phong phú trước hết trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, các ngành, cácđoàn thể, các doanh nghiệp, trường học, bệnh viện, các cơ quan, đơn vị Hìnhthành nếp sống, lối sống lành mạnh của mọi người dân ở cơ sở, thôn xóm cộngđồng dân cư, cơ quan, đơn vị, địa phương, phát huy tinh thần tự nguyện, tính tựgiác và năng lực làm chủ của Nhân dân
Ba là, bảo tồn và phát huy những giá trị di sản văn hoá, coi trọng việc
sưu tầm, khai thác các giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể Tập trung hỗtrợ đầu tư tu bổ, tôn tạo, chống xuống di tích lịch sử văn hoá với danh lamthắng cảnh Bảo tồn văn hoá, văn nghệ, dân gian, nhất là khôi phục và tổchức các lễ hội dân gian đặc sắc Chú trọng bảo tồn và phát huy các di sảnvăn hoá truyền thống như lễ hội, dân ca, dân vũ, phong tục quán tốt tậpđẹp, kiến trúc truyền thống v.v
Trang 38Bốn là, phát huy có hiệu quả các nguồn lực, tập trung xây dựng củng cố
và hoàn thiện các thiết chế văn hoá đạt chuẩn quốc gia theo Quyết định số271/2001 ngày 31/10/2001 của Thủ tướng về phê duyệt quy hoạch phát triển
hệ thống thiết chế văn hoá cơ sở đến năm 2010
Đổi mới nội dung và phương thức quản lý nhà nước về văn hoá, tăngcường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động báo chí, xuấtbản, in phát hành, biểu diễn nghệ thuật, lễ hội, các loại hình hoạt động vănhoá và dịch vụ văn hoá, quản lý các di sản văn hoá theo Luật di sản văn hoá
Hai là, đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động văn hoá
Tổ chức triển khai thực hiện tốt Nghị quyết số 05/2001/NQ-CP củaChính phủ về đẩy mạnh xã hội hoá trong lĩnh vực văn hoá, huy động nhiềulực lượng trong xã hội tham gia, tạo nguồn lực cho phát triển văn hoá
Đẩy mạnh xã hội hoá huy động các nguồn lực vật chất và trí tuệ của toàn xãhội cho xây dựng và phát triển văn hoá Coi trọng việc khai thác trí tuệ, tiềm năngvăn hoá của nhân dân trong Tỉnh, khuyến khích đa dạng hoá cho đầu tư văn hoá
Ba là, củng cố, kiện toàn về tổ chức, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ văn hoá.
Tiếp tục, kiện toàn về tổ chức, nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt độngcủa cơ quan làm công tác văn hoá các cấp Xây dựng đội ngũ cán bộ làmcông tác văn hoá có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực chuyên
Trang 39môn, nghiệp vụ để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; đặc biệt coi trọngkiện toàn đội ngũ cán bộ văn hoá ở cơ sở theo tinh tinh thần Nghị định số114/2000/ND-CP và Nghị định số 121/2001/NĐ-CP của Chính phủ.
Bốn là, khai thác các nguồn lực, tăng cường đầu tư phát triển sự nghiệp văn hoá, thực hiện tốt các cơ chế chính sách của Nhà nước về phát triển văn hoá
Thực hiện tốt các cơ chế chính sách của Nhà nước về phát triển văn hoá,đồng thời, Tỉnh có cơ chế hỗ trợ trong việc phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, sửdụng các tài năng văn hoá - văn nghệ của Tỉnh và khuyến khích tạo điều kiện
để quần chúng nhân dân, đặc biệt là các văn nghệ sĩ sáng tạo được nhiều tácphẩm, công trình văn hoá nghệ thuật tiêu biểu có giá trị về tư tưởng và nghệthuật phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH quê hương đất nước
Khai thác có hiệu quả các nguồn lực, quan tâm đầu tư toàn diện cho vănhoá, nâng cấp đồng bộ hệ thống thiết chế văn hoá Tiếp tục đảm bảo kinh phícho các chương trình, mục tiêu phát triển văn hoá các cấp, giành ngân sách đầu
tư đúng mức cho việc xây dựng và phát triển văn hoá
Tranh thủ sự đầu tư hỗ trợ giúp đỡ của các bộ, ngành Trung ương đối với
sự nghiệp văn hoá của Tỉnh thông qua các dự án, các chương trình, mục tiêuquốc gia về văn hoá
Năm là, đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học về lĩnh vực văn hoá và ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật về lĩnh vực thông tin.
Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng các hoạt động nghiên cứu khoa học vềlĩnh vực văn hoá, thông qua việc tổ chức triển khai thực hiện các hội thảokhoa học, các công trình nghiên cứu về văn hoá, biên soạn xuất bản các tậpsan có giá trị về lịch sử và văn hoá truyền thống của Tỉnh Tăng cường sự hợptác giữa các cơ quan của Trung ương và Tỉnh trong việc nghiên cứu về di sảnvăn hoá của Tỉnh, đặc biệt là các dự án nghiên cứu về khảo cổ học, nghệ thuậtdân gian, lễ hội dân gian, di sản Hán - Nôm, tín ngưỡng dân gian, làng nghềtruyền thống, dân ca, dân vũ… Qua nghiên cứu, đánh giá đúng hiện trạng tiềm
Trang 40năng của kho tàng di sản văn hoá, xác định rõ đặc trưng văn hoá của tỉnh giúpcho việc xây dựng kế hoạch và những định hướng chiến lược lâu dài trong việcbảo tồn và phát huy di sản văn hoá của Tỉnh
Sáu là, đẩy mạnh phong trào thi đua xây dựng và phát triển văn hoá ở các cấp, các ngành, các địa phương, cơ sở.
Đẩy mạnh phong trào toàn dân xây dựng đời sống văn hoá; xây dựng vànhân các điển hình làm hay, làm tốt trong việc thực hiện nếp sống văn minhtrong việc cưới, việc tang, lễ hội ở mỗi địa phương Cấp uỷ và chính quyềncác cấp chỉ đạo nhân ra diện rộng, xây dựng thành nếp sống thường xuyên ở
cơ sở Đẩy mạnh cải cách hành chính ở các cơ quan Đảng và Nhà nước vớiphương châm phục vụ tốt nhất cho mục tiêu kinh tế - văn hóa xã hội của tỉnh.Trong những năm đầu của thế kỷ XXI, thế giới có những biến đổi mau lẹ,chủ nghĩa đế quốc đã bộc lộ bản chất hiếu chiến, chúng lợi dụng vấn đề dânchủ, nhân quyền, tôn giáo, chống khủng bố để can dự vào các quốc gia có chủquyền, chúng đã gây ra những cuộc chiến tranh xâm lược bằng nhiều hìnhthức và thủ đoạn tinh vi Trong đó có cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởngvăn hóa ngày càng diễn ra phức tạp
Trong nước các thế lực thù địch, các phần tử cơ hội, bất mãn đang ra sứcchống Đảng, chống chế độ với thủ đoạn tấn công trực diện vào hệ tư tưởngcủa Đảng, ra sức cổ súy cho trào lưu văn hóa phương Tây, lôi kéo tầng lớpthanh niên, học sinh, sinh viên tham gia các hoạt động do chúng tổ chức quacác trang mạng xã hội, nhằm làm cho học sinh, sinh viên xa rời mục tiêu lýtưởng, chạy theo lối sống hưởng thụ tầm thường Trong Tỉnh cũng đã xuấthiện, những hiện tượng suy thoái phẩm chất đạo đức, lối sống ở một bộ phậncán bộ, đảng viên và Nhân dân, các tệ nạn xã hội có biểu hiện gia tăng Trongbối cảnh đó Đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Nam lần thứ XVIII (10/2010) diễn ravới tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, làm nổi bật nhữngthành tựu, hạn chế và nguyên nhân, rút ra những bài học kinh nghiệm, đồng