1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LUẬN văn THẠC sĩ ĐẢNG bộ TỈNH bắc GIANG LÃNH đạo xây DỰNG NÔNG THÔN mới từ năm 2008 đến năm 2013

115 1K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 1,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nông nghiệp và kinh tế nông nghiệp là một bộ phận quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Xây dựng nông thôn là quá trình từ hàng ngàn năm lịch sử của người Việt Nam. Nhưng xây dựng nông thôn mới như mục tiêu Nghị quyết 26NQTW, theo Bộ tiêu chí quốc gia do Thủ tướng Chính phủ ban hành thì đây là lần đầu tiên đặt ra ở nước ta. Đó là chủ trương lớn và đúng đắn của Đảng nhằm phát triển toàn diện nền sản xuất nông nghiệp theo hướng hiện đại, góp phần làm thay đổi căn bản bộ mặt nông thôn và nông dân, từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nông dân phát triển kinh tế xã hội của đất nước và là nhiệm vụ chiến lược để đảm bảo ổn định chính trị, xã hội.

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

Chương 1: CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG

BỘ TỈNH BẮC GIANG VỀ XÂY DỰNG NÔNG

1.1 Yêu cầu khách quan và chủ trương của Đảng bộ tỉnh

Bắc Giang về xây dựng nông thôn mới (2008 - 2013) 101.2 Đảng bộ tỉnh Bắc Giang chỉ đạo xây dựng nông thôn mới 30

2.1 Nhận xét quá trình Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lãnh đạo

xây dựng nông thôn mới (2008 - 2013) 48

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nông nghiệp và kinh tế nông nghiệp là một bộ phận quan trọng trong nềnkinh tế quốc dân Xây dựng nông thôn là quá trình từ hàng ngàn năm lịch sử củangười Việt Nam Nhưng xây dựng nông thôn mới như mục tiêu Nghị quyết 26-NQ/TW, theo Bộ tiêu chí quốc gia do Thủ tướng Chính phủ ban hành thì đây làlần đầu tiên đặt ra ở nước ta Đó là chủ trương lớn và đúng đắn của Đảng nhằmphát triển toàn diện nền sản xuất nông nghiệp theo hướng hiện đại, góp phần làmthay đổi căn bản bộ mặt nông thôn và nông dân, từng bước nâng cao đời sốngvật chất, tinh thần cho nông dân phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và lànhiệm vụ chiến lược để đảm bảo ổn định chính trị, xã hội

Quán triệt sâu sắc chủ trương của Đảng tại Nghị quyết Hội nghị lần thứ

7 Ban Chấp hành Trung ương khóa X và Nghị quyết Đại hội đại biểu toànquốc lần thứ XI về vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn; Tỉnh ủy BắcGiang xác định xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của

cả hệ thống chính trị, với mục tiêu: Xây dựng nông thôn mới tỉnh Bắc Giang

có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và cáchình thức tổ chức sản xuất hợp lý, phát triển nông nghiệp với phát triển nhanhcông nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với phát triển đô thị theo quyhoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môitrường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất

và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao

Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh từ năm 2008 đến nay nông nghiệp,nông thôn tỉnh Bắc Giang đã có sự chuyển biến căn bản, tạo tiền đề vững chắcđưa Bắc Giang hòa nhập vào sự phát triển của đất nước Tuy nhiên, do nhiều lý

do khác nhau bên cạnh những thành tựu đã đạt được, quá trình lãnh đạo xây dựngnông thôn mới của tỉnh Bắc Giang vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập cần phải tậptrung khắc phục

Trang 3

Nghiên cứu làm sáng tỏ quá trình Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lãnh đạo xâydựng nông thôn mới từ năm 2008 đến năm 2013, trên cơ sở đó đánh giá ưu,khuyết điểm, làm rõ nguyên nhân và rút ra những kinh nghiệm để vận dụngtrong thời gian tới là việc làm cần thiết.

Vì lý do trên tác giả chọn đề tài " Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lãnh đạo xây dựng nông thôn mới từ năm 2008 đến năm 2013" làm đề tài luận văn thạc sĩ,

chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đề tài

Xây dựng nông thôn mới là một chủ trương lớn của Đảng, nhằm pháttriển kinh tế - xã hội nâng cao đời sống nông dân Xuất phát từ tầm quantrọng và tính thời sự của vấn đề, trong những năm qua đã có nhiều công trìnhkhoa học nghiên cứu đề cập ở các cấp độ và mức độ khác nhau Có thể chiathành các nhóm sau:

Nhóm các công trình nghiên cứu chung về nông nghiệp, nông dân, nông thôn trên phạm vi cả nước, tiêu biểu như:

Phan Đại Doãn và Nguyễn Quang Ngọc (Chủ biên, 1994), Kinh nghiệm tổ chức quản lý nông thôn Việt Nam trong lịch sử, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia,

Hà Nội Phạm Xuân Nam (Chủ biên, 1997), Phát triển nông thôn, Nhà xuất bản

Khoa học xã hội, Hà Nội Đây là một công trình nghiên cứu chuyên sâu về pháttriển nông thôn thời kỳ đổi mới Trong công trình này, tác giả đã phân tích khásâu sắc một số nội dung về phát kinh tế - xã hội nông thôn nước ta như dân số,lao động, việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế; vấn đề sử dụng và quản lý nguồnlực tài nguyên thiên nhiên; vấn đề phân tầng xã hội và xoá đói giảm nghèo

Lê Đình Thắng (Chủ biên, 1998), Chính sách nông nghiệp, nông thôn sau Nghị quyết số 10-NQ/TW năm 1988 của Bộ Chính trị, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Hồng Vinh (1998), Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội; Vũ Oanh (1998), Nông nghiệp và nông thôn trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hợp tác hóa, dân chủ hóa,

Trang 4

Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Hội thảo Khoa học kinh tế Việt

Nam (2002), Con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Nguyễn Sinh Cúc (2003), Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam thời kỳ đổi mới, Nhà xuất bản

Thống kê, Hà Nội Phạm Quốc Doanh (2003) "Chính sách đất đai và vấn đề

nông dân không đất để thực hiện công nghiệp hóa nông thôn", Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, số tháng 6; Nguyễn Sinh Cúc (2004), "Tổng quan nông nghiệp năm 2003", Tạp chí Nông thôn mới, số 108+109 (kỳ 1+2 tháng 1); Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2004), Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn Việt Nam, thực trạng và một số vấn đề đặt

ra, Nhà xuất bản Hà Nội Tăng cường năng lực hội nhập kinh tế quốc tế cho ngành nông nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng tổ chức Ausaid nghiên cứu đã đi sâu phân tích những quy định của WTO về thương mại nông sản Nguyễn Từ, Phùng Hữu Phú (Chủ biên, 2009), Vấn

đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn, kinh nghiệm Việt Nam, kinh nghiệm Trung Quốc, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Là dự án nghiên cứu

quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và tác động của nó đến phát triển nông

nghiệp Việt Nam Đặng Kim Sơn (2011), Công nghiệp hóa từ nông nghiệp

lý luận, thực tiễn và triển vọng áp dụng ở Việt Nam, Nhà xuất bản Nông nghiệp Đỗ Kim Chung và Kim Thị Dung (2012), Chương trình nông thôn mới ở Việt Nam - Một số vấn đề đặt ra và kiến nghị, Tham luận khoa học,

Hà Nội Vũ Văn Phúc (Chủ biên, 2012), Xây dựng nông thôn mới những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Gồm

33 bài viết nêu lên những vấn đề lý luận chung và kinh nghiệm quốc tế vềxây dựng nông thôn mới và thực tiễn xây dựng nông thôn mới ở các địaphương trong cả nước

Những công trình trên đã cung cấp những luận cứ, luận chứng, những dữliệu rất quan trọng cho việc hoạch định chính sách phát triển nông nghiệp, nôngthôn trong thời kỳ mới ở nước ta Song các công trình chưa đi sâu nghiên cứu

Trang 5

quá trình triển khai, áp dụng các chính sách về nông nghiệp, nông thôn nóichung và mô hình nông thôn mới nói riêng ở các địa phương đặc biệt là nhữngđịa phương có tiềm năng nông nghiệp như tỉnh Bắc Giang Tuy nhiên, nhữngkết quả nghiên cứu trên chính là cơ sở lý luận và thực tiễn quan trọng mà tácgiả có thể tiếp thu, kế thừa trong quá trình hoàn thành luận văn.

Nhóm các công trình nghiên cứu về nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở các địa phương, cơ sở có: Nguyễn Vũ Bình (1999), "Gia Lâm trên

con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn", Tạp chí Cộng sản, tháng 12; Tô Văn Song (2002), "Hải Dương chuyển dịch cơ cấu

kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa",

Tạp chí Lịch sử Đảng, tháng 12; Đỗ Xuân (2003), "Đảng bộ huyện Tiên Lãng

- Hải Phòng lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng

công nghiệp hóa, hiện đại hóa", Tạp chí Lịch sử Đảng, tháng 8; Nguyễn Văn

Giầu (2006), "Ninh Thuận tiếp tục đầu tư cơ sở hạ tầng, đẩy nhanh tiến trình

công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn", Tạp chí Cộng sản, tháng 6; Mai Thị Thanh Xuân (2003), Công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nông thôn các tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh, Luận án tiến sĩ Kinh tế, Hà Nội; Lê Minh Tùng (2003), Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn tỉnh An Giang, Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Địa lý học, Hà Nội; Vũ Thị Mười (2012), Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lãnh đạo xây dựng nông thôn mới 2001-

2010, Luận văn thạc sĩ Chính trị học, Hà Nội Đặng Thị Hoa (2012), Tìm hiểu tình hình triển khai hoạt động xây dựng nông thôn mới tại xã Hợp Đồng, Chương Mỹ, Hà Nội, Luận văn tốt nghiệp khoa Kinh tế nông thôn, Đại học Nông nghiệp Hà Nội Đỗ Thị Hà (2012), Đánh giá tình hình thực hiện chủ trương xây dựng nông thôn mới của nước nhà tại xã Phú Lâm, Tiên Du, Bắc Ninh, Luận văn tốt nghiệp chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp, Hà Nội Nguyễn Duy Cần, Trần Duy Phát (2012), Đánh giá mức độ đáp ứng theo "Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới" của xã Vĩnh Viễn, Long Mỹ, Hậu Giang, Tham luận khoa học, Đại học Cần Thơ Nguyễn Quốc Trị (2012),

Trang 6

Giải pháp đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới tỉnh Bắc Ninh, Luận văn thạc sĩ

Quản trị kinh doanh, Hà Nội Nguyễn Quang Ngọc (2013), "Quảng Nam đẩy

mạnh xây dựng nông thôn mới", Tạp chí Cộng sản, tháng 5 Hà Trang (2013),

"Xây dựng nông thôn mới ở đồng bằng sông Cửu Long, tầm nhìn 2020", Tạp chí Cộng sản, tháng 7 Huy Vũ (2013), "Cần Thơ sau 5 năm thực hiện Nghị

quyết Hội Nghị Trung ương 7 khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn",

Tạp chí Cộng sản, tháng 9 Quang Minh (2013), "Xây dựng nông thôn mới ở các tỉnh miền núi phía Bắc: Kết quả bước đầu và một số vấn đề đặt ra", Tạp chí Cộng sản, tháng 11; Minh Phước (2013), "Xây dựng nông thôn mới ở Cà Mau: Cần những giải pháp mang tính đột phá", Tạp chí Cộng sản, tháng 11.

Bùi Thanh Tuấn (2014), "Bức tranh nông thôn tỉnh Tuyên Quang sau năm năm

thực hiện nghị quyết Trung ương 7 khóa X", Tạp chí Cộng sản, tháng 3 Gia Bảo (2014), "Nam Định: Xây dựng nông thôn mới là một trong năm đột phá", Tạp chí Cộng sản, tháng 4; Nguyễn Đăng Quang (2014), "Xây dựng nông thôn mới

ở xã Chư Ă-Play Cu", Tạp chí Cộng sản, tháng 6

Nhóm các công trình nghiên cứu về nông nghiệp, nông dân, nông thôn ởcác địa phương, cơ sở đã luận giải có luận cứ, luận chứng khoa học về thựctrạng xây dựng nông thôn mới ở các địa phương, cơ sở trên phạm vi cả nước,tập trung vào những vấn đề nổi cộm nảy sinh, từ đó rút ra những kinh nghiệm

có giá trị về mặt lý luận và thực tiễn sâu sắc Qua đó cung cấp những sử liệuquan trọng để tác giả đánh giá, so sánh ưu thế của từng địa phương và nhận xétquá trình hoạch định chủ trương, chỉ đạo thực tiễn quá trình xây dựng nôngthôn mới của Đảng bộ tỉnh Bắc Giang

Nhóm các công trình nghiên cứu về nông nghiệp, nông thôn Bắc Giang có: Vũ Đức Trung (1996), Những định hướng cho việc chuyển dịch

cơ cấu kinh tế nông thôn tỉnh Hà Bắc, Luận án khoa học Kinh tế, Hà Nội; Nguyễn Văn Năng (2010), "Bắc Giang chung sức xây dựng nông thôn mới",

Cổng thông tin điện tử, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Bắc Giang; Lại Thanh

Sơn (2012), Triển khai kết quả bước đầu và những kiến nghị, đề xuất đối

Trang 7

với công tác xây dựng nông thôn mới của tỉnh Bắc Giang, Nhà xuất bản

Chính trị quốc gia, Hà Nội; Văn phòng huyện ủy Lạng Giang (2012), "Một

số kinh nghiệm bước đầu trong xây dựng nông thôn mới ở Lạng Giang",

Cổng thông tin điện tử huyện Lạng Giang - Bắc Giang, ngày 25 tháng 4;

Lương Hương (2014), "Yên Dũng đẩy nhanh tiến độ dồn điền, đổi thửa",

Cổng thông tin điện tử tỉnh Bắc Giang, ngày 23 tháng 3; Việt Hương

(2014), "Bắc Giang phấn đấu 34 xã đạt chuẩn nông thôn mới vào năm

2014", Cổng thông tin điện tử Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, ngày 2 tháng 3.

Những công trình và bài viết trên đây mới chỉ trình bày những địnhhướng, một số kết quả trong việc chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Giang vềchuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn dưới góc độ kinh tế chính trị hay xãhội học mà chưa có một công trình nào nghiên cứu độc lập, có hệ thống vềĐảng bộ tỉnh Bắc Giang lãnh đạo xây dựng nông thôn mới từ năm 2008 đếnnăm 2013 dưới góc độ Lịch sử Đảng Do vậy, đề tài mà tác giả lựa chọn vàthực hiện là vấn đề mới, không trùng lặp với các công trình đã công bố

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

*Mục đích nghiên cứu

Làm sáng tỏ quá trình Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lãnh đạo xây dựngnông thôn mới từ năm 2008 đến năm 2013 Rút ra những kinh nghiệm nhằmgóp phần thực hiện thắng lợi chủ trương xây dựng nông thôn mới trên địabàn tỉnh Bắc Giang trong những năm tới

*Nhiệm vụ nghiên cứu

- Làm rõ yêu cầu khách quan Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lãnh đạo xâydựng nông thôn mới (2008 – 2013)

- Trình bày có hệ thống chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnhBắc Giang về xây dựng nông thôn mới từ năm 2008 đến năm 2013

- Nhận xét và rút ra những kinh nghiệm bước đầu quá trình Đảng bộtỉnh Bắc Giang lãnh đạo xây dựng nông thôn mới từ năm 2008 đến năm 2013

Trang 8

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

*Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu hoạt động lãnh đạo xây dựng nông thôn mới của Đảng bộtỉnh Bắc Giang từ năm 2008 đến năm 2013

*Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Nghiên cứu chủ trương và sự chỉ đạo xây dựng nông

thôn mới của Đảng bộ tỉnh Bắc Giang

- Về thời gian: Từ năm 2008 đến năm 2013.

- Về không gian: Trên địa bàn tỉnh Bắc Giang.

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

* Phương pháp luận

Dựa trên phương pháp duy vật biện chứng; duy vật lịch sử của chủ

nghĩa Mác – Lênin và phương pháp luận sử học mácxít

*Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phương pháp lịch sử, phương pháp lôgic, kết hợpphương pháp lịch sử với phương pháp lôgic là chủ yếu, đồng thời kết hợp sửdụng một số phương pháp khác như: phân tích, so sánh, tổng hợp, thống kê

6 Ý nghĩa của đề tài

- Đề tài góp phần làm sáng tỏ vai trò lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh BắcGiang về xây dựng nông thôn mới

- Góp phần tổng kết quá trình lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh BắcGiang về xây dựng nông thôn mới

- Đề tài làm tài liệu tham khảo phục vụ giảng dạy, nghiên cứu Lịch sửĐảng ở các học viện, nhà trường trong và ngoài quân đội

7 Kết cấu của đề tài

Kết cấu của đề tài gồm: Mở đầu, 2 chương (4 tiết), kết luận, danh mụctài liệu tham khảo và phục lục

Trang 9

Chương 1 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH BẮC GIANG

VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TỪ NĂM 2008 ĐẾN NĂM 2013

1.1 Yêu cầu khách quan và chủ trương của Đảng bộ tỉnh Bắc Giang

về xây dựng nông thôn mới (2008 - 2013)

1.1.1 Yêu cầu khách quan lãnh đạo xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Bắc Giang

* Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của tỉnh Bắc Giang trước năm 2008 Địa lý hành chính: Bắc Giang là vùng đất cổ, có bề dầy lịch sử gắn bó

hữu cơ với cả nước trong quá trình dựng nước và giữ nước Trải qua các thời

kỳ lịch sử, tỉnh Bắc Giang ngày nay có nhiều tên gọi và quy mô địa giới hànhchính khác nhau

Thời kỳ Pháp thuộc ngày 10 tháng 10 năm 1895, Toàn quyền ĐôngDương ký quyết định thành lập tỉnh Bắc Giang gồm 2 phủ Đa Phúc, LạngGiang và 6 huyện Kim Anh, Yên Dũng, Phượng Nhỡn, Việt Yên, Hiệp Hòa,Yên Thế Tỉnh lỵ đặt tại Phủ Lạng Thương Ngày 8 tháng 1 năm 1896, trả lạihai huyện Đa Phúc và Kim Anh về tỉnh Bắc Ninh Đến trước Cách mạngTháng Tám năm 1945, tỉnh Bắc Giang có 3 phủ (Lạng Giang, Yên Thế, LụcNgạn), 4 huyện (Việt Yên, Hiệp Hòa, Yên Dũng, Sơn Động), 1 châu (HữuLũng) với 63 tổng, 453 xã

Trong kháng chiến chống Pháp, để tiện cho việc chỉ đạo, tháng 7năm 1947, Ủy ban hành chính khu XII cắt 10 xã tả ngạn sông Lục Nam chohuyện Lục Ngạn và huyện Sơn Động cùng với huyện Hải Chi (Hải Ninh)lập ra huyện Lục Sơn Hải trực thuộc liên tỉnh Quảng Hồng Năm 1955,huyện Sơn Động được cắt trả lại tỉnh Bắc Giang Ngày 19 tháng 7 năm

1956, huyện Hữu Lũng được cắt về tỉnh Lạng Sơn Ngày 27 tháng 1 năm

1957, Thủ tướng Chính phủ ra Nghị định số 24-TTg, chia Lục Ngạn, Sơn

Trang 10

Động thành ba huyện Sơn Động, Lục Ngạn và Lục Nam Ngày 6 tháng 11năm 1957, Thủ tướng Chính phủ ra Nghị định số 352-TTg chia huyện YênThế thành hai huyện Yên Thế và Tân Yên.

Ngày 24 tháng 2 năm 1942, tỉnh lỵ Bắc Giang đổi thành thị xã Phủ LạngThương Ngày 01 tháng 10 năm 1959, Thủ tướng Chính phủ ra Nghị định số552-TTg đổi tên thị xã Phủ Lạng Thương thành thị xã Bắc Giang Quốc hộikhóa II nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 27 tháng 10 năm 1962 ra nghịquyết sáp nhập hai tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh thành tỉnh Hà Bắc, tỉnh lỵ đặt tạithị xã Bắc Giang Tỉnh Hà Bắc chính thức hoạt động từ ngày 1 tháng 4 năm1963

Đến ngày 6 tháng 11 năm 1996, Quốc hội khóa IX nước Cộng hòa xãhội chủ nghĩa Việt Nam ra nghị quyết chia tỉnh Hà Bắc thành hai tỉnh BắcGiang và Bắc Ninh Tỉnh Bắc Giang chính thức đi vào hoạt động từ ngày 1tháng 1 năm 1997

Điều kiện tự nhiên: Bắc Giang là tỉnh miền núi, nằm ở phía Đông Bắc

Bắc Bộ, với diện tích 3.822 km2 Bắc Giang gồm có 09 huyện (Sơn Động, LụcNgạn, Lục Nam, Yên Thế, Lạng Giang, Tân Yên, Hiệp Hòa, Việt Yên, YênDũng) và thành phố Bắc Giang; 230 xã, phường, thị trấn (203 xã, 10 phường,

16 thị trấn) Tỉnh Bắc Giang nằm ở tọa độ 220 - 21027' vĩ Bắc, 1050 53'

-106011' kinh Đông, phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Lạng Sơn, phía Tây vàTây Bắc giáp tỉnh Thái Nguyên, phía Nam và Tây Nam giáp tỉnh Hải Dương,Bắc Ninh và Thành phố Hà Nội, phía Đông giáp tỉnh Quảng Ninh Vị trí củaTỉnh nằm trên hành lang kinh tế Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng - QuảngNinh, cạnh tam giác kinh tế trọng điểm phía Bắc (Hà Nội - Hải Phòng -Quảng Ninh) rất thuận lợi cho việc phát triển và liên kết vùng Thành phố BắcGiang (thủ phủ của tỉnh) cách Thủ đô Hà Nội 50 km; cách cửa khẩu HữuNghị Lạng Sơn 110 km; cách sân bay quốc tế Nội Bài 50km; cách cảng biểnHải Phòng và cảng biển nước sâu Cái Lân - Quảng Ninh 130 km Từ đây cóthể dễ dàng lưu thương với các nước trong khu vực và trên thế giới

Trang 11

Bắc Giang có tiềm năng lớn về đất đai nhất là đồi rừng, có nhiều thuậnlợi cho việc trồng cây lương thực, thực phẩm, cây ăn quả, cây công nghiệpngắn ngày và dài ngày hay chăn nuôi gia súc, gia cầm Địa lý tự nhiên BắcGiang chia thành hai vùng: vùng rừng núi và vùng trung du Các huyện vùngnúi gồm: Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Thế, Tân Yên, Lạng Giang vàYên Dũng Các huyện trung du gồm: Hiệp Hòa, Việt Yên và thành phố BắcGiang Đó là điều kiện tốt cho một nền nông nghiệp phát triển phong phú,

đa dạng Hiện nay ở Tỉnh đã hình thành những vùng trồng lúa, lạc, chè,thuốc lá, đậu tương có năng suất chất lượng cao như huyện: Việt Yên,Hiệp Hòa, Tân Yên, Yên Thế Trong chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vậtnuôi, Bắc Giang đã trở thành vùng quê nổi tiếng về vải thiều (Lục Ngạn),

gà đồi (Yên Thế) góp phần xóa đói giảm nghèo đi đến ấm no, tạo nên sựtrù phú của nhiều làng quê

Bắc Giang có nhiều sông ngòi, phân bố đều giữa các vùng Sông Lục Nam(Minh Đức), bắt nguồn từ Đình Lập (Lạng Sơn) chảy qua các huyện Sơn Động,Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Dũng rồi nhập vào Sông Thương Sông Cầu (NhưNguyệt) bắt nguồn từ tỉnh Bắc Cạn, chảy qua Thái Nguyên rồi vào Bắc Giang

Ngoài ba con sông lớn trên, Bắc Giang còn có hàng trăm con suối, ngòilớn nhỏ chạy đan xen giữa các vùng Bắc Giang có hơn 20 loại hình khoángsản, khoảng 40 loại mỏ trung bình và nhỏ gồm đồng, vàng, sắt, chì, kẽm, thủyngân phong phú hơn cả vẫn là nhóm nguyên, nhiên liệu gồm than đá, thanbùn, các loại nguyên vật liệu cung cấp cho ngành công nghiệp hóa chất, gốm

sứ, vật liệu xây dựng

Khí hậu Bắc Giang mang những đặc trưng của vùng khí hậu chuyểntiếp, vừa có tính nhiệt đới nóng ẩm, vừa có tính chất Á nhiệt đới Nhiệt độtrung bình hàng năm là 240C, lượng mưa trung bình 1.485 mm Hiện nay,rừng của Bắc Giang có 110.600 ha (trong đó rừng tự nhiện có 63.832,41 ha,rừng mới trồng mới có 46.837,65 ha) tập trung chủ yếu ở các huyện SơnĐộng, Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Thế

Trang 12

Nhìn chung, điều tự nhiên của Bắc Giang thuận lợi cho sản xuất nông lâm nghiệp Các ngành kinh tế khác như giao thông vận tải, thương mại, côngnghiệp, tiểu thủ công nghiệp cũng có những điều kiện thuận lợi đảm bảo chophát triển cũng như trong quá trình xây dựng nông thôn mới của Tỉnh.

Dân cư: Dân số toàn tỉnh đến năm 2011 là "gần 1,6 triệu người, trong

đó 90,4% dân cư sống ở khu vực nông thôn Lao động trong lĩnh vực nông lâm thủy sản chiếm trên 68%" [72, tr.1] Mật độ dân số bình quân là 408,1người/km2, cao hơn so với bình quân của khu vực và cả nước Dân số sống ởkhu vực thành thị khoảng 151.000 người, chiếm khoảng 9,6% dân số, dân số

-ở khu vực nông thôn là 1.416.614 người, chiếm 90,4% Số người trong độtuổi lao động chiếm khoảng 64,15% dân số, trong đó lao động được đào tạonghề chiếm 31%

Đặc điểm phân bố dân cư không đều, phần lớn ở khu vực trung du (thànhphố Bắc Giang bình quân 2.186 người/km2); huyện Hiệp Hòa bình quân 1.045người/km2; huyện Việt Yên bình quân 936,9 người/km2; huyện Tân Yên bìnhquân 774,7 người/km2; huyện Lạng Giang bình quân 802,7 người/km2; huyệnYên Dũng bình quân 739,9 người/km2 Các huyện miền núi dân cư sống thưathớt ( huyện Sơn Động bình quân 82,2 người/km2 ; huyện Lục Ngạn bình quân203,8 người/km2; huyện Yên Thế bình quân 313,8 người/km2) Gồm 26 dân tộc,trong đó người kinh đông nhất (88%) Các dân tộc Nùng, Tày, Sán Chỉ, Sán Dìu,Hoa, Dao có dân số trên 1.000 người và 19 dân tộc khác có dân số dưới 1.000người Mật độ dân số trên 400 người/km2 Bắc Giang đứng thứ 32 về diện tích,thứ 16 về dân số và thứ 22 về mật độ dân số trong cả nước

Cư dân Bắc Giang sinh sống bằng nghề nông là chủ yếu, một số địaphương có làng nghề truyền thống còn duy trì đến ngày nay Cơ cấu lao độnggiữa các khu vực sản xuất công nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp đang có sựthay đổi theo quá trình thay đổi của Tỉnh

Trang 13

Truyền thống: Nhân dân các dân tộc tỉnh Bắc Giang có truyền thống

yêu nước chống giặc ngoại xâm kiên cường bất khất Trong suốt hàng ngànnăm dựng nước và giữ nước, vùng đất Bắc Giang đã trở thành chiến trườngcủa quân và dân nước ta chống lại các cuộc xâm lược của các triều đại phongkiến phương Bắc Trong thời kỳ giành chính quyền Bắc Giang là một trongnhững tỉnh tiến hành cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công sớmnhất trong toàn quốc Bước vào cuộc kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp,

đáp lại lời kêu gọi thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ", quân và

dân Bắc Giang đã cùng với quân và dân cả nước vượt lên muôn vàn khó khăn,gian khổ, hy sinh và đã giành thắng lợi vẻ vang, góp phần ghi tiếp những chiếncông chói lọi vào trang sử vàng chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, hàng triệu lượt ngườitrong Tỉnh đã được huy động phục vụ trực tiếp hoặc gián tiếp cho cuộc khángchiến Ở tiền tuyến, nhiều người con của tỉnh Bắc Giang đã lập công xuất sắc

Ở hậu phương, Nhân dân đã thi đua thực hiện thắng lợi khẩu hiệu: "Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người" Trong cuộc chiến đấu ấy,

hàng vạn người con Bắc Giang đã hy sinh anh dũng, biết bao tấm gương tiêubiểu của chủ nghĩa anh hùng cách mạng đã trở thành biểu tượng của lẽ sống,niềm tin của Nhân dân ta Nhiều tên đất, tên người đã tạc vào lịch sử

Nhân dân Bắc Giang có tinh thần đoàn kết, tương thân, tương ái Donhững đặc điểm về vị trí, địa hình và do những biến cố lịch sử, đất Bắc Giangtrở thành một trong những nơi hội tụ của nhiều luồng cư dân đến sinh sống,lập nghiệp Nhưng dù đến Bắc Giang trong hoàn cảnh nào, họ đều sớm hòanhập vào một cộng đồng, cùng nhau chung lưng đấu cật xây dựng làng xóm,tương trợ giúp đỡ nhau sản xuất và trong cuộc sống Cộng đồng dân cư ở BắcGiang gồm 26 dân tộc anh em trong cộng đồng dân tộc Việt Nam sống đoànkết bên nhau Giữa các dân tộc có bản sắc riêng nhưng có nhiều phong tục tậpquán chung Trong thời kỳ đấu tranh cách mạng, Nhân dân các dân tộc đùm

Trang 14

bọc, nuôi giấu và giúp đỡ cán bộ cách mạng Nhiều phong trào đấu tranh,phong trào tương thân tương ái do Đảng lãnh đạo được Nhân dân ra sức ủng

hộ ngày nay truyền thống đoàn kết quý báu đó tiếp tục được phát huy pháttriển ngày càng phong phú, rực rỡ hơn

Nhân dân Bắc Giang có truyền thống lao động cần cù và sáng tạo Lịch

sử chứng minh vùng đất Bắc Giang cách đây hàng vạn năm đã có con ngườikhai phá và sinh sống Quá trình đó để lại nhiều dấu ấn trong các câu chuyện

mở làng, lập ấp và đã tạo nên những xóm làng trù phú, cổ kính ven các triền

đê sông Cầu, sông Thương, sông Lục Nam Trải qua bao thế kỷ khai phá vàcải tạo, các thế hệ người Bắc Giang đã tạo ra những cánh đồng mầu mỡ suốt từxuôi lên miền núi để cấy lúa, trồng hoa mầu và các loại cây ăn quả Từ qúa trìnhlao động đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý báu trong phát triển, thâm canhnông nghiệp đã hình thành một số vùng sản xuất hàng hóa tập trung lớn, có giátrị kinh tế cao như: vải thiều Lục Ngạn, gà đồi Yên Thế, lúa thơm Yên Dũng

Ngoài nghề nông, từ xa xưa, Bắc Giang đã hình thành những làng nghềthủ công truyền thống: gốm Thổ Hà, rượu Làng Vân, bánh đa Kế, đan látPhúc Long, Phúc Tằng, rèn sắt Đức Thắng, Ninh Khánh, bún Đa Mai Nhữngmặt hàng thủ công của Bắc Giang khá nổi tiếng, không chỉ cung cấp cho nhândân trong vùng mà còn có mặt ở nhiều nơi trong cả nước

Người Bắc Giang không chỉ giỏi làm ruộng mà còn thạo buôn bán Từthời phong kiến, trên đất Bắc Giang đã xuất hiện những trung tâm trao đổihàng hóa (chợ), nhiều nhất vào thời Lê, Nguyễn như chợ Thổ Hà (Việt Yên)vào loại lớn nhất Kinh Bắc thời Lê; chợ Đức Thắng (Hiệp Hòa); chợ Kế; chợPhú Xuyên (Lạng Giang), chợ Vô Tranh (Lục Nam); chợ Hữu Mục (TânYên) Điều này chứng tỏ việc sản xuất, buôn bán trong vùng rất tấp nập

Ngoài ra, Bắc Giang là mảnh đất có bề dày truyền thống văn hóa và hiếuhọc Đây là thành quả của hàng nghìn năm lao động sáng tạo, đấu tranh kiêncường xây dựng và bảo vệ quê hương, đất nước, là kết quả giao lưu và hội tụvới văn hóa của nhiều dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam Truyền

Trang 15

thống văn hóa của Nhân dân Bắc Giang không ngừng phát huy, phát triển kếttinh sâu đậm trong tâm hồn, khí phách của mỗi người dân Bắc Giang Tự hào

về truyền thống quê hương, đất nước, Nhân dân Bắc Giang đã và đang ra sứcquyết tâm xây dựng cuộc sống ngày càng ấm no, tự do, hạnh phúc

Những đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội nêu trên chothấy, Bắc Giang vừa có nhiều thuận lợi, vừa có nhiều khó khăn trong quátrình triển khai thực hiện chủ trương của Đảng về xây dựng nông thôn mới

Về thuận lợi là Tỉnh có bề dày truyền thống yêu nước, cách mạng và truyềnthống văn hóa; Nhân dân cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất Các thế

hệ người Bắc Giang đã tạo ra những cánh đồng mầu mỡ suốt từ xuôi lênmiền núi để cấy lúa, trồng hoa mầu và các loại cây ăn quả Từ quá trình laođộng đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý trong phát triển, thâm canhnông nghiệp, hình thành một số vùng sản xuất hàng hóa tập trung lớn, cógiá trị kinh tế cao như: vải thiều Lục Ngạn, gà đồi Yên Thế, lúa thơm YênDũng Đó là những điều kiện thuận lợi cho quá trình xây dựng nông thônmới Bên cạnh đó Bắc Giang là tỉnh miền núi, địa hình chia cắt, dân cưphân bố không tập trung, đời sống Nhân dân khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo lớn(khoảng 26,6%, 36 xã đặc biệt khó khăn (trừ các xã ATK) tỷ lệ hộ nghèo là40,8%) nên khó khăn trong việc huy động vốn đối ứng thực hiện Chươngtrình Ở nông thôn còn nhiều vấn đề bức xúc: Vệ sinh môi trường, đặctrưng nông thôn đang bị mai một, an ninh trật tự còn tiềm ẩn nhiều yếu tốphức tạp, ảnh hưởng đến việc hoàn thành các tiêu chí này Nhận diện đúngthuận lợi, khó khăn là một trong những cơ sở để Đảng bộ tỉnh Bắc Giangquán triệt chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, đề ra nhiệm vụ, mụctiêu, giải pháp xây dựng nông thôn mới sát hợp với đặc điểm của địa phương

*Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về xây dựng nông thôn mới Quan niệm về nông thôn: Theo Điều 1 Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT

ngày 21 tháng 8 năm 2009 của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn: "Nông

Trang 16

thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị của thành phố, thị xã, thị trấnđược quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân xã" [7, tr.123].

Quan niệm về nông thôn mới: Là nông thôn có kinh tế phát triển,

mà trong đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của người dân nông thônkhông ngừng được nâng cao, giảm dần sự cách biệt giữa nông thôn vàthành thị Nông dân được đào tạo, tiếp thu các tiến bộ kỹ thuật tiên tiến,

có bản lĩnh chính trị vững vàng, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới.Nông thôn mới có kinh tế phát triển toàn diện, bền vững, cơ sở hạ tầngđược xây dựng đồng bộ, hiện đại, phát triển theo quy hoạch, gắn kết hợp

lý giữa nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ và đô thị Nông thôn ổnđịnh, giàu bản sắc văn hóa dân tộc, môi trường sinh thái được bảo vệ Sứcmạnh của hệ thống chính trị được nâng cao, đảm bảo giữa vững an ninhchính trị và trật tự xã hội

Quan niệm của Đảng về xây dựng nông thôn mới: Quy hoạch phát triển

nông thôn và phát triển đô thị và bố trí các điểm dân cư Phát triển mạnh côngnghiệp, dịch vụ và làng nghề gắn với bảo vệ môi trường Triển khai Chươngtrình xây dựng nông thôn mới phù hợp với đặc điểm từng vùng theo các bước

đi cụ thể, vững chắc trong từng giai đoạn; giữ gìn và phát huy truyền thốngvăn hóa tốt đẹp của nông thôn Việt Nam Đẩy mạnh xây dựng kết cấu hạ tầngnông thôn Tạo môi trường thuận lợi để khai thác mọi tiềm năng đầu tư vàonông nghiệp và nông thôn, nhất là đầu tư của các doanh nghiệp nhỏ và vừa,thu hút nhiều lao động

Như vậy, nông thôn mới được phân biệt với thị tứ, đó là nông thôn mới,khác với nông thôn truyền thống Nông thôn mới bao hàm cơ cấu và chứcnăng mới, đó là chức năng sản xuất nông nghiệp hiện đại; chức năng giữ gìnvăn hóa truyền thống và chức năng sinh thái Nông thôn mới là nông thônViệt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, được xây dựnghướng tới Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới

Trang 17

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng xác định mục tiêuxây dựng nông thôn mới là: "Xây dựng nông thôn mới ngày càng giàu đẹp,dân chủ, công bằng, văn minh, có kết cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất phùhợp, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phát triển ngày càng hiện đại" [39, tr.90].

Cụ thể hóa chủ trương của Đại hội X, Hội nghị Trung ương lần thứ bảy(Khóa X) ra Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 5 tháng 8 năm 2008 đã nêu mộtcách toàn diện về vị trí, vai trò của nông nghiệp, nông thôn: "Nông nghiệp,nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hoá,hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng

để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo

an ninh, quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và bảo vệ môitrường sinh thái của đất nước" [12, tr.48]

Nghị quyết 26/NQ-TW nhấn mạnh: các vấn đề nông nghiệp, nông dân,nông thôn phải được giải quyết đồng bộ, gắn với quá trình đẩy mạnh côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nôngnghiệp, nông thôn là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quá trình côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Trong mối quan hệ mật thiết giữa nôngnghiệp, nông dân và nông thôn, nông dân là chủ thể của quá trình phát triển,xây dựng nông thôn mới gắn với xây dựng các cơ sở công nghiệp, dịch vụ vàphát triển đô thị theo quy hoạch là căn bản; phát triển toàn diện, hiện đại hóanông nghiệp là then chốt

Phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống vật chất, tinhthần của nông dân phải dựa trên cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa, phù hợp với điều kiện của từng vùng, từng lĩnh vực, để giải phóng

và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực xã hội, trước hết là lao động, đất đai,rừng và biển; khai thác tốt các điều kiện thuận lợi trong hội nhập kinh tế quốc

tế cho phát triển lực lượng sản xuất trong nông nghiệp, nông thôn; phát huycao nội lực; đồng thời tăng mạnh đầu tư của Nhà nước và xã hội, ứng dụng

Trang 18

nhanh các thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến cho nông nghiệp, nôngthôn, phát triển nguồn nhân lực, nâng cao dân trí nông dân

Quan điểm đó của Đảng là sự kế thừa và phát huy những bài học kinhnghiệm lịch sử phát huy sức mạnh toàn dân, huy động mọi nguồn lực để tạo

ra sức mạnh tổng hợp xây dựng nông thôn mới Về xây dựng nông thôn mớiđược Đảng ta khẳng định: "Xây dựng nông thôn mới là xây dựng kết cấu hạtầng kinh tế xã hội hiện đại ở nông thôn; xây dựng cơ cấu kinh tế và các hìnhthức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn với nông nghiệp phát triển nhanh côngnghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch" [37, tr.2] Xây dựng giai cấp nôngdân, củng cố liên minh công nhân - nông dân - trí thức vững mạnh; khôngngừng nâng cao đời sống vật chất tinh thần của cư dân nông thôn, hài hòagiữa các vùng, tạo sự chuyển biến nhanh hơn ở các vùng còn khó khăn; nôngdân được đào tạo có trình độ sản xuất ngang bằng với các nước tiên tiến trongkhu vực và đủ bản lĩnh chính trị, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xãhội (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định xây dựng nông thôn mới lànhiệm vụ quan trọng trong định hướng phát triển kinh tế - xã hội của đấtnước Nghị quyết Đại hội XI của Đảng đã nêu rõ: "Tiếp tục triển khai Chươngtrình xây dựng nông thôn mới phù hợp với đặc điểm từng vùng theo các bước

đi cụ thể, vững chắc trong từng giai đoạn, giữ gìn và phát huy nét văn hóa bảnsắc của nông thôn Việt Nam" [40, tr.123]

Từ chủ trương của Đảng, Chính phủ đã cụ thể hóa bằng Nghị quyết số24/2008/NQ-CP ngày 28 tháng 10 năm 2008 ban hành Chương trình hành độngcủa Chính phủ về phát triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn Quyết định số491/QĐ-TTg ngày 16 tháng 4 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành

Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới Theo đó, đối với xã nông thônmới gồm 19 tiêu chí theo 05 nhóm: "Quy hoạch; Hạ tầng kinh tế - xã hội; Kinh tế

và tổ chức sản xuất; Hệ thống chính trị Huyện nông thôn mới có 75% số xã tronghuyện đạt nông thôn mới; tỉnh nông thôn mới có 80% số huyện trong tỉnh đạt

Trang 19

nông thôn mới" [7, tr.10] Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 4 tháng 6 năm 2010của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về xâydựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020 với mục tiêu: "Đến năm 2015 có 20%

số xã đạt chuẩn nông thôn mới Đến năm 2020 có 50% số xã đạt chuẩn nông thônmới (theo Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới)" [65, tr.1]

Những chủ trương, chính sách trên đây của Đảng và Nhà nước là cơ sởnền tảng để Đảng bộ tỉnh Bắc Giang quán triệt, cụ thể hóa thành chủ trươnglãnh đạo, chỉ đạo xây dựng nông thôn mới phù hợp với đặc điểm, khả năngthực tế của địa phương

* Thực trạng nông thôn tỉnh Bắc Giang trước năm 2008

Trước những tác động chi phối của các yếu tố, nhất là những khó khăn,thách thức đặt ra nhưng quá trình xây dựng nông thôn mới của tỉnh Bắc Giangvẫn đạt được nhiều thành tựu to lớn, tạo nền tảng vững chắc cho việc xây dựngnông thôn mới của tỉnh trong thời gian tới

Thành tựu trong xây dựng nông thôn tỉnh Bắc Giang trước năm 2008 đượcthể hiện rõ trong phần đánh giá khái quát của Chương trình hành động số 47-CTr/

TU ngày 3 tháng 10 năm 2008 của Tỉnh ủy Bắc Giang về nông nghiệp, nông dân,nông thôn

Về thành tựu, Chương trình hành động chỉ rõ: "Thực hiện đường lốiđổi mới của Đảng, những năm qua, Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhândân tỉnh đã thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và đầu tư cho phát triểnnông nghiệp, nông thôn Do đó tình hình nông nghiệp, nông dân và nông thôncủa Tỉnh có những bước phát triển" [70, tr.1]

Tốc độ tăng giá trị sản xuất bình quân giai đoạn 2001-2007 đạt7,75%/năm; tỷ trọng trồng trọt đã giảm 6,2% còn 59,9%, chăn nuôi tăng 6,6%

so với năm 2001 lên 37%; đã hình thành một số vùng sản xuất hàng hóa như:vải thiều, lạc, lúa thâm canh cao và lúa thơm hàng hóa, rau quả chế biến,nguyên liệu gỗ; đàn gia cầm của tỉnh gần 12 triệu con; đàn lợn đạt 1 triệu con,

an ninh lương thực được đảm bảo

Trang 20

Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và ngành nghề, dịch vụ nông thônđược khôi phục và phát triển, tạo việc làm trên 2,1 vạn hộ gia đình Các thànhphần kinh tế được tạo điều kiện phát triển; đã có thêm 2.549 trang trại so vớinăm 2001, đã xuất hiện một số mô hình chăn nuôi bán công nghiệp và côngnghiệp; các hợp tác xã nông nghiệp được chuyển đổi và hoạt động có hiệuquả hơn; đến nay cơ bản hoàn thành việc sắp xếp, đổi mới các doanh nghiệpnhà nước trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp; công nghiệp chế biến nông lâm,thuỷ sản đang có chiều hướng phát triển mạnh.

Kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội ở nông thôn được tăng cường: cơ sở hạ tầng

về thuỷ lợi trên địa bàn 202 xã hiện có 607 trạm bơm; trong đó đạt yêu cầu 233trạm Có 710 hồ chứa, đập dâng đáp ứng được 85% nhu cầu nước cho sản xuất;

có 348 hố chứa, đập dâng đạt yêu cầu Tổng chiều dài kênh mương do xã quản lý

là 5.553 km, đã kiên cố hóa 1.730 km đạt tỷ lệ 31% Công tác thủy lợi đảm bảotưới tiêu cho 80% diện tích canh tác Giao thông các xã hiện có 15.194 km đườnggiao thông nông thôn, đã cứng hóa 7.293 km đạt 48% Trong đó: đường trục xã là1.540 km; đã cứng hóa 1.176 km chiếm tỷ lệ 76% Đường trục thôn có 4.435 km;

đã cứng hóa 2.540 km, chiếm tỷ lệ 57% Đường trục chính nội đồng có 2.812 km;

đã cứng hóa 499km, chiếm tỷ lệ 18% Đến năm 2013 đã có 100% xã có đườnggiao thông đến trung tâm xã Các trạm y tế xã được xây dựng tương đối kiên cố,

tỷ lệ xã đạt chuẩn quốc gia về y tế là 194/202 đạt 96% Tỷ lệ người tham gia bảohiểm y tế là 48% Giáo dục phổ cập tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập trung học

cơ sở là 100% Tỷ lệ học sinh đỗ tốt nghiệp trung học cơ sở tiếp tục học trung họcphổ thông, trung học bổ túc, học nghề là 84% Tỷ lệ lao động nông thôn qua đàotạo đạt 31% Tỷ lệ xã có điểm bưu điện văn hóa là 100%; tỷ lệ xã có điểm truycập Internet là 100%; tỷ lệ thôn có điểm truy cập Internet là 87%; tỷ lệ diện tíchtoàn tỉnh được phủ sóng phát thanh, sóng truyền hình là 100% và các công trìnhvăn hóa xã hội khác được đầu tư cải tạo, nâng cấp và xây dựng mới , bộ mặtnông thôn có nhiều thay đổi; đời sống vật chất và tinh thần của nông dân ở hầu hếtcác vùng nông thôn ngày càng được cải thiện Công tác xoá đói giảm nghèo đạtkết quả khá, tỷ lệ hộ nghèo đến hết năm 2007 còn 21,28%, tỷ lệ sử dụng thời gian

Trang 21

sử dụng lao động ở khu vực nông thôn tăng từ 82% lên 87% Hệ thống chính trị ởnông thôn được củng cố và tăng cường, an ninh chính trị được giữ vững.

Theo Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới và Bộtiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới Qua phân tích thực trạng nông thôncủa tỉnh theo 19 tiêu chí thấy rằng:

Các xã thuộc các huyện, thành phố vùng thấp như: thành phố Bắc Giang,huyện Việt Yên, huyện Yên Dũng có tỷ lệ đạt các tiêu chí cao, trong khi các xãthuộc các huyện vùng cao như: huyện Sơn Động, Lục Ngạn, Yên Thế có tỷ lệ đạtcác tiêu chí tương đối thấp Do vậy, căn cứ vào mức độ đạt được các tiêu chí củacác xã có thể chia mức độ đạt được các tiêu chí của các huyện theo 3 nhóm là:

Nhóm các huyện đạt tỷ lệ các tiêu chí tương đối cao gồm: Thành phố BắcGiang, huyện Việt Yên, Yên Dũng

Nhóm các huyện đạt tỷ lệ tiêu chí trung bình gồm: huyện Lạng Giang,huyện Tân Yên, huyện hiệp Hòa

Nhóm các huyện đạt tỷ lệ các tiêu chí thấp gồm: huyện Sơn Động, LụcNgạn, Lục Nam, Yên Thế

Các tiêu chí có tỷ lệ xã đạt cao gồm: Tiêu chí số 4 (điện); Tiêu chí số 5(trường học); Tiêu chí số 8 (bưu điện); Tiêu chí số 14 (giáo dục); Tiêu chí số 15(Y tế); Tiêu chí số 18 (hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh); Tiêu chí số

19 (an ninh, trật tự xã hội)

Các tiêu chí có tỷ lệ xã đạt thấp gồm: Tiêu chí số 1 (quy hoạch); Tiêuchí số 2 (giao thông); Tiêu chí số 3 (thủy lợi); Tiêu chí số 6 (cơ sở vật chấtvăn hóa); Tiêu chí số 10 (thu nhập); Tiêu chí số 12 (cơ cấu lao động); Tiêuchí số 17 (môi trường)

Chương trình hành động cũng chỉ rõ những điểm còn tồn tại:

Một là, cơ cấu ngành nông nghiệp chuyển dịch chậm, chưa hợp lý.

Trong nông nghiệp chủ yếu vẫn là trồng trọt; tỷ lệ giá trị của ngành chăn nuôitrong nông nghiệp chưa cao; giá trị dịch vụ nông nghiệp, nông thôn nhỏ bé

Trang 22

Diện tích đất lâm nghiệp lớn nhưng đóng góp của ngành lâm nghiệp vào tăngtrưởng kinh tế của địa phương còn rất nhỏ

Hai là, ruộng đất ở nông thôn bị chia nhỏ, không phù hợp với yêu cầu

của việc sản xuất hàng hoá lớn, tập trung Quá trình cơ giới hoá nông nghiệp

và việc áp dụng các quy trình kỹ thuật sản xuất tiên tiến còn diễn ra chậm.Hầu hết các khâu sản xuất đều làm thủ công, dẫn đến năng suất lao động ởnông thôn rất thấp Nguy cơ phát sinh các dịch bệnh còn cao

Ba là, tình trạng sử dụng phân hoá học, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ và

các chất kích thích sinh trưởng không đúng quy trình kỹ thuật đã dẫn đến ônhiễm môi trường, không đảm bảo chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm;khả năng cạnh tranh của nông sản hàng hoá thấp

Bốn là, việc ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất chưa thực sự

mạnh mẽ, chưa tạo bước đột phá trong phát triển; chưa gắn kết giữa đơn vịchế biến với việc hình thành các vùng nguyên liệu

Năm là, kết cấu hạ tầng nông thôn tuy được tăng cường song chất lượng

còn thấp, thiếu đồng bộ Nông thôn phát triển thiếu quy hoạch; chất lượng lướiđiện, đường giao thông nông thôn, hệ thống trạm bơm và kênh mương xuốngcấp nghiêm trọng nhưng chưa được đầu tư sửa chữa kịp thời Đời sống vật chấttinh thần của người dân nông thôn còn thấp, nhất là ở vùng núi, vùng ngoài đê;

tỷ lệ hộ nghèo cao; tỷ lệ lao động nông nghiệp qua đào tạo còn thấp

Những hạn chế, yếu kém trên có nguyên nhân khách quan và chủ quannhưng chủ yếu là do nguyên nhân chủ quan Chương trình hành động chỉ rõ:

Một số cấp uỷ, chính quyền, cơ quan, ban, ngành chưa tích cực, chủ độngtrong việc tổ chức thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ về phát triển nôngnghiệp, nông thôn Một bộ phận nông dân vẫn còn tư tưởng bao cấp, trôngchờ, ỷ lại vào Nhà nước; chưa thích ứng nhanh với cơ chế thị trường Cơchế, chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn, nông dân chưa đồng bộ,thiếu tính đột phá; tỷ lệ đầu tư ngân sách cho nông nghiệp, nông thôn cònthấp [70, tr.2]

Trang 23

Với thực trạng và nguyên nhân nêu trên vấn đề cấp thiết đặt ra đối vớiĐảng bộ tỉnh Bắc Giang là cần phải có một tư duy khoa học về nông nghiệp,nông thôn, nông dân, tạo bước đột phá trong cách nghĩ, cách làm của cấp ủy,chính quyền, đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới, làm chuyển biến mạnh mẽ

bộ mặt nông thôn tỉnh Bắc Giang, xây dựng nông thôn có diện mạo mới, đápứng yêu cầu sự phát triển

1.1.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Bắc Giang về xây dựng nông thôn mới từ năm 2008 đến năm 2013

Trên cơ sở quán triệt và vận dụng quan điểm, chủ trương của Đảng, từ

sự đánh giá đặc điểm, tình hình của địa phương, Đảng bộ tỉnh Bắc Giang xácđịnh chủ trương lãnh đạo xây dựng nông thôn mới, thể hiện qua: Chươngtrình hành động số 47/-Ctr/TU ngày 03 tháng 10 năm 2008 của Tỉnh ủy Bắc

Giang về "Thực hiện Nghị quyết 26-NQ/TW Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn"; Báo cáo chính

trị của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XVI trình Đại hội đại biểu Đảng bộ

tỉnh Bắc Giang lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2010 - 2015; Nghị quyết số

145-NQ/TU ngày 14 tháng 7 năm 2011 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về

"Xây dựng nông thôn mới tỉnh Bắc Giang đến năm 2020"; Đề án xây dựng nông

thôn mới tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2010 - 2020 Nội dung cụ thể như sau:

* Mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể

Mục tiêu chung: Xây dựng nông thôn tỉnh Bắc Giang có kết cấu hạ tầng

kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổchức sản xuất hợp lý, gắn phát triển nông nghiệp với phát triển nhanhcông nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với phát triển đô thị theoquy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dântộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đờisống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; hệthống chính trị cơ sở vững mạnh [72, tr.3]

Trang 24

Xây dựng nông thôn mới với phương châm: Kinh tế phát triển - Đời sống ấm no - Thôn bản văn minh - An ninh ổn định - Quản lý dân chủ.

Mục tiêu cụ thể:

Một là, đến năm 2015: 20% tổng số xã (40 xã) đạt xã nông thôn mới;

Tỷ lệ lao động trong lĩnh vực nông - lâm - thủy sản còn 56%; Thu nhập củangười dân nông thôn gấp 1,8 lần trở lên so với hiện nay

Hai là, đến năm 2020: 50% tổng số xã đạt xã nông thôn mới; Tỷ lệ lao

động trong lĩnh vực nông - lâm - thủy sản còn 45%; Thu nhập của người dânnông thôn gấp 2,5 lần trở lên so với 2010

*Nhiệm vụ, giải pháp

Để đạt được mục tiêu nêu trên, Đảng bộ tỉnh Bắc Giang xác định phảikiên quyết thực hiện tốt những nhiệm vụ, giải pháp cơ bản sau:

Một là, công tác tuyên truyền, vận động

Xác định thông tin tuyên truyền là công tác quan trọng trong quá trìnhxây dựng nông thôn mới Vì vậy, tổ chức tuyên truyền sâu rộng trong cán

bộ, đảng viên, hội viên và Nhân dân, nhất là nông dân nhận thức đúng cácchủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về xây dựng nông thôn mới làChương trình phát triển toàn diện, bền vững, tổng hợp cả về kinh tế, vănhoá, chính trị và xã hội, với mục đích nâng cao đời sống vật chất và tinhthần cho người dân ở nông thôn Đồng thời, cụ thể hóa những chủ trương,chính sách của Đảng và Nhà nước để triển khai thực hiện thắng lợi các chỉtiêu, nhiệm vụ của các kế hoạch, nghị quyết về phát triển nông thôn mới tỉnhBắc Giang đến năm 2020

Phát động các phong trào thi đua xây dựng nông thôn mới sâu rộng trongtoàn xã hội, cụ thể ở từng ngành, từng cấp Xác định đó là nhiệm vụ của cả hệthống chính trị và toàn xã hội; trong đó, người dân ở nông thôn là chủ thể trựctiếp, xây dựng nông thôn mới là căn bản, phát triển toàn diện nông nghiệp là

Trang 25

then chốt, dưới sự lãnh đạo của cấp uỷ, quản lý, điều hành của chính quyền và sựtham gia của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội.

Hai là, xây dựng quy hoạch và quản lý quy hoạch

Tập trung cao cho công tác xây dựng quy hoạch nông thôn mới, để làm

cơ sở xây dựng các kế hoạch: sản xuất, phát triển hạ tầng, văn hoá, môitrường Uỷ ban nhân dân Tỉnh chỉ đạo làm điểm quy hoạch; công bố rõnguồn kinh phí làm quy hoạch Đến hết năm 2011 phấn đấu hoàn thành quyhoạch trên 60% tổng số xã, các xã còn lại hoàn thành trong năm 2012

Xây dựng quy hoạch phải được thực hiện đúng quy trình, có sự thamgia trực tiếp của Nhân dân địa phương Công khai quy hoạch và có quy chếquản lý thực hiện theo quy hoạch, để bảo đảm nông thôn phát triển có trật tự,khang trang, sạch đẹp và tiết kiệm đất đai, công sức, tiền của; đồng thời tăngcường quản lý nhà nước và sự giám sát của Nhân dân trong quá trình thựchiện quy hoạch Việc sửa đổi, bổ sung quy hoạch phải thực hiện theo đúngquy định của pháp luật Định kỳ kiểm tra việc thực hiện quy hoạch ở cơ sở

Trong tổ chức thực hiện, Ban Chỉ đạo và cơ quan thường trực của Ban Chỉđạo cấp tỉnh, huyện, Ban quản lý xã phát huy trách nhiệm trong chỉ đạo, điều hànhxây dựng nông thôn mới, tháo gỡ khó khăn trong quá trình thực hiện

Ba là, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực xây dựng nông thôn mới, đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn

Khai thác tối đa và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn từ các Chươngtrình mục tiêu quốc gia, các chương trình, dự án hỗ trợ có mục tiêu, vốn khaithác từ nguồn tài nguyên đất đai Đồng thời, huy động các nguồn vốn khácnhư vốn tín dụng, các nguồn tài trợ, vốn của các doanh nghiệp, vốn đóng góp

và ngày công lao động của Nhân dân để xây dựng nông thôn mới

Ủy ban nhân dân các cấp tiến hành rà soát, đánh giá hiệu quả của những

cơ chế chính sách đã đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn Trên cơ sở đó đềxuất các giải pháp cụ thể để tiếp tục thực hiện trong thời gian tiếp theo Ủyban nhân dân tỉnh tổng hợp, phân tích, dự báo và xây dựng các cơ chế, chínhsách phù hợp với từng giai đoạn trình Hội đồng nhân dân tỉnh xem xét, quyết

Trang 26

định và chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức thực hiện; thường xuyên kiểm tra, đônđốc, kịp thời điều chỉnh nhằm phát huy hiệu quả của các cơ chế, chính sách

đã ban hành, phòng chống thất thoát, lãng phí Đồng thời, có cơ chế, chínhsách thu hút doanh nghiệp đầu tư xây dựng hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn

và đào tạo nghề cho nông dân

Trên cơ sở Đề án xây dựng nông thôn mới cấp xã, tổ chức lập và triển khaithực hiện kế hoạch đầu tư xây dựng hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn, được phân

kỳ từng năm, đầu tư xây dựng các công trình phục vụ sản xuất như giao thông,thuỷ lợi, … Hàng năm, cấp tỉnh, huyện bố trí và công khai các nguồn vốn hỗ trợđầu tư cho cơ sở, ưu tiên các địa phương thực hiện tốt các tiêu chí không cần vốnđầu tư như: Xây dựng hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh, giữ vững an ninhchính trị, trật tự an toàn xã hội nông thôn và những địa phương có khả năng hoànthành các tiêu chí nông thôn mới sớm hơn so với mục tiêu đề ra

Bốn là, phát triển sản xuất hàng hoá và các tổ chức sản xuất có hiệu quả để phát triển ngành, nghề nâng cao thu nhập cho người dân ở nông thôn

Tổng kết và nhân rộng các mô hình kinh tế, hình thức tổ chức sản xuất

có hiệu quả ở nông thôn Khuyến khích tích tụ ruộng đất nông nghiệp và pháttriển các mối liên kết giữa các nhà khoa học, các doanh nghiệp, hiệp hộingành hàng với hộ nông dân để hỗ trợ kinh tế hộ phát triển theo hướng giatrại, trang trại có quy mô sản xuất hàng hoá

Đổi mới và phát triển Hợp tác xã, tổ hợp tác phù hợp với cơ chế thịtrường Hỗ trợ kinh tế tập thể về đào tạo cán bộ quản lý, lao động, tiếp cậncác nguồn vốn, trợ giúp và chuyển giao khoa học kỹ thuật, thông tin thịtrường, xúc tiến thương mại và phát triển thị trường để hợp tác xã làm tốt cácdịch vụ đầu vào, chế biến và tiêu thụ nông sản cho nông dân

Duy trì và phát triển nghề, làng nghề truyền thống, phát triển ngànhnghề theo nhu cầu thị trường và thế mạnh của địa phương; chú trọng pháttriển nghề, làng nghề mới có giá trị, hiệu quả sản xuất cao, tạo việc làm cho

Trang 27

nhiều lao động Xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách thu hút đầu tư, khuyếnkhích, hỗ trợ phát triển nghề, làng nghề và doanh nghiệp trong làng nghề

Phát triển dịch vụ theo hướng văn minh, từng bước hiện đại Chú trọngxây dựng điểm thương mại, dịch vụ và thu hút đầu tư xây dựng, nâng cấp hệthống chợ ở khu vực nông thôn theo quy hoạch; ưu tiên chợ đầu mối, vùng cónhiều hàng hoá nông sản tiêu thụ

Đẩy mạnh đào tạo nghề cho lao động nông thôn và thu hút các dự ánđầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, địa bàn nông thôn, nhằm phát triển mạnhsản xuất nông nghiệp hàng hóa, giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập và cảithiện đời sống cho người dân ở nông thôn

Năm là, phát triển giáo dục đào tạo, y tế, văn hoá xã hội và bảo vệ môi trường

Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chăm lo giáo dục mầm non, củng

cố vững chắc kết quả phổ cập tiểu học đúng độ tuổi và trung học cơ sở Tạo điềukiện và phát huy vai trò, hiệu quả hoạt động của các trung tâm học tập cộngđồng trong việc chuyển giao tiến bộ khoa học - công nghệ đến với nông dân

Tiếp tục nâng cao chất lượng chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho Nhân dân

và tăng cường công tác y tế dự phòng Đẩy mạnh công tác dân số, kế hoạchhóa gia đình; tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức và thực hiện tốt bìnhđẳng giới, xây dựng gia đình văn hoá, tiến bộ, hạnh phúc, bảo vệ và chăm sócsức khỏe bà mẹ, trẻ em; giảm mạnh tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng

Xây dựng lối sống, nếp sống văn hoá lành mạnh; bảo tồn, kế thừa vàphát huy các giá trị văn hoá truyền thống, cách mạng; quản lý, khai thác cóhiệu quả các di tích lịch sử văn hoá gắn với phát triển du lịch Nâng cao chất

lượng, hiệu quả phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá", xây

dựng nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội Đẩy mạnh hoạt độngtruyền thanh, văn hoá, nghệ thuật và phong trào thể dục, thể thao quần chúng

Tăng cường đầu tư xây dựng, nâng cấp cơ sở vật chất trường học, trạm y

tế, công trình văn hoá, thể thao, các thiết chế văn hoá cơ sở theo chuẩn quốc gia

Trang 28

Chú trọng lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức các hoạt động bảo vệ môitrường; giáo dục, nâng cao ý thức, trách nhiệm của toàn xã hội về xây dựng, bảo

vệ cảnh quan, môi trường xanh, sạch, đẹp từ gia đình đến nơi công cộng Đầu tưxây dựng các công trình xử lý rác thải, nước thải theo quy hoạch và củng cố, xâydựng các tổ chức tự quản về bảo vệ môi trường trên địa bàn thôn, xã

Tiếp tục thực hiện tốt Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo;chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở Đa dạng hoá các nguồn lực và phươngthức giúp đỡ hộ nghèo phát triển sản xuất, cải thiện đời sống, vươn lên thoátnghèo Thực hiện đúng, kịp thời các chính sách xã hội, đẩy mạnh các hoạtđộng đền ơn, đáp nghĩa, nhân đạo, từ thiện và cứu trợ xã hội

Sáu là, củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức trong

hệ thống chính trị ở cơ sở

Tiến hành rà soát, xác định rõ vai trò của mỗi tổ chức trong hệ thốngchính trị, bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất của Đảng bộ trong thực hiện cácnhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh và xây dựng nôngthôn mới Xây dựng và làm việc theo chương trình, kế hoạch công tác; tậptrung vào những nhiệm vụ trọng tâm trong từng thời gian, nâng cao chấtlượng, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ

Xây dựng và thực hiện tốt công tác quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồidưỡng cán bộ Tổ chức đào tạo đội ngũ cán bộ cơ sở đạt chuẩn cả về lý luậnchính trị và chuyên môn theo quy định; trong đó chú trọng đào tạo, bồi dưỡng

kỹ năng chỉ đạo, điều hành và quản lý kinh tế - xã hội, lập kế hoạch, đề án, dự

án để tổ chức thực hiện các nội dung xây dựng nông thôn mới

Tăng cường chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát của cấp uỷ cấp trênđối với cấp uỷ, tổ chức đảng ở cơ sở trong việc lãnh đạo, chỉ đạo xây dựngnông thôn mới Ban hành cơ chế ưu đãi, thu hút cán bộ trẻ tốt nghiệp đại họcchính quy chuyên ngành phù hợp về công tác tại các xã, nhất là các xã miềnnúi, vùng cao, các xã khó khăn

Trang 29

Tổ chức thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ công tác quân sự, quốcphòng, an ninh địa phương; giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ởnông thôn Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục kiến thức quốc phòng, an ninh

và thực hiện phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc Thường xuyên nắmchắc tình hình Nhân dân; chủ động giải quyết kịp thời đơn thư khiếu nại, tốcáo thuộc thẩm quyền của cơ sở; không đùn đẩy lên cấp trên

Như vậy, chủ trương xây dựng nông thôn mới của Đảng bộ tỉnh BắcGiang phù hợp với chủ trương xây dựng nông thôn mới của Đảng trong sựnghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Trong xu thế phát triển chungcủa cả nước thì xây dựng nông thôn mới toàn diện đã phản ánh ý chí quyếttâm, thể hiện nhận thức đúng đắn, khoa học và sự vận dụng sáng tạo chủtrương của Đảng vào tình hình cụ thể của tỉnh Bắc Giang

Chủ trương xây dựng nông thôn mới của Đảng bộ tỉnh không chỉ có ýnghĩa định hướng, chỉ đạo tổ chức thực tiễn của tỉnh mà còn là cơ sở để thốngnhất ý chí và hành động của cán bộ, đảng viên và nhân dân tỉnh Bắc Giangđoàn kết khắc phục khó khăn, hoàn thành thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ đã đề

ra, tạo đà thúc đẩy kinh tế - xã hội của Bắc Giang phát triển Xây dựng nôngthôn mới là nhiệm vụ mới, chưa có tiền lệ, vì vậy cùng với việc xác định đúngchủ trương, quá trình chỉ đạo thực hiện phải hết sức năng động, linh hoạt vàsáng tạo mới có thể đạt được mục tiêu kế hoạch đề ra

1.2 Đảng bộ tỉnh Bắc Giang chỉ đạo xây dựng nông thôn mới

1.2.1 Chỉ đạo công tác tuyên truyền, phổ biến các chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước và của Tỉnh về xây dựng nông thôn mới

Xác định tuyên truyền, vận động là công tác quan trọng trong quá trình xâydựng nông thôn mới Vì vậy, Đảng bộ tỉnh Bắc Giang thường xuyên chỉ đạo cácđơn vị có liên quan tổ chức quán triệt và thực hiện tuyên truyền, giáo dục, vận độngsâu rộng trong xã hội về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của người nông dân vànông thôn trên địa bàn tỉnh Đồng thời, cụ thể hóa những chủ trương, chính sách

Trang 30

của Đảng và Nhà nước để triển khai thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu, nhiệm vụ của

kế hoạch, nghị quyết về phát triển nông thôn mới tỉnh Bắc Giang đến năm 2020

Thực hiện Nghị quyết số 145-NQ/TU của Tỉnh ủy, Ban Chỉ đạoChương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới có Kế hoạch số 45/KH-BCĐ ngày 16 tháng 9 năm 2011 xác định: "Các cấp, các ngành, các cơquan, đơn vị từ Tỉnh đến cơ sở tổ chức quán triệt, tuyên truyền sâu rộng quanđiểm, mục tiêu và nội dung nghị quyết nhằm nâng cao nhận thức trong cán

bộ, đảng viên và toàn xã hội về vai trò, tầm quan trọng của xây dựng nôngthôn mới trước mắt và lâu dài; xác định rõ xây dựng nông thôn mới là nhiệm

vụ quan trọng hàng đầu của cả hệ thống chính trị" [107, tr.1] Theo đó, côngtác tuyên truyền được tổ chức đa dạng với nhiều hình thức phong phú, thườngxuyên cung cấp đầy đủ thông tin cho các cấp, các ngành, các địa phương vàtoàn thể Nhân dân hiểu được vấn đề xây dựng nông thôn mới Chỉ đạo Đàiphát thanh - Truyền hình Bắc Giang, Báo Bắc Giang, Trung tâm Tin học -Công báo (Ủy ban nhân dân tỉnh) thường xuyên cập nhật tin tức, hoạt độngnông thôn mới và các văn bản của Trung ương, của Tỉnh, đồng thời xây dựngchuyên trang, chuyên mục về xây dựng nông thôn mới nhằm khích lệ phongtrào xây dựng nông thôn mới trên toàn tỉnh Bắc Giang Tăng cường thờilượng phát sóng các chuyên đề về xây dựng nông thôn mới nhằm huy động cả

hệ thống chính trị và toàn xã hội nhất là nông dân ở nông thôn đồng tình ủng

hộ, tích cực tham gia Trong đó tập trung tuyên truyền phổ biến những môhình thành công, những cách làm hay và hiệu quả ở các địa phương

Đài Phát thanh Truyền hình các huyện thường xuyên cập nhậtnhững tin bài về xây dựng nông thôn mới, giới thiệu cách làm hay, nhữnggương điển hình tiên tiến ở các địa phương để các xã và người dân nôngthôn học hỏi, áp dụng Cấp thôn, xã thường xuyên tổ chức tuyên truyền vềxây dựng nông thôn mới trên hệ thống Đài truyền thanh, các buổi sinhhoạt của cộng đồng dân cư, sinh hoạt đoàn thể để Nhân dân có nhận thức

Trang 31

đúng đắn những chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về phongtrào xây dựng nông thôn mới.

Văn phòng điều phối tỉnh phối hợp với Ban Chỉ đạo các huyện, thànhphố tổ chức các lớp tập huấn, các hội nghị tuyên truyền về xây dựng nôngthôn mới đến các cấp Hội, các ngành như Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh,Đoàn Thanh niên Tuyên truyền về xây dựng nông thôn mới được các banngành đoàn thể tham gia hưởng ứng rất sôi nổi, coi đây là nhiệm vụ chính trị

xã hội của toàn tỉnh Bắc Giang

Thực hiện quyết định số 1620/QĐ-TTg ngày 20 tháng 9 năm 2011 củaThủ tướng Chính phủ ban hành kế hoạch tổ chức thực hiện phong trào thi đua

"Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới" Thực hiện Kế hoạch số 02-KH/

HĐTĐ-KT ngày 10 tháng 10 tháng 2011, của Hội đồng Thi đua - Khenthưởng tỉnh về tổ chức Phong trào thi đua Ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức Lễ

phát động phong trào thi đua "Bắc Giang chung sức xây dựng nông thôn mới".

Với mục đích phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị trong tuyên truyềnvận động nâng cao nhận thức về xây dựng nông thôn mới, đẩy mạnh thi đuakhen thưởng, tạo động lực cho thực hiện các tiêu chí về xây dựng nông thônmới như: đến hết 2013 có 100% xã hoàn thành quy hoạch và đề án về xâydựng nông thôn mới, tỷ lệ số xã đạt 19 tiêu chí đến cuối năm 2015 là 40 xã(chiếm 20% tổng số xã), các xã còn lại đạt trên 10 tiêu chí, đến năm 2020 có50% đời sống vật chất tinh thần Nhân dân được nâng cao

Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh phát động phong trào "toàn dân đoàn kếtxây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư", "Năm xây, Ba sạch", "Khu dân cư

tự quản bảo vệ môi trường", thực hiện cuộc vận động "Ngày vì người nghèo",Chương trình An sinh xã hội và tham gia xây dựng nông thôn mới, đô thị vănminh Đài truyền hình tỉnh Bắc Giang thành lập tổ công tác Chương trình Cầutruyền hình "Xây dựng nông thôn mới" tỉnh Bắc Giang Hội Chữ thập đỏ tỉnhBắc Giang tích cực vận động phát triển "Ngân hàng bò", Hội Người cao

Trang 32

tuổi tỉnh có Chương trình hành động "Phát huy vai trò người cao tuổi tỉnhBắc Giang trong xây dựng nông thôn mới"; Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh phátđộng phong trào thi đua "Quân đội chung sức xây dựng nông thôn mới";Công an tỉnh xây dựng kế hoạch thực hiện Tiêu chí số 19 về "Giữ vững anninh, trật tự xã hội nông thôn"; Tỉnh đoàn Bắc Giang có phong trào "Thanhniên xung kích xây dựng làng, xã xanh, sạch, đẹp", "Thanh niên Bắc Giangtham gia xây dựng nông thôn mới" được đông đảo cán bộ, đảng viên, cácđoàn thể, các tổ chức chính trị xã hội và Nhân dân đồng tình hưởng ứng, đãthu hút được sự tham gia của cả hệ thống chính trị, tạo sự đồng thuận giữacấp ủy Đảng, chính quyền và Nhân dân, đã trở thành phong trào chung vàsâu rộng đến tất cả các địa phương, người dân đã nhận thức rõ hơn về mụcđích, ý nghĩa của Chương trình và vai trò chủ thể của mình, từ đó tựnguyện hiến đất, tháo rỡ tường rào để làm đường giao thông nông thôn,đóng góp sức người, sức của tham gia xây dựng nông thôn mới.

Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị thường niên thực hiện Chương trình mục tiêuquốc gia xây dựng nông thôn mới tỉnh Bắc Giang ngày 21 tháng 01 năm 2013 đồngchí Bùi Văn Hải - Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh - Trưởng Ban Chỉ đạo Chươngtrình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới tỉnh Bắc Giang nhấn mạnh: Côngtác tuyên truyền vận động phải được triển khai sâu rộng, đúng định hướng, có sựchuyển biến tích cực từ Tỉnh đến cơ sở và toàn thể nhân dân; phong trào chung sứcxây dựng nông thôn mới phải được đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân đồngtình hưởng ứng phải thực sự trở thành phong trào quần chúng, người dân phải nhậnthức rõ hơn về mục đích, ý nghĩa của Chương trình và vai trò chủ thể của mình, nhậnthức của đội ngũ cán bộ phải có chuyển biến tích cực và thái độ quyết tâm hơn

Thực hiện ý kiến chỉ đạo Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, nội dungtuyên truyền trong thời gian qua tiếp tục được đẩy mạnh với nhiều hình thứcphong phú, đa dạng tập trung vào việc vận động Nhân dân hưởng ứng sảnxuất nông nghiệp hàng hóa, dồn điền đổi thửa, sản xuất các mặt hàng nôngsản có giá trị cao xuất khẩu, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản

Trang 33

xuất nông nghiệp, đóng góp ngày công lao động, tiền để cùng Nhà nước hoànthành các tiêu chí trong xây dựng nông thôn mới.

1.2.2 Chỉ đạo thành lập, kiện toàn Ban Chỉ đạo thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới

Thành lập cơ quan chuyên môn tham mưu cho Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dântỉnh, trực tiếp thực hiện nhiệm vụ xây dựng chương trình, kế hoạch, chỉ đạo, kiểmtra việc thực hiện của các đơn vị, địa phương là vấn đề quan trọng, là một trongnhững nhiệm vụ được quan tâm sâu sắc của lãnh đạo tỉnh trong suốt quá trình chỉđạo thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới

Thực hiện nhiệm vụ trên, Tỉnh ủy Bắc Giang ra Quyết định số 01-QĐ/BCĐTU ngày 05 tháng 5 năm 2009 về việc thành lập Tổ công tác giúp việcBan Chỉ đạo thí điểm Chương trình xây dựng nông thôn mới gồm 16 đồngchí Nhiệm vụ của Tổ công tác giúp việc do Thường trực Ban Chỉ đạo phâncông và tự giải thể sau khi hoàn thành nhiệm vụ

Đáp ứng yêu cầu thực tiễn Ban Thường vụ Tỉnh ủy ra Quyết định số109-QĐ/TU ngày 03 tháng 3 năm 2011 của Tỉnh ủy thành lập Ban Chỉ đạoChương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới tỉnh Bắc Giang, giaiđoạn 2010 - 2020 Theo đó, Ban Chỉ đạo gồm 30 đồng chí, được chia thànhhai bộ phận: Ban Chỉ đạo xây dựng nông thôn mới và Thường trực Ban Chỉđạo xây dựng nông thôn mới

Thực hiện sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh ra Quyết định

số 408/QĐ-UBND ngày 6 tháng 4 năm 2012 về việc kiện toàn Ban Chỉ đạoChương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới gồm 01 Trưởng Banchỉ đạo là Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, 02 Phó Trưởng Ban chỉ đạo và 23

ủy viên là lãnh đạo các cơ quan ban ngành Tỉnh

Quyết định phân rõ nhiệm vụ của Ban Chỉ đạo là xây dựng kế hoạch 5năm và hàng năm về mục tiêu, nhiệm vụ, các giải pháp và nhu cầu kinh phíthực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới trên địabàn Tỉnh; chỉ đạo Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố xây dựng kế hoạch

Trang 34

triển khai nội dung Chương trình xây dựng nông thôn mới Tiếp tục lãnh đạo,chỉ đạo xã Tân Thịnh, huyện Lạng Giang xây dựng điểm nông thôn mới để tổchức rút kinh nghiệm và triển khai trên địa bàn toàn tỉnh Xây dựng cơ chếphối hợp giữa các sở, ngành với các cơ quan của Đảng, Mặt trận Tổ quốc vàcác tổ chức đoàn thể nhằm huy động cả hệ thống chính trị cùng tham gianhiệm vụ xây dựng nông thôn mới; đồng thời tranh thủ sự ủng hộ của các tổchức, cá nhân trong và ngoài nước trong việc thực hiện Chương trình mụctiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới

Song song với đó Ban Chỉ đạo có trách nhiệm chỉ đạo, kiểm tra, đônđốc, hướng dẫn các địa phương thực hiện các nội dung, chỉ tiêu xây dựngnông thôn mới trên địa bàn tỉnh Bắc Giang Chỉ đạo tổ chức sơ kết, tổng kết,đánh giá việc thực hiện các mô hình xây dựng nông thôn mới và chỉ đạo cácgiai đoạn tiếp theo Thẩm định Hồ sơ đề nghị công nhận xã, huyện đạt chuẩnnông thôn mới trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét, quyết định;tham mưu giúp Ủy ban nhân dân tỉnh trình Ban Chỉ đạo Trung ương Chươngtrình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới xét công nhận Tỉnh đạtchuẩn nông thôn mới

Đối với Thường trực Ban Chỉ đạo có nhiệm vụ: "Giúp Trưởng ban Chỉđạo điều phối, xử lý, giải quyết các vấn đề có liên quan trong quá trình chỉđạo thực hiện Chương trình" [73, tr.3]

Để hoạt động của Ban Chỉ đạo đi vào nền nếp Quyết định số BCĐ ngày 31 tháng 3 năm 2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh đã phân côngnhiệm vụ cho các thành viên Ban Chỉ đạo

384/QĐ-Do thực hiện tốt công tác chỉ đạo thành lập, kiện toàn Ban Chỉ đạoChương trình đến tháng 5/2011 đã có 10/10 huyện, thành phố (100%) thànhlập xong Ban Chỉ đạo và tổ giúp việc cho Ban Chỉ đạo Đến năm 2012, 100%các huyện, thành phố có bổ sung 01 cán bộ chuyên trách theo dõi về nôngthôn mới Tính đến hết năm 2011, ở tất cả các xã, thôn trên địa bàn tỉnh BắcGiang đã kiện toàn Ban quản lý cấp xã và tiểu Ban quản lý cấp thôn, bản

Trang 35

Thực hiện Quyết định 800/QĐ-TTg ngày 04 tháng 6 năm 2010 của Thủtướng Chính phủ, Kế hoạch số 435/KH-BCĐXDNTM ngày 20 tháng 9 năm

2010 của Ban Chỉ đạo Trung ương Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựngnông thôn mới và Quyết định số 109-QĐ/TU ngày 03 tháng 3 năm 2011 củaBan Thường vụ Tỉnh ủy Bắc Giang về thành lập Ban Chỉ đạo Chương trìnhmục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới tỉnh Bắc Giang Căn cứ vào yêucầu nhiệm vụ thực hiện Chương trình Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Giang raquyết định số 382/QĐ-BCĐ về việc thành lập Văn phòng điều phối Chươngtrình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới của tỉnh Tại Quyết định nàyđồng chí Vũ Đình Phượng - Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triểnnông thôn, Ủy viên thường trực Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựngnông thôn mới tỉnh Bắc Giang được bổ nhiệm làm Chánh văn phòng và cácthành viên kiêm nhiệm thuộc các sở, ban ngành có liên quan và 5 thành viênchuyên trách được điều động từ Chi cục Phát triển nông thôn Văn phòng điềuphối đặt tại Chi cục Phát triển nông thôn, có tư cách pháp nhân, sử dụng condấu riêng, được mở tài khoản tại kho bạc nhà nước theo quy định của phápluật có nhiệm vụ và quyền hạn:

Xây dựng chương trình kế hoạch công tác của Ban Chỉ đạo; xây dựng

kế hoạch thực hiện Chương trình, kế hoạch phối hợp, kiểm tra, giám sát

và hướng dẫn các cơ quan, đơn vị và các địa phương thực hiện Chươngtrình; nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách và cơ chế phối hợp hoạtđộng liên ngành; tổng hợp báo cáo kết quả thực hiện Chương trình vàkiến nghị các vấn đề phát sinh; lập nhu cầu kinh phí phục vụ hoạt độngcủa Ban Chỉ đạo; lưu trữ, bảo quản hồ sơ, tài liệu của Ban Chỉ đạo;Quản lý kinh phí, cơ sở vật chất, phương tiện, trang thiết bị của Vănphòng điều phối theo quy định [103, tr.2]

Nhằm nâng cao chất lượng quản lý điều hành, giám sát việc thực hiệnChương trình, Ủy Ban nhân dân tỉnh ra Công văn số 2608/UBND-NN ngày

04 tháng 11 năm 2011 về việc kiểm tra, đẩy nhanh tiến độ thực hiện Chươngtrình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới Ban Thường vụ Tỉnh ủy chỉđạo kiện toàn các đoàn công tác thực hiện nhiệm vụ chỉ đạo, kiểm tra giám sát

ở các địa phương Định kỳ hàng tháng, quý, Ban Chỉ đạo các huyện, thành

Trang 36

phố tiến hành giao ban với Ban quản lý xã Tổ chức kiểm điểm, đánh giá kếtquả thực hiện Chương trình 6 tháng đầu năm, trong đó tập chung đánh giá cáctiêu chí đã và đang thực hiện, tiến độ xây dựng cơ sở hạ tầng, các mô hìnhphát triển sản xuất Ngoài ra Ban Chỉ đạo các huyện, thành phố phải lồngghép các buổi làm việc của lãnh đạo Ủy ban nhân dân, giám sát của Hội đồngnhân dân để chỉ đạo các xã đẩy nhanh tiến độ Các thành viên Ban Chỉ đạođược giao phụ trách các địa phương thường xuyên xuống cơ sở nắm bắt tìnhhình, đôn đốc, hướng dẫn các địa phương thực hiện Chương trình.

Ngay sau khi được thành lập, trên cơ sở định hướng của Trung ươnggắn với tình hình thực tế của địa phương, Ban Chỉ đạo và bộ phận giúp việccác cấp đã phân công nhiệm vụ cho các thành viên Hàng năm Ban Chỉ đạotỉnh tổ chức họp giao ban với Ban Chỉ đạo các huyện, thành phố và ban quản

lý 40 xã xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011 - 2015 để rút kinh nghiệm,bàn giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc và đi kiểm tra, đôn đốc tiến độthực hiện Chương trình theo địa bàn được phân công

Những quyết định trên thể hiện sự tập trung, quan tâm của Đảng bộ, Ủyban nhân dân tỉnh đối với việc xây dựng, hoàn chỉnh cơ quan chuyên môn cóchất lượng tốt, thực hiện hiệu quả nhiệm vụ tham mưu, giúp việc cho BanChấp hành Đảng bộ tỉnh cũng như Ủy ban nhân dân, vừa trực tiếp chỉ đạo xâydựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Bắc Giang

1.2.3 Chỉ đạo xây dựng, điều chỉnh các Chương trình, Đề án, phương án phát triển nông nghiệp và nông thôn

Tập trung rà soát, điều chỉnh, bổ sung và xây dựng mới các Chương trình,

Đề án phát triển nông nghiệp, nông thôn đảm bảo phù hợp với yêu cầu phát triểnchung của tỉnh Bắc Giang Gắn quy hoạch phát triển nông nghiệp, nông thôn vớiquy hoạch phát triển công nghiệp, dịch vụ và quy hoạch phát triển các khu đô thị

Để chỉ đạo có hiệu quả Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Giang có Kế hoạch

số 06/KH-UBND ngày 12 tháng 3 năm 2009 yêu cầu mỗi địa phương, đơn vịxây dựng các Chương trình kinh tế - xã hội, các Đề án, dự án cụ thể để chỉđạo, tổ chức thực hiện ở địa phương, đơn vị mình; tăng cường đầu tư mọimặt, đồng thời có chính sách thích hợp phát triển nông nghiệp, nông dân,

Trang 37

nông thôn coi đây là một trong những nội dung được quan tâm đặc biệt trongphát triển kinh tế - xã hội thời kỳ 2009 - 2020.

Thực hiện sự chỉ đạo của Tỉnh ủy Bắc Giang về việc triển khai thực hiệnnhiệm vụ của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa X về thí điểm xây dựng mô hìnhnông thôn mới Tại Quyết định số 1755/QĐ-UBND ngày 9 tháng 10 năm 2009của Ủy ban nhân dân tỉnh đã phê duyệt Đề án xây dựng thí điểm mô hình nôngthôn mới xã Tân Thịnh, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang Ban Thường vụ Tỉnh

ủy đã thành lập Ban Chỉ đạo thí điểm Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựngnông thôn mới tại Quyết định số 685-QĐ/TU ngày 24 tháng 4 năm 2009

Trên cơ sở khảo sát, đánh giá thực trạng nông nghiệp, nông thôn củaTỉnh, Quyết định số 221/QĐ-UBND ngày 9 tháng 12 năm 2010 của Ủy bannhân dân tỉnh Bắc Giang phê duyệt Đề án xây dựng nông thôn mới tỉnh BắcGiang giai đoạn 2010 - 2020 Thực hiện tại 202/230 xã trong phạm vi toànTỉnh Theo đó, mục tiêu từ 2010 - 2015 xây dựng 40 xã đạt nông thôn mới,chiếm 20% tổng số xã trong đó Thành phố Bắc Giang xây dựng 4 xã; cáchuyện thấp và vùng trung du của Tỉnh mỗi huyện xây dựng từ 4 - 6 xã Cũngtrong giai đoạn này Tỉnh ủy chỉ đạo phải xây dựng quy hoạch nông thôn mới cho100% số xã; tổ chức đào tạo kiến thức xây dựng nông thôn mới cho cán bộ cơ sở

và Nhân dân; tập trung nâng cấp, cải tạo hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn

Thực hiện Quyết định số 221/QĐ-UBND hết năm 2013, tỉnh Bắc Giang

đã hoàn thành công tác Quy hoạch nông thôn mới cho 202/202 xã Căn cứ vàoQuy hoạch đã được phê duyệt và các tiêu chí theo Bộ tiêu chí quốc gia, đến naytrên địa bàn tỉnh Bắc Giang đã phê duyệt đề án cho 100/202 xã (đạt 49,5%)

Thực hiện Chỉ thị số 12-CT/TU ngày 01 tháng 7 năm 2013 của Tỉnh ủyBắc Giang tiếp tục vận động nông dân thực hiện dồn điền, đổi thửa, tổ chức các

mô hình sản xuất hàng hóa tập trung trong lĩnh vực nông nghiệp ngoài nguồnvốn ngân sách, các địa phương đã huy động được gần 6 tỷ đồng xây dựng đượcgần 100 mô hình phát triển sản xuất nhằm tăng thu nhập cho người dân như môhình trồng khoai tây chế biến Atlantic ở Yên Dũng, Hiệp Hòa; mô hình rau chếbiến ở Lạng Giang, Tân Yên, Việt Yên, mô hình Gà lai Mía huyện Yên Thế

Đặc biệt, đã xây dựng thành công 2 “cánh đồng mẫu lớn” tại huyện Yên Dũng

với quy mô 100 ha Ngoài ra đã xây dựng được hàng chục mô hình phát triển

Trang 38

sản xuất có sự liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân đảm bảo sản xuất hànghóa ổn định góp phần tăng thu nhập và nâng cao đời sống của người dân nôngthôn.

Thực hiện Quyết định 342/QĐ-TTg ngày 20 tháng 2 năm 2013 về "Sửa đổimột số tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới"; Quyết định số498/QĐ-TTg ngày 21 tháng 3 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ, Thông tư03/2013/TT-BKHĐT của Bộ kế hoạch đầu tư hướng dẫn thực hiện Quyết định số498/QĐ-TTg, Hướng dẫn số 909/SKHĐT-KTN ngày 19 tháng 9 năm 2013 của

Sở Kế hoạch và đầu tư về hướng dẫn thực hiện Thông tư số 03/2013/TT-BKHĐTtrên địa bàn tỉnh Bắc Giang Đến hết 10 tháng 2013, một số tiêu chí đã được sửađổi, bổ sung và thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp, theo chỉ đạo, hướng dẫncủa Chính phủ, Bộ ngành, tỉnh Bắc Giang tiếp tục chỉ đạo các xã thực hiện việc ràsoát, điều chỉnh đồ án quy hoạch và Đề án nông thôn mới theo hướng dẫn đã đượcsửa đổi và điều kiện thực tế tại địa phương Theo đó, sửa đổi 05 tiêu chí của Bộtiêu chí quốc gia về nông thôn mới ban hành tại Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày

16 tháng 4 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ đó là tiêu chí số 07 (chợ nôngthôn); tiêu chí số 10 ( thu nhập); tiêu chí số 12 (cơ cấu lao động); tiêu chí số 14

(giáo dục) và tiêu chí số 15 (Y tế) (Chi tiết xem phụ lục 7)

Việc hoàn chỉnh quy hoạch trên chính là sự nhạy bén, sâu sát của lãnhđạo tỉnh Bắc Giang trong việc đánh giá, nhìn nhận những lợi thế, ưu điểmtrong phát triển nông nghiệp cũng như hạn chế của từng huyện, xã, từ đó xâydựng quy hoạch chính xác, phù hợp và có tính khả thi cao

1.2.4 Chỉ đạo xác định và hoàn chỉnh khung tiêu chuẩn ngành đánh giá mức độ hoàn thành các tiêu chí nông thôn mới; thực hiện phối kết hợp giữa cơ quan ban ngành

Quá trình triển khai thực hiện các tiêu chí xây dựng nông thôn mới,việc xây dựng khung tiêu chuẩn ngành để đánh giá mức độ hoàn thành cáctiêu chí đó là vấn đề rất quan trọng Đó là căn cứ, là cơ sở để đánh giá, hoạchđịnh những bước đi tiếp theo một cách hiệu quả

Để xây dựng được một bộ khung tiêu chí thật sự phù hợp, khoa họckhông phải là vấn đề dễ dàng Bên cạnh căn cứ vào các quy định của Chínhphủ và quy định của ban ngành liên quan, nhất là khung tiêu chí của Bộ Nông

Trang 39

nghiệp và Phát triển nông thôn, còn phải bám sát vào tình hình thực tiễn củatừng vùng, từng ngành, từng lĩnh vực để xây dựng và hoàn thiện.

Đề án xây dựng nông thôn mới Tỉnh xác định: "Xây dựng nông thônmới tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2010 - 2020 là cơ sở để triển khai các nội dungChương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới trên địa bànTỉnh; các mục tiêu nhiệm vụ của Đề án được xây dựng phù hợp với sự pháttriển kinh tế - xã hội trước mắt cũng như lâu dài" [119, tr.1]

Đề án đánh giá thực trạng nông thôn tỉnh Bắc Giang qua đó đưa ra mụctiêu và nội dung xây dựng nông thôn mới trong đó quy định khung tiêu chuẩnđánh giá về xã đạt nông thôn mới theo 19 tiêu chí

Trên cơ sở Quyết định số 800 và Quyết định 342/QĐ-TTg ngày 20 tháng

2 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ sửa đổi một số tiêu chí của Bộ tiêu chíquốc gia về nông thôn mới Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Giang chỉ đạo các cơquan căn cứ vào thực tiễn địa phương xây dựng khung tiêu chí chung Theo đó,Quyết định số 159/BC-SGTVT ngày 18 tháng 10 năm 2011 của Sở Giao thôngvận tải đã nêu rõ tiêu chí về giao thông đó là "hệ thống đường giao thông trục xã100% cứng hóa, đường trục thôn, đường ngõ xóm, đường trục chính nội đồng là50% cứng hóa và 100% đường sạch sẽ không lầy lội vào mùa mưa" [129, tr.1]

Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xây dựng khung tiêu chí đốivới hệ thống thuỷ lợi cơ bản đáp ứng yêu cầu sản xuất và dân sinh là đạt chỉtiêu; Tỷ lệ km đường mương do xã quản lý được kiên cố hoá phải đạt 50% chỉtiêu Sở Điện lực xây dựng khung tiêu chí hệ thống điện đảm bảo yêu cầu kỹthuật của ngành điện là đạt chỉ tiêu Tỷ lệ hộ sử dụng điện thường xuyên, an toàn

từ các nguồn đạt 95% Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch xây dựng khung tiêu

chí Nhà văn hoá và khu thể thao xã đạt chuẩn của Bộ Văn hóa - Thể thao và Du

lịch phải đạt tiêu chí Tỷ lệ thôn có nhà văn hoá và khu thể thao thôn đạt quy

định của Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch là 100% chỉ tiêu Đối với các xã có

từ 70% số thôn, bản trở lên đạt tiêu chuẩn làng văn hoá theo quy định của BộVăn hóa - Thể thao và Du lịch Sở Tài nguyên và Môi trường xây dựng khungtiêu chí 70% hộ được sử dụng nước sạch, hợp vệ sinh theo quy chuẩn quốc gia

Trang 40

Thực tiễn quá trình chỉ đạo cho thấy thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia vềxây dựng nông thôn mới để người dân ở thôn phát huy vai trò trong xây dựng

Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới và tình hình thực tế ở địaphương, Ủy ban nhân dân huyện Hiệp Hòa đã ban hành Bộ tiêu chí thôn nôngthôn mới Qua kết quả rà soát ở 214 thôn theo 19 tiêu chí thôn nông thôn mới đã

có 64 thôn đạt từ 11 đến 15 tiêu chí, trong đó 18 thôn đạt 15 tiêu chí, còn lại làđạt từ 6 đến 10 tiêu chí Sau 05 năm triển khai Chương trình xây dựng nông thônmới, số tiêu chí thôn đạt chuẩn tăng lên qua các năm Năm 2011 số tiêu chí đạtchuẩn trung bình của các thôn là 7,7 tiêu chí và đến năm 2013 tăng lên 10,5 tiêuchí/thôn Xã Tân Dĩnh, huyện Lạng Giang đã hoàn thành 19/19 tiêu chí, trong

đó có 13 tiêu chí đạt chuẩn, 06 tiêu chí vượt theo yêu cầu Bộ tiêu chí bao gồm:Tiêu chí số 2 (giao thông), tiêu chí số 5 (trường học), tiêu chí số 9 (nhà ở dâncư), tiêu chí số 10 (thu nhập), tiêu chí số 11 (hộ nghèo), tiêu chí số 14 (giáo dục)

Bên cạnh việc xây dựng khung tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành cáctiêu chí về xây dựng nông thôn mới, việc ban hành quy chế phối hợp giữa cáccấp, các ngành các lĩnh vực trong việc thực hiện các tiêu chí là vấn đề cấpthiết, bảo đảm cho việc thực hiện thông suốt và đạt hiệu quả cao

Thực hiện quy chế phối hợp theo Quyết định 497/QĐ-BNN-PTNT của

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Thông báo số 31-TB/VPTU củaVăn phòng Tỉnh ủy; Thông báo số 42/TB-UBND và Thông báo số 16/TB-UBND ngày 30 tháng 01 năm 2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh đã quy định chế

độ phối hợp giữa các sở, ban ngành cấp Tỉnh với Văn phòng điều phối xâydựng mục tiêu quốc gia về nông thôn mới Trong đó quy định rõ chức tráchnhiệm vụ của từng cơ quan chuyên môn trong việc phối hợp thực hiện xâydựng nông thôn mới Theo đó, sự phối hợp được thực hiện theo nguyên tắcbảo đảm sự thống nhất, thông suốt và trên cơ sở của Ủy ban nhân dân tỉnh vềChương trình hành động xây dựng nông thôn mới, thời hạn giải quyết côngviệc kịp thời theo pháp luật và quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo Chươngtrình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới của Tỉnh Trên cơ sở quyđịnh đó, Thông báo số 16/TB-UBND cũng chỉ rõ trách nhiệm của Văn phòng

Ủy ban nhân dân tỉnh trong chỉ đạo, điều hành, quản lý mọi hoạt động của cơ

Ngày đăng: 30/09/2016, 07:57

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

SƠ ĐỒ  BỘ MÁY TỔ CHỨC, VẬN HÀNH  CHƯƠNG TRÌNH  MỤC TIÊU QUỐC GIA XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI - LUẬN văn THẠC sĩ   ĐẢNG bộ TỈNH bắc GIANG LÃNH đạo xây DỰNG NÔNG THÔN mới từ năm 2008 đến năm 2013
SƠ ĐỒ BỘ MÁY TỔ CHỨC, VẬN HÀNH CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI (Trang 110)
SƠ ĐỒ CÁC BƯỚC XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI CẤP XÃ - LUẬN văn THẠC sĩ   ĐẢNG bộ TỈNH bắc GIANG LÃNH đạo xây DỰNG NÔNG THÔN mới từ năm 2008 đến năm 2013
SƠ ĐỒ CÁC BƯỚC XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI CẤP XÃ (Trang 111)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w