1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LUẬN văn THẠC sĩ CÔNG tác xây DỰNG tổ CHỨC ĐẢNG cơ sở ở HUYỆN THUẬN THÀNH, TỈNH bắc NINH từ năm 2001 đến năm 2010

104 551 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 2,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ khi ra đời cho đến nay Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng công tác xây dựng Đảng, trong đó công tác xây dựng TCCSĐ được coi là một nhiệm vụ thường xuyên, xuyên suốt trong quá trình tồn tại và phát triển của Đảng, làm cho Đảng thật sự TSVM.

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

Chương 1 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO VỀ XÂY DỰNG

TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN THUẬN THÀNH TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2010 91.1 Những yếu tố tác động đến công tác xây dựng tổ chức cơ

sở đảng ở huyện Thuận Thành (2000 - 2010) 91.2 Chủ trương của Đảng bộ huyện Thuận Thành về xây

dựng tổ chức cơ sở đảng (2000 - 2010) 291.3 Đảng bộ huyện Thuận Thành chỉ đạo công tác xây dựng

2.1 Nhận xét quá trình Đảng bộ huyện Thuận Thành lãnh

đạo xây dựng tổ chức cơ sở đảng (2000 - 2010) 542.2 Một số kinh nghiệm rút ra từ quá trình Đảng bộ huyện Thuận

Thành lãnh đạo xây dựng tổ chức cơ sở đảng (2000 - 2010) 63

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Từ khi ra đời cho đến nay Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch HồChí Minh luôn coi trọng công tác xây dựng Đảng, trong đó công tác xây dựngTCCSĐ được coi là một nhiệm vụ thường xuyên, xuyên suốt trong quá trình tồn tại

và phát triển của Đảng, làm cho Đảng thật sự TSVM

Trong hệ thống tổ chức của Đảng, TCCSĐ thành lập ở các xã, phường,thị trấn, cơ quan, hợp tác xã, doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp, đơn vị cơ sởtrong quân đội, công an và các đơn vị cơ sở khác TCCSĐ chiếm một vị trí,vai trò vô cùng quan trọng trong hệ thống tổ chức của Đảng TCCSĐ là nềntảng, là hạt nhân lãnh đạo chính trị ở cơ sở, là cầu nối giữa Đảng với quầnchúng nhân dân, vận động quần chúng nhân dân thực hiện chủ trương, đườnglối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; là nơi kiểm nghiệm, tậphợp mọi ý kiến đóng góp của quần chúng nhân dân, nơi bồi dưỡng, rèn luyệncán bộ cách mạng đảm bảo sự kế thừa và phát triển liên tục lực lượng cáchmạng cho Đảng Xuất phát từ vị trí, vai trò của TCCSĐ đã cho chúng ta thấyđược công tác xây dựng TCCSĐ luôn được Đảng ta coi trọng, là một nhiệm

vụ then chốt trong công tác xây dựng Đảng

Trong công cuộc đổi mới, hội nhập kinh tế quốc tế, công tác xây dựngTCCSĐ lại càng được coi trọng và trở thành một trong những nhiệm vụthen chốt, cấp bách cần được thực hiện thường xuyên, liên tục Vấn đề này

đã được Đảng đưa vào nghị quyết của Hội nghị Trung ương 6 khóa VIII

Đặc biệt đến Hội nghị lần thứ 6 khóa X, Đảng đã ra nghị quyết về: nâng

cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên và nghị quyết Trung ương 4 khóa XI về: một số vấn đề cấp bách trong xây dựng Đảng hiện nay đã cho thấy được

tầm quan trọng và quyết tâm của Đảng trong việc xây dựng TCCSĐ, làmcho TCCSĐ thật sự TSVM để Đảng lãnh đạo thành công sự nghiệp CNH,HĐH đất nước

Trang 4

Thực hiện chủ trương của Đảng về xây dựng Đảng, đặc biệt là xây dựngTCCSĐ, Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh đã lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện công tác xây dựngĐảng đến các Đảng bộ trực thuộc Tỉnh ủy, trong đó có Đảng bộ huyện Thuận Thành.Trong quá trình lãnh đạo xây dựng TCCSĐ ở huyện Thuận Thànhtrong những năm 2000 - 2010 đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, cácTCCSĐ luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, TCCSĐ luôn được củng

cố vững chắc Tuy nhiên, trong quá trình lãnh đạo thực hiện công tác xâydựng TCCSĐ của Đảng bộ huyện Thuận Thành vẫn còn bộc lộ nhiều hạnchế, khuyết điểm Chính vì vậy, việc nghiên cứu về quá trình Đảng bộhuyện Thuận Thành lãnh đạo xây dựng TCCSĐ nhằm làm sáng tỏ chủtrương và quá trình chỉ đạo thực hiện của Đảng bộ huyện Thuận Thànhtrong công tác xây dựng TCCSĐ Từ đó rút ra những nhận xét và kinhnghiệm góp thêm tài liệu tham khảo cho Đảng bộ huyện Thuận Thànhtrong công tác xây dựng TCCSĐ những giai đoạn tiếp theo là điều cần

thiết, có ý nghĩa Xuất phát từ những lý do trên, tôi lựa chọn vấn đề: “Công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng của Đảng bộ huyện Thuận Thành, Bắc Ninh từ năm 2000 đến năm 2010” làm đề tài luận văn thạc sĩ Lịch sử,

chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Việc nghiên cứu về xây dựng Đảng, đặc biệt là công tác xây dựngTCCSĐ đã được nhiều cơ quan, nhiều nhà khoa học, nhiều nhà lý luận chínhtrị nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau Các công trình nghiên cứu liên quanđến đề tài được chia thành các nhóm sau:

Nhóm các công trình nghiên cứu về xây dựng Đảng và TCCSĐ trong phạm vi toàn Đảng.

Lê Đức Bình (2002), Mấy vấn đề về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Nguyễn Cúc và các tác giả (2004), Tổ chức cơ sở

đảng với cuộc vận động xây dựng chỉnh đốn Đảng, Nxb Chính trị Quốc gia,

Hà Nội; Triệu Quang Tiến và nhiều tác giả (2004), Tư tưởng Hồ Chí Minh về

Trang 5

xây dựng Đảng, Nxb Lao động, Hà Nội; Đặng Xuân Kỳ (2005), Một số vấn

đề về xây dựng Đảng hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Nguyễn Phú

Trọng (2005), Xây dựng, chỉnh đốn Đảng một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Bùi Đình Phong (2005), Công tác xây dựng

Đảng trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, Nxb

Lao động; Thanh Quang (2009), Vận dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí

Minh trong xây dựng tổ chức cơ sở đảng, Nxb Văn hóa thông tin; Nguyễn Vũ,

Nguyễn Thái Anh (2010), Hồ Chí Minh về xây dựng củng cố tổ chức Đảng, Nxb Thanh Niên, Các công trình nghiên cứu trên chủ yếu đề cập những vấn đề

mang tính lý luận chung về công tác xây dựng Đảng; làm rõ được quan điểm,chủ trương về công tác xây dựng Đảng và TCCSĐ nhằm nâng cao năng lực lãnhđạo và sức chiến đấu của các TCCSĐ đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạngtrong tình hình mới Bên cạnh đó, những công trình nghiên cứu về xây dựngTCCSĐ đã phân tích, luận giải về lý luận và thực tiễn của công tác xây dựngTCCSĐ; những yêu cầu khách quan cần tiếp tục xây dựng, củng cố hệ thốngTCCSĐ trong toàn Đảng Trong đó, một số công trình nghiên cứu đã đưa ranhững yêu cầu và những giải pháp cơ bản để nâng cao năng lực lãnh đạo của cácTCCSĐ nhằm đáp ứng yêu cầu lãnh đạo sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Nhìnchung, các công trình nghiên cứu trên đã cung cấp cho tác giả những tư liệu, sựnhìn nhận, đánh giá khách quan, khoa học hơn về vấn đề xây dựng TCCSĐ củaĐảng Cộng sản Việt Nam

Nhóm các công trình nghiên cứu về xây dựng TCCSĐ ở địa phương.

Chúng ta có thể điểm qua một số công trình nghiên cứu như: Hà Thị

Thu Hằng (2007), Đảng bộ huyện Thanh Sơn tỉnh Phú Thọ lãnh đạo xây

dựng, củng cố tổ chức cơ sở đảng từ năm 1995 đến năm 2005 , Luận văn

thạc sĩ Lịch sử, Hà Nội; Đặng Quang Vinh (2007), Đảng bộ thành phố Đà

Nẵng lãnh đạo xây dựng tổ chức cơ sở đảng từ năm 2001 đến năm 2006,

Luận văn thạc sĩ Lịch sử, Hà Nội; Nguyễn Thị Nhung (2009), Quá trình

xây dựng tổ chức cơ sở đảng của Đảng bộ tỉnh Hải Dương từ năm 2001

Trang 6

đến năm 2005, Luận văn thạc sĩ khoa học Lịch sử, Đại học Quốc gia Hà

Nội; Trần Thị Thu Hằng (2012), Công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng

của Đảng bộ thành phố Hà Nội từ năm 1995 đến năm 2005, Luận án tiến

sĩ, chuyên ngành Lịch sử, Đại học Quốc gia Hà Nội; Mai Bích Huệ (2013),

Đảng bộ Bắc Kạn thực hiện nhiệm vụ xây dựng tổ chức cơ sở đảng từ năm

2001 đến năm 2010, Luận văn thạc sĩ khoa học Lịch sử, Đại học Quốc gia

Hà Nội; Nguyễn Đình Hùng (2014), Công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng

xã, phường, thị trấn của Đảng bộ tỉnh Nam Định từ năm 2001 đến 2010”,

Luận văn thạc sỹ Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị, Hà Nội Nhìn chung,các công trình nghiên cứu trên đã tập trung làm rõ quá trình Đảng bộ địaphương đề ra chủ trương và sự chỉ đạo của mình trên cơ sở vận dụng chủtrương Đảng về công tác xây dựng TCCSĐ vào thực tiễn công tác xây dựngTCCSĐ ở địa phương; qua đó đưa ra nhận xét và đúc rút những kinh nghiệm

Nhóm các công trình nghiên cứu về xây dựng Đảng ở tỉnh Bắc Ninh

và huyện Thuận Thành.

Công tác xây dựng Đảng và TCCSĐ ở Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh được đề cập

trong cuốn “Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh (1926 - 2010), Nxb Chính trị Quốc gia,

Hà Nội Vấn đề xây dựng TCCSĐ của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh và một số huyệnđược nghiên cứu chuyên sâu qua đề tài luận văn thạc sĩ Lịch sử Đảng của Nguyễn

Văn Cường (2011), Quá trình xây dựng tổ chức cơ sở đảng của Đảng bộ tỉnh Bắc

Ninh từ năm 2000 đến năm 2010; Trần Thị Hiệp (2014), Đảng bộ Huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh thực hiện nhiệm vụ xây dựng tổ chức cơ sở đảng từ năm 1999 đến năm 2010, Luận văn thạc sĩ Lịch sử, Hà Nội.

Đáng chú ý nhất là công trình nghiên cứu của Ban chấp hành Đảng bộhuyện Thuận Thành với việc xuất bản 2 cuốn lịch sử Đảng bộ địa phương

“Lịch sử Đảng bộ Huyện Thuận Thành, Tập I (1928 - 1954)”, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội và “Lịch sử Đảng bộ Huyện Thuận Thành (1954 - 2008)”,

Bắc Ninh Nội dung của 2 cuốn lịch sử Đảng bộ địa phương đã phần nào đềcập đến công tác xây dựng TCCSĐ ở Đảng bộ huyện Thuận Thành

Trang 7

Như vậy, cả 3 nhóm nghiên cứu trên đã làm sáng tỏ một số vấn đề lýluận và thực tiễn trong công tác xây dựng Đảng nói chung và trong công tácxây dựng TCCSĐ nói riêng Một số công trình nghiên cứu đã đề cập đến quátrình Đảng bộ các địa phương lãnh đạo công tác xây dựng TCCSĐ trên địabàn địa phương đó và rút ra những kinh nghiệm trong công tác xây dựngTCCSĐ Những công trình nghiên cứu trên đây là tài liệu tham khảo tốt đểtôi có thêm cơ sở lý luận và thực tiễn thực hiện đề tài luận văn Tuy nhiên,cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu, hệ thống, dướigóc độ lịch sử Đảng về quá trình lãnh đạo của Đảng bộ huyện Thuận Thànhtỉnh Bắc Ninh trong công tác xây dựng TCCSĐ

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

* Mục đích nghiên cứu

Làm sáng tỏ quá trình Đảng bộ huyện Thuận Thành lãnh đạo xây dựngTCCSĐ từ năm 2000 đến năm 2010 Qua đó, đúc rút một số kinh nghiệm đểvận dụng vào công tác xây dựng TCCSĐ trong những năm tiếp theo

* Nhiệm vụ nghiên cứu

- Làm rõ yêu cầu khách quan đối với công tác xây dựng TCCSĐ củaĐảng bộ huyện Thuận Thành trong những năm 2000 - 2010

- Hệ thống, phân tích, luận giải những chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộhuyện Thuận Thành về xây dựng TCCSĐ từ năm 2000 đến năm 2010

- Nhận xét, đánh giá ưu, khuyết điểm và rút ra những kinh nghiệm từ quá trìnhlãnh đạo xây dựng TCCSĐ của Đảng bộ huyện Thuận Thành trong những năm

2000 - 2010

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài

* Đối tượng nghiên cứu

Sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Thuận Thành về xây dựng TCCSĐ

* Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: nghiên cứu, làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ

huyện Thuận Thành về xây dựng TCCSĐ

Trang 8

- Về thời gian: từ năm 2000 đến năm 2010 Trong quá trình nghiên cứu

tác giả có mở rộng phạm vi đến trước năm 2000 và sau năm 2010

- Về không gian: huyện Thuận Thành (Bắc Ninh).

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài

* Phương pháp luận

Luận văn nghiên cứu dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng, duyvật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin và phương pháp luận sử học mácxít

* Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu chuyên ngành Lịch sử ĐảngCộng sản Việt Nam, chủ yếu là phương pháp lịch sử, phương pháp lôgic; đồngthời sử dụng các phương pháp khác như: phương pháp so sánh, phương phápphân tích và tổng hợp, phương pháp thống kê, phương pháp chuyên gia,…

6 Ý nghĩa của đề tài

- Góp phần làm rõ chủ trương của Đảng đi vào thực tiễn và quá trình Đảng

bộ huyện Thuận Thành lãnh đạo xây dựng TCCSĐ từ năm 2000 đến năm 2010

- Kết quả luận văn góp thêm tài liệu tham khảo cho Đảng bộ huyện ThuậnThành về công tác xây dựng TCCSĐ trong những năm tiếp theo

- Luận văn là tài liệu tham khảo phục vụ cho học tập, nghiên cứu về công tácxây dựng Đảng ở địa phương và tỉnh Bắc Ninh

7 Kết cấu của đề tài

Luận văn gồm phần mở đầu, 2 chương (5 tiết) kết luận, danh mục tài liệutham khảo và phụ lục

Trang 9

Chương 1 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO VỀ XÂY DỰNG TỔ CHỨC CƠ

SỞ ĐẢNG CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN THUẬN THÀNH

TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2010 1.1 Những yếu tố tác động đến công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng

số tính đến năm 2005 là 145300 người; mật độ dân số 1222 người/km2 Hiệnnay, huyện Thuận Thành có 17 xã và 1 thị trấn là: Mão Điền, Hoài Thượng,

An Bình, Song Hồ, Trạm Lộ, Gia Đông, Nghĩa Đạo, Nguyệt Đức, ThanhKhương, Ninh Xá, Đại Đồng Thành, Đình Tổ, Ngũ Thái, Song Liễu, XuânLâm, Trí Quả, Hà Mãn và thị trấn Hồ

Địa bàn huyện Thuận Thành nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, có khí hậu

ôn hòa, mát mẻ, nhiệt độ trung bình hằng năm là 23,50C, lượng mưa trung bìnhđạt 1100 - 1200 mm/năm, độ ẩm trung bình 82,5% Địa hình huyện Thuận

Trang 10

Thành được bồi đắp từ sông Đuống và một số sông nội đồng như: sông Dâu,sông Đông Côi, sông Bùi,… Do sự bồi đắp của tự nhiên nên địa hình huyệnThuận Thành có độ nghiêng từ Tây Bắc xuống Đông Nam; nơi cao nhất thuộc

xã Đình Tổ, nơi thấp nhất ở phía Đông Nam thuộc xã Trạm Lộ Đất đai phìnhiêu, cùng với khí hậu ôn hòa đã là điều kiện thuận lợi để phát triển cây trồng,vật nuôi Chính vì vậy, Thuận Thành được biết đến là một Huyện thuần nông.Thuận Thành có những điều kiện thuận lợi về giao thông vận tải vớituyến đường 38, 282, 283 trở thành con đường huyết mạnh nối Thuận Thànhvới quốc lộ 5 (Hà Nội - Hải Phòng), các huyện Văn Lâm (Hưng Yên), GiaLâm (Hà Nội), Gia Bình (Bắc Ninh) và đường đê sông Đuống từ Gia Lâmđến địa phận tiếp giáp huyện Gia Bình Ngoài ra, sông Đuống là con đườngthủy thông thương quan trọng nối trực tiếp với sông Hồng và kết thúc tại LụcĐầu Giang tạo điều kiện thuận lợi trong giao thương buôn bán Mạng lướigiao thông đường bộ, đường thủy thuận lợi là điều kiện thuận lợi để ThuậnThành phát triển kinh tế - xã hội

Thuận Thành vốn là một Huyện thuần nông, kinh tế nông nghiệp luôngiữ vai trò chủ đạo Bên cạnh đó các ngành nghề thủ công nghiệp cũng tươngđối phát triển, nó được thể hiện qua câu ca:

Tư thế bút mực làm giàu Trà Lâm mổ lợn, uốn câu làng Giàn Nấu chì đã có Văn Quan

Kẻ Tướng đi hát kiếm quan tiền dài

Ép dầu đã có Thanh Hoài Dâu Tự buôn muối, Lũng Triều buôn nâu

Đây còn là nơi có truyền thống văn hóa đặc sắc với hệ thống Đình, Chùanổi tiếng lưu giữ những giá trị văn hóa truyền thống của người Bắc bộ xưanhư: Đình Tổ thờ thành hoàng làng là trạng nguyên Lê Văn Thịnh, Chùa Dâuthờ mẫu Pháp Vân, Chùa Bút Tháp, Lăng và đền thờ Kinh Dương Vươngthủy tổ của nước Việt ta,…

Trang 11

Như vậy, với những điều kiện thuận lợi về vị trí địa lý, tự nhiên, truyềnthống văn hóa đã tạo lên con người Thuận Thành luôn cần cù trong lao độngsản xuất và giàu truyền thống cách mạng; có nhiều điều kiện thuận lợi trongphát triển nông nghiệp, công nghiệp và du lịch văn hóa Đây vừa là điều kiệnthuận lợi, vừa đặt ra yêu cầu đối với công tác xây dựng TCCSĐ ở Đảng bộhuyện Thuận Thành cần được chú trọng tăng cường nâng cao năng lực lãnhđạo và sức chiến đấu đảm bảo đáp ứng được yêu cầu lãnh đạo, chỉ đạo pháttriển kinh tế, xã hội đảm bảo an ninh, quốc phòng hướng đến xây dựng ThuậnThành trở thành một Huyện văn minh, giàu đẹp.

1.1.2 Thực trạng công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng của Đảng bộ huyện Thuận Thành trước năm 2000

1.1.2.1 Khái niệm, loại hình, vị trí và vai trò của tổ chức cơ sở đảng.

Trong Điều lệ của Đảng Cộng sản Việt Nam quy định rõ về TCCSĐ.Điều 21 Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam bổ sung, sửa đổi năm 2011 đã xácđịnh vai trò của TCCSĐ: tổ chức cơ sở đảng (chi bộ cơ sở, đảng bộ cơ sở) là nềntảng của Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở Điều 10 Điều lệ Đảng Cộng sảnViệt Nam xác định: tổ chức cơ sở đảng được lập tại đơn vị cơ sở hành chính, sựnghiệp, kinh tế hoặc công tác, đặt dưới sự lãnh đạo của cấp ủy quận, huyện, thị

xã, thành phố trực thuộc tỉnh Tổ chức cơ sở đảng trong Quân đội nhân dân ViệtNam và Công an nhân dân Việt Nam được quy định tại chương VI

Qua đó, chúng ta thấy được TCCSĐ gồm chi bộ cơ sở và đảng bộ cơ sở.Trong đó, đảng bộ cơ sở có 2 loại: một là, đảng bộ cơ sở có các chi bộ trựcthuộc; hai là, đảng bộ cơ sở có đảng bộ bộ phận và chi bộ trực thuộc Trongcác chi bộ thì có thể phân thành nhiều tổ đảng trực thuộc chi bộ

Về loại hình TCCSĐ, có thể phân thành 5 loại hình cơ bản sau: TCCSĐ ở

xã, phường, thị trấn; TCCSĐ trong doanh nghiệp(có nhiều loại hình doanhnghiệp); TCCSĐ trong cơ quan hành chính; TCCSĐ trong đơn vị sự nghiệp

và TCCSĐ trong lực lượng vũ trang(quân đội, công an) Đối với loại hìnhTCCSĐ trong lực lượng vũ trang do có nhiệm vụ chính trị đặc biệt của từng

Trang 12

ngành, việc tổ chức và thành lập được quy định riêng biệt trong chương VIĐiều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam.

Trong lịch sử, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin đã nhận thấy

vị trí, vai trò quan trọng của các TCCSĐ trong hệ thống tổ chức của Đảng.C.Mác và F.Ănghen là những người đầu tiên nêu rõ yêu cầu khách quan vàtính tất yếu của sự ra đời một chính đảng vô sản khi phong trào đấu tranhcủa giai cấp công nhân phát triển đến một trình độ nhất định Qua thực tiễncách mạng, hai ông đã thấy được vị trí, vai trò quan trọng của các TCCSĐvới nòng cốt là chi bộ cơ sở và đảng bộ cơ sở C.Mác và F.Ănghen đã chỉ

ra rằng: các chi bộ bị buông lỏng vể mặt tổ chức sẽ dẫn đến cắt đứt liên lạcvới Ban chấp hành Trung ương, làm cho Đảng mất chỗ dựa vững chắc và

duy nhất Từ thực tiễn đó, hai ông đã nhấn mạnh: phải biến mỗi chi bộ của

mình thành trung tâm và hạt nhân của các hiệp hội công nhân Thông quahoạt động của các chi bộ đảng mà đưa nhân tố tự giác vào phong trào côngnhân và tổ chức họ đấu tranh với chủ nghĩa tư bản

Trên cơ sở kế thừa và phát triển những quan điểm lý luận của C.Mác vàF.Ănghen về xây dựng một chính đảng vô sản của giai cấp công nhân Quatrải nghiệm thực tiễn cách mạng, với nhãn quan chính trị sắc bén, V.I.Lênin

đã vận dụng, phát triển sáng tạo học thuyết trên bằng việc chủ trương xâydựng một Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân Trong đó, V.I.Lênin đã đềcập và chỉ rõ tầm quan trọng của việc xây dựng củng cố các TCCSĐ vữngmạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức tạo nên năng lực lãnh đạo và sức chiếnđấu cao của Đảng V.I.Lênin chỉ ra: những chi bộ ấy liên hệ chặt chẽ vớinhau, với Trung ương Đảng, phải trao đổi kinh nghiệm với nhau, phải làmcông tác cổ động, tuyên truyền, công tác tổ chức phải thích nghi với mọi lĩnhvực của xã hội, với tất cả mọi loại và mọi tầng lớp quần chúng lao động,những chi bộ ấy phải thông qua công tác muôn hình, muôn vẻ đó mà rènluyện bản thân mình, rèn luyện Đảng, giai cấp, quần chúng một cách có hệthống Đồng thời, Người từng khẳng định: mỗi chi bộ, mỗi ủy ban công nhân

Trang 13

của Đảng phải là một điểm tựa để tiến hành công tác tuyên truyền, cổ động và tổchức thực hiện trong quần chúng.

Như vậy, từ những trải nghiệm thực tiễn cách mạng, các nhà kinh điểncủa chủ nghĩa Mác – Lênin đã nhận thức đúng vị trí, vai trò quan trọng củaTCCSĐ và việc cần thiết phải xây dựng các TCCSĐ vững mạnh cả về chínhtrị, tư tưởng và tổ chức làm cho sức chiến đấu của các TCCSĐ ngày cao,Đảng ngày càng vững mạnh, lãnh đạo nhân dân lao động đấu tranh đập tan bộmáy cai trị của chủ nghĩa đế quốc giành chính quyền về tay nhân dân, tiến lênxây dựng CNXH

Kế thừa, vận dụng, phát triển sáng tạo lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin vàothực thiễn cách mạng Việt Nam, sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đánh giá caovai trò của TCCSĐ: chi bộ là gốc rễ của Đảng, là hạt nhân lãnh đạo quần chúng ở cơ

sở, là cầu nối giữa Đảng với nhân dân, chi bộ mạnh tức là Đảng mạnh hay chi bộmạnh thì mọi chính sách của Đảng mới thực hiện tốt được Người từng nói: Muốnlàm nhà cho tốt phải xây dựng nền móng cho vững Muốn thực hiện kế hoạch cho tốtphải chăm lo củng cố chi bộ Trong quá trình xây dựng Đảng, đặc biệt là xây dựng,củng cố tổ chức đảng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định và nêu rõ: “Mỗi chi bộphải là hạt nhân lãnh đạo quần chúng ở cơ sở, đoàn kết chặt chẽ, liên hệ chặt chẽ vớiquần chúng, phát huy được trí tuệ và lực lượng vĩ đại của quần chúng Mỗi cấp bộcủa Đảng phải là một cơ quan lãnh đạo vững chắc ở địa phương, theo đúng đườnglối, chính sách ở Trung ương” [29, tr.28]

Bên cạnh việc đánh giá cao vai trò của TCCSĐ trong hệ thống tổ chứccủa Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ dẫn cần thường xuyên đánh giá chấtlượng TCCSĐ để phát hiện những TCCSĐ có khuyết điểm, yếu kém mà kịpthời có biện pháp khắc phục những khuyết điểm, hạn chế đó Người chỉ rõ:chúng ta phải nghiêm khắc phê bình những chi bộ yếu kém Ở những chi bộ ấy

có những cán bộ, đảng viên không gương mẫu, nội bộ thiếu đoàn kết Tệ hơnnữa là trong những chi bộ ấy có một số đảng viên và cán bộ, có cả cán bộ cấpcao, cán bộ lãnh đạo quan liêu, mệnh lệnh nặng Đảng cần phải thi hành kỷ luật

Trang 14

nghiêm khắc những cán bộ mắc sai lầm đó Về biện pháp khắc phục, Chủ tịch

Hồ Chí Minh chủ trương: để tránh tình trạng có đảng viên yếu kém, có chi bộyếu kém, từ nay các Huyện ủy, Thành ủy, Tỉnh ủy cần phải đi sâu, đi sát đếncác chi bộ, cần phải giúp đỡ các chi bộ một cách thiết thực và thường xuyên.Như vậy, bên cạnh việc đánh giá cao vai trò, vị trí của TCCSĐ và sự cần thiếtphải tăng cường xây dựng các chi bộ cơ sở, đảng bộ cơ sở vững mạnh thựchiện tốt vai trò lãnh đạo quần chúng ở cơ sở, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thẳngthắn chỉ ra cần đánh giá, phát hiện các TCCSĐ và đảng viên có khuyết điểm,hạn chế để nghiêm khắc phê bình, đưa ra biện phát khắc phục Theo Chủ tịch

Hồ Chí Minh thường xuyên, nghiêm túc tự phê bình và phê bình là cách tốtnhất để củng cố, phát triển sự đoàn kết và thống nhất trong Đảng

Trên nền tảng lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí MinhĐảng ta đã nhận thức, đánh giá đúng vị trí, vai trò của TCCSĐ và việc cầnthiết phải thường xuyên xây dựng, củng cố các TCCSĐ vững mạnh trên cả bamặt: chính trị, tư tưởng và tổ chức Trải qua 85 năm lãnh đạo cách mạng,Đảng Cộng sản Việt Nam luôn chú trọng công tác xây dựng TCCSĐ trongcác kỳ Đại hội với các Hội nghị Trung ương bàn về công tác xây dựng Đảngnhằm nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các TCCSĐ nói riêng

và của Đảng nói chung

Tại Đại hội Đảng lần thứ VI (12/1986), Đảng đã chỉ rõ: những thành tựuđạt được, những tiềm năng được khai thác, những kinh nghiệm có giá trị đềubắt nguồn từ sự nỗ lực phấn đấu của quần chúng ở cơ sở mà hạt nhân là tổchức đảng Mặt khác, sự yếu kém của tổ chức cơ sở đảng đã hạn chế nhữngthành tựu cách mạng [17, tr 824]

Cụ thể hóa đường lối Đại hội Đảng VI về chủ trương về xây dựngTCCSĐ nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các TCCSĐđáp ứng yêu cầu sự nghiệp đổi mới; tại Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hànhTrung ương Đảng (khóa VI) đã ra nghị quyết trong đó khẳng định: “Trongđiều kiện chuyển sang thực hiện cơ chế quản lý mới, phát huy vai trò chủ

Trang 15

động, sáng tạo của các đơn vị kinh tế cơ sở, mở rộng dân chủ xã hội chủnghĩa, các tổ chức cơ sở đảng phải thực sự là hạt nhân lãnh đạo trong các tập

bộ, chi bộ yếu kém, kịp thời kiện toàn cấp ủy và tăng cường cán bộ ởnhững nơi có nhiều khó khăn, nội bộ mất đoàn kết Nâng cao chất lượngsinh hoạt cấp ủy, chi bộ [12, tr.142 - 143]

Thêm vào đó, Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóaIX) đã ra Nghị quyết số 17-NQ/TW trong đó nêu rõ: đảng bộ, chi bộ cơ sở là hạtnhân lãnh đạo toàn diện các mặt công tác ở cơ sở, cần nắm vững nhiệm vụ pháttriển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt, chăm lo xây dựng chínhquyền, mặt trận và các đoàn thể nhân dân

Trước những biến đổi mau lẹ của tình hình thế giới đã tạo lên thời cơ vànhững thách thức không nhỏ đến mọi mặt của đời sống xã hội, đã đặt ra yêucầu cần tăng cường năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các TCCSĐ đápứng yêu cầu đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH đất nước trong giai đoạn tiếptheo Trong bối cảnh đó, Đại hội Đảng lần X (4/2006) của Đảng đã xác địnhnhiệm vụ của công tác xây dựng Đảng là: trong những năm tới, phải dànhnhiều công sức tạo được sự chuyển biến rõ rệt về xây dựng Đảng, phát huytruyền thống cách mạng, bản chất giai cấp công nhân và tính tiên phong củaĐảng; xây dựng Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng

và tổ chức, đoàn kết nhất trí cao, gắn bó mật thiết với nhân dân, có phươngthức lãnh đạo khoa học, có đội ngũ cán bộ, đảng viên đủ phẩm chất và năng

Trang 16

lực Đây là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và sựnghiệp cách mạng của nhân dân ta Đồng thời, Đảng chủ trương: “Mỗi tổchức cơ sở đảng có trách nhiệm tổ chức và quy tụ sức mạnh của toàn đơn vịhoàn thành nhiệm vụ chính trị được giao; làm tốt công tác giáo dục chính trị,

tư tưởng, quản lý và giám sát đảng viên; đấu tranh chống những biểu hiện tiêucực, suy thoái trong Đảng Nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ đảng Kiệntoàn hệ thống tổ chức cơ sở đảng” [14, tr 132]

Trên cơ sở kế thừa và phát triển những quan điểm, chủ trương vềxây dựng TCCSĐ, Đại hội Đảng lần thứ XI (1/2011) của Đảng đã xácđịnh nhiệm vụ trong công tác xây dựng TCCSĐ đó là: tập trung củng cố,nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng,trước hết ở các tổ chức cơ sở đảng còn yếu kém Phát huy dân chủ, nângcao chất lượng tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt của các cấp uỷ, tổchức đảng nhằm tạo chuyển biến rõ rệt về chất lượng hoạt động của cácloại hình cơ sở đảng, đảm bảo sự lãnh đạo toàn diện của Đảng ở cơ sở[19, tr 259 - 260]

Như vậy, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin, Chủ tịch Hồ ChíMinh và Đảng Cộng sản việt Nam đã nhận thức và đánh giá đúng vị trí, vaitrò của TCCSĐ, sự cần thiết phải xây dựng, củng cố các TCCSĐ trong tiếntrình cách mạng Từ đó, chúng ta có thể thấy được vị trí, vai trò của TCCSĐđược thể hiện trên một số khía cạnh sau:

Thứ nhất, TCCSĐ là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở, là

cầu nối giữa Đảng với nhân dân, đưa đường lối, chính sách của Đảng vàothực tiễn, tuyên truyền cho nhân dân hiểu và lãnh đạo nhân dân thực hiện theođúng đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước

Thứ hai, TCCSĐ là nơi kiểm nghiệm, khẳng định sự đúng đắn của đường

lối chính sách của Đảng Đồng thời cũng là nơi nắm bắt được tâm tư, nguyệnvọng của nhân dân; nơi tiếp thu những sáng kiến của nhân dân góp phần bổsung, hoàn thiện đường lối, chủ trương của Đảng

Trang 17

Thứ ba, TCCSĐ là nơi tiến hành trực tiếp các hoạt động xây dựng Đảng

như: giáo dục, rèn luyện, kết nạp và sàng lọc chất lượng đảng viên, nơi đàotạo cán bộ cách mạng cho Đảng

Vì vậy, công tác xây dựng, củng cố TCCSĐ trong tình hình hiện nay là một yêucầu cấp bách đối với Đảng ta nhằm đáp ứng được nhiệm vụ lãnh đạo quần chúngnhân dân trong sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH vì một nước Việt Nam “dân giàu,nước mạnh xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”

1.1.2.2 Tình hình xây dựng tổ chức cơ sở đảng của Đảng bộ huyện Thuận Thành trước năm 2000.

Trên cơ sở tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm trong công tác xây dựngTCCSĐ ở nhiệm kỳ trước và vận dụng linh hoạt, sáng tạo chủ trương của Đảng,Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh; Đại hội Đảng bộ huyện Thuận Thành lần thứ XVIII(3/1996) đã đề ra mục tiêu về xây dựng TCCSĐ trong nhiệm kỳ (1996 – 2000):

“giữ vững Đảng bộ huyện vững mạnh, có 60% đến 70% cơ sở đảng vững mạnh,không còn cơ sở đảng yếu” [30, tr 24]

Đảng bộ huyện Thuận Thành đề ra chủ trương tăng cường xây dựngTCCSĐ trên cả ba mặt: chính trị, tư tưởng và tổ chức nhằm tạo được chuyểnbiến tích cực, góp phần quan trọng giữ vững Đảng bộ huyện TSVM Tuynhiên công tác xây dựng TCCSĐ vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, khuyết điểm cầnđược khắc phục

* Thành tựu, nguyên nhân.

- Về công tác giáo dục chính trị, tư tưởng.

Đảng bộ huyện Thuận Thành luôn nhận thức đúng và xác định công tácgiáo dục chính trị, tư tưởng giữ một vai trò quan trọng trong việc nâng caonhận thức đối với đông đảo đội ngũ cán bộ, đảng viên về những chủ trương,chính sách của Đảng và Nhà nước Ban Thường vụ Huyện ủy đã chỉ đạo tốtcông tác giáo dục, bồi dưỡng lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ cho độingũ cán bộ, đảng viên trong toàn Đảng bộ Đặc biệt là việc học tập, triển khaithực hiện các nghị quyết, chỉ thị, kế hoạch và chủ trương của Đảng, Tỉnh ủy đã

Trang 18

được thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả Việc học tập, quán triển nghị quyết, chỉthị của Đảng đã có chuyển biến tích cực; số lượng đảng viên tham gia học tậpnghị quyết, chỉ thị tăng từ 60% trong nhiệm kỳ trước lên 85% - 86% trong nhiệm

kỳ 1996 – 2000

Việc triển khai quán triệt chỉ thị, nghị quyết của Đảng đã có sự đổi mới vàđạt hiệu quả hơn Các đợt triển khai, học tập nghị quyết của Trung ương, Tỉnh

ủy, Huyện ủy đều có kế hoạch, chương trình hành động thực hiện và chỉ đạo các

cơ sở đảng xây dựng kế hoạch, chương trình hành động cụ thể sát với thực tiễncủa từng đơn vị Công tác báo cáo viên tuyên truyền nghị quyết của Đảng đượcchuẩn bị tốt hơn, tỷ lệ đảng viên tham gia học tập nghị quyết trung bình từ 85% -86%” [31, tr 9]

Cùng với đó, công tác thông tin nội bộ đã có chuyển biến tích cực, 100%các chi bộ có báo Nhân Dân, Báo Bắc Ninh và bản tin sinh hoạt chi bộ theotinh thần chỉ thị số 11 của Bộ Chính trị Đến năm 2000 đã có 10/18 xã, thịtrấn hoàn thành việc biên soạn lịch sử Đảng bộ xã Công tác giáo dục lý luậnchính trị cho đảng viên được tăng cường, trong 5 năm (1996 - 2000) Trungtâm bồi dưỡng chính trị huyện đã mở được 71 lớp, bồi dưỡng chính trị cho4.878 học viên là cán bộ, đảng viên ở cơ sở theo đúng quy định của Trungương Nhìn chung, công tác giáo dục chính trị, tư tưởng đã góp phần quantrọng trong việc nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống TSVM trongđại bộ phận cán bộ, đảng viên trong toàn Đảng bộ

- Về công tác xây dựng tổ chức.

Ngay sau Đại hội, Ban Thường vụ Huyện ủy đã tập trung chỉ đạo các cấp

ủy xây dựng quy chế hoạt động phù hợp với điều kiện của từng địa phương

Đa số đảng viên và các TCCSĐ trong Đảng bộ nhận thức và chấp hành đúngnguyên tắc tập trung dân chủ Việc xây dựng, củng cố TCCSĐ luôn được coitrọng trong nhiệm kỳ qua Ban Thường vụ Huyện ủy đã xây dựng đề án pháthuy những TCCSĐ TSVM, củng cố những TCCSĐ yếu kém Qua 3 năm thựchiện đề án, số TCCSĐ TSVM đã được nâng lên từ 28/46 năm 1997 lên 35/48

Trang 19

TCCSĐ năm 1999, căn bản xóa được các cơ sở Đảng yếu kém Hàng năm đều

có khảo sát đánh giá chất lượng sinh hoạt của các TCCSĐ Qua đó, chất lượngđảng viên qua các đợt phân loại ngày càng tăng Năm 1996 có 68,8% đảng viênhoàn thành tốt nhiệm vụ; 2,5% đảng viên không hoàn thành nhiệm vụ đến năm

1999 có 73,9% đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ và 1,3% đảng viên không hoànthành nhiệm vụ Công tác cán bộ có sự chuyển biến tích cực, theo hướng chú trọng

rà soát, quy hoạch và bồi dưỡng cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ có phẩm chất đạo đứctốt, gương mẫu đi đầu trong các hoạt động thực tiễn của địa phương, nhằm tạonguồn cán bộ chủ chốt có chất lượng góp phần quan trọng trong chính sách quyhoạch cán bộ theo tinh thần, chủ trương của Đảng [31, tr 10] Công tác phát triểnĐảng đã đạt được những kết quả nhất định, số đảng viên mới kết nạp đảm bảo về sốlượng và chất lượng đề ra; 100% các TCCSĐ đều kết nạp được đảng viên mới

- Về công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng.

Công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng được cấp ủy và ủy bankiểm tra Huyện ủy tiến hành theo đúng quy định của Điều lệ Đảng và Chỉ thị

29 - CT/TW về tăng cường công tác kiểm tra Đối tượng và nội dung kiểm tra

có trọng tâm, trọng điểm, sát hơn với yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị tại địaphương Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm tra cho cán bộ làm công tác kiểm tra, giám sátđược tăng cường; trong 5 năm 1996 - 2000 đã tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ cho

894 đồng chí cấp ủy viên cơ sở và chi bộ Nhờ vậy mà công tác kiểm tra, giám sátđược thực hiện đồng bộ, có trọng tâm, nội dung kiểm tra được tiến hành toàn diện.Trong 5 năm ủy ban kiểm tra Huyện ủy và cơ sở đã ra quyết định kiểm tra 191TCCSĐ, với 519 đảng ủy viên và chi ủy viên chi bộ được kiểm tra; kịp thời pháthiện những TCCSĐ và đảng viên vi phạm Điều lệ Đảng để xử lý, giữ nghiêm kỷluật Đảng Qua đó thúc đẩy các TCCSĐ thực hiện thắng lợi những nhiệm vụchính trị, thực hiện theo đúng những quy định, nguyên tắc của Đảng

Những thành tựu đã đạt được trong công tác xây dựng TCCSĐ trongnhững năm 1996 – 2000 xuất phát từ nhiều nguyên nhân Nhưng nguyên nhânchính đó là: “các cấp ủy Đảng đã biết vận dụng, cụ thể hóa các chủ trương,

Trang 20

nghị quyết của Trung ương, Tỉnh ủy phù hợp với tình hình địa phương, độngviên được sự cố gắng, nỗ lực của cán bộ, đảng viên” [31, tr.14].

* Hạn chế, nguyên nhân.

Bên cạnh những thành tựu đã đạt được nêu trên, công tác xây dựngTCCSĐ của Đảng bộ huyện Thuận Thành trước năm 2000 còn tồn tại nhiều hạnchế, khuyết điểm cần được khắc phục Trong báo cáo của Ban chấp hành Đảng

bộ huyện tại Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XIX (11/2000) trong phần đánh giáchung đã nêu nên những hạn chế trong công tác xây dựng TCCSĐ đó là:

Chất lượng sinh hoạt Đảng ở nhiều nơi còn hạn chế, tính giáo dục, tínhchiến đấu chưa cao Việc nắm bắt, xử lý những vấn đề phát sinh ở cơ sở cònthiếu chủ động, kéo dài, một số nơi có biểu hiện tránh né; việc phân tích, đánhgiá chất lượng đảng viên ở cơ sở một số nơi còn mang tính hình thức, kết quảkhông sát với thực tiễn

Một bộ phận đảng viên nhận thức còn hạn chế, ngại học tập lý luận,không nắm vững chủ trương, chính sách, không sát thực tế dẫn đến nói và làmkhông đúng vi phạm một số nguyên tắc, kỷ luật Đảng

Tình trạng thiếu thống nhất thậm chí mất đoàn kết nội bộ xảy ra ở một số

cơ sở tuy đã được kiểm điểm, xử lý nhưng một số nơi không chuyển biến vàcòn để kéo dài ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ chính trị, làm giảmlòng tin của nhân dân với TCCSĐ

Công tác kiểm tra, xử lý kỷ luật Đảng có lúc còn chậm và thiếu chủ động.Việc kiểm tra của cấp ủy, ủy ban kiểm tra đối với việc thực hiện các chỉ thị,nghị quyết của Đảng ở cơ quan Nhà nước chưa được quan tâm thường xuyên.Một số kết luận kiểm tra có việc, có nội dung còn mang tính hạn chế; việc xử

lý kỷ luật theo thẩm quyền ở một số cơ sở làm chưa tốt còn né tránh, đùn đẩydẫn đến không kịp thời, ảnh hưởng đến tính giáo dục [31, tr 16]

Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XIX (2005) đã chỉ ra những hạn chế, khuyếtđiểm còn tồn tại trong nhiệm kỳ 2000 – 2005 xuất phát từ những nguyên nhân đó là:

Trang 21

Năng lực lãnh đạo, ý thức trách nhiệm của một số cấp ủy, trên một sốlĩnh vực còn hạn chế, việc nhận thức và vận dụng đường lối, quan điểm củaĐảng, nhất là quan điểm về phát triển kinh tế chưa sâu sắc, dẫn đến áp dụngvào thực tiễn còn lúng túng, không cụ thể, chưa sát với thực tế địa phương.Việc cụ thể hóa một số chủ trương, nghị quyết của một số cấp ủy ở một

số lĩnh vực còn chậm, thiếu tính cụ thể; công tác quản lý, điều hành một sốmặt còn buông lỏng, thiếu sâu sát trong kiểm tra, đôn đốc

Một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa phát huy được đúng vai trò tiênphong, gương mẫu, chưa tích cực chủ động suy nghĩ, tìm tòi, sáng tạo trong tổchức thực hiện nhiệm vụ đề ra [31, tr 17]

Như vậy, với những kết quả đã đạt được trong công tác xây dựngTCCSĐ trong những năm trước năm 2000 đã góp phần nâng cao năng lựclãnh đạo và sức chiến đấu của các TCCSĐ và làm cho Đảng bộ huyện ngàycàng TSVM Tuy nhiên, những tồn tại, khuyết điểm trong công tác xây dựngTCCSĐ ở Đảng bộ huyện Thuận Thành trong những năm trước năm 2000 đã

và đang đặt ra những yêu cầu cần tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo củaĐảng bộ huyện Thuận Thành đối với các TCCSĐ trong toàn Đảng bộ làm chocác TCCSĐ thật sự TSVM, đủ sức lãnh đạo thực hiện thắng lợi những nhiệm

vụ chính trị ở địa phương

1.1.3 Chủ trương của Đảng và Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh về xây dựng tổ chức cơ sở đảng

1.1.3.1 Chủ trương của Đảng về xây dựng tổ chức cơ sở đảng.

Từ khi ra đời, Đảng ta đã nhận thức đúng tầm quan trọng của công tác xâydựng Đảng, trong đó có công tác xây dựng củng cố TCCSĐ Mỗi TCCSĐ TSVM

sẽ làm cho Đảng ta ngày càng vững mạnh, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu ngàycàng được nâng cao Bởi vậy, tại mỗi kỳ Đại hội, Đảng ta đặc biệt chú trọng đếncông tác xây dựng Đảng và đề ra chủ trương cơ bản về công tác xây dựng TCCSĐ Chủ trương về xây dựng TCCSĐ từ năm 2000 đến năm 2010 được thểhiện rõ trong văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX (2001), Đại hội Đảng lần thứ

Trang 22

X (2006) và các văn kiện Hội nghị bàn về công tác xây dựng TCCSĐ tronghai kỳ Đại hội trên Đó là những quan điểm định hướng, chỉ đạo trực tiếp đốivới nhiệm vụ xây dựng TCCSĐ nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo và sứcchiến đấu của các TCCSĐ đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới.

Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (2001), lần thứ X (2006), Đảngnhận định và chỉ rõ tình hình quốc tế, khu vực đang có sự chuyển biến mau lẹ,

diễn biến phức tạp với 4 nguy cơ mà nước ta đang phải đối mặt: một là, sự tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước trong khu vực và quốc tế; hai là, sự chệch hướng xã hội chủ nghĩa; ba là, tham nhũng, lãng phí, tệ quan liêu đã và đang trở thành vấn nạn; bốn là, chiến lược “diễn biến hòa bình” do các thế lực

thù địch tiến hành vẫn tồn tại và có chiều hướng diễn biến phức tạp, không thểcoi nhẹ Những nguy cơ, thách thức trên đòi hỏi Đảng cần tăng cường nâng caonăng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng nhằm đáp ứng vai trò lãnh đạo củaĐảng trong thực hiện thắng lợi nhiệm vụ lãnh đạo phát triển kinh tế, văn hóa xãhội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại đã được đề ra

Từ đó, cùng với thực tiễn công tác xây dựng TCCSĐ trong những nămqua, Đảng đã chủ trương tăng cường nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiếnđấu của TCCSĐ đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước với phươnghướng xây dựng Đảng: “tiếp tục tự đổi mới, tự chỉnh đốn Đảng, tăng cường bảnchất công nhân và tính tiên phong, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu củaĐảng; xây dựng Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức,

có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức cách mạng trong sáng, có tầm trí tuệ cao,

có phương thức lãnh đạo khoa học, gắn bó với nhân dân” [14, tr.279]

Về công tác giáo dục chính trị, tư tưởng: Đảng chủ trương tăng cường

công tác giáo dục lý luận chính trị, giữ vững lập trường tư tưởng và bản chấtgiai cấp công nhân; lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làmnền tảng, kim chỉ nam cho mọi hành động Đồng thời, mỗi cán bộ, đảng viêncần tăng cường học tập lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh; thực hiện nghiêm túc chế độ học tập chính trị, hội nghị quán triệt chủ

Trang 23

trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước Tăng cường đổi mớihình thức, phương pháp giáo dục lý luận chính trị; kết hợp với nâng cao chấtlượng, hiệu quả công tác nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn nhằm củng

cố niềm tin của nhân dân, tạo được sự thống nhất giữ ý chí và hành động

“Coi trọng công tác tư tưởng, công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn,xây dựng nền tảng tư tưởng, lý luận vững chắc cho sự nghiệp đổi mới, xâydựng và bảo vệ Tổ quốc” [14, tr.279] Từ đó, làm cho mỗi cán bộ đảng viênluôn ý thức được việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống; nâng cao tínhtiên phong gương mẫu của mỗi cán bộ, đảng viên, thực hiện đúng các nguyêntắc tổ chức và hoạt động của Đảng góp phần giữ vững phẩm chất chính trị, tưtưởng của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong toàn Đảng

Về công tác xây dựng tổ chức: Đảng chủ trương: “thực hiện đúng các nguyên

tắc và hoạt động của Đảng; đặc biệt là chú trọng nâng cao năng lực lãnh đạo và sứcchiến đấu của tổ chức cơ sở đảng; gắn xây dựng tổ chức đảng với xây dựng hệthống chính trị ở cơ sở; nâng cao chất lượng sinh hoạt Đảng” [14, tr.280]

Cần duy trì, thực hiện tốt các nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt Đảng Tăngcường chú trọng công tác đánh giá, phân loại TCCSĐ, đảng viên để kịp thờiphát hiện các TCCSĐ yếu kém, đảng viên tha hóa, biến chất và tập trung củng

cố các TCCSĐ yếu kém Cùng với đó, cần đổi mới, nâng cao chất lượng sinhhoạt cấp uỷ, chi bộ Đồng thời, cần xác định vị trí, vai trò, chức năng vànhiệm vụ của các loại hình TCCSĐ; quan tâm xây dựng TCCSĐ trong cácdoanh nghiệp cổ phần, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tưnước ngoài, ở vùng sâu, vùng xa Muốn làm được như vậy, Đảng chỉ rõ cầnphải: dồn sức xây dựng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổTCCSĐ, làm cho tổ chức này thật sự trong sạch, vững mạnh; đấu tranh chốngnhững biểu hiện tiêu cực trong Đảng [14, tr.298]

Về công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên: Đảng chủ trương: xây

dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức, lối sốnglành mạnh, không quan liêu, tham nhũng, lãng phí; kiên quyết đấu tranh

Trang 24

chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí; có tư duy đổi mới, sáng tạo, kiến thứcchuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH;

có tinh thần đoàn kết, hợp tác, ý thức tổ chức, kỷ luật cao và phong cách làmviệc khoa học, tôn trọng tập thể, gắn bó với nhân dân, dám nghĩ, dám làm,dám chịu trách nhiệm Đội ngũ cán bộ phải đồng bộ, có tính kế thừa và pháttriển, có số lượng và cơ cấu hợp lý [65, tr 694]

Thực hiện nghiêm túc nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán

bộ và quản lý cán bộ; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên phải chú trọng xâydựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở các cấp từ Trung ương đến cơ sở;việc đánh giá, sử dụng đúng cán bộ phải căn cứ vào tiêu chuẩn, lấy hiệu quảcông tác và sự tín nhiệm của quần chúng nhân dân làm thước đo chủ yếu.Đồng thời, xây dựng đội ngũ cán bộ mang tính đồng bộ, cơ cấu hợp lý, chấtlượng tốt và quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo kế cận có trình độ vànăng lực công tác vững vàng Tăng cường đào tạo đội ngũ cán bộ nữ, cán bộvùng dân tộc thiểu số Quán triệt, vận dụng có hiệu quả chủ trương của Đảng

về luân chuyển cán bộ ở mỗi ngành và địa phương Xây dựng cơ chế, chínhsách phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng và trọng dụng những cán bộ cóđức, có tài, có năng lực lãnh đạo được nhân dân tín nhiệm, ủng hộ Mặt khác,kịp thời thay thế những cán bộ, đảng viên vi phạm phẩm chất đạo đức, lốisống, năng lực công tác kém và vi phạm khuyết điểm nghiêm trọng Tăngcường xây dựng, nâng cao chất lượng các trường đào tạo cán bộ, các trungtâm giáo dục chính trị và tăng cường đổi mới nội dung, phương pháp đào tạo,bồi dưỡng đội ngũ cán bộ có chất lượng tốt đáp ứng được những yêu cầu,nhiệm vụ công tác mới trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH

Về công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng:

Đảng chủ trương: công tác kiểm tra giám sát phải góp phần phát hiện vàkhắc phục được những khuyết điểm, thiếu sót khi mới manh nha; bên cạnhviệc tiếp tục thực hiện kiểm tra tổ chức và cá nhân đảng viên có dấu hiệu viphạm, phải tăng cường chủ động giám sát, kiểm tra về phẩm chất đạo đức vàkết quả thực hiện nhiệm vụ của tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên về nhận thức

Trang 25

và chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhànước và việc chấp hành Điều lệ Đảng [65, tr 697].

Cần tăng cường đẩy mạnh nâng cao chất lượng, hiệu quả của công táckiểm tra, giám sát; thường xuyên kiểm tra, giám sát việc thực hiện các nghịquyết, chỉ thị của Đảng đối với các TCCSĐ và đội ngũ cán bộ, đảng viên

để phòng ngừa và khắc phục kịp thời sai lầm, khuyết điểm; gắn việc kiểmtra, giám sát về phẩm chất chính trị, năng lực công tác của đội ngũ cán bộ,đảng viên với việc phát huy vai trò giám sát của nhân dân, Mặt trận và cácđoàn thể Đồng thời, hoàn thiện quy chế về quyền kiểm tra, giám sát củatập thể đối với cá nhân, của tổ chức đối với tổ chức, của cá nhân đối với cánhân và tổ chức, cá nhân đối với cán bộ lãnh đạo chủ chốt Tăng cườngcông tác kiểm tra, giám sát trong Đảng với công tác kiểm tra, giám sát củaNhà nước và sự giám sát của nhân dân

Về đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng: Từ hạn chế về đổi mới

phương thức lãnh đạo, Đảng đã chủ trương: “Đổi mới phương thức lãnh đạo củaĐảng bảo đảm vừa nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, vừa phát huy tính chủđộng, sáng tạo, tinh thần trách nhiệm của Nhà nước, Mặt trận, các đoàn thể nhândân và người đứng đầu; khắc phục khuynh hướng buông lỏng sự lãnh đạo hoặc baobiện làm thay; phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị” [14, tr.298].Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng phải được thực hiện đồng bộvới đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị, đổi mới kinh tế.Tăng cường công tác nghiên cứu, tổng kết, làm rõ các quan điểm của Đảnglàm cơ sở để xây dựng phương hướng, biện pháp đổi mới phương thức lãnhđạo của Đảng một cách cơ bản, toàn diện

Đồng thời, tiếp tục đổi mới tác phong, lề lối làm việc của Đảng, của cácTCCSĐ theo hướng thật sự dân chủ, thiết thực và phù hợp với thực tiễn củatừng cấp, từng ngành Đẩy mạnh việc đổi mới cách ra nghị quyết và chỉ đạocủa cấp ủy các cấp gắn với việc kiểm tra, giám sát, tổng kết việc thực hiệnnghị quyết và sự chỉ đạo của cấp ủy

Trang 26

Những quan điểm, chủ trương của Đảng trong những năm 2000 - 2010 về xâydựng Đảng nói chung, về xây dựng TCCSĐ nói riêng là cơ sở để Đảng bộ huyệnThuận Thành quán triệt, vận dụng linh hoạt, sáng tạo vào thực tiễn công tác xâydựng TCCSĐ ở địa phương nhằm xây dựng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sứcchiến đấu của mỗi TCCSĐ đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ chính trị, đáp ứng đượcnhững yêu cầu đặt ra và giữ vững Đảng bộ huyện TSVM.

1.1.3.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh về xây dựng tổ chức cơ sở đảng.

Trên cơ sở nắm vững những quan điểm, chủ trương của Đảng về xâydựng TCCSĐ nhằm đáp ứng những yêu cầu trước sự chuyển biến mau lẹ,nhiều phức tạp của tình hình quốc tế và khu vực; Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh luônbám sát và đề ra những chủ trương phù hợp với tình hình thực tiễn trong côngtác xây dựng TCCSĐ trên địa bàn tỉnh Những quan điểm, chủ trương về xâydựng TCCSĐ của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh từ năm 2000 đến năm 2010 đượcxác định rõ trong hai kỳ Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI (2001) và Đại hộiĐảng bộ tỉnh Bắc Ninh lần thứ XVII (2005)

Tại Đại hội Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lần thứ XVI (2001) trên cơ sở tổngkết những thành tựu, hạn chế, khuyết điểm trong công tác xây dựng Đảngnói chung và thực hiện nhiệm vụ lãnh, chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ nângcao chính trị, phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội đã được đề ra tại Đại hộiĐảng bộ tỉnh lần thứ XV (1997) Đại hội đã nhận định, chỉ rõ vì sao cần phảităng công tác xây dựng TCCSĐ trong những năm tới nhằm đáp ứng nhữngyêu cầu mới đặt ra “Trước những yêu cầu ngày càng cao của thời kỳ côngnghiệp hóa, hiện đại hóa, đòi hỏi Đảng phải tự đổi mới, tự chỉnh đốn, pháthuy ưu điểm, kiên quyết sửa chữa khuyết điểm, làm cho Đảng thực sự trongsạch, vững mạnh, có trí tuệ, đạo đức, có năng lực lãnh đạo và sức chiến đấucao, ngang tầm thời kỳ mới” [68, tr 66]

Từ đó, Đại hội đã đề ra chủ trương tập trung đổi mới, xây dựng, chỉnhđốn, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức đảng trêncác mặt sau:

Trang 27

Một là, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục chính trị tư

tưởng, rèn luyện đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên

Hai là, nâng cao chất lượng của tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng

viên; đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng

Ba là, đổi mới công tác tổ chức cán bộ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong

giai đoạn cách mạng mới

Bốn là, tăng cường công tác kiểm tra, giữ nghiêm kỷ cương, kỷ luật của Đảng.

Sau Đại hội, Tỉnh ủy đã tổ chức quán triệt và ban hành các nghị quyết,

kế hoạch lãnh đạo, chỉ đạo công tác xây dựng TCCSĐ trong những năm tiếptheo như: Kế hoạch số 26 - KH/TU về “nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộđảng”, Nghị quyết số 10 - NQ/TU về “tăng cường công tác kiểm tra của Đảng

bộ tỉnh Bắc Ninh thời kỳ 2002 - 2005”…

Đến Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lần thứ XVII (12/2005),với những kết quả đạt được và chưa đạt được các mục tiêu đề ra về công tácxây dựng, củng cố TCCSĐ trong nhiệm kỳ trước; Đại hội đã xác định cầnphải đẩy mạnh hơn nữa công tác xây dựng, chỉnh đốn, nâng cao năng lực lãnhđạo và sức chiến đấu của các TCCSĐ với mục tiêu “phấn đấu đến năm 2010

có 85% tổ chức cơ sở đảng đạt trong sạch vững mạnh, kết nạp 7.500 đảngviên mới, trong đó tỷ lệ nữ ít nhất là 30% ở Đảng bộ cơ quan, phường và 20%Đảng bộ xã, thị trấn [69, tr 66 - 67]

Để thực hiện được mục tiêu đề ra, Đại hội xác định phương hướng, cùngnhững giải pháp để tăng cường xây dựng, củng cố TCCSĐ

Về phương hướng: Tăng cường xây dựng, phát huy và giữ vững các

TCCSĐ TSVM; củng cố các TCCSĐ yếu kém nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo

và sức chiến đấu của các TCCSĐ Cùng với đó, không ngừng đổi mới về mọimặt cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng gắn với kế hoạch nâng cao chấtlượng sinh hoạt chi đảng bộ và vai trò của cấp ủy, người đứng đầu cấp ủy.Thường xuyên làm tốt công tác kiểm tra, giám sát hoạt động của TCCSĐ vàđảng viên, kịp thời phát hiện những TCCSĐ, đảng viên vi phạm các nguyên tắccủa Đảng, để đưa ra phương hướng khắc phục những hạn chế, khuyết điểm

Trang 28

Đồng thời, đẩy mạnh, nâng cao chất lượng công tác bồi dưỡng tạo nguồn pháttriển đảng viên mới đảm bảo hoàn thành mục tiêu kết nạp đảng viên mới về sốlượng và chất lượng Xây dựng TCCSĐ thực sự là nền tảng, là hạt nhân lãnh đạochính trị ở cơ sở, là cầu nối giữa Đảng với nhân dân, nơi nắm bắt tâm tư nguyệnvọng của nhân dân, bồi dưỡng, giáo dục và sàng lọc đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Về giải pháp nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của cácTCCSĐ được Đại hội xác định:

Một là, cần tổ chức quán triệt đến các đảng bộ, đảng bộ cơ sở và chi bộ,

đảng viên về vị trí, vai trò, chức năng và nhiệm vụ của các TCCSĐ Từ đó,các TCCSĐ và đảng viên hiểu rõ về chức năng, nhiệm vụ của mình trong thựchiện nhiệm vụ lãnh đạo chính trị tại cơ sở, tránh tình trạng các TCCSĐ đảngviên thụ động, ỷ lại, trông chờ vào sự lãnh, chỉ đạo từ cấp trên

Hai là, thường xuyên nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục

chính trị tư tưởng, rèn luyện đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên

Ba là, đẩy mạnh phong trào thi đua xây dựng TCCSĐ TSVM, củng cố

các TCCSĐ yếu kém trong toàn Đảng bộ nhằm tạo động lực thi đua, phấn đấuxây dựng các TCCSĐ luôn vững mạnh, hoàn thành tốt những mục tiêu, nhiệm

vụ lãnh đạo chính trị ở cơ sở

Bốn là, không ngừng nâng cao chất lượng tạo nguồn, bồi dưỡng, kết

nạp đảng viên mới đảm bảo về số lượng và chất lượng, không chạy theothành tích về số lượng, mà coi nhẹ chất lượng Hằng năm các TCCSĐ cầnxây dựng kế hoạch tạo nguồn, bồi dưỡng và kết nạp đảng viên mới theođúng quy định của Đảng

Năm là, tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, sinh hoạt cấp

ủy theo đúng quy định của Đảng và vai trò của cấp ủy, người đứng đầu cấp ủy

Sáu là, thường xuyên chăm lo, làm tốt công tác xây dựng đội ngũ cán bộ ở cơ

sở, nhất là những người đứng đầu cấp ủy, cán bộ chủ chốt và cấp ủy viên

Bảy là, thực hiện việc đánh giá, phân loại chất lượng TCCSĐ, đảng viên

theo đúng quy định và hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương

Trang 29

Tám là, thường xuyên coi trọng, làm tốt công tác kiểm tra, giám sát của

cấp ủy cấp trên đối với các TCCSĐ và đảng viên

Chín là, đẩy mạnh hơn nữa việc thực hiện cuộc vận động xây dựng,

chỉnh đốn Đảng, tự phê bình và phê bình theo tinh thần Nghị quyết Trungương 6 (lần 2) khóa VIII

Vận dụng, quán triệt theo tinh thần chủ trương của Đảng và Đại hộiĐảng bộ tỉnh lần thứ XVII, Tỉnh ủy Bắc Ninh đã ban hành nhiều kếhoạch, nghị quyết, chương trình hành động để chỉ đạo công tác xây dựngĐảng nói chung, công tác xây dựng TCCSĐ nói riêng như: Kế hoạch số

26 KH/TU về nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ; Quyết định số 196 QĐ/TU về “Đề án nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổchức cơ sở đảng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên ở Đảng

bộ tỉnh Bắc Ninh thời kỳ 2006 2010; Chương trình hành động số 45 CTr/TU thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trungương khóa X về nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ

-sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên, …

Những chủ trương được đề ra về công tác xây dựng và củng TCCSĐtrong hai kỳ Đại hội Đảng bộ tỉnh là cơ sở để các Đảng bộ huyện, Đảng bộ cơquan trực thuộc Tỉnh ủy Bắc Ninh triển khai thực hiện nhiệm vụ xây dựng cácTCCSĐ luôn vững mạnh trên cả 3 mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức đảm bảolãnh, chỉ đạo hoàn thành thắng lợi những mục tiêu phát triển kinh tế, giữ gìnbản sắc văn hóa truyền thống của địa phương, đảm bảo an sinh xã hội

1.2 Chủ trương của Đảng bộ huyện Thuận Thành về xây dựng tổ chức cơ sở đảng (2000 - 2010)

1.2.1 Về mục tiêu, phương hướng.

Căn cứ vào thực tiễn và những kết quả, hạn chế nhất định trong công tác xâydựng TCCSĐ trong nhiệm kỳ trước, Đại hội Đảng bộ huyện Thuận Thành lần thứXIX (11/2000), lần thứ XX (10/2005) đã xác định mục tiêu, phương hướng trongcông tác xây dựng, củng cố TCCSĐ từ năm 2000 đến năm 2010 đó là:

Trang 30

* Về mục tiêu tổng quát: luôn coi trọng, tăng cường công tác giáo dục

chính trị, tư tưởng, nâng cao nhận thức trong đông đảo cán bộ, đảng viên tạolên sự thống nhất về nhận thức và hành động trong toàn Đảng bộ Tập trungchỉ đạo duy trì, phát huy các TCCSĐ TSVM; đề ra biện khắc phục những TCCSĐyếu kém, không ngừng nâng cao chất lượng TCCSĐ và đảng viên Chỉ đạo và tổchức thực hiện có hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật TCCSĐ vàđảng viên vi phạm Điều lệ Đảng Tăng cường công tác phát triển đảng viên mớiđảm bảo cả về số lượng và chất lượng

* Về mục tiêu cụ thể: trên cơ sở mục tiêu tổng quát về xây dựng TCCSĐ, Đại

hội lần thứ XIX, lần thứ XX của Đảng bộ huyện Thuận Thành đã xác định mục tiêu

cụ thể đối với công tác xây dựng, củng cố TCCSĐ từ năm 2000 đến năm 2010

Đối với công tác giáo dục chính trị, tư tưởng: duy trì có nề nếp gắn với

đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng,đạo đức, lối sống cho đội ngũ cán bộ, đảng viên thông qua các đợt sinh hoạtchính trị, học tập, quán triệt và triển khai các chỉ thị, nghị quyết của Đảng,Tỉnh ủy và Huyện ủy “Phấn đấu tỷ lệ đảng viên tham gia các đợt học tập nghịquyết, chỉ thị, bồi dưỡng chuyên đề đạt 88% trở lên” [31, tr.27] Việc nắm bắtthông tin nội bộ, nâng cao chất lượng, hiệu quả nắm bắt thông tin thời sự quốc

tế, trong nước và tỉnh thông qua việc mua, đọc báo, tạp chí của Đảng “Bảođảm 100% các chi bộ có báo Nhân dân, Báo Bắc Ninh, Tạp chí Cộng sản vàBản tin sinh hoạt chi bộ của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy” [31, tr.28] Từng bướcnâng cao trình độ lý luận của đội ngũ cán bộ, đảng viên đáp ứng yêu cầunhiêm vụ chính trị được giao Phấn đấu đến năm 2008, 100% cán bộ lãnh đạo,quản lý các phòng ban, đoàn thể huyện có trình độ chuyên môn đại học trởlên, trình độ lý luận trung cấp trở lên; 100% cán bộ công chức cấp xã, thị trấn

có trình độ chuyên môn, trình độ lý luận trung cấp trở lên [31, tr.28]

Đối với công tác tổ chức, xây dựng TCCSĐ trong sạch vững mạnh: Duy

trì tốt việc thực hiện quy chế, nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt Đảng “Thực hiệnnghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ và nguyên tắc tổ chức sinh hoạt

Trang 31

Đảng Củng cố tổ chức, kiện toàn cấp ủy theo đúng quy định Điều lệ Đảng”[31, tr.28]; thường xuyên rà soát, bổ sung quy hoạch cán bộ, kiện toàn đội ngũcán bộ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đề ra Trước mắt là chỉ đạo kiện toàn độingũ cán bộ Đảng, chính quyền, đoàn thể sau Đại hội Đảng bộ các cấp, xâydựng quy hoạch đội ngũ cán bộ chủ chốt ngành và cơ sở đến năm 2005 Thựchiện nghiêm túc nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ vàquản lý cán bộ Bổ sung, hoàn chỉnh quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡngđội ngũ cán bộ đương chức và cán bộ kế cận đến năm 2010 và những nămtiếp theo đảm bảo hợp lý, cân đối giữa các ngành, các lĩnh vực công tác.

Tăng cường công tác xây dựng, đánh giá phân loại chất lượng TCCSĐ

“Tổ chức tốt việc đăng ký, xét duyệt, công nhận chi, đảng bộ trong sạch vữngmạnh hàng năm” [31, tr.28] Đồng thời, đánh giá đúng thực chất các tổ chức

cơ sở đảng và đảng viên theo định kỳ Phấn đấu hằng năm có trên 80% số tổchức cơ sở đảng đạt danh hiệu trong sạch vững mạnh Giữ vững Đảng bộhuyện là Đảng bộ trong sạch vững mạnh [34, tr.28]

Đối với công tác kiểm tra, giám sát thi hành kỷ luật Đảng: thực hiện

nghiêm túc nhiệm vụ kiểm tra theo Điều lệ Đảng và Chỉ thị số 29 - CT/TWcủa Bộ Chính trị (Khóa VIII) quy định, nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụchính trị của địa phương và cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng Đẩymạnh tăng cường công tác kiểm tra tập thể cấp ủy, Ủy ban kiểm tra các cấp

và của mỗi cấp ủy viên, trọng tâm là kiểm tra việc thực hiện quy chế,nguyên tắc sinh hoạt Đảng, kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị theo chứcnăng, nhiệm vụ của của mỗi tổ chức Đảng Giải quyết kịp thời các đơn thư

tố cáo khiếu nại có liên quan đến đảng viên, cán bộ chủ chốt ngành, cơ sở.Phát hiện, kiểm tra, kết luận lịp thời và xử lý nghiêm túc cán bộ, đảng viên

có sai phạm theo đúng quy trình, quy định của Điều lệ Đảng và hướng dẫncủa Ủy Ban kiểm tra Trung ương “Hàng năm tập trung kiểm tra đảng viên

và tổ chức đảng trong việc chấp hành Cương lĩnh, Điều lệ Đảng, chủtrương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước và các chỉ thị, nghị

Trang 32

quyết, quyết định, kết luận của cấp ủy các cấp Trong nhiệm kỳ kiểm tra100% Ban thường vụ Đảng ủy các Đảng bộ xã, thị trấn; 30% chi bộ trựcthuộc Huyện ủy theo điều 30 Điều lệ Đảng” [34, tr.29].

Đối với công tác phát triển Đảng: coi trọng công tác bồi dưỡng, kết

nạp, đánh giá, phân loại chất lượng đảng viên “Tăng cường công tác pháttriển đảng viên mới đảm bảo cả về số lượng và chất lượng Phấn đấu mỗinăm kết nạp từ 100 đảng viên trở lên Chấn chỉnh một công tác quản lý,phân công công tác cho đảng viên Nâng cao chất lượng, hiệu quả bình xét,phân loại đảng viên hàng năm” [31, tr.28] Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ

XX xác định tiếp tục đẩy mạnh công tác phát triển đảng viên mới đảm bảo

số lượng, coi trọng chất lượng Chú ý phát triển mạnh đảng viên sinh hoạt

ở các thôn xóm, từng bước giảm độ tuổi bình quân trong Đảng Hàng nămcác Đảng bộ xã, thị trấn kết nạp từ 5 đảng viên trở lên; các chi, đảng bộ cơquan kết nạp ít nhất 01 đảng viên trở lên Toàn Đảng bộ kết nạp từ 100 đến

120 đảng viên/năm Phấn đấu hằng năm có trên 80% số đảng viên đủ tưcách hoàn thành tốt nhiệm vụ

* Về phương hướng: đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác

giáo dục chính trị, tư tưởng, rèn luyện phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sốngtrong đội ngũ cán bộ, đảng viên tạo nên sự thống nhất về tư tưởng và hành độngtrong toàn Đảng bộ Xây dựng kế hoạch phát huy, giữ vững các TCCSĐ TSVM

và khắc phục những TCCSĐ yếu kém Đổi mới công tác tổ chức, quy hoạch cán

bộ gắn liền với duy trì các nguyên tắc kỷ luật của Đảng nhằm đáp ứng yêu cầunhiệm vụ mới Đồng thời, nâng cao chất lượng, hiệu quả trong sinh hoạt chi,đảng bộ; phát huy vai trò của cấp ủy và người đứng đầu cấp ủy Đẩy mạnh côngtác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật Đảng đối với TCCSĐ và đảng viên;kiên quyết xử lý kỷ luật đối với TCCSĐ, đảng viên vi phạm nguyên tắc, kỷ luậtĐảng; tiến hành khai trừ những đảng viên tha hóa, biến chất, không đủ tư cách rakhỏi Đảng Cùng với đó, thường xuyên làm tốt công tác phát hiện, bồi dưỡng tạonguồn, kết nạp đảng viên mới

Trang 33

1.2.2 Nhiệm vụ và giải pháp

* Nhiệm vụ

Trên cơ sở mục tiêu tổng quát, mục tiêu cụ thể và phương hướng xâydựng, củng cố TCCSĐ trong hai nhiệm kỳ, Đại hội Đảng bộ huyện lần thứXIX, lần thứ XX đã xác định những nhiệm vụ cần triển khai thực hiện tronghai nhiệm kỳ (2000 – 2005) và (2006 – 2010):

Một là, tăng cường đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục

chính trị thông qua việc học tập, quán triệt chỉ thị, nghị quyết của Đảng, Tỉnh ủy,Huyện ủy; tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, chính sáchcủa Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước góp phần nâng cao nhận thức vềtrách nhiệm, tạo nên sự đồng thuận, nhất trí cao trong toàn Đảng bộ và nhân dân

Hai là, xây dựng Đảng bộ TSVM, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức

chiến đấu của các TCCSĐ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đẩy mạnh sự nghiệpCNH, HĐH nông nghiệp nông thôn

Ba là, tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng thông

qua việc phát huy dân chủ trong Đảng, giữ vững các nguyên tắc tổ chức, kỷluật Đảng và thực hiện tốt chế độ tự phê bình và phê bình

Bốn là, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên vững vàng về lập trường, tư

tưởng, không ngừng học tập nâng cao trình độ, năng lực công tác đảm bảohoàn thành nhiệm vụ chính trị được giao

Năm là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng hướng

vào nhiệm vụ trọng tâm, trọng điểm, thực hiện nghiêm kỷ cương, kỷ luật Đảng

* Giải pháp

Trên cơ sở phương hướng, mục tiêu và nhiệm vụ đề ra về công tác xâydựng TCCSĐ trong những năm 2000 đến năm 2010, Đảng bộ huyện ThuậnThành đã xác định những giải pháp nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo và sứcchiến đấu của các TCCSĐ trong toàn Đảng bộ:

- Về công tác giáo dục chính trị, tư tưởng.

Thường xuyên duy trì có nền nếp và nâng cao hiệu quả công tác giáodục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên Bằng việc

Trang 34

đẩy mạnh công tác tuyên truyền, học tập lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh; các chỉ thị, nghị quyết, quyết định kế hoạch của Đảng,Tỉnh ủy và Huyện ủy gắn với nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ,đảng viên trong việc tuyên truyền thực hiện chủ trương, chính sách củaĐảng, pháp luật của Nhà nước “Duy trì có nền nếp và nâng cao hiệu quảcông tác giáo dục chính trị, tư tưởng đạo đức và lối sống cho cán bộ đảngviên Thông qua các đợt sinh hoạt chính trị, các đợt triển khai chỉ thị, nghịquyết, công tác thông tin thời sự chính sách, các lớp lý luận chính trị phổthông, các lớp chuyên đề,…trước mắt là đợt triển khai Nghị quyết Đại hộiĐảng toàn quốc lần thứ IX, Nghị quyết Đảng bộ tỉnh, Huyện và cơ sở” [31,tr.27] Đồng thời đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục chủ nghĩa Mác -Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, giáo dục đạo đức cho cán bộ, đảng viên Tổchức tốt việc triển khai nghiên cứu, quán triệt thực hiện Nghị quyết Đại hộiĐảng toàn quốc lần thứ X, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lầnthứ XVII, Nghị quyết Đảng bộ huyện lần thứ XX và các nghị quyết, chỉ thị củaTrung ương và Tỉnh ủy” [34, tr.27].

Tích cực, chủ động xây dựng chương trình hành động thực hiện các nghịquyết, chỉ thị kịp thời, cụ thể, sát thực và có tính khả thi Tăng cường công táctuyên truyền, phổ biến, giáo dục truyền thống cách mạng cho đội ngũ cán bộ,đảng viên và nhân dân tạo nên sự đồng thuận, thống nhất cao về tư tưởng vàhành động trong Đảng và nhân dân

Thực hiện nghiêm túc quy định, chế độ học tập lý luận chính trị trongĐảng; nâng cao chất lượng công tác bồi dưỡng lý luận chính trị, rèn luyện đạođức cách mạng cho cán bộ, đảng viên Thường xuyên nắm bắt tình hình diễnbiến tư tưởng, kịp thời phát hiện uốn nắn nhận thức, hành động chưa đúng vớiquan điểm, đường lối của Đảng Tăng cường nắm bắt thông tin trong nước vàquốc tế qua sách, báo, các phương tiện thông tin đại chúng “Thực hiện tốtphương châm toàn Đảng làm công tác tư tưởng Đồng thời nâng cao tráchnhiệm của đồng chí Bí thư và cấp ủy trong việc nắm bắt tình hình tư tưởng,

Trang 35

giải quyết những vấn đề tư tưởng nảy sinh Thực hiện có nền nếp chế độ giaoban phản ánh về công tác tư tưởng gắn với việc thực hiện các nhiệm vụ kinh

tế - xã hội trọng tâm trong từng thời gian” [31, Tr.27 - 28] Cùng với đó, BanTuyên giáo Huyện ủy chủ trì cùng các đoàn thể, quần chúng có kế hoạch giúpcấp ủy khảo sát, đánh giá tình hình tư tưởng trong từng thời gian, nhất lànhững vấn đề có liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ giáo dục chính trị, tưtưởng, các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và việc thực hiện các chủtrương, chính sách của Đảng và Nhà nước

Duy trì thường xuyên công tác thông tin chính trị nội bộ và việc nắm bắtthông tin chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội của quốc tế, khu vực, trong nước,của tỉnh và tình hình địa phương thông qua việc mua, đọc sách, báo, tạp chí

- Về công tác chăm lo xây dựng tổ chức Đảng.

Thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ và các nguyên tắc tổ chứcsinh hoạt Đảng “Duy trì tốt việc thực hiện quy chế, nguyên tắc sinh hoạt Đảng, trướchết là nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình” [31, tr.28] Thườngxuyên làm tốt công tác xây dựng, kiện toàn tổ chức Đảng “Củng cố tổ chức,kiện toàn cấp ủy theo đúng quy định trong Điều lệ Đảng Xây dựng và thựchiện tốt, nghiêm quy chế hoạt động của cấp ủy Nâng cao chất lượng, hiệuquả các kỳ sinh hoạt, các hội nghị cấp ủy” [34, tr.28]

Mặt khác, Ban Tổ chức Huyện ủy cần phối hợp với Ban Tuyên giáo Huyện

ủy xây dựng kế hoạch khảo sát, đánh giá và rút kinh nghiệm về nội dung, hìnhthức sinh hoạt của các cấp ủy, chi bộ Từ đó, tăng cường đổi mới nội dung sinhhoạt của cấp ủy, chi bộ đảm bảo chất lượng, hiệu quả sinh hoạt Đảng

Tiến hành xây dựng kế hoạch đăng ký, đánh giá, phân loại chất lượngTCCSĐ và biện pháp khắc phục các TCCSĐ yếu kém “Tổ chức tốt việc đăng

ký, xét duyệt, công nhận chi, đảng bộ trong sạch vững mạnh hằng năm Trên

cơ sở đăng ký của các chi, đảng bộ và tình hình thực tiễn, mỗi năm cấp ủychọn một số đơn vị trọng điểm để giúp đỡ, xây dựng, củng cố nhằm đạt đượcmục tiêu đề ra” [31, tr.28]

Trang 36

Đối với công tác phát triển Đảng, các đảng bộ cơ sở và chi bộ cơ sởcần chỉ đạo các đoàn thể tăng cường hoạt động, nhất là tổ chức Đoàn thanhniên; qua hoạt động của các đoàn thể, phát hiện các quần chúng ưu tú, tiếnhành bồi dưỡng tạo nguồn kết nạp đảng viên mới Việc tiến hành bồidưỡng, tạo nguồn và kết nạp đảng viên mới phải thực hiện đúng theo quyđịnh trong Điều lệ Đảng.

- Về công tác chăm lo, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Duy trì, thực hiện nghiêm túc nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo côngtác cán bộ và quản lý cán bộ Đồng thời đẩy mạnh công tác quy hoạch, bồidưỡng và phân công nhiệm vụ cho cán bộ đảng viên theo năng lực, trình độđược đào tạo “Xây dựng kế hoạch đào tạo, bố trí, sử dụng đội ngũ cán bộ,nhất là cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ đã được đào tạo cơ bản và được rènluyện trưởng thành qua thực tiễn công tác Thực hiện đúng quy trình về đánhgiá tuyển chọn, đề bạt cán bộ theo chuẩn từng chức danh” [31, tr 28]

Quán triệt, vận dụng, triển khai thực hiện có hiệu quả công tác cán bộ vàluân chuyển cán bộ theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng lầnthứ 3 (Khóa VIII) về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước; Nghị quyết số 42 - NQ/TW của Bộ Chính trị (Khóa IX)

và Nghị quyết số 11 - NQ/TW của Bộ Chính trị Đẩy mạnh công tác luânchuyển cán bộ theo tinh thần Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ chính trị Tiếptục luân chuyển cán bộ quản lý giữa các khối Đảng, chính quyền, đoàn thể vàtừng bước thực hiện công tác luân chuyển cán bộ cấp huyện về xã, thị trấn vàngược lại Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị bảođảm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ CNH, HĐH Kiên quyết thay thếnhững cán bộ sa sút về phẩm chất đạo đức, lối sống, có biểu hiện tham nhũng,

cơ hội, mất tín nhiệm và năng lực chuyên môn không đáp ứng yêu cầu nhiệm

vụ đang đảm nhiệm [34, tr 29]

- Về công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật Đảng.

Thường xuyên làm tốt công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảngđối với các đảng bộ cơ sở, chi bộ và các chi bộ trực thuộc Huyện ủy Thực

Trang 37

hiện nghiêm túc nhiệm vụ kiểm tra do Điều lệ Đảng và Chỉ thị số 29 - CT/TWcủa Bộ Chính trị (Khóa VIII) quy định Hàng năm tập trung kiểm tra đảngviên và tổ chức đảng chấp hành cương lĩnh và Điều lệ Đảng, thực hiện chủtrương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước Thực hiện tốtcác cuộc kiểm tra chuyên đề; chú trọng kiểm tra việc lãnh, chỉ đạo tổ chức việcchuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn và việc thực hiện các chươngtrình, đề án phát triển kinh tế - xã hội Nâng cao chất lượng, hiệu quả công táckiểm tra Giải quyết nghiêm túc, kịp thời các vụ việc phát sinh [34, tr 29]

Trong quá trình tiến hành kiểm tra, giám sát phải đảm bảo tính kháchquan, chính xác, không dung túng, làm sai lệch kết quả kiểm tra, giám sát vàthi hành kỷ luật Đảng nhằm xây dựng chỉnh đốn Đảng, củng cố TCCSĐ yếukém và giữ nghiêm kỷ luật Đảng

1.3 Đảng bộ huyện Thuận Thành chỉ đạo công tác xây dựng tổ chức

cơ sở đảng (2000 - 2010)

1.3.1 Chỉ đạo công tác giáo dục chính trị, tư tưởng

Từ năm 2000 đến năm 2010, Ban Thường vụ Huyện ủy đã tập trung chỉđạo tăng cường đổi mới, nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị tưtưởng thông qua việc ban hành các văn bản chỉ đạo như: Chương trình thựchiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng(khóa IX) “Về nhiệm vụ chủ yếu của công tác tư tưởng, lý luận trong tìnhhình mới”; Kế hoạch triển khai thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theotấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” từ nay đến năm 2011 và trong Báo cáo vềkết quả lãnh, chỉ đạo và phương hướng, nhiệm vụ xây dựng Đảng hàng năm.Thực hiện Chỉ thị số 11 - CT/TW ngày 08/04/2002 của Ban chấp hànhTrung ương Đảng và Kế hoạch số 13 - KH/TU ngày 13/05/2002 của Tỉnh ủy

về việc “Tổ chức, triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Banchấp hành Trung ương Đảng khóa IX, về nhiệm vụ chủ yếu của công tác tưtưởng, lý luận trong tình hình mới” Huyện ủy Thuận Thành đã xây dựngChương trình hành động số 25 - CTr/HU ngày 05/06/2002 về “thực hiện Nghị

Trang 38

quyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX), vềnhiệm vụ chủ yếu của công tác tư tưởng, lý luận trong tình hình mới” Trong

đó, đã nêu nên những kết quả và hạn chế trong công tác tư tưởng, lý luậntrong đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân Về những kết quả đã đạt đượctrong công tác tư tưởng đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên “Đa số cán bộ,đảng viên vẫn luôn kiên định lập trường, tư tưởng, thực hiện nghiêm Cươnglĩnh, Điều lệ Đảng, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Tin tưởngvào sự nghiệp đổi mới và con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội, có nhận thức,thái độ cương quyết đấu tranh với các quan điểm nhận thức sai trái, nhữngbiểu hiện vi phạm đạo đức, lối sống trong xã hội” [32, tr.1] Về nhận thức củanhân dân “Sau hơn 15 năm đổi mới, đời sống vật chất, tinh thần của các tầnglớp nhân dân ngày một nâng cao; tuyệt đại đa số nhân dân phấn khởi, tintưởng vào quan điểm, đường lối đổi mới và sự lãnh đạo của Đảng, chính sáchpháp luật của Nhà nước hăng hái thi đua lao động sản xuất và học tập” [32,tr.1]

Tuy nhiên vẫn tồn tại những hạn chế nhất định: vẫn còn một số cán bộ,đảng viên do nhận thức chính trị hạn chế nên còn băn khoăn về con đường đilên Chủ nghĩa xã hội, bàng quang, mất cảnh giác trước những luận điệu xuyêntạc, bôi nhọ chế độ, bôi nhọ Đảng của các thế lực thù địch; một số còn chưatin vào kết quả cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, coi nhẹ nguyên tắctập trung dân chủ trong Đảng, giảm sút ý chí phấn đấu, ngại đấu tranh phêbình và tự phê bình Đặc biệt còn một số ít cán bộ, đảng viên có biểu hiện nóikhông đi đôi với làm, thiếu gương mẫu, sống cơ hội thực dụng làm ảnh hưởngđến uy tín của Đảng [32, tr.1]

Ban Thường vụ Huyện ủy đã xác định cần tăng cường công tác giáo dụcchính trị, tư tưởng nhằm tạo chuyển biễn rõ nét về tư tưởng thống nhất vớihành động của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong thực hiện nhiệm vụ xây dựngĐảng và lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội Chươngtrình hành động đã nêu ra yêu cầu đối với công tác giáo dục chính trị, tư

Trang 39

tưởng: “Tập trung hướng về cơ sở tạo sự chuyển biến rõ nét trong nhận thứccủa cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, tạo sự đồng thuận, thốngnhất trong Đảng và nhân dân về quan điểm, đường lối của Đảng; giải quyếtkịp thời các vấn đề mới, bức xúc nảy sinh từ cơ sở Tuyên truyền, khơi dậy,

cổ vũ các phong trào thi đua yêu nước [32, tr.4]

Cùng với đó, chương trình hành động đã nêu lên các nhiệm vụ cần triểnkhai thực hiện trong công tác giáo dục tư tưởng và lý luận nhằm nâng cao chấtlượng công tác giáo dục tư tưởng, tăng cường nhận thức và tinh thần chiến đấutrong đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân trước luận điệu bôi nhọ, xuyên tạc

về chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước với các nhiệm cụ thể:

Một là, nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền,

quán triệt, học tập các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật củaNhà nước; giáo dục lý luận chính trị, tạo sự thống nhất trong Đảng và đồngthuận trong nhân dân

Thực chất đây là việc đổi mới nâng cao chất lượng, hiệu quả về hìnhthức, phương pháp, phương tiện và nội dung công tác tuyên truyền giáo dục

lý luận chính trị Trước hết cần thực hiện nghiêm túc Chỉ thị 54 của Bộ Chínhtrị Chú ý đẩy mạnh và nâng cao chất lượng đội ngũ báo cáo viên, tuyêntruyền viên cơ sở Mọi đảng viên nói và làm theo đúng nghị quyết của Đảng;các cấp ủy đảng cần coi trọng việc giáo dục, tuyên truyền, phổ biến các chỉthị, nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước cho đội ngũ cán

bộ, đảng viên hiểu và thực hiện

Hai là, công tác giáo dục chính trị, tư tưởng và lý luận phải chủ động, đi

trước trong việc tấn công làm thất bại mọi âm mưu phá hoại của các phần tửxấu, bất mãn, phản động và của các thế lực thù địch

Các cấp ủy Đảng, chính quyền và các đoàn thể chính trị xã hội phảithường xuyên nắm chắc diễn biến tư tưởng và dư luận xã hội trên địa bàn mình,

có phương án xử lý kịp thời những tình huống phức tạp có thể xảy ra

Trang 40

Đồng thời, các cấp ủy Đảng cùng các đoàn thể chính trị xã hội tăngcường công tác thông tin, tuyên truyền, giáo dục về đường lối, chính sách củaĐảng và pháp luật của Nhà nước; nâng cao ý thức cảnh giác, vạch trần âmmưu, thủ đoạn gây chia rẽ của các phần tử cơ hội và các thế lực thù địch Kếthợp chặt chẽ giữa hai yếu tố “xây” và “chống” , trong đó xây dựng chính Cổ

vũ những nhân tố tích cực, lấy tích cực để đẩy lùi tiêu cực

Ba là, thực hiện nghiêm túc những chỉ thị, quy định về kỷ luật phát ngôn

bảo vệ bí mật của Đảng

Thông qua sinh hoạt thường kỳ, các tổ chức Đảng, đoàn thể quán triệt cácchỉ thị, quyết định về bảo vệ Đảng Kiên quyết đấu tranh loại bỏ các luận điệusai trái, nói xấu chế độ, bôi nhọ Đảng, xuyên tạc chủ nghĩa Mác – Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Xử lýnghiêm những cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật về phát ngôn làm lộ bí mậttrong Đảng theo quy định

Bốn là, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền cổ động,

kiểm soát chặt chẽ các hoạt động văn hóa nghệ thuật

Công tác tuyên truyền cổ động, các hoạt động văn hóa nghệ thuật phảibám sát định hướng tư tưởng của Đảng, phục vụ đắc lực cho nhiệm vụ chínhtrị của địa phương Các hoạt động thông tin thời sự, văn hóa nghệ thuật, xuấtbản, ấn phẩm,… phải được kiểm duyệt chặt chẽ [32, tr 5 - 6]

Cụ thể hóa Chỉ thị số 06 CT/TW của Bộ Chính trị, Hướng dẫn số 11 HD/TTVH của Ban Tư tưởng văn hóa Trung ương và kế hoạch số 12 - KH/TUngày 15/01/2007 của Ban thường vụ Tỉnh ủy về việc quán triệt, tổ chức thực hiện

-“cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trongtoàn Đảng, toàn dân, toàn quân nhằm tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhậnthức, tư tưởng, đạo đức, lối sống trong đại bộ phận cán bộ, đảng viên và nhândân Đảng bộ huyện Thuận Thành, trực tiếp là Ban thường vụ Huyện ủy đãchỉ đạo thành lập Ban chỉ đạo cuộc vận động gồm 19 đồng chí và xây dựng

Kế hoạch số 17 - KH/HU ngày 04/02/2007 về “tổ chức thực hiện Chỉ thị số

Ngày đăng: 30/09/2016, 07:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w