Phát triển bền vững (PTBV) là yêu cầu xuyên suốt trong quá trình phát triển của mọi quốc gia dân tộc nói chung và Việt Nam nói riêng, đó là quá trình kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển xã hội và bảo vệ tài nguyên, môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội, nhằm tạo dựng một xã hội ổn định, văn minh và hạnh phúc ở cả hiện tại và trong tương lai xa của đất nước.
Trang 2MỤC LỤC
Trang
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ
VAI TRÒ BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC TRONG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Ở NGHỆ AN HIỆN NAY 101.1 Phát triển bền vững và vai trò bản sắc văn hóa dân tộc trong
1.2 Thực trạng vai trò bản sắc văn hóa các dân tộc trong phát triển
bền vững ở Nghệ An hiện nay và nguyên nhân 34
Chương 2 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT HUY VAI TRÒ
BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC TRONG PHÁT
3.1 Những định hướng cơ bản phát huy vai trò bản sắc văn hóa
dân tộc trong phát triển bền vững ở Nghệ An hiện nay 593.2 Một số giải pháp cơ bản phát huy vai trò bản sắc văn hóa
dân tộc trong phát triển bền vững ở Nghệ An hiện nay 66
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Phát triển bền vững (PTBV) là yêu cầu xuyên suốt trong quá trình phát triển của mọi quốc gia dân tộc nói chung và Việt Nam nói riêng, đó là quá trình kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển
xã hội và bảo vệ tài nguyên, môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật
tự an toàn xã hội, nhằm tạo dựng một xã hội ổn định, văn minh và hạnh phúc
ở cả hiện tại và trong tương lai xa của đất nước
Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đổi mới, hội nhập và phát triển đất nước gần ba thập kỷ qua của nước ta, ngoài việc đem lại những thành tựu quan trọng trên tất cả các lĩnh vực theo hướng phát triển bền vững, cũng đã và đang đặt ra nhiều thách thức không nhỏ: sự phát triển
“nhanh” và “nóng” của nền kinh tế, ô nhiễm môi trường đang trở nên ngày càng bức xúc, nhất là ở đô thị và các khu công nghiệp đang gia tăng một cách nhanh chóng Đặc biệt, sự tác động của biến đổi khí hậu đang trở thành một vấn đề nóng bỏng, đe dọa quá trình PTBV của cả đất nước Vì vậy, vấn đề đặt ra đối với chúng ta hiện nay là làm thế nào để vừa giữ được
sự tăng trưởng kinh tế cao, vừa đảm bảo đảm ổn định chính trị và an sinh
xã hội, đồng thời bảo vệ được môi trường và ứng phó có hiệu quả với tác động của biến đổi khí hậu để PTBV như Đảng ta khẳng định
Bản sắc văn hóa dân tộc (BSVHDT) là tổng hoà những giá trị văn hoá ổn định, bền vững, phản ánh cốt cách, bản lĩnh và diện mạo của cộng đồng các dân tộc, được hình thành, hun đúc và phát triển trong suốt chiều dài lịch sử BSVHDT là giá trị hàm chứa sức mạnh nội sinh to lớn, đồng thời là động lực quan trọng của mọi quá trình phát triển Vì vậy, PTBV mọi mặt đời sống xã hội không thể không khơi dậy và phát huy giá trị BSVHDT Điều này cho thấy, việc nghiên cứu, xác định vai trò BSVHDT nhằm phát huy vai trò ấy trong quá trình PTBV là yêu cầu cơ bản, lâu dài có tính chiến lược
Trang 4Nghệ An là địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng về kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại khu vực Bắc Trung bộ và cả nước; có tiềm năng và lợi thế phát triển về công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy điện, khai khoáng, du lịch và phát triển kinh tế cửa khẩu; là địa bàn có nhiều dân tộc cùng sinh sống gắn bó lâu đời với bản sắc văn hóa riêng, có truyền thống yêu nước, đoàn kết, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước Nghệ An còn là địa bàn có vai trò quan trọng đối với môi trường sinh thái của khu vực Xây dựng tỉnh Nghệ An vững mạnh toàn diện, PTBV vừa là yêu cầu, nguyện vọng của nhân dân các dân tộc trong Tỉnh, vừa là nhiệm vụ cực kỳ quan trọng đối với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh lâu dài của nước ta.
Trong những năm gần đây, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của đảng bộ và chính quyền địa phương các cấp, sự nỗ lực vươn lên của nhân dân các dân tộc trên địa bàn, tỉnh Nghệ An đã có bước phát triển vượt bậc về mọi mặt, đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của nhân dân ngày càng được nâng lên, tình hình
an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo Tuy nhiên, những thành tựu ấy vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế hiện có Sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh còn thiếu tính bền vững, nhiều giá trị văn hóa các dân tộc bị xói mòn, biến dạng, lai căng Đặc biệt, nhận thức về vai trò, tầm quan trọng của BSVH, nhất là vai trò đối với sự phát triển kinh tế
- xã hội các dân tộc trên địa bàn còn hạn chế, chưa phát huy được một cách hiệu quả nội lực của toàn tỉnh nói chung, của từng cộng đồng tộc người sinh sống trên địa bàn nói riêng, ảnh hưởng không nhỏ tới quá trình phát triển nhanh và bền vững của Tỉnh Thực tiễn này đặt ra yêu cầu cấp bách cần phải phát huy vai trò BSVHDT trong PTBV ở Nghệ An hiện nay
Từ những lý do trên, tác giả lựa chọn vấn đề “Vai trò BSVHDT
trong phát triển bền vững ở Nghệ An hiện nay” làm đề tài nghiên cứu
của luận văn
Trang 52 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Vấn đề văn hóa, bản sắc văn hóa và vai trò của chúng trong quá trình phát triển từ lâu được nhiều tổ chức, cá nhân các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu ở những cấp độ và góc độ khác nhau Trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng ta về văn hoá và phát triển văn hoá trong các giai đoạn cách mạng, gần đây có nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước đã luận giải và đưa ra các cách tiếp cận khác nhau về văn hóa, bản sắc văn hóa và vai trò của chúng đối với sự phát triển của đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa Dưới đây là những công trình tiêu biểu, có liên quan trực tiếp đến đề tài nghiên cứu của luận văn:
* Về BSVHDT và vai trò BSVHDT
Quan điểm mang tính định hướng, khái quát rất sâu sắc về văn hoá, bản sắc văn hoá, mối quan hệ giữa văn hoá và đổi mới, được cố Thủ tướng Phạm
Văn Đồng đã trình bày trong cuốn sách “Văn hoá và đổi mới” (1995) Trong
cuốn sách này, cố Thủ tướng đã đề cập quan điểm khoa học về văn hoá, vai trò to lớn của văn hoá và bản sắc văn hoá trong trường kỳ hình thành phát triển dân tộc, luận giải một cách khoa học và sâu sắc mối quan hệ biện chứng giữa văn hoá và đổi mới, giữa lịch sử và văn hoá, qua đó gợi ra những quan điểm có tính chất mở đường về sự cần thiết, mục tiêu, thực chất của việc giữ gìn BSVHDT trong quá trình đổi mới, hội nhập và phát triển đất nước
Bàn về BSVHDT, vai trò văn hoá với sự phát triển đất nước, mối quan
hệ giữa giao lưu hội nhập với giữ gìn bản sắc văn hoá trong xu thế mới để
phát triển văn hoá, có các công trình khoa học: “Bản sắc dân tộc của văn hoá” (1990) của Đỗ Huy và Trường Lưu; “Văn hoá với sự phát triển của xã hội Việt Nam theo định hướng XHCN” (1998) của Lê Quang Thiêm; Bản sắc văn hóa hành trang của mỗi dân tộc (2005) của Vy Trọng Toán; công trình:
“Phát triển văn hoá Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 Những vấn đề phương
Trang 6pháp luận” (2009) của PGS, TS Phạm Duy Đức Trong các công trình này, đi
từ việc giải quyết mối quan hệ giữa văn hoá và phát triển, các tác giả không chỉ đưa ra quan niệm về bản sắc văn hoá, cấu trúc, đặc trưng của nó mà còn thống nhất khẳng định, vai trò của bản sắc văn hoá với sự phát triển đất nước, các nền văn hoá không tồn tại biệt lập, tách rời với các nền văn hoá khác mà luôn có sự giao lưu, thâm nhập lẫn nhau Đặc biệt, tác giả Hà Nguyễn, trong
cuốn Tiểu vùng văn hóa xứ Nghệ, (2013), Nxb Thông tin và truyền thông, Hà
Nội, đã phân tích và luận giải khá sâu sắc về BSVH xứ Nghệ cũng như những giá trị văn hóa vật chất, tinh thần nói chung của văn hóa Nghệ An
Liên quan đến vấn đề giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, hội thảo
khoa học “Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá” ngày 20 tháng 10 năm 2007 của Học viện Hành chính - Chính
trị Quốc gia Hồ Chí Minh đã đề cập nhiều vấn đề về toàn cầu hoá, nhất là sự tác động ảnh hưởng tới các lĩnh vực chính trị, văn hoá, xã hội; trong đó văn hoá là lĩnh vực bị ảnh hưởng lớn nhất, trực tiếp nhất Trên cơ sở đó, hội thảo
đã trao đổi, đưa ra nhiều khía cạnh, nhiều góc tiếp cận về đề giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, đưa ra một số kiến nghị về chủ trương, chính sách văn hoá nhằm giữ gìn và phát huy BSVHDT trong xu thế toàn cầu hoá
Đặc biệt, các công trình nghiên cứu: “Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam” (2006) của Trần Ngọc Thêm; “Bản sắc dân tộc trong lối sống hiện đại” (2003) của Lê Như Hoa; “Bản sắc dân tộc và hiện đại hoá trong văn hoá” (2000) của Hoàng Trinh; “Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” (2001) của Nguyễn Khoa Điềm; “Một số vấn
đề về công tác lý luận tư tưởng và văn hoá” (2005) của Giáo sư Nguyễn Đức Bình; Thanh niên quôn đội với việc giữ gìn BSVHDT trong thời kỳ hội nhập quốc tế hiện nay (2013) của Lưu Ngọc Khải và Nguyễn Văn Tùng; Giữ gìn
và phát huy BSVHDT trong quá trình phát triển kinh tế thời kỳ hội nhập quốc
tế (2010) của Hoàng Thị Hương…Trong các công trình này, các tác giả đã đi
Trang 7sâu phân tích và đưa ra các quan niệm khoa học khác nhau trong tiếp cận văn hoá, vai trò, cấu trúc, chức năng của văn hoá; luận giải cội nguồn hình thành ý thức dân tộc và bản sắc dân tộc của văn hoá Việt Nam; khẳng định sức mạnh của văn hoá, của bản sắc văn hoá trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam; mối quan hệ biện chứng giữa văn hoá và phát triển, văn hoá với các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhất là kinh tế, chính trị,
xã hội; khẳng định trong tình hình hiện nay, hiện đại hoá chỉ có thể thành công nếu bản sắc dân tộc được sử dụng như một động lực chủ yếu, đồng thời BSVHDT cũng chỉ có thể được phát huy trong một đất nước hiện đại hoá
* Về PTBV và vai trò của văn hóa, bản sắc văn hóa trong PTBV
Bàn về PTBV và vai trò của yếu tố văn hóa, bản sắc văn hóa trong
PTBV tiêu biểu có các công trình như: Phương pháp luận về vai trò của văn hóa trong phát triển (1993) của Vũ Khiêu, Phạm Xuân Nam, Hoàng Trinh (đồng chủ biên); “Phát huy nội lực văn hoá trong quá trình phát triển” (2000) của Phạm Duy Đức; Văn hóa – mục tiêu và động lực của sự phát triển xã hội (2006) của GS.TS Nguyễn Văn Huyên; Văn hoá và phát triển trong bối cảnh toàn cầu hoá (2006) của Nguyễn Văn Dân; “Văn hoá và phát triển” (2000) của Nguyễn Hồng Phong; Sự gắn kết giữa kinh tế và văn hóa – chìa khóa cho
sự phát triển lâu bền của xã hội (2005) của Nguyễn Thị Ngọc Anh, Tạp chí Triết học số 4; Vai trò của văn hóa trong phát triển kinh tế (2004) của Dương Thị Liễu, Tạp chí Triết học số 6; Quan hệ giữa kinh tế và văn hóa trong phát triển (2009) của GS.TS Dương Phú Hiệp; Phát triển kinh tế bền vững ở Việt Nam (2009) của Nguyễn Hữu Sở; Giáo dục vì sự PTBV – một yêu cầu cấp thiết trong hội nhập giáo dục (2009) của Đỗ Mai Lan;Vấn đề văn hoá sinh thái trong sự PTBV ở Việt Nam hiện nay (2012) của Trần Thị Hồng Loan; Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá các dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc nước ta hiện nay (2012) của Hoàng Thị Hương; PTBV ở Việt Nam (2014) của GS.TS Vũ Văn Hiền; An sinh xã
Trang 8hội với ổn định và PTBV ở Việt Nam (2014) của GS.TS Hoàng Chí Bảo…Từ
những góc độ tiếp cận và mục đích nghiên cứu khác nhau, các công trình này
đã tập trung nghiên cứu về tính tất yếu và yêu cầu của quá trình phát triển bền vững; chỉ ra mối quan hệ và vai trò của văn hóa, bản sắc văn hóa đối với quá trình PTBV kinh tế, văn hóa, xã hội của nước ta trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập và phát triển
Đặc biệt, trong cuốn sách Nghệ An: Luận giải để phát triển (2013), của
TS Hồ Đức Phớc - Bí thư tỉnh ủy Nghệ An, do Nxb Giao thông vận tải ấn hành, dưới góc độ kinh tế học, ông đã nghiên cứu, làm sáng tỏ những vấn đề
lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế, xã hội, quốc phòng - an ninh trên địa bàn Tỉnh, từ đó xác định mục tiêu, phương hướng và những giải pháp cơ bản phát triển tỉnh Nghệ An đến năm 2020, tầm nhìn 2030 Cuốn sách được coi như một chiến lược PTBV Nghệ An giai đoạn 2015 - 2020
Như vậy, có thể thấy rằng, vấn đề bản sắc văn hóa và vai trò của nó đối với sự phát triển xã hội được quan tâm nghiên cứu từ lâu, với niều công trình có giá trị lý luận và thực tiễn Tuy nhiên, chưa có công trình nào đề cập một cách trực tiếp và luận giải có tính hệ thống về vai trò BSVHDT trong PTBV ở Nghệ An hiện nay
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
* Mục đích nghiên cứu
Làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò BSVHDT trong PTBV
ở Nghệ An, trên cơ sở đó xác định những định hướng cơ bản, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò BSVHDT trong PTBV ở Nghệ An hiện nay
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ một số vấn đề lý luận về PTBV và vai trò BSVHDT trong
PTBV ở Nghệ An
- Đánh giá thực trạng vai trò BSVHDT trong PTBV ở Nghệ An hiện nay
- Xác định những định hướng cơ bản và đề xuất một số giải pháp phát huy vai trò BSVHDT trong PTBV ở Nghệ An hiện nay
Trang 94 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
* Đối tượng nghiên cứu
Vai trò BSVHDT trong PTBV ở Nghệ An hiện nay
* Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu vai trò BSVHDT nói chung trong PTBV
ở Nghệ An Số liệu sử dụng trong luận văn từ năm 2010 đến nay
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
* Phương pháp luận
Đề tài được thực hiện dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng cộng sản Việt Nam về văn hóa và vai trò của văn hóa trong PTBV ở Nghệ An hiện nay
* Phương pháp nghiên cứu
Tác giả đã sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu của khoa học
xã hội và nhân văn nói chung, trong đó, chú trọng kết hợp lôgíc và lịch sử, phân tích, tổng hợp; thống kê, so sánh, tổng kết thực tiễn và điều tra xã hội học để phân tích luận giải các nội dung của luận văn
6 Ý nghĩa của đề tài
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần cung cấp thêm cơ sở khoa học cho Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền địa phương và cơ quan ban ngành các cấp ở Nghệ An trong xây dựng chiến lược, kế hoạch phát triển kinh
tế, văn hóa, xã hội trên địa bàn tỉnh Nghệ An trong giai đoạn hiện nay Đồng thời, kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu nghiên cứu, tham khảo trong học tập, nghiên cứu về BSVH và vai trò của BSVHDT trong PTBV ở Nghệ An
7 Kết cấu của đề tài
Luận văn gồm: Mở đầu, 2 chương (4 tiết) kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục
Trang 10Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ
VAI TRÒ BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC TRONG PHÁT TRIỂN
BỀN VỮNG Ở NGHỆ AN HIỆN NAY 1.1 Phát triển bền vững và vai trò bản sắc văn hóa dân tộc trong phát triển bền vững ở Nghệ An
1.1.1 Phát triển bền vững ở Nghệ An
* Đặc điểm tỉnh Nghệ An
Nghệ An nằm ở trung tâm vùng Bắc Trung bộ nước ta, có tọa độ địa lý
từ 18o33' đến 20o00' vĩ độ Bắc và từ 103o52' đến 105o48' kinh độ Đông Phía Bắc giáp tỉnh Thanh Hoá, Nam giáp tỉnh Hà Tĩnh, Tây giáp nước bạn Lào, phía Đông giáp với biển Đông Với diện tích 16.487 km2, dân số hơn 3 triệu người, là nơi sinh sống lâu đời của cộng đồng các dân tộc: Việt (Kinh), Khơ
Mú, Sán Dìu, Thái, H'Mông, Ơ Đu và tộc người Đan Lai Nghệ An hội tụ đầy
đủ các tuyến giao thông đường bộ, đường sắt, đường hàng không, đường biển, đường thuỷ nội địa; điều kiện tự nhiên phong phú, đa dạng như một Việt Nam thu nhỏ, có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội Bắc - Nam, xây dựng và phát triển kinh tế biển, kinh tế đối ngoại và mở rộng hợp tác quốc tế
Nghệ An nằm ở Đông Bắc dãy Trường Sơn, trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu sự tác động trực tiếp của gió mùa Tây - Nam khô và nóng (từ tháng 4 đến tháng 8) và gió mùa Đông Bắc lạnh, ẩm ướt (từ tháng 11 đến tháng
3 năm sau), có địa hình đa dạng, phức tạp và bị chia cắt bởi các hệ thống đồi núi, sông suối hướng nghiêng từ Tây - Bắc xuống Đông - Nam Đỉnh núi cao nhất là đỉnh Pulaileng (2.711m) ở huyện Kỳ Sơn, thấp nhất là vùng đồng bằng huyện Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Yên Thành có nơi chỉ cao đến 0,2 m so với mặt nước biển (đó là xã Quỳnh Thanh huyện Quỳnh Lưu) Đồi núi chiếm 83% diện tích đất tự nhiên của toàn tỉnh; hệ thống sông ngòi dày đặc, tổng chiều dài sông suối trên địa bàn tỉnh là 9.828 km, mật độ trung bình là 0,7 km/km2 Sông lớn nhất là
Trang 11sông Cả (sông Lam) bắt nguồn từ huyện Mường Pẹc tỉnh Xiêng Khoảng (Lào),
có chiều dài là 532 km Bờ biển Nghệ An dài 82 km, có 6 cửa lạch thuận lợi cho việc vận tải biển, phát triển cảng biển
Nghệ An nằm trên các tuyến đường quốc lộ Bắc - Nam (Quốc lộ 1A và đường Hồ Chí Minh), đồng thời nằm trong hành lang kinh tế Đông - Tây nối liền Myanma - Thái Lan - Lào - Việt Nam - Biển Đông (Cảng Cửa Lò), cũng như các tuyến du lịch quốc gia và quốc tế Với vị trí như vậy, Nghệ An đóng vai trò quan trọng trong giao lưu kinh tế, văn hóa, thương mại, du lịch ở trong nước và với các nước trong khu vực, là điều kiện thuận lợi để thu hút đầu tư phát triển kinh tế, xã hội
Nghệ An là một vùng đất cổ Từ thời đồ đá cũ cách đây hàng chục vạn năm đã phát hiện con người sinh sống ở hang Thẩm ồm (Quỳ Châu) Qua hệ thống các di chỉ khảo cổ học đã nghiên cứu cho thấy sự nối tiếp liên tục từ thời đại đồ đá đến thời đại đồ đồng, đồ sắt với đỉnh cao là di chỉ Làng Vạc thuộc văn hoá Đông Sơn, chứng tỏ Nghệ An là một trong những cái nôi của người Việt cổ và là cương vực lâu đời của đất nước
Địa danh Nghệ An xuất hiện từ năm Thiện Thành thứ 3 đời Lý Thái Tông năm (1030) thay cho tên Hoan Châu đã có từ mấy trăm năm về trước (năm 627) Trong lịch sử, Nghệ An đã từng là đất tiến của người Việt trong quá trình mở nước, là tiền đồn, lại có lúc là hậu phương, là căn cứ cho nhiều cuộc đấu tranh giữ nước Từ thế kỷ thứ VIII, trong đêm trường Bắc thuộc, nhân dân xứ Nghệ đã khởi nghĩa chống lại nhà Đường, xây thành Vạn An, lập nên triều đình, tôn Mai Thúc Loan làm Hoàng đế Thời nhà Lý (thế kỷ XI - XII), Nghệ An là phên dậu của nhà nước Đại Việt, nhờ có công chăm lo vỗ
về của Uy Minh Vương Lý Nhật Quang mà đất đai được khai phá, dân tình no
ấm, không chỉ ngăn chặn được giặc ngoài mà còn là điểm tựa quan trọng cho
sự hưng thịnh và phát triển của đất nước Thời nhà Trần (thế kỷ XIII - XIV),
xứ Nghệ là hậu cứ quan trọng, đóng góp nhiều sức người, sức của cho ba lần
Trang 12chiến thắng giặc Nguyên Mông ở phương Bắc và là tiền đồn ngăn chặn giặc phương Nam, mở mang bờ cõi Nghệ An là chiến địa của nhà Hồ và nhà Hậu Trần chống giặc Minh những năm đầu thế kỷ XV
Đặc biệt, trong cuộc kháng chiến chống giặc Minh của Lê Lợi (1418 – 1428), đất này đã trở thành chiến trường quyết định bước ngoặt dẫn đến thắng lợi của quân dân Đại Việt Dưới thời Nguyễn Huệ - Quang Trung, Nghệ An là chỗ dựa vững chắc nhất, cung cấp nhân tài vật lực cho ông tổ chức đánh thắng
29 vạn quân Thanh, đặt nền tảng cho công cuộc thống nhất đất nước Trong suốt hơn một trăm năm chống các thế lực xâm lược phương Tây, từ giữa thế
kỷ XIX đến giữa thế kỷ XX, người Nghệ An luôn luôn sát cánh với đồng bào
cả nước và tiên phong chiến đấu vì nền độc lập dân tộc Rất nhiều người con
ưu tú của Nghệ An đã trở thành những ngôi sao sáng trong công cuộc cứu nước vĩ đại đó như Phan Bội Châu, Trần Tấn, Đặng Như Mai, Nguyễn Xuân
Ôn, Lê Doãn Nhã, Đặng Nguyên Cẩn, Đặng Thúc Hứa, Lê Hồng Sơn, Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai…và tiêu biểu nhất là Hồ Chí Minh - Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới
Thiên nhiên khắc nghiệt, lịch sử lắm gian nan, thử thách đã tạo nên nhân cách con người xứ Nghệ cần cù và sáng tạo, kiên trung và nghĩa hiệp, cầu thị
và hiếu học Trên mảnh đất này “thời nào cũng có danh nhân, vùng nào cũng
có nhiều bậc anh hùng tài cao chí lớn” đã làm rạng danh quê hương đất nước Trải qua bao đời từ thời tiền sơ sử đến nay, người xứ Nghệ không chỉ có nhiều đóng góp quan trọng vào tiến trình lịch sử dân tộc mà đã kiến tạo nên một vùng văn hoá đặc sắc Với 6 dân tộc cùng chung sống, văn hoá Nghệ An
đa dạng, độc đáo, với nhiều bản sắc riêng trong sự hài hoà thống nhất của nền văn hoá Việt Nam Nghệ An ngày nay không chỉ có sự hiện diện một nền văn hoá đương đại sống động mà còn có một kho tàng di sản văn hoá vô cùng phong phú, đặc sắc Đó là khoảng 1000 di tích lịch sử văn hoá và rất nhiều giá trị văn hoá phi vật thể như văn học thành văn và văn học dân gian, âm nhạc
Trang 13dân gian, múa dân gian, triết lý dân gian, phong tục tập quán…tạo nên nền tảng tinh thần phong phú, đa dạng và là động lực to lớn trong phát triển kinh
tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng an ninh, đối ngoại trên địa bàn Tỉnh
* Phát triển bền vững ở Nghệ An
Khái niệm "phát triển bền vững" xuất hiện trong phong trào bảo vệ môi
trường từ những năm đầu của thập niên 70 của thế kỷ 20 Năm 1987, trong Báo cáo "Tương lai chung của chúng ta" của Hội đồng Thế giới về Môi trường và Phát triển (WCED) của Liên hợp quốc, "phát triển bền vững" được
định nghĩa "là sự phát triển đáp ứng được những yêu cầu của hiện tại, nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau".
Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và phát triển tổ chức ở Rio
de Janeiro (Braxin) năm 1992 và Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về PTBV tổ
chức ở Johannesburg (Cộng hoà Nam Phi) năm 2002 đã xác định "phát triển bền vững" là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hoà giữa 3 mặt của sự phát triển, gồm: phát triển kinh tế (nhất là tăng trưởng kinh tế), phát triển xã hội (nhất là thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; xoá đói giảm nghèo và giải quyết việc làm) và bảo vệ môi trường (nhất là xử lý, khắc
phục ô nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường; phòng chống cháy và chặt phá rừng; khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên) Tiêu chí để đánh giá sự PTBV là sự tăng trưởng kinh tế ổn định; thực hiện tốt tiến bộ và công bằng xã hội; khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và nâng cao được chất lượng môi trường sống.PTBV là nhu cầu cấp bách và xu thế tất yếu trong tiến trình phát triển của xã hội loài người, vì vậy đã được các quốc gia trên thế giới đồng thuận xây dựng thành Chương trình nghị sự cho từng thời kỳ phát triển của lịch sử Tại Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và phát triển được tổ chức năm 1992 ở Rio de Janeiro (Braxin), 179 nước tham gia Hội nghị đã thông qua Tuyên bố Rio de Janeiro về môi trường và phát triển bao gồm 27 nguyên
Trang 14tắc cơ bản và Chương trình nghị sự 21 (Agenda 21) về các giải pháp PTBV chung cho toàn thế giới trong thế kỷ 21 Hội nghị khuyến nghị từng nước căn
cứ vào điều kiện và đặc điểm cụ thể để xây dựng Chương trình nghị sự 21 ở cấp quốc gia, cấp ngành và địa phương Mười năm sau, tại Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về PTBV tổ chức năm 2002 ở Johannesburg (Cộng hoà Nam Phi), 166 nước tham gia Hội nghị đã thông qua Bản Tuyên bố Johannesburg
và Bản Kế hoạch thực hiện về phát triển bền vững Hội nghị đã khẳng định lại các nguyên tắc đã đề ra trước đây và tiếp tục cam kết thực hiện đầy đủ Chương trình nghị sự 21 về phát triển bền vững
Từ sau Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và phát triển được tổ chức tại Rio de Janeiro (Braxin) năm 1992 đến nay đã có 113 nước trên thế giới xây dựng và thực hiện Chương trình nghị sự 21 về PTBV cấp quốc gia và 6.416 Chương trình nghị sự 21 cấp địa phương, đồng thời tại các nước này đều đã thành lập các cơ quan độc lập để triển khai thực hiện chương trình này Việt Nam và các địa phương trong cả nước là một trong số những quốc gia tích cực xây dựng và thực hiện Chương trình nghị sự 21 về phát triển bền vững
Chính phủ Việt Nam đã cử các đoàn cấp cao tham gia các Hội nghị nói trên và cam kết thực hiện phát triển bền vững; đã ban hành và tích cực thực hiện "Kế hoạch quốc gia về Môi trường và PTBV giai đoạn 1991 - 2000" (Quyết định số 187 - CT ngày 12 tháng 6 năm 1991), tạo tiền đề cho quá trình PTBV ở Việt Nam Quan điểm PTBV đã được khẳng định trong Chỉ thị số 36
- CT/TW ngày 25 tháng 6 năm 1998 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, trong đó nhấn mạnh: "Bảo vệ môi trường là một nội dung cơ bản không thể tách rời trong đường lối, chủ trương và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tất cả các cấp, các ngành, là cơ sở quan trọng bảo đảm phát triển bền vững, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước" Quan điểm PTBV đã được tái khẳng định trong các văn kiện của Đại hội đại
Trang 15biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam và trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010 là: "Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường" và "Phát triển kinh tế - xã hội gắn chặt với bảo vệ và cải thiện môi trường, bảo đảm sự hài hoà giữa môi trường nhân tạo với môi trường thiên nhiên, giữ gìn đa dạng sinh học" PTBV đã trở thành đường lối, quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước Để thực hiện mục tiêu phát triển bền vững, nhiều chỉ thị, nghị quyết khác của Đảng, nhiều văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước đã được ban hành và triển khai thực hiện; nhiều chương trình, đề tài nghiên cứu về lĩnh vực này đã được tiến hành và thu được những kết quả bước đầu; nhiều nội dung cơ bản về PTBV đã đi vào cuộc sống
và dần dần trở thành xu thế tất yếu trong sự phát triển của đất nước
Là một tỉnh có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, xã hội, quốc phòng - an ninh và môi trường đối với khu vực Bắc trung bộ và cả nước, PTBV ở Nghệ An là xu hướng tất yếu trong quá trình phát triển của mình Trên cơ sở chương trình PTBV của quốc gia, Nghệ An đã tích cực triển khai nội dung, chương trình PTBV toàn diện trên tất cả các phương diện của đời sống
xã hội như: Chương trình nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; Chương trình xây dựng nông thôn mới; Chương trình ứng dụng và phát triển công nghệ cao giai đoạn 2011 - 2015, có tính đến 2020; Đề án phát triển KT - XH miền Tây Nghệ An thời kỳ 2011 - 2015, có tính đến 2020; Chương trình phát triển kết cấu
hạ tầng; Đề án phát triển công nghiệp, thủ công nghiệp và xây dựng làng nghề; Chương trình phát triển văn hóa, thể thao và du lịch…(Phụ lục 3) PTBV ở Nghệ
An hiện nay thể hiện trên những nội dung cụ thể sau đây:
Về quan điểm phát triển
Đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu kinh tế từ chủ yếu phát triển theo chiều rộng sang phát triển hài hoà giữa chiều rộng và chiều sâu, vừa mở rộng quy
mô, vừa chú trọng chất lượng, hiệu quả, đảm bảo phát triển nhanh và bền vững
Trang 16Phát huy nội lực gắn với khai thác tối đa nguồn lực từ bên ngoài Đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ, nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm, từng bước xây dựng nền kinh tế tri thức, tăng cường bảo vệ và làm giàu thêm môi trường.
Phát triển kinh tế phải gắn với chăm lo tốt các vấn đề xã hội, thực hiện công bằng xã hội, rút ngắn khoảng cách giàu nghèo giữa các vùng miền
Về phương hướng, mục tiêu phát triển:
Huy động tối đa mọi nguồn lực cho đầu tư phát triển, nhất là nguồn nhân lực, ưu tiên đầu tư khai thác tiềm năng miền Tây, vùng Biển và đô thị Đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế và nâng cao chất lượng tăng trưởng Từng bước xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, trong đó ưu tiên cho các vùng kinh tế trọng điểm và vùng kinh tế khó khăn; chủ động hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế; giữ gìn và phát huy các truyền thống, bản sắc văn hoá xứ Nghệ; kiểm soát, kìm giữ, đẩy lùi các tệ nạn xã hội và tội phạm; giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo vững chắc quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng Xây dựng Đảng bộ, Chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể nhân dân ngày càng vững
mạnh, đưa Nghệ An trở thành tỉnh khá trong khu vực phía Bắc vào năm 2015; tạo cơ sở để đến năm 2020 cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp; phấn đấu xây dựng thành phố Vinh thành trung tâm kinh tế, văn hoá của vùng Bắc Trung bộ Phương hướng, mục tiêu cụ thể trên các phương diện như sau:
Thứ nhất, về PTBV kinh tế:
Tập trung xây dựng, tạo bước đột phá về hệ thống kết cấu hạ tầng, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế của tỉnh, phấn đấu tốc độ tăng GDP bình quân đạt 11 - 12% giai đoạn 2011 - 2015, 11,5 - 12% giai đoạn 2016 - 2020 và khoảng 7% giai đoạn 2020 - 2030 Trưởng giá trị sản xuất công nghiệp hàng năm từ 17 - 18% Ưu tiên các nhóm sản phẩm có lợi thế của tỉnh, như: công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản, đồ uống; công nghiệp khai thác và chế
Trang 17biến khoáng sản, sản xuất vật liệu xây dựng, điện, điện tử, công nghệ thông tin, dệt may, hàng thủ công mỹ nghệ; ưu tiên phát triển các dự án công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ, phục vụ cho các dự án công nghiệp quy
mô lớn của tỉnh và các Khu kinh tế Nghi Sơn, Vũng Áng
Phấn đấu để Nghệ An trở thành trung tâm dịch vụ thương mại, du lịch, tài chính ngân hàng, bảo hiểm, giáo dục đào tạo và y tế của khu vực Bắc Trung bộ vào năm 2015, cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp năm 2020 Tổng mức luân chuyển hàng hoá tăng bình quân 16 - 18%/năm Kim ngạch xuất khẩu đạt 500 -
550 triệu USD (xuất khẩu hàng hoá đạt khoảng 250 - 300 triệu USD)
Phát triển mạnh các loại hình du lịch văn hoá lịch sử, sinh thái, nghỉ dưỡng, đưa du lịch Vinh - Cửa Lò - Nam Đàn trở thành cụm du lịch, dịch vụ gắn các tua du lịch quốc gia, quốc tế Xây dựng Thành phố Vinh, Thị xã Cửa
Lò thành trung tâm lưu trú và trung chuyển khách du lịch Phấn đấu năm 2015 đạt 3,5 - 4 triệu lượt khách du lịch, doanh thu du lịch đạt 3.000 - 3.500 tỷ đồng, tăng bình quân 20 - 22%/năm
Tập trung xây dựng nông thôn mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn Phấn đấu đến năm 2015 giá trị thu nhập trên đơn vị diện tích canh tác đạt 47 - 50 triệu đồng/ha; giá trị sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp tăng bình quân 4,5 - 5%/năm Phát triển nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, hiệu quả, bền vững Quy hoạch và phát triển các khu nông nghiệp công nghệ cao; mở rộng diện tích áp dụng công nghệ cao để tăng năng suất, chất lượng các loại rau, màu, cây ăn quả, cây công nghiệp có lợi thế của tỉnh Tiếp tục thực hiện có hiệu quả Nghị quyết TW4 (khóa X) về Chiến lược biển Việt nam đến năm 2020 Phát triển mạnh ngành công nghiệp gắn với kinh
tế biển, như công nghiệp chế biến hải sản, công nghiệp cơ khí đóng mới và sửa chữa tàu biển, công nghiệp cảng, dịch vụ cảng và kho bãi phục vụ kinh tế biển
Thứ hai, về PTBV văn hóa - xã hội:
Tiếp tục đẩy mạnh và nâng cao chất lượng cuộc vận động phong trào
"Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá" Chú trọng xây dựng các đơn
Trang 18vị văn hoá, gia đình văn hoá một cách thực chất Tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với các hoạt động văn hoá, đảm bảo an ninh văn hoá Duy trì và khôi phục các lễ hội truyền thống, phát triển rộng khắp các phong trào văn hoá, văn nghệ, thể dục, thể thao quần chúng Củng cố các mối quan hệ truyền thống, bản sắc văn hoá Xứ Nghệ Bảo tồn và phát huy có hiệu quả các di tích lịch sử, văn hoá gắn với phát triển du lịch Phấn đấu năm 2015 có 82 - 85% gia đình văn hoá; 45 - 50% làng, bản, khối phố văn hoá; đảm bảo 100% xã phường có thiết chế văn hoá, trong đó có 60 - 65% đạt chuẩn quốc gia; 30 - 35% số dân thường xuyên tham gia luyện tập thể dục thể thao, 20 - 25% số hộ đạt tiêu chuẩn gia đình thể thao Phấn đấu đến năm 2015 Nghệ An trở thành một trong 10 trung tâm thể thao mạnh của cả nước.
Xây dựng và phát triển nền văn học nghệ thuật tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, giàu chất nhân văn, dân chủ, phản ánh chân thật, sâu sắc đời sống, lịch sử dân tộc và công cuộc đổi mới của quê hương, đất nước Quan tâm đào tạo, bồi dưỡng, tạo điều kiện để đội ngũ những người hoạt động văn hoá, văn học nghệ thuật sáng tạo nhiều tác phẩm có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật Thực hiện tốt việc phát sóng phát thanh - truyền hình Nghệ An qua kênh Vinasat, từng bước chuyển đổi phát sóng truyền hình theo hướng số hoá, nhằm tăng chất lượng hưởng thụ của người dân và diện phủ sóng phát thanh truyền hình quốc gia và đài tỉnh ở vùng sâu, vùng xa, vùng lõm
Nâng cao chất lượng giáo dục ở miền núi, chú trọng chất lượng giáo dục toàn diện, xây dựng và đưa các nội dung giáo dục truyền thống lịch sử, truyền thống cách mạng, văn hoá Xứ Nghệ… vào các trường học Phấn đấu đến năm
2015 nâng tỷ lệ trẻ dưới 3 tuổi đến nhà trẻ lên 25%, trẻ từ 3 đến 5 tuổi đến lớp mẫu giáo đạt 85%; 99,5% trẻ em trong độ tuổi tiểu học được đến trường, 60%
số học sinh lớp 3 được học ngoại ngữ theo chương trình mới; 75% thanh niên trong độ tuổi đạt trình độ học vấn trung học phổ thông và tương đương; tỷ lệ hoàn thành cấp học được duy trì ở mức 90% trở lên đối với cả ba cấp học
Trang 19Xây dựng, mở rộng quy mô Đại học Vinh, Đại học Y khoa Vinh, Đại học sư phạm kỹ thuật, Đại học công nghệ Vạn Xuân; sớm hoàn thành nâng cấp các trường cao đẳng thành Trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật, Đại học Văn hoá Xây dựng Thành phố Vinh và Thị xã Cửa Lò thành Trung tâm đào tạo đại học, dạy nghề của vùng Bắc Trung bộ.
Làm tốt công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân; nâng cao chất lượng khám chữa bệnh gắn với đề cao y đức của người thầy thuốc Tăng cường công tác y tế dự phòng, cung cấp những kiến thức cơ bản về phòng ngừa bệnh tật, chăm sóc sức khoẻ cho cộng đồng Chủ động phòng chống, không để phát sinh dịch lớn Đẩy mạnh công tác dân số kế hoạch hoá gia đình để giảm tỷ lệ sinh hàng năm 0,4 - 0,5‰, dân số trung bình đạt khoảng 3,09 triệu người vào năm 2015 Đẩy nhanh tốc độ đô thị hoá đến năm 2015 có 20 - 25% dân số đô thị
Phấn đấu hằng năm tạo việc làm cho khoảng 35 - 40 nghìn lao động Đến năm 2015, giảm tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị xuống còn 3%;
tỷ lệ lao động trong khu vực công nghiệp, xây dựng tăng lên 24,20%, thương mại, dịch vụ 25,8%, khu vực nông - lâm - ngư nghiệp giảm xuống dưới 50% Triển khai có hiệu quả các chương trình giảm nghèo, ưu tiên đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và phát triển kinh tế các xã miền núi, vùng sâu, vùng xa đặc biệt khó khăn và các xã nghèo chương trình 30a/CP của Chính phủ Phấn đấu tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân mỗi năm 2% Thực hiện tốt chính sách đối với người có công và công tác bảo trợ xã hội Đẩy mạnh cuộc vận động “Toàn dân tham gia công tác đền ơn đáp nghĩa” Nâng cao mức sống cho các đối tượng chính sách bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình ở địa phương Phát triển mạnh các loại hình dịch vụ bảo hiểm: Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm nhân thọ… bảo đảm môi trường an sinh cho nhân dân
Thứ ba, về PTBV lĩnh vực môi trường:
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức và trách nhiệm về bảo vệ môi trường đối với mọi người dân Tăng cường công tác
Trang 20quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường Bảo đảm yêu cầu về môi trường ngay
từ khâu thẩm định, phê duyệt các quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án đầu tư Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra; nghiêm cấm việc nhập ngoại các dây chuyền, máy móc thiết bị, hàng tiêu dùng đã qua sử dụng và đã lạc hậu Xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường
Khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm, hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên trên cơ sở thực hiện tốt quy hoạch, kế hoạch đã được phê duyệt Tăng cường công tác kiểm tra, tổ chức tốt việc khai thác, chế biến khoáng sản
Như vậy, từ phương hướng, nội dung, mục tiêu PTBV ở Nghệ An, trên
cơ sở quan niệm chung của thế giới, có thể quan niệm: PTBV ở Nghệ An là quá trình vận động, biến đổi mọi mặt đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội theo hướng hiệu quả lâu dài, vững chắc, đảm bảo an sinh xã hội, quốc phòng an ninh và môi trường sinh thái trên địa bàn tỉnh Nghệ An
Để PTBV kinh tế - xã hội cần khơi dậy và phát huy tất cả các nguồn lực: tài nguyên, vốn, khoa học - công nghệ, trong đó phát huy vai trò BSVHDT với tư cách là giá trị cốt lõi, căn bản trong nền tảng tinh thần xã hội được coi
là một trong những động lực quyết định, góp phần PTBV trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường ở Nghệ An hiện nay
1.1.2 Vai trò bản sắc văn hóa dân tộc trong phát triển bền vững ở Nghệ An
* Biểu hiện bản sắc văn hóa dân tộc ở Nghệ An
- Quan niệm về bản sắc văn hóa dân tộc ở Nghệ An
BSVHDT là hệ thống các giá trị văn hóa được cộng đồng các dân tộc sáng tạo nên trong quá trình tồn tại và phát triển, là những nét độc đáo, riêng biệt, thể hiện cốt cách, bản lĩnh của dân tộc, chứa đựng sức mạnh tinh thần to lớn, trở thành động lực để mỗi dân tộc vươn lên và khẳng định mình trong quan hệ với các dân tộc khác
Bản sắc văn hoá dân tộc ở Nghệ An là tổng hoà những giá trị văn hoá
ổn định, bền vững, phản ánh cốt cách, bản lĩnh và diện mạo của cộng đồng
Trang 21các dân tộc, được hình thành, hun đúc và phát triển trong suốt chiều dài lịch
sử, là tài sản tinh thần đặc sắc, có giá trị to lớn, đồng thời là nền tảng, động lực mạnh mẽ trong phát triển kinh tế, xã hội trên địa bàn tỉnh
Như vậy, BSVHDT ở Nghệ An là một bộ phận hữu cơ, không thể tách rời, góp phần làm phong phú, đa dạng thêm nền văn hóa Việt Nam thống nhất Văn hóa Việt Nam là nền văn hóa “thống nhất trong đa dạng”, với 54 dân tộc anh em, mỗi dân tộc có những giá trị văn hóa độc đáo, đặc sắc riêng, tạo nên sự phong phú, đa dạng của văn hóa dân tộc, trong sự đang dạng, phong phú ấy của văn hóa Việt Nam, có sự đóng góp của cộng đồng các dân tộc ở Nghệ An Đồng thời, chính điều kiện tự nhiên, không gian sinh tồn cũng như điều kiện lịch sử xã hội của mấy nghìn năm cùng nhau đấu tranh dựng nước và giữ nước, các dân tộc anh em đã xây dựng, vun đắp nên tình đoàn kết, cố kết cộng đồng vững chắc, tạo cơ sở cho sự thống nhất của văn hóa dân tộc
BSVHDT ở Nghệ An không phải là yếu tố “nhất thành bất biến”, nó là khái niệm “động” và “mở”, luôn vận động và phát triển, thích nghi và đổi mới không ngừng, đảm bảo sự phù hợp thời đại lịch sử Văn hóa vốn là sản phẩm sáng tạo của con người, văn hóa xứ Nghệ, với những giá trị cốt lõi của mình, được cộng đồng các dân tộc sinh sống lâu đời trên địa bàn Tỉnh sáng tạo nên trong quá trình lao động sản xuất, đấu tranh chống thiên tai, địch họa Vì vậy, nó phụ thuộc vào sự vận động, phát triển của thực tiễn cải tạo tự nhiê, xã hội của con người trong quá trình lịch sử Dĩ nhiên, với tính cách là những giá trị cốt lõi, bền vững của văn hóa dân tộc, BSVHDT ở Nghệ An tương đối ổn định, song điều đó không có nghĩa là đứng im, nó vẫn thường xuyên được bổ sung, phát triển và hoàn thiện trong quá trình phát triển của xã hội
BSVHDT ở Nghệ An là hệ thống các giá trị văn hoá đặc trưng tiêu biểu phản ánh diện mạo, sắc thái, cốt cách, tâm hồn và bản lĩnh riêng của cộng đồng các dân tộc sinh sống lâu đời trên địa bàn Tỉnh, được hun đúc trong quá trình lịch sử thành những giá trị tinh tuý nhất, đặc sắc nhất tạo nên dấu ấn và sắc thái riêng biệt của mình
Trang 22BSVHDT là nền tảng, động lực mạnh mẽ của quá trình PTBV ở Nghệ
An Đây là đặc trưng căn bản, phản ánh giá trị và vai trò của BSVHDT ở Nghệ An Đảng ta nhiều lần khẳng định: văn hóa là nền tảng tinh thần xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển Bởi nói đến văn hóa là nói đến con người, đến nguồn nhân lực - yếu tố căn bản, quyết định sự phát triển của một đất nước cũng như một địa phương Bầu sữa văn hóa xứ Nghệ với bản sắc riêng của mình, qua hàng nghìn năm lịch sử, đã nuôi dương, bồi đắp, xây dựng nhân cách văn hóa con người Nghệ An cần cù, chịu khó, kiên trung, sẵn sàng cống hiến cho sự phát triển chung của xã hội trên tất cả các lĩnh vực
- Nội dung biểu hiện BSVHDT ở Nghệ An
Văn hóa xứ Nghệ là một bộ phận hữu cơ của văn hóa dân tộc, song điều kiện địa lý, tự nhiên, môi trường và hoàn cảnh lịch sử xã hội nơi đây đã tạo nên những dấu ấn riêng biệt, làm phong phú và đa dạng thêm nền văn hóa dân tộc Việt Nam
Xứ Nghệ có một kho tàng văn hoá dân gian phong phú, độc đáo về hình thức, thể loại như truyện cổ tích, huyền thoại, truyền thuyết, ca dao, dân ca,
vè, thành ngữ, tục ngữ; kiến trúc, điêu khắc, trang trí, các hình thức dân ca, dân nhạc, dân vũ, trò diễn, sân khấu Hiện nay, các di tích kiến trúc tín ngưỡng, tôn giáo phần do môi trường địa lý, phần do ý thức của con người, phần khác do sự tàn phá của chiến tranh nên hầu như không còn gì đáng kể
Tuy nhiên, văn học truyền miệng, các hình thức diễn xướng và tri thức dân
gian được lưu giữ lại khá phong phú Ví, Dặm là hai hình thức dân ca rất phổ biến, độc đáo của xứ Nghệ Hát dặm độc đáo không chi gắn với tiếng nói xứ Nghệ, mà còn cả về phương diện âm nhạc Nội dung của hát dặm bày tỏ thái
độ, tâm tư, tình câm, tư tưởng của người xứ Nghệ, dưới hình thức các câu thơ, thể năm câu, bắt vần lưng Hát ví cũng là một hình thức dân ca quen thuộc của người dân nơi đây, không nơi nào ở xứ Nghệ là không có hát ví
Ở Quỳnh Lưu, Thanh Chương gọi hình thức hát này là hát ghẹo Khác với
Trang 23hát dặm thường mang âm điệu thể hiện khía cạnh khắc khổ, cứng rắn của con người Nghệ An, thì hát ví, tức hát đối đáp nam nữ, có âm điệu êm ái, tha thiết, dịu dàng, tình tứ.
Bên cạnh những giá trị văn hóa dân gian đặc sắc, đất Nghệ An còn có một
bề dày văn học rực rỡ với nhiều tác gia cùng các tác phẩm nổi tiếng: Bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương, Phan Bội Châu, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh
Xứ Nghệ còn là vùng đất có truyền thống khoa bảng nổi tiếng trong cả
nước Ngay từ thế kỷ XIII, Lê Tắc đã nhận xét: “Người Hoan Diễn thuần hậu, tuấn tú, hiếu học” Nếu tính cả Hà Tĩnh, đất Hồng Lam chỉ chiếm 1/16
số tiến sĩ Nho học toàn quốc, thì suốt 89 khoa thi Đình thời Nguyễn, học trò
xứ Nghệ đã chiếm 1/5 trong tổng số thí sinh cả nước
Ông đồ là nhân vật trí thức tiên biểu của xứ Nghệ Họ có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa dân gian và bác học Các ông đồ xứ Nghệ là những người học chữ thánh hiền, vì nhiều lý do mà trở về thôn quê làm nghề dạy học Do gần gũi, thấu hiểu những cay cực của người dân trong xã hội phong kiến, ông
đồ trở thành người đại diện, phát ngôn cho nguyện vọng của nhâu dân Tiếng nói của họ thể hiện sự phản kháng đổi với chế độ thối nát đương thời; có khi trực tiếp kêu gọi nông dân khởi nghĩa chống lại triều đình phong kiến
Đặc biệt, nói đến xứ Nghệ không thể không nói đến con người nơi đây Đây là điểm đặc sắc, cũng là kết tinh của BSVHDT ở Nghệ An Chưa có địa phương nào ở nước ta mà được nhiều người góp bàn về tâm lý, tính cách như
với con người xứ Nghệ Bùi Dương Lịch trong “Nghệ An ký” đã viết: “Người Nghệ An khí chất chất phác, đôn hậu, tính tình thường chậm chạp, không sắc sảo cho nên làm việc gì củng giữ gìn cẩn thận, bền vững, ít bị xáo động bởi những lợi hại trước mắt” Đinh Gia Khánh đã phân tích tính cách của con người xứ Nghệ: “Quen chịu gian khổ, cần cù, sinh hoạt tiết kiệm, gan góc, mưu trí, chịu khổ nhưng không chịu nhục, trong gan góc có bướng bỉnh, trong trung thực có thô bạo, trong mưu trí có liều lĩnh” Vũ Ngọc Khánh còn
Trang 24nêu lên một vài khía cạnh tâm lý khác của con người xứ Nghệ: Lý tưởng trong tâm hồn, khắc khổ trong sinh hoạt, cứng cỏi trong giao tiếp Ninh Viết Giao - nhà “xứ Nghệ học” nổi tiếng lại khái quát cái bản ngã của xứ Nghệ:
“Không có miền nào lại có bản ngã rõ rệt như miền này Có thể nói rằng có một tinh thần Nghệ Tĩnh Tinh thần đó làm lộ một cách rõ rệt lòng phụng thờ,
sự cố gắng cùng tỉnh thần nhẫn nại, kiên quyết của một dân tộc nông nghiệp chật vật giành lấy một chỗ sống dưới mặt trời" [35, tr.15].
Người Nghệ An mang đầy đủ những phẩm chất chung, tiêu biểu của người Việt Nam Đó là lòng yêu nước, yêu quê hương nồng nàn, ý chí tự cường, tự tôn dân tộc và tinh thần đoàn kết, cố kết cộng đồng; sống nhân ái,
vị tha, trọng nghĩa tình, trọng đạo lý; lối sống giản dị, cần cù, tiết kiệm, chịu thương, chịu khó, sáng tạo trong lao động, hiếu học, cầu tiến bộ…người Nghệ còn mang những dấu ấn đặc trưng riêng biệt Yếu tố thiên nhiên, lịch
sử - xã hội đã ảnh hưởng đến con người nơi đây Có thể nói, người xứ Nghệ
đã tự tạo cho mình một tính cách riêng, dễ phân biệt với các vùng miền khác Bởi vậy, “tinh thần Nghệ Tĩnh” của người dân nơi đây có thể cảm nhận rất rõ rệt, không chỉ từ những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử mà còn ở ngay cả những người dân lao động bình thường
Trước hết, người xứ Nghệ rất giàu lý tưởng, lý tưởng vươn tới đích cao, vượt lên thực tại Người dân bình thường chăm lo sản xuất, dù gặp phải hoàn cảnh khó khăn, mùa màng thất bát, cũng không nản lòng, buông xuôi
mà luôn tìm cách khắc phục để vượt qua Trong lịch sử văn hóa Việt Nam ghi đậm dấu ấn của lớp nhà Nho xứ Nghệ thành đạt trên đường quan lộ hay chỉ là ông đồ nghèo thì họ vẫn miệt mài trên con đường tri thức, tu dưỡng đạo đức bản thân Tuy nhiên, nét tính cách này của người Nghệ cũng dễ tạo
ra tâm lý chủ quan, nóng vội hay phiêu lưu, mạo hiểm
Thứ hai, người Nghệ An rất trung kiên. Trung kiên ở đây là sự chất
Trang 25phác, tính trung thực, sự kiên định của những tâm hồn thiết tha với quê
hương, đất nước Sự chịu đựng âm thầm và lòng can đảm liều lĩnh là hai
mặt tưởng chừng như trái ngược nhau nhưng đều xuất phát từ sự trung kiên của con người xứ Nghệ Chính Hồ Chí Minh trong bài “Nghệ Tĩnh đỏ” đã nhận xét rất xác đáng: “Nhân dân Nghệ - Tĩnh nổi tiếng cứng đầu Trong thời kỳ Pháp xâm lược cũng như trong các phong trào cách mạng quốc gia (1905 - 1925) Nghệ - Tĩnh đã nổi tiếng Trong cuộc đấu tranh hiện nay, công nhân và nông dân Nghệ - Tĩnh vẫn giữ vững truyền thống cách mạng của mình.” [50, tr.79]
Thứ ba, người Nghệ An sống khắc khổ trong sinh hoạt Điều này thường
được lý giải bởi sự khắc nghiệt của thiên nhiên nơi đây Trước sự đe dọa của thiên tai, những hạn chế của trình độ khoa học, bản năng của con người đòi hỏi phải thích ứng với cuộc sống, với tự nhiên Vì vậy, trong cuộc sống, nhất là trong sinh hoạt hàng ngày, con người xứ Nghệ luôn có tâm lý phòng xa, chuẩn
bị sẵn sàng ứng phó với những tình huống xấu Thiết thực trong sinh hoạt, thận trọng trong cuộc sống trở thành phương châm sống của người Nghệ Tuy nhiên, tính cách này đôi khi lại là nhược điểm, bởi khi vượt quá mức cần thiết,
sự cần kiệm sẽ trở nên kệch cỡm, là đề tài cho sự chế giễu hoặc dẫn đến sự hẹp hòi, hạn chế trong xử thế Giai thoại về “con cá gỗ” của người Nghệ cũng vì thế mà trở thành vừa là niềm tự hào về tinh thần tiết kiệm, chắt chiu vì nghĩa lớn, nhưng cũng là nỗi lòng có phần tự ti của người Nghệ
Thứ tư, đó là sự cứng cỏi, cương quyết trong giao tiếp Khi tiếp xúc với
con người xứ Nghệ, ta còn bắt gặp nét ngang tàng, bướng bỉnh Cứng cỏi ở đây có lúc là một cái gì đó gai ngạnh để thể hiện chất trung kiên, không
chịu cúi mình trước khó khăn, nhưng có lúc lại là sự cứng nhắc, thiếu linh hoạt, thậm chí cản trở tầm nhìn xa trông rộng
Trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước, giữ nước của dân tộc, người Nghệ An với tính cách đặc trưng của mình luôn có mặt trong mọi cuộc đấu
Trang 26tranh Thực tế đã khẳng định, trên tất cả các lĩnh vực chính trị, ngoại giao, kinh tế, quân sự, văn hóa, xã hội, người xứ Nghệ đều có những đóng góp to lớn, để lại dấu ấn đậm nét.
Một điểm cần lưu ý rằng, những nét tính cách này không chỉ được thể hiện ở từng cá nhân con người xứ Nghệ, mà còn dễ thấy ở từng dòng họ Có một thực tế nào đó như là sự noi gương, một sự tổ thuật: đời ông vì nước quên thân thì đời con, đời cháu cũng như vậy Chính vì thế mà trong thời kỳ cận đại, một tên gọi quen thuộc đã được dùng để chỉ các dòng họ, con em cháu chắt của những gia đình như thế là “cừu gia tử đệ” Đặc điểm
này là nét chung có ở nhiều dòng họ trên đất nước Việt Nam, nhưng ở xứ Nghệ được biểu hiện rõ rệt hơn cả
Tóm lại, BSVHDT ở Nghệ An là những giá trị cốt lõi, bền vững trong đời sống văn hóa phong phú, đa dạng của người dân xứ Nghệ, là một bộ phận khăng khít của BSVHDT Việt Nam Với tư cách là những giá trị cốt lõi, bền vững của văn hóa dân tộc, BSVHDT ở Nghệ An là một trong những động lực quyết định tính bền vững của quá trình phát triển, thể hiện trên tất cả các phương diện của đời sống
Vai trò BSVHDT trong PTBV ở Nghệ An là khái niệm chỉ tác dụng, chức năng đồng thời phản ánh giá trị của BSVHDT trong thúc đẩy, định hướng và điều tiết quá trình PTBV ở Nghệ An Vai trò này thể hiện trên những phương
diện cơ bản sau đây:
Một là, BSVHDT là nền tảng và động lực căn bản trong PTBV ở Nghệ An
Trang 27BSVHDT vốn không phải là toàn bộ đời sống con người - xã hội, nhưng
là phần cốt tủy, là tinh hoa được chưng cất, kết tụ nên bản chất, bản sắc, linh hồn của dân tộc, nó được thăng hoa từ hơi thở cuộc sống, từ năng lực và trình
độ của mỗi cá nhân, cộng đồng; và đến lượt mình, nó lại có mặt trong mọi hoạt động từ suy tư đến hành động, từ hoạt động cá nhân đến hoạt động xã hội, từ hoạt động vật chất đến hoạt động tinh thần Hơn nữa, văn hóa là phạm trù thuộc về con người, của con người, do con người sáng tạo ra, vì cuộc sống
và sự phát triển, hoàn thiện của chính mình Văn hóa phân biệt con người với
tự nhiên, làm cho con người trở thành người, làm cho con người trở nên người hơn, là tính người, chất người Mục tiêu cốt lõi quan trọng nhất trong xây dựng văn hóa là xây dựng con người - nhân cách Nói cách khác, thông qua vai trò nhân tố con người văn hóa, với đầy đủ phẩm chất, trình độ, kỹ năng, năng lực cải tạo và hoạt động thực tiễn, BSVHDT sẽ trở thành nguồn động lực chi phối, thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái trên địa bàn tỉnh Nghệ An
Vì vậy, có thể nói, BSVHDT ở Nghệ An là yếu tố cốt lõi trong nền tảng tinh thần xã hội, đồng thời là nguồn động lực to lớn và mạnh mẽ trong thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế, xã hội một cách hiệu quả và bền vững Trong thành tựu chung của công cuộc đổi mới có sự đóng góp rất lớn của sự nghiệp văn hóa Đảng ta luôn quan tâm và đánh giá cao vai trò, vị trí của văn hóa đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa Nghị quyết số 33 - NQ/TW ngày 9/6/2014 Hội nghị Trung ương 9
khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu PTBV đất nước xác định rõ mục tiêu: phải làm cho “văn hóa thực sự trở
thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” [25, tr.3]
Trang 28Vai trò nền tảng và động lực của BSVHDT trong PTBV ở Nghệ An thể hiện trên trên tất cả các phương diện cơ bản của đời sống, từ kinh tế, xã hội đến hoạt động khai thác tài nguyên, bảo vệ môi trường sinh thái BSVHDT ở Nghệ An ảnh hưởng tới sự PTBV của Tỉnh trước hết vì nó là nền tảng tinh thần, động lực và thông qua mục tiêu của mình, nó đặt ra cho tất cả chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường Mọi kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội hay hoạt động khai thác tài nguyên thiên nhiên… đều phải hướng đến mục tiêu cao nhất và cơ bản nhất là bảo vệ con người, phục vụ con người, nâng cao chất lượng cuộc sống con người Bất cứ chính sách, biện pháp kinh tế, xã hội nào về sản xuất, lưu thông hay phân phối, về giá, lương, sản phẩm hàng hóa, về an sinh xã hội… đều phải thực hiện mục tiêu cao nhất cũng như yêu cầu cơ bản đó, tức là vì chính lợi ích của con người
Mỗi nấc thang của tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội tạo ra bước phát triển mới về văn hóa; văn hóa phát triển lại thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tiến
bộ xã hội Mặt khác, phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái là nhằm mục tiêu phát triển con người, hơn nữa, PTBV phải hướng tới xây dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, con người được hạnh phúc và phát triển toàn diện Trước đây, để phát triển kinh tế, người ta thường nhấn mạnh và khai thác yếu tố lao động của con người cho
sự phát triển Ngày nay, trong điều kiện của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, yếu tố quyết định cho sự phát triển là trí tuệ, là thông tin,
là sáng tạo và đổi mới không ngừng nhằm tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần ngày càng cao, đáp ứng nhu cầu đa dạng và phong phú của mỗi người cũng như của toàn xã hội
Trong thời đại ngày nay, một nước giàu hay nghèo, xã hội ổn định hay bất ổn…không chỉ ở chỗ có nhiều hay ít lao động, vốn, kỹ thuật và tài nguyên thiên nhiên, mà chủ yếu ở chỗ có khả năng phát huy đến mức cao nhất tiềm năng sáng tạo của nguồn lực con người hay không Tiềm năng
Trang 29sáng tạo này nằm trong các yếu tố cấu thành văn hóa, nghĩa là trong ý chí
tự lực, tự cường và khả năng hiểu biết, trong tâm hồn, đạo lý, lối sống, trình độ thẩm mỹ của mỗi cá nhân và của cả cộng đồng, trong đó BSVDT
là giá trị cốt lõi nhất
Vì vậy, có thể nói, BSVHDT vừa đóng vai trò là mục tiêu trước mắt và lâu dài vừa là nền tảng và động lực căn bản của quá trình PTBV ở Nghệ An Theo đó, để PTBV ở Nghệ An phải có một mô hình tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội xuất phát từ văn hóa và bằng tố chất văn hóa, đó là nguồn nhân lực chất lượng cao Bằng nguồn tài nguyên quý nhất, vốn quý nhất là con người, chúng ta có thể làm chủ được khoa học và công nghệ, tạo ra sức mạnh tác động vào hoạt động kinh tế, xã hội, khai thác tài nguyên thiên nhiên… theo chiều sức mạnh thúc đẩy Rõ ràng, một chính sách phát triển đúng đắn là chính sách làm cho các yếu tố cấu thành văn hóa thấm sâu vào tất cả các lĩnh vực sáng tạo của con người: văn hóa trong sản xuất, văn hóa trong quản lý, văn hóa trong lối sống, văn hóa trong giao tiếp, văn hóa trong sinh hoạt gia đình, ngoài xã hội, văn hóa trong giao lưu và hợp tác quốc tế, trong ứng xử với môi trường tự nhiên… Nói cách khác, hàm lượng trí tuệ, hàm lượng văn hóa trong các lĩnh vực của đời sống con người xứ Nghệ càng cao bao nhiêu thì khả năng phát triển kinh tế - xã hội, hiệu quả bảo vệ môi trường sinh thái…trên địa bàn Tỉnh càng trở nên hiện thực bấy nhiêu
Hai là, BSVHDT là thành tố cơ bản, đồng thời là nguồn lực trực tiếp phục vụ quá trình PTBV ở Nghệ An
Tiếp cận từ quan điểm hệ thống - cấu trúc, PTBV bao gồm ba trụ cột cơ bản là kinh tế, xã hội và bảo vệ tài nguyên môi trường, tuy nhiên cần thấy rằng, văn hóa nói chung, BSVHDT nói riêng là một thành tố quan trọng, bao trùm và chi phối quá trình PTBV ở Nghệ An Bởi lẽ, xét cho cùng yếu tố văn hóa luôn nằm trong kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái, đồng thời
là thành tố “ngang hàng” với các yếu tố trên Nghị quyết số 33 - NQ/TW ngày
Trang 309/6/2014 Hội nghị Trung ương 9 khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu PTBV đất nước của Đảng khẳng định:
“Văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội.” Với vị trí
đó, BSVHDT có vai trò quan trọng, chi phối và quy định tính bền vững, hiệu quả của các quá trình PTBV kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái ở Nghệ An Bởi lẽ, khi văn hóa phát triển tương xứng, các giá trị bản sắc văn hóa xứ Nghệ được phát huy, sẽ là cơ sở cho phát triển kinh tế, xã hội một cách toàn diện Văn hóa và tăng trưởng kinh tế, ổn định và tiến bộ xã hội luôn
có mối quan hệ đa chiều Mỗi chiều cạnh của quan hệ này có thể phát huy khả năng của mình, nhưng các chiều cạnh đó lại có mối quan hệ mật thiết với nhau, cùng lúc phát huy nhiều năng lực khác nhau
Mặt khác, BSVHDT và quá trình PTBV ở Nghệ An có mối quan hệ biện chứng với nhau Thực tiễn ngày càng cho thấy văn hóa không thể đứng ngoài,
mà phải ở trong kinh tế và chính trị Văn hóa không chỉ là mục tiêu, động lực
mà nằm ngay trong quá trình phát triển kinh tế, trở thành nguồn lực trực tiếp phục vụ quá trình phát triển kinh tế, xã hội
Với luận điểm này, BSVHDT thể hiện trước hết thông qua chức năng xây dựng con người xứ Nghệ, bồi dưỡng nguồn lực con người về trí tuệ và tâm hồn, năng lực, sự thành thạo, tài năng, đạo đức, nhân cách, lối sống của
cá nhân và cộng đồng Chính vì thế mà BSVHDT sẽ là điều kiện không thể thiếu để thúc đẩy kinh tế, xã hội phát triển ổn định, bảo vệ và khai thác hiệu quả tài nguyên thiên nhiên Thiếu nguồn nhân lực có tố chất văn hóa, một nền tảng tinh thần tiến bộ, lành mạnh sẽ không có sự PTBV
BSVHDT là nguồn lực mạnh mẽ cho sự phát triển kinh tế - xã hội Bởi
lẽ, chìa khóa của sự PTBV bao gồm những nhân tố như: nguồn lực tài nguyên thiên nhiên, nguồn vốn, nguồn khoa học công nghệ, nguồn lực con người, trong đó nguồn lực con người đóng vai trò chủ chốt Định hướng Chiến lược PTBV ở Việt Nam đã nêu lên 8 nguyên tắc chính cần thực hiện trong quá
Trang 31trình phát triển, thì nguyên tắc được nêu ra đầu tiên là con người, nguồn lực con người có vai trò quyết định, đây là chìa khoá của mọi chìa khoá Con
người là trung tâm của phát triển bền vững, đáp ứng ngày càng đầy đủ hơn nhu cầu vật chất và tinh thần của mọi tầng lớp nhân dân, xây dựng đất nước giàu mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh là nguyên tắc quán triệt
nhất quán trong mọi giai đoạn phát triển.
Ở một khía cạnh khác, các giá trị văn hóa độc đáo, đậm đà bản sắc dân tộc còn là nguồn lực trực tiếp phục vụ sự phát triển kinh tế, xã hội ở Nghệ An Đó là
hệ thống các di sản văn hóa vật chất, tinh thần phong phú, đa dạng trên địa bàn Tỉnh có giá trị về lịch sử, tâm linh, truyền thống cách mạng như dân ca Ví, Dặm Nghệ Tĩnh (đã chính thức được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại), lễ hội Làng Sen, lễ hội Đền Cuông… đều là nguồn lực văn hóa tiềm năng phục vụ trực tiếp trong phát triển kinh tế du lịch, du lịch văn hóa, du lịch tâm linh…đem lại lợi ích vật chất, phục vụ đời sống nhân dân trên địa bàn Đồng thời góp phần giáo dục niềm tự hào quê hương xứ Nghệ, truyền thống văn hiến, truyền thống đấu tranh cách mạng bất khuất cho các thế
hệ người Nghệ An, tạo dựng một xã hội ổn định, văn minh, hạnh phúc
Dưới góc độ PTBV môi trường sinh thái, vai trò nguồn lực của BSVHDT ở Nghệ An thể hiện thông qua giá trị, tác dụng của văn hóa sinh thái đối với quá trình PTBV ở Tỉnh Văn hóa sinh thái - một bộ phận của văn hóa dân tộc, là toàn bộ phương thức và các giá trị vật chất, tinh thần do con người sáng tạo, tích lũy và phát triển trong quá trình ứng xử với tự nhiên, nhằm tác động và cải biến giới tự nhiên vì sự cùng tồn tại của cả con người và giới
tự nhiên ở hiện tại và trong tương lai Nó được thể hiện thông qua trình độ nhận thức của con người về môi trường tự nhiên, qua tình yêu sâu đậm cũng như qua hành vi của họ đối với tự nhiên trong hoạt động thực tiễn của chính bản thân con người
Ba là, BSVHDT là hệ điều tiết quá trình PTBV ở Nghệ An
Trang 32Với hệ giá trị tốt đẹp, cốt lõi và chức năng của mình, BSVHDT luôn làm tròn trách nhiệm của mình đối với việc điều tiết sự vận hành của các quá trình kinh tế - xã hội theo hướng hiệu quả và bền vững Theo đó, BSVHDT có vai trò điều tiết, định hướng quá trình PTBV ở Nghệ An
Trước hết, BSVHDT góp phần định hướng và điều tiết sự phát triển kinh
tế trên địa bàn Tỉnh, làm cho quá trình này có tính hướng đích rõ ràng hơn, nhanh và ổn định hơn Bởi lẽ, văn hóa nói chung, BSVHDT nói riêng luôn là mục tiêu của quá trình phát triển kinh tế, mọi hoạt động kinh tế đều hướng vào tạo dựng một cuộc sống giàu đẹp, phồn vinh cho con người, đem lại lợi ích ngày càng cao cho con người, phục vụ và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân trong Tỉnh Đây là mục tiêu căn bản, mục tiêu cao nhất của phát triển kinh tế ở Nghệ An Để đảm bảo mục tiêu này, các hoạt động kinh tế phải được vận hành trên nền tảng văn hóa, trong môi trường văn hóa
và đặc biệt, trên cơ sở nguồn lực văn hóa của Tỉnh Quá trình đó, yếu tố văn hóa, nhất là những giá trị bản sắc, độc đáo trong văn hóa xứ Nghệ sẽ thâm nhập, chi phối, điều tiết và định hướng trong từng khâu, từng bước của từng chiến lược, quy hoạch, kết hoạch phát triển kinh tế trên địa bàn Tỉnh, làm cho quá trình ấy đảm bảo được hiện thực hóa với hiệu quả cao và bền vững
Cùng với định hướng và điều tiết quá trình phát triển kinh tế, BSVHDT
ở Nghệ An góp phần điều tiết, giữ ổn định xã hội trong giai đoạn PTBV hiện nay Điều quan trọng nhất khi nói văn hóa là nền tảng tinh thần bởi văn hóa
có chức năng định hình các giá trị, chuẩn mực trong đời sống xã hội, chi phối các hành vi của mỗi người và toàn xã hội Với tính lịch sử, các giá trị, chuẩn mực đó được truyền bá, lưu giữ, chắt lọc và phát triển trong tiến trình lịch sử của dân tộc, trở thành hệ thống các giá trị đặc trưng cho một dân tộc, bao gồm chính trị, đạo đức, luật pháp, khoa học, văn học, nghệ thuật, các thể chế, thiết chế văn hóa, tập quán, lối sống, tạo nên cái cốt, cái hồn, bản sắc văn hóa của
Trang 33mỗi dân tộc Hệ thống những giá trị, chuẩn mực này có chức năng điều tiết, định hướng quá trình phát triển xã hội, tạo sự thống nhất, ổn định của xã hội.Hơn nữa, BSVHDT ở Nghệ An còn có tác dụng cải tạo các quan hệ xã hội, ứng với nó là văn hóa chính trị, văn hóa pháp quyền, văn hóa quản lý xã hội, văn hóa dân chủ, văn hóa công dân, văn hóa giao tiếp, văn hóa ứng xử, văn hóa đối thoại, văn hóa lối sống và nếp sống, văn hóa giáo dục, văn hóa môi trường, qua đó cải tạo các quan hệ xã hội, điều chỉnh hành vi của mỗi cá nhân và cộng đồng, thúc đẩy các quan hệ kinh tế, xã hội không ngừng hoàn thiện và phát triển.
BSVHDT ở Nghệ An cũng góp phần quan trọng xây dựng mối quan hệ hài hòa giữa con người và tự nhiên Đây là vấn đề chính cần quan tâm để đảm bảo tốt nhất môi trường sống của con người Văn hóa Việt Nam nói chung, văn hóa xứ Nghệ nói riêng gắn với văn minh nông nghiệp, từ trước đến nay, các dân tộc sinh sống trên địa bàn tỉnh Nghệ An đã có mối liên hệ đặc biệt, phụ thuộc vào tự nhiên Vì vậy, con người có mối quan hệ gắn bó vô cùng mật thiết với tự nhiên Tự nhiên chính là môi trường sống của con người, nơi cung cấp những điều kiện cơ bản cho con người tồn tại và phát triển
BSVHDT góp phần xây dựng con người có ý thức tự giác đối với việc bảo vệ môi trường Ở Việt Nam nói chung, tỉnh Nghệ An nói riêng, vấn đề môi trường và ảnh hưởng của nó đến phát triển con người đang trở thành thách thức Ô nhiễm trên quy mô rộng, suy thoái cục bộ, có dấu hiệu khủng hoảng môi trường do quá trình phát triển ưu tiên cho tăng trưởng kinh tế, coi nhẹ bảo vệ môi trường đang trở thành những rào cản lớn đối với sự phát triển của chính con người Việt Nam - được hiểu như quá trình không ngừng mở rộng cơ hội và nâng cao năng lực lựa chọn cho con người Chính vì vậy xây dựng ý thức tự giác của nhân dân tỉnh Nghệ An đối với việc bảo vệ môi trường sinh thái chiếm vị trí quan trọng hàng đầu đến sự sống còn của con người nơi đây
BSVHDT góp phần xây dựng ý thức tự giác của con người, tạo dựng nên văn hóa sinh thái tiến bộ, tác động mạnh mẽ đến quá trình PTBV ở Nghệ An
Trang 34Điều này trước hết được quy định bởi chức năng nhận thức của văn hóa Con người là trung tâm của văn hóa, tất cả hành vi, hoạt động của con người đều liên quan đến văn hóa Văn hóa tạo dựng cho con cách ứng xử thân thiện với môi trường trên cơ sở đổi mới tư duy, cách làm, hành vi ứng xử, ý thức trách nhiệm với thiên nhiên, môi trường trong xã hội và của mỗi người dân Một khi văn hóa sinh thái được phát huy đầy đủ, thì trong hoạt động sản xuất vật chất, con người không chỉ biết lợi dụng những cái sẵn có trong tự nhiên mà còn biết biến đổi, cải tạo tự nhiên với phương châm vừa phải tạo ra của cải vật chất đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con ngươi, vừa phải đảm bảo sự tồn tại của giới
tự nhiên Khi lựa chọn công nghệ đưa vào sản xuất, con người có sự tính toán, cân nhắc sao cho lựa chọn được những công nghệ phù hợp gay ảnh hưởng ít nhất bởi những mặt trái của nó tới môi trường tự nhiên Đây cũng chính là một yêu cầu bắt buộc của văn hóa sinh thái trong thời đại ngày nay
Đặc biệt, con người trong đời sống sinh hoạt hàng ngày sẽ tự giác từ bỏ thói quen tiêu dùng những sản phẩm có tính chất lý, hóa học gây ô nhiễm môi trường và những sản vật quý hiếm trong tự nhiên Đồng thời, xã hội cũng phải
có thái độ kiên quyết, xử lý thích đáng những trường hợp cố ý gây hậu quả xấu cho môi trường làm ảnh hưởng tới cuộc sống của con người và sự phát triền của tự nhiên ở cả hiện tại và trong tương lai
Tóm lại, BSVHDT có vai trò to lớn đối với quá trình PTBV ở Nghệ hiện nay, nó không chỉ là nền tảng, nguồn động lực chủ yếu, mà còn là nguồn lực trực tiếp tham gia và chi phối quá trình PTBV ở Nghệ An, đồng thời là hệ giá trị điều tiết chính quá trình ấy Điều đó cho thấy, việc khơi dậy, phát huy vai trò BSVHDT trong PTBV ở Nghệ An là một yêu cầu thường xuyên, cơ bản, lâu dài nhằm phát triển mọi mặt đời sống kinh tế, xã hội ở Nghệ An hiện nay
1.2 Thực trạng vai trò bản sắc văn hóa dân tộc trong phát triển bền vững ở Nghệ An hiện nay và nguyên nhân
1.2.1 Ưu điểm và nguyên nhân
* Ưu điểm:
Trang 35Một là, BSVHDT đã và đang trở thành nền tảng và động lực quan trọng trong PTBV ở Nghệ An hiện nay
Điều này được thể hiện trước hết thông qua nhận thức của đảng bộ, chính quyền và nhân dân Nghệ An hiện nay khá toàn diện và sâu sắc về PTBV và vai trò BSVHDT trong PTBV ở Nghệ An Trên cơ sở các mục tiêu,
nhiệm vụ cụ thể của Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu PTBV đất nước, Nghị quyết số 26 - NQ/TW, ngày 30/7/2013 của Bộ Chính trị về phương hướng, nhiệm vụ phát triển tỉnh Nghệ An đến năm 2020, xuất phát từ thực tiễn của
địa phương, các cấp ủy đảng xác định việc phát huy vai trò BSVHDT trong PTBV ở Nghệ An hiện nay phải gắn liền với quá trình xây dựng phẩm chất và năng lực con người xứ Nghệ đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi cao của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày một sâu rộng Coi con người - với đầy đủ tố chất văn hóa của con người mới xã hội chủ nghĩa, cốt cách,phẩm chất tốt đẹp của xứ Nghệ - là “trung tâm”, “động lực chủ yếu” và là chủ thể của quá trình PTBV ở Nghệ An hiện nay
Nhìn một cách tổng thể, cán bộ, đảng viên và nhân dân tỉnh Nghệ An có nhận thức khá đầy đủ, toàn diện về phương hướng, mục tiêu PTBV của Tỉnh,
về BSVHDT cũng như tầm quan trọng và tính tất yếu phát huy vai trò BSVHDT trong PTBV ở Nghệ An hiện nay
Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Nghệ An xác định rõ mục tiêu và hướng căn bản trong phát triển tỉnh nhà theo hướng bền vững Điều này được khẳng định rõ trong các chỉ thị, nghị quyết và chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của Tỉnh những năm qua Đại hội Đại biểu Đảng
bộ tỉnh Nghệ An lần thứ XVII khẳng định, trong những năm tới, phải “huy động tối đa mọi nguồn lực cho đầu tư phát triển, nhất là nguồn nhân lực, ưu tiên đầu tư khai thác tiềm năng miền Tây, vùng Biển và đô thị Đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế và nâng cao chất lượng tăng trưởng Từng bước
Trang 36xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, trong đó ưu tiên cho các vùng kinh
tế trọng điểm và vùng kinh tế khó khăn; chủ động hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế; giữ gìn và phát huy các truyền thống, bản sắc văn hoá Xứ Nghệ; kiểm soát, kìm giữ, đẩy lùi các tệ nạn xã hội và tội phạm; giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo vững chắc quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng Xây dựng Đảng bộ, Chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể nhân dân ngày càng vững mạnh” [26, tr.13] Đây là phương hướng và mục tiêu căn bản trong PTBV ở
Nghệ An hiện nay Nó cho thấy nhận thức của Đảng bộ và nhân dân Nghệ An
về PTBV khá đầy đủ và đúng hướng Theo điều tra của tác giả, 100% cán bộ được hỏi khẳng định rằng, PTBV là xu thế tất yếu của Nghệ An, 86,7% cho rằng, phương hướng, mục tiêu phát triển được Đảng bộ Tỉnh xác định là đúng đắn và phù hợp theo hướng bền vững trên tất cả các lĩnh vực
Về BSVHDT, có thể nói, người xứ Nghệ luôn nhận thức đầy đủ và tự hào về những giá trị văn hóa đặc sắc của quê hương, đất nước mình Cán bộ, đảng viên và nhân dân trong Tỉnh đều khẳng định nhất quán rằng, BSVHDT
ở Nghệ An là một bộ phận hữu cơ, không thể tách rời, góp phần làm phong phú, đa dạng thêm nền văn hóa Việt Nam thống nhất Đó là tổng hoà những giá trị văn hoá ổn định, bền vững, phản ánh cốt cách, bản lĩnh và diện mạo của cộng đồng các dân tộc, được hình thành, hun đúc và phát triển trong suốt chiều dài lịch sử, là tài sản tinh thần riêng biệt, đặc sắc của cộng đồng các dân tộc sinh sống trên địa bàn tỉnh Nghệ An Họ cũng ý thức rõ ràng vai trò của bản thân mình với tư cách là chủ thể sáng tạo văn hóa, cũng như trách nhiệm trong bảo tồn, gìn giữ và phát huy những giá trị ấy trong quá trình phát triển của mình
Dưới góc độ lãnh đạo, quản lý, đảng bộ và chính quyền tỉnh Nghệ An đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát công tác phát triển văn hóa, coi đó là một trong những nhiệm vụ chính trị quan trọng hàng đầu Chỉ tính từ sau khi Đảng ta
Trang 37ban hành Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, Thường vụ Tỉnh ủy và UBND Tỉnh đã xây dựng nhiều chương trình, chỉ thị nhằm xây dựng và phát triển văn hóa trên địa bàn tỉnh Nghệ An nói chung, phát huy vai trò của BSVHDT trong PTBV nói riêng như: Chương trình số 03 - CTr/TU ngày 16/11/1998 của Tỉnh ủy Nghệ An
về xây dựng và phát triển đời sống văn hóa miền núi và đồng bào các dân tộc thiểu số Nghệ An; Chỉ thị số 46 - CT/TU ngày 20/7/2000 của Ban Thường vụ
Tỉnh ủy về "lãnh đạo thực hiện cuộc vận động phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa"; Chỉ thị 08 - CT/TU ngày 01/3/2002 của Ban Thường
vụ Tỉnh ủy về "thực hiện nếp sống văn hóa trong việc cưới, việc tang, lễ hội và bài trừ mê tín dị đoan"; Chỉ thị số 11 - CT/TU, ngày 22/10/2002 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về "thực hiện xây dựng thiết chế văn hóa - thông tin - thể thao đồng bộ và phát triển đời sống văn hóa ở cơ sở tỉnh Nghệ An (thời kỳ 2002
- 2010)"; Chương trình hành động số 20 - Ctr/TU ngày 20/8/2004 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy thực hiện Kết luận hội nghị Trung ương 10 (khóa IX) "về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc";
Quyết định số 80/2002/QĐ - UBND ngày 06/9/2002 của UBND tỉnh về ban hành Đề án xây dựng thiết chế văn hóa - thông tin - thể thao đồng bộ và phát triển đời sống văn hóa tỉnh Nghệ An giai đoạn 2002 - 2010; Quyết định số 2000/QĐ - UBND ngày 07/6/2012 của UBND tỉnh về việc phê duyệt chương trình thực hiện Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa tỉnh Nghệ An giai đoạn 2012 - 2015, định hướng đến năm 2020
Đặc biệt, từ sau khi Đảng ta ban hành Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI
về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu PTBV đất nước, và Nghị quyết số 26 - NQ/TW, ngày 30/7/2013 của Bộ Chính
trị về phương hướng, nhiệm vụ phát triển tỉnh Nghệ An đến năm 2020, nhận thức của cán bộ và nhân dân tỉnh Nghệ An về vai trò BSVHDT trong PTBV được nâng lên rõ rệt Kết quả điều tra xã hội học cho thấy, có tới 83,3% số
Trang 38cán bộ được hỏi cho rằng, BSVHDT có vai trò rất quan trọng trong PTBV ở Nghệ An hiện nay, số còn lại nhận định ở mức “quan trọng” (phụ lục 1) Điều này khẳng định sự thống nhất cao của đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa của Nghệ An trong nhận thức về vai trò của BSVHDT nói chung, vai trò BSVHDT trong PTBV ở Nghệ An nói riêng Báo
cáo Tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc của Tỉnh ủy Nghệ An khẳng định, trong những năm tới phải tiếp tục “kiên trì quan điểm xây dựng và phát triển sự nghiệp văn hóa truyền thống phù hợp với yêu cầu của thời đại; kế thừa và phát huy các kết quả đạt được, bám sát chương trình hành động của Tỉnh ủy, điều chỉnh, bổ sung các chủ trương, giải pháp để tiếp tục đẩy mạnh thực hiện các nhiệm vụ xây dựng và phát triển bản sắc văn hóa xứ Nghệ, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.” [55, tr.14].
Cùng với việc ban hành các chỉ thị, nghị quyết và chương trình hành
động đúng đắn trong lĩnh vực văn hóa, Tỉnh ủy và UBND tỉnh đã chỉ đạo các cấp chính quyền, đoàn thể xây dựng chương trình hành động thực hiện các chị thị, nghị quyết về văn hóa, chỉ đạo các phương tiện thông tin đại chúng, thông qua các hội nghị…tổ chức tuyên truyền sâu rộng trong đội ngũ cán bộ và mọi tầng lớp nhân dân Đồng thời, các tổ chức cơ sở đảng đã quán triệt cho đảng viên và tuyên truyền sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân về mục đích, nội dung, ý nghĩa và tầm quan trọng của việc xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, về sự cần thiết phải phát huy vai trò BSVHDT trong PTBV ở Nghệ An hiện nay Nhờ đó, nhận thức về vai trò, vị trí của văn hóa trong đời sống của cán bộ, đảng viên và toàn thể nhân dân có sự chuyển biến mạnh mẽ, hầu hết đều nhận thức rõ BSVHDT là tổng hoà những giá trị văn hoá ổn định, bền vững, phản ánh cốt cách, bản lĩnh và diện mạo của cộng
Trang 39đồng các dân tộc, được hình thành, hun đúc và phát triển trong suốt chiều dài lịch sử, là tài sản tinh thần đặc sắc của cộng đồng các dân tộc sinh sống trên địa bàn tỉnh Nghệ An, mỗi người dân xứ Nghệ luôn tự hào về truyền thống văn hóa
của quê hương mình và khẳng định, BSVHDT có ý nghĩa quan trọng, là nền
tảng, động lực thúc đẩy kinh tế, xã hội phát triển ổn đinh và bền vững
Không chỉ nhận thức được tầm quan trọng của BSVHDT trong PTBV ở Nghệ An hiện nay nói chung, cán bộ, đảng viên và nhân dân tỉnh Nghệ An cũng nhân thức khá sâu sắc về vai trò BSVHDT trong PTBV trên từng lĩnh vực kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái của Tỉnh Đại bộ phận cán
bộ khẳng định, BSVHDT là một thành tố, nguồn động lực quan trọng, đồng thời là mục tiêu chủ yếu của quá trình PTBV, góp phần điều tiết, định hướng mọi mặt của đời sống, thúc đẩy kinh tế tăng trưởng ổn định (86,7%), điều tiết, cải biến sự phát triển của xã hội (83,3%) cũng như góp phần xây dựng mối quan hệ hài hòa giữa con người và tự nhiên, từ đó có ý thức tự giác trong bảo
vệ môi trường (84.7%) (phụ lục 1) Đây là nhận thức đúng đắn về vai trò BSVHDT trong PTBV ở Nghệ An hiện nay, là cơ sở quan trọng để phát huy những giá trị văn hóa cốt lõi, đặc trưng của xứ Nghệ trong PTBV kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái trên địa bàn Tỉnh hiện nay
Hai là, BSVHDT đã và đang trở thành một trong những nhân tố quan trọng, nguồn lực trực tiếp trong quá trình PTBV ở Nghệ An hiện nay
Mặc dù còn nhiều khó khăn, vướng mắc, song việc khai thác, sử dụng các giá trị BSVHDT trong phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường ở Nghệ An hiện nay khá hiệu quả, bước đầu đã nhận thức và giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa văn hóa với kinh tế, xã hội cũng như bảo vệ môi trường, coi văn hóa nói chung, BSVHDT ở Nghệ An nói riêng là một thành tố không thể thiếu, có vai trò quan trọng trong PTBV ở Tỉnh hiện nay Kết quả điều tra xã hội học và phỏng vấn trực tiếp một số cán bộ làm công tác văn hóa ở Nghệ
Trang 40An cho thấy, 100% đội ngũ cán bộ khẳng định BSVHDT là bộ phận cốt lõi, thành tố cơ bản trong PTBV ở Nghệ An hiện nay
Có thể nói, trong từng chiến lược, chương trình, kế hoạch phát triển kinh
tế, xã hội và bảo vệ môi trường, yếu tố văn hóa đã từng bước được chú trọng,
đề cao và phát huy hiệu quả khá tốt, góp phần tích cực phát triển kinh tế, xã hội theo hướng ổn định, bền vững Trong phát triển kinh tế du lịch, văn hóa trở thành nguồn lực trực tiếp phục vụ phát triển du lịch Nghệ An một cách đắc lực Theo điều tra xã hội học, đa số cán bộ địa phương đánh giá, sự tham gia của yếu tố văn hóa trong phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường trên địa bàn Tỉnh là khá cụ thể, rõ ràng và có hiệu quả thiết thực (phụ lục 1) Nguồn lực văn hóa phục vụ PTBV ở Nghệ An hiện nay đạt được nhiều thành tựu cả về nguồn lực con người, bảo tồn, khai thác hệ thống các di sản, công tác quản lý, xây dựng thiết chế văn hóa cũng như hoạt động hợp tác quốc tế về văn hóa
Về nguồn lực con người, Nghệ An có nguồn lao động dồi dào và đang
trong thời kì “cơ cấu dân số vàng”, nghĩa là tỉ trọng dân số trong độ tuổi lao động cao gấp đôi trong độ tuổi phụ thuộc Đây là một lợi thế lớn để PTBV ở Tỉnh Lực lượng lao động của tỉnh Nghệ An có cơ cấu phân theo nhóm tuổi trẻ, thuận lợi để có thể nâng cao trình độ chuyên môn kĩ thuật của lao động Lao động có thể dễ dàng đón nhận những tiến bộ khoa học kĩ thuật trong sản xuất Lực lượng lao động của Nghệ An bước đầu đã có sự chuyển dịch đúng hướng, phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đó là sự giảm tỉ trọng của lao động nông, lâm, ngư nghiệp và tăng tỉ trọng của lao động công nghiệp - xây dựng và dịch vụ
Trong những năm qua, trình độ học vấn của lao động đã được nâng lên
rõ rệt Đây cũng là một yếu tố thuận lợi cho việc tiếp thu những tiến bộ khoa học kĩ thuật trong sản xuất một cách dễ dàng Theo số liệu từ Cục Thống kê Nghệ An, năm 2012, Nghệ An có 1.823.400 lao động, trong đó có hơn 19.000 nhà lãnh đạo, quản lý, gần 58.000 lao động là chuyên môn kỹ thuật