1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LUẬN văn tốt NGHIỆP LỊCH sử ĐẢNG ĐẢNG CHỈ đạo PHÁT TRIỂN DU LỊCH từ năm 2006 đến năm 2011

104 278 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 776,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Du lịch đã và đang trở thành một trong những ngành kinh tế quan trọng, có tốc độ phát triển nhanh trên thế giới. Báo cáo của Hội đồng Lữ hành và Du lịch quốc tế cho thấy: “Du lịch là nguồn thu ngoại tệ quan trọng nhất cho 38% quốc gia trên thế giới. Tại nhiều quốc gia, du lịch đã nhanh chóng trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn. Du lịch đang là một đề tài hấp dẫn và trở thành vấn đề mang tính toàn cầu”

Trang 2

2.1 Nhận xét sự lãnh đạo của Đảng về phát triển du lịch

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Du lịch đã và đang trở thành một trong những ngành kinh tế quan trọng,

có tốc độ phát triển nhanh trên thế giới Báo cáo của Hội đồng Lữ hành và Dulịch quốc tế cho thấy: “Du lịch là nguồn thu ngoại tệ quan trọng nhất cho 38%quốc gia trên thế giới Tại nhiều quốc gia, du lịch đã nhanh chóng trở thành mộtngành kinh tế mũi nhọn Du lịch đang là một đề tài hấp dẫn và trở thành vấn đềmang tính toàn cầu” [73, tr.5]

Việt Nam là một quốc gia có nhiều tiềm năng, thế mạnh về du lịch.Nằm ở ngã ba giao thương quốc tế, thuận lợi cho du khách đi và đến, tàinguyên du lịch vô cùng phong phú, đa dạng, lại có nguồn nhân lực dồi dàophục vụ du lịch Việc phát triển du lịch là một đòi hỏi khách quan, vì vậy,Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm phát triển lĩnh vực này Đại hội Đạibiểu toàn quốc lần thứ VI (12-1986), Đảng ta xác định: Phải nhanh chóngkhai thác các điều kiện thuận lợi của đất nước để mở mang du lịch bằngvốn trong nước và hợp tác với nước ngoài Chỉ thị 46 - CT/TW ngày14/10/1994 về lãnh đạo, đổi mới và phát triển du lịch trong tình hình mớicủa Ban Bí thư nhấn mạnh: “Phát triển du lịch là một hướng chiến lượcquan trọng trong đường lối phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhànước nhằm góp phần thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, làmcho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh” [1, tr.2] Tư duy vềphát triển du lịch được tập trung tại Đại hội IX của Đảng (4 - 2001): “Pháttriển du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong chiến lượckinh tế - xã hội nhằm góp phần thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đấtnước làm cho dân giàu nước mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh”[27, tr.178] Phát triển du lịch là một ngành kinh tế mũi nhọn nhằm tạo đà,tạo động lực thúc đẩy hội nhập kinh tế trong xu thế quốc tế hoá Đồng thời,phát triển du lịch còn tạo ra những động lực mạnh mẽ để khai thác có hiệuquả những tiềm năng, điều kiện thuận lợi trên tất cả các mặt, các lĩnh vựccủa nền kinh tế - xã hội

Trang 4

Trong những năm qua, ngành Du lịch nước ta đã tiến những bước dài,

có sự phát triển vượt bậc, thể hiện ở việc: đóng góp lớn vào GDP của cảnước; tạo ra hàng triệu việc làm cho người lao động; góp phần bảo vệ nền vănhóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; góp phần giữ vững ổn định chính trị,tăng cường sức mạnh quốc phòng toàn dân…v,v Tuy nhiên, còn rất nhiềuvấn đề đặt ra trong thực tiễn phát triển du lịch, đặc biệt là những hạn chế, yếukém trong hoạt động lãnh đạo phát triển du lịch làm cho nước ta chưa pháthuy hết tiềm năng, thế mạnh của đất nước về du lịch

Từ thực tiễn trên, việc nghiên cứu đường lối, chủ trương, sự chỉ đạocủa Đảng về phát triển du lịch là hết sức cần thiết để tổng kết, đánh giá nhữngthành tựu, hạn chế, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm trong công tác lãnh đạo

phát triển du lịch Với những ý nghĩa đó tôi chọn đề tài: “Đảng lãnh đạo phát triển du lịch từ năm 2006 đến năm 2011” làm đề tài luận văn thạc sĩ,

chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Từ sau những năm đổi mới cho đến nay, du lịch là đề tài thu hút sựquan tâm đặc biệt của Đảng, Nhà nước, các địa phương, các cơ quan lãnh đạo,quản lý và nhiều nhà khoa học Xuất phát từ thực tế đó cùng với sự đa dạng,phong phú của hoạt động du lịch, ngày càng có nhiều các công trình nghiêncứu về du lịch dưới nhiều góc độ khác nhau Có thể khái quát lại thành cácnhóm như sau:

- Nhóm các công trình nghiên cứu về vị trí, vai trò và thực trạng phát triển du lịch ở Việt Nam.

Bài báo “Du lịch sinh thái, thực trạng và giải pháp để phát triển ở Việt

Nam” (2006) của Nguyễn Đình Hòa, Tạp chí Kinh tế và Phát triển, (Số 103),

nêu lên thực trạng du lịch sinh thái ở Việt Nam trước năm 2006 và một số giảipháp để phát triển du lịch sinh thái trong thời gian tiếp sau Bài báo “Du lịch

Việt Nam trước cơ hội đổi mới” (2007) của Thúy Mơ, Tạp chí Kinh tế châu Á Thái Bình Dương, (Số 02), nêu lên những thành tựu của du lịch Việt Nam trong

-năm 2006, những cơ hội, thách thức trong -năm 2007 Bài báo “Để du lịch Việt

Trang 5

Nam không mãi là tiềm ẩn” (2008) của Phạm Hạnh, Tạp chí Tài chính Doanh nghiệp, (Số 3), bài viết khái quát những đóng góp của ngành Du lịch Việt Nam

đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, so sánh du lịch Việt Nam với một số quốcgia Đông Nam Á và bước tiến mới của du lịch Việt Nam, cơ hội, thách thức khigia nhập WTO Bài báo “Du lịch Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế

quốc tế” (2008) của Hoàng Anh Tuấn, Tạp chí Quản lý Nhà nước, (Số 144),

bài viết nêu lên những bước tăng trưởng của ngành Du lịch Việt Nam trongthời gian từ năm 1994 đến năm 2007 và những nhiệm vụ trung tâm trong thời

gian tiếp sau Kỷ yếu hội thảo khoa học Tối ưu hóa các dịch vụ du lịch, Triển vọng và tương lai cho Việt Nam (2005), tổ chức bởi chương trình Hỗ trợ phát

triển vùng tại Việt Nam (DIREG) vào tháng 6 năm 2005, bao gồm các bàinghiên cứu về phát triển du lịch và dịch vụ du lịch tại Việt Nam trước năm

2005 cũng như các giải pháp nhằm tối ưu hóa phát triển du lịch, dịch vụ du lịch

trong tương lai Kỷ yếu Hội thảo khoa học Nhu cầu xã hội về đào tạo nguồn nhân lực du lịch và sự cần thiết mở mã ngành Du lịch của Trường Đại học

Khoa học Xã hội và Nhân văn tổ chức vào tháng 12 năm 2009, bao gồm cácbài viết về tầm quan trọng của du lịch, nhu cầu và đào tạo nhân lực cho du lịchViệt Nam; sự cần thiết mở mã ngành Du lịch v,v

- Nhóm các công trình nghiên cứu về chủ trương, chính sách phát triển

du lịch của Đảng, Nhà nước, các bộ, ngành, địa phương.

Bài báo “Sự phát triển du lịch dưới đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản

Việt Nam” (2005) của tác giả Trần Đức Thanh, Tạp chí Du lịch Việt Nam, (Số 2).

Bài viết nêu lên đường lối phát triển du lịch của Đảng trong thời kỳ đổi mới, nhữngthành tựu của du lịch Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Luận văn thạc sĩ Lịch

sử Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch thời kỳ đổi mới 1986 - 2001 (2007) của Nguyễn Văn Tài, Trung tâm đào tạo, Bồi dưỡng

giảng viên lý luận chính trị Đại học Quốc gia Hà Nội Luận văn đã khái quáttình hình kinh tế du lịch trong 15 năm đổi mới từ 1986 - 2001; tập trungnghiên cứu chủ trương, đường lối trong lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch;phân tích những kết quả đã đạt được và rút ra một số bài học kinh nghiệm

Trang 6

trong quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch của Đảng thời kỳ này Luận

văn thạc sĩ Lịch sử Đảng bộ thành phố Đà Nẵng lãnh đạo phát triển kinh tế

du lịch từ năm 1997 đến năm 2009 (2010) của Nguyễn Thị Vân, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Luận văn nghiên cứu toàn diện những chủ

trương, chính sách và quá trình Đảng bộ thành phố Đà Nẵng lãnh đạo pháttriển kinh tế du lịch trong thời gian từ năm 1997 đến năm 2009 Đánh giánhững kết quả, hạn chế trong phát triển kinh tế du lịch ở Đà Nẵng và đưa ranhững bài học kinh nghiệm trong quá trình Đảng bộ thành phố Đà Nẵng lãnh

đạo phát triển kinh tế du lịch Luận văn thạc sĩ Lịch sử Quá trình lãnh đạo kinh tế du lịch của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình từ năm 1996 đến năm 2010 (2011)

của Nguyễn Thị Thái Hà, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn.Luận văn nghiên cứu công tác lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch; nhận xét vàrút ra một số kinh nghiệm phát triển kinh tế du lịch của Đảng bộ tỉnh Ninh

Bình từ năm 1996 đến năm 2010 Luận văn thạc sĩ Lịch sử Đảng bộ tỉnh Quảng Bình lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch từ năm 2001 đến năm 2009

(2011) của Lê Diệu Linh, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn.Luận văn trình bày đường lối, chủ trương phát triển du lịch của Đảng bộ tỉnhQuảng Bình trong hai giai đoạn (2001 - 2005; 2006 - 2009) gắn liền vớinhững hoàn cảnh, điều kiện lịch sử cụ thể ở mỗi giai đoạn; nghiên cứu quátrình thực hiện đường lối phát triển du lịch, đánh giá, phân tích để làm rõ ưuđiểm, hạn chế của Đảng bộ tỉnh Quảng Bình trong quá trình lãnh đạo phát triển

du lịch; tìm hiểu nguyên nhân của những ưu điểm, hạn chế để từ đó tổng kết một

số kinh nghiệm từ sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Quảng Bình trong phát triển kinh

tế du lịch từ năm 2001 đến năm 2009 Luận văn thạc sĩ Lịch sử Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch từ năm 2001 đến năm 2010 (2014)

của Phạm Thị Phương, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Luận vănlàm rõ những tiềm năng để phát triển kinh tế du lịch ở tỉnh Thanh Hóa Xuất phát

từ những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà Nước, luận văn tập trung đi sâuvào phân tích phương hướng, biện pháp của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa về phát triển

du lịch từ năm 2001 đến năm 2010; tái hiện và luận giải quá trình Đảng bộ tỉnh

Trang 7

Thanh Hóa lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch từ năm 2001 đến năm 2010; nhậnđịnh về những thành tựu và những hạn chế trong quá trình lãnh đạo phát triển kinh

tế du lịch của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa; đúc kết những kinh nghiệm trong quátrình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa về phát triển kinh tế du lịch từ năm

2001 đến năm 2010…v,v

- Nhóm các công trình nghiên cứu về những đề xuất, giải pháp, kinh nghiệm về phát triển du lịch ở Việt Nam.

Bài báo “Phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi

nhọn” (2006), của Phạm Ngọc Thắng, Tạp chí Thương Mại, (Số 13), trình bày

thực trạng du lịch Việt Nam trước năm 2006, một số kiến nghị, giải pháp pháttriển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong thời gian tiếp sau Bàibáo “Một số kiến nghị để đào tạo nguồn nhân lực bậc đại học đáp ứng nhu

cầu sử dụng lao động của ngành Du lịch” (2007) của Nguyễn Văn Mạnh, Tạp chí Kinh tế và Phát triển, (Số 105) Bài báo trình bày thực trạng đào tạo quản

trị du lịch và khách sạn bậc đại học, cao đẳng ở Việt Nam, từ đó đưa ra một

số kiến nghị đào tạo nhân lực du lịch bậc đại học, cao đẳng trong thời giantới Bài báo “Thực trạng và giải pháp phát triển kết cấu hạ tầng giao thông để

tăng cường thu hút khách du lịch quốc tế” (2007) của Lê Đỗ Mười, Tạp chí Giao thông Vận tải, (Số 7/2007), trình bày thực trạng kết cấu hạ tầng giao thông

đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường hàng không phục vụ du lịch, qua đónêu lên định hướng và một số giải pháp phát triển kết cấu hạ tầng giao thông

trong thời gian tới Luận án tiến sĩ Kinh tế Những điều kiện và giải pháp chủ yếu để phát triển du lịch Việt Nam thành ngành kinh tế mũi nhọn chủ yếu

(1996) của tác giả Vũ Đình Thụy, Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội Luận ánnêu lên cơ sở lý luận và thực tiễn để khẳng định du lịch trở thành ngành kinh

tế mũi nhọn trong nền kinh tế; tiềm năng, thực trạng của ngành Du lịch ViệtNam cũng như định hướng và giải pháp để du lịch thực sự trở thành ngành

kinh tế mũi nhọn Luận án tiến sĩ Kinh tế Hoàn thiện quản lý Nhà nước về lao động trong kinh doanh du lịch ở Việt Nam (2002) của Hoàng Văn Hoan, Đại

học Kinh tế Quốc dân Hà Nội Luận án trình bày cơ sở lý luận về nội dung

Trang 8

quản lý của Nhà nước đối với hoạt động kinh doanh du lịch; thực trạng quản

lý của Nhà nước đối với kinh doanh du lịch trước năm 2002 và một số giảipháp nhằm tăng cường công tác quản lý của Nhà nước đối với kinh doanh du

lịch Luận án tiến sỹ Kinh tế Định hướng và những chính sách cơ bản để phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2010 (2001) của Đỗ Văn Quát, Đại học Kinh tế

Thành Phố Hồ Chí Minh Luận án nên lên thực trạng du lịch Việt Nam; địnhhướng và giải pháp phát triển du lịch ở Việt Nam trong thời gian tiếp sau Kỷ

yếu Hội thảo khoa học Nghiên cứu và đào tạo du lịch ở Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế (2007) của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân

văn tổ chức tháng 5 năm 2007, bao gồm các báo cáo và tham luận nghiên cứu

về du lịch và đào tạo du lịch ở Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế Hội

thảo quốc gia Phát triển du lịch Việt Nam trong bối cảnh tích cực, chủ động hội nhập quốc tế do Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch kết hợp với Báo Nhân

Dân phối hợp tổ chức vào ngày 29/6/2010 tại trụ sở Báo Nhân Dân Các bàitham luận của Hội thảo tập trung vào những vấn đề có ý nghĩa sâu sắc như:khai thác giá trị văn hóa, lịch sử trong phát triển du lịch, phát triển nguồn nhânlực du lịch, phát triển du lịch giúp xóa đói giảm nghèo, phát triển du lịch tronghội nhập quốc tế, kinh nghiệm xúc tiến du lịch của nước ngoài…v,v

Các công trình nghiên cứu trên đây đã đề cập tới vai trò, vị thế của ngành

Du lịch trong phát triển kinh tế của đất nước, phân tích tiềm năng, thế mạnh vàthực trạng của du lịch Việt Nam, từ đó đưa ra một số kinh nghiệm nhằm pháttriển du lịch trong thời gian tới Chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có

hệ thống về chủ trương, đường lối trong lãnh đạo phát triển du lịch giai đoạn

2006 - 2011 Tuy nhiên, các công trình trên đây là những tư liệu quý cho việctham khảo, đánh giá, phục vụ tác giả trong quá trình nghiên cứu

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

* Mục đích nghiên cứu

Làm rõ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển du lịch

từ năm 2006 đến năm 2011; nhận xét và rút ra một số kinh nghiệm chủ yếu cóthể tham khảo, vận dụng trong những năm tiếp theo

Trang 9

* Nhiệm vụ nghiên cứu

- Làm rõ yêu cầu khách quan phát triển du lịch (2006 - 2011)

- Phân tích chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng về phát triển du lịch (2006 - 2011)

- Nhận xét và rút ra một số kinh nghiệm chủ yếu từ sự lãnh đạo pháttriển du lịch của Đảng (2006 - 2011)

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động lãnh đạo phát triển du lịch của

* Phương pháp nghiên cứu

Sử dụng chủ yếu phương pháp lịch sử, phương pháp lôgic và sự kếthợp của hai phương pháp này Ngoài ra, sử dụng phương pháp: phân tích,tổng hợp, thống kê, so sánh, đồng đại, lịch đại, chuyên gia

6 Ý nghĩa của đề tài

- Kết quả nghiên cứu góp phần làm sáng tỏ sự lãnh đạo phát triển dulịch của Đảng Cộng sản Việt Nam

- Góp phần tổng kết những kinh nghiệm chủ yếu, có thể tham khảo, vậndụng trong phát triển du lịch thời gian tiếp sau

- Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các đối tượng quan tâm

7 Kết cấu của đề tài

Luận văn gồm: Mở đầu, 2 chương (5 tiết), kết luận, danh mục tài liệutham khảo và phụ lục

Trang 10

Chương 1 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO PHÁT TRIỂN DU LỊCH

CỦA ĐẢNG TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2011 1.1 Yêu cầu khách quan phát triển du lịch (2006 - 2011)

1.1.1 Khái niệm, vị trí, vai trò của ngành Du lịch

* Khái niệm

Khái niệm về du lịch được hiểu rất khác nhau Giáo sư Berneker, mộtchuyên gia du lịch hàng đầu thế giới đã nhận xét: Đối với du lịch, có baonhiêu tác giả nghiên cứu thì có bấy nhiêu định nghĩa Định nghĩa đầu tiên về

du lịch tại nước Anh vào năm 1811 cho rằng: “Du lịch là sự phối hợp nhịpnhàng giữa lý thuyết và thực hành của các cuộc hành trình với mục đích giải trí”[73, tr.13] Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (World Tourist Organization): Du lịchbao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du hành, tạm trú, trong mục đíchtham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giảitrí, thư giãn; cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa, trongthời gian liên tục nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống địnhcư; nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền Du lịch cũng làmột dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hẳn nơi định cư

Từ điển Bách khoa Toàn thư Việt Nam năm 1966 cho rằng: Du lịch làmột dạng nghĩ dưỡng có sự tham quan tích cực của con người ngoài nơi cưtrú với mục đích nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử,công trình văn hóa nghệ thuật Luật Du lịch Việt Nam năm 2005, tại Điều 4,Chương I: Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con ngườingoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan,tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định

Như vậy, có rất nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm du lịch dướicác góc độ về điều kiện kinh tế xã hội, thời gian, không gian, có những tác giảtập trung giải thích du lịch như một hiện tượng di chuyển, lưu trú ngoài nơi cưtrú thường xuyên, tác giả khác lại tập trung vào bản thân du khách và khíacạnh kinh tế của du lịch Song, bất cứ khái niệm nào về du lịch đều bao hàm 2

Trang 11

khía cạnh cơ bản là chuyến đi ngoài nơi cư trú và các hoạt động liên quan đếnchuyến đi đó Cả hai khía cạnh này được khái niệm nêu trong Luật Du lịchtrình bày rõ ràng nhất.

Tìm hiểu các khái niệm du lịch, tác giả nhận thấy, du lịch do ba yếu tố

cơ bản cấu thành là chủ thể du lịch (khách du lịch), khách thể du lịch (tài nguyên

du lịch) và hoạt động du lịch (các doanh nghiệp, chính quyền các cấp, các tổchức, cá nhân và cộng đồng dân cư địa phương thực hiện) Trong đó, khách dulịch là chủ thể của du lịch, là đối tượng phục vụ của các ngành tham gia hoạtđộng du lịch Tài nguyên du lịch là khách thể của du lịch, nơi tạo ra sức thuhút con người đến tham quan, du lịch Các hoạt động du lịch gồm các cơ chế,chính sách, luật pháp liên quan đến sự phát triển du lịch của chính quyền cáccấp và các doanh nghiệp cung ứng các sản phẩm du lịch

Từ những phân tích trên, tác giả rút ra: ngành Du lịch là ngành kinh tếtổng hợp mang tính liên ngành, liên vùng, là ngành cung cấp các loại sản phẩm

và dịch vụ cho khách du lịch tiến hành các hoạt động du ngoạn, tham quan nhằmmục đích thu phí, bao gồm các điều kiện, các hiện tượng, các mối quan hệ tácđộng qua lại giữa khách du lịch với các nhà cung cấp các sản phẩm du lịch, vớichính quyền, cộng đồng dân cư ở địa phương trong quá trình thu hút, tiếp đónkhách du lịch

Điều này cho thấy, việc phát triển du lịch có tác động to lớn tới nềnkinh tế, văn hóa - xã hội của mỗi quốc gia

Trang 12

Đối với kinh tế

Phát triển du lịch là nguồn thu quan trọng của ngân sách quốc gia.Phát triển du lịch có tác động lớn đến hoạt động xuất khẩu, làm cho hoạtđộng xuất khẩu đạt hiệu quả cao, điều này thể hiện ở chỗ: tiêu dùng sảnphẩm du lịch xảy ra cùng lúc, cùng nơi sản xuất ra chúng, do đó, kinh doanh dulịch có điều kiện xuất khẩu tại chỗ những hàng hóa theo giá bán lẻ mà khônggặp phải hàng rào thuế quan quốc tế Mặt khác, du lịch là ngành “xuất khẩu vôhình” các cảnh quan, tài nguyên thiên nhiên, các giá trị tài nguyên nhân văn,các giá trị đó không bị mất đi qua mỗi lần mua bán, mà ngược lại giá trị của nótăng lên qua mỗi lần đưa ra thị trường, với hình thức xuất khẩu đó, việc pháttriển du lịch thực sự là ngành kinh doanh hiệu quả, thu hồi vốn nhanh, lãi suấtcao, đóng góp lớn vào ngân sách Nhà nước

Phát triển du lịch sẽ kéo theo sự phát triển của các ngành nghề khác,

vì sản phẩm du lịch mang tính liên ngành, có liên quan đến nhiều ngànhkinh tế khác Khi một khu vực, thành phố nào đó trở thành khu du lịch,thành phố du lịch làm cho nhu cầu hàng hóa tăng lên đáng kể Xuất phát từnhu cầu của du khách, ngành Du lịch không ngừng mở rộng tính liên ngành,liên vùng của mình, thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển cũng nhưchuyển dịch cơ cấu nền kinh tế Hơn nữa, nhu cầu du khách ngày càng cao,

do đó, sản phẩm du lịch phải ngày một đa dạng, phong phú, không ngừngđược cải tiến, phát triển, muốn làm được điều này, doanh nghiệp buộc phảiđầu tư, đào tạo, tuyển chọn nguồn nhân lực có trình độ và không ngừng hoànthiện hệ thống giao thông, mạng lưới điện, nước, thông tin liên lạc

Phát triển du lịch góp phần vào củng cố và phát triển các mối quan hệkinh tế quốc tế Hiện nay, du lịch phát triển theo hướng quốc tế hóa vì khách

du lịch thường đến nhiều nước, nhiều vùng khác nhau, hơn nữa, các tổ chứcchính phủ và phi chính phủ về du lịch đã và đang có những tác động tích cựctrong việc hình thành các mối quan hệ quốc tế Trong điều kiện nước ta cònnghèo, thiếu vốn đầu tư, thì việc hình thành các mối quan hệ kinh tế quốc tế,

từ đó thu hút vốn đầu tư càng có ý nghĩa quan trọng

Trang 13

Trên bình diện chung, hoạt động du lịch có tác dụng làm biến đổi cáncân thu chi của nền kinh tế Du khách quốc tế mang ngoại tệ vào các nơi họđến, làm tăng nguồn thu ngoại tệ của quốc gia đó, ngược lại, phần chi ngoại tệ

sẽ tăng lên đối với các quốc gia có nhiều du khách ra nước ngoài Trong phạm

vi một quốc gia, hoạt động du lịch góp phần điều tiết, luân chuyển tiền tệ,hàng hóa từ các vùng kinh tế phát triển sang các vùng kém phát triển hơn,

kích thích sự tăng trưởng kinh tế của các vùng này

Đối với văn hóa, xã hội

Phát triển du lịch có tác động tích cực đến việc giải quyết các vấn đề xãhội, nhất là việc làm cho người lao động Đó là việc làm trực tiếp trong cácnhà hàng, khách sạn, văn phòng du lịch…v,v Năm 2005, tổng số lao độngtrong ngành Du lịch chiếm 19,7% tổng số lao động toàn cầu, cứ 2,5s du lịchtạo ra được một việc làm mới, cứ 8 lao động thì có một lao động làm trongngành Du lịch Một buồng khách sạn từ 1-3 sao trên thế giới hiện nay thu hút1,3 lao động Theo dự báo của Tổ chức Du lịch thế giới năm 2010 thì du lịch

sẽ tạo thêm 150 triệu việc làm, chủ yếu tập trung ở khu vực châu Á - TháiBình Dương [73, tr.52]

Phát triển du lịch góp phần giải quyết các vấn đề văn hóa xã hội ởcác vùng sâu, vùng xa, làm chậm quá trình đô thị hóa Thông thường, tàinguyên thiên nhiên thường có nhiều ở vùng sâu, vùng xa, miền núi, việckhai thác đưa vào sử dụng đòi hỏi phải đầu tư về giao thông, bưu điện,giáo dục, văn hóa…v,v Vì vậy, phát triển du lịch sẽ làm thay đổi bộ mặtcủa khu vực đó, đồng thời góp phần làm giảm sự tập trung dân cư ởnhững trung tâm lớn

Phát triển du lịch góp phần quảng bá, giữ gìn các giá trị văn hóa truyềnthống Xúc tiến, quảng bá du lịch là phương tiện quan trọng để tuyên truyền,quảng bá hình ảnh, văn hóa của các quốc gia, các dân tộc, thông qua đó, cácgiá trị truyền thống văn hóa lịch sử, các phong tục, tập quán truyền thống củadân tộc, các làng truyền thống đến với nhân dân cả nước, với bạn bè quốc tế,

từ đó góp phần bảo tồn, giữ gìn các giá trị đó

Trang 14

Hoạt động du lịch, trong chừng mực nào đó, chế độ nghỉ dưỡng tối ưugóp phần hạn chế bệnh tật, kéo dài tuổi thọ, tăng cường sức khỏe và khả nănglao động của con người Qua nhiều công trình nghiên cứu cho thấy nhờ dulịch mà số người mắc các bệnh tật giảm đáng kể Theo công trình nghiên cứucủa Crivôsep và Dorin nhờ du lịch nghỉ ngơi số người mắc bệnh giảm trungbình 30%, trong đó bệnh đường hô hấp giảm 40%, bệnh thần kinh giảm 30%,bệnh đường tiêu hoá giảm 20%

Đối với môi trường, quốc phòng an ninh

Phát triển du lịch giúp cho con người biết được tầm quan trọng củathiên nhiên, ý thức phải bảo vệ thiên nhiên Việc làm quen với các danhthắng và môi trường tự nhiên bao quanh sẽ tạo điều kiện cho con ngườinhận thức vai trò quan trọng của thiên nhiên, thấy được giá trị của thiênnhiên đối với đời sống con người, hình thành quan niệm và thói quen bảo

vệ tự nhiên Hơn nữa, để đáp ứng nhu cầu của du khách, phải xây dựng cáckhu bảo tồn thiên nhiên, các rừng quốc gia Muốn vậy, các quốc gia phải cóchiến lược trong bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường du lịch

tự nhiên ngày càng hấp dẫn du khách, nhằm mục đích vừa tổ chức các hoạtđộng nghỉ ngơi giải trí vừa bảo vệ các cảnh quan tự nhiên có giá trị và cácnguồn gen quý

Hoạt động du lịch góp phần đảm bảo an ninh quốc phòng và trật tự antoàn xã hội, phát triển du lịch ở các vùng biên giới, hải đảo đã góp phần tíchcực khẳng định chủ quyền quốc gia trên biển và đất liền

1.1.2 Tiềm năng thế mạnh của Việt Nam về du lịch

* Tài nguyên du lịch thiên nhiên

Việt Nam là một quốc gia nằm ở trung tâm Đông Nam Á, rất thuậntiện để giao lưu, hợp tác với các nước trên thế giới, trong việc phát triểncác ngành kinh tế, đặc biệt là du lịch Vị trí và hình thể chữ S, với 3/4 làđồi núi đã tạo nên sự phân hóa đa dạng, hình thành các vùng tự nhiên khácnhau giữa miền Bắc và miền Nam với nguồn tài nguyên du lịch thiên nhiênphong phú, cụ thể:

Trang 15

Các danh lam thắng cảnh, di sản thiên nhiên: thành phố Đà Lạt (LâmĐồng), Sa Pa (Lào Cai), Tam Đảo (Vĩnh Phúc), Hạ Long (Quảng Ninh), trong đó Đà Lạt và Sa Pa ở độ cao trên 1.500 m được mệnh danh là thành phốtrong sương mù, mang nhiều sắc thái của thiên nhiên vùng ôn đới, đã xâydựng thành điểm du lịch từ hơn 100 năm Đặc biệt là hệ thống di sản thiênnhiên thế giới bao gồm: vịnh Hạ Long, vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng,cao nguyên đá Đồng Văn là những địa điểm có sức hấp dẫn rất lớn đối vớikhách du lịch.

Các Hang động: Việt Nam có khoảng 200 hang động có khả năng khaithác phục vụ du lịch, có nhiều cảnh đẹp lộng lẫy, tráng lệ và rất kỳ ảo, có sứchấp dẫn đặc biệt [17, tr.36] Tiêu biểu nhất là động Phong Nha (Quảng Bình),Tam Cốc, Bích Động (Ninh Bình), hang Pác Bó (Cao Bằng), các hang động ởvịnh Hạ Long (Quảng Ninh) ,v,v, thuận lợi để phát triển các loại hình du lịchthể thao, khám phá, tham quan

Các bãi biển: Có thế mạnh về biển với chiều dài hơn 3.260 km vớikhoảng 125 bãi biển có khả năng khai thác phục vụ du lịch [17, tr.37] Các bãibiển ở Việt Nam có chất lượng tương đối cao về độ dốc, độ mịn, độ trong nướcbiển, phân bố trải đều từ Bắc vào Nam, thuận lợi để khai thác phục vụ du lịch.Tiêu biểu là các bãi biển: Trà Cổ, Sầm Sơn, Cửa Lò, Thuận An, Lăng Cô, NonNước, Sa Huỳnh, Văn Phong, Nha Trang, Bình Tiên, Cà Ná, Mũi Né v,v

Các đảo và quần đảo ven bờ: Vùng biển ven bờ Việt Nam có khoảng2.773 hòn đảo lớn nhỏ với nhiều bãi biển và phong cảnh đẹp, còn nguyên vẹn

vẻ hoang sơ, môi trường trong lành [17, tr.37] Đây là những điều kiện tự nhiênrất thuận lợi để phát triển các loại hình du lịch biển, đảo, tiêu biểu nhất là cácđảo Cái Bầu, Quan Lạn, Cát Bà, Cù Lao Chàm, Côn Đảo, Phú Quốc v,v

Các di tích danh thắng: Nước ta có rất nhiều địa hình thiên tạo có giátrị hình tượng nghệ thuật gắn với các sự tích và truyền thuyết, như: hòn Phụ

Tử, núi Vọng Phu, hòn Trống Mái, hòn Đá Chông, hang Từ Thức, thác BảnGiốc, hồ Ba Bể, hồ Lăk, hồ Tơ Nưng, làm tăng thêm tính hấp dẫn và trảinghiệm cho các hoạt động du lịch

Trang 16

Khí hậu Việt Nam rất đa dạng phù hợp với việc tổ chức các hoạt động

du lịch, hình thành các khu nghỉ dưỡng du lịch lý tưởng, cụ thể: Khí hậu ấm

áp quanh năm đặc biệt là khí hậu biển nhiệt đới ở vùng duyên hải Nam Trung

Bộ và Nam Bộ có sức thu hút khách du lịch các vùng ôn đới; Khí hậu 4 mùa

rõ rệt ở Miền Bắc tạo nên sắc thái đa dạng của thiên nhiên hấp dẫn du lịch đốivới du khách đến từ những vùng lãnh thổ không phân mùa rõ rệt; Khu vực khíhậu Đà Lạt, Sapa, Tam Đảo v,v, với đặc trưng ôn đới, hầu như quanh nămmát mẻ thu hút khách từ vùng nhiệt đới

Nguồn tài nguyên sinh vật ở nước ta có giá trị hấp dẫn du lịch bởi tính

đa dạng sinh học, bảo tồn được nhiều nguồn gen, loài quý hiếm đặc trưng chovùng nhiệt đới, trong đó có nhiều loài đặc hữu Việt Nam đã phát hiện đượckhoảng 11.000 loài thực vật, gần 2000 loài động vật, cùng với đó là hệ thốngcác khu rừng đặc dụng, đặc biệt là các vườn quốc gia, là tiềm năng du lịchlớn, năm 2009 trên phạm vi cả nước đã có 30 vườn quốc gia, 69 khu bảo tồnthiên nhiên và 45 khu rừng với tổng diện tích là 2,2 triệu ha bằng 10,5% diệntích đất lâm nghiệp và gần 6% diện tích lãnh thổ Việt Nam [17, tr.38]

Bên cạnh đó, các điểm nước khoáng, suối nước nóng của Việt Nam

là tài nguyên thiên nhiên rất quý giá để triển khai các loại hình du lịch thamquan, nghỉ dưỡng, chữa bệnh Ở Việt Nam, bước đầu đã điều tra khảo sátđược trên 400 nguồn nước khoáng tự nhiên như: Mỹ Lâm - Tuyên Quang,Thanh Thủy - Phú Thọ, Kim Bôi - Hoà Bình, Phú Ninh - Quảng Nam,Thạch Bích - Quảng Ngãi, Tháp Bà - Khánh Hòa, Vĩnh Hảo - BìnhThuận v,v, [17, tr.38]

* Tài nguyên du lịch nhân văn

Tài nguyên du lịch nhân văn rất phong phú, đa dạng, bao gồm: Các ditích lịch sử, nghệ thuật, kiến trúc, những phong tục tập quán, các làng nghề vàtruyền thống văn hoá đặc sắc của các dân tộc v,v, tạo điều kiện phát triểnnhiều loại hình du lịch phong phú, hấp dẫn như: nghỉ dưỡng, thể thao, nghiêncứu khoa học, hội chợ, hội nghị, festival dài ngày và ngắn ngày

Trang 17

Về các di sản, di tích lịch sử - văn hóa: Ở Việt Nam hầu hết các tỉnh,thành đếu có các di tích lịch sử - văn hóa, phản ánh quá trình dựng nước và giữnước của dân tộc, nét xuyên suốt là truyền thống, bản ngã Việt Nam Năm 2011,

có 3.125 di tích cấp quốc gia, trong đó 15 di sản văn hoá được UNESCO côngnhận [17, tr.41], tiêu biểu: Đền Hùng nhắc con dân Việt hướng về cội nguồn,hướng về đất tổ, Đền Hai Bà Trưng kể về hai người phụ nữ anh hùng “cưỡi voiđánh giặc”, Kinh đô Huế với những nét kiến trúc độc đáo, nơi ghi dấu cuối cùngcủa nền Phong kiến Việt Nam, được công nhận là di sản văn hóa thế giới v,v.Những di tích lịch sử - văn hoá là tài nguyên du lịch trọng yếu để xây dựngnhững sản phẩm du lịch độc đáo, có sức cạnh tranh cao

Về Lễ hội: Theo thống kê 2009, cả nước Việt Nam có trên 3000 lễ hộidân gian [17, tr.42], tiêu biểu như: hội Gióng (Sóc Sơn, Hà Nội), lễ hội Đ ềnHùng (Phú Thọ), lễ hội Đền Trần, Phủ Dày (Nam Định ), lễ hội Yên Tử (QuảngNinh), Lễ hội đâm trâu của bà con dân tộc Tây Nguyên v,v Hệ thống các lễ hộiđang được lồng ghép trong các sản phẩm du lịch và trở thành yếu tố đặc sắc đểquảng bá về đất nước, con người, văn hóa và du lịch Việt Nam

Các làng nghề Việt Nam: Việt Nam có gần 2.000 làng nghề [17, tr.42]như: Làng gốm Bát Tràng (Gia Lâm, Hà Nội), Làng tranh Đông Hồ (ThuậnThành, Bắc Ninh), Làng đá mỹ nghệ Non Nước (Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng),Làng lụa Vạn Phúc (Hà Đông, Hà Nội)…v,v, với 12 nhóm sản phẩm thủ côngchính, bao gồm: Mây tre đan; Sản phẩm từ cói và lục bình; Gốm sứ; Điêu khắcgỗ; Sơn mài; Thêu ren; Điêu khắc đá; Dệt thủ công; Giấy thủ công; Tranh nghệthuật; Kim khí; Những sản phẩm thủ công mỹ nghệ khác

Về Ẩm thực: Ẩm thực Việt Nam tuân theo hai nguyên lý là âm dươngphối triển và ngũ hành tương sinh, thiên về phối trộn gia vị một cách tinh tế,với nét đặc biệt mà các nước khác, nhất là nước phương Tây không có chính

là gia vị nước mắm Ẩm thực Việt Nam được chia ra ba miền rõ rệt là Bắc,Trung, Nam Mỗi miền có một nét, khẩu vị đặc trưng Ẩm thực miền Bắcthường không đậm các vị cay, béo, ngọt bằng các vùng khác Ẩm thực miền

Trang 18

Nam thường cho thêm đường và hay sử dụng sữa dừa (nước cốt và nước dãocủa dừa) rất đặc biệt với những món ăn dân dã Đồ ăn miền Trung có hương

vị riêng biệt, nhiều món ăn cay và mặn hơn đồ ăn miền Bắc và miền Nam,màu sắc được phối trộn phong phú, rực rỡ, thiên về màu đỏ và nâu sậm.Ngoài ra, văn hoá ăn bằng đũa, cùng 54 dân tộc với từng món ăn mang bảnsắc riêng đã thực sự trở thành thương hiệu, quảng bá cho du lịch Việt Nam

Các yếu tố dân tộc học: Với 54 dân tộc sống trên nhiều vùng, địa bànkhác nhau, điều kiện sinh sống, đặc điểm văn hoá, phong tục, tập quán, hoạtđộng sản xuất với những sắc thái riêng là yếu tố quan trọng để hình thành cácloại hình du lịch như: tham quan, tìm hiểu Trong 54 dân tộc, nhiều dân tộcvẫn giữ nguyên được những nét sinh hoạt văn hoá truyền thống của mình, đặcbiệt là các dân tộc Tày, Nùng, Thái, Mường ở miền Bắc; các dân tộc Chăm,Gia Rai, Ê Đê, Ba Na ở miền Trung và Tây Nguyên; các dân tộc Khơme ởđồng bằng sông Cửu Long, đều có những truyền thống văn hoá có giá trị cao

có thể khai thác phục vụ phát triển du lịch

* Các điều kiện kinh tế xã hội

Năm 2009, Dân số Việt Nam khoảng 86 triệu người, độ tuổi lao độngchiếm tỉ lệ cao, lao động cần cù, thông minh, chịu khó học hỏi, trình độ họcvấn ngày càng cao, là những điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch Mặtkhác, nhân dân ta nói chung, lực lượng lao động nói riêng là những conngười trung hậu, yêu nước, chịu thương, chịu khó, lịch thiệp, hiếu khách,luôn tự hào là người Việt Nam Người Việt luôn coi trọng “nhân - lễ -nghĩa - trí - tín”, điều này đặc biệt quan trọng với những người làm hướngdẫn viên du lịch, bộ phận làm trong khách sạn, nhà hàng, nhân viên phục

vụ du lịch Đó là tiềm năng để phát triển du lịch, bởi lao động du lịch là laođộng thỏa mãn nhu cầu của con người

Cơ sở vật chất kỹ thuật và thiết bị du lịch như: hệ thống giao thông, hệthống điện và cấp, thoát nước, hệ thống thông tin truyền thông, hệ thống đôthị, các công trình thể thao, vui chơi giải trí, hệ thống cơ sở lưu trú, nhà hàng,

… tuy chưa thật sự đầy đủ, song về cơ bản, điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật

Trang 19

và trang thiết bị du lịch có thể đáp ứng yêu cầu phát triển du lịch Hệ thốnggiao thông đang dần được hoàn thiện cả về đường sắt, đường bộ, đường hàngkhông Hệ thống nhà hàng, khách sạn Việt Nam ngày càng nhiều và đầy đủhơn đáp ứng nhu cầu nghĩ dưỡng của du khách, hệ thống khu vui chơi, giảitrí, mua sắm du lịch đang được đầu tư mạnh mẽ.

IX của Đảng xác định: Phát triển du lịch thật sự trở thành một ngành kinh tếmũi nhọn, với mục tiêu: “sớm đạt trình độ phát triển du lịch của khu vực” [27,tr.178] Đảng và Nhà nước đã có nhiều cố gắng trong hoạch định chủ trương,chính sách và điều hành phát triển du lịch Vì vậy, trong điều kiện khủnghoảng kinh tế tại châu Á, thiên tai, dịch bệnh diện rộng, chiến tranh xung độtcục bộ và khủng bố xảy ra ở nhiều nơi trên thế giới, du lịch Việt Nam vẫn cótốc độ tăng trưởng khá, hiệu quả kinh tế - xã hội ngày càng lớn và toàn diện

Bộ máy và năng lực quản lý Nhà nước về du lịch, hệ thống kinh doanh du lịchđược kiện toàn, hoạt động thích nghi dần với cơ chế mới Huy động ngày mộtnhiều nguồn lực để xây dựng cơ sở vật chất, nâng cao chất lượng và đa dạng

Trang 20

hoá sản phẩm du lịch Công tác tuyên truyền quảng bá, xúc tiến du lịch đượctăng cường Công tác đào tạo, bồi dưỡng nhân lực du lịch đã được chú trọng vàđạt được những tiến bộ đáng ghi nhận Công tác hợp tác quốc tế được mở rộng,khai thác tốt tiềm lực bên ngoài Du lịch đã thúc đẩy các ngành kinh tế khácphát triển, mở rộng giao lưu văn hoá và nâng cao dân trí, phát triển nhân tố conngười Thông qua phát triển du lịch đã thúc đẩy các ngành kinh tế xã hội khácphát triển, mở thêm thị trường tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ cho các ngành khác,thúc đẩy hoạt động thương mại, mang lại hiệu quả cao với hình thức xuất khẩutại chỗ Hoạt động du lịch phát triển đã kéo theo sự mở rộng giao lưu kinh tếvăn hoá giữa các vùng, miền và với quốc tế, góp phần giáo dục truyền thống,đào tạo kiến thức và rèn luyện, bồi dưỡng thể chất, tinh thần cho mọi tầng lớpdân cư, kết quả cụ thể:

Việc xây dựng, nâng cấp cơ sở lưu trú du lịch được đầu tư mạnh mẽ.Đến năm 2004, cả nước có khoảng 6.000 cơ sở lưu trú, với 130.000 buồngtrong đó 2.575 cơ sở được xếp hạng với tổng số 72.458 buồng, cụ thể: 18khách sạn 5 sao với 5.251 buồng; 48 khách sạn 4 sao với 5.797 buồng; 119khách sạn 3 sao với 8.724 buồng; 449 khách sạn 2 sao với 18.447 buồng; 434khách sạn 1 sao với 10.757 buồng và 923 khách sạn đạt tiêu chuẩn tối thiểuvới 23.482 buồng [61, tr.6]

Số lượng khách du lịch đến Việt Nam tăng nhanh và đều qua cácnăm Lượng khách năm 1994 đạt một triệu Từ 1990 đến 2004 lượngkhách du lịch luôn duy trì được mức tăng trưởng cao 2 con số (trung bìnhnăm trên 20%) Khách du lịch quốc tế tăng 11 lần từ 250.000 lượt (năm1990) lên xấp xỉ 3 triệu lượt (năm 2004) Khách du lịch nội địa tăng 14,5lần, từ 1 triệu lượt (năm 1990) lên 14,5 triệu lượt (năm 2004) Số lượngngười Việt Nam đi du lịch nước ngoài ngày càng tăng, hàng năm trên 1vạn người [61, tr.9]

Thu nhập du lịch tăng khá nhanh Hoạt động du lịch thu hút sự tham giacủa các thành phần kinh tế và mọi tầng lớp nhân dân mang lại thu nhập khôngchỉ cho những đối tượng trực tiếp kinh doanh du lịch mà gián tiếp đối với các

Trang 21

ngành liên quan, tạo thu nhập cho các cộng đồng dân cư địa phương Tốc độtăng trưởng nhanh về thu nhập có thể thấy rõ, năm 1990 thu nhập xã hội từ dulịch đạt 1.350 tỷ đồng, đến năm 2004, con số đó là 26.000 tỷ đồng, gấp 20 lần[61, tr.16] Năm 2005, thu nhập du lịch đạt 30 ngàn tỷ đồng [61, tr.10] Tạo việclàm cho trên 23 vạn lao động trực tiếp và trên 50 vạn lao động gián tiếp, chiếm2,5% lao động toàn quốc [17, tr.141].

Nguyên nhân ưu điểm: Du lịch có sự tăng trưởng ổn đinh như vậy do

nhiều nguyên nhân, trong đó, nguyên nhân quyết định là những chủ trương,đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước trong đổi mới phát triển dulịch, hội nhập quốc tế, kinh tế đối ngoại tạo điều kiện cho du lịch phát triển,đồng thời là sự quan tâm, chỉ đạo sâu sát của Đảng và Nhà nước trong pháttriển du lịch Bên cạnh đó, nhu cầu đi du lịch của con người tăng mạnh theothời gian, Việt Nam có tiềm năng, thế mạnh rất lớn về du lịch, mặt khác, ViệtNam có môi trường an ninh tốt, các điều kiện về cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầngphục vụ phát triển du lịch được cải thiện

* Hạn chế

Chủ trương, chính sách phát triển du lịch của Đảng chậm được hìnhthành, trong một thời gian khá dài từ năm 1960 đến đầu những năm 1986,ngành Du lịch ít được quan tâm, Đảng ta chưa có chủ trương, chính sáchđúng để phát triển du lịch Năm 1994, Đảng xác định phát triển du lịch trởthành ngành kinh tế quan trọng, đến năm 2001 là ngành kinh tế mũi nhọn,song chưa có kế hoạch triển khai thực hiện Vì vậy, tuy phát triển du lịchđạt được nhiều thành tựu, nhưng còn nhiều hạn chế, cụ thể: Việc tổ chứctriển khai thực hiện Quy hoạch tổng thể du lịch Việt Nam thời kỳ 1995 -

2010 còn thiếu tính chủ động và thiếu sáng tạo; Đầu tư cho xúc tiến quảng

bá du lịch chưa được nhận thức đúng trong các ngành, các cấp nên chưa chú

ý quan tâm xây dựng cơ chế tạo nguồn kinh phí và phối hợp lực lượng trongcác chiến dịch quảng bá về đất nước, con người và du lịch Việt Nam; Tổchức bộ máy quản lý còn có những bất cập, lực lượng trực tiếp triển khaiphát triển du lịch còn mỏng nên việc triển khai còn bị động, thiếu tính

Trang 22

chuyên nghiệp và hiệu quả chưa cao; Chưa có chính sách ưu tiên huy độngnguồn lực, nhất là nội lực, để phát triển du lịch; Công tác đào tạo, phát triểnnguồn nhân lực còn nhiều hạn chế về chất lượng, quy mô, đội ngũ nhân lực

du lịch chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu phát triển du lịch trong tình hình mới;Hợp tác quốc tế về du lịch thiếu những hoạt động, chính sách cụ thể

Nguyên nhân hạn chế: Công tác tổ chức và quản lý du lịch thiếu sự ổn

định, kinh nghiệm trong tổ chức, quản lý hạn chế Cơ sở vật chất phục vụkhách du lịch còn thiếu, các cơ sở lưu trú đạt tiêu chuẩn quốc tế còn ít nênchưa hấp dẫn khách du lịch, thiếu sự đồng bộ, chưa đáp ứng được nhu cầucủa khách du lịch Nguồn nhân lực phục vụ cho ngành Du lịch còn nhiềubất cập, mặt bằng kiến thức chưa cao, vừa làm, vừa học, thiếu kinh nghiệm,nên không thể tránh khỏi những sai sót Việt Nam là một nước nghèo, đangtrong quá trình khôi phục nền kinh tế sau chiến tranh Kinh tế Việt Namgặp nhiều khó khăn và tụt hậu rất xa so với thế giới Ngành Du lịch ViệtNam mới mở cửa, trong khi ngành Du lịch thế giới đã phát triển cao vềnhiều mặt, du khách thường đến những nơi có nền du lịch phát triển cao, bởi ở

đó, nhiều nhu cầu của họ được đáp ứng

1.2 Chủ trương của Đảng về phát triển du lịch (2006 - 2011)

Những năm 2006 - 2011, du lịch Việt Nam phát triển trong điều kiện đấtnước hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới Đất nước trải qua 20 năm đổimới, nền kinh tế vượt qua suy giảm và phát triển toàn diện, văn hoá xã hội cónhiều tiến bộ, đời sống nhân dân được nâng lên, tình hình đất nước ổn định,góp phần tạo nên một hình ảnh Việt Nam thân thiện và hiếu khách, tạo điềukiện thuận lợi cho du lịch phát triển Tuy nhiên, du lịch Việt Nam cũng phảiđối mặt với nhiều thách thức trong quá trình phát triển: cạnh tranh kinh tế,thương mại, giành giật các nguồn tài nguyên, cuộc khủng hoảng kinh tế thếgiới 2008 - 2010 Bên cạnh đó, tranh chấp về biên giới, lãnh thổ, biển đảo tiếptục diễn biến phức tạp, các vấn đề về môi trường, bệnh tật…v,v Trong giaiđoạn này, du lịch tiếp tục được Đảng ta ưu tiên phát triển để trở thành ngànhkinh tế mũi nhọn

Trang 23

1.2.1 Quan điểm

Thứ nhất, phát triển du lịch phải bảo đảm chủ quyền quốc gia, quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, giữ gìn cảnh quan, bảo vệ môi trường.

Đây là quan điểm cơ bản, được Đảng ta khẳng định xuyên suốt trongquá trình phát triển du lịch Quan điểm này yêu cầu phải kết hợp chặt chẽ giữaphát triển du lịch với giữ vững chủ quyền quốc gia, quốc phòng, an ninh, trật

tự an toàn xã hội, giữ gìn và phát huy nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắcdân tộc, bảo vệ môi trường Quan điểm này được nêu rõ trong Chỉ thị 46CT/TW ngày 14 tháng 10 năm 1994 của Ban Bí thư:

Hoạt động du lịch phải đồng thời đạt hiệu quả trên nhiều mặt; kinh tế,chính trị, văn hoá, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ môitrường sinh thái, giữ gìn và phát huy truyền thống, bản sắc văn hóa dântộc và nhân phẩm con người Việt Nam, tiếp thu có chọn lọc những tinhhoa văn hóa thế giới [1, tr.2]

Quốc Hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam nhấn mạnhnguyên tắc phát triển du lịch: “Bảo đảm chủ quyền quốc gia, quốc phòng, anninh, trật tự, an toàn xã hội” [46, tr.4] và “Phát triển du lịch bền vững, theo quyhoạch, kế hoạch, bảo đảm hài hoà giữa kinh tế, xã hội và môi trường; phát triển

có trọng tâm, trọng điểm theo hướng du lịch văn hoá - lịch sử, du lịch sinh thái;bảo tồn, tôn tạo, phát huy giá trị của tài nguyên du lịch” [46, tr.4]

Đại hội X của Đảng đặt ra yêu cầu phải kết hợp chặt chẽ giữa kinh tế

xã hội với quốc phòng an ninh, Đại hội chỉ rõ: “Kết hợp kinh tế - xã hội vớiquốc phòng, an ninh theo phương châm: phát triển kinh tế - xã hội là nền tảng

để bảo vệ Tổ quốc; ổn định chính trị, củng cố quốc phòng, an ninh vững mạnh

là điều kiện để phát triển kinh tế - xã hội” [28, tr.227] Đây là yêu cầu đặt ravới tất cả các ngành kinh tế Đối với du lịch vấn đề này càng quan trọng, nhất

là trong điều kiện các thế lực thù địch lợi dụng xu thế toàn cầu hóa, các vấn

đề văn hóa, kinh tế, dân tộc, tôn giáo…để chống phá ta, thêm vào đó hoạtđộng du lịch liên quan đến nhiều vấn đề nhạy cảm, các điểm, khu du lịch

Trang 24

thường là các địa bàn trọng yếu về quốc phòng an ninh, khách du lịch làngười nước ngoài ngày càng tăng nhanh Gắn chặt giữa phát triển du lịch vớibảo đảm chủ quyền quốc gia, an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội mộtmặt là vấn đề nguyên tắc, mặt khác là vấn đề mấu chốt để du lịch phát triểnbởi môi trường hòa bình, ổn định là yêu cầu quan trọng nhất để thu hút khách

du lịch Sự kết hợp giữa phát triển du lịch gắn với bảo đảm quốc phòng anninh được thể hiện từ công tác quy hoạch, xây dựng kế hoạch, lựa chọn các

dự án đầu tư, trong phát triển sản phẩm và tổ chức cung cấp dịch vụ, phảiluôn tính tới yếu tố chủ quyền quốc gia, an ninh biên giới, hải đảo, an toàntrong du lịch

Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010 của Đảng yêu cầu:

“Nâng cao tính văn hóa trong mọi hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội và sinhhoạt của nhân dân” [27, tr.208] Du lịch và văn hóa có mối quan hệ tác độngqua lại sâu sắc, văn hóa là động lực, nguồn tài nguyên vô cùng quan trọng của

du lịch, đến lượt mình, du lịch tác động trở lại văn hóa, sự tác động đó theohai hướng, một là giữ gìn và phát huy, tôn vinh các giá trị văn hóa, hai là làmcho các giá trị văn hóa xuống cấp, vì vậy, phải kết hợp chặt chẽ giữa pháttriển du lịch và văn hóa Việt Nam là một trong số ít các quốc gia có nền vănhóa lâu đời, mang đậm bản sắc dân tộc, văn hóa từ lâu là nhân tố cấu thành

Tổ quốc, quốc gia, đồng thời chúng ta đang hội nhập mạnh mẽ tạo điều kiệncho du lịch phát triển nhanh chóng, nhiều cái đẹp, nhiều cái hay, tích cựcđược du nhập, song những cái xấu cũng vào theo làm ô nhiễm văn hóa, do đó,phát triển du lịch phải giữ vững, phát huy các thuần phong, mỹ tục, đồng thờigiảm thiểu và hạn chế tối đa các tệ nạn xã hội, phát triển du lịch phải gópphần bảo vệ, phát triển văn hóa

Đảng ta luôn coi trọng bảo vệ cảnh quan, môi trường trong mọi hoạtđộng kinh tế - xã hội Môi trường du lịch là yếu tố tạo nên sức hấp dẫn và cácgiá trị thụ hưởng của hoạt động du lịch Cảnh quan và môi trường du lịch làyếu tố sống còn của ngành Du lịch, vì vậy mọi chương trình, hoạt động pháttriển du lịch đều phải coi trọng hoạt động bảo vệ môi trường tự nhiên và xãhội, phát triển du lịch phải gắn với quan điểm phát triển bền vững vừa nhằm

Trang 25

phát triển kinh tế, góp phần xóa đói giảm nghèo, cải thiện đời sống nhân dânvừa bảo đảm cải thiện hạ tầng, giữ gìn cảnh quan, bảo vệ môi trường làm tăng

1994 nêu rõ: “Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp có tính liên ngành, liên vùng và

xã hội hóa cao” [1, tr.2], Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010 yêucầu: “Liên kết chặt chẽ các ngành liên quan đến hoạt động du lịch để đầu tư pháttriển một số khu du lịch tổng hợp và trọng điểm” [27, tr.287] Quan điểm nàykhẳng định tính chất của ngành Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, có sự liên kếtchặt chẽ với các ngành, giữa các vùng du lịch và gắn chặt với đời sống xã hội

Du lịch là ngành kinh tế mang tính liên kết chặt chẽ, có tính liên ngành,liên vùng và xã hội hóa cao vì các ngành nghề kinh doanh trong du lịch rất đadạng, phong phú, liên quan đến hầu hết các ngành kinh tế của một địa phươnghoặc một quốc gia, hơn nữa các loại hình, sản phẩm du lịch rất đa dạng, phongphú, dịch vụ du lịch tiếp cận tất cả các mặt của đời sống xã hội, đối tượng phục

vụ của ngành Du lịch là mọi thành phần xã hội Điều này thể hiện rõ ở việc, dulịch chỉ có thể phát triển nhanh, vững chắc khi tất cả các lĩnh vực khác của xãhội phát triển đồng bộ, đặc biệt là các lĩnh vực văn hóa, thương mại, giao thôngvận tải, đối ngoại, quốc phòng - an ninh v,v Mặt khác mọi phương án pháttriển du lịch cần có sự phối hợp chặt chẽ của các cấp, các ngành trong một kếhoạch tổng hợp cho từng giai đoạn

Tính liên ngành liên vùng trong phát triển du lịch thể hiện trong mọikhâu, bước của hoạt động du lịch, song rõ nét nhất là ở việc quy hoạch pháttriển sản phẩm và quy hoạch không gian phát triển du lịch nhằm phát huy tối

đa nguồn lực cho phát triển du lịch Quy hoạch sản phẩm và không gian pháttriển du lịch hợp lý cho phép khai thác, phát huy hết tiềm năng, thế mạnh củamỗi vùng và liên vùng, tạo nên những khu, điểm du lịch có tầm cỡ, là những

Trang 26

điểm sáng du lịch Phát triển du lịch nhất định phải có sự phối hợp chặt chẽgiữa các cấp, các ngành, có như vậy mới đảm bảo cho du lịch phát triển ổnđịnh, vững chắc cả trước mắt và tương lai.

Quan điểm xã hội hóa trong phát triển du lịch cuả Đảng ta thể hiện ở sựtham gia của toàn xã hội, của các cấp, các ngành, các thành phần kinh tế trongphát triển du lịch, điều này thể hiện rõ trong chỉ thị 46 CT - TW, chỉ thị nêu:

“phát triển du lịch là nhiệm vụ và trách nhiệm của các ngành, các cấp, cácđoàn thể nhân dân và các tổ chức xã hội Khuyến khích các thành phần kinh

tế tổ chức kinh doanh du lịch dưới sự quản lý thống nhất của Nhà nước, trong

đó doanh nghiệp nhà nước phát huy vai trò chủ đạo” [1, tr.2] Quốc hội nướcCộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam nhất quán nguyên tắc phát triển du lịchlà: “Bảo đảm sự tham gia của mọi thành phần kinh tế, mọi tầng lớp dân cưtrong phát triển du lịch” [46, tr.5]

Quan điểm xã hội hóa trong phát triển du lịch cho phép chúng ta huyđộng tổng thể các nguồn lực trong nước và quốc tế cho phát triển du lịch, mộtmặt khai thác tối ưu lợi thế quốc gia, đề cao trách nhiệm của các thành phầnkinh tế, phát huy vai trò tự chủ, năng động của từng doanh nghiệp và toàn thểnhân dân, phát huy trách nhiệm của toàn xã hội trong bảo vệ cảnh quan, môitrường, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, mặt khác, chúng ta tranh thủ đượcvốn, khoa học công nghệ, kinh nghiệm, quản lý và qua đó tăng cường quảng

Trang 27

phát triển du lịch cũng như khẳng định vị trí, vai trò vô cùng quan trọng củangành Du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn.

Phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn là yêu cầu kháchquan hiện nay, xuất phát từ thế mạnh của chúng ta về du lịch, đồng thời phùhợp với xu thế phát triển kinh tế thế giới Phát triển du lịch trở thành ngànhkinh tế mũi nhọn sẽ tạo nguồn thu nhập lớn, đóng góp vào GDP, tạo ra đònbẩy thúc đẩy các ngành khác, có khả năng tích lũy cao; tạo ra số lượng việclàm lớn, góp phần giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội của quốc gia; có tácđộng tích cực tới sự phát triển kinh tế - xã hội ở các vùng khó khăn, góp phầnxóa đói giảm nghèo; có tác dụng tốt tới việc phục hồi và phát huy bản sắc vănhóa dân tộc và tạo điều kiện, cơ hội thuận lợi cho các ngành khác của nềnkinh tế hội nhập kinh tế khu vực và thế giới

Đảng và Nhà nước xác định phấn đấu đến năm 2020, du lịch thực sựtrở thành ngành kinh tế mũi nhọn, quan điểm phát triển là nhanh, hiệu quả vàbền vững Phát triển nhanh, hiệu quả song phải bền vững, tính hiệu quả phảiđược xem xét trên quan điểm dài hạn Phát triển du lịch trở thành ngành kinh

tế mũi nhọn đòi hỏi cùng với việc phát triển mạnh du lịch phải nâng cao chấtlượng hoạt động du lịch, coi nâng cao chất lượng hoạt động du lịch là yếu tốthen chốt trong phát triển du lịch, đồng thời, phát triển du lịch phải theo hướnghiện đại, có trọng tâm, trọng điểm, chú trọng phát triển theo chiều sâu, bảo đảmchất lượng và hiệu quả, trước hết là chuyển từ tăng trưởng chủ yếu dựa vào mởrộng quy mô đầu tư sang đầu tư theo chiều sâu, phát triển về chất và ứng dụngcông nghệ hiện đại Phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn phảiđược thể hiện trong quy hoạch tổng thể phát triển du lịch và quy hoạch chi tiếtcác khu, điểm du lịch, vừa bảo đảm tính hiện đại, vừa thân thiện với môi trường,trong đó yếu tố hàng đầu là phải nâng cao toàn diện và đồng bộ chất lượng hoạtđộng du lịch bao gồm: công tác tuyên truyền quảng bá du lịch, sản phẩm du lịch,

cơ sở vật chất và nguồn nhân lực phục vụ hoạt động du lịch, cơ chế, chính sáchliên quan đến du lịch, công tác quản lý Nhà nước về du lịch

Thứ tư, phát triển du lịch quốc tế đồng thời chú trọng phát triển du lịch nội địa

Trang 28

Phát triển đồng thời du lịch quốc tế và nội địa là quan điểm xuyên suốtcủa Đảng ta từ năm 1994 đến nay, khẳng định tính toàn diện trong phát triểnthị trường du lịch, Chỉ thị 46 CT-TW của Đảng khẳng định: “Mở rộng giaolưu và hợp tác để phát triển du lịch quốc tế, đồng thời chú trọng phát triển dulịch nội địa” [1, tr.2], Quốc Hội chỉ rõ nguyên tắc phát triển du lịch là: “Pháttriển đồng thời du lịch trong nước và du lịch quốc tế, tăng cường thu hút ngàycàng nhiều khách du lịch nước ngoài vào Việt Nam” [46, tr.5].

Phát triển du lịch quốc tế là điều kiện cần thiết và cơ bản để thúc đẩy dulịch phát triển Phát triển du lịch quốc tế nhằm khuyến khích, thúc đẩy tăngtrưởng sản xuất và xuất khẩu tại chỗ, góp phần mở rộng quan hệ đối ngoại, giaolưu, hội nhập quốc tế, bởi vì theo quan niệm thông thường xuất khẩu là hoạtđộng đưa hàng hóa dịch vụ tiêu thụ bên ngoài biên giới quốc gia, nhưng với dulịch thì không hẳn, du lịch là loại hình xuất khẩu độc nhất vô nhị - sản phẩm vàdịch vụ được cung cấp cho người nước ngoài được tiêu thụ ngay tại nước sở tại

Cùng với phát triển du lịch quốc tế, phát triển du lịch nội địa cũng làmột trong những định hướng quan trọng của Đảng ta, phát triển du lịch nộiđịa có ý nghĩa về nhiều mặt, Đảng ta nêu rõ: “Phát triển du lịch nội địa, đápứng nhu cầu về du lịch ngày càng tăng của nhân dân, góp phần nâng cao dântrí, lòng yêu đất nước, quê hương, tăng cường sức khỏe, cải thiện đời sốngvật chất và tinh thần của nhân dân” [1, tr.2] Phát triển du lịch nội địa khôngchỉ đạt hiệu quả kinh tế mà còn góp phần cải thiện đời sống vật chất tinhthần của nhân dân, giáo dục truyền thống yêu quê hương, đất nước, giữ gìnbản sắc văn hóa dân tộc

Đảng ta xác định phải phát triển đồng thời cả du lịch nội địa và du lịchquốc tế bởi mối quan hệ tác động sâu sắc giữa chúng, là tiền đề, động lực,điều kiện thúc đẩy nhau cùng phát triển, cùng quyết định sự phát của ngành

Du lịch Vì vậy, quy hoạch phát triển du lịch không chỉ đáp ứng nhu cầukhách quốc tế mà cả khách nội địa; quy hoạch, phát triển các điểm du lịch,khu du lịch phải bảo đảm không gian cùng cho khách quốc tế và nội địa; sảnphẩm du lịch phải phù hợp với từng đối tượng đáp ứng nhu cầu của từng loại

Trang 29

khách và việc quảng bá, xúc tiến du lịch phải được tiến hành đồng bộ cả vớithị trường quốc tế và trong nước.

1.2.2 Mục tiêu

* Mục tiêu tổng quát

Chiến lược phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2001 - 2010 của Đảng xácđịnh: “Phát triển du lịch thật sự trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn; nâng caochất lượng và hiệu quả hoạt động trên cơ sở khai thác lợi thế về điều kiện tựnhiên, sinh thái, truyền thống văn hóa, lịch sử, đáp ứng nhu cầu du lịch trong nước

và phát triển nhanh, sớm đạt trình độ phát triển du lịch của khu vực” [27, tr.178].Đây chính là mục tiêu xuyên suốt trong phát triển du lịch của Đảng ta đượckhẳng định từ năm 2001 cho đến nay, chỉ rõ du lịch phải trở thành ngành kinh tếmũi nhọn, đồng thời phát triển du lịch phải gắn với khai thác, sử dụng và bảo vệmôi trường, văn hóa, đưa du lịch Việt Nam hội nhập quốc tế, đạt trình độ pháttriển của du lịch khu vực

* Mục tiêu cụ thể

Trên cơ sở mục tổng quát, căn cứ vào tình hình thế giới, trong nước vàđiều kiện cụ thể của ngành Du lịch, Đảng và Nhà nước ta xác định mục tiêu

cụ thể về phát triển du lịch trong giai đoạn 2006 - 2011, cụ thể:

Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam 2001 - 2010 xác định phấn đấutốc độ tăng trưởng GDP bình quân của ngành Du lịch thời kỳ 2001 - 2010 đạt

11 - 11,5%/năm Năm 2010, Khách du lịch quốc tế vào Việt Nam đạt từ 5,5đến 6 triệu lượt người, khách du lịch nội địa từ 25 đến 26 triệu lượt người, thunhập du lịch đạt 4 - 4,5 tỷ USD [49, tr.1]

Chương trình hành động quốc gia về du lịch giai đoạn 2006 - 2010 xácđịnh mục tiêu phát triển du lịch giai đoạn 2006 - 2010 là: góp phần thúc đẩyphát triển du lịch Việt Nam, phấn đấu từ năm 2010 Việt Nam trở thành mộttrong các quốc gia có ngành Du lịch phát triển trong khu vực, đồng thời điềuchỉnh các mục tiêu cụ thể theo hướng tích cực phù hợp với điều kiện mới, cụthể: tỷ lệ tăng trưởng khách du lịch quốc tế tăng từ 10 - 20%/năm; tỷ lệ tăng

Trang 30

trưởng khách du lịch nội địa tăng từ 15 - 20%/năm Thu nhập du lịch năm

2010 đạt khoảng 4 - 5 tỷ USD [52, tr.1-2]

Chương trình hành động của ngành Du lịch khi Việt Nam gia nhập Tổchức Thương mại Thế giới (WTO) giai đoạn 2007 - 2012 nêu rõ mục tiêu pháttriển du lịch trong giai đoạn này là: Tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức, đưa

du lịch Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới, nhanh, mạnh và bền vững,phấn đấu đạt và vượt các chỉ tiêu đã đề ra trong Chiến lược phát triển du lịchViệt Nam giai đoạn 2001 - 2010 Đây là quyết định hoàn toàn đúng đắn, vìnăm 2007, Việt Nam là thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thếgiới (WTO), du lịch Việt Nam đứng trước cơ hội lớn và thách thức lớn

Chương trình hành động của ngành Du lịch khi Việt Nam gia nhập Tổchức Thương mại Thế giới (WTO) giai đoạn 2007 - 2012 đã điều chỉnh theohướng tăng lên các chỉ tiêu về đón khách quốc tế, về thu nhập du lịch, đồngthời còn xác định rõ ràng, đầy đủ hơn về một số chỉ tiêu khác, cụ thể: Về đónkhách: phấn đấu đến năm 2010, du lịch Việt Nam sẽ đón được 5,5 - 6,0 triệulượt khách quốc tế với nhịp độ tăng trưởng trung bình đạt 11,4% và 25 triệulượt khách du lịch nội địa; Về thu nhập du lịch: phấn đấu năm 2010, doanhthu du lịch đạt 4,0 - 4,5 tỷ USD, đưa tổng sản phẩm du lịch (GDP) năm 2010 đạt5,3% tổng GDP của cả nước với tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đạt 11,0 -11,5%/năm; Về tạo việc làm cho xã hội: đến năm 2010, du lịch tạo 1,4 triệu việclàm cho xã hội, trong đó có 350.000 việc làm trực tiếp [6, tr.1]

1.2.3 Nhiệm vụ và giải pháp

Để thực hiện các mục tiêu trên, Chỉ thị 46 - CT/TW của Ban Bí thư vềphát triển du lịch trong tình hình mới, văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lầnthứ IX, X, XI của Đảng; Chiến lược phát triển du lịch giai đoạn 2001 - 2010;Chương trình hành động quốc gia về du lịch giai đoạn 2006 - 2010; Chươngtrình hành động của ngành Du lịch khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thuơng mạiThế giới (WTO) giai đoạn 2007 - 2010 xác định các nhiệm vụ giải pháp sau:

Một là: tăng cường quản lý của Nhà nước đối với phát triển du lịch.

Trang 31

Tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước đối với phát triển du lịchtrong thời kỳ mới là nội dung rất quan trọng, luôn được Đảng ta khẳng địnhxuyên suốt Chỉ thị 46 - CT/TW của Ban Bí thư yêu cầu:

Các cơ quan Nhà nước tăng cường quản lý; ban hành, sửa đổi, bổ sungcác chính sách, luật pháp về công tác du lịch phù hợp với yêu cầu pháttriển trong giai đoạn mới, bảo đảm có hiệu quả kinh tế cao, giữ gìn vàphát huy bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái, giữ vững

an ninh chính trị, an toàn xã hội, tăng cường giao lưu quốc tế [1, tr.3] Nhà nước là người tổ chức và quản lý các hoạt động du lịch bằng

hệ thống các công cụ như: pháp luật, chính sách, chiến lược, quy hoạch,

kế hoạch…v,v Trong giai đoạn 2006 - 2011, để tăng cường vai trò quản

lý của Nhà nước đối với phát triển du lịch, Chiến lược phát triển du lịchViệt Nam 2001 - 2010 [49] và Chương trình hành động của ngành Dulịch khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) giaiđoạn 2007 - 2012 [6] xác định phải tập trung vào những vấn đề chủ yếusau: Tiến hành rà soát hệ thống văn bản pháp luật về du lịch hiện hành,loại bỏ những quy định chồng chéo Soạn thảo các văn bản quy phạmpháp luật cụ thể, phù hợp, đảm bảo môi trường kinh doanh thông thoángcho các tổ chức, cá nhân Sửa đổi các thủ tục hành chính để loại bỏ cácgiấy tờ, thủ tục, giấy phép không cần thiết Tiếp tục hoàn thiện dự thảocác văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành Luật Du lịch theohướng đẩy mạnh phân cấp, đáp ứng yêu cầu phát triển du lịch và quátrình hội nhập kinh tế quốc tế

Hai là: đẩy mạnh đầu tư du lịch và phát triển sản phẩm du lịch.

Chỉ thị 46 của Đảng nêu rõ: “có kế hoạch huy động các nguồn lựctrong và ngoài nước xây dựng cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật chongành Du lịch” [1, tr.3] Đại hội IX của Đảng nêu định hướng phát triển dulịch: “Xây dựng và nâng cấp cơ sở vật chất, hình thành các khu du lịchtrọng điểm” [27, tr.178] Đại hội X chủ trương: “Khuyến khích đầu tư pháttriển và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động du lịch” [28, tr.202]

Trang 32

Chiến lược phát triển du lịch giai đoạn 2001 - 2010 chỉ ra phương hướngphát triển: “Đầu tư để phát triển kết cấu hạ tầng tại các địa bàn trọng điểm

du lịch, các khu du lịch quốc gia, các điểm du lịch có tiềm năng phát triển

du lịch ở miền núi, vùng sâu, vùng xa trên cơ sở khai thác các tiềm năng

và thế mạnh của từng vùng, từng lĩnh vực, từng địa phương” [49, tr.2]

Để đẩy mạnh đầu tư phát triển du lịch trong giai đoạn 2006 - 2011,Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam 2001 - 2010 [49] và Chương trìnhhành động của ngành Du lịch khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mạiThế giới (WTO) giai đoạn 2007 - 2012 [6] xác định: phải chủ động phối hợpvới các ngành liên quan trong xây dựng, thực hiện các kế hoạch phát triển vànâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng, đặc biệt là mạng lưới giao thông phục vụphát triển du lịch Đồng thời trong xây dựng kế hoạch phát triển hệ thống cơ

sở vật chất kỹ thuật ngành phải ưu tiên phát triển các cơ sở lưu trú du lịchđạt tiêu chuẩn quốc tế nhằm khắc phục tình trạng thiếu các cơ sở lưu trú dulịch nói chung và cơ sở lưu trú du lịch cao cấp nói riêng, đáp ứng nhu cầungày càng cao của thị trường, ưu tiên các dự án đầu tư xây dựng các côngtrình nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí, khách sạn, hạ tầng du lịch có chất lượngcao, ưu tiên các dự án phát triển loại hình du lịch thân thiện với môi trường,góp phần xoá đói, giảm nghèo

Theo Luật Du lịch thì: “Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cầnthiết để thoả mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch” [46, tr.4].Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010 nêu rõ định hướng pháttriển du lịch là: “Phát triển và đa dạng hoá các loại hình và các điểm du lịchsinh thái, du lịch văn hoá, lịch sử, thể thao hấp dẫn du khách trong và ngoàinước” [27, tr.286] Theo đó, giai đoạn 2006 - 2010, Chiến lược phát triển

du lịch Việt Nam 2001 - 2010 [49] và Chương trình hành động của ngành

Du lịch khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) giaiđoạn 2007 - 2012 [6] xác định phát triển sản phẩm du lịch tập trung vàocác vấn đề chủ yếu: Xây dựng chiến lược phát triển sản phẩm du lịch phùhợp với xu hướng thị trường và có sức cạnh tranh trong khu vực, trong đó,

Trang 33

ưu tiên phát triển du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, du lịch văn hóa lịch sử vàthể thao, vui chơi giải trí Thúc đẩy phát triển các loại hình du lịch mới, đặcbiệt là du lịch đường bộ liên quốc gia, du lịch đường biển Nghiên cứukhảo sát xây dựng các sản phẩm du lịch độc đáo của các địa phương, cácvùng và sản phẩm liên quốc gia để thu hút khách quốc tế và đẩy mạnh thuhút khách nội địa Lập đề án phát triển các khu du lịch nghỉ dưỡng tổnghợp cao cấp ở khu vực ven biển và vùng núi có khí hậu ôn hoà nhằm hìnhthành hệ thống các sản phẩm chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu ngày càngcao của khách Xây dựng đề án phát triển các cơ sở vui chơi giải trí, hệthống các cửa hàng dịch vụ đạt chuẩn nhằm đáp ứng nhu cầu, kéo dài thờigian lưu trú và tăng chi tiêu của khách du lịch.

Ba là: đẩy mạnh hợp tác quốc tế về du lịch.

Chỉ thị 46 của Đảng yêu cầu: “phối hợp chặt chẽ liên ngành để đa dạnghoá, đa phương hoá quan hệ hợp tác quốc tế trong lĩnh vực du lịch nhằm đẩymạnh tuyên truyền quảng cáo du lịch ra nước ngoài, thông tin đối ngoại, mởrộng thị trường, thu hút khách và vốn đầu tư nước ngoài” [1, tr.4], Chiến lượcphát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010 của Đảng nêu rõ định hướng đẩy mạnhphát triển du lịch là: “đẩy mạnh hợp tác liên kết với các nước trong hoạt động

du lịch” [27, tr.287]

Mục đích hợp tác về du lịch là nhằm: “Thực hiện đa dạng hoá, đaphương hoá quan hệ du lịch với các nước để vừa tranh thủ vốn đầu tư, côngnghệ, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý , vừa tiếp tục tạo lập, nâng cao hình ảnh

và vị thế của du lịch Việt nam ở khu vực và trên thế giới” [49, tr.3] Chiến lượcphát triển du lịch Việt Nam 2001 - 2010 [49] và Chương trình hành động củangành Du lịch khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)giai đoạn 2007 - 2012 [6] xác định hợp tác quốc tế tập trung những vấn đề:Tăng cường hợp tác nhằm đẩy mạnh tuyên truyền hình ảnh đất nước và du lịchViệt Nam với các nước Thực hiện tốt các hiệp định về hợp tác du lịch songphương và đa phương giữa Việt Nam với các nước, các tổ chức quốc tế Tăng

Trang 34

cường hợp tác quốc tế về đào tạo, phát triển nguồn nhân lực du lịch, tranh thủ

sự hỗ trợ của quốc tế để thu hút chuyên gia, hỗ trợ kỹ thuật, thu hút tài trợ từcác nước có du lịch phát triển, liên kết trao đổi học sinh, sinh viên giữa các cơ

sở đào tạo du lịch của Việt Nam và các nước Tăng cường hợp tác với các nướcláng giềng, các nước tiểu vùng sông Mê Kông và các nước ASEAN

Bốn là: phát triển nguồn nhân lực du lịch.

Phát triển nguồn nhân lực du lịch là vấn đề trọng yếu để thúc đẩy du lịchtrở thành ngành kinh tế mũi nhọn Chỉ thị 46 của Đảng yêu cầu phải: “ bồidưỡng, đào tạo cán bộ và nhân viên du lịch về trình độ chính trị, nghiệp vụ dulịch và an ninh” [1, tr.3], Chiến lược phát triển du lịch 2001 - 2010 xác định mộttrong những nhiệm vụ quan trọng để phát triển du lịch là: “Xây dựng và thựchiện kế hoạch phát triển nguồn nhân lực du lịch Nâng cao chất lượng đào tạochuyên ngành Du lịch với cơ cấu nhân lực phù hợp” [49, tr.2]

Trong giai đoạn 2006 - 2011, để phát triển nguồn nhân lực du lịch,Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam 2001 - 2010 [49] và Chương trình hànhđộng của ngành Du lịch khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới(WTO) giai đoạn 2007 - 2012 [6] xác định tập trung vào những vấn đề: Xâydựng hệ thống cơ sở đào tạo nguồn nhân lực du lịch gồm: dạy nghề, đào tạotrung cấp, cao đẳng, đại học và trên đại học về du lịch Đào tạo lại, bồi dưỡngcho cán bộ quản lý và lao động trong ngành Phát triển đội ngũ giáo viên,giảng viên, đào tạo viên du lịch Đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật và tăng cườngnăng lực quản lý của cơ sở đào tạo du lịch Phát triển chương trình, giáo trình,xây dựng và áp dụng tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp du lịch Thực hiệnđào tạo theo nhu cầu xã hội, áp dụng mô hình đào tạo linh hoạt theo tín chỉ,thực hiện việc hợp tác liên kết đa dạng, đào tạo theo địa chỉ, thu hút sự thamgia của doanh nghiệp để nâng cao chất lượng đào tạo đáp ứng đúng với nhucầu doanh nghiệp, nhu cầu người học và nhu cầu của xã hội

Năm là: tăng cường công tác quảng bá, xúc tiến du lịch.

Trang 35

Theo Luật Du lịch thì: “Xúc tiến du lịch là hoạt động tuyên truyền,quảng bá, vận động nhằm tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội phát triển du lịch”[46, tr.4] Xúc tiến, quảng bá du lịch theo phương châm:

Kết hợp linh hoạt các hình thức tuyên truyền như: hội chợ, hội thảo, triểnlãm và các phương tiện thông tin tuyên truyền khác để xúc tiến du lịchphù hợp với định hướng phát triển thị trường du lịch ở trong và ngoàinước Đồng thời tranh thủ các nguồn lực từ bên ngoài và hỗ trợ quốc tế đểphục vụ công tác xúc tiến quảng bá du lịch đạt hiệu quả [49, tr.4]

Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam 2001 - 2010 [49] và Chươngtrình hành động của ngành Du lịch khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mạiThế giới (WTO) giai đoạn 2007 - 2012 [6] xác định công tác quảng bá, xúc tiến

du lịch tập trung một số vấn đề cơ sau: Nghiên cứu, đầu tư nâng cao chấtlượng của công tác xúc tiến quảng bá du lịch ở nước ngoài nhằm đảm bảohiệu quả quảng bá hình ảnh du lịch Việt Nam ra thị trường và thu hút khách

Đa dạng hoá các hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch trong nước và nướcngoài nhằm mở rộng thị trường khách cả trong và ngoài nước, góp phần vào

sự tăng trưởng của du lịch Việt Nam Đa dạng các công cụ sử dụng trongcông tác tuyên truyền, quảng bá du lịch Việt Nam, trong đó đặc biệt chú ý vaitrò của internet Xây dựng và hoàn thiện cơ chế tiếp nhận và sử dụng cácnguồn tài trợ cho công tác xúc tiến du lịch và nâng cao năng lực đội ngũ cán

bộ làm công tác xúc tiến du lịch ở trung ương và các địa phương

1.3 Đảng chỉ đạo phát triển du lịch (2006 – 2011)

1.3.1 Đảng chỉ đạo phát triển sản phẩm du lịch

Đại hội X nhấn mạnh một trong những định hướng quan trọng để phát triển

du lịch là: “ đa dạng hoá sản phẩm và các loại hình du lịch” [28, tr.202] Một trongbốn nhiệm vụ chủ chốt để phát triển du lịch trong giai đoạn 2006 - 2010 được Nhànước ta xác định là: “Đa dạng hoá, nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch” [52,tr.2]

Trong giai đoạn 2006 - 2011, triển khai thực hiện Quy hoạch tổng thểphát triển du lịch Việt Nam thời kỳ 1995 - 2010 [48], Chương trình hành độngcủa quốc gia về du lịch giai đoạn 2006 - 2010 [52], Bộ Bộ Văn hoá, Thể thao

Trang 36

và Du lịch, TCDL đã chú trọng phát triển khá đa dạng và phong phú các sảnphẩm du lịch Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, TCDL chỉ đạo tiếp tục đẩymạnh phát triển các sản phẩm du lịch chủ yếu, như: Du lịch tham quan di tích

- thắng cảnh: Vịnh Hạ Long, Động Phong Nha, Đền Ngọc Sơn, Hồ Tây, ChùaTrấn Quốc, Hồ Hoàn Kiếm…; Du lịch lễ hội: Hội Lim, Hội Chùa Hương,Festival Huế, du lịch Phố cổ Hội An, Hà Nội ; đồng thời, Bộ Văn hoá, Thểthao và Du lịch đã chủ động phối hợp với các bộ, ngành liên quan và các địaphương để gắn việc tổ chức các lễ hội với các tuor du lịch, tạo thêm sự hấpdẫn cho các sản phẩm du lịch

Chương trình hành động của ngành Du lịch khi Việt Nam gia nhậpWTO giai đoạn 2007 - 2012 xác định phát triển sản phẩm du lịch cần tậptrung vào 3 lĩnh vực: phát triển sản phẩm du lịch loại hình đường bộ, đườngsắt và đường biển; xây dựng các khu vui chơi giải trí đạt chuẩn; phát triển hệthống tuyến điểm du lịch [6]

Triển khai thực hiện Chương trình này, Bộ Văn hoá, Thể thao và Dulịch đã giao cho TCDL, Vụ Lữ hành nghiên cứu phát triển các loại hình dulịch đường bộ và các sản phẩm du lịch phục vụ các loại hình này trong 2 năm

2007 và 2008, rồi báo cáo kết quả Từ năm 2008 đến năm 2010, Vụ Lữ hànhtiếp tục xây dựng và triển khai các đề án phát triển sản phẩm du lịch đườngsắt và sản phẩm du lịch đường biển, từ đó, nhiều sản phẩm du lịch mới đãhình thành và phát triển nhanh chóng, như: du lịch sinh thái: bãi biển Lăng Cô,nhà vườn Huế, Hồ Ba Bể, Rừng Cúc Phương,…; du lịch MICE, một loại hình

du lịch theo dạng gặp gỡ, xúc tiến, hội nghị, hội thảo, du lịch chuyên đề ở HảiPhòng, Vũng Tàu, Nha Trang, Đà Nẵng,…; du lịch bụi bằng xe đạp, xe máy,ôtô, xích lô ở Hà Nội,…; du lịch mạo hiểm: lặn biển Nha Trang, leo núi TâyBắc…; du lịch thể thao: dù lượn ở Nha Trang, Tuần Châu, ; du lịch tâm linh:Chùa Một Cột, Chùa Hương (Hà Nội), Chùa Thiên Mụ (Huế), v,v

Trong giai đoạn 2006 - 2011, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch luôn chú ýcải tiến sản phẩm, nâng cao chất lượng dịch vụ và phục vụ bằng các hoạt độngthiết thực như: tổ chức các hội thi chuyên ngành; tập huấn bồi dưỡng nghiệp vụ

Trang 37

du lịch; tổ chức các hoạt động văn nghệ dân gian phục vụ tại các điểm du lịch,các hội thi toàn quốc về hướng dẫn viên du lịch, về lễ tân, ẩm thực, hàng năm tổchức bình chọn các doanh nghiệp du lịch (lữ hành, khách sạn) và trao giải cho 10doanh nghiệp lữ hành, 10 khách sạn hàng đầu của Ngành

Việc xây dựng, phát triển sản phẩm du lịch tại các vùng, khu, tuyến,điểm du lịch được triển khai thực hiện theo Quyết định số 307/TTg ngày24/5/1995 về Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt nam thời kỳ

1995 - 2010 [48]; Quyết định số 97/2002/QĐ-TTg, ngày 22/7/2002 Phê duyệtChiến lược phát triển du lịch Việt Nam 2001 - 2010 [49] và Chương trình hànhđộng của ngành Du lịch khi Việt Nam gia nhập WTO 2007 - 2012 [6] Trên cơ

sở đó, TCDL tập trung xây dựng phát triển sản phẩm du lịch theo 3 vùng vớicác trung tâm du lịch, các khu, điểm, tuyến du lịch, trong đó, ưu tiên sản phẩm

du lịch đường bộ, đường biển, đường sắt, cụ thể là:

Vùng du lịch Bắc Bộ: Gồm các tỉnh từ Hà Giang đến Hà Tĩnh Hà Nội

là trung tâm của vùng và của địa bàn, động lực tăng trưởng du lịch là Hà Nội Hải Phòng - Hạ Long Sản phẩm du lịch đặc trưng của vùng: du lịch văn hóa,sinh thái kết hợp với du lịch tham quan, nghiên cứu, nghỉ dưỡng

-Vùng du lịch Bắc Trung Bộ: Gồm các tỉnh, thành phố từ Quảng Bìnhđến Quảng Ngãi, Huế và Đà Nẵng là trung tâm của vùng, địa bàn động lựctăng trưởng du lịch là Quảng Trị - Huế - Đà Nẵng - Quảng Nam Sản phẩm dulịch đặc trưng của vùng: du lịch thể thao, giải trí, nghỉ dưỡng biển, tham quancác di tích lịch sử văn hoá, cách mạng, di sản văn hoá thế giới

Vùng du lịch Nam Trung Bộ và Nam Bộ: Gồm các tỉnh từ Kon Tumđến Cà Mau với hai vùng du lịch Nam Trung Bộ và Nam Bộ Trung tâm củavùng là thành phố Hồ Chí Minh, các địa bàn tăng trưởng du lịch là: thành phố

Hồ Chí Minh - Nha Trang - Đà Lạt, thành phố Hồ Chí Minh - Cần Thơ - HàTiên - Phú Quốc, thành phố Hồ Chí Minh - Vũng Tàu - Phan Thiết Sản phẩm

du lịch đặc trưng của vùng: du lịch tham quan, nghỉ dưỡng biển và núi để khai

Trang 38

thác thế mạnh du lịch của dải ven biển Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, du lịchsông nước, du lịch sinh thái đồng bằng châu thổ sông Cửu Long

Về hệ thống điểm du lịch, được xác định trên cơ sở từng địa phương,các điểm du lịch được chia thành 3 nhóm: điểm du lịch sinh thái, điểm du lịchvăn hoá và điểm du lịch sinh thái kết hợp điểm du lịch văn hoá Việc xác địnhđiểm du lịch quốc gia chủ yếu dựa trên đánh giá về vị trí, quy mô, đặc điểmtài nguyên và mức độ hấp dẫn du lịch Tuy nhiên, cho đến năm 2011 vẫn chưa

có điểm du lịch nào được công nhận là điểm du lịch quốc gia, hệ thống điểm

du lịch cũng chưa được công nhận chính thức theo quy định của Luật Du lịch

Về hệ thống khu du lịch, TCDL xác định có 21 khu du lịch quốc gia,trong đó có 04 khu du lịch tổng hợp được ưu tiên phát triển Trong quá trìnhphát triển, trong số 21 khu du lịch quốc gia thì mới chỉ có một số khu hoạtđộng tương xứng với tầm vóc là khu du lịch quốc gia, như: khu du lịch HạLong - Cát Bà, khu du lịch văn hoá Hội An - Mỹ sơn, việc xây dựng, pháttriển các khu du lịch khác: Phú Quốc, Thác Bản Giốc còn hạn chế

Về hệ thống đô thị du lịch, xác định đến 2010 phát triển 12 đô thị dulịch: Sa Pa, Hạ Long, Đồ Sơn, Sầm Sơn, Cửa Lò, Huế, Hội An, Nha Trang,Phan Thiết, Đà Lạt, Vũng Tàu, Hà Tiên Tuy nhiên, trong quá trình phát triển,

do chưa có chính sách phù hợp nên chưa mang lại hiệu quả thiết thực

Về hệ thống tuyến du lịch, trên cơ sở phát triển theo quy hoạch đã hìnhthành nhiều tuyến du lịch, như: tuyến du lịch đường biển: Hạ Long - ĐàNẵng, Huế - Khánh Hoà và Thành phố Hồ Chí Minh; tuyến du lịch Vân Nam

- Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh; tuyến du lịch sông MêKông;tuyến du lịch “Con đường huyền thoại theo đường Hồ Chí Minh”; tuyến dulịch “con đường di sản miền Trung” từ Nghệ An đến Đà Lạt; tuyến du lịch

“con đường xanh Tây Nguyên”; v,v

1.3.2 Đảng chỉ đạo xúc tiến du lịch

Trước năm 2006, Việt Nam chưa có chiến lược xúc tiến du lịch dài hạn,Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam thời kỳ 2001 - 2010 và Chương trình

Trang 39

hành động của quốc gia về du lịch 2006 - 2010 chỉ xem công tác xúc tiến dulịch là một nhiệm vụ, nội dung quan trọng

Với sự phát triển mạnh mẽ của du lịch trong những năm gần đây, cùngvới những cơ hội, thách thức khi Việt Nam gia nhập WTO, việc xây dựngchiến lược xúc tiến du lịch dài hạn là rất cần thiết Nhận thấy điều đó, Chươngtrình hành động của ngành Du lịch khi Việt Nam gia nhập WTO 2007 - 2012xác định, một trong những nhiệm vụ quan trọng là: “Xây dựng chiến lược xúctiến du lịch Việt Nam đến năm 2020” [6, tr.11] Thực hiện nhiệm vụ đó, cuốinăm 2007, TCDL đã giao cho Cục xúc tiến du lịch bắt đầu xây dựng kế hoạchxúc tiến du lịch Việt Nam đến năm 2020, tuy nhiên đến cuối năm 2010, ViệtNam vẫn chưa có chiến lược xúc tiến du lịch dài hạn mà mới chỉ xây dựng vàtriển khai các kế hoạch ngắn hạn 01 hoặc 02 năm Nhìn chung trong giai đoạn

từ năm 2006 đến năm 2011, Đảng và Nhà nước đã có nhiều cố gắng, quantâm hơn đến công tác xúc tiến du lịch

Chính phủ, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch đã chỉ đạo xây dựng vàban hành hệ thống luật, chính sách quản lý hành chính trong công tác xúc tiến

du lịch Năm 2007, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 149/2007/NĐ-CP Về

xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực du lịch [23], trong đó việc vi phạmquy định về hoạt động xúc tiến du lịch được nêu rõ tại Điều 15, 16 Mục 3Chương II: Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trongnhững hành vi sau đây: Lợi dụng hoạt động xúc tiến du lịch làm phương hạiđến quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác; Không thực hiện hoặcthực hiện không đúng chương trình khuyến mại du lịch đã thông tin, quảngbá; Quảng bá sản phẩm du lịch không đúng với nội dung và chất lượng thực

tế Đồng thời buộc tháo dỡ, tiêu hủy các vật phẩm tuyên truyền, quảng bá dulịch, chấm dứt các chương trình quảng bá Năm 2008, Bộ Văn hoá, Thể thao

và Du lịch đã ban hành Thông tư số 89/2008/TT - BVHTTDL, ngày30/12/2008, Quy định về xúc tiến, quảng bá du lịch, về kinh doanh lữ hành,chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp du lịch nước ngoài tại ViệtNam, thông tư cũng chỉ rõ về nội dung, hình thức, cách thức đăng ký, tham

Trang 40

gia xúc tiến du lịch [12] Đây chính là cơ sở để hoạt động xúc tiến du lịch cóbước phát triển nhanh, mới trong thời gian sau này Năm 2009, Thủ tướngChính phủ ký Quyết định số 122/2009/QĐ-TTg ngày 09/10/2009 ban hànhQuy chế xây dựng và thực hiện Chương trình xúc tiến du lịch quốc gia giaiđoạn 2009 - 2010 [57] Chương trình này được xây dựng trên cơ sở Chiếnlược phát triển du lịch Việt Nam 2001 - 2010, Quy hoạch tổng thể phát triển

du lịch Việt Nam 1995 - 2010 nhằm tăng cường quảng bá du lịch Việt Nam,giới thiệu về đất nước, con người Việt Nam ở trong và ngoài nước, nâng caonhận thức về du lịch, thu hút khách du lịch và đầu tư trong lĩnh vực dulịch Năm 2010, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tiếp tục ban hànhQuyết định 2323/QĐ-BVHTTDL ngày 05/7/2010 Về việc Phê duyệt Chươngtrình xúc tiến du lịch quốc gia năm 2010 [13], bao gồm các nội dung: Thực hiệnxúc tiến, quảng bá du lịch thông qua các phương tiện truyền thông trong nước

và ngoài nước; Thực hiện xúc tiến, quảng bá du lịch thông qua tổ chức cáchoạt động xúc tiến du lịch Việt Nam ở trong và ngoài nước; Tổ chức lễ hội

Du lịch - Văn hóa do cấp Chính phủ, bộ, ngành tổ chức ở nước ngoài; Thựchiện xúc tiến, quảng bá du lịch thông qua tổ chức các hội nghị, hội thảo, hộithi chuyên ngành và các sự kiện du lịch khác ở trong và ngoài nước nhằmquảng bá hình ảnh đất nước, con người và sản phẩm du lịch Việt Nam; Thực hiệnxúc tiến, quảng bá du lịch Việt Nam thông qua việc thiết lập, cung cấp hệ thống

cơ sở dữ liệu, thông tin du lịch Việt Nam phục vụ công tác xúc tiến du lịch

Triển khai thực hiện các nội dung trên, Bộ Văn hoá, Thể thao và Dulịch, TCDL tập trung chỉ đạo công tác xúc tiến du lịch hướng vào giới thiệuhình ảnh đất nước, con người Việt Nam, giới thiệu những giá trị đặc sắc vềvăn hoá, danh lam thắng cảnh của Việt Nam, hình thức đa dạng, phong phú:thông qua các hội chợ du lịch, các chuyến khảo sát, các sự kiện văn hoá ViệtNam tại nước ngoài, các lễ hội, các phương tiện truyền thông như: báo chí,truyền hình v,v

Công tác xúc tiến du lịch trên báo chí, truyền hình được duy trì và đẩymạnh Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch đã phối hợp chặt chẽ với Đài Truyền

Ngày đăng: 30/09/2016, 07:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w