Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước diễn ra trong bối cảnh hết sức phức tạp; thế giới đan xen, chồng chéo nhiều mâu thuẫn. Tuy nhiên, trên nền tảng đó, xuất hiện các lực lượng tiến bộ, các phong trào đấu tranh với những mục tiêu mang đậm tính thời đại, tính nhân văn sâu sắc. Vậy trong cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta đã có những tác động nào từ thế giới?
Trang 1Phân tích các yếu tố quốc tế tác động đến cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam.
Giai đoạn 1954 – 1975 Việt Nam tiến hành kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đương đầu với một đối thủ có tiềm lực kinh tế, quân sự vượt trội, trong lịch
sử 200 năm lập nước chưa từng nếm mùi thất bại Cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược của nhân dân Việt Nam với mục tiêu chính nghĩa, khát vọng độc lập tự do tự thân đã tạo ra sức mạnh vượt trội Tuy nhiên, sức mạnh ấy sẽ được nhân lên gấp bội lần, tính chính nghĩa càng tỏa sáng, nếu được gắn với thế hợp pháp, gắn với các giá trị tiến bộ của nhân loại, được thế giới động viên, cổ vũ, ủng
hộ Vì thế, đặt cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trong trào lưu dân chủ, tiến
bộ của thời đại, kết hợp chặt chẽ với các lực lượng hòa bình thế giới, tranh thủ sự đồng tình, giúp đỡ của bạn bè quốc tế, tạo nên sức mạnh tổng hợp, đánh bại ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ vừa là yêu cầu khách quan, vừa là mục tiêu chiến lược của cuộc kháng chiến.
Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước diễn ra trong bối cảnh hết sức phức tạp; thế giới đan xen, chồng chéo nhiều mâu thuẫn Tuy nhiên, trên nền tảng đó, xuất hiện các lực lượng tiến bộ, các phong trào đấu tranh với những mục tiêu mang đậm tính thời đại, tính nhân văn sâu sắc:
Thứ nhất, các phong trào chống chiến tranh, chống xâm lược, vì an ninh, hòa bình thế giới hết sức nổi trội, thành trào lưu chính Trào lưu này là
kết quả của tâm lý chán ghét chiến tranh, ý thức về tính tàn khốc, sự hủy hoại của chiến tranh không chỉ về mặt vật chất, mà còn cả về phương diện tinh thần đối với con người Trước những sự lựa chọn: Hòa bình hay chiến tranh, an ninh hay bất
ổn, bất công hay công bằng xã hội được đặt ra trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, đối đầu phe phái, ý thức hệ, các lực lượng tiên tiến của thời đại gắn kết với nhau trong
Trang 2một phong trào đấu tranh rộng lớn, hướng tới an ninh, phát triển và bình đẳng xã hội.
Thứ hai, chủ nghĩa xã hội - một sức mạnh mới, một sức mạnh ngày càng gia tăng, đang có những ảnh hưởng quyết định đến đa số các vấn đề của nhân loại Chủ nghĩa xã hội lúc này hiện diện trên hầu hết các châu lục, là ngọn cờ đầu
giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội và giải phóng con người.
Thứ ba, sự thức tỉnh dân tộc, tinh thần dân tộc, tính tự quyết dân tộc, quyền quyết định vận mệnh dân tộc trào dâng mạnh mẽ Sự suy yếu của các
nước đế quốc bởi chiến tranh và xung đột đã mở ra những hội cho các nước thuộc địa, phụ thuộc chống lại ách nô dịch dân tộc, đấu tranh vì những quyền dân tộc bất khả xâm phạm Đây là một xu thế mới, lan tỏa nhanh chóng – xu thế của tiến bộ và độc lập dân tộc, của hòa bình và công lý.
Thứ tư, xuất hiện các lực lượng chính trị độc lập, tích cực đấu tranh bảo vệ hòa bình, chống chạy đua vũ trang, chống can thiệp, góp tiếng nói chung vì ổn định, độc lập và không liên kết Thực hiện chiến lược toàn cầu, Mỹ
chọn Việt Nam là một trong những trọng điểm triển khai chiến lược, coi đây là một trong những vị trí sống còn trong tuyến ngăn chặn "làn sóng đỏ" Đứng trên tuyến đầu chống Mỹ, Việt Nam trở thành tâm điểm, nơi hội tụ của vô số mâu thuẫn khác nhau trên thế giới Cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam là hiện thân của những giá trị đích thực mà nhân loại tiến bộ theo đuổi Thách thức ý chí “không có
gì quý hơn độc lập, tự do” của nhân dân Việt Nam, đế quốc Mỹ đồng thời cũng thách thức các lực lượng tiến bộ đang đấu tranh vì những khát vọng chính đáng, những mục tiêu nhân văn của thời đại – hòa bình, độc lập tự do, bình đẳng và tiến
bộ xã hội Tính nhân văn và thời đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước chính là điều kiện tiên quyết, là cơ sở, là nền tảng; đồng thời, cũng mở ra khả năng hiện thực để Đảng, Nhà nước Việt Nam có thể tranh thủ các nhân tố quốc tế có lợi,
Trang 3tạo ra sức mạnh cần thiết, đánh bại chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ, đóng góp cho sự phát triển của thế giới và nhân loại.
Trong cuộc đụng đầu lịch sử với đế quốc Mỹ - một cường quốc có tiềm lực
và sức mạnh kinh tế, quân sự vượt trội hơn Việt Nam gấp nhiều lần, chưa hề nếm mùi bại trận trong lịch sử gần 200 năm lập nước, ngoài sức mạnh nội lực của toàn thể dân tộc, phát huy các nhân tố quốc tế, tranh thủ sự ủng hộ, sức mạnh vật chất, tinh thần của các lực lượng dân chủ, tiến bộ và hoà bình trên thế giới cho cuộc kháng chiến mà Nhà nước Việt Nam, nhân dân Việt Nam lường định là sẽ vô cùng khốc liệt, gian khổ không chỉ là một yêu cầu khách quan, mà còn là mục tiêu chiến lược được xác định ngay từ những ngày đầu cuộc kháng chiến.
Có một hiện thực là bên cạnh các nhân tố quốc tế thuận lợi, trong việc tranh thủ sức mạnh thời đại còn không ít những trở ngại, thách thức:
- Mỹ là đế quốc giàu và mạnh nhất thế giới, tâm lý sợ Mỹ, e ngại sức mạnh
Mỹ khá phổ biến, nhất là ở các nước thế giới thứ ba.
- Trong hệ thống XHCN, đặc biệt là giữa hai nước lớn, trụ cột (Liên Xô, Trung Quốc) mâu thuẫn, bất đồng ngày càng gay gắt.
- Liên minh chiến đấu với Lào và Campuchia có những khó khăn nhất định Xác định rõ tầm quan trọng, ảnh hưởng to lớn của những nhân tố quốc tế, sự cần thiết, khả năng tranh thủ các nhân tố đó để gia tăng sức mạnh kháng chiến; đồng thời, cân nhắc mọi khó khăn, bất lợi, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã hình thành nên hệ thống chủ trương, nhằm phát huy nhân tố quốc tế.
Thứ nhất, "củng cố không ngừng tình đoàn kết, hữu nghị với Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa khác”, “tranh thủ sự giúp đỡ về quân sự của các nước anh em đến mức cao nhất, trên cơ sở có lợi cho cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ”
Thứ hai, “tăng cường khối đoàn kết chiến đấu của nhân dân ba nước Đông Dương trở thành một khối thống nhất có một chiến lược chung”.
Trang 4Thứ ba, "ra sức tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của nhân dân cả thế giới và các nước Á, Phi, Mỹ-La tinh”.
Thứ tư, "kiên quyết cùng các anh em và nhân dân yêu chuộng hoà bình và tiến bộ trên thế giới tiếp tục chung sức đấu tranh để bảo vệ và củng cố hoà bình, chống lại chính sách xâm lược và chính sách chiến tranh của đế quốc Mỹ”.
Một cách tổng quát, tranh thủ những thuận lợi cơ bản, vượt qua thách thức, vấn đề đặt ra đối với Việt Nam là cần triển khai các hoạt động đa diện, đa phương, song có trọng tâm, trọng điểm, thực hiện một cách hiệu quả mục tiêu đoàn kết, tập hợp, tranh thủ mọi lực lượng có thể, phân hoá, cô lập kẻ thù, có thêm nhiều bè bạn Đây là những đòi hỏi, yêu cầu không hề đơn giản trong điều kiện bối cảnh quốc tế phức tạp, tình hình quốc tế chuyển động khôn lường, các quan hệ quốc tế vận động, biến đổi nhanh chóng, thường xuyên Chuyển hóa sức mạnh quốc tế thành sức mạnh hiện thực của cuộc kháng chiến trở thành một nội dung quan trọng trong đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Ngay sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ bắt đầu, Đảng, Nhà nước Việt Nam đã xác định Liên Xô, Trung Quốc và các nước XHCN là chỗ dựa, là hậu phương quốc tế, sự hậu thuẫn vững chắc, nhân tố quốc tế số một, quan trọng nhất đối với sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước Trong tình hình mới, Đảng và Nhà nước Việt Nam thường xuyên trao đổi, bàn bạc ý kiến với các nước XHCN, trong đó chú
ý tranh thủ hai nước lớn Trung Quốc, Liên Xô về các vấn đề quan trọng: Củng cố hoà bình, xây dựng quân đội, cải cách ruộng đất, đấu tranh ngoại giao, tiếp quản các thành phố, khôi phục kinh tế quốc dân…., đặc biệt là về việc xác định và thực hiện đường lối cách mạng ở hai miền Nam, nhằm đạt sự đồng thuận của hệ thống XHCN, từ đó, có được sự ủng hộ cao nhất Sự ủng hộ của các nước XHCN về cả tinh thần lẫn vật chất là một đảm bảo chắc chắn nâng cao thế và lực cho cuộc kháng chiến đặc biệt là sự giúp đỡ của Liên Xô, tiến hành kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nhân dân Việt Nam luôn nhận được sự giúp đỡ nhiều mặt, hiệu quả của
Trang 5Liên Xô Ngoài ủng hộ chính trị, viện trợ kinh tế, phương tiện quân sự, Liên Xô còn cử sang Việt Nam một đội ngũ chuyên gia quân sự hùng hậu, có trình độ chuyên môn, tinh thần trách nhiệm cao Trong điều kiện giữa các nước XHCN nảy sinh bất đồng, Liên Xô, Trung Quốc mâu thuẫn sâu sắc, bằng những nỗ lực cao độ, những bước đi sách lược linh hoạt, Đảng, Nhà nước Việt Nam đã thành công trong việc tranh thủ Liên Xô, Trung Quốc, các nước XHCN từng bước đồng tình, đi đến ủng hộ đường lối, mục tiêu, lập trường, quyết tâm chiến đấu của nhân dân Việt Nam Các nước XHCN đã tích cực ủng hộ cuộc kháng chiến chống Mỹ một cách toàn diện Mỗi bước phiêu lưu, mỗi tính toán leo thang, nhà cầm quyền Mỹ đều phải cân nhắc phản ứng của Liên Xô, Trung Quốc, của các nước XHCN Việt Nam
đã tận dụng vai trò quan trọng của Liên Xô, Trung Quốc và các nước XHCN trên trường quốc tế, đặc biệt đối với các tổ chức dân chủ, hoà bình, với phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam tranh thủ được các viện trợ không hoàn lại, cho vay không tính lãi với nhiều chương trình kinh tế, thương mại, lương thực, ngoại tệ
và đặc biệt là viện trợ quân sự của cả Liên Xô, Trung Quốc Riêng về viện trợ vật chất, trong toàn bộ cuộc kháng chiến chống Mỹ, tổng khối lượng viện trợ quốc tế cho Việt Nam ước tính 2.362.682 tấn, trị giá 7 tỷ rúp Sự viện trợ của các nước XHCN (đứng đầu là Liên Xô, Trung Quốc) to lớn về khối lượng, toàn diện về chủng loại, kịp thời theo yêu cầu đã tạo ra cho cuộc kháng chiến một sức mạnh cần
và đủ để hạn chế một phần sức mạnh của đế quốc Mỹ, bảo đảm cho nhân dân Việt Nam đánh thắng cuộc chiến tranh xâm lược quy mô lớn Các con số viện trợ cho thấy, lực lượng đồng minh chiến lược của Việt Nam trong lúc khó khăn, hay thuận lợi, chủ yếu đứng về phía Việt Nam, kiên định sự ủng hộ, giúp đỡ Bàn về nguyên nhân thắng lợi của kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, bất kỳ đứng trên quan điểm nào, đều có sự nhất trí cao độ rằng, Việt Nam chiến thắng đế quốc Mỹ xâm lược là
do hai nhân tố cơ bản: Nội lực của Việt Nam và sự giúp đỡ của các nước XHCN, trước hết là hai nước lớn Liên Xô, Trung Quốc.
Trang 6Trong lịch sử, đoàn kết, liên minh chiến đấu giữa nhân dân ba nước Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia chống ngoại xâm là một tất yếu khách quan đã sớm hình thành để chống thực dân Pháp Sức mạnh liên minh này được phát triển lên tầm cao mới trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược Suốt 21 năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Liên minh đoàn kết chiến đấu ba nước Đông Dương xây dựng trên nguyên tắc “hợp tác trên cơ sở bình đẳng tuyệt đối giữa các nước có chủ quyền” và nguyện vọng chính đáng của mỗi dân tộc, không ngừng được củng
cố, vun đắp vì lợi ích chung Đông Dương là một chiến trường - sự phối hợp nhịp nhàng giữa ba chiến trường Lào, Campuchia, miền Nam Việt Nam đã buộc quân đội Mỹ và Sài Gòn phải phân tán lực lượng đối phó, tạo điều kiện cho mỗi nước, cho chiến trường chính miền Nam Việt Nam đẩy mạnh các hoạt động quân sự, mở các cuộc tiến công chiến lược tiêu hao, tiêu diệt địch, giữ vững, mở rộng những địa bàn đứng chân của Việt Nam và căn cứ của các nước bạn Một biểu tượng sinh động của tình đoàn kết chiến đấu Việt – Lào- Campuchia là tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn – tuyến giao thông huyết mạch đã đứng vững, bất chấp mọi sự đánh phá, ngăn chặn quyết liệt, làm tròn nhiệm vụ gắn bó, nối liền chiến trường ba nước, nối liền hậu phương miền Bắc với các hướng chiến lược quan trọng Sau khi tạo lực và tạo thế mới, quân và dân Việt Nam mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy ở miền Nam Xuân 1975, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh đại thắng (30-4-1975), giải phóng hoàn toàn miền Nam, tạo thời cơ thuận lợi cho cách mạng hai nước Lào
và Cam-pu-chia giành thắng lợi Phối hợp với Việt Nam mở cuộc Tổng tiến công
và nổi dậy Xuân 1975 ở miền Nam, quân và dân Cam-pu-chia mở cuộc tổng công kích, giải phóng Thủ đô Phnôm Pênh (17-4-1975) và nước Cam-pu-chia dân chủ ra đời Nắm vững thời cơ chiến lược của Việt Nam và Cam-pu-chia tạo nên, quân và dân Lào thực hiện ba đòn chiến lược và mũi tiến công pháp lý, giải phóng hoàn toàn đất nước, đưa đến sự ra đời nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào (2-12- 1975) Sự nghiệp đoàn kết, liên minh chiến đấu của quân và dân ba nước Việt
Trang 7Nam-Lào-Cam-pu-chia đã giành thắng lợi vẻ vang, kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ trong năm 1975 Những năm tháng chống Mỹ gian lao, dù còn những thăng trầm nhất định, song Liên minh tự nguyện đoàn kết chiến đấu ba nước Đông Dương cùng chia lửa và san sẻ gánh nặng đã thực sự phát huy tác dụng to lớn, đóng góp cho thắng lợi cuối cùng.
Phong trào giải phóng dân tộc và thế giới thứ ba là bạn bè, đồng minh tự nhiên của Việt Nam, nguồn ủng hộ chính trị, cổ vũ tinh thần cho nhân dân Việt Nam Những ví dụ tiêu biểu như cuộc đột kích của du kích quân Vênêduyêla bắt sĩ quan Mỹ giữa Thủ đô Caracat để đổi lấy mạng sống cho anh hùng Nguyễn Văn Trỗi, sự kiện Toà án quốc tế Béctrăng Rútxen xét xử tội ác chiến tranh của đế quốc
Mỹ, Hội nghị 50 nước của Phong trào không liên kết (Gioóc-giơ-tao, 1972) cho thấy sự ủng hộ mạnh mẽ của các lực lượng tiến bộ đối với cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam Phong trào đã tác động nhất định tới chính sách chiến tranh của Mỹ, tác động rõ rệt đến thái độ, cũng như ứng xử của Liên Xô, Trung Quốc trong vấn đề giúp đỡ Việt Nam chống Mỹ Phong trào như một lực đẩy tương hỗ đối với cuộc chiến đấu của nhân dân Việt Nam, tạo ra sự cô lập nhất định, dội gáo nước lạnh vào nước Mỹ hiếu chiến, mở rộng đáng kể hậu phương quốc tế của Việt Nam Nhà báo Mỹ, biên tập viên sáng lập của tạp chí The New RepublicWalter Lippmann viết: "Không có một nước độc lập nào ở châu Âu, hay châu Á theo gót chúng ta về Việt Nam cả".
Trong lịch sử loài người, có lẽ chưa từng có một phong trào quốc tế nào có phạm vi rộng lớn như Mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam, bao trùm khắp
cả năm châu lục, lan tỏa từ các nước XHCN tới các nước TBCN, tới các nước dân tộc độc lập, liên kết rộng rãi các xu hướng chính trị - xã hội trên thế giới vì Việt Nam mà đấu tranh Cuộc chiến tranh càng lan rộng, càng ác liệt, thì sự ủng hộ của phong trào đối với sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam lại càng mạnh mẽ, nhiệt thành Phong trào lên án giới cầm quyền Mỹ, thúc đẩy nhân dân
Trang 8Mỹ chống chiến tranh; ảnh hưởng trực tiếp đến thái độ của nhà cầm quyền các nước Lương tri loài người thức tỉnh Cả loài người tiến bộ đứng về phía Việt Nam.
Đó là nguồn cổ vũ lớn lao, nguồn động viên mạnh mẽ đối với nhân dân Việt Nam, sức mạnh cộng hưởng nâng cao tầm vóc cuộc chiến đấu của Việt Nam trên thế giới.
Bên cạnh sức mạnh của Mặt trận to lớn đó, có sức mạnh của Phong trào nhân dân Mỹ chống chiến tranh rộng lớn, kiên cường và quyết liệt Những năm 1967- 1968, phong trào phản chiến của nhân dân Mỹ lan rộng chưa từng có Thanh niên, sinh viên đốt thẻ quân dịch, cựu binh vứt bỏ huân chương phản đối chính phủ Nhiều cuộc biểu tình, diễu hành, hội thảo được tổ chức trong 120 thành phố; 2.000 trường học, hàng trăm tờ báo và hơn 200 tổ chức quần chúng, tổ chức phi chính phủ phản chiến làm rung động Nhà Trắng Một nước Mỹ chia rẽ, một chính quyền chia rẽ, một xã hội chia rẽ Walterrt Lipmann nhận xét: "Lương tâm người Mỹ nổi giận" Điều đó phản ánh một hiện thực: Đây là cuộc chiến tranh mất lòng dân nhất trong lịch sử Hoa Kỳ Phong trào dẫn đến sự phân hoá đối với giới cầm quyền Mỹ, tạo thành một sức ép thường trực, đòi lập lại hoà bình, rút quân
Mỹ và chống kéo dài, mở rộng chiến tranh Phong trào đặt chính quyền Mỹ trước nguy cơ của sự khủng hoảng toàn diện, "cơ cấu của chính phủ đã bị tan rã Ngành hành pháp bị choáng váng" Trên thực tế, tiếng thét phẫn nộ của phong trào nhân dân Mỹ chống chiến tranh đã kết hợp với diễn biến ở chiến trường buộc Tổng thống Mỹ Johnson phải chuyển từ leo thang sang xuống thang, buộc Tổng thống Nixon phải rút dần quân Mỹ, không thể kéo dài cuộc chiến tranh phá hoại lần hai (1969-1972) Nếu phong trào dân tộc, phong trào nhân dân thế giới có tác động gián tiếp đến nước Mỹ, thì phong trào nhân dân Mỹ chống chiến tranh có tác động trực tiếp - đế quốc Mỹ bị cô lập ngay tại nước Mỹ, rơi vào khủng hoảng triền miên, phải "chiến đấu với một tay bị trói sau lưng" Chủ tịch Hồ Chí Minh gọi đây là
"mặt trận thứ hai" chống đế quốc Mỹ, một cuộc chiến tranh trong lòng nước Mỹ,
Trang 9góp thêm một sức mạnh mới cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam.
Sức mạnh dân tộc mang ý nghĩa chủ quan Sức mạnh quốc tế tồn tại khách quan Sức mạnh quốc tế đã góp phần tạo ra một tập hợp lực lượng chưa từng thấy, bao vây, cô lập và tiến công đế quốc Mỹ từ mọi phía, mọi hướng Việt Nam chiến thắng chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ bằng sức mạnh tổng hợp của dân tộc
và thời đại Việt Nam đã chiến thắng nhờ biết lấy thành quả của kháng chiến để mở rộng và tăng cường đoàn kết quốc tế; nhân tố quốc tế đến lượt mình trở thành một trong những nhân tố quyết định thắng lợi của cuộc kháng chiến – điều mà Willlam Duiker, chuyên gia nghiên cứu về Việt Nam đã không thể lý giải: “Làm thế nào mà người Việt Nam chiến thắng bằng cách duy trì một cuộc tiến công ngoại giao vượt trội hơn hẳn một quốc gia vốn được coi là hùng mạnh nhất thế giới?”.
Phát huy nhân tố nội lực thực hiện đại đoàn kết dân tộc, kết hợp nhuần nhuyễn với ngoại lực nhân tố quốc tế trên cơ sở những mục tiêu chính nghĩa, thời đại và nhân văn – đó là thế, thời và lực của đất nước Thế, thời và lực đó đã làm nên một chiến thắng 30 - 4 vang dội Thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ đã ghi dấu ấn sâu đậm vào lịch sử dân tộc và nhân loại.
Trang 10Cuộc trường chinh 9 năm chống thực dân Pháp kết thúc, nửa nước không còn bóng ngoại xâm, song cả dân tộc vẫn chịu chung nỗi đau chia cắt Trước nỗi đau cắt chia đất nước , với ý chí “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, kết thành một khối thống nhất, nhân dân Việt Nam tiến hành cuộc kháng chiến tự vệ chính nghĩa, phấn đấu vì một "ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Tổ quốc hoà bình thống nhất, Bắc - Nam sum họp một nhà”[5] Đương đầu với đế quốc Mỹ - một đối phương mạnh hơn gấp nhiều lần về tiềm lực kinh tế, quân sự, trong lịch sử 200 năm lập nước chưa hề nếm mùi bại trận, trên tinh thần “tự lực cánh sinh là chính”, Việt Nam ra sức tranh thủ sự ủng hộ quốc tế, nhất là sự giúp đỡ của Liên Xô và Trung Quốc Trong điều kiện hai nước có những bất đồng sâu sắc và Mỹ triệt để lợi dụng, khoét sâu mâu thuẫn, hòng cô lập và làm suy yếu cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, vận dụng triết lý “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, Việt Nam chèo lái con thuyền kháng chiến đi giữa hai ngọn sóng Xô – Trung, tranh thủ tối đa sự giúp đỡ quốc tế, tăng cường nội lực, đánh bại ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ Trong quá trình ấy, Việt Nam kết hợp đánh – đàm, kéo địch đến bàn đàm phán, buộc Mỹ ký kết Hiệp định Paris - kết quả của cuộc đàm phán lâu dài nhất, khó khăn, phức tạp nhất trong lịch sử ngoại giao Việt Nam Hiệp định Paris đạt tới đỉnh cao triết lý “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, khi Mỹ buộc phải cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất của dân tộc, buộc phải cam kết rút quân và không can thiệp trở lại, còn Việt Nam giữ nguyên lực lượng chính trị, vũ trang ở miền Nam, tạo cục diện chính trị và chiến trường thuận lợi để đi tới thắng lợi cuối cùng Nắm vững quy luật khách quan, nắm vững thời và thế, biết cách tạo thời và thế, nắm vững nguyên tắc “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, thắng lợi của Hiệp định Paris là thắng lợi của nền ngoại giao nhân văn Việt Nam trước nền ngoại giao trên thế mạnh của Mỹ, khi Việt Nam biến nghịch thành thuận, biến những khả năng mỏng manh thành hiện thực có lợi.
Trang 11QUAN HỆ GIỮA VIỆT NAM VỚI LIÊN XÔ VÀ TRUNG QUỐC TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC (1954-1975)
Trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, bên cạnh việc giữ vững đường lối độclập, tự chủ, phát huy cao độ sức mạnh của toàn dân tộc, Đảng và Nhà nước Việt Nam chủtrương ra sức tăng cường đoàn kết quốc tế, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ, giúp đỡ của bèbạn trên thế giới, mà trước hết là các nước XHCN, đặc biệt là Liên Xô và Trung Quốc,tạo nên sức mạnh tổng hợp, đánh bại ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ Tuy nhiên, đặttrong điều kiện tình hình thế giới diễn biến phức tạp thời điểm bấy giờ, khi mâu thuẫn Xô
- Trung nảy sinh và ngày càng trở nên gay gắt, thì việc triển khai chiến lược đoàn kếtquốc tế của Đảng, Nhà nước Việt Nam thực không hề đơn giản Quá trình đó đòi hỏi ở bộnão chỉ đạo cách mạng Việt Nam phải kiên quyết giữ vững nguyên tắc, nhưng mềm dẻo
về sách lược Bài viết này trình bày quá trình chỉ đạo chiến lược của Đảng, Nhà nướcViệt Nam, nhằm củng cố và tăng cường quan hệ đoàn kết, hữu nghị với Liên Xô vàTrung Quốc, đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đi tới thắng lợi
1 Sau Chiến tranh thế giới thế giới thứ hai, hệ thống các nước XHCN ra đời và nhanhchóng phát triển với trụ cột là Liên Xô, Trung Quốc Thực hiện chính sách ủng hộ phongtrào giải phóng dân tộc, chống chủ nghĩa đế quốc, Liên Xô và Trung Quốc đã giành đượctín nhiệm ngày càng lớn đối với nhân dân thế giới Nhưng từ giữa những năm 50 của thế
kỷ XX trở đi, trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế cũng như trong nội bộ cácnước XHCN nảy sinh bất đồng về đường lối, quan điểm và lợi ích Những bất đồng đóchẳng những không được khắc phục, mà ngày càng trở nên sâu sắc, đặc biệt là giữa Liên
Xô và Trung Quốc và được bộc lộ rõ kể từ sau chuyến thăm Bắc Kinh của N.Khơrusôp(1954) – Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô Từ năm 1960 trở đi, quan hệ Liên Xô -Trung Quốc xấu đi một cách nghiêm trọng, mâu thuẫn trở nên công khai, báo chí hainước lên tiếng tố cáo lẫn nhau Năm 1960, Trung Quốc công bố văn kiện “Chủ nghĩaMác - Lênin muôn năm”, Liên Xô cắt viện trợ cho Trung Quốc và rút chuyên gia vềnước Từ năm 1961-1962, mâu thuẫn đã ở mức căng thẳng với xung đột biên giới làmcho 5.000 người Trung Quốc bị thiệt mạng Năm 1963, tờ Nhân dân nhật báo Trung
Trang 12Quốc đã có 9 bài xã luận đả kích và phê phán đường lối của Liên Xô Các cuộc thươnglượng từ tháng 3 đến tháng 10-1964 giữa hai nước rốt cuộc vẫn không giải quyết đượcbất đồng Sau năm 1966, quan hệ Xô - Trung tiếp tục giảm sút nghiêm trọng Hơn thếnữa, cả hai nước bắt đầu tập trung một lực lượng lớn quân đội tại khu vực biên giớichung Lãnh đạo hai nước thậm chí chính thức kêu gọi quân và dân sẵn sàng bảo vệ biêngiới nước mình Thêm vào đó, xảy ra những sự kiện như: Sinh viên Trung Quốc ởMatxcơva biểu tình bị ngăn chặn (15-1-1967); Đại sứ quán Liên Xô ở Trung Quốc bịHồng vệ binh đập phá, vây hãm (26-1-1967 và 12-1-1967) Trước tình hình đó, BộNgoại giao hai nước liên tục gửi công hàm tố cáo lẫn nhau Đỉnh cao của sự bất đồng làxung đột biên giới nổ ra nhiều lần trong năm 1969, quan hệ giữa hai nước đã mang tínhchất thù địch rõ rệt Báo cáo chính trị Đại hội IX của Đảng Cộng sản Trung Quốc (4-1969) gọi Liên Xô là “bọn xét lại” và coi Liên Xô đồng loã với đế quốc Mỹ, tuyên bố
“một thời kỳ mới chống bọn đế quốc Mỹ và bọn xét lại Liên Xô bắt đầu” Tuy báo cáocủa Đại hội vẫn xếp Liên Xô sau Mỹ trong hàng ngũ kẻ thù, nhưng lúc này Trung Quốc
đã xem Liên Xô còn nguy hiểm hơn Mỹ, vì cho rằng Liên Xô đang thi hành chính sách
bá quyền nước lớn đối với các nước khác, còn N.Khơrusôp thì tuyên bố: “Cuộc xung độtvới Trung Quốc là không thể tránh khỏi”[1]
Trong bối cảnh đó, Việt Nam trở thành “điểm nóng”, liên quan đến lợi ích của các cườngquốc đại diện cho quyền lực của thế giới Chiến tranh Việt Nam trở thành một trongnhững tiêu điểm thể hiện đối sách của mỗi nước Trong tính toán chiến lược của mình,vấn đề Việt Nam được cả Liên Xô và Trung Quốc “cân nhắc” sao cho mỗi bước đi đềuphù hợp với lợi ích chiến lược của mỗi bên Lá bài Việt Nam trở nên nặng ký, mà cả Liên
Xô và Trung Quốc đều muốn có trong tay để sử dụng trong các cuộc thương thuyết bímật với Mỹ, phục vụ lợi ích quốc gia của mình
Đương nhiên, Mỹ lập tức lợi dụng tình hình này, nhanh chóng nắm bắt cơ hội, tiến hànhthực hiện các thủ đoạn ngoại giao, thể hiện chính sách chia rẽ, khoét sâu mâu thuẫn, đểgiảm thiểu sự đồng tình, ủng hộ về vật chất và tinh thần của hai nước XHCN lớn là Liên
Xô, Trung Quốc cho cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam, Tác giả Oantơ
Trang 13Isăcsơn trong cuốn “Kitxinhgơ - một tiểu sử” đã nhận xét một cách xác đáng: “Lợi íchcủa Mỹ sẽ được phục vụ một cách tốt nhất nếu cả Trung Quốc và Liên Xô mỗi bên đều
có liên kết với Mỹ nhằm chống lại nước kia” Bằng chính sách ngoại giao tay ba, Mỹmuốn thông qua Trung Quốc và Liên Xô ép Việt Nam phải giảm bớt những nỗ lực quân
sự trên chiến trường, phải chấp nhận những điều kiện do phía Mỹ đưa ra Một số nhànghiên cứu Mỹ cho rằng, giới lãnh đạo Mỹ đã tính toán và cân nhắc kỹ phạm vi rộng lớncủa những lợi ích chung Mỹ - Xô ở những nơi khác nhau trên thế giới - kể cả việc kiềmchế những chính sách của Trung Quốc, sẽ làm cho Liên Xô sẵn sàng đáp ứng những
“sáng kiến” của Mỹ Phía Mỹ cũng thừa nhận rằng, Trung Quốc cần sự giúp đỡ của Mỹ
để phá thế cô lập của họ Một cách chung nhất, có thể thấy rằng, đưa ra và thực hiệnnhững thủ đoạn ngoại giao nhằm vào hai nước Liên Xô, Trung Quốc, Osington tin rằngđây là biện pháp hữu hiệu, tạo nên sức ép có lợi cho Mỹ trong cuộc chiến tranh ViệtNam
2 Ngay từ những ngày đầu tiên của cuộc kháng chiến chống Mỹ - một cuộc chiến tranh
có mức độ tàn bạo, khốc liệt nhất trong lịch sử thế giới đương đại mà Mỹ tiến hành chốnglại dân tộc Việt Nam, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã chủ trương ra sức phát huy nhữngnhân tố thuận lợi, hạn chế những khó khăn, phức tạp, biến yếu tố quốc tế, yếu tố thời đạithành sức mạnh hiện thực để tăng cường thực lực cho cuộc kháng chiến Trong chiếnlược chung đó, Đảng và Nhà nước Việt Nam xác định Liên Xô, Trung Quốc là chỗ dựavững chắc cho công cuộc xây dựng và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đấtnước Do vậy, Đảng và Nhà nước Việt Nam đề ra một trong những nhiệm vụ quan trọng
là tranh thủ tối đa sự ủng hộ của Liên Xô và Trung Quốc trên mọi phương diện vật chất,tinh thần, chính trị cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Và như vậy, những bấtđồng, căng thẳng trong quan hệ Liên Xô - Trung Quốc chắc chắn sẽ gây ra những tácđộng bất lợi, gây nên sức ép lớn, cản trở Việt Nam thực hiện nhiệm vụ nói trên, ảnhhưởng trực tiếp tới cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Lúc này, một đường lối đốingoại phù hợp, tinh tế và khéo léo là hết sức cần thiết Đường lối đó phải thoả mãn bayêu cầu: Thứ nhất, tăng cường sự đoàn kết trong phe XHCN trên tinh thần quốc tế vô
Trang 14sản, có lý, có tình, góp phần tích cực hàn gắn những bất đồng, rạn nứt đang gia tăng trongquan hệ Xô - Trung, làm thất bại mưu đồ lợi dụng của Mỹ; thứ hai, đảm bảo được quan
hệ cân bằng giữa Việt Nam - Liên Xô và Việt Nam - Trung Quốc, tránh liên minh chặtchẽ với bên này hay bên kia; thứ ba, giữ vững được đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ.Đây vừa là một đòi hỏi khách quan, vừa là một vấn đề hết sức phức tạpm, bởi vào thờiđiểm đó các quan hệ quốc tế chồng chéo, đan xen nhau trong một tổng thể quan hệ củacác siêu cường mạnh nhất thế giới không dễ gì phân định tách bạch Để thắng Mỹ, ViệtNam cần sự ủng hộ trên mọi phương diện của người anh cả Liên Xô - trụ cột của pheXHCN, đồng thời không thể thiếu sự giúp đỡ của nước láng giềng lớn với sự hậu thuẫncủa gần một tỷ nhân dân Trung Quốc anh em, trong khi mối quan hệ tay ba này lạithường xuyên chịu sự chi phối bởi những tính toán lợi dụng của Mỹ
Trước những chuyển biến đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng, Nhà nước Việt Namkhông xem nhẹ tính chất khó khăn và phức tạp của tình hình, có những chủ trương, biệnpháp, thể hiện sự phân tích sắc sảo, sự nhanh nhậy trong hoá giải những nguy cơ, làmgiảm thiểu tối đa tác hại của sự tranh chấp giữa Liên Xô - Trung Quốc và tiềm năng lợidụng của Mỹ Định hướng “củng cố không ngừng tình đoàn kết, hữu nghị với Liên Xô,Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa khác”[2] được nhấn mạnh tại Hội nghị Trungương lần thứ 7 (3-1955)
Trong khoảng thời gian từ năm 1956 đến năm 1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫnđầu các đoàn đại biểu Việt Nam lần lượt đi thăm các nước XHCN: Năm 1956, thămchính thức Liên Xô, Trung Quốc và Mông Cổ; năm 1957, thăm 9 nước, gồm tất cả cácnước XHCN ở Đông Âu, Bắc Á và một số nước dân tộc chủ nghĩa ở châu Á (trong đó cóLiên Xô, Trung Quốc); trong hai năm 1959-1960, hai lần thăm Trung Quốc và Liên Xô.Thông qua các hoạt động đối ngoại này, Chủ tịch Hồ Chí Minh bầy tỏ lòng mong muốntăng cường quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa Việt Nam và các nước, đề cao quan hệ đoànkết giữa các nước trong phe XHCN do Liên Xô và Trung Quốc đứng đầu, thông báo tìnhhình Việt Nam, Đông Dương, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của Liên Xô, Trung Quốc
Trang 15đối với sự chuyển hướng đường lối và phương pháp cách mạng ở miền Nam theo tinhthần Nghị quyết Trung ương 15 (1-1959).
Từ năm 1960 trở đi, khi mâu thuẫn giữa Liên Xô - Trung Quốc đạt mức độ trầm trọng,Đảng và Nhà nước Việt Nam tăng cường đẩy mạnh các hoạt động trên mặt trận đốingoại, hướng trực tiếp vào mục tiêu củng cố, phát triển tình hữu nghị, hợp tác với Liên
Xô và Trung Quốc, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ cho cuộc kháng chiến đang bước vàogiai đoạn quyết liệt Đảng và Nhà nước Việt Nam đánh giá thực chất những bất đồnggiữa Liên Xô - Trung Quốc với hai mặt hai vấn đề: 2- Mâu thuẫn tuy găy gắt nhưng cógiới hạn, chủ yếu diễn ra dưới hình thức chiến tranh lạnh là chính; 2- Mặc dù sự phân liệt
Xô - Trung còn chưa bất lợi lắm, song về lâu, về dài, nếu không được khắc phục, nó rất lànguy hiểm, tác động bất lợi tới cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam Đảng, Nhànước Việt Nam luôn coi những điểm khác biệt, những mâu thuẫn trong hệ thống cácnước XHCN và giữa Liên Xô - Trung Quốc là những mâu thuẫn có tính chất nội bộ, tạmthời, không mang tính chất đối kháng, nhưng cần phải nỗ lực để dẹp bỏ, tránh để cho mâuthuẫn gia tăng, gây bất lợi cho cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam; trên cơ sở đó,Việt Nam nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tăng cường tình đoàn kết, hữu nghị với cảhai nước Đề cương công tác đối ngoại do Thủ tướng Phạm Văn Đồng trình bày trước BộChính trị đầu năm 1962 nêu rõ nhiệm vụ cần kíp của Đảng, của Nhà nước là phải gópphần tích cực giữ vững và tăng cường đoàn kết nhất trí trong phe XHCN Chủ trương đótiếp tục được nhấn mạnh và cụ thể hoá bằng những giải pháp lớn, thể hiện trong hệ vănkiện Đại hội lần thứ III của Đảng Lao động Việt Nam (9-1960), Hội nghị Ban Chấp hànhTrung ương lần thứ 9 (12-1963), lần thứ 11 (3-1965) và lần thứ 12 (12-1965), lần thứ 13(1-1967) Đó là đường lối nhất quán nhằm thực hiện nhiệm vụ quốc tế quan trọng: “Rasức góp phần tăng cường sự đoàn kết nhất trí trong phe xã hội chủ nghĩa”[3]; “đẩy mạnhđấu tranh chính trị và ngoại giao, góp phần củng cố sự đoàn kết trong phe xã hội chủnghĩa”[4], “tranh thủ sự giúp đỡ về quân sự của các nước anh em đến mức cao nhất, trên
cơ sở có lợi cho cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ và tăng cường đoàn kết quốc tế trongphe xã hội chủ nghĩa”[5]
Trang 16Như vậy, trong các văn kiện, các tuyên bố, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn khẳng địnhquyết tâm làm hết sức mình để củng cố, tăng cường tình đoàn kết hữu nghị anh em trêntinh thần quốc tế vô sản với các nước XHCN nói chung, với hai nước Liên Xô và TrungQuốc nói riêng Trong quá trình chỉ đạo thực hiện tư tưởng ấy, việc được coi là khó khănnhất là xử lý mối quan hệ giữa Việt Nam với Liên Xô, Việt Nam với Trung Quốc, giữđược thế cân bằng trong điều kiện hai nước này đang có những bất hoà sâu sắc, đảm bảonguyên tắc không đứng về một bên và không đứng về bên này chống bên kia Thực hiệnnguyên tắc này thật không đơn giản Nhằm tạo điều kiện cho việc thực hiện mục tiêu,Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương động viên nỗ lực cao nhất ở trong nước, kiên quyếtkháng chiến, lấy việc đánh bại các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ làm mục tiêutối cao, làm cơ sở để tranh thủ sự đồng tình của các nước XHCN, đặc biệt là của Liên Xô
và Trung Quốc Về phía hai nước anh em, mặc dù có những quan điểm khác nhau, nhữnglợi ích, chính sách khác nhau đối với Việt Nam và chiến tranh Việt Nam, nhưng cả Liên
Xô, Trung Quốc đều có điểm tương đồng, mẫu số chung là quan điểm ủng hộ, giúp đỡnhân dân Việt Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược, làm nghĩa vụ quốc tế đối với một nướcXHCN - nước Việt Nam DCCH, bảo đảm hòa bình thế giới Để đảm bảo quan hệ đoànkết, hữu nghị với cả hai đồng minh chiến lược, Việt Nam luôn chủ động, tế nhị trongquan hệ với hai nước, không tham gia các cuộc tranh luận công khai giữa hai bên, tránhgây ra những hiểu lầm không cần thiết Tháng 5-1963, Chủ tịch Trung Quốc Lưu Thiếu
Kỳ sang thăm Việt Nam và vấn đề “chống chủ nghĩa xét lại”, “tách khỏi Liên Xô” thườngxuyên được nêu lên với hàm ý đổi bằng việc Trung Quốc sẵn sàng viện trợ trọn gói choViệt Nam Từ năm 1960-1964, Ban lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô liên tiếp gửi thôngđiệp (13 bức thư và thông báo[6]) đề cập đến bất đồng Xô - Trung; đề nghị Trung ươngĐảng Lao động Việt Nam phải thay đổi lập trường với Trung Quốc, ngầm tỏ ý sẽ cắt việntrợ quân sự nếu Việt Nam không có thái độ “phù hợp” Trước tình hình ấy, Việt Nam vẫnnhất quán đường lối đoàn kết với cả hai nước và có sự ứng phó mềm dẻo Năm 1965,Việt Nam hoan nghênh ý kiến của Liên Xô đề nghị lập Mặt trận thống nhất và lập cầuhàng không để giúp đỡ Việt Nam chống Mỹ, nhưng khi Trung Quốc phản đối đề nghịnày, thì Việt Nam tạm thời gác vấn đề này lại Việt Nam cũng công khai cải chính những
Trang 17tin tức nói Trung Quốc cản trở hàng viện trợ quân sự của Liên Xô cho Việt Nam quácảnh qua Trung Quốc Trong những năm cuộc chiến tranh ở Việt Nam trở nên khốc liệt,Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi thăm Trung Quốc hai lần trong năm 1965 và 1966 Việt Namđồng ý để Trung Quốc cử một đội quân sang làm đường ở vùng đất Việt Nam gần biêngiới với Trung Quốc; đồng thời, Việt Nam cũng tăng cường quan hệ hợp tác với Liên Xô.Tháng 2-1965, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô A.N Côxưghin đã được Việt Namđón tiếp trọng thể và thân thiết Việt Nam cử đoàn đại biểu Đảng và Nhà nước do đồngchí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất Trung ương Đảng dẫn đầu đi thăm Liên Xô (4-1965), dựĐại hội lần thứ XXIII Đảng Cộng sản Liên Xô (3-1966) Đảng Lao động Việt Nam cũngkhông tham gia Hội nghị 75 Đảng Cộng sản và Công nhân quốc tế do Liên Xô triệu tậpnăm 1970 mà không có Đảng Cộng sản Trung Quốc tham dự Lãnh đạo Đảng, Nhà nướcViệt Nam trao đổi và thông báo với lãnh đạo Liên Xô, Trung Quốc về các vấn đề lớn quacác cuộc gặp gỡ cấp cao khá thường xuyên Trong 7 năm (1965-1972) đã có tới 51 cuộcgặp cấp cao Việt Nam - Liên Xô (từ cấp uỷ viên Bộ Chính trị trở lên) Với Trung Quốc,
số lần gặp gỡ cũng xấp xỉ[7] Ngày 8-10-1972, lúc cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ trao cho
cố vấn của Tổng thống Mỹ H.Kitxinhgơ “Dự thảo Hiệp định”, thì hai Uỷ viên Bộ Chínhtrị khác của Việt Nam cũng trao văn kiện đó cho lãnh đạo Liên Xô và Trung Quốc
Một nội dung lớn, quan trọng, nhất quán trong đường lối, chính sách và hoạt động đốingoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là làmhết sức mình để khôi phục, củng cố, tăng cường tình đoàn kết quốc tế vô sản giữa cácĐảng anh em, giữa Liên Xô và Trung Quốc Việt Nam luôn thể hiện mong muốn Liên
Xô, Trung Quốc dẹp bỏ bất đồng, tự kiềm chế, giải quyết từng bước những bất đồng trên
cơ sở có lý, có tình vì lợi ích chung của cách mạng thế giới Tháng 1-1963, Bộ Chính trịĐảng Lao động Việt Nam ra tuyên bố đề nghị các Đảng anh em chấm dứt công kích lẫnnhau trên đài phát thành, trên báo chí và đề nghị họp các Đảng Cộng sản để dẹp sự bấthoà trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế Trong dịp kỷ niệm 50 năm Cáchmạng Tháng Mười (1967), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bài báo nhan đề “Cách mạngTháng Mười mở ra con đường giải phóng cho các dân tộc”, trong đó có đoạn: “Đảng
Trang 18chúng tôi luôn luôn giáo dục cho cán bộ, đảng viên và cho quần chúng nhân dân lòng yêunước chân chính và chủ nghĩa quốc tế vô sản, luôn luôn tăng cường đoàn kết hữu nghịvới Liên Xô, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và các nước anh em khác”[8] Đặcbiệt, khi quan hệ Liên Xô - Trung Quốc trở nên căng thẳng từ năm 1966 đến lúc xung độtxảy ra năm 1969, Việt Nam thể hiện rõ ràng thái độ không ủng hộ cuộc đối đầu của hainước XHCN, tránh làm những việc có thể đào sâu thêm hố ngăn cách giữa hai nước.
Đặt lợi ích dân tộc, lợi ích bảo đảm thắng Mỹ lên hàng đầu, Việt Nam luôn tôn trọngtiếng nói và vai trò của Liên Xô, Trung Quốc trong các vấn đề có liên quan Đảng, Nhànước Việt Nam đề ra sách lược mềm dẻo, tránh phê phán trực tiếp ý định của Liên Xôthúc đẩy hoà hoãn với Mỹ trong bối cảnh Mỹ leo thang và sa lầy trong cuộc chiến tranh ởViệt Nam, nhưng cũng không phủ nhận hoàn toàn lời khuyên của Liên Xô sớm tìm mộtgiải pháp kết thúc chiến tranh thông qua thương lượng Việt Nam không công khai phêphán Liên Xô có ý muốn Việt Nam tạm thời giảm chi viện cho miền Nam, xuống thang
kỹ thuật với Mỹ, một điều không thể có được khi đế quốc Mỹ đang mở rộng chiến tranh
và khi tương quan lực lượng ở chiến trường và trên thế giới chưa cho phép thực hiện VớiTrung Quốc, khi cuộc “cách mạng văn hoá” diễn ra, Việt Nam coi đó là công việc nội bộcủa Trung Quốc và bày tỏ mong muốn tình hình Trung Quốc sớm ổn định, không làmảnh hưởng đến sự ủng hộ, chi viện của Trung Quốc đối với cuộc kháng chiến của nhândân Việt Nam, không gây trở ngại cho việc quá cảnh hàng viện trợ từ Liên Xô và cácnước XHCN Đông Âu cho Việt Nam Đảng, Chính phủ Việt Nam trước sau như một, ủng
hộ lập trường của Đảng, Chính phủ, nhân dân Trung Quốc trong vấn đề giải phóng ĐàiLoan và những vấn đề quốc tế khác Việt Nam luôn coi trọng vai trò của Trung Quốctrong quan hệ quốc tế, coi trọng truyền thống hữu nghị lâu đời giữa nhân dân hai nước vàvai trò của Trung Quốc đối với sự nghiệp chống Mỹ của nhân dân ba nước Đông Dương.Vào dịp đầu và cuối năm 1967, khi Việt Nam tuyên bố sẽ có thương lượng trực tiếp với
Mỹ, nếu phía Mỹ chấm dứt ném bom và mọi hành động chống phá VNDCCH, phíaTrung Quốc tỏ ý muốn Việt Nam đánh mà chưa vội đàm, Việt Nam đã kiên trì trao đổi,giải thích với Trung Quốc về bước đi sách lược nhằm kiềm chế Mỹ Ngày 17-11-1968,
Trang 19khi tiếp đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam thăm Trung Quốc Chủ tịch Mao Trạch Đông
đã nói rằng, Việt Nam đánh giỏi, đàm phán cũng giỏi và khẳng định ủng hộ phương châmvừa đánh, vừa đàm của Việt Nam[9] Năm 1971, Trung Quốc sử dụng phương thức
“ngoại giao bóng bàn”, bí mật mời H.Kitxinhgơ - cố vấn an ninh của Tổng thống Mỹ tớiBắc Kinh, dàn xếp, chuẩn bị cho chuyến đi của Nicxơn đến Bắc Kinh tháng 2-1972,Đảng, Nhà nước Việt Nam đề nghị Trung Quốc không tiếp Nicxơn Đề nghị ấy của ViệtNam mặc dù không được phía Trung Quốc chấp thuận, nhưng Việt Nam vẫn kiềm chếcác phản ứng Các động thái trên cho thấy, Việt Nam đã tạo dựng được mối quan hệ thoảđáng với cả Liên Xô, Trung Quốc, dựa trên cơ sở vừa hợp tác, vừa đấu tranh, không đứng
về bên nào, không vì quan hệ với nước này mà làm phương hại tới quan hệ với nước kia
Khi đặt mục tiêu giữ vững cân bằng trong quan hệ với Liên Xô và Trung Quốc, tăngcường củng cố tình đoàn kết quốc tế XHCN, trong những trường hợp cần thiết, Đảng,Nhà nước Việt Nam đã bày tỏ quan điểm, đấu tranh thẳng thắn trên tinh thần anh, em.Nhằm mục tiêu khẳng định sự nhất trí, thu hẹp bất đồng về những vấn đề mang tínhnguyên tắc, quan hệ trực tiếp tới sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam,
từ năm 1971 trở đi, trước thực tế là Liên Xô và Trung Quốc đang điều chỉnh chính sáchđối ngoại một cách mạnh mẽ, nhằm phục vụ lợi ích chiến lược của mỗi nước, nhất là thái
độ của Trung Quốc đối với Mỹ, Việt Nam khẳng định mạnh mẽ đường lối độc lập tự chủcủa mình Báo chí Việt Nam đăng tải các bài bình luận nhấn mạnh rằng thời đại của cácnước lớn áp đặt các nước nhỏ theo ý của mình không còn nữa Tuy vậy, những tuyên bốchính thức của Việt Nam lúc đó vẫn đề cao quan hệ và sự giúp đỡ của Liên Xô, TrungQuốc Việt Nam yêu cầu Liên Xô, Trung Quốc giữ vững lập trường ủng hộ Việt Namtrên phương diện chính trị, ủng hộ tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống Mỹ vìđộc lập dân tộc và hoà bình, thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam; đề nghị cácnước thể hiện lập trường đó trên các diễn đàn quốc tế, trong hoạt động ở Liên Hiệp Quốc
và nhất là trong quan hệ với Mỹ Lập trường trên đây của Việt Nam đã có tác động nhấtđịnh tới Liên Xô, Trung Quốc Trong tuyên bố công khai sau khi tiếp H.Kitxinhgơ vàonăm 1971, Trung Quốc nhấn mạnh, vấn đề Việt Nam phải do chính người Việt Nam
Trang 20quyết định, còn Liên Xô cũng thường xuyên khẳng định tinh thần đoàn kết, ủng hộ ViệtNam.
3 Trong sự nghiệp củng cố, tăng cường tình đoàn kết và tranh thủ sự ủng hộ của Liên Xô
và Trung Quốc đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, không thể không kể đếnvai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh - người luôn đề cao tầm quan trọng song trùng của hainhiệm vụ: 1- Tăng cường đoàn kết giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam với Liên
Xô, Trung Quốc; 2- Tích cực góp phần thu hẹp những bất đồng giữa hai nước lớn trongphe XHCN Phát biểu tại khoá họp đặc biệt Xô-viết tối cao Liên Xô nhân dịp kỷ niệm lầnthứ 40 Cách mạng Tháng Mười Nga (1957) Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Tronghoàn cảnh quốc tế hiện nay, khi bọn đế quốc đang âm mưu phá hoại sự nhất trí của cácnước xã hội chủ nghĩa, âm mưu gây một cuộc chiến tranh mới, thì sự nhất trí của cácnước trong phe xã hội chủ nghĩa do Liên Xô đứng đầu có một ý nghĩa đặc biệt tolớn”[10].Trước sự bất đồng giữa các nước XHCN, Hồ Chí Minh thường xuyên nhắc nhởĐảng và Nhà nước Việt Nam cần đặc biệt quan tâm và làm hết sức mình để khắc phục sựrạn nứt trong quan hệ giữa các nước, giữ gìn, củng cố tình đoàn kết giữa Việt Nam vàLiên Xô, Trung Quốc, có những chỉ thị cụ thể và uốn nắn kịp thời các hoạt động ngoạigiao để thực hiện có hiệu quả chính sách đối ngoại đối với Liên Xô, Trung Quốc
Bằng sự hiểu biết sâu sắc hai nước bạn lớn của Việt Nam và quan hệ chân thành, gần gũivới các nhà lãnh đạo hai nước, Hồ Chí Minh đã xử lý thành công nhiều tình huống ngoạigiao tế nhị và phức tạp trong quan hệ với Liên Xô, Trung Quốc Hồ Chí Minh luôn đặtlòng tin vào các nước anh em: “Mọi âm mưu của đế quốc Mỹ hòng chia rẽ Việt Nam vớiTrung Quốc, với các nước xã hội chủ nghĩa sẽ thất bại thảm hại”[11]; quan niệm và coinhững bất đồng nảy sinh trong hệ thống XHCN, giữa hai nước Liên Xô, Trung Quốckhông phải là chuyện lạ và căn dặn cán bộ, đảng viên: “Mục đích của ta là vì đoàn kết Vìđoàn kết mà phải tranh đấu Tranh đấu để đi đến đoàn kết chứ không nói xấu ai Phải làmsao trong Đảng và trong nhân dân giữ được lòng yêu mến và biết ơn với các nước anhem ”[12] Trong những năm cuối đời, khi viết bản Di chúc lịch sử, Chủ tịch Hồ ChíMinh luôn trăn trở một nỗi niềm về tình đoàn kết, về sự thống nhất trong phong trào cộng
Trang 21sản và công nhân quốc tế, trong khối các nước XHCN: “Là một người suốt đời phục vụcách mạng, tôi càng tự hào với sự lớn mạnh của phong trào cộng sản và công nhân quốc
tế bao nhiêu, thì tôi càng đau lòng bấy nhiêu về sự bất hoà hiện nay giữa các Đảng anhem”[13]; đồng thời, bày tỏ một niềm tin sắt đá: “Tin chắc rằng các đảng anh em và cácnước anh em nhất định sẽ phải đoàn kết lại”[14] Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trươnggiải quyết những bất hòa giữa Liên Xô - Trung Quốc trên quan điểm độc lập, chốngkhuynh hướng áp đặt cho nhau, chú trọng việc phát huy, thúc đẩy mặt tích cực trongchính sách đối ngoại của Liên Xô, Trung Quốc, hướng việc đoàn kết song phương Liên
Xô, Trung Quốc trên nền tảng chính nghĩa của cuộc chiến đấu vì độc lập, tự do của nhândân Việt Nam, phát huy vai trò của mỗi nước trong việc tranh thủ những xu thế chính trị
có lợi cho cuộc kháng chiến
4 Suốt những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), một trong nhữngnhiệm vụ có tầm quan trọng đặc biệt của Đảng, Nhà nước Việt Nam là củng cố, tăngcường tình đoàn kết và tranh thủ sự ủng hộ, viện trợ của cả Liên Xô, Trung Quốc, của cácnước XHCN, củng cố chỗ dựa vững chắc cho cuộc kháng chiến của dân tộc Để hoànthành tốt nhiệm vụ này, Đảng, Nhà nước Việt Nam nhất quán giữ gìn, củng cố tình hữunghị và thu hẹp bất đồng giữa hai nước XHCN lớn Đó là chủ trương chiến lược, mộtquan điểm mang tính nguyên tắc, bắt nguồn từ mục tiêu của cuộc kháng chiến và từ nhậnthức về sự giúp đỡ to lớn của Liên Xô, Trung Quốc đối với sự nghiệp thống nhất đấtnước của nhân dân Việt Nam Bằng sự nỗ lực cao độ, Việt Nam đã tranh thủ được Liên
Xô, Trung Quốc từng bước đồng tình, đi đến ủng hộ đường lối, mục tiêu, lập trường vàquyết tâm chiến đấu của nhân dân Việt Nam, giành cho nhân dân Việt Nam sự giúp đỡ tolớn, quý báu về mọi mặt Việt Nam đã tận dụng vai trò quan trọng của Liên Xô trêntrường quốc tế, đặc biệt đối với các nước Đông Âu, các tổ chức dân chủ, hoà bình quốc
tế, với phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam tranh thủ vai trò to lớn của Trung Quốc
là hậu phương trực tiếp của Việt Nam, bảo đảm việc đào tạo cán bộ, xây dựng lực lượng,cung cấp hậu cần, đảm bảo vận chuyển Việt Nam tranh thủ các viện trợ không hoàn lại,cho vay không tính lãi với nhiều chương trình kinh tế, thương mại, lương thực, ngoại tệ
Trang 22và đặc biệt là quân sự của cả Liên Xô và Trung Quốc Có lẽ, trong thực tiễn lịch sử, hiếm
có trường hợp hai nước đối địch nhau lại cùng cung cấp viện trợ cho một nước thứ ba,như mối quan hệ giữa Việt Nam với Trung Quốc và Liên Xô thời kỳ này
Về viện trợ quân sự, Liên Xô - nước có nền công nghiệp quốc phòng hùng mạnh đã việntrợ cho Việt Nam ngoài một số vũ khí thông thường, còn phần lớn là những vũ khí hiệnđại như máy bay, xe tăng, xe bọc thép, tên lửa, pháo phòng không, pháo binh Từ năm1955-1960, Liên Xô đã viện trợ cho Việt Nam một khối lượng hàng quân sự là 29.996tấn[15], gôm hàng hậu cần, vũ khí, trang bị kỹ thuật Từ năm 1961-1964, Liên Xô gửisang Việt Nam 47.223 tấn hàng quân sự[16] Có thể thấy, số viện trợ quân sự trong mộtthời gian ngắn đã tăng gần gấp đôi Riêng năm 1962, Liên Xô đã cung cấp cho Việt Namkhoảng 200 triệu USD trang thiết bị (kể cả máy bay) để giúp miền Bắc củng cố quốcphòng[17] Tên lửa “đất đối không” của Liên Xô đã được sử dụng lần đầu tiên tại ViệtNam vào ngày 24-7-1965 và đã bắn rơi máy bay Mỹ[18]
Trong giai đoạn 1965-1968, khi quan hệ Việt Nam - Liên Xô có bước phát triển đáng kể,
số hàng viện trợ quân sự của Liên Xô cũng tăng vọt: 226.969 tấn[19] Mùa khô
1965-1966 và 1965-1966-1967, khi cuộc chiến đấu của quân dân Việt Nam trên cả hai miền Nam,Bắc diễn ra quyết liệt, Việt Nam rất cần vũ khí, đạn dược, Liên Xô đã đưa gấp sang ViệtNam “100 khẩu súng chống tăng, 500 súng cối các loại, 400 dàn pháo phản lực và 45chiếc máy bay chiến đấu”[20] Như vậy, trong hai năm 1966-1967, Liên Xô là nước cungcấp chủ yếu viện trợ quân sự cho Việt Nam Tính ra, “Liên Xô đã cung cấp 500 triệu rúptrang thiết bị cho lực lượng quân sự Bắc Việt Nam (xấp xỉ 550,5 triệu USD)”[21] Trongnhững năm 1969-1972, mức viện trợ quân sự của Liên Xô cho Việt Nam đạt 143.793 tấn
và chỉ riêng nâm 1969, giá trị hàng viện trợ quân sự lên tới 1,1 tỷ rúp Cùng với viện trợquân sự, Liên Xô tích cực đào tạo giúp Việt Nam đội ngũ cán bộ quân sự giỏi, có thể vậnhành được những vũ khí hiện đại do Liên Xô cung cấp Riêng năm 1966, có 2.600 sĩquan Việt Nam được đào tạo tại Liên Xô Bên cạnh đó, nhiều chuyên gia quân sự củaLiên Xô cũng đã sang chiến trường Việt Nam trực tiếp giúp bộ đội Việt Nam về mặt kỹthuật Từ năm 1969, do hoạt động quân sự trên chiến trường miền Bắc của Việt Nam
Trang 23giảm, cho nên viện trợ của Liên Xô có giảm hơn trước đó, nhưng cũng lên tới 500 triệuđôla[22] Từ năm 1969-1971, Liên Xô đã ký với Việt Nam 7 hiệp nghị viện trợ và tăngcường hợp tác kinh tế, quốc phòng Năm 1972, do ảnh hưởng của chiến lược ngoại giaotay ba Mỹ - Xô -Trung, cho nên viện trợ của Liên Xô cho Việt Nam có giảm, nhưng đó làgiảm viện trợ kinh tế, còn viện trợ quân sự lại tăng lên, gấp đôi vào năm 1972[23] Đó làmột trong những điều kiện đảm bảo cho quân dân Việt Nam đẩy mạnh các hoạt độngquân sự và giành thắng lợi quyết định trên chiến trường, buộc Mỹ phải ký Hiệp địnhParis (1-1973) Trong giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Liên Xôvẫn tiếp tục viện trợ quân sự cho Việt Nam, tuy mức viện trợ có giảm, song những năm1973-1975, đạt 65.601 tấn[24] hàng hậu cần và trang bị vũ khí, kỹ thuật.
Cùng với Liên Xô và các nước XHCN khác, Trung Quốc đã giành cho nhân dân ViệtNam sự ủng hộ, viện trợ trên các lĩnh vực chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá Trong lĩnhvực quân sự, Trung Quốc viện trợ cho Việt Nam chủ yếu là vũ khí bộ binh, quân trang,quân dụng, lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, một phần nhiên liệu, phương tiệnvận tải và một số xe quân sự, pháo và đạn pháo Chỉ tính riêng trong vòng 10 năm(1965-1975), “Trung Quốc đã viện trợ cho Việt Nam 4,847 triệu tấn lương thực, 262 triệumét vải, 89,1 nghìn tấn bông, 81,05 nghìn tấn sợi, 625,67 nghìn tấn sắt thép, 1,774 triệutấn xăng, dầu mỡ các loại, 2.510 toa xe lửa, 32.496 chiếc ô tô, 1.400 chiếc máy ủi ”[25].Nếu tính chung trong toàn bộ cuộc kháng chiến chống Mỹ, tổng khối lượng viện trợ quốc
tế ước tính 2.362.682 tấn, trị giá 7 tỷ rúp[26], thì viện trợ của Trung Quốc chiếm khoảngtrên 50 % tổng số viện trợ nói trên Ngoài ra, theo thoả thuận giữa Việt Nam và TrungQuốc một số đơn vị công binh và pháo binh của Trung Quốc đã sang giúp Việt Nam nângcấp, sửa chữa mở rộng thêm và bảo vệ các tuyến đường giao thông trên bộ, thuộc các tỉnhbiên giới giáp Trung Quốc Từ cuối năm 1966 đến đầu năm 1969, một số chi đội phòngkhông của quân đội Trung Quốc đã luân phiên nhau sang tham gia chiến đấu chống máybay Mỹ, bảo vệ các tỉnh phía Bắc, giáp biên giới Việt – Trung (số lượng kỹ sư và lựclượng bộ đội thuộc lực lượng pháo binh Trung Quốc lên tới 320.000 người) Trung Quốcđồng ý cho quá cảnh một khối lượng lớn hàng quân sự của Liên Xô viện trợ cho Việt
Trang 24Nam qua biên giới Xô - Trung và vận chuyển bằng đường sắt qua lãnh thổ Trung Quốcvào Việt Nam.
Việc thực hiện thành công sự đoàn kết với Liên Xô, Trung Quốc và các nước XHCN đãtạo ra cho cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam một sức mạnh tổng hợp cần và đủ đểhạn chế một phần sức mạnh của đế quốc Mỹ, bảo đảm cho nhân dân Việt Nam đánhthắng cuộc chiến tranh xâm lược quy mô lớn
Với mục tiêu hoàn thành thắng lợi sự nghiệp thống nhất đất nước, Đảng, Nhà nước ViệtNam đã động viên, khích lệ nhân dân làm tròn nghĩa vụ dân tộc, giữ gìn tình đoàn kếtquốc tế, làm xoay chuyển thái độ của Liên Xô và Trung Quốc theo hướng có ngày càng
có lợi cho đường lối chống Mỹ, cứu nước, góp phần làm giảm bớt khó khăn, làm thất bạinhững tính toán ngoại giao của đế quốc Mỹ
Bằng đường lối đối ngoại thích hợp với thực tiễn quan hệ quốc tế lúc đó, Đảng và Nhànước Việt Nam đã hạn chế đến mức thấp nhất tác động tiêu cực của mâu thuẫn Xô -Trung, của sự chia rẽ và phân liệt trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, làmthất bại kế hoạch lợi dụng mâu thuẫn trong hệ thống XHCN, đặc biệt là giữa Liên Xô -Trung Quốc để cô lập và làm suy yếu Việt Nam của Mỹ Sau này, phía Mỹ đã phải thừanhận: Một trong những nguyên nhân đưa đến thất bại của Mỹ trong cuộc chiến tranh xâmlược Việt Nam là đã quá tin vào việc thông qua thủ đoạn hoà hoãn tay đôi với Liên Xô vàTrung Quốc, lợi dụng bất đồng, đối địch giữa Liên Xô - Trung Quốc để thực hiện “chiếntranh bóp nghẹt” ở Việt Nam mà không lường trước được rằng, Việt Nam đã đề ra vàthực hiện đường lối kháng chiến chống Mỹ, đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ Việc lựclượng đồng minh chiến lược của Việt Nam trong lúc khó khăn, hay thuận lợi chủ yếuđứng về phía nhân dân Việt Nam, kiên định sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế to lớn cho sựnghiệp chống Mỹ, cứu nước là một minh chứng sinh động về việc kết hợp sức mạnh dântộc với sức mạnh thời đại trên cơ sở độc lập tự chủ, tranh thủ tối đa điều kiện quốc tếthuận lợi đi đôi với phát huy sức mạnh nội lực
Trang 25QUAN HỆ VIỆT NAM - TRUNG QUỐC TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC
Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam dù đã qua đi hơn 30 năm,song chưa bao giờ lùi xa vào lịch sử Với tầm vóc và tư cách là biểu tượng của khát khaođộc lập tự do, khát khao hoà bình, thống nhất, là biểu tượng của bản lĩnh, trí tuệ ViệtNam, cuộc kháng chiến có sức sống mãnh liệt, vượt thời gian Chẳng có gì là kỳ lạ, nếunhư trong rất nhiều sự kiện của thế kỷ XX in dấu đậm nét trong lịch sử nhân loại, cuộckháng chiến chống Mỹ, cứu nước vẫn luôn khơi gợi, thu hút sự quan tâm nghiên cứu củarất nhiều chuyên gia, rất nhiều nhà nghiên cứu cả trên thế giới, cũng như ở Việt Nam trênnhiều lĩnh vực khác nhau Cũng dễ dàng nhận thấy rằng, còn nhiều khía cạnh của cuộckháng chiến mới chỉ đang hé lộ Quan hệ Việt Nam – Trung Quốc cũng nằm trong rấtnhiều khía cạnh ấy
1 Lợi ích chiến lược– cơ sở củng cố quan hệ Việt - Trung trong kháng chiến chống Mỹ,cứu nước
Lợi ích chiến lược luôn là một trong những vấn đề trọng yếu của mỗi quốc gia Đó cũng
là mối quan tâm hàng đầu mà mỗi quốc gia đặt nhiệm vụ đảm bảo trong mọi hoàn cảnh,điều kiện Lợi ích chiến lược không nhất thành bất biến, nó vận động không ngừng và chiphối chiến lược của mỗi quốc gia trên mọi phương diện, nhất là trong quan hệ quốc gia –quốc gia; quốc gia - quốc tế
Từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai (1945), Mỹ nhờ lợi dụng vị trí đặc biệt của mình màtrở thành đế quốc giầu có, hùng mạnh nhất thế giới tư bản, thực hiện chiến lược toàn cầu
mở rộng ảnh hưởng Trong chính sách đối ngoại đó, Mỹ rất coi trọng vị trí chiến lược củaViệt Nam – nơi Mỹ đánh giá là một trong những vị trí sống còn trong tuyến ngăn chặnchủ nghĩa cộng sản Bên cạnh đó, chính sách của Mỹ ở miền Nam Việt Nam gắn vớichính sách của Mỹ ở Đông Dương, Đông Nam Á và nằm trong chính sách của Mỹ đối
Trang 26với Trung Quốc, Liên Xô và hệ thống XHCN nói chung, nhằm ngăn chặn ảnh hưởng củaLiên Xô, Trung Quốc.
Về phía Việt Nam, trước thách thức ấy, nhân dân Việt Nam không có sự lựa chọn nàokhác là buộc phải tiến hành cuộc kháng chiến chống lại đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóngmiền Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất đất nước Việt Nam trở thành nơi thử thách sứcmạnh cúa dân tộc và thời đại; là nơi thử thách sức mạnh của ý thức hệ, “là cuộc chiếntranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc mang tính thời đại một cách sâu sắc”[1] Do tính chấtcuộc chiến tranh và đặc điểm thời đại, Việt Nam luôn coi trọng và có được sự ủng hộ,giúp đỡ của lực lượng tiến bộ trên thế giới, của các nước XHCN, trong đó có Liên Xô,Trung Quốc Trung Quốc là nước láng giềng lớn của Việt Nam, cùng chung ý thức hệ,cùng chung lợi ích của phe XHCN, việc củng cố quan hệ hữu nghị với Trung Quốc trởthành một đòi hỏi chiến lược của cách mạng Việt Nam
Về phía Trung Quốc, từ sau năm 1954, khi đạt được những thỏa hiệp về vấn đề TriềuTiên và Đông Dương, Trung Quốc tập trung vào xây dựng kinh tế, quốc phòng với mongmuốn sớm trở thành một cường quốc ở châu Á - Thái Bình Dương Về đối ngoại, TrungQuốc quan tâm hàng đầu đến việc mở rộng ảnh hưởng, tập hợp lực lượng trong các nướcvừa mới giành độc lập ở Á, Phi, đặc biệt là ở Nam Á, Đông Nam Á - khu vực láng giềng
kề cận phía Nam và phía Tây của mình Vì thế, ngay từ khi Mỹ đưa quân can thiệp vàoChiến tranh Triều Tiên (1950), sau đó xây dựng học thuyết con bài dôminô[2], ngày càngdính líu sâu vào Đông Dương, phong toả, bao vây cấm vận Trung Quốc, khôi phục NhậtBản, biến nước này thành đồng minh lớn của Mỹ ở khu vực, Trung Quốc đã ý thức mộtcách sâu sắc mối nguy hiểm, sự đe dọa của Mỹ đối với lợi ích quốc gia của mình TrungQuốc ủng hộ Việt Nam chống Mỹ, ngoài đóng góp thiết thực cho phong trào cách mạngthế giới, ngoài vấn đề ý thức hệ và lợi ích chống chủ nghĩa đế quốc, bảo vệ hoà bình, còn
có ý nghĩa chiến lược trực tiếp: Mỹ là kẻ thù của Trung Quốc, tiến hành chiến tranh sátnách Trung Quốc, đe dọa trực tiếp an ninh của Trung Quốc từ phía Nam Giúp Việt Namchống Mỹ, Trung Quốc có lợi ích kiềm chế Mỹ, bảo đảm an ninh của Trung Quốc, bảo
Trang 27đảm một số điều kiện cho Trung Quốc nhanh chóng trỗi dậy trở thành cường quốc ở khuvực.
Như vậy, lợi ích chiến lược chung tương đồng, lợi ích riêng của mỗi quốc gia đã làm choviệc củng cố quan hệ hữu nghị giữa hai nước Việt – Trung không những là cần thiết, màcòn trở nên cấp thiết Nhất quán trong toàn bộ cuộc kháng chiến, Đảng và Chính phủ ViệtNam luôn đặt mục tiêu củng cố, không ngừng xây dựng, phát triển quan hệ với TrungQuốc, tranh thủ tối đa sự ủng hộ vật chất và tinh thần
2 Linh hoạt và mềm dẻo trong củng cố quan hệ hữu nghị với Trung Quốc
Tuy có lợi ích chiến lược, lợi ích quốc gia làm mẫu số chung để không ngừng củng cố,tăng cường quan hệ Việt – Trung, song, không phải trong mọi điều kiện, mọi hoàn cảnh,mọi giai đoạn của cuộc kháng chiến, quan hệ Việt – Trung đều “xuôi chiều, mát mát".Trong những tình huống nhạy cảm ấy, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn cố gắng ở mức
độ cao nhất, bình tĩnh, tỉnh táo phân tích tình hình, thực hiện nhất quán đường lối đoànkết quốc tế, đưa ra những biện pháp mềm dẻo, linh hoạt, song giữ vững nguyên tắc
Từ sau năm 1954, khi đạt được những thỏa hiệp về vấn đề Triều Tiên và Đông Dương,Trung Quốc tập trung vào xây dựng kinh tế, quốc phòng, lo ngại rằng, nếu Việt Nam phátđộng đấu tranh vũ trang ở miền Nam, chiến tranh có thể mở rộng, có khả năng kéo TrungQuốc đụng độ với Mỹ một lần nữa Đối với phong trào đấu tranh cách mạng ở miềnNam, Trung Quốc khuyên Việt Nam "trường kỳ mai phục", "chờ đợi thời cơ" không nênđấu tranh vũ trang ở miền Nam, chỉ đấu tranh chính trị, càng không nên đưa lực lượngquân sự miền Bắc vào miền Nam[3] Trước tình hình đó, Việt Nam tôn trọng ý kiến củaTrung Quốc, song giữ vững đường lối độc lập, tự chủ, tranh thủ thuyết phục
Thời điểm những năm 1960 - 1970, quan hệ Việt – Trung đứng trước nhiều thách thức:Trung Quốc tiến hành cách mạng văn hóa; Mỹ mở rộng chiến tranh ở Việt Nam và bắtđầu kiếm tìm tín hiệu từ phía Trung Quốc; Trung Quốc, Liên Xô mâu thuẫn, bất đồng,Trung Quốc muốn lôi kéo Việt Nam trong tầm kiểm soát và ảnh hưởng của mình Trước