Ngoài mặt tích cực của thuốc BVTV là tiêu diệt các sinh vật gây hại cây trồng, bảo vệ sản xuất, thuốc trừ sâu còn gây nhiều hậu quả nghiêm trọng như phá vỡ quần thể sinh vật trên đồng ru
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Khoa học môi trường
Khóa học : 2011 - 2015
Thái Nguyên, năm 2015
Trang 2KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Khoa học môi trường
Khóa học : 2011 - 2015
Giáo viên hướng dẫn : TS Nguyễn Chí Hiểu
Thái Nguyên, năm 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Thực tập tốt nghiệp là một giai đoạn cần thiết và hết sức quan trọng của mỗi sinh viên, đó là thời gian để sinh viên tiếp cận với thực tế, nhằm củng cố
và vận dụng những kiến thức mà mình đã đọc được trong nhà trường
Được sự nhất trí của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Môi Trường, em đã về thực tập tại UBND Xã Cổ Lũng-huyện Phú Lương- TỈNH Thái Nguyên Đến nay em đã hoàn thành quá trình thực tập tốt nghiệp Lời đầu, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Ban chủ nhiệm khoa và tập thể thầy, cô giáo trong khoa Môi Trường đã tận tình giúp đỡ và dìu dắt em trong suốt quá trình thực tập
Ban lãnh đạo và toàn thể các cán bộ công nhân viên của UBND xã Cổ Lũng đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập tại cơ sở
Đặc biệt em xin chân thành cảm ơn sự quan tâm, chỉ đạo tận tình của thầy giáo hướng dẫn : TS Nguyễn Chí Hiểu đã giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Cuối cùng, em xin được gửi đến gia đình, bạn bè đã động viên giúp đỡ
và tạo niềm tin cho em trong quá trình học tập, nghiên cứu cũng như trong thời gian thực hiện đề tài những lời cảm ơn chân thành nhất
Xin chân thành cảm ơn!
Thái nguyên, ngày 20 tháng 05 năm 2014
Sinh viên
Hà Thị Ngân
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Bảng phân loại độ độc của thuốc trừ dịch hại theo quy định
của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) 8 Bảng 2.2 Bảng phân loại nhóm độc của thuốc trừ dịch hại theo WHO 8 Bảng 2.3 Bảng phân loại độ độc thuốc BVTV ở Việt Nam và các hiện
tượng về độ độc cần ghi trên nhãn theo WHO 9 Bảng 4.1 Các loại thuốc BVTV được sử dụng nhiều trên địa bàn xã 39 Bảng 4.2 Lượng thuốc BVTV người dân sử dụng trong vụ xuân năm 2015 40 Bảng 4.3 Lượng thuốc BVTV người dân sử dụng trong vụ mùa năm
2014 - 2015 41 Bảng 4.4 Kết quả điều tra, phỏng vấn người dân về việc chọn thời tiết và
hướng gió khi phun thuốc BVTV 42 Bảng 4.5 Kết quả điều tra, phỏng vấn người dân về điều kiện đảm bảo
sức khỏe khi phun 44 Bảng 4.6 Kết quả điều tra, phỏng vấn người dân về việc sử dụng bảo hộ
lao động 45 Bảng 4.7 Kết quả điều tra, phỏng vấn người dân về cách pha thuốc
BVTV 46 Bảng 4.8 Kết quả điều tra, phỏng vấn người dân về thời điểm sử dụng
thuốc BVTV 46 Bảng 4.10 Kết quả điều tra, phỏng vấn người dân về cách xử lý bao bì
thuốc BVTV sau khi sử dụng 48 Bảng 4.11 Kết quả điều tra, phỏng vấn về thái độ của người dân đối với
hành vi vứt bao bì hóa chất bừa bãi 49 Bảng 4.12 Kết quả điều tra, phỏng vấn người dân về nguyên nhân của
việc vứt bao bì thuốc BVTV bừa bãi 50
Trang 5Bảng 4.13 Kết quả điều tra, phỏng vấn người dân về cách xử lý lượng
thuốc BVTV dư thừa sau sử dụng 51 Bảng 4.14 Kết quả điều tra, phỏng vấn người dân về các triệu chứng khi
sử dụng thuốc BVTV 52 Bảng 4.15 Kết quả điều tra, phỏng vấn người dân về một số bệnh thường gặp 53 Bảng 4.16 Kết quả điều tra, phỏng vấn người dân về hiện trạng môi
trường đất khu vực nghiên cứu 55 Bảng 4.17 Kết quả điều tra, phỏng vấn người dân về hiện trạng môi
trường nước, không khí tại khu vực nghiên cứu 55 Bảng 4.18 Kết quả điều tra, phỏng vấn người dân về hiện trạng hệ sinh
thái đồng ruộng 56 Bảng 4.19 Kết quả điều tra, phỏng vấn người dân về mức độ tham gia các
hoạt động hướng dẫn sử dụng thuốc BVTV ở địa phương 58 Bảng 4.20 Kết quả điều tra, phỏng vấn người dân về công tác quản lý
thuốc BVTV ở địa phương 58
Trang 6DANH MUCÁC HÌNH
Hình 4.1 Tỷ lệ thuốc BVTV sử dụng đối với các loại cây trồng năm
2014-2015 41 Hình 4.2 Tỷ lệ người dân chọn thời tiết phun thuốc BVTV 43 Hình 4.3 Tỷ lệ về thái độ của người dân đối với hành vi vứt bao bì thuốc
BVTV 49 Hình 4.4 Tỷ lệ người dân có các triệu chứng khi sử dụng thuốc BVTV 52 Hình 4.5 Tỷ lệ một số bệnh thường gặp ở người dân 54
Trang 8MỤC LỤC
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục đích, yêu cầu của đề tài 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài 3
1.4.Yêu cầu của đề tài 3
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
2.1.1 Cơ sở lý luận 4
2.1.2 Cơ sở pháp lý 6
2.2 Giới thiệu chung về thuốc BVTV 7
2.2.1 Phân loại độ độc của thuốc BVTV 7
2.2.2 Vai trò của thuốc BVTV 9
2.2.3.Một số điểm cần lưu ý khi sử dụng thuốc BVTV 11
2.3 Những vấn đề chung về thuốc BVTV 11
2.3.1 Công tác quản lý và sử dụng thuốc BVTV trên thế giới 11
2.3.2 Công tác quẩn lý và sử dụng thuốc BVTV tại Việt Nam 14
2.4 Tác động của thuốc BVTV tới môi trường và hệ sinh thái 22
2.4.1 Ảnh hưởng của thuốc BVTV tới đất và vi sinh vật đất 23
2.4.2 Ảnh hưởng của thuốc BVTV tới môi trường nước 24
2.4.3 Ảnh hưởng của thuốc BVTV tới môi trường không khí 24
2.4.4 Tác động của thuốc BVTV đến cây trồng 24
2.4.5 Ảnh hưởng của thuốc BVTV đối với người và động vật 25
2.4.6 Ảnh hưởng của thuốc BVTV tới thiên địch 26
Trang 9PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
3.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 27
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 27
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 27
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 27
3.2.1 Địa điểm nghiên cứu 27
3.2.2 Thời gian nghiên cứu 27
3.3 Nội dung nghiên cứu 27
3.2.1 Địa điểm nghiên cứu 27
3.4.2 Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu thứ cấp và tổng hợp đánh giá 28
3.4.3 Phương pháp khảo sát thực địa 28
3.4.4 Phương pháp điều tra phỏng vấn 28
3.4.5 Phương pháp phân tích và tổng hợp số liệu 28
3.4.6 Phương pháp so sánh 29
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 30
4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Cổ Lũng 30
4.1.1 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên 30
4.1.2 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội 33
4.2 Đánh giá hiện trạng sử dụng thuốc BVTV tại xã Cổ Lũng – Huyện Phú Lương- Tỉnh Thái Nguyên 38
4.2.1 Khối lượng thuốc BVTV người dân sử dụng 38
4.2.2 Cách sử dụng thuốc BVTV 42
4.2.3 Thời điểm sử dụng thuốc BVTV 46
4.2.4 Nguồn gốc của thuốc BVTV 47
4.2.5 Đánh giá công tác thu gom bao bì thuốc BVTV sau khi sử dụng 48
4.3 Đánh giá tác động của thuốc BVTV tới sức khỏe người dân và môi trường 51
4.3.1 Tác động của thuốc BVTV tới sức khỏe của người dân 51
Trang 104.3.2 Tác động của thuốc BVTV tới môi trường 55
4.4 Đánh giá công tác quản lý việc sử dụng thuốc BVTV 57
4.5 Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiểu biết cho người dân, nâng cao hiệu quả công tác quản lý và sử dụng thuốc BVTV 59
4.5.1 Giưải pháp quản lý 59
4.5.2 Giải pháp xử lý 60
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 62
5.1 Kết luận 62
5.2 Kiến nghị 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO 65
Trang 11PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Nước ta là một nước phần lớn dân cư sống bằng canh tác nông nghiệp chiếm khoảng 70%, diện tích đất nông nghiệp đến thời điểm hiện nay là 9 triệu
ha trong đó có trên 4 triệu ha đất trồng lúa Để đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng do việc bùng nổ dân số, cùng với xu hướng đô thị hóa và công nghiệp hóa ngày càng mạnh, con người chỉ còn một cách duy nhất là thâm canh
để tăng sản lượng cây trồng Với điều kiện khí hậu nhiệt đới nóng và ẩm như nước ta thuận lợi cho sự phát triển của cây trồng nông nghiệp, nhưng cũng rất thuận lợi cho sự phát sinh, phát triển của sâu bệnh, cỏ dại gây hại mùa màng
Do vậy việc sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật (BVTV) để phòng trừ sâu hại, dịch bệnh bảo vệ mùa màng, giữ vững an ninh lương thực quốc gia vẫn là một biện pháp quan trọng và chủ yếu Cùng với phân bón hóa học, thuốc BVTV là yếu tố rất quan trọng để bảo đảm an ninh lương thực quốc gia Các hóa chất thuốc bảo vệ thực vật, thuốc trừ sâu đã được sử dụng rộng rãi ở nước ta từ đầu những năm 1960 Từ đó đến nay, thuốc BVTV vẫn gắn liền với tiến bộ sản xuất công nghiệp, quy mô, số lượng, chủng loại ngày càng tăng Đã có hơn
100 loại thuốc được đăng ký sử dụng ở nước ta Ngoài mặt tích cực của thuốc BVTV là tiêu diệt các sinh vật gây hại cây trồng, bảo vệ sản xuất, thuốc trừ sâu còn gây nhiều hậu quả nghiêm trọng như phá vỡ quần thể sinh vật trên đồng ruộng, tiêu diệt sâu bọ có ích (thiên địch), tiêu diệt tôm cá, xua đuổi chim chóc, phần tồn dư của thuốc bảo vệ thực vật trên các sản phẩm nông nghiệp, rơi xuống nước bề mặt, ngấm vào đất, di chuyển vào nước ngầm, phát tán theo gió gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng tới sức khỏe con người
Trang 12Việc lạm dụng và thói quen thiếu khoa học trong bảo quản và sử dụng thuốc BVTV của người dân đã gây tác động rất lớn đến môi trường Nhiều nhà nông do thiếu hiểu biết đã thực hiện phương châm “phòng bệnh hơn chữa bệnh” đã sử dụng thuốc BVTV theo kiểu phòng ngừa định kỳ vừa tốn kém lại tiêu diệt nhiều loài có ích, gây kháng thuốc với sâu bệnh, càng làm cho sâu bệnh hại phát triển thành dịch
và lượng thuốc BVTV được sử dụng càng tăng Những năm gần đây vấn đề ô nhiễm môi trường trong sản xuất nông nghiệp ở nước ta đã được các nhà khoa học, nhà bảo
vệ môi trường (BVMT) quan tâm Tuy nhiên, thực trạng này ngày càng trầm trọng
và đã trở thành “vấn nạn” vì luôn thiếu các biện pháp và chế tài cụ thể
Vì vậy, để đưa ra được các biện pháp khắc phục tình trạng lạm dụng thuốc BVTV hiện nay thì việc tìm hiểu hiện trạng và sự hiểu biết của người dân về việc sử dụng thuốc BVTV trong sản xuất nông nghiệp tại xã Cổ Lũng nói riêng và ở Việt Nam nói chung là rất quan trọng
Xuất phát từ những yêu cầu thực tế trên và được sự đồng ý của Ban giám hiệu nhà trường, ban chủ nhiệm khoa Tài nguyên và Môi trường, dưới
sự hướng dẫn của thầy giáo Nguyễn chí Hiểu, em tiến hành thực hiện đề tài :
"Đánh giá công tác quản lý và tình hình sử dụng thuốc BVTV trên địa bàn
xã Cổ Lũng-Huyện Phú Lương- Tỉnh Thái Nguyên "
1.2 Mục đích, yêu cầu của đề tài
1.2.1 Mục tiêu chung
- Đánh giá tình hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trên cây trồng chính tại Xã Cổ Lũng
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Tình hình sản xuất nông nghiệp toàn xã
- Đánh giá hiện trạng sử dụng thuốc BVTV của người dân tại khu vực
nghiên cứu
- Đánh giá công tác thu gom vỏ bao bì thuốc BVTV và ô nhiễm môi trýờng do thuốc BVTV tồn lýu tại khu vực nghiên cứu
Trang 13- Trên cơ sở đó đề xuất ra các biện pháp nhằm giảm thiểu ô nhiễm do thuốc BVTV, nâng cao ý thức người dân địa phương cũng như hiệu quả công tác quản lý thuốc BVTV tại địa phương
1.3 Ý nghĩa của đề tài
Ý nghĩa học tập và nghiên cứu khoa học
- Nâng cao kiến thức kỹ năng, tích lũy được kinh nghiệm và rút ra bài học kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công tác sau này
- Vận dụng và phát huy được các kiến thức đã học tập vào nghiên cứu
Ý nghĩa thực tiến
- Đánh giá được hiện trạng sử dụng thuốc BVTV tại xã Cổ Lũng
- Đánh giá được nhận thức của người dân khi sử dụng thuốc BVTV
trong sản xuất nông nghiệp
- Đưa ra được các tác động của thuốc BVTV đối với sức khỏe con
người và hệ sinh thái (HST)
- Đưa ra nhận xét ban đầu về tình hình sử dụng thuốc BVTV và mức độ ảnh hưởng của thuốc đối với môi trường tại xã
- Hướng dẫn nông dân sử dụng thuốc BVTV một cách hợp lý, góp phần giảm chi phí dùng thuốc, bảo vệ môi trường sống và sức khỏe của người dân nông thôn
- Tạo cơ sở đề xuất được các biện pháp quản lý và sử dụng thuốc BVTV một cách phù hợp
- Nâng cao nhận thức, tuyên truyền và giáo dục về bảo vệ môi trường cho người dân địa phương
1.4.Yêu cầu của đề tài
- Số liệu thu thập phải có tính chính sác, khách quan, trung thực
- Những đề xuất phải có tính khả thi, phù hợp với thực trạng của địa phương
- Nắm được thực trạng sử dụng thuốc BVTV tại xã Cổ Lũng
Trang 14Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1 Cơ sở lý luận
Một số khái niệm và thuật ngữ liên quan
* Khái niệm về môi trường
Môi trường: là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác
động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật.(Theo Điều 3, khoản 1, luật bảo vệ môi trường Việt Nam 2014)
Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV)( Nguyễn Trần Oánh và cs (2007), Giáo trình
sử dụng thuốc BVTV, nhà xuất bản Nông Nghiệp, Hà Nội) [ 9 ] hay nông dược là những chất độc có nguồn gốc từ tự nhiên hay hóa chất tổng hợp được dùng để bảo vệ cây trồng và nông sản, chống lại sự phá hoại của sinh vật gây hại đến tài nguyên thực vật Những sinh vật gây hại chính gồm nhiều nhóm khác nhau, gọi theo tên nhóm sinh vật gây hại, như thuốc trừ sâu dùng để trừ sâu hại, thuốc trừ bệnh dùng để trừ bệnh cây…
Thuốc BVTV bao gồm cả những chất có tác dụng điều hoà sinh trưởng cây trồng, chất kích thích cây trồng, chất làm rụng và khô lá hoặc các chất dùng trước hay sau thu hoạch để đảm bảo sản phẩm không bị hư hại trong khi chuyên chở hay bảo quản
* Khái niệm về chất độc
- Chất độc(Lê Huy Bá 2008)[6]: là bất cứ chất nào có thể gây ra các hiệu
ứng xấu, thậm chí gây tử vong cho người, sinh vật và hệ sinh thái
* Khái niệm về độc tính
- Độc tính[6]: Là khả năng gây độc của một chất đối với cơ thể sinh vật
ở một lượng nhất định của chất độc đó Theo từ điển Bách khoa Việt Nam: Độc tính là tính gây độc của một chất đối với cơ thể sinh vật Độc tính được chia ra các dạng:
Trang 15+ Độc cấp tính: Nguy cấp có thể chết tức thời, ngắn hạn, thường đối với
liều lượng cao hoặc nồng độ cao như khi đổ hóa chất, thoát chất độc hại ra không khí, kí hiệu LD50 (letal dosis 50), biểu thị lượng chất độc (mg) đối với
1 kg trọng lượng cơ thể có thể gây chết 50% cá thể vật thí nghiệm (thường là chuột hoặc thỏ) Nếu chất độc lẫn với không khí (hơi độc, hay ở trong nước) thì được kí hiệu LC50 (letal concentration 50) biểu thị lượng chất độc (mg) trong 1m3 không khí hoặc 1 lít nước có thể gây chết 50% cá thể thí nghiệm
LD50 và LC50 càng thấp chứng tỏ độ độc cấp tính càng cao
+ Độc mạn tính (độc trường diễn): chỉ khả năng tích luỹ chất độc trong
cơ thể, khả năng gây đột biến, gây ung thư hoặc quái thai, dị dạng
-Tính độc (độc tính): là khả năng gây độc của một chất đối với cơ thể
sinh vật ở một lượng nhất định của chất độc đó
- Độ độc: biểu thị mức độ của tính độc, là liều lượng nhất định của chất
độc cần có để gây được một tác động nào đó trên cơ thể sinh vật khi chúng xâm nhập vào cơ thể sinh vật
- Liều lƣợng [6]: là lượng chất độc cần thiết được (tính bằng mg hay g)
để gây được một tác động nhất định trên cơ thể sinh vật
* Khái niệm dư lượng của thuốc bảo vệ thực vật
- Dƣ lƣợng của thuốc bảo vệ thực vật là phần còn lại của hợp chất, các
sản phẩm chuyên hóa và thành phần khác có trong thuốc, tồn tại trên cây trồng, nông sản, đất, nước sau một thời gian dưới tác động của các hệ sống và điều kiện ngoại cảnh Dư lượng của thuốc được tính bằng mg (miligam) thuốc
có trong 1 kg nông sản, đất hay nước (mg/kg)
Như vậy, dư lượng thuốc BVTV bao gồm bất kỳ dẫn xuất nào của thuốc cung như các sản phẩm chuyển hóa của chúng có thể gây độc cho môi sinh, môi trường Dư lượng có thể có nguồn gốc từ những chất đã xử lý vào đất hay trên bề mặt vật phun, phần khác lại bắt nguồn từ sự ô nhiễm (biết hay không biết) có trong không khí đất và nước
Trang 16Theo tiêu chuẩn GlobalGap của EU, dư lượng thuốc bảo vệ nông sản viết tắt là MRL (Maximum Residua Limit) là một giới hạn tối đa dư lượng thuốc bảo vệ thực vật (biểu hiện bằng mg/kg), là nồng độ cao nhất của dư lượng thuốc có trong một đơn vị sản phẩm rau quả mà ở đó có thể chấp nhận MRL dựa trên dữ liệu GAP và sản phẩm cây trồng và nó phải thỏa mãn MRL
ở mức độ độc tính có thể chấp nhận được
* Khái niệm ô nhiễm môi trường
- Ô nhiễm môi trường: Là sự biến đổi của các thành phần môi trường
không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người,
- Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT ngày 14/04/2011 Quy định về quản
lý chất thải nguy hại
- Thông tư số 21/2013/TT-BNNPTNT Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng, hạn chế sử dụng, cấm sử dụng ở Việt Nam
- Thông tư số 77/2009/TT-BNNPTNT ngày 10/12/2009 qui định về kiểm tra nhà nước chất lượng thuốc bảo vệ thực vật nhập khẩu
- Nghị định 58 ban hành năm 2002về “Hướng dẫn thi hành pháp lệnh về Bảo vệ và Kiểm dịch thực vật”, trong đó có “Điều lệ Bảo vệ thực vật
- Nghị định số 26/2003/NĐ-CP “Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Bảo vệ và kiểm dịch thực vật”
Trang 17- Quyết định 63/2007/QĐ-BNN của Bộ NN&PTNT về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định về Quản lý thuốc bảo vệ thực vật ban hành theo Quyết định 89/2006/QĐ-BNN ngày 02/10/2006 của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT
- Quyết định số 89/2006/QĐ-BNN ngày 02/10/2006 về việc Ban hành về quy định về quản lý thuốc bảo vệ thực vật
- Quyết định số 184/2006/QĐ-TTg ngày 10/8/2006 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt kế hoạch quốc gia thực hiện công ước Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy
2.2 Giới thiệu chung về thuốc BVTV
Chủng loại thuốc BVTV đang sử dụng ở Việt Nam rất đa dạng Hiện nay, nhiều nhất vẫn là hợp chất lân hữu cơ, Chlor hữu cơ, nhóm độc từ Ia, Ib, đến II
và III, sau đó là các nhóm carbamat và pyrethroid
Theo báo cáo của Bộ thương mại thì hàng năm, mức tiêu thụ thuốc BVTV trong nước khoảng 1,5 triệu tấn, không kể một số lượng không nhỏ được nhập cảng lậu qua đường biên giới mà chính quyền không thể kiểm soát
được Theo thông tư 21/2013/TT-BNNPTNT ngày 17 tháng 04 năm 2013 của
Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn thì danh mục thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) được phép sử dụng có 1.643 hoạt chất, danh mục thuốc BVTV hạn chế sử dụng có 12 hoạt chất, danh mục thuốc BVTV cấm sử dụng có 29 hoạt chất khác nhau
2.2.1 Phân loại độ độc của thuốc BVTV
Các nhà sản xuất thuốc BVTV luôn ghi rõ độc tính của từng loại, đơn
vị đo lường được biểu thị dưới dạng LD50 (Lethal Dose 50) và tính bằng mg/kg cơ thể Các loại thuốc BVTV được chia mức độ độc như sau:
Trang 18Bảng 2.1 Bảng phân loại độ độc của thuốc trừ dịch hại
theo quy định của Tổ chức Y tế thế giới (WHO)
- Liều 5mg/kg thể trọng tương đương một số giọt uống hay nhỏ mắt
- Liều 5-50mg/kg thể trọng tương đương một thìa cà phê
- Liều 50-500mg/kg thể trọng tương đương hai thìa súp
Bảng 2.2 Bảng phân loại nhóm độc của thuốc trừ dịch hại theo WHO
Nhóm độc
(III)
Cảnh báo (IV)
> 7 ngày
Đục màng sừng mắt và gây ngứa niêm mạc 7 ngày
Gây ngứa niêm mạc
Không gây ngứa niêm mạc Phản ứng da Mẩn ngứa da kéo
dài Mẩn ngứa 72 giờ
Mẩn ngứa nhẹ 72 giờ
Phản ứng nhẹ
72 giờ
(Nguồn: Nguyễn Trần Oánh và cs, giáo trình sử dụng thuốc BVTV)[9]
Trang 19Bảng 2.3 Bảng phân loại độ độc thuốc BVTV ở Việt Nam và các hiện
tƣợng về độ độc cần ghi trên nhãn theo WHO
Nhóm
Vạch màu
LD 50 đối với chuột (mg/kg)
Thể lỏng Nhóm
Đầu lâu xương chéo trong hình thoi vuông trắng
Đỏ ≤ 50 ≤ 200 ≤ 100 ≤ 400
Nhóm
Chữ thập chéo trong hình thoi vuông trắng
Vàng > 50 -
500
> 2.000
200> 100 1.000
-> 4.000
Xanh nước biển
500 - 2.000
>2.000 3.000 > 1.000 > 4.000
-Cẩn thận Không biểu tượng Xanh
lá cây > 2.000 > 3.000 > 1.000 > 4.000
(Nguồn: Nguyễn Trần Oánh và cs, giáo trình sử dụng thuốc BVTV)[9]
2.2.2 Vai trò của thuốc BVTV
Để ngăn chặn có hiệu quả sự phá hoại của nhiều dịch hại, chúng ta đã sử dụng hàng loạt những biện pháp kỹ thuật riêng rẽ như: canh tác kỹ thuật, vật
lý cơ giới… Đặc biệt là phương pháp hóa học Rõ ràng cho đến nay vai trò của thuốc BVTV là không thể phủ nhận, nó đóng góp một vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ sản xuất lương thực, thực phẩm, đáp ứng dinh dưỡng cho dân số đang ngày một gia tăng Ở Việt Nam vai trò của thuốc BVTV cũng thể hiện rõ Diện tích canh tác lúa 1995 là 6,7 triệu ha đã tăng lên 7,4
triệu ha và năm 2013 là 7,9 triệu ha (theo tổng cục thống kê, 2013) [4] Sự
tăng này không phải do diện tích trồng lúa tăng mà do tăng vụ Thuốc BVTV
là một trong những nhân tố đảm bảo cho tăng vụ thành công Năm 1993 Việt Nam từ một nước nhập khẩu gạo đã trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ 3 thế giới năm 2005, sau Mỹ và Thái Lan, năm 2013 tiếp tục là nước đứng thứ 2 thế giới vế xuất khẩu gạo sau Ấn Độ (theo FAO, 2012) [3] Trong mấy năm gần đây diện tích trồng lúa bị giảm do chuyển dịch cơ cấu cây trồng, chuyển
Trang 20dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp song sản lượng lúa vẫn đảm bảo cho việc xuất khẩu gạo theo kế hoạch, do các tiến độ đưa vào sản xuất ngày một nhiều, trong đó phải kể đến công tác giống và các biện pháp BVTV
Cũng theo WTO nếu canh tác tốt và sử dụng thuốc hợp lý sẽ làm tăng sản lượng cây trồng, nhưng khi sử dụng thuốc BVTV quá mức th́ h ạn chế hiệu quả của các yếu tố Tương quan giữa lượng thuốc sử dụng và lợi ích không theo tỷ lệ thuận Tuy nhiên nhiều nhà khoa học vẫn khẳng định vai trò không thể thiếu của thuốc BVTV trong sản xuất nông nghiệp (theo WHO, 1990) [5] Thuốc BVTV hóa học là phương tiện không thể thiếu trong thâm canh trồng trọt và chưa có nhà khoa học nghiêm túc nào trên thế giới giám dự đoán thời điểm không sử dụng thuốc hóa học BVTV (theo Phạm Văn
Lầm,1997)
2.2.2.1 Ưu điểm của thuốc BVTV hóa học
Chúng ta không thể phủ nhận sự cần thiết của thuốc BVTV trong sản xuất nông nghiệp của nước ta cũng như nhiều nước trên thế giới Chúng ta đều rõ, thuốc BVTV nếu sử dụng đúng sẽ mang lại lợi ích thiết thực cho người sản xuất như:
- Tiêu diệt dịch hại nhanh, triệt để và chắc chắn
- Trong một thời gian rất ngắn có thể sử dụng trên diện tích rộng với các phương tiện rải thuốc tiên tiến nhất
- Chặn đứng được dịch hại, nhất là những trường hợp dịch hại phát sinh thành dịch, đe dọa nghiêm trọng đến năng suất cây trồng mà các biện pháp khác không thể ngăn cản nổi
- Mang lại hiệu quả kinh tế cao, bảo vệ năng suất, giá trị thẩm mĩ của nông sản
2.2.2.2 Nhược điểm của biện pháp dùng thuốc hóa học trong BVTV
Bên cạnh những ưu điểm đó ta không thể không nhắc đến những hậu quả
mà thuốc BVTV gây ra, có thể kể ra đây những hậu quả như sau:
Trang 21- Gây ô nhiễm môi trường, đầu độc bầu khí quyển, ảnh hưởng đến mọi sinh vật
- Dư lượng thuốc tồn đọng trong nông sản, thực phẩm, đất, nước, gây ảnh hưởng xấu đến hoạt động sống của con người và các động vật khác
- Hình thành nên tính kháng thuốc của dịch hại, hoặc phát sinh những loài dịch hại mới… gây khó khăn cho công tác phòng trừ
2.2.3.Một số điểm cần lưu ý khi sử dụng thuốc BVTV
- Nghiêm cấm sử dụng các loại thuốc BVTV trong danh mục thuốc BVTV cấm
- sử dụng ở Việt Nam, các loại thuốc không rõ nguồn gốc, xuất xứ; các loại
thuốc không có nhãn hoặc có nhãn chỉ ghi bằng tiếng nýớc ngoài
- Sử dụng thuốc BVTV đúng với hướng dẫn đã được ghi trên nhãn thuốc
- Sử dụng thuốc BVTV phải đảm bảo nguyên tắc 4 đúng (đúng thuốc, đúng lúc, đúng liều lượng và nồng độ, đúng cách) và phải tuân thủ thời gian
cách ly đã được ghi trên nhãn
- Độc với cơ thể sinh vật: Tác động đến hệ thần kinh làm sinh vật bị tê
liệt và dẫn tới tử vong
- Tồn dư lâu dài trong đất, nước qua chuỗi thức ăn sẽ xâm nhập vào
cơ thể người gây nhiều rối loạn và phát triển thành bệnh như ung thư,
viêm loét ngoài da…
2.3 Những vấn đề chung về thuốc BVTV
2.3.1 Công tác quản lý và sử dụng thuốc BVTV trên thế giới
Trước thế kỷ 20 : Với trình độ canh tác lạc hậu, các giống cây trồng có năng suất thấp, tác hại của dịch hại còn chưa lớn Để bảo vệ cây, người ta dựa vào các biện pháp canh tác, giống sẵn có Sự phát triển nông nghiệp trông chờ vào sự may rủi
Tuy nhiên, từ lâu, con người cũng đã biết sử dụng các loài cây độc và lưu huỳnh trong tro núi lửa để trừ sâu bệnh Từ thế kỷ19, hàng loạt sự kiện
Trang 22đáng ghi nhớ, tạo điều kiện cho biện pháp hoá học ra đời Benediet Prevest (1807) đã chứng minh nước đun sôi trong nồi đồng có thể diệt bào tử nấm than đen Ustilaginales 1848 lưu huỳnh được dùng để trừ bệnh phấn trắng Erysiphacea hại nho; dung dịch boocđô ra đời năm 1879; lưu huỳnh vôi dùng trừ rệp sáp Aspidiotus perniciosushại cam (1881) Mở đầu cho việc dùng các chất xông hơi trong BVTV là sự kiện dùng HCN trừ rệp vảy Aonidiella aurantiihại cam (1887) Năm 1889, aseto asenat đồng được dùng trừ sâu Leptinotarsa decemeatas hại khoai tây; 1892 gipxin (asenat chì) để trừ sâu ăn quả, sâu rừng Porthetria dispr Nửa cuối thế kỷ19 cacbon disulfua (CS2) được dùng để chống chuột đồng và các ổ rệp Pluylloxera hại nho Nhưng biện pháp hoá học lúc này vẫn chưa có một vai trò ñáng kểtrong sản xuất nông nghiệp
Từ đầu thế kỷ20 đến năm 1960): Các thuốc trừdịch hại hữu cơ ra đời, làm thay đổi vai trò của biện pháp hoá học trong sản xuất nông nghiệp Ceresan - thuốc trừ nấm thuỷ ngân hữu cơ đầu tiên (1913); các thuốc trừ nấm lưu huỳnh (1940); rồi đến các nhóm khác Thuốc trừ cỏ còn xuất hiện muộn hơn (những năm 40 của thếkỷthếkỷ20) Việc phát hiện khả năng diệt côn trùng của DDT (năm 1939) đã mở ra cuộc cách mạng của biện pháp hoá học BVTV Hàng loạt các thuốc trừ sâu ra đời sau đó: clo hữu cơ(những năm 1940-1950); các thuốc lân hữu cơ, các thuốc cacbamat (1945-1950) Lúc này người ta cho rằng: Mọi vấn đề BVTV đều có thể giải quyết bằng thuốc hoá học Biện pháp hoá học bị khai thác ở mức tối đa, thậm chí người ta còn hy vọng, nhờthuốc hoá học ñểloại trừhẳn một loài dịch hại trong một vùng rộng lớn Từcuối những năm 1950, những hậu quả xấu của thuốc BVTV gây ra cho con người, môi sinh và môi trường ñược phát hiện Khái niệm phòng trừ tổng hợp sâu bệnh ra đời
Trang 23Những năm 1960- 1980: Việc lạm dụng thuốc BVTV đã để lại những hậu quả rất xấu cho môi sinh môi trường dẫn đến tình trạng, nhiều chương trình phòng chống dịch hại của nhiều quốc gia và các tổ chức quốc tế dựa vào thuốc hoá học đã bị sụp đổ; tư tưởng sợ hãi, không dám dùng thuốc BVTV xuất hiện; thậm chí có người cho rằng, cần loại bỏ không dùng thuốc BVTV trong sản xuất nông nghiệp Tuy vậy, các loại thuốc BVTV mới có nhiều ưu điểm, an toàn hơn đối với môi sinh môi trường, như thuốc trừ cỏ mới, các thuốc trừ sâu nhóm perethroid tổng hợp (1970), các thuốc trừ sâu bệnh có nguồn gốc sinh học hay tác động sinh học, các chất điều tiết sinh trưởng côn trùng và cây trồng vẫn liên tục ra đời Lượng thuốc BVTV được dùng trên thế giới không những không giảm mà còn tăng lên không ngừng
Từ những năm 1980 đến nay: Vấn đề bảo vệ môi trường được quan tâm hơn bao giờ hết Nhiều loại thuốc BVTV mới, trong đó có nhiều thuốc trừ sâu bệnh sinh học, có hiệu quả cao với dịch hại, nhưng an toàn với môi trường ra đời Vai trò của biện pháp hoá học đã được thừa nhận Tư tưởng sợ thuốc BVTV cũng bớt dần Quan điểm phòng trừ tổng hợp được phổbiến rộng rãi
Mặc dù sự phát triển của biện pháp hoá học có nhiều lúc thăng trầm, song tổng giá trị tiêu thụ thuốc BVTV trên thế giới và số hoạt chất tăng lên không ngừng, số chủng loại ngày càng phong phú Nhiều thuốc mới và dạng thuốc mới an toàn hơn với môi sinh môi trường liên tục xuất hiện bất chấp các qui định quản lý ngày càng chặt chẽ của các quốc gia đối với thuốc BVTV và kinh phí ñầu tư cho nghiên cứu để một loại thuốc mới ra đời ngày càng lớn Trong 10 năm gần đây tổng lượng thuốc BVTV tiêu thụ có xu hướng giảm, nhưng giá trị của thuốc tăng không ngừng Nguyên nhân là cơ cấu thuốc thay đổi: Nhiều loại thuốc cũ, giá rẻ, dùng với lượng lớn, độc với môi sinh môi trường được thay thế dần bằng các loại thuốc mới hiệu quả, an toàn
và dùng với lượng ít hơn, nhưng lại có giá thành cao
Trang 24Tuy vậy, mức đầu tư về thuốc BVTV và cơ cấu tiêu thụ các nhóm thuốc tuỳ thuộc trình độ phát triển và đặc điểm canh tác của từng nước
Theo thống kê của Tổ chức y tế thế giới (WHO), năm 1972 toàn thế giới
sử dụng lượng thuốc BVTV trị giá 7,7 tỷ USD, năm 1985 khoảng 16 tỷ USD, đến năm 1990 sử dụng trên 3 triệu tấn hoạt chất thuốc BVTV, trị giá khoảng
25 tỷ USD Trong đó thuốc trừ cỏ 46%, thuốc trừ sâu 31%, thuốc trừ bệnh 18%, và 5% là các thuốc khác Khoảng 80% thuốc BVTV sản xuất ra được sử dụng ở các nước phát triển Tuy vậy, tốc độ sử dụng thuốc BVTV ở các nước đang phát triển tăng 7-8%/năm, nhanh hơn các nước phát triển (2-4%/năm) Trong đó chủ yếu là các thuốc trừ sâu (chiếm 70%) Đến nay thế giới sản xuất khoảng 4,4 triệu tấn/năm với 2.537 loại thuốc BVTV Những quốc gia
có sản lượng, kim ngạch xuất nhập khẩu và sử dụng thuốc BVTV đứng
hàng đầu thế giới là Trung Quốc và Hoa Kỳ
2.3.2 Công tác quẩn lý và sử dụng thuốc BVTV tại Việt Nam
Trước năm 1957: Biện pháp hoá học hầu như không có vị trí trong sản xuất nông nghiệp Một lượng rất nhỏ sunfat đồng được dùng ở một số đồn điền do Pháp quản lý để trừ bệnh gỉ sắt cà phê và Phytophthoracao su và một
ít DDT được dùng để trừ sâu hại rau Việc thành lập Tổ Hoá BVTV (1/1956) của Viện Khảo cứu trồng trọt đã đánh dấu sự ra đời của ngành Hoá BVTV ở Việt nam Thuốc BVTV được dùng lần đầu trong sản xuất nông nghiệp ở miền Bắc là trừ sâu gai, sâu cuốn lá lớn bùng phát ở Hưng yên (vụ đông xuân 1956-1957) Ở miền Nam, thuốc BVTV được sử dụng từ năm 1962 Thời kỳ bao cấp(1975-1990): Việc nhập khẩu, quản lý và phân phối thuốc do nhà nước độc quyền thực hiện Nhà nước nhập rồi trực tiếp phân phối thuốc cho các tỉnh theo giá bao cấp Bằng màng lưới vật tư nông nghiệp địa phương, thuốc BVTV được phân phối thẳng xuống HTX nông nghiệp Ban Quản trị HTX quản lý và giao cho tổ BVTV hướng dẫn xã viên phòng trị dịch hại trên đồng ruộng Lượng thuốc BVTV dùng không nhiều, khoảng
15000 tấn thành phẩm/ năm
Trang 25với khoảng 20 chủng loại thuốc trừ sâu (chủyếu) và thuốc trừ bệnh Đa phần là các thuốc có độtồn lưu lâu trong môi trường hay có độ độc cao Việc quản lý thuốc lúc này khá dễ dàng, thuốc giảthuốc kém chất lượng không có điều kiện phát triển Song tình trạng phân phối thuốc không kịp thời; đáp ứng không đúng chủng loại, nơi thừa, nơi thiếu, gây tình trạng khan hiếm giả tạo, dẫn đến hiệu quả sử dụng thuốc thấp Mặt khác, người nông dân không có điều kiện lựa chọn thuốc, thiếu tính chủ động và ỷ lại nhà nước Tuy lượng thuốc dùng ít, nhưng tình trạng lạm dụng thuốc BVTV vẫn nảy sinh Để phòng trừ sâu bệnh, người ta chỉ biết dựa vào thuốc BVTV Thuốc dùng tràn lan, phun phòng là phổ biến, khuynh hướng phun sớm, phun định kỳ ra đời, thậm chí dùng thuốc cả vào những thời điểm không cần thiết; tình trạng dùng thuốc sai kỹ thuật nảy sinh khắp nơi; thậm chí người ta còn hy vọng dùng thuốc BVTV để loại trừ hẳn một loài dịch hại ra khỏi một vùng rộng lớn Thuốc đã để lại những hậu quả rất xấu đối với môi trường và sức khoẻ con người Khi nhận ra những hậu quả của thuốc BVTV, cộng với tuyên truyền quá mức về tác hại của chúng đã gây nên tâm lý sợ thuốc Từcuối những năm 80 của thế kỷ 20, đã có nhiều ý kiến đề xuất nên hạn chế, thậm chí loại bỏ hẳn thuốc BVTV; dùng biện pháp sinh học để thay thế biện pháp hoá học trong phòng trừ dịch hại nông nghiệp
Từ 1990 đến nay: Thị trường thuốc BVTV đã thay đổi cơ bản: nền kinh tế từ tập trung bao cấp chuyển sang kinh tế thị trường Năm thành phần kinh tế, đều được phép kinh doanh thuốc BVTV Nguồn hàng phong phú, nhiều chủng loại được cung ứng kịp thời, nông dân có điều kiện lựa chọn thuốc, giá cả khá ổn định có lợi cho nông dân Lượng thuốc BVTV tiêu thụ qua các năm đều tăng Nhiều loại thuốc mới và các dạng thuốc mới, hiệu quả hơn, an toàn hơn với môi trường được nhập Một mạng lưới phân phối thuốc BVTV rộng khắp cả nước đã hình thành, việc cung ứng thuốc đến nông dân
Trang 26rất thuận lợi Công tác quản lý thuốc BVTV được chú ý ñặc biệt và đạt được hiệu quảkhích lệ Nhưng do nhiều nguồn hàng, mạng lưới lưu thông quá rộng
đã gây khó cho công tác quản lý; quá nhiều tên thuốc đẩy người sửdụng khó lựa chọn ñược thuốc tốt và việc hướng dẫn kỹ thuật dùng thuốc cũng gặp không ít khó khăn Tình trạng lạm dụng thuốc, tưt ưởng ỷ lại biện pháp hoá học đã để lại những hậu quả xấu cho sản xuất và sức khoẻ con người Ngược lại, có nhiều người “bài xích” thuốc BVTV, tìm cách hạn chế, thậm chí đòi loại bỏ thuốc BVTV trong sản xuất nông nghiệp và tìm cách thay thế bằng các biện pháp phòng trừ khác Tuy vậy, vai trò của biện pháp hoá học trong sản xuất nông nghiệp vẫn được thừa nhận Để phát huy hiệu quả của thuốc BVTV và sử dụng chúng an toàn, phòng trừ tổng hợp là con đường tất yếu phải đến Phải phối hợp hài hoà các biện pháp trong hệ thống phòng trừ tổng hợp; sử dụng thuốc BVTV là biện pháp cuối cùng, khi các biện pháp phòng trừ khác sử dụng không
hiệu quả Trong thời gian này, mối quan hệ quốc tế giữa nước ta với các nước, với các tổchức quốc tế( FAO, WHO, CIRAP) và các tổ chức trong khu vực vốn có nay càng được đẩy mạnh và phát huy tác dụng, giúp chúng ta nhanh chóng hội nhập được với trào lưu chung của thếgiới
Ở nước ta, thuốc BVTV đóng vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, quyết định nhanh chóng dập các dịch bệnh trên diện rộng Nếu không
có thuốc BVTV, nhiều dịch hại cây trồng có thể làm giảm 40% đến 60% năng suất trên diện rộng, có nơi có thể mất trắng Song cũng phải thấy hết những hệ lụy xấu cho môi trường, cho con người, nhất là khi quá lạm dụng nó Việc sử dụng thuốc BVTV đã tăng quá nhanh trong thời gian qua Theo số liệu Cục BVTV trong giai đoạn 1981- 1986, số lượng thuốc sử dụng là 6.500 đến 9.000 tấn, tăng 20 đến 30 nghìn tấn giai đoạn 1991- 2000 và từ 36 đến 75,8 nghìn tấn giai đoạn 2001- 2007 Trong vòng 10 năm (2000-2011) số lượng
Trang 27thuốc BVTV được sử dụng tăng 2,5 lần; số loại thuốc đăng ký sử dụng tăng 4,5 lần và giá trị thuốc nhập khẩu tăng 3,5 lần Số lượng hoạt chất đăng ký sử dụng ở Việt Nam gần 1.000 loại, còn các nước trong khu vực là 400 đến 600 loại (Theo Cục Bảo vệ thực vật, 2010)[2]
Do việc sử dụng thuốc BVTV ngày càng phổ biến và tăng nhanh về số lượng đã gây nên tác đông tiêu cực, làm giảm chất lượng, khả năng cạnh tranh của nông sản Việt Nam Thuốc BVTV làm tăng tính kháng thuốc của sâu bệnh, tiêu diệt ký sinh thiên địch, phá vỡ cân bằng sinh thái làm bộc phát dịch hại cây trồng Sử dụng thuốc BVTV tác động xấu đến môi trường gây ô nhiễm đất
và nước khi sử dụng một tỷ lệ đáng kể thuốc bị rửa trôi và tồn tại trong đất, nguồn nước nhiễm loại thuốc, phu gia bay hơi làm ô nhiễm, tạo mùi hôi, độc không khí, ảnh hương sức khỏe cộng đồng Theo thống kê và tính toán trong cả nước hiện còn tồn 706 tấn thuốc BVTV cần tiêu hủy và 19.600 tấn rác bao bì thuốc BVTV chưa thu gom xử lý Hằng năm, phát sinh số lượng lớn bao bì nhiễm độc khổng lồ này gây ô nhiễm nghiêm trọng nhất là nguồn nước chưa kể bao bì người dân tái
sử dụng gây ngộ độc mãn tính (theo Cục Bảo vệ thực vật, 2010)[2] Một số thực trạng về tình hình sử dụng thuốc BVTV ở nước ta:
- Không đảm bảo thời gian cách ly
Thời gian cách ly là khoảng thời gian tối thiểu kể từ ngày sử dụng thuốc BVTV lần cuối cùng đến ngày thu hoạch sản phẩm trong quá trình trồng trọt hoặc thời gian tối thiểu từ khi sử dụng thuốc BVTV lần cuối cùng đến khi sử dụng sản phẩm trong quá trình bảo quản Trong thời gian này, phân tử thuốc BVTV trên cây trồng hoặc nông sản bị tác động bởi nhiều yếu tố sẽ bị chuyển hóa Lượng chất độc còn lưu tồn trên nông sản sẽ bị giảm xuống dưới mức dư lượng tối đa (MRL), vì vậy không còn gây độc cho người tiêu dùng Nếu dùng thuốc đúng liều lượng khuyến cáo và tôn trọng thời gian cách ly thì dư lượng thuốc tồn tại trên nông sản sẽ nhỏ hơn MRL, do vậy khi sử dụng nông sản đó, lượng thuốc thâm nhập vào cơ thể sễ nhỏ hơn ADI và an toàn cho người sử dụng
Trang 28Đối với từng loại thuốc BVTV, thời gian cách ly sau khi phun thuốc tới khi đưa vào sử dụng được là khác nhau và đã có hướng dẫn cụ thể trên mỗi bao bì sản phẩm Tuy nhiên, thực tế lại cho thấy thời gian cách ly không được thực hiện đúng theo hướng dẫn mà sau khi phun thuốc từ một đến hai ngày là người dân đã mang sản phẩm ra thị trường để tiêu thụ nhất là đối với các loại rau Do đó dư lượng thuốc BVTV tồn tại trên nông sản cao và gây độc cho người tiêu dùng
- Liều lượng sử dụng thuốc BVTV vượt quá mức cho phép
Để việc sử dụng thuốc BVTV đối với các loại nông sản có tác dụng trong việc phòng trừ sâu bệnh hại cây trồng, làm tăng năng xuất và thu nhập cho người nông dân, liều lượng sử dụng thuốc BVTV được người dân sử dụng tùy ý và theo cảm nhận riêng của họ Quan niệm phun càng nhiều với liều lượng cao thì sâu bệnh càng được diệt trừ nhanh, mẫu mã của nông sản càng đẹp mắt và thu hút người mua, từ đó sẽ thu được lơi nhuận cao vẫn còn tồn tại trong suy nghĩ của người dân Mặt khác sự quan tâm của các cơ quan
có thẩm quyền và chính quyền địa phương trong công tác kiểm tra, hướng dẫn vẫn còn hạn hẹp, chưa đi sâu vào quần chúng nên công tác phổ biến cách thức
sử dụng thuốc sao cho đúng liều lượng, đúng cách, đúng lúc và đúng loại thuốc là chưa có Điều đó dẫn tới việc sử dung bừa bãi của người nông dân gây hậu quả xấu tới người sản xuất cũng như người tiêu dùng
Hiện nay, cả nước có 93 nhà máy, cơ sở sản xuất, gia công, sang chai, đóng gói thuốc BVTV và 28.750 đại lý, cửa hàng kinh doanh buôn bán thuốc BVTV
Trên thị trường hiện nay, các loại thuốc BVTV rất đa dạng với nhiều chủng loại khác nhau Việc đăng ký kinh doanh thuốc BVTV đòi hỏi người chủ cửa hàng phải có chứng nhận chuyên môn Tuy nhiên không phải chủ cửa hàng nào cũng đáp ứng được yêu cầu đó Các loại thuốc BVTV bày bán trong
Trang 29cửa hàng lẫn lộn với các loại hạt giống Người bán hàng không có những trang phụ bảo hộ như găng tay, khẩu trang,…khi tiếp xúc với thuốc Điều đó cho thấy họ không hể quan tâm tới tác hại cuat thuốc BVTV tới sức khỏe của chính mình Khi đến mùa vụ, nông dân đến đại lý mua thuốc Nếu chủ đại lý
là người có trình độ thì những khuyến cáo của họ sẽ giúp cho người nông dân rất nhiều tuy nhiên mục đích cuối cùng vẫn là lợi nhuận nên khó biết được những thông tin họ cung cấp có chính xác và hữu ích với người nông dân hay không Điều này ảnh hưởng đến khả năng nhận thức của nông dân về thuốc BVTV Nông dân khó biết được loại thuốc nào tốt, phù hợp với loại cây đang trị bệnh,…trong những năm qua nhà nước đã ban hành hàng loạt các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến công tác quản lý kinh doanh thuốc BVTV
đã tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động quản lý của các cơ quan nhà nước Tuy nhiên, việc quản lý kinh doanh thuốc BVTV vẫn còn nhiều bất cập, nguyên nhân là do việc phân cấp quản lý thị trường không thống nhất, việc quản lý thị trường còn mang tính nhỏ lẻ, chưa chặt chẽ Qua những nhận thức trên, mặc
dù nhà nước đã có nhiều chính sách để quản lý thị trường thuốc BVTV nhưng tình trạng buôn bán thuốc sai quy định, thuốc cấm vẫn diễn ra.PGS Nguyễn Kim Vân cho rằng, việc quản lý và sử dụng thuốc BVTV tại Việt Nam hiện nay vẫn còn tồn tại rất nhiều vấn đề
Đầu tiên là việc lượng thuốc BVTV tại Việt Nam đang tăng quá nhanh Theo PGS Vân, danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng đến năm 2013 đã lên tới 1.643 hoạt chất, trong khi, các nước trong khu vực chỉ có khoảng từ
400 đến 600 loại hoạt chất, như Trung Quốc 630 loại, Thái Lan, Malaysia 400-600 loại
Phó Cục trưởng Cục Quản lý chất thải và Cải thiện môi trường Tổng Cục Môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường ông Hồ Kiên Trung cho biết, nếu như trước năm 1985 khối lượng hóa chất BVTV dùng hàng năm khoảng
Trang 306.500 - 9.000 tấn th́ trong 03 năm gần đây, hàng nămViệt Nam nhập và sử dụng từ 70.000 - 100.000 tấn, tăng gấp hơn 10 lần Điều đáng nói, hầu hết thuốc BVTV tại Việt Nam đều phải nhập khẩu từ nước ngoài Từ năm 2006 đến nay, Việt Nam nhập khẩu bình quân trên 70.000 tấn thành phẩm hàng năm với trị giá từ 210 - 774 triệu USD Trên 90% thuốc BVTV được nhập khẩu từ Trung Quốc Bên cạnh đó, còn có một lượng lớn thuốc BVTV nhập lậu chưa kiểm soát được các loại thuốc BVTV mà Việt Nam đang sử dụng có
độ độc còn cao, nhiều loại thuốc đã lạc hậu
Tình trạng thuốc giả, nhái và thuốc nhập lậu tràn lan trên thị trường cũng
là một vấn đề Ộnhức nhốiỢ trong vấn đề quản lý và sử dụng thuốc BVTV Theo số liệu của thanh tra Cục BVTV, hàng năm lực lượng này đã phát hiện
và xử phạt gần 3.000 trường hợp vi phạm về kinh doanh, sản xuất thuốc BVTV bất hợp pháp với số tiền khoảng 4 tỷ đồng/năm, trong đó có đến 40%
số vi phạm về sản xuất thuốc bất hợp pháp, kinh doanh thuốc cấm, thuốc giả, thuốc BVTV không đạt chất lượng và các vi phạm về nhãn mác, thuốc không
rõ nguồn gốc
Quá lạm dụng thuốc BVTV cũng là một vấn đề lớn trong việc sử dụng
và quản lý thuốc BVTV trong ngành nông nghiệp Theo một con số được đưa
ra bởi các chuyên gia quốc tế hồi tháng 9 vừa qua, có tới 80% thuốc bảo vệ thực vật tại VN đang được sử dụng không đúng cách, không cần thiết và rất lãng phắ kết quả điều tra, thống kê về các điểm tồn lýu hóa chất BVTV từ nãm 2007 đến nãm 2009 đã phát hiện 1.153 khu vực gây ô nhiễm môi trýờng trên địa bàn 35 tỉnh, thành phố
Trong số này, có khoảng 864 khu vực môi trường đất bị ô nhiễm do hóa chất BVTV tồn lưu trên địa bàn 17 tỉnh, thành phố và 289 kho hóa chất bảo
vệ thực vật tồn lưu trên địa bàn 35 tỉnh, thành phố
Trang 31Trong đó, 189 khu vực bị ô nhiễm đặc biệt nghiêm trọng và ô nhiễm nghiêm trọng, 87 khu vực bị ô nhiễm và 588 khu vực đất có ô nhiễm hóa chất BVTV tồn lưu nhưng vẫn chưa đánh giá chi tiết mức độ ô nhiễm
Kết quả điều tra mới đây nhất của các tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương đã phát hiện thêm 409 khu vực bị ô nhiễm môi trường do hóa chất
BVTV tồn lưu Hầu hết nằm ở địa bàn các tỉnh miền Bắc và miền Trung Trước thực trạng trên, vấn đề đặt ra là phải quản lý chặt chẽ lực lượng kinh doanh thuốc BVTV Đã đến lúc tỉnh, huyện phải tổ chức các đoàn kiểm tra liên ngành trong các đợt phòng trừ sâu bệnh tập trung để phát hiện, chấn chỉnh những sai phạm của các tổ chức, cá nhân kinh doanh thuốc BVTV tại địa phương Đặc biệt là phát huy hiệu lực quản lý nhà nước cấp xã về vấn đề này Quy định cụ thể trách nhiệm của UBND xã, thị trấn, trách nhiệm của ban nông nghiệp xã trong quản lý các cửa hàng, đại lý kinh doanh thuốc BVTV, huy động lực lượng xóm trưởng, thôn trưởng vào cuộc để giám sát và vận động nhân dân phát hiện các sai trái trong kinh doanh thuốc BVTV UBND
xã, ban nông nghiệp xã cần tổ chức ký kết cụ thể với lực lượng kinh doanh thuốc BVTV thực hiện theo đúng quy định của Chi cục BVTV; từ đó kiểm tra, giám sát, có biện pháp mạnh đối với những cá nhân có sai phạm, tái sai phạm nhiều lần, kể cả đề nghị với cơ quan chức năng thu giữ giấy phép kinh doanh khi cần thiết
Có làm được như vậy và làm thường xuyên, liên tục mới có thể từng bước làm lành mạnh hóa, công khai hóa hoạt động cung ứng thuốc BVTV trên địa bàn Hiện tại, các HTXNN đều kinh doanh thuốc BVTV nhưng vì nhiều lý do, trong đó có khó khãn về vốn nên thị phần chỉ chiếm tỷ lệ thấp (trên dýới 30%) Để tránh tình trạng vì lợi nhuận một số cá nhân kinh doanh
Trang 32thuốc BVTV đã hướng dẫn phun kèm, phun ghép nhiều loại thuốc BVTV trong cùng 1 lần phun gây tốn kém cho nông dân và độc hại cho môi trường, cho con người, việc cung ứng thuốc BVTV qua kênh HTXNN là tốt nhất Các dịch vụ HTXNN nên tập trung làm tốt công tác cung ứng thuốc BVTV cho nông dân, thậm chí cung ứng qua đội trưởng đến từng hộ Ban quản trị HTXNN cũng nên tổ chức một lực lượng lo cho việc phun thuốc phòng trừ sâu bệnh, trong đó có sự tham gia, giám sát của thôn, đội trưởng Hiện nay trên địa bàn tỉnh ta nhiều xã, thị trấn, HTXNN đang nhân rộng xây dựng cánh đồng mẫu lớn Với thế mạnh gieo cấy đồng trà, đồng giống, cùng một phương thức canh tác trên cùng một cánh đồng có diện tích lớn thì việc BVTV tập trung là hiển nhiên Và việc cung ứng, tổ chức kiểm tra, giám sát sâu bệnh, dịch hại và phun thuốc phòng trừ do HTXNN đảm nhận sẽ hạn chế rất nhiều
sự lợi dụng của một số cá nhân kinh doanh thuốc BVTV, lập lại kỷ cương kinh doanh thuốc BVTV tại địa phương
Cùng với việc xây dựng cánh đồng mẫu lớn, đưa cung ứng thuốc BVTV và tổ chức phòng trừ sâu bệnh tập trung vào HTXNN, công tác tuyên truyền, giáo dục nông dân về BVTV cũng phải được tăng cường Một điều đáng nói nữa là hiện nay việc quản lý vĩ mô về thuốc BVTV cũng còn nhiều bất cập Các Cty sản xuất, kinh doanh thuốc BVTV liên tục được thành lập, đi kèm là một loạt loại thuốc mới ra đời Với 11 loại dịch hại cây lúa trong vụ xuân năm 2012 thì cả trăm loại thuốc được công nhận đặc trị làm sao người nông dân chọn được?
2.4 Tác động của thuốc BVTV tới môi trường và hệ sinh thái
Trong quá trình sản xuất và sử dụng thuốc BVTV đã tác động đến môi trường bằng nhiều cách khác nhau, theo sơ đồ:
Trang 33Hình 2.1 Tác động của thuốc BVTV đến môi trường và
con đường mất đi của thuốc BVTV 2.4.1 Ảnh hưởng của thuốc BVTV tới đất và vi sinh vật đất
Đất canh tác là nơi tập trung nhiều lượng dư thuốc BVTV Đất tiếp nhận các loại thuốc BVTV từ các nguồn khác nhau, lượng thuốc BVTV tồn trong đất
đã để lại các tác hại đáng kể trong môi trường
Lượng thuốc BVTV đi vào đất, một phần được cây hấp thụ, phần còn lại được keo đất giữ lại Người ta ước tính có tới 90% lượng thuốc sử dụng không tham gia diệt sâu bệnh mà gây ô nhiễm, độc cho đất, nước, không khí và cho nông sản
Trang 34Lượng thuốc BVTV tồn dư sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của VSV đất(nấm, vi khuẩn, giun đất……) làm cho đất bị chai cứng, cây không hút được dinh dưỡng, do đó dẫn đến hiện tượng cây còi cọc, đất bị thoái hóa
2.4.2 Ảnh hưởng của thuốc BVTV tới môi trường nước
Thuốc BVTV xâm nhập vào môi trường nước theo rất nhiều cách:
- Do nước thải công nghiệp từ các nhà máy sản xuất thuốc BVTV
- Dùng các loại thuốc để diệt côn trùng trong nước
- Nước chảy qua các vùng đất có sử dụng thuốc BVTV
- Thông qua môi trường đất
Theo ước tính hàng năm chúng ta có khoảng 213 tấn thuốc BVTV theo bụi
và nước mưa đổ xuống Đại Tây Dương
Thuốc BVTV vào nước gây ô nhiễm môi trường nước gồm cả nước mặt
và nước ngầm, suy thoái chất lượng nguồn nước, ảnh hưởng nghiêm trọng
đến các hoạt động sống của các sinh vật thủy sinh
2.4.3 Ảnh hưởng của thuốc BVTV tới môi trường không khí
Thuốc BVTV xâm nhập vào môi trường không khí qua các hoạt động: Phun, tưới hoặc rải xuống đất thì thuốc BVTV sẽ bay hơi vào không khí Thuốc BVTV có mùi khó chịu khiến cho không khí bị ô nhiễm Nhất là nhờ các tác nhân bên ngoài như gió sẽ thúc đẩy quá trình khuếch tán của hóa chất làm ô nhiễm không khí cả một vùng rộng lớn Ô nhiễm không khí do thuốc BVTV sẽ tác động xấu đến sức khỏe con người và các động vật khác thông
qua đường hô hấp
2.4.4 Tác động của thuốc BVTV đến cây trồng
Bên cạnh những vai trò của thuốc BVTV đối với cây trồng thì nó cũng mang lại những ảnh hưởng khá đáng kể đến sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng, khi sử dụng thuốc không đúng cách sẽ:
- Làm giảm tỷ lệ nảy mầm, rễ không phát triển, cây còi cọc, màu lá biến đổi, cây chết non
Trang 35- Lá bị cháy, bị thủng, lá non và ngọn cây bị biến dạng, hoa quả bị rụng nhiều, quả nhỏ, chín muộn
- Giảm khả năng chống chịu với điều kiện bất lợi
2.4.5 Ảnh hưởng của thuốc BVTV đối với người và động vật
2.4.5.1 Đối với con người
Việc sử dụng thuốc BVTV trong nông, lâm nghiệp là nguồn gốc sinh ra tồn dư một lượng thuốc BVTV trong môi trường Thuốc BVTV khi phun lên cây một phần được cây hấp thụ tiêu diệt sâu bệnh, một phần tồn dư đi vào môi trường xung quanh và chịu tác động của hàng loạt các quá trình hóa lý, sinh học chúng sẽ di chuyển, phân bố và bị biến đổi,đi vào các phần môi trường Các nghiên cứu khoa học đã tìm thấy những bằng chứng về mối liên quan giữa thuốc BVTV với bệnh ung thư não, ung thư vú, ung thư gan, dạ dày, bàng quang, thận
Các hậu quả sinh sản: Đẻ non, vô sinh, thai dị dạng, quái thai, ảnh hưởng chất lượng tinh dịch, rối loạn thần kinh thực vật, rối loạn hành vi, tổn thương chức năng miễn dịch và dị ứng, tăng cảm giác da Theo tổ chức y tế Liên Mỹ ước tính khoảng 3% người lao động nông nghiệp tiếp xúc với thuốc BVTV bị ngộ độc cấp tính, với khoảng 1,3 tỷ người lao động nông nghiệp trên toàn thế giới có nghĩa là khoảng 39 triệu người có thể bị ngộ độc cấp tính hàng năm Các biểu hiện nhiễm độc khá phổ biến như: đau đầu, chóng mặt, mệt mỏi, lợm giọng, buồn nôn, chán ăn… Nhiều tác giả đã nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của thuốc BVTV đến sức khoẻ con người
Trang 36Thuốc BVTV có thể gây ra các chứng bệnh như: mắc bệnh vàng da ở Cừu; giảm khả năng sinh sản và phát triển ở Thỏ…
Thuốc BVTV gây độc cho các loài động vật thủy sinh, gây chết nếu liều lượng cao và gây đột biến, sinh sản phát triển kém ở liều lượng thấp
Thuốc BVTV, đặc biệt là các thuốc trừ sâu dễ gây hại cho ong mật, các sinh vật có ích, chim và động vật hoang dã
Bên cạnh các tác hại trực tiếp, thuốc còn giết hay làm giảm nguồn thức
ăn cho cá và các loài động vật, các loài ký sinh thiên địch
2.4.6 Ảnh hưởng của thuốc BVTV tới thiên địch
Thiên địch là danh từ để chỉ các loài kẻ thù tự nhiên của dịch hại, bao gồm các động vật, loài ký sinh, động vật bắt mồi ăn thịt (côn trùng, nhện, chim…) các VSV gây bệnh cho sâu, các VSV đối kháng với các VSV gây bệnh
Khi sử dụng thuốc BVTV các loài thiên địch cũng bị tiêu diệt hoặc yếu
đi, hoặc chúng sẽ di cư sang nơi khác do môi trường bị ô nhiễm, do thiếu thức
ăn khi ta xử dụng thuốc BVTV để trừ dịch hại Hậu quả là mất cân bằng sinh thái Nếu côn trùnggây hại quay trở lại thì rất dễ xảy ra dịch vì không còn thiên địch khống chế
Trang 37PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Hiện trạng sử dụng thuốc BVTV trong nông nghiệp tại khu vực nghiên cứu
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
- Địa bàn xã Cổ Lũng- huyện Phú Lương- tỉnh Thái Nguyên
- Thời gian nghiên cứu : từ năm 2013 – 2015
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
3.2.1 Địa điểm nghiên cứu
- UBND xã Cổ Lũng
3.2.2 Thời gian nghiên cứu
- Từ ngày 10/01/2015 đến ngày 10/05/2015
3.3 Nội dung nghiên cứu
- Điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế - xã hội của xã Cổ Lũng- Huyện Phú Lương- TỉnhThái Nguyên
- Đánh giá hiện trạng sử dụng thuốc BVTV tại xã Cổ Lũng- Huyện Phú Lương -TỉnhThái Nguyên
- Đánh giá tác động của thuốc BVTV đến sức khỏe của người dân và môi trường
- Đánh giá công tác quản lý việc sử dụng thuốc BVTV
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiểu biết của người dân, hiệu quả công tác quản lý, sử dụng thuốc BVTV tại khu vực nghiên cứu
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp kế thừa
- Kế thừa các kết quả nghiên cứu đã được công nhận liên quan đến đề tài đang thực hiện
Trang 383.4.2 Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu thứ cấp và tổng hợp đánh giá
Thu thập các tài liệu có liên quan tới các nội dung nghiên cứu từ các số liệu sẵn có tại khu vực thực hiện, tham khảo các tài liệu trên sách, báo,
internet, các nghiên cứu khoa học,…
Điều tra các số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội theo phương pháp thu thập số liệu từ nguồn: xã Cổ Lũng
Điều tra kết hợp theo dõi trực tiếp tình hình sử dụng thuốc BVTV và các vấn đề do tồn dư thuốc BVTV gây ra
3.4.3 Phương pháp khảo sát thực địa
Tiến hành khảo sát trực tiếp bằng cách quan sát, ghi chép cách người dân địa phương sử dụng thuốc BVTV, xử lý bao bì sau sử dụng và số lượng bao bì thuốc BVTV còn lại trên cánh đồng, đường làng, ngõ xóm khu vực nghiên cứu
3.4.4 Phương pháp điều tra phỏng vấn
Thu thập thông tin qua phiếu điều tra, phỏng vấn
- Lập phiếu điều tra, phỏng vấn gồm 2 phần:
Phần 1: Thông tin chung
Phần 2: Các vấn đề liên quan đến thuốc BVTV
3.4.5 Phương pháp phân tích và tổng hợp số liệu
Sử dụng các phần mềm Microsoft như: Word và Excel để tổng hợp và phân tích các số liệu thu thập được
Trang 393.4.6 Phương pháp so sánh
Sử dụng để so sánh danh sách thuốc BVTV thực tế ngoài đồng ruộng, thu thập được do điều tra trực tiếp người dân với danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng và cấm sử dụng So sánh các kết quả thu được trong quá trình nghiên cứu để có thể đưa ra những nhận xét khách quan nhất
Trang 40PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Cổ Lũng
4.1.1 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên
4.1.1.1 Vị trí địa lý
Xã Cổ Lũng nằm phía nam huyện Phú Lương - tỉnh Thái Nguyên, được tiếp giáp với các đơn vị hành chính theo các hướng như sau:
Phía Bắc giáp xã Vô Tranh và thị trấn Giang Tiên
Phía Đông giáp xã Sơn Cẩm
Phía Tây giáp xã Cù Vân – huyện Đại Từ
Phía Nam giáp xã An Khánh – huyện Đại Từ
Xã nằm ở phía nam huyện được xác định là vùng trung tâm có tiềm năng thế mạnh phát triển công nghiệp – dịch vụ, có đầu mối giao thông là ngã ba
Bờ Đậu để phát triển thương mại,
4.1.1.2 Địa hình, địa mạo
Xã nằm ở phía nam thuộc vùng tương đối bằng phẳng, so với huyện Phú Lương, độ dốc dưới 150
địa hình mang đặc điểm trung du miền núi bắc bộ Trên bản đồ địa hình xã Cổ Lũng có địa hình đồ núi, đồi thấp xen kẽ với đồng bằng, địa hình thấp dần từ tây xuống Đông Nam
4.1.1.3 Khí hậu
Xã Cổ Lũng có khí hậu nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa và có chung đặc điểm của khí hậu vùng đông bắc Được chia thành 2 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô:
- Mùa mưa, nóng nhiều kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11 Lượng mưa cao chiếm 85% cả năm