1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực hiện chính sách phát triển viên chức từ thực tiễn quận hai bà trưng, thành phố hà nội

73 453 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 692,63 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những năm qua, nhận thức được vị trí, vai trò của viên chức trong phát triển kinh tế, xã hội và phục vụ nhân dân, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN ANH TUẤN

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN VIÊN CHỨC

TỪ THỰC TIỄN QUẬN HAI BÀ TRƯNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành : Chính sách công

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS VĂN TẤT THU

Hà Nội, 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Đề tài nghiên cứu “Thực hiện chính sách phát triển viên chức từ thực tiễn quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội” của luận văn này là kết quả của

sự nỗ lực cố gắng, tìm tòi và sáng tạo của riêng bản thân tôi cùng với sự hướng dẫn tận tình của người hướng dẫn khoa học PGS.TS Văn Tất Thu Tôi xin cam đoan, kết quả nghiên cứu của công trình hoàn toàn là kết quả của cuộc điều tra xã hội học mà tôi đã tiến hành nghiên cứu tại quận Hai Bà Trưng, thành phố Thành phố Hà Nội Các thông tin có nguồn gốc rõ ràng, tuân thủ đúng nguyên tắc trích dẫn tài liệu Nghiên cứu hoàn toàn trung thực

và chưa được công bố ở công trình, đề tài nào

Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình./

Hai Bà Trưng, tháng 7 năm 2016

Học Viên

Trần Anh Tuấn

Trang 3

1.2 Quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước đối với phát triển

2.1 Các yếu tố của quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội ảnh hưởng

đến tổ chức thực hiện chính sách phát triển viên chức 39 2.2 Thực trạng tổ chức thực hiện chính sách phát triển viên chức tại

2.3 Thực trạng các chủ thể tham gia thực hiện chính sách phát triển

viên chức tại quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội 46 2.4 Kết quả thực hiện chính sách phát triển viên chức tại quận Hai Bà

2.5 Đánh giá chung kết quả thực hiện chính sách phát triển viên chức

Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO

HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN VIÊN

CHỨC TẠI QUẬN HAI BÀ TRƯNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

54 3.1 Phương hướng nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách phát triển

viên chức tại quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội 54 3.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách phát triển

viên chức tại quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội 56

Trang 4

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực luôn có vị trí quan trọng trong sự nghiệp phát triển của một đất nước, một cơ quan, đơn vị, tổ chức Đại hội IX (2001) của Đảng nêu rõ: “đáp ứng yêu cầu về con người và nguồn nhân lực là nhân tố quyết định sự phát triển đất nước thời kỳ Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa” Đại hội XI (2011) của Đảng cũng đã xác định ba khâu đột phá trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011, thành phố 2020, một trong số đó là:

“Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao” Đối với khu vực công nghiệp thì việc phát triển nguồn nhân lực càng trở nên thiết yếu Trong số nhân lực trong khu vực công, đội ngũ viên chức chiếm số lượng lớn nhất Tính đến hết năm 2014, tổng số viên chức trong cả nước là 2.312.690 người, trong đó biên chế sự nghiệp do cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao cho đơn vị sự nghiệp công lập là 2.073.434 người; biên chế sự nghiệp do các đơn vị sự nghiệp tự chủ quyết định là 239.256 người Đội ngũ này chính là lực lượng đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp các dịch

vụ công, phục vụ các hoạt động thiết yếu của người dân

Trong những năm qua, nhận thức được vị trí, vai trò của viên chức trong phát triển kinh tế, xã hội và phục vụ nhân dân, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của đội ngũ này, cụ thể là Luật Viên chức Việt Nam năm 2010 và các văn bản dưới luật nhằm hướng dẫn tổ chức, thực hiện và kết quả đã có những chuyển biến tích cực Số lượng viên chức cơ bản đáp ứng nhu cầu, năng lực chuyên môn dần được cải thiện, phù hợp với vị trí việc làm Tuy nhiên, chất lượng hoạt động vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế Năng lực chuyên môn của một bộ phận viên chức chưa đáp ứng yêu cầu công việc, đạo đức, trách nhiệm nghề nghiệp chưa cao, việc đổi mới phong cách làm việc còn chậm Do đó, những

Trang 5

2

kết quả đạt được chưa tương xứng với vị trí, vai trò của viên chức trong đời sống xã hội

Thành phố Hà Nội, với vị trí vai trò là trung tâm chính trị, văn hóa của

cả nước, đã có nhiều chính sách khác nhau nhằm xây dựng đội ngũ viên chức

có kiến thức chuyên môn sâu, kỹ năng làm việc thành thạo, hiệu quả, gắn với từng vị trí việc làm, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp của viên chức Nghiên cứu, ban hành nhiều cơ chế chính sách ph hợp, đảm bảo tuyển dụng viên chức trên cơ sở tự do cạnh tranh; có cơ chế phát huy động lực làm việc, tạo môi trường làm việc, khuyến khích sự sáng tạo, cống hiến của đội ngũ viên chức

Quận Hai Bà Trưng là một quận nội thành của thành phố Hà Nội, quận

có địa bàn rộng Căn cứ các văn bản Hướng dẫn của Chính phủ, Bộ Nội vụ, UBND thành phố Hà Nội và sự lãnh đạo, chỉ đạo, quan tâm sát sao của cấp

ủy, chính quyền địa phương, nên việc triển khai, thực hiện chính sách phát triển viên chức đã được tiến hành đúng quy định, chất lượng đội ngũ viên chức đã có những chuyển biến tích cực, tuy nhiên, hiệu quả chưa thực sự nổi bật và còn tồn tại những hạn chế nhất định

Do vậy, để việc thực hiện chính sách phát triển viên chức thực sự mang lại hiệu quả, có tác động tích cực nhằm nâng cao hiệu quả công việc phục vụ lợi ích của người dân, thì việc tìm hiểu thực trạng thực hiện chính sách phát triển viên chức và đưa ra những định hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách ấy là một đòi hỏi khách quan, cần có sự đi sâu nghiên cứu bài bản và

nghiêm túc Từ những lý do trên, học viên đã chọn đề tài: “Thực hiện chính sách phát triển viên chức từ thực tiễn quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội” là đề tài cho luận văn tốt nghiệp ngành Chính sách công

Trang 6

3

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Phát triển cán bộ, công chức là đề tài được nhiều học giả quan tâm đi sâu nghiên cứu, nhưng đối tượng viên chức gần đây mới được chú trọng, do vậy, công trình nghiên cứu về đề tài này không thực sự phong phú, sau đây là một số công trình học viên được tìm hiểu:

- PGS TS Đỗ Phú Hải, Học viện Khoa học xã hội: Báo cáo về thể chế quản lý viên chức và đội ngũ viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập

từ năm 1998 đến nay

- Nguyễn Văn Tuyên, Chính sách phát triển viên chức từ thực tiễn học viên hành chính quốc gia, Luận văn Thạc sĩ ngành Chính sách công, Học viện Khoa học xã hội, 2015

- Nguyễn Thị Thanh Huyền, Chính sách phát triển viên chức từ thực tiễn Bộ tư pháp, thành phố Luận văn Thạc sĩ ngành Chính sách công, Học viện Khoa học xã hội, 2014

Các công trình nghiên cứu, các bài viết trên đã có cách tiếp cận khác nhau, nghiên cứu lý luận về viên chức, chính sách phát triển viên chức nói chung và đi sâu vào thực tiễn thực hiện chính sách phát triển viên chức tại một cơ quan cụ thể Tuy nhiên, đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào cung cấp đầy đủ và hệ thống về lý luận và thực tiễn việc thực hiện chính sách phát triển viên chức tại một đơn vị hành chính cấp quận, cụ thể là quận Hai

Trang 7

4

xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách phát triển viên chức ở nước ta hiện nay

Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách phát triển viên chức;

- Phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện chính sách phát triển viên chức từ thực tiễn quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội; chỉ rõ những kết quả, hạn chế và nguyên nhân của các hạn chế;

- Đề xuất quan điểm, định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả thực

hiện chính sách phát triển viên chức

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu:

Luận văn tập trung nghiên cứu hệ thống lý luận về thực hiện chính sách phát triển viên chức và thực tiễn việc thực hiện chính sách phát triển viên

chức tại quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội

Trang 8

5

chính sách từ hoạch định đến xây dựng, thực hiện và đánh giá chính sách

công

Phương pháp nghiên cứu:

Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp phân tích;

- Phương pháp thu thập số liệu;

- Phương pháp tổng hợp;

- Phương pháp định lượng

- Phương pháp điều tra bảng hỏi (đối tượng là viên chức và người dân

tại quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội)

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Ý nghĩa lý luận:

Các kết quả nghiên cứu của đề tài luận văn góp phần bổ sung, hoàn thiện những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách công nói chung và thực

hiện chính sách phát triển viên chức nói riêng

Ý nghĩa thực tiễn của luận văn ở chỗ đề xuất được các giải pháp thiết

thực, hữu hiệu, các kinh nghiệm thực tiễn góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách phát triển viên chức ở nước ta nói chung, ở quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội nói riêng Các kết quả nghiên cứu của đề tài đóng góp thiết thực vào việc xây dựng đội ngũ viên chức của quận Hai Bà Trưng,

thành phố Hà Nội

Trang 9

6

7 Cơ cấu của luận văn

Luận văn được bố cục gồm 3 chương ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu và phụ lục

Chương 1 Những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách phát triển viên chức

Chương 2 Thực trạng thực hiện chính sách phát triển viên chức tại quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội

Chương 3 Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách phát triển viên chức tại quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội

Trang 10

7

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN VIÊN CHỨC 1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1 Viên chức

Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật (Điều 2

Luật Viên chức)

Đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị, thành phố xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước

Do vậy, viên chức đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp dịch vụ công và thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước trong các lĩnh vực thiết yếu của đời sống xã hội

Điểm khác biệt cơ bản của viên chức so với công chức là viên chức được tuyển dụng gắn với vị trí việc làm, thông qua chế độ hợp đồng làm việc

và tiền lương được hưởng từ quỹ tiền lương của đơn vị sự nghiệp công lập Còn Công chức được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị, thành phố xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; trừ công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự

Trang 11

có thể kể đến một số khái niệm về chính sách như: “Chính sách là một quá trình hành động có mục đích theo đuổi bởi một hoặc nhiều chủ thể trong việc giải quyết các vấn đề mà họ quan tâm” (James Anderson) hay “Chính sách là quyết tâm và định hướng Chính sách định hướng nhưng không bao gồm, các chương trình và chi tiết hành động” (Glen Milne)…Tại Việt Nam, Từ điển bách khoa Việt Nam đã đưa ra khái niệm về chính sách như sau: “Chính sách

là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó”

Như vậy, có thể đưa ra cách hiểu Chính sách là chương trình hành động do các nhà lãnh đạo hay nhà quản lý đề ra để giải quyết một vấn đề nào đó thuộc phạm vi thẩm quyền của mình Các tổ chức, các doanh nghiệp, các đoàn thể đều có thể đề ra những chính sách riêng biệt để áp dụng trong phạm vi một tổ chức, doanh nghiệp hay đoàn thể đó Các chính sách này nhằm giải quyết những vấn đề đặt ra cho mỗi tổ chức, chúng chỉ có hiệu lực thi hành trong tổ chức đó vì vậy chúng mang tính chất riêng biệt và được coi là những “chính sách tư” Tuy nhiên, mặc d được sử dụng rộng rãi (chính sách bán hàng, chính sách đào tạo nhân viên, chính sách cạnh tranh…), nhưng “chính sách

Trang 12

9

tư” hầu như không được đề cập đến và được nghiên cứu với tư cách là một ngành khoa học

Chính sách công thể hiện mối quan hệ giữa nhà nước và công dân, do

đó khái niệm về chính sách công phụ thuộc nhiều vào bản chất của Nhà nước

D trong điều hành và quản lý nhà nước cũng như lĩnh vực hoạt động của luật pháp và cả trong nghiên cứu và học thuật, khái niệm chính sách công thường xuyên được d ng nhưng không phải lúc nào khái niệm này cũng được hiểu hoàn toàn giống nhau Cho đến nay trên thế giới, cuộc tranh luận về khái niệm chính sách công vẫn là một chủ đề sôi động và khó đạt được sự nhất trí rộng rãi Có thể kể đến một số khái niệm chính sách công khá tiêu biểu của

các học giả nước ngoài đó là:“Chính sách công là một tập hợp các quyết định

có liên quan lẫn nhau của một nhà chính trị hay một nhóm nhà chính trị gắn liền với việc lựa chọn các mục tiêu và các giải pháp để đạt được các mục tiêu đó” (William Jenkin) Như vậy, William Jenkin cho rằng chính sách công

không phải là một quyết định đơn lẻ nào đó mà là một tập hợp các quyết định khác nhau có liên quan với nhau trong một khoảng thời gian dài, chủ thể ban hành chính sách công phải là các cơ quan nhà nước và chính sách công nhằm vào những mục tiêu nhất định theo mong muốn của nhà nước và bao gồm các giải pháp để đạt được mục tiêu đã chọn Thomas R Dye lại đưa ra một định nghĩa ngắn gọn hơn về chính sách công, song lại được nhiều học giả tán

thành Theo ông, “chính sách công là cái mà chính phủ lựa chọn làm hay không làm” Định nghĩa này của Thomas R Dye không bàn luận về “mục

tiêu” hay “mục đích” của chính sách, đồng thời định nghĩa của Dye cũng thừa nhận rằng các chính sách phản ánh sự lựa chọn làm hay không làm Việc quyết định không làm cũng có thể quan trọng như việc quyết định làm và chính sách là cái chính phủ làm hoặc không làm chứ không phải là cái mà họ

muốn làm hoặc lập kế hoạch để làm Theo Peter Aucoin “chính sách công

Trang 13

10

bao gồm các hoạt động thực tế do chính phủ tiến hành” Aucoin cho rằng,

chính sách có thể vừa là hành động riêng biệt của chính phủ vừa là kết quả

của hàng loạt quyết định đa dạng B Guy Peter đưa ra định nghĩa “chính sách công là toàn bộ các hoạt động của nhà nước có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến cuộc sống của mọi công dân” Định nghĩa này tiếp cận ở góc độ tác

động của chính sách công đến đời sống của người dân với tư cách là một cộng đồng

Ở Việt Nam, mặc dù ngành khoa học chính sách công là một ngành khoa học khá mới mẻ nhưng đã có một số nhà nghiên cứu khoa học chính sách công đưa ra khái niệm về chính sách công PGS.TS Lê Chi Mai (Học

viện Hành chính Quốc gia) đưa ra cách hiểu về thuật ngữ chính sách công “là thuật ngữ dùng để chỉ một chuỗi các quyết định hoạt động của nhà nước nhằm giải quyết một vấn đề chung đang đặt ra trong đời sống kinh tế-xã hội theo mục tiêu xác định” Theo cách hiểu này, chính sách công có bốn đặc

trưng cơ bản đó là: Thứ nhất, chủ thể ban hành chính sách công là nhà nước,

cụ thể là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành chính sách Thứ hai, các quyết định này là những quyết định hành động, có nghĩa là chúng bao gồm cả những hành vi thực tiễn Chính sách công không chỉ thể hiện dự định của nhà hoạch định chính sách về một vấn đề nào đó mà còn bao gồm những hành vi thực hiện các dự định nói trên Thứ ba, chính sách công tập trung giải quyết một vấn đề đang đặt ra trong đời sống kinh tế-xã hội theo những mục tiêu xác định Thứ tư, chính sách công gồm nhiều quyết định có liên quan lẫn nhau Chính sách là một chuỗi hay một loạt các quyết định c ng hướng vào việc giải quyết một vấn đề chính sách, do một hay nhiều cấp khác nhau trong

bộ máy nhà nước ban hành và thực thi trong một thời gian dài Ở Việt Nam, chính sách công biểu hiện dưới nhiều loại văn bản chính sách khác nhau, bao gồm cả Luật, Nghị định, Thông tư, Quyết định, Chiến lược…T y theo điều

Trang 14

11

kiện hoàn cảnh mỗi nước với hệ thống và nền chính trị khác nhau sẽ có những cách tiếp cận khác nhau về “chính sách” PGS.TS Đỗ Phú Hải (Học viện Khoa học xã hội Việt Nam) đưa ra cách định nghĩa về chính sách công trong

điều kiện chính trị cụ thể của Việt Nam “Chính sách công là một tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của Đảng và Nhà nước nhằm lựa chọn mục tiêu và giải pháp, công cụ chính sách nhằm giải quyết các vấn đề xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác định” (Đỗ Phú Hải, 2012) Như vậy, chính sách

công là những quyết sách mang tính chính trị của nhà nước mà các cơ quan nhà nước có thẩm quyền chung và riêng để dẫn dắt sự phát triển của xã hội, đáp ứng nhu cầu xã hội của người dân Chính sách công có thể chi phối chung, song có những chính sách chi phối cụ thể riêng biệt đối với từng ngành, từng lĩnh vực của đời sống xã hội

Vậy chính sách phát triển viên chức là tập hợp các quyết định chính trị

có liên quan của Nhà Nước về phát triển viên chức với mục tiêu, giải pháp cụ thể nhằm xây dựng đội ngũ viên chức có cơ cấu, số chất lượng hợp lý, có dư trình độ, năng lực chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu cung

ứng dịch vụ công có chất lượng cao cho người dân và xã hội

1.1.4 Tổ chức thực hiện chính sách phát triển viên chức

Tổ chức thực hiện chính sách phát triển viên chức là một khâu hợp thành chu trình chính sách, là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể chính sách thành hiện thực, với đối tượng chính sách nhằm mục tiêu định hướng

Trang 15

12

Tổ chức thực hiện chính sách phát triển viên chức là một khâu hợp thành chu trình chính sách, nếu thiếu vắng công đoạn này thì công đoạn chính sách phát triển không thể tồn tại So với các khâu khác trong chu trình chính sách phát triển viên chức, tổ chức thực hiện chính sách có vị trí đặc biệt quan trọng, là bước hiện thực hoá đưa chính sách phát triển viên chức vào đời sống

xã hội Tổ chức thực hiện chính sách phát triển viên chức là một hệ thống thống nhất với hoạch định, xây dựng và đánh giá chính sách phát triển viên chức

1.2 Quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước đối với phát triển viên chức

Viên chức là một bộ phận của hệ thống cán bộ, công chức của nước ta nói chung Chính vì vậy, quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước đối với viên chức nằm trong tổng thể quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước đối với cán bộ, công chức ở nước ta nói chung

1.2.1 Quan điểm của Đảng về cán bộ và đãi ngộ đối với cán bộ, công chức, viên chức

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh, người sáng lập Đảng ta, đã nhiều lần

căn dặn: “Cán bộ là cái gốc của mọi việc”, “Muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém” Vì đội ngũ cán bộ, công chức là “cầu nối”

giữa Đảng, Nhà nước với quần chúng Cũng theo Hồ Chủ tịch, thực hiện tốt chính sách đối với cán bộ, công chức cũng như các lực lượng khác có tác dụng và ý nghĩa to lớn nhằm tạo ra động lực vật chất, tinh thần để nâng cao

chất lượng đội ngũ Người khẳng định “Đảng và Chính phủ rất mong muốn đời sống của công nhân, công chức và bộ đội càng khá hơn”

Những năm qua, Đảng ta đã quán triệt, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh

về xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức Đảng ta đã đưa ra nhiều quan đểm

Trang 16

13

đối với hệ thống đội ngũ cán bộ, công chức nói chung và cán bộ, công chức, viên chức nói riêng thông qua các Văn kiện Đại hội, Nghị quyết, Chỉ thị:

Nghị quyết số 03-NQ/TW ngày 18/6/1997 của Hội nghị lần thứ Ba Ban

Chấp hành Trung ương khóa VIII về “Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” đã chỉ ra thực trạng đội ngũ cán bộ

và công tác cán bộ; đưa ra phương hướng xây dựng đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ từ đó đề ra một số nhiệm vụ, giải pháp lớn đối với công tác cán bộ Nghị quyết Trung ương Ba khóa VIII đưa ra năm quan điểm về cán bộ, cụ

thể: Thứ nhất, xây dựng đội ngũ cán bộ phải xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ

của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, vững bước đi lên

chủ nghĩa xã hội Thứ hai, quán triệt quan điểm giai cấp công nhân của Đảng, phát huy truyền thống yêu nước và đoàn kết dân tộc Thứ ba, gắn việc xây dựng đội ngũ cán bộ với xây dựng tổ chức và đổi mới cơ chế chính sách Thứ

tư, thông qua hoạt động thực tiễn và phong trào cách mạng của nhân dân,

nâng cao trình độ dân trí để tuyển chọn, giáo dục, rèn luyện, bồi dưỡng cán

bộ Thứ năm, Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ

cán bộ theo nguyên tác tập trung dân chủ, đồng thời phát huy trách nhiệm của các tổ chức thành viên trong hệ thống chính trị

Kết luận của Hội nghị lần thứ Chín Ban Chấp hành Trung ương khóa X

ngày 02/02/2009 “về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chiến lược cán bộ từ nay đến hết năm 2020” Kết luận đã tiến hành tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 03-NQ/TW ngày 18/6/1997 của Hội nghị lần thứ Ba Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII về “Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, một lần nữa khẳng định các quan điểm đối với

công tác cán bộ và chính sách đối với cán bộ, đồng thời tiếp tục đưa ra các

giải pháp và nhiệm vụ trọng tâm của công tác cán bộ Kết luận nêu rõ “cải

Trang 17

14

cách hệ thống chính sách, đảm bảo sự đồng bộ, thống nhất, công bằng trong thực hiện chính sách cán bộ giữa các cấp, các ngành, các địa phương, các đối tượng cán bộ; gắn chính sách cán bộ trong từng khâu của công tác cán

bộ, gắn trách nhiệm, nghĩa vụ với quyền lợi; khuyến khích cán bộ công tác ở đại bàn khó khăn, ở cơ sở”

Văn kiện Đại hội XI của Đảng, đặc biệt là Cương lĩnh và Chiến lược đều nhấn mạnh tầm quan trọng của công tác cán bộ và chính sách đối với cán

bộ, công chức, đặt công tác này ở vị trí chiến lược với quan điểm coi con người là chủ thể, là trung tâm của phát triển, là mục tiêu và động lực của đổi mới Một trong những vấn đề chủ yếu về công tác cán bộ trong Văn kiện Đại

hội XI của Đảng đó là “đổi mới chính sách và cơ chế về cán bộ, quản lý, sử dụng, bồi dưỡng, đào tạo và phát triển năng lực cán bộ” Hàng loạt chính

sách được đặt ra từ giáo dục và đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ để bảo đảm tiêu chuẩn cán bộ, chính sách sử dụng cán bộ, bố trí, bổ nhiệm, đề bạt, đãi ngộ, tạo động lực khuyến khích tài năng, thu hút nhân tài, nhất là các chuyên gia giỏi, tài năng trẻ, kể cả thu hút tài năng trong cộng đồng người Việt ở nước ngoài

Không chỉ đưa ra những quan điểm chung về cán bộ và chính sách cán

bộ, Đảng ta còn đưa ra những quan điểm riêng về các bộ phận cấu thành trong chính sách cán bộ, đó là quan điểm về chính sách tiền lương và phụ cấp, thi đua khen thưởng Kết luận Hội nghị Trung ương 9 khóa X của Đảng đưa ra

quan điểm “cải cách cơ bản chế độ tiền lương, tiền tệ hóa tiền lương và các chế độ theo lương, ban hành chính sách về nhà ở, nhà công vụ đối với cán bộ, công chức và lực lượng vũ trang Cải cách công tác thi đua, khen thưởng để tạo động lực thúc đẩy phong trào thi đua yêu nước một cách thực chất, khắc phục bệnh thành tích, hình thức, lãng phí Tổ chức phong trào thi đua xây

Trang 18

Thông báo Hội nghị lần thứ Năm, Ban Chấp hành Trung ương Đảng

khóa XI đã đưa ra quan điểm cải cách tiền lương đến năm 2020 “bổ sung, sửa đổi một số chính sách cần và có thể điều chỉnh ngay nhằm sớm khắc phục những bất hợp lý nổi cộm hiện nay” Hội nghị cũng thông qua Kết luận về“một số vấn đề về tiền lương, bảo hiểm xã hội, trợ cấp ưu đãi người có công và định hướng cải cách đến năm 2020” trong đó nêu ra ba quan điểm: Thứ nhất, xác định vấn đề tiền lương, bảo hiểm xã hội và trợ cấp người có

công là vấn đề lớn, xác định đúng và làm tốt vấn đề này sẽ tạo động lực cho phát triển kinh tế-xã hội, làm trong sạch bộ máy và nâng cao hiệu quả hoạt

động công vụ Thứ hai, Cải cách chính sách tiền lương phải có quyết tâm

chính trị cao trong việc ban hành và thực hiện chính sách, thực hiện trả lương

theo vị trí việc làm, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động công vụ Thứ ba,

Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong việc tổ chức thực hiện chính sách an sinh

xã hội…

Là một bộ phận của hệ thống cán bộ, công chức Việt Nam, quan điểm

về chính sách đối với viên chức quận Hai Bà Trưng nằm trong tổng thể các quan điểm trên của Đảng Bên cạnh đó, Đảng cũng đưa ra những quan điểm

cụ thể đối với thành phần viên chức”

Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, toàn diện, đồng bộ tất cả các khâu của phát triển cán bộ, công chức, viên chức gồm: Xác định tiêu chuẩn công chức viên chức; đào tạo, bồi dưỡng viên chức; quản lý viên chức và thực hiện chính

Trang 19

1.2.2 Chính sách của Nhà nước về phát triển viên chức

Triển khai, thực hiện các chủ trương, quan điểm của Đảng về phát triển viên chức, Nhà nước đã ban hành chính sách về phát triển viên chức Chính sách phát triển viên chức của Nhà nước được xác định trong thể chế xây dựng

và quản lý viên chức, cụ thể như: trong Luật viên chức số 58/2010/NĐ-CP ngày 12/04/2012 của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức; trong Nghị định số 43/2006/NĐ-CP của Chính phủ quy định về quyền tự chủ,

tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập; trong Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập; trong các chương trình, dự án, đề án chính sách phát triển viên chức được Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định phê duyệt, ví dụ như Quyết định số 163/QĐ-TTg ngày 25/01/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề

án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức giai đoạn 2016-2025 Luật viên chức năm 2010 quy định cụ thể về chính sách xây dựng và phát triển các đơn vị sự nghiệp công lập và đội ngũ viên chức: “Nhà nước tập trung xây dựng hệ thống các đơn vị sự nghiệp công lập để cung cấp những dịch vụ công mà Nhà nước phải chịu trách nhiệm chủ yếu đảm bảo, nhằm phục vụ nhân dân trong lĩnh vực y tế, giáo dục tại miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, v ng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn”; “Nhà nước có chính sách xây dựng, phát triển đội ngũ viên

Trang 20

17

chức có đạo đức nghề nghiệp, có trình độ và năng lực chuyên môn đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của khu vực cung ứng dịch vụ công; phát triển, thu hút, bồi dưỡng, trọng dụng và đãi ngộ xứng đáng đối với người có tài năng để nâng cao chất lượng phục vụ nhân dân”… Chính sách phát triển viên chức của Nhà nước bao gồm các chính sách cụ thể như:

- Chính sách tuyển dụng, sử dụng viên chức

- Chính sách đào tạo, bồi dưỡng viên chức

- Chính sách sử dụng, bổ nhiệm, thay đổi chức danh, nghề nghiệp, thay đổi vị trí việc làm của viên chức

- Chính sách biệt phái, bổ nhiệm, miễn nhiệm

- Chính sách đãi ngộ, tiền lương, phụ cấp, khen thưởng

- Chế độ thôi việc, hưu trí…

Ngoài các chính sách cụ thể nêu trên, chính sách phát triển viên chức còn được thể hiện qua việc quy định trong luật viên chức các quyền của viên chức như: quyền hoạt động nghề nghiệp, quyền được nghỉ ngơi, quyền về hoạt động kinh doanh, làm việc ngoài giờ, và các quyền khác như viên chức được khen thưởng, tôn vinh, được tham gia hoạt động kinh tế-xã hội, được hưởng chính sách ưu đãi về nhà ở; được tạo điều kiện học tập, hoạt động nghề nghiệp ở trong nước và nước ngoài theo quy định của pháp luật Trong trường hợp bị thương hoặc chết do thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ được giao thì được xét hưởng chính sách như thương binh, hoặc được xét để công nhận là liệt sĩ theo quy định của pháp luật Như vậy Nhà nước có khá nhiều các chính sách tạo điều kiện cho viên chức phát triển

Trang 21

Tổ chức thực hiện chính sách không tiến hành tốt dễ dẫn đến thiếu tin tưởng, thậm chí có sự chống đối của viên chức đối với Nhà nước

Tổ chức thực hiện chính sách phát triển viên chức giúp bổ sung hoàn thiện chính sách Việc phân tích, đánh giá chính sách phát triển viên chức (mức độ tốt xấu) chỉ có thể đầy đủ, có sức thuyết phục sau khi thực hiện chính sách Qua tổ chức thực hiện chính sách phát triển viên chức biết được chính sách có phù hợp hay không phù hợp, vào cuộc sống hay không vào cuộc sống Đưa chính sách phát triển viên chức vào thực tiễn là quá trình phức tạp, đầy biến động chịu trách động của một hoạt các yếu tố, thúc đẩy hoặc cản trở việc thực thi

Thực hiện chính sách là một khâu cấu thành chu trình chính sách, là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể chính sách thành hiện thực với các đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu nhất định Tổ chức thực thi chính sách là trung tâm kết nối các khâu (các bước) trong chu trình chính sách thành một hệ thống Hoạch định được chính sách đúng, có chất lượng là rất quan trọng, nhưng thực hiện đúng chính sách còn quan trọng hơn Có chính sách đúng nếu không được thực hiện sẽ trở thành khẩu hiệu suông, không những

Trang 22

19

không có ý nghĩa, mà còn ảnh hưởng đến uy tín của chủ thể hoạch định và ban hành chính sách (uy tín của nhà nước) Nếu chính sách không được thực hiện đúng sẽ dẫn đến sự thiếu tin tưởng và sự phản ứng của nhân dân đối với nhà nước Điều này hoàn toàn bất lợi về mặt chính trị và xã hội, gây những khó khăn, bất ổn cho nhà nước trong công tác quản lý Qua thực hiện mới biết được chính sách có đúng, ph hợp và đi vào cuộc sống hay không Quá trình thực hiện với những hoạt động thực tiễn sẽ góp phần điều chỉnh, bổ sung và hoàn thiện chính sách cho phù hợp với thực tiễn, đáp ứng yêu cầu của cuộc sống Đồng thời, việc phân tích, đánh giá một chính sách (mức độ tốt, xấu) chỉ có cơ sở đầy đủ, sức thuyết phục sau khi được thực hiện Thực tiễn là chân lý, kết quả thực hiện chính sách là thước đo, là cơ sở đánh giá một cách chính xác, khách quan chất lượng và hiệu quả của chính sách Việc đưa chính sách vào thực tiễn cuộc sống là một quá trình phức tạp đầy biến động, chịu sự tác động của nhiều yếu tố giúp các nhà hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách có kinh nghiệm để đề ra được các giải pháp hữu hiệu trong thực hiện chính sách

Thực hiện chính sách phát triển viên chức có ý nghĩa đặc biệt quan

trọng Điều này thể hiện ở các khía cạnh sau:

Thứ nhất, việc thực hiện chính sách phát triển viên chức có vai trò

chuyển hóa ý chí của chủ thể ban hành chính sách thành hiện thực hay cụ thể hơn là hiện thực hóa chính sách này vào đời sống xã hội Xuất phát từ các vấn

đề nảy sinh về mặt thực tiễn, Đảng, Nhà nước ta đã ban hành các văn bản chính sách về đãi ngộ đối với cán bộ, công chức ngành viên chức Tuy nhiên, các văn bản chính sách này nếu không được đưa vào thực hiện thì chính sách

sẽ trở thành vô nghĩa, không có giá trị thực tiễn, không giải quyết được vấn đề thực tiễn nảy sinh Thực hiện chính sách là trung tâm kết nối các bước trong chu trình chính sách thành một hệ thống

Trang 23

20

Thứ hai, nếu chính sách phát triển viên chức được thực hiện tốt sẽ tạo

động lực tích cực cho viên chức làm việc hiệu quả, gắn bó với cơ quan, giữ vững lập trường tư tưởng chính trị và nỗ lực hoàn thành tốt nhiệm vụ cả ở trong và ngoài nước, đóng góp tích cực cho nền viên chức nước nhà Ngược lại, nếu thực hiện chính sách phát triển viên chức không tốt thì sẽ tác động tiêu cực đến động lực làm việc của viên chức, tạo nên tâm lý chán nản, không

có động lực phấn đấu, nảy sinh những hành động cũng như thái độ tiêu cực trong làm việc

Thứ ba, thông qua việc thực hiện chính sách phát triển viên chức, các

nhà hoạch định chính sách có thể phát hiện ra những vấn đề chính sách nảy sinh trong quá trình thực hiện, từ đó có những điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp trong quá trình thực hiện chính sách Trong trường hợp thực hiện điều chỉnh chính sách mà vẫn không mang lại hiệu quả mong muốn, các nhà hoạch định chính sách sẽ thay đổi chính sách khác cho phù hợp, hiệu quả hơn

Thứ tư, thực hiện chính sách phát triển viên chức để thể hiện tính đúng

đắn, tính phù hợp của chính sách Nếu trong quá trình thực hiện chính sách sẽ nảy sinh nhiều vấn đề và chính sách không được cán bộ, công chức trong ngành hưởng ứng thực hiện thì đó là chính sách không ph hợp, không đúng đắn Ngược lại, nếu trong quá trình thực hiện chính sách thuận lợi, được mọi người thực hiện và phổ biến rộng rãi thì đó là chính sách đúng đắn, phù hợp Hay nói cách khác, đó là sự kiểm định thực tiễn của chính sách

Thứ năm, thực hiện chính sách phát triển viên chức có ý nghĩa quan

trọng đối với việc phân tích và đánh giá chính sách Việc phân tích và đánh giá chính sách chỉ đầy đủ và có tính thuyết phục sau khi thực hiện chính sách này trên thực tế

Trang 24

21

1.4 Nội dung các bước thực hiện chính sách phát triển viên chức

1.4.1 Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách phát triển viên chức

Để thực hiện chính sách phát triển viên chức, các cơ quan từ Trung ương đến địa phương đều phải xây dựng kế hoạch thực hiện chính sách và xác định được chính xác, cụ thể các nội dung, nhiệm vụ trong kế hoạch tổ chức điều hành; trong kế hoạch cung cấp các nguồn vật lực (bao gồm cả nguồn lực tài chính và cơ sở vật chất kỹ thuật) cho việc thực hiện chính sách phát triển viên chức; trong kế hoạch kiểm tra đôn đốc thực thi chính sách và trong việc xác định hợp lý thời gian thực hiện chính sách Cùng với xây dựng kế hoạch thực hiện chính sách, phải xây dựng nội quy, quy chế tổ chức điều hành thực hiện chính sách Nếu các kế hoạch trên được xây dựng một cách chính xác và đảm bảo tính khả thi thì quá trình thực thi chính sách sẽ thuận lợi và đạt hiệu quả cao đồng thời trong quá trình thực hiện sẽ không phải điều chỉnh, bổ sung

kế hoạch Để xây dựng được kế hoạch thực hiện chính sách chính xác, có tính khả thi cao đòi hỏi cán bộ, công chức, viên chức có nhiệm vụ tham mưu, xây dựng kế hoạch thực hiện chính sách phải hiểu và nắm chắc mục tiêu, nội dung, nhiệm vụ, phạm vi, đối tượng, quy mô, tầm quan trọng của chính sách phát triển viên chức Trên cơ sở đó, xác định mục tiêu, nội dung, nhiệm vụ, các nguồn lực (nhân lực và vật lực), thời gian và các giải pháp tổ chức thực hiện

1.4.2 Phổ biến, tuyên truyền thực hiện chính sách phát triển viên chức

Việc phổ biến, tuyên truyền thực hiện chính sách phát triển viên chức giúp cho viên chức (là đối tượng thụ hưởng trực tiếp của chính sách) hiểu rõ

về mục đích, yêu cầu và tính đúng đắn của chính sách để họ tự giác thực hiện Đồng thời, việc tuyên truyền, phổ biến chính sách này giúp cho cán bộ, công

Trang 25

22

chức, viên chức có trách nhiệm tổ chức thực thi nhận thức đầy đủ tính chất, quy mô, tầm quan trọng của chính sách để họ tích cực tìm kiếm các giải pháp thực hiện Để phổ biến, tuyên truyền chính sách đạt hiệu quả cao đòi hỏi cán

bộ, công chức phải am hiểu chính sách, phải nắm chính xác, đầy đủ mục tiêu, nội dung, nhiệm vụ, yêu cầu, phạm vi, đối tượng của chính sách Đồng thời, phải nhận thức được đầy đủ mục đích, yêu cầu, nội dung, nhiệm vụ của việc tuyên truyền, phổ biến chính sách phát triển viên chức Trên cơ sở đó, xác định lựa chọn các kỹ năng, các giải pháp phổ biến, tuyên truyền chính sách phù hợp cho từng đối tượng viên chức tại địa bàn Tùy từng loại đối tượng và tùy từng đặc điểm của mỗi cơ quan làm công tác viên chức mà có các hình thức phổ biến, tuyên truyền và quán triệt thực hiện chính sách cho phù hợp như: mở các lớp tập huấn tập trung để quán triệt nghiên cứu các nội dung chính sách, bàn các giải pháp và phân công thực hiện chính sách; tổ chức các lớp tuyên truyền chính sách cho các cơ quan thông tấn, báo chí để họ tuyên truyền; xây dựng văn bản hướng dẫn phổ biến cụ thể việc thực hiện chính sách gửi cho các cơ quan, đơn vị và cán bộ, công chức để họ thực hiện chính sách Trong xây dựng các văn bản hướng dẫn cụ thể thực hiện chính sách phát triển viên chức trên địa bàn cũng như các văn bản phổ biến, hướng dẫn chính sách này phải đảm bảo chính xác, đúng với các quy định trong chính sách, làm sao đơn giản, cụ thể, dễ hiểu, dễ thực hiện Tuyệt đối không được bổ sung các quy định mang tính chất thủ tục dườm rà, khó thực hiện và làm sai lệch chính sách Việc phổ biến, tuyên truyền chính sách không phải là công việc đơn giản, đòi hỏi cán bộ, công chức làm công tác phổ biến tuyên truyền chính sách phải am hiểu sâu sắc chính sách phát triển viên chức, có trình độ năng lực chuyên môn và có kỹ năng phổ biến, tuyên truyền chính sách

Trang 26

23

1.4.3 Phân công, phối hợp thực hiện chính sách phát triển viên chức

Để tổ chức thực hiện chính sách có hiệu quả cần phải có sự phân công, phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, các ngành, các cấp Sự phân công, phối hợp ở đây không chỉ là giữa các cơ quan mà còn là sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan ngoài ngành có liên quan (ngành nội vụ, tài chính…) Việc phân công, phối hợp trong thực hiện chính sách phát triển viên chức trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng cũng như bảo đảm chính sách phát triển viên chức địa bàn quận Hai Bà Trưng cho tổ chức điều hành chính sách này một cách chặt chẽ, khoa học và hợp lý Đó là việc phân công trách nhiệm cụ thể cho các tổ chức, cá nhân có liên quan trong thực hiện chính sách; xác định tổ chức, cơ quan, cá nhân chủ trì, chịu trách nhiệm chính, các cá nhân, tổ chức,

cơ quan tham gia phối hợp trong quá trình thực hiện chính sách Đồng thời, thông qua việc phân công, phối hợp thực hiện chính sách một cách khoa học, hợp lý sẽ phát huy nhân tố tích cực góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách

Trong phân công nhiệm vụ thực hiện chính sách phát triển viên chức cần đặc biệt chú ý đến khả năng, trình độ năng lực chuyên môn và thế mạnh của từng tổ chức, cá nhân, cơ quan, hạn chế tình trạng chồng chéo nhiệm vụ

và không rõ trách nhiệm Hiệu quả thực hiện chính sách phụ thuộc khá nhiều vào năng lực, khả năng, nhân công, phối hợp trong tổ chức thực hiện chính sách

1.4.4 Duy trì chính sách phát triển viên chức

Duy trì chính sách phát triển viên chức bảo đảm cho chính sách này tồn tại và phát huy được tác dụng trong môi trường thực tế Trong quá trình thực hiện chính sách, các cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm cần tham mưu,

đề xuất các giải pháp, các biện pháp bảo đảm cho chính sách được duy trì, tồn tại và phát huy tác dụng trong môi trường thực tế Khi thực hiện chính sách

Trang 27

24

gặp những khó khăn do môi trường thực tế biến động đòi hỏi đội ngũ cán bộ, công chức thực thi chính sách phải có năng lực hay kiến thức sử dụng hệ thống công cụ quản lý tác động nhằm tạo lập môi trường thuận lợi cho việc thực thi chính sách này trên thực tế

Đồng thời, cần chủ động tham mưu, đề xuất với chủ thể ban hành chính sách và áp dụng các giải pháp, biện pháp thực hiện chính sách phù hợp với hoàn cảnh mới Việc duy trì chính sách phát triển viên chức có ý nghĩa vô cùng quan trọng bảo đảm cho chính sách này tồn tại và phát huy tác dụng bền vững Nếu không duy trì chính sách sẽ dẫn đến hiệu quả chính sách thấp, gây lãng phí, không đáp ứng được yêu cầu của chính sách Việc duy trì và bảo đảm sự tồn tại và phát huy tác dụng bền vững của chính sách đòi hỏi đội ngũ cán bộ, công chức thực hiện chính sách phải am hiểu sâu sắc về chính sách, phải nắm chắc mục tiêu, nội dung, nhiệm vụ, yêu cầu, đối tượng, công cụ thực hiện chính sách này Đồng thời, phải sử dụng các công cụ quản lý khác tác động đến việc thực hiện chính sách, đề xuất các giải pháp hỗ trợ duy trì chính sách

1.4.5 Điều chỉnh chính sách phát triển viên chức

Việc điều chỉnh chính sách phát triển viên chức để chính sách phù hợp với yêu cầu quản lý và tình hình thực tế Trong quá trình thực hiện chính sách nếu gặp khó khăn do môi trường thực tế thay đổi, do chính sách còn những bất cập, hạn chế, chính sách không sát và không phù hợp với thực tiễn cần có những điều chỉnh nhất định để đáp ứng yêu cầu, mục tiêu và phù hợp với tình hình thực tế Điều chỉnh các giải pháp, biện pháp, cơ chế chính sách để chính sách được thực hiện có hiệu quả nhưng không làm thay đổi mục tiêu chính sách, nếu thay đổi mục tiêu thì chính sách này coi như thất bại Thẩm quyền điều chỉnh bổ sung chính sách phát triển viên chức thuộc thẩm quyền của các

cơ quan, tổ chức ban hành chính sách này nhưng việc điều chỉnh các biện

Trang 28

có hiệu quả, bảo đảm mục tiêu chính sách đề ra Cán bộ, công chức, viên chức thực thi chính sách phải am hiểu, nắm chắc các quy định, các công cụ thực hiện chính sách, đông thời phải có kiến thức, kỹ năng phân tích các hạn chế, bất cập của chính sách, các yêu cầu thực tiễn đặt ra trong thực hiện chính sách

để có cơ sở khoa học đề xuất điều chỉnh các giải pháp, biện pháp và cơ chế chính sách

Đồng thời, phải để cao trách nhiệm trong tham mưu điều chỉnh biện pháp, cơ chế chính sách, phải tôn trọng nguyên tắc khi điều chỉnh chính sách Chính sách phát triển viên chức hiện nay có cần phải điều chỉnh hay không hoặc điều chỉnh nhiều hay ít phụ thuộc vào tính hợp lý của chính sách và các vấn đề phát sinh cần điều chỉnh trong quá trình thực hiện chính sách này trên thực tế

1.4.6 Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách phát triển viên chức

Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách phát triển viên chức giúp kịp thời bổ sung hoàn thiện chính sách đồng thời chấn chỉnh công tác tổ chức thực hiện chính sách, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện mục tiêu chính sách Theo dõi, đôn đốc, kiểm tra là một nhiệm vụ, là một khâu quan trọng trọng thực hiện chính sách Để theo dõi, kiểm tra, đốn đốc việc thực hiện chính sách phát triển viên chức cần phải am hiểu sâu sắc mục tiêu của chính sách này, đối tượng thụ hưởng của chính sách và các quy định, công cụ, giải pháp thực hiện chính sách

Trang 29

26

Đồng thời, nắm chắc và chính xác các quy định trong kế hoạch thực hiện chính sách, quy chế và nội quy thực hiện chính sách Muốn theo dõi, kiểm tra, đôn đốc thực hiện chính sách phát triển viên chức cần thu thập, cập nhật đầy đủ các nguồn thông tin, các cơ sở dữ liệu thông tin phản ánh về quá trình triển khai và kết quả thực hiện chính sách từ các cơ quan, tổ chức hữu quan trong và ngoài ngành, đặc biệt là từ các viên chức tại quận Hai Bà Trưng

là đối tượng thụ hưởng chính sách này Trên cơ sở đó, xử lý phân tích thông tin, đối chiếu so sánh với các quy định trong chính sách, các quy định trong

kế hoạch, trong quy chế, nội quy thực hiện chính sách để có cơ sở phát hiện phòng ngừa và xử lý vi phạm (nếu có), phát hiện sơ hở trong quản lý, trong tổ chức thực hiện, đề xuất các giải pháp chấn chỉnh việc thực hiện, điều chỉnh các biện pháp, cơ chế chính sách góp phần hoàn thiện chính sách và nâng cao hiệu quả chính sách

1.4.7 Đánh giá, tổng kết rút kinh nghiệm việc thực hiện chính sách phát triển viên chức

Đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm việc thực hiện chính sách phát triển viên chức là việc làm cần thiết và là một khâu, một nhiệm vụ rất quan trọng không thể thiếu được trong quá trình thực hiện chính sách này Đánh giá, tổng kết thực hiện chính sách là quá trình xem xét kết luận về sự chỉ đạo, điều hành

tổ chức thực hiện chính sách của chủ thể thực hiện chính sách (các cơ quan, tổ chức và đội ngũ cán bộ, công chức viên chức có chức năng thực hiện chính sách) và việc chấp hành, thực hiện của viên chức là đối tượng thụ hưởng chính sách Để đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm chính chính sách một cách chính xác cần phải căn cứ vào các tiêu chuẩn, tiêu chí và các nguyên tắc nhất định Cơ sở để xây dựng tiêu chí đánh giá công tác chỉ đạo điều hành thực thi chính sách là kế hoạch và các quy định, quy chế kèm theo Ngoài ra, còn phải

sử dụng các văn bản liên tịch giữa các cơ quan trong và ngoài ngành, các văn

Trang 30

27

bản quy phạm pháp luật, các báo cáo kết quả thực hiện chính sách của các cơ quan, tổ chức, đơn vị liên quan Để tổng kết, đánh giá chính xác, ngoài các tiêu chí ra còn phải căn cứ vào các nguyên tắc đã được xác định, thống nhất giữa các cơ quan, tổ chức, đơn vị liên quan Các nguyên tắc đó là toàn diện, công bằng và khách quan Việc đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm phải chỉ ra được chính xác các ưu điểm, nhược điểm, kinh nghiệm thực hiện chính sách

Cùng với việc tổng kết, đánh giá kết quả chỉ đạo, điều hành thực hiện của các cơ quan trong đơn vị sự nghiệp, hành chính và các cơ quan chủ trì thực hiện chính sách, còn phải xem xét, đánh giá kết quả thực hiện của đối tượng thụ hưởng trực tiếp của chính sách là viên chức và các đối tượng thụ hưởng gián tiếp của chính sách Thước đo, căn cứ để đánh giá kết quả thực hiện chính sách phát triển viên chức là tinh thần hưởng ứng với mục tiêu của chính sách, ý thức chấp hành những quy định về cơ chế, biện pháp do cơ quan chủ trì thực hiện chính sách ban hành để thực hiện mục tiêu chính sách và các quy định cụ thể của chính sách

Đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm thực hiện chính sách nói chung và chính sách phát triển viên chức nói riêng là công việc khó, phức tạp trong quá trình thực hiện chính sách Điều đó đòi hỏi các cơ quan, tổ chức, đơn vị trong

và ngoài ngành và cán bộ, công chức, viên chức tại địa bàn tham gia vào công việc này phải có trình độ năng lực, kiến thức và kỹ năng nhất định, nếu không khó có thể đánh giá được chính xác kết quả thực hiện chính sách, khó có thể rút ra được bài học kinh nghiệm trong thực hiện chính sách này

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức thực hiện chính sách phát triển viên chức

1.5.1 Yếu tố khách quan

Một là, tính chất của vấn đề chính sách Vấn đề của chính sách là phát

triển viên chức Đây là một vấn đề lớn có tác động trực tiếp đến đội ngũ viên

Trang 31

28

chức và tác động gián tiếp đến hiệu quả hoạt động bộ máy phát triển viên chức ở nước ta Trong những năm qua, gắn liền với công cuộc Đổi mới và đẩy mạnh cải cách hành chính, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành và thực hiện nhiều chính sách phát triển viên chức nói chung, trong đó có việc phát triển viên chức tại quận Hai Bà Trưng nói riêng cũng được quan tâm sâu sắc Mặc

dù những chính sách đó đã tác động tích cực và giải quyết phần nào được các vấn đề thực tiễn đòi hỏi, tuy nhiên những chính sách đã được ban hành và thực hiện vẫn chưa thực sự có tính đột phá Điều đó thể hiện tính phức tạp của vấn đề chính sách và là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách này

Hai là, môi trường thực thi chính sách phát triển viên chức Đó là toàn

bộ các thành phần vật chất, phi vật chất tham gia thực hiện chính sách như: các nhóm lợi ích có được từ chính sách này; các điều kiện vật chất, kỹ thuật trong nền kinh tế; bầu không khí chính trị; trật tự xã hội; quan hệ quốc tế Môi trường thực hiện chính sách phát triển viên chức hiện nay có nhiều thuận lợi

Đó là: hệ thống chính trị ổn định; do tính chất công việc nên được Đảng và Nhà nước quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, kỹ thuật; thuận lợi trong việc hợp tác quốc tế Cùng với cải cách hành chính Đảng và Nhà nước ta cũng đang đẩy mạnh cải cách khu vực sự nghiệp dịch vụ công, tạo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm và các điều kiện cho các đơn vị sự nghiệp dịch vụ công hoạt động

có hiệu quả, phục vụ tốt hơn các yêu cầu của người dân và xã hội Đó là điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện chính sách phát triển viên chức Tuy nhiên, môi trường thực hiện chính sách này cũng đặt ra nhiều thách thức trong quá trình thực hiện chính sách đó là: Do tính chất của hệ thống chính trị của nước

ta nên hệ thống các cơ quan có chức năng hoạt động khá đa dạng

Ba là, mối quan hệ giữa các đối tượng thực thi chính sách phát triển

viên chức ở nước ta hiện nay Như phân tích ở trên, do hệ thống cơ quan có

Trang 32

Bốn là, tiềm lực của các nhóm đối tượng chính sách phát triển viên

chức Đó là thực lực và tiềm năng của mỗi nhóm đối tượng chính sách có được trong mối quan hệ so sánh với các nhóm đối tượng khác Tiềm lực của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức hiện nay nhìn chung có nhiều thuận lợi cho việc thực hiện chính sách này

Năm là, đặc tính của đối tượng chính sách phát triển viên chức Thực tế

cho thấy, do tính chất nghề nghiệp nên viên chức đa phần là những cán bộ có năng lực trình độ cao, khá nhạy bén và dễ dàng tiếp nhận những chính sách mới và có ý thức kỷ luật cao Đây là mặt thuận lợi trong việc thực thi chính sách phát triển viên chức ở nước ta hiện nay

1.5.2 Yếu tố chủ quan

Một là, thực hiện đúng, đầy đủ các bước trong quá trình tổ chức thực

hiện chính sách Đây là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu ảnh hưởng đến quá trình thực thi chính sách nói chung và chính sách phát triển viên chức ở nước ta nói riêng Thực hiện chính sách luôn luôn là một chu trình đòi hỏi phải thực hiện đầy đủ các bước, các khâu bởi các bước này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Nếu thiếu một bước thì việc thực hiện các bước sau sẽ gặp nhiều khó khăn, thậm chí có thể làm cho việc thực hiện chính sách đạt kết quả không cao, làm chệch hướng mục tiêu chính sách Thực tế thực hiện chính sách phát triển viên chức ở nước ta hiện nay cho thấy đôi khi

Trang 33

30

chưa thực hiện đúng, đủ các bước trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách, đặc biệt là các bước phân công phối hợp thực hiện và phổ biến, tuyên

truyền chính sách phát triển viên chức

Hai là, năng lực thực thi chính sách của đội ngũ cán bộ, công chức có

trách nhiệm thực thi chính sách phát triển viên chức ở nước ta hiện nay Có thể nói, chất lượng hiệu quả thực hiện chính sách phụ thuộc rất nhiếu và năng lực thực hiện chính sách của đội ngũ cán bộ, công chức có trách nhiệm thực thi chính sách Nếu năng lực của cán bộ thực thi chính sách tốt, thì quá trình thực hiện chính sách sẽ diễn ra thuận lợi, thậm chí trong các bước tổ chức thực thi chính sách có phát sinh các vấn đề thì cũng dễ dàng điều chỉnh để đạt được mục tiêu chính sách Ngược lại, năng lực của cán bộ thực thi chính sách kém, không am hiểu sâu về chính sách và thực thi chính sách thì quá trình thực thi chính sách sẽ gặp rất nhiều khó khăn, thậm chí không đạt được mục tiêu chính sách Thực trạng năng lực thực hiện chính sách phát triển viên chức

ở nước ta nói chung và chính sách phát triển viên chức ở quận Hai Bà Trưng

nói riêng bên cạnh những ưu điểm còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập

Ba là, điều kiện vật chất cho quá trình thực hiện chính sách phát triển

viên chức Điều kiện vật chất (trong đó đặc biệt là điều kiện tài chính) ảnh hưởng rất nhiều đến quá trình thực hiện chính sách và hiệu quả của chính sách Trong bối cảnh nền kinh tế nước ta hiện nay, Đảng, Nhà nước đã có nhiều quan tâm bố trí điều kiện vật chất cho việc thực hiện chính sách phát triển viên chức nhưng thực tế cho thấy điều kiện này chưa đáp ứng tốt nhất cho việc thực hiện chính sách này một cách hiệu quả nhất Không đảm bảo điều kiện vật chất cho quá trình thực hiện chính sách cũng sẽ tác động đến việc duy trì chính sách, thành phố một trong những bước rất quan trọng của

quá trình thực thi chính sách

Trang 34

31

Bốn là, sự đồng tình, ủng hộ của đối tượng thụ hưởng chính sách là đội

ngũ viên chức ở nước ta và các đối tượng liên quan Do đây là chính sách phát triển viên chức, mục tiêu của chính sách là làm cho đời sống của đội ngũ viên chức được đảm bảo hơn nên chính sách nhận được sự đồng tình ủng hộ thực hiện của đội ngũ viên chức Đó là sự thuận lợi rất lớn trong việc thực hiện chính sách này

1.6 Những yêu cầu cơ bản đối với tổ chức thực hiện chính sách phát triển viên chức

Trong tổ chức thực hiện chính sách phát triển viên chức ở nước ta hiện nay cần phải đảm bảo những yêu cầu cơ bản sau:

Một là, yêu cầu bảo đảm mục tiêu chính sách Đây là yêu cầu quan

trọng nhất và xuyên suốt trong quá trình thực hiện chính sách Bảo đảm mục tiêu chính sách tức là bảo đảm cho vấn đề chính sách được giải quyết Trong quá trình thực thi chính sách, có thể phát sinh những vấn đề nảy sinh phức tạp đòi hỏi sự bổ sung, điều chỉnh trong quá trình thực thi chính sách nhưng tuyệt đối không được thay đổi mục tiêu chính sách Mục tiêu của chính sách phát triển viên chức ở nước ta hiện nay là bảo đảm cho viên chức ở nước ta có mức sống trung bình ở đô thị hiện tại và phấn đấu đến năm 2020, đảm bảo viên chức có cuộc sống khá giả Từ đó, đáp ứng thỏa mãn một phần nhu cầu vật chất của viên chức, làm cho viên chức cảm thấy hài lòng với lợi ích mà họ nhận được, tạo động lực thúc đẩy công chức làm việc với tinh thần cống hiến

và yên tâm hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao Trong quá trình thực hiện chính sách, cần phải bảo đảm mục tiêu trên Nếu thay đổi mục tiêu thì chính sách coi như thất bại

Hai là, yêu cầu bảo đảm tính hệ thống Tính hệ thống trong thực hiện

chính sách thể hiện ở hai khía cạnh: hệ thống trong các cơ quan thực thi chính sách và hệ thống trong chính sách Chính sách cần phải đảm bảo tính thống

Trang 35

Ba là, yêu cầu các cơ quan, tổ chức, đơn vị phải bảo đảm tính pháp lý,

khoa học và hợp lý trong tổ chức thực hiện chính sách phát triển đối với viên chức ở nước ta hiện nay Đây là yêu cầu căn bản trong quá trình thực hiện chính sách, có tác động đến việc bảo đảm mục tiêu chính sách Việc thực thi chính sách phải bảo đảm tính pháp lý và khoa học, nếu không bảo đảm tính pháp lý, sử dụng ý chí cá nhân can thiệp vào quá trình thực thi chính sách sẽ tác động không tốt đến quá trình thực thi và tâm lý của viên chức và do đó sẽ ảnh hưởng đến mục tiêu của chính sách Mặt khác, việc tổ chức thực thi chính sách một cách khoa học, hợp lý sẽ giúp cho việc thực thi chính sách một cách thuận lợi hơn, dễ dàng đạt được mục tiêu hơn

Bốn là, yêu cầu bảo đảm lợi ích thực sự cho các đối tượng thụ hưởng

Chính sách phát triển viên chức nhằm bảo đảm và đáp ứng yêu cầu vật chất

và tinh thần cho đội ngũ viên chức nên nhận được sự hưởng ứng tích cực thực hiện của đội ngũ viên chức Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện phải bảo đảm lợi ích thực sự cho họ, tránh việc thực hiện mang tính hình thức vì như vậy sẽ không giải quyết được vấn đề chính sách là vấn đề nảy sinh trong thực tiễn Đồng thời, tránh sự mất công bằng, lợi ích nhóm trong quá trình thực thị chính sách Việc yêu cầu này có được bảo đảm hay không trong quá trình thực thi chính sách thể hiện ở sự hài lòng của đội ngũ viên chức là đối tượng thụ hưởng của chính sách

Đó là những yêu cầu cơ bản quan trọng trong thực hiện chính sách phát triển viên chức ở nước ta hiện nay

Trang 36

33

1.7 Các phương pháp tổ chức thực hiện chính sách phát triển viên chức

Phương pháp tổ chức thực hiện chính sách phát triển viên chức ở nước

ta hiện nay là cách thức tác động của chủ thể thực hiện chính sách lên các đối tượng thực thi chính sách và đối tượng thụ hưởng của chính sách này nhằm đạt được mục tiêu của chính sách Trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách phát triển viên chức có thể kể đến một số phương pháp cơ bản đó là:

1.7.1 Phương pháp kinh tế

Phương pháp kinh tế là cách thức tác động gián tiếp của chủ thể thực hiện chính sách phát triển viên chức lên đối tượng thụ hưởng chính sách trong quá trình thực thi chính sách này, dựa trên những lợi ích kinh tế có tính hướng dẫn, lên đội ngũ viên chức để cho đội ngũ viên chức tại Quận tự giác chủ động thực hiện chính sách Đó không phải là sự cưỡng chế hành chính mà bằng lợi ích vật chất, bằng sự khuyến khích về kinh tế Đây là phương pháp tốt để thực thi chính sách phát triển viên chức Trên thực tế, quyền lợi về mặt vật chất và kinh tế là điều mà ai cũng mong muốn có được, vì vậy sử dụng phương pháp kinh tế sẽ tác động trực tiếp đến tâm lý và nguyện vọng của viên chức, thúc đẩy họ có trách nhiệm và nhiệt tình hơn trong việc thực thi chính sách Trong thực hiện chính sách phát triển viên chức ở nước ta hiện nay, các phương pháp kinh tế được sử dụng như thưởng về vật chất…Mặc dù, trong quá trình thực thi chính sách phát triển viên chức nước ta hiện nay, phương pháp kinh tế chưa được sử dụng nhiều nhưng phần nào cũng có tác động tích cực đến quá trình thực thi chính sách này

1.7.2 Phương pháp giáo dục, thuyết phục

Phương pháp này được áp dụng để làm cho đối tượng thực thi chính sách và đối tượng thụ hưởng chính sách là viên chức hiểu rõ sự cần thiết của chính sách và tự giác thực hiện chính sách Phương pháp này được tiến hành

Ngày đăng: 29/09/2016, 16:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
28. Văn Tất Thu (1999), "Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu thời kỳ công nghiệp hóa, thành phố hiện đại hóa đất nước", Tạp chí Tổ chức nhà nước, tháng 5 năm 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu thời kỳ công nghiệp hóa, thành phố hiện đại hóa đất nước
Tác giả: Văn Tất Thu
Năm: 1999
30. Văn Tất Thu (2010)"Viên chức và những vấn đề cần chú ý trong xây dựng luật viên chức", Tạp chí Tổ chức Nhà nước tháng 10/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viên chức và những vấn đề cần chú ý trong xây dựng luật viên chức
1. Hoàng Chí Bảo (2012), “Thực hiện tốt chính sách cán bộ, thành phố giải pháp động lực góp phần đẩy l i suy thoái, tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống’’ Khác
2. Ban Tổ chức Trung ương (1998), Quan điểm, chính sách đào tạo và sử dụng đối với cán bộ, thực trạng, nguyên nhân và giải pháp, Báo cáo chuyên đề Khác
3. Ban Tổ chức Trung ương, Bộ Nội vụ (2010-2015), Về hệ thống các Quyết định, Hướng dẫn, văn bản và báo cáo các năm Khác
4. Bộ GD&ĐT (2008), Quyết định số 02/2008/QĐ-BGDĐT ngày 21/01/2008 về ban hành Quy định Chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non Khác
5. Bộ GD&ĐT (2007), Quyết định số 14/2007/QĐ-BGDĐT ngày 4/5/2007 về việc ban hành Quy định Chuẩn nghề nghiệp giáo viên tiểu học Khác
6. Bộ GD&ĐT (2009), Thông tư số 30/2009/TT-BGDĐT ngày 22/10/2009 về việc ban hành Quy định Chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học Khác
8. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2004), Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 của Chính phủ về "chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang&#34 Khác
9. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2009), Nghị định số 76/2009/NĐ-CP ngày 15/9/2009 của Chính phủ về "sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004&#34 Khác
10. Đảng bộ Thành phố Hà Nội (2010), Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Thành phố Hà Nội lần thứ XV (2010, thành phố 2015) Khác
11. Đỗ Phú Hải (2012), “Quy trình chính sách công tại Việt Nam, những vấn đề lý luận và thực tiễn’’, Đề tài khoa học cấp cơ sở Khác
12. Đỗ Phú Hải (2014), “Khái niệm chính sách công’’, Tạp chí lý luận chính trị số 02 Khác
13. Đỗ Phú Hải (2014), Xây dựng chính sách công “Vấn đề, giải pháp và các yếu tố ảnh hưởng’’, Tạp chí lý luận chính trị số 05 Khác
14. Đỗ Phú Hải (2014), “Suy nghĩ về chính sách công hiện nay ở Việt Nam’’, Tạp chí Cộng sản số 07 Khác
15. Đỗ Phú Hải (2014), “Chính sách công theo tinh thần Hiến pháp năm 2013’’, Tạp chí Khoa học xã hội.16. Luật Viên chức (2010) Khác
18. Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, Hiến pháp năm 1980, 1992 và 2013 Khác
19. Nghị định số 43/2006/NĐ-CP của Chính phủ quy định về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập Khác
20. Nghị định số 24/2010/NĐ-CP ngày 15/3/2010 "Quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức&#34 Khác
21. Nghị định số 29/2012/NĐ-CP ngày 12/4/2012 của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w