1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bình luận vấn đề hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng chống tội phạm trong giai đoạn hiện nay

17 1,5K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 120,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luật quốc tế có vai trò quan trọng trong việc đấu tranh phòng chống, ngăn ngừa tội phạm nói chung và tội phạm quốc tế nói chung. Luật quốc tế là cơ sở để hợp tác trong đấu tranh phòng chống tội phạm trên phạm vi toàn cầu. Khi sự bùng nổ của công nghệ thông tin, sự đẩy mạnh hội nhập quốc tế trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, một số loại tội phạm mang tính quốc tế sẽ tiếp tục gia tăng và có diễn biến hết sức phức tạp, gây ảnh hưởng xấu tới cuộc sống của người dân các quốc gia nói riêng và trên toàn thế giới. Việc đấu tranh phòng chống tội phạm này không phải một quốc gia nào có thể thực hiện mà cần phải có sự hợp tác giữa các quốc gia với nhau. Trách nhiệm ngăn ngừa trấn áp tội phạm này thuộc về nghĩa vụ của tất cả các quốc gia trên thế giớinên cần phải có sự hợp tác giữa các quốc gia lại với nhau, để mang lại cuộc sống hòa bình, ấm no, hạnh phúc cho nhân loại. Nhận thức được tầm quan trọng của luật quốc tế trong hợp tác đấu tranh phòng chống tội phạm có tính chất quốc tế nên em chọn đề tài làm đề tài nghiên cứu với hi vọng sẽ phần nào đó làm rõ được những quy định của pháp luật quốc tế về vấn đề trên.

Trang 1

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIỂM SÁT HÀ NỘI

_  _

BÀI TIỂU LUẬN CÁ NHÂN

Môn: Công pháp quốc tế

Đề tài: Bình luận vấn đề hợp tác quốc tế trong đấu tranh

phòng chống tội phạm trong giai đoạn hiện nay

Họ và tên: Đặng Chí Nguyện Lớp :K2I

Mã SV :1453801010182

Hà Nội 2016

MỤC LỤC

Trang 2

A Lời mở đầu 3

B Nội dung 4

I Khái niệm tội phạm có tính chất quốc tế 4

II Nội dung chủ yếu của các điều ước quốc tế về phòng, chống tội phạm có tính chất quốc tế 4

1 Tội phạm cướp biển 5

2 Tội buôn bán nô lệ và buôn bán người 6

3 Tội phạm khủng bố quốc tế 9

4 Tội bắt cóc con tin 10

5 Tội phạm đe dọa an ninh hàng không dân dụng 11

6 Tội phạm đe dọa an ninh hàng hải 11

7 Tội buôn bán bất hợp pháp chất ma túy 12

8 Tội làm tiền giả 12

III Dẫn độ và tương trợ tư pháp hình sự 14

1 Dẫn độ 14

2 Tương trợ tư pháp 15

C Kết luận 17

Trang 3

A Lời mở đầu

Luật quốc tế có vai trò quan trọng trong việc đấu tranh phòng chống, ngăn ngừa tội phạm nói chung và tội phạm quốc tế nói chung Luật quốc tế là cơ sở

để hợp tác trong đấu tranh phòng chống tội phạm trên phạm vi toàn cầu Khi sự bùng nổ của công nghệ thông tin, sự đẩy mạnh hội nhập quốc tế trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, một số loại tội phạm mang tính quốc tế sẽ tiếp tục gia tăng và có diễn biến hết sức phức tạp, gây ảnh hưởng xấu tới cuộc sống của người dân các quốc gia nói riêng và trên toàn thế giới Việc đấu tranh phòng chống tội phạm này không phải một quốc gia nào có thể thực hiện mà cần phải

có sự hợp tác giữa các quốc gia với nhau Trách nhiệm ngăn ngừa trấn áp tội phạm này thuộc về nghĩa vụ của tất cả các quốc gia trên thế giớinên cần phải có

sự hợp tác giữa các quốc gia lại với nhau, để mang lại cuộc sống hòa bình, ấm

no, hạnh phúc cho nhân loại Nhận thức được tầm quan trọng của luật quốc tế trong hợp tác đấu tranh phòng chống tội phạm có tính chất quốc tế nên em chọn

đề tài làm đề tài nghiên cứu với hi vọng sẽ phần nào đó làm rõ được những quy định của pháp luật quốc tế về vấn đề trên

Trang 4

B Nội dung

I Khái niệm tội phạm có tính chất quốc tế

a) Định nghĩa tội phạm quốc tế

Tội phạm có tính chất quốc tế là tội phạm xâm hại trật tự pháp lý quốc gia

và gây nguy hại tới đời sống cộng đồng quốc tế (giáo trình trường đại học Kiểm sát Hà Nội)

Tôi phạm có tính chất quốc tế là nhóm tội phạm thuộc sự điều chỉnh cùa luật quốc tế , là tội phạm hình sự quốc tế, tội phạm theo công ước gây nguy hại cho xã hội , các quốc gia cũng như cộng đồng quốc tế , trong cấu thành của tội phạm thỏa mãn tính chất quốc tế Tính chất quốc tế trong cấu thành của nhóm tội phạm này thể hiện ở các dấu hiệu sau:

hiện ở một vài lãnh thổ quốc gia hoặc trên lãnh thổ không thuộc thẩm quyền Tài Phán của quốc gia

điểm thực hiện tội phạm Ví dụ : chủ thể của tội phạm có quốc tịch khác nhau, khách thể tội phạm là lợi ích liên quan tới nhiều quốc gia khác nhau…

phạm này để đạt được kết quả cao trong đấu tranh phòng chống tội phạm có tính chất quốc tế cần phải sử dụng các công cụ pháp lý quốc tế như các điều ước quốc tế song phương ,đa phương

b) Phân loại

Tội phạm có tính chất quốc tế không chỉ xâm hại an ninh trật tự pháp lý của một quốc gia mà còn đe dọa cả an ninh hòa bình của cộng đồng quốc tế Việc phân loại tội phạm có tính chất quốc tế đóng vai trò quan trọng và cần thiết trong cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm Từ đó sẽ xác định được mức độ nguy hiểm của tội phạm đó đối với cộng đồng quốc tế cũng như đối với từng quốc gia Hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau trong việc phân loại tội phạm có tính chất quốc tế căn cứ vào tính chất cũng như hậu quả của loại tội phạm đó gây ra cho cộng đồng quốc tế ví dụ nhóm tội phạm xâm phạm biến hòa bình và quan hệ quốc tế như tội phạm khủng bố, tội đe dọa an ninh hàng không… hoặc tội phạm xâm phạm đến quá trình phát triển kinh tế văn hóa xã hội.Có một số tội phạm mang tính chất quốc tế chủ yếu sau: tội cướp biển ,tội buôn bán người và buôn bán nô lệ , tội phạm khủng bố quốc tế, tội bắt cóc con tim,tội hàng không và hàng hải quốc tế, tội buôn bán ma túy và các chất hướng thần, tội làm tiền giả

II Nội dung chủ yếu của các điều ước quốc tế về phòng, chống tội phạm

có tính chất quốc tế.

1 Tội phạm cướp biển

Trang 5

a Định nghĩa

Theo điều 101, Công ước về luật biển 1982 thì :

“Một trong những hành động sau đây là hành động cướp biển:

a) Mọi hành động trái phép dùng hành động hay bắt giữ hoặc bất kỳ sự cướp phá nào do thủy thủ hoặc hành khách trên một chiếc tàu hay một phương tiện bay tư nhân gây nên, vì những mục đích riêng tư, và nhằm:

i Chống lại một chiếc tàu hay một phương tiện bay khác, hay chống lại những người hay của cải ở trên con tàu hoặc phương tiện bay đỗ ở biển cả;

ii Chống lại một chiếc tàu hay một phương tiện bay, người hay của cải, ở một nơi không thuộc quyền tài phán của một quốc gia nào;

b) Mọi hành động tham gia có tính chất tự nguyện vào việc sử dụng một chiếc tàu hay một phương tiện bay, khi người tham gia biết từ những sự việc rằng chiếc tàu hay phương tiện bay đó là một tàu hay phương tiện bay cướp biển;

c) Mọi hành động nhằm xúi giục người khác phạm những hành động được xác định ở điểm a hoặc b hay phạm phải với chủ định làm dễ dàng cho các hành động đó”

Như vậy ta có thể đưa ra định nghĩa về cướp biển như sau: “Hành vi cướp biển là hành động trái phép dùng hành động hay bắt giữ hoặc bất kỳ sự cướp phá nào do do thủy thủ hoặc hoặc hành khách trên một chiếc tàu bay hay hay một phương tiện bay tư nhân gây nên vì những mục đích riêng tư nhằm chống lại một chiếc tàu hay một phương tiện bay khác hay chống lại những người hay của cải ở trên con tàu hoặc phương tiện bay đỗ ở trên biển cả hoặc nhằm chống lại một chiếc tàu hay một phương tiện bay người hay của cải, ở một nơi không thuộc quyền tài phán của một quốc gia nào.”

Khái niệm công ước 1982 đưa ra trên cơ sở ghi nhận và thừa kế khái niệm cướp biển trong công ước 1958 và mở rộng hơn so với quy định truyền thống về khái niệm hành vi cướp biển

b Thẩm quyền bắt giữ

Thẩm quyền bắt giữ được quy định tại điều105,công ước 1982 :

“Mọi quốc gia ở biển cả, hay ở bất cứ nơi nào khác không thuộc quyền tài phán của bất kỳ quốc gia nào, đều có thể bất giữ một chiếc tàu hay một phương tiện bay đã trở thành cướp biển, hoặc một chiếc tàu hay một phương tiện bay bị chiếm đoạt sau một hành động cướp biển và đang nằm trong tay bọn cướp biển,

và đều có thể bắt giữ người và của cải ở trên con tàu hay phương tiện bay đó

Trang 6

Các tòa án của quốc gia đã tiến hành việc bắt đó có thể công bố các hình phạt cũng như các biện pháp áp dụng đối với chiếc tàu, phương tiện bay hay của cải, trừ những người lương thiện trong cuộc.”

Công ước cũng quy định nghĩa vụ pháp lý của quốc gia phải hợp tác với nhau để trấn áp nạn cướp biển đồng thời cho phép mọi quốc gia có thẩm quyền bắt giữ tàu thuyền và phương tiện bay đang thực hiện hành vi cướp biển trên vùng biển quốc tế hoặc khu vực không thuộc quyền lực của bất kỳ quốc gia nào Thẩm quyền xét xử sẽ thuộc về quốc gia bắt giữ tàu thuyền và phương tiện bay các tội cướp biển Toà án quốc gia đã tiến hành bắt giữ có thể công bố các hình phạt cũng như các biện pháp áp dụng đối với các tàu phương tiện bay hay tài sản trên tàu do đó nghĩa vụ dẫn độ không đặt ra đối với cơ sở hữu quan trong trường hợp này

Quy định này là điểm mới rất phù hợp với hoàn cảnh, tình hình thế giới khi mà tình hình cướp biển diễn ra ngày càng phức tạp, với mưu mô, thủ đoạn ngày càng gian xảo đồng thời cho thấy tính kịp thời của pháp luật trong việc đấu tranh, phòng chống tội phạm trên

Được quy đinh trong: ĐIỀU 106 Trách nhiệm trong trường hợp bắt giữ một cách độc đoán :“Khi bắt giữ một chiếc tàu hay một phương tiện bay bị tình nghi là cướp biển mà không có lý do đầy đủ, quốc gia nào đã tiến hành việc bắt giữ đó phải chịu trách nhiệm về bất kỳ tổn thất hay thiệt hại nào do hành động

đó gây ra đối với quốc gia mà tàu mà phương tiện bay đó mang quốc tịch.”

c Chủ thể được phép bắt giữ

Theo quy định tại điều 107: Các tàu và phương tiện bay có đủ tư cách để thực hiện việc bắt giữ vì lý do cướp biển: “Chỉ có các tàu chiến hay phương tiện bay quân sự, hoặc các tàu thuyền hay phương tiện bay khác mang các dấu hiện bên ngoài chứng tỏ rõ ràng là của một cơ quan Nhà nước và được tiến hành nhiệm vụ này, mới có thể thực hiện việc bắt giữ vì lý do cướp biển”

Như vậy, không phải bất kì tàu , phương hay phương tiện bay nào cũng có thể thực hiện hành vi bắt giữ này, quy định này đảm bảo sự ổn định trên biển cả, nhằm tránh tình trạng giả mạo, gây rối loạn an ninh nơi biển khơi

2 Tội buôn bán nô lệ và buôn bán người

a Tội buôn bán nô lệ

Theo điều 1 của công ước 1926 về buôn bán nô lệ thì ta có một số khái niệm như sau:

Nô lệ là địa vị hay tình trạng của một người mà bất kỳ hoặc mọi quyền lực gắn liền với quyền sở hữu đều được thực hiện đối với họ

Trang 7

Buôn bán nô lệ bao gồm mọi hành vi liên quan đến việc đoạt được, giành được hay chuyển nhượng một người với mục đích bắt họ làm nô lệ; mọi hành vi liên quan đến việc kiếm được một nô lệ để bán hay trao đổi họ; mọi hành vi chuyển nhượng thông qua việc bán hay trao đổi một nô lệ có được với mục đích đem bán hoặc trao đổi họ, và nói chung, mọi hành vi buôn bán hay vận chuyển

nô lệ

Sau khi công ước 1926 về vấn đề nô lệ ra đời thì đã có một số đã có hàng loạt những công ước, nghị định bổ sung về vấn đề này như: Nghị định thư bổ sung 1953 cho công ước 1926, Công ước 1956 về việc hủy bỏ chế độ nô lệ, buôn bán nô lệ, các cơ cấu thực tiễn giống như chế độ nô lệ, Công ước 1966 về quyền dân sự và chính trị Qua đó có thể thấy được vấn đề buôn bán nô lệ là một vấn đề nóng bỏng, được quan tâm rất lớn của cộng đồng các quốc gai trên thế giới Công ước 1926 đã đưa ra định nghĩa về tình trạng nô lệ , buôn bán nô lệ, nghĩa vụ của các quốc gia thành viên trong việc trừng phạt các hành vi vi phạm công ước Công ước bổ sung 1956 nhìn chung đưa ra các quy định , xác định trách nhiệm,quy định hình phạt dành cho tội buôn bán nô lệ giống như công ước

1926 Bên cạnh đó, công ước cũng quy định thêm về những hành vi cũng được coi là tội phạm như: Hành vi ép buộc cá nhân vào tình trạng nô lệ, khuyến khích thể nhân vào tình trạng nô lệ, hành vi đẩy cá nhân vào tình trạng nô lệ, những hành vi cố gắng thực hiện, hành vi đồng phạm và tham gia vào âm mưu tội phạm liên quan tới nô lệ, công ước yêu cầu các quốc gia đối chieeud vơí pháp luật quốc gia, điều chỉnh, chuyển hóa sao cho phù hợp Tại điều 8, công ước

1966 về quyền dân sự và chính trị cũng có những quy định rất cụ thể về loại tội phạm này: tại khoản 1, 2, 3,điểm a có quy đinh như sau:“1.Không ai bị bắt làm

nô lệ; mọi hình thức nô lệ và buôn bán nô lệ đều bị cấm.2 Không ai bị bắt làm

nô dịch.3.a) Không ai bị yêu cầu phải lao động bắt buộc hoặc cưỡng bức”

Với những hậu quả khôn lường của loại tội phạm này ảnh hưởng trực tiếp tới quyền con người nên bên trong các công ước còn quy đinh và khuyến khích các quốc gia hợp tác với nhau để phòng chống và hướng tới mục tiêu cuối cùng

là đẩy lùi loại tội phạm trên Ví dụ như Công ước 1956, tại khoản 1 có quy định : “Các quốc gia thành viên Công ước sẽ tiến hành mọi biện pháp lập pháp và các biện pháp cần thiết và khả thi khác để xoá bỏ hay từ bỏ hoàn toàn theo từng bước và càng sớm càng tốt các thể chế và tập tục sau, nếu chúng vẫn còn tồn tại

và cho dù được hay không được bao hàm trong định nghĩa về chế độ nô lệ tại điều 1 Công ước về nô lệ ký tại Giơ-ne-vơ ngày 25/9/1926”

b Tội buôn bán người

Khái niệm buôn bán người, theo quy định tại điều 3, khoản a,nghị định thư về việc ngăn ngừa, phòng chống và trừng trị việc buôn bán người, đặc biệt là phụ nữa và trẻ em , bổ sung công ước về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc

Trang 8

gia của liên hợp quốc :Buôn bán người có nghĩa là việc mua bán, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp và nhận người nhằm mục đích bóc lột bằng cách sử dụng hay đe doạ sử dụng vũ lực hay bằng các hình thức ép buộc, bắt cóc, gian lận, lừa gạt, hay lạm dụng quyền lực hoặc vị thế dễ bị tổn thương hay bằng việc đưa hay nhận tiền hay lợi nhuận để đạt được sự đồng ý của một người đang kiểm soát những người khác Hành vi bóc lột sẽ bao gồm, ít nhất, việc bóc lột mại dâm những người kháchay những hình thức bóc lột tình dục khác, các hình thức lao động hay phục vụ cưỡng bức, nô lệ hay những hình thức tương tự nô lệ, khổ sai hoặc lấy các bộ phận cơ thể”

Những hậu quả rất lớn mà loại tội phạm này để lại, tại điều 9 và điều 10 của nghị định thư về việc ngăn ngừa, phòng chống và trừng trị việc buôn bán người, đặc biệt là phụ nữa và trẻ em , bổ sung công ước về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia của liên hợp quốc đã quy định như sau:

Điều 9 Ngăn ngừa việc buôn bán người: “Các quốc gia thành viên sẽ đề

ra các chính sách, chương trình toàn diện và các biện pháp khác để:ngăn ngừa và chống việc buôn bán người; bảo vệ các nạn nhân của việc buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em, không bị trở thành nạn nhân của việc buôn bán người một lần nữa.Các quốc gia thành viên sẽ nỗ lực thi hành các biện pháp như nghiên cứu, thông tin và các chiến dịch truyền thông đại chúng cũng như các sáng kiến xã hội và kinh tế để ngăn ngừa và chống hành vi buôn bán người.Các chính sách, chương trình và các biện pháp khác được đề ra theo điều này, nếu thích hợp, sẽ bao gồm việc hợp tác với các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức liên quan khác và các thiết chế xã hội dân sự.Các quốc gia thành viên sẽ thực hiện và tăng cường các biện pháp, bao gồm việc thông qua hợp tác song phương hoặc đa phương, để loại bỏ các nhân tố làm cho những người, đặc biệt là phụ nữ

và trẻ em, trở thành các đối tượng dễ bị xâm hại của việc buôn bán người, chẳng hạn như nghèo đói, kém phát triển và thiếu cơ hội bình đẳng Các quốc gia thành viên sẽ áp dụng hay tăng cường các biện pháp lập pháp hay các biện pháp khác, chẳng hạn như các biện pháp giáo dục, xã hội hay văn hoá, bao gồm việc thông qua sự hợp tác song phương và đa phương, để ngăn chặn, giảm bớt những nhu cầu thúc đẩy các hình thức bóc lột con người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em, mà dẫn đến việc buôn bán người.”

Điều 10 Trao đổi thông tin và đào tạo: “Các cơ quan hành pháp, nhập cư

và các cơ quan liên quan khác của các quốc gia thành viên, khi thích hợp, sẽ hợp tác với nhau bằng cách trao đổi thông tin, phù hợp với pháp luật quốc gia mình,

để có thể xác định: những cá nhân đi qua hay cố gắng đi qua biên giới quốc tế với giấy tờ thông hành của người khác hay không có giấy tờ thông hành là thủ phạm hay nạn nhân của việc buôn bán người; những loại giấy tờ thông hành mà các cá nhân đã sử dụng hay cố gắng sử dụng để đi qua biên giới quốc tế vì mục đích buôn bán người; vànhững phương tiện và biện pháp được các nhóm tội

Trang 9

phạm có tổ chức sử dụng vì mục đích buôn bán người, bao gồm việc tuyển mộ

và chuyên chở nạn nhân, các tuyến đường và mối liên kết giữa các các nhân và các nhóm tham gia vào việc buôn bán người đó, và những biện pháp thích hợp

để phát hiện ra chúng.Các quốc gia thành viên sẽ cung cấp hay tăng cường việc đào tạo cho các cán bộ hành pháp hay quản lý nhập cư và các cán bộ liên quan khác về ngăn ngừa buôn bán người Các khoá đào tạo nên tập trung vào các phương pháp được sử dụng để ngăn ngừa việc buôn bán người, truy tố những kẻ buôn bán người và bảo vệ quyền của các nạn nhân, bao gồm bảo vệ các nạn nhân khỏi những kẻ buôn bán người Việc đào tạo cũng cần tính đến sự cần thiết phải xem xét các quyền con người và những vấn đề nhạy cảm liên quan đến trẻ

em và giới tính và cần khuyến khích sự hợp tác với các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức liên quan khác và các đơn vị xã hội dân sự Một quốc gia thành viên nhận được thông tin sẽ tuân theo bất kỳ yêu cầu nào về việc hạn chế sử dụng thông tin đó mà quốc gia thành viên đã cung cấp thông tin đưa ra”

3 Tội phạm khủng bố quốc tế

Khái niệm khủng bố được quy định trong nhiều điều ước quốc tế như công ước Giơnevơ năm 1937, công ước New York năm 1999 trên những cơ sở

đó ta có thể hiểu khủng bố hành vi tấn công hoặc đe dọa tấn công gây thiệt hại nghiêm trọng đến tính mạng sức khỏe tài sản của người dân và các mục tiêu dân

sự khác gây hoảng loạn trong cộng đồng dân cư nhằm đạt được những mục đích chính trị (ép buộc chính phủ ,tổ chức cá nhân hành động hoặc không hành động, thực hiện hành động nào đó vì lý do tôn giáo, do cá nhân hoặc tổ chức thực hiện

Chống khủng bố là các hoạt động đơn phương ,tập thể tiến hành nhằm loại bỏ các nguy cơ đe dọa hòa bình chống chiến tranh thúc đẩy nhân quyền phát triển kinh tế bằng các chủ trương chính sách hoạt động an ninh quốc phòng và các quốc gia có thể thực hiện các hoạt động chống khủng bố thông qua việc tham gia ký kết các điều ước song phương , đa phương về hoạt động chống khủng bố

Hành vi chống khủng bố rất đa dạng như xâm hại tính mạng thân thể con người tài sản hay tổng hợp các loại hành vi đó ví dụ khủng bố ngày 11 tháng 9 năm 2001 tại Hoa Kỳ Hiện nay theo quy định của công ước quốc tế về chống khủng bố hành vi chống khủng bố bao gồm các hành vi chống lại an toàn hàng không dân dụng ,chống lại an toàn hành trình hàng hải và những công trình cố định trên thềm lục địa, tài trợ khủng bố xâm phạm tính mạng sức khỏe con người, tài sản bằng các thiết bị gây nổ, chống lại những người được hưởng bảo

hộ quốc tế bao gồm viên chức ngoại giao, bắt cóc con tin, xâm phạm an toàn sức khỏe tính mạng tài sản con người bằng thiết bị hạt nhân

Mục đích mục đích cuối cùng của tội phạm khủng bố là mục tiêu chính trị

ví dụ công ước 1979 New York bị chồng bắt cóc con tin quy định hành vi thuộc

Trang 10

phạm vi điều chỉnh công ước phải là hành vi bắt giữ giam giữ đe dọa sẽ giết chết

sẽ làm bị thương nhằm cưỡng ép bên thứ 3 cụ thể là quốc gia tổ chức quốc tế liên chính phủ pháp nhân hoặc thể nhân những người nào đó phải thực hiện hay không thực hiện bất kỳ hành vi nào như một điều kiện rõ ràng một điều kiện ngầm trong trong việc phòng thích con tin

Chủ thể của tội phạm khủng bố là cá nhân và các tổ chức tội phạm

Khách thể là các quan hệ xã hội bị tội phạm để xâm hại có thể là quyền tự

do cơ bản của con người trật tự an toàn công cộng hòa bình an ninh quốc tế mối quan hệ tốt đẹp giữa các quốc gia Mặc dù xâm phạm đến nhiều quan hệ xã hội nhưng khách thể trực tiếp thể hiện đầy đủ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi chống khủng bố là hòa bình và an ninh quốc tế

Hậu quả của tội phạm khủng bố là rất lớn có sức ảnh hưởng trực tiếp tới hòa bình an ninh trật tự của quốc gia cũng như trên thế giới trong những năm qua các quốc gia trên thế giới tiếp tục gia tăng nỗ lực chống khủng bố và tăng cường hợp tác song phương và khu vực để ngăn chặn cuộc tấn công hợp ca trên quy mô quốc tế được tăng cường các quốc gia đã đưa ra nhiều biện pháp chống khủng bố như đóng băng tài sản của các tổ chức cá nhân có nghi ngờ liên quan tới khủng bố, tài trợ khủng bố, tăng cường hợp tác cảnh sát quốc tế và cộng tác giữa các cơ quan tình báo truy tìm bắt giữ xét xử tội phạm khủng bố

4 Tội bắt cóc con tin

Theo điều 1, công ước 1979 về đấu tranh chồng bắt con tin thì: “người nào bắt giữ hoặc giam cầm và đe dọa giết làm bị thương hoặc tiếp tục giam cầm người khác (sau đây gọi là “con tin”)nhằm mục đích cưỡng épt bên thứ 3, cụ thể

là một quốc gia một tổ chức quốc tế liên chính phủ một pháp nhân hoặc một thể nhân hoặc một nhóm người giải làm hoặc không làm một việc nào đó như một điều kiện rõ ràng hoặc ngầm hiểu để phóng thích con tim thì bị coi là phạm tội bắt cóc con tin”

Công ước đã quy định các hành vi bắt cóc và cầm giữ con tin cùng sự đe dọa giết hại con tin, hành vi gây thương tích hoặc tiếp tục cầm giữ con tin nhằm mục đích đòi hỏi bên thứ 3 thực hiện hành vi nào đó như là điều kiện trực tiếp hoặc gián tiếp để phóng thích con tin đều bị coi là tội phạm Trong trường hợp người thực hiện hành vi bắt cóc con tin nhưng chưa hoàn thành hoặc tham gia hoạt động bắt cóc con tin với tư cách là đồng phạm cũng bị xem như là tội phạm theo công ước này

Công ước còn có quy định các quốc gia thành viên có nghĩa vụ trừng trị các hành vi bắt cóc con tin bằng các hình phạt nghiêm khắc như tội phạm nghiêm trọng của nước mình Trong quá trình đấu tranh chống lại tội phạm này

Ngày đăng: 29/09/2016, 15:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w