1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các giải pháp chính sách phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ ở việt nam hiện nay

85 555 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 1,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để khắc phục tình trạng trên thì doanh nghiệp khoa học và công nghệ có vai trò quan trọng không chỉ là cầu nối đưa nhanh các nghiên cứu, ứng dụng KHCN chuyển giao vào sản xuất mà còn đón

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM

KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

–––––––––––––––––––

BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

VIỆN CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ––––––––––––––––––––––

TRỊNH VIẾT TRỌNG

CÁC GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ Ở

VIỆT NAM HIỆN NAY

Chuyên ngành: Quản lý Khoa học và Công nghệ

Mã số: 60.34.04.12

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS TS Mai Hà

HÀ NỘI, 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của cá

nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Mai Hà

Các số liệu sử dụng trong luận văn có trích dẫn nguồn rõ ràng, không sao chép của người khác Các kết luận nghiên cứu trong luận văn được đúc kết từ cơ sở

lý luận đến thực tiễn của vấn đề luận văn cần giải quyết

Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình./

TÁC GIẢ

Trịnh Viết Trọng

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 9

1.1 Khái niệm cơ bản 9

1.2 Vai trò của doanh nghiệp khoa học và công nghệ 12

1.3 Đặc điểm nhận biết doanh nghiệp tiềm năng trở thành doanh nghiệp khoa học

và công nghệ 15

1.4 Thực trạng doanh nghiệp tiềm năng trở thành doanh nghiệp khoa học và công nghệ ở

Việt Nam 18

1.5 Những phương thức chủ yếu trong hình thành và phát triển doanh nghiệp khoa học

và công nghệ 27

1.6 Những yếu tố ảnh hưởng đến phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ ở Việt Nam 29 1.7 Nguyên nhân của các hạn chế 35

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VÀ CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 38

2.1 Thực trạng phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ 38

2.2.Tình hình thực hiện các cơ chế/chính sách phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ 47 2.3 Tiềm năng phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ ở Việt Nam 56

Chương 3: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ Ở VIỆT NAM 58

3.1 Kinh nghiệm ngoài nước về phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ và bài học cho Việt Nam 58

3.2 Phương hướng phát triển khoa học và công nghệ quốc gia 63

3.3 Quan điểm – mục tiêu 63

3.4 Giải pháp 65

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 75

1 Kết luận 75

2 Khuyến nghị 76

TÀI LIỆU THAM KHẢO 77

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

1 Bảng 1.1 Tổng hợp một số thông tin chung về doanh nghiệp KH&CN

tiềm năng

18

2 Bảng 1.2 Đánh giá mức độ đồng bộ của hệ thống cơ sở hạ tầng

trong các doanh nghiệp KH&CN tiềm năng

20

3 Bảng 1.3 Khả năng đáp ứng nhu cầu diện tích làm việc trong các

doanh nghiệp KH&CN tiềm năng

20

4 Bảng 1.4 Khả năng đáp ứng của hệ thống cơ sở hạ tầng trong các

doanh nghiệp KH&CN tiềm năng

21

5 Bảng 1.5 Tình hình sử dụng trang thiết bị phụ trợ trong DN

KH&CN tiềm năng

21

6 Bảng 1.6 Hiện trạng về tuổi thiết bị trong doanh nghiệp KH&CN

tiềm năng

22

7 Bảng 1.7 Tình trạng thiết bị chuyên ngành trong doanh nghiệp

KH&CN tiềm năng

22

8 Bảng 1.8 Hiện trạng nhân lực trong các doanh nghiệp KH&CN

tiềm năng

23

9 Bảng 2.1 Công năng chủ yếu của công trình hạ tầng trong các

doanh nghiệp KH&CN

39

11 Bảng 2.3 Xuất xứ thiết bị nghiên cứu chuyên ngành trong

doanh nghiệp KH&CN

41

12 Bảng 2.4 Tình trạng thiết bị nghiên cứu chuyên ngành trong doanh

nghiệp KH&CN

42

14 Bảng 2.6 Hiện trạng nhân lực R&D trong các doanh nghiệp KH&CN 43

15 Bảng 2.7 Hiện trạng sử dụng chuyên gia trong các doanh nghiệp

KH&CN

44

16 Bảng 2.8 Tổng hợp một số khó khăn của doanh nghiệp KH&NC

trong tiếp cận với chính sách ưu đãi

51

Trang 6

DANH MỤC HÌNH

1 Hình 1.1 So sánh đóng góp của TFP vào tăng trưởng GDP của

Việt Nam với một số nước Châu Á giai đoạn 2001-2010

13

2 Hình 1.2 Huy động vốn cho nghiên cứu trong doanh nghiệp 25

3 Hình 1.3 Mức độ đổi mới công nghệ của doanh nghiệp KH&CN tiềm

năng

26

4 Hình 1.4 Hoạt động nghiên cứu và cải tiến công nghệ 26

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam đang trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hóa sâu rộng, mặc dù có nhiều tiềm năng nhưng Việt Nam cũng đang phải đối mặt với những khó khăn, thách thức không nhỏ: kinh tế phát triển chưa bền vững, hạ tầng kỹ thuật thiếu đồng bộ, tốc độ đổi mới công nghệ và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp còn ở mức thấp Để khắc phục tình trạng trên thì doanh nghiệp khoa học và công nghệ có vai trò quan trọng không chỉ là cầu nối đưa nhanh các nghiên cứu, ứng dụng KHCN chuyển giao vào sản xuất mà còn đóng vai trò như một lực lượng sản xuất chủ lực, tạo ra những sản phẩm có giá trị gia tăng cao, đóng góp cho việc xây dựng và phát triển nền kinh tế xã hội và GDP của đất nước vì vậy việc phát triển doanh nghiệp KH&CN là rất cần thiết Vấn đề này cũng đã được khẳng định trong nhiều văn bản có tính chiến lược của Quốc gia như: Nghị định số 80/2007/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 19/5/2007 về doanh nghiệp khoa học và công nghệ, Quyết định số 418/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 11/4/2012 về việc phê duyệt chiến lược phát triển khoa học và công nghệ giai đoạn 2011 – 2020, Quyết định số 592/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 22/5/2012 về việc phê duyệt chương trình hỗ trợ phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ và tổ chức khoa học và công nghệ công lập thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm,… Ở địa phương, phát triển doanh nghiệp KH&CN cũng được đặc biệt nhấn mạnh trong các văn bản chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển KH&CN của các tỉnh, thành phố trọng điểm như Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng,Tp Hồ Chí Minh,

Tuy nhiên, để hình thành được hệ thống doanh nghiệp KH&CN đủ mạnh trên phạm vi toàn quốc trong bối cảnh tiềm lực KH&CN còn thấp với hơn 80% doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực phi sản xuất, nhận thức chưa đầy đủ của các cấp, các ngành về vai trò của doanh nghiệp KH&CN trong tăng trưởng kinh tế… thực sự trở thành một thách thức đối với Việt Nam

Thực tế trong thời gian qua, Nhà nước với vai trò “ bà đỡ” trong việc hỗ trợ, thúc đẩy doanh nghiệp nghiên cứu khoa học, đổi mới và làm chủ công nghệ còn

Trang 8

chưa mang lại hiệu quả thực sự rõ rệt Trong khi đây lại là một trong những cơ sở quan trọng để đẩy mạnh phát triển doanh nghiệp KH&CN Theo một số kết quả điều tra riêng rẽ, tỷ trọng công nghệ tiên tiến của các doanh nghiệp sản xuất ở một

số tỉnh phía Bắc chỉ đạt dưới 3%, tỷ lệ tự động hóa chỉ đạt dưới 10%, hệ số đổi mới thiết bị trong giai đoạn 2005-2010 chỉ đạt 7%/năm, bằng 1/2 -1/3 mức tối thiểu của các nước phát triển

Những tồn tại khách quan trong việc phát triển doanh nghiệp KH&CN trong những năm qua đặt ra những hỏi cần có câu trả lời thấu đáo:

- Tại sao sau 9 năm thực hiện Nghị định 80, cả nước mới có 204 doanh nghiệp KH&CN được thành lập.Trong số 204 DNKHCN đã được cấp giấy chứng nhận tính đến tháng 11/2015, có 05 doanh nghiệp giải thể hoặc ngừng sản xuất (chiếm 2,4 % tổng số DNKHCN), 03 doanh nghiệp đã thu hồi giấy chứng nhận (do chuyển hoạt động sản xuất, kinh doanh sang địa bàn khác và không hoạt động thuộc lĩnh vực đăng ký DNKHCN)? Do chính sách chưa phù hợp? Do truyền thông, thông tin? Do

bộ máy tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp? Hay do môi trường kinh tế chưa phù hợp để phát triển doanh nghiệp KH&CN?

- Làm thế nào để đạt được chỉ tiêu phát triển 5000 doanh nghiệp KH&CN vào năm

2020 như mục tiêu chiến lược phát triển KH&CN đến 2020 đặt ra?

Để trả lời những câu hỏi trên thì việc đánh giá được thực trạng, xác định được những thuận lợi, khó khăn, đánh giá được các nhu cầu thành lập doanh nghiệp KH&CN, trên cơ sở đó đề ra các giải pháp chính sách thích hợp để phát triển doanh nghiệp KH&CN ở Việt Nam là rất cần thiết

Xuất phát từ lý do trên, trong nội dung của Luận văn tôi xin chọn vấn đề:

“Các giải pháp chính sách phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài nghiên cứu

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

2.1 Ở ngoài nước

Có thể nói, doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp KH&CN nói riêng có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở mỗi quốc gia Phát triển

Trang 9

doanh nghiệp KH&CN luôn là vấn đề đặc biệt được quan tâm ở những quốc gia có nền kinh tế phát triển Ngày nay, sự phát triển các doanh nghiệp KH&CN đang dần trở thành một trong những thước đo về sự phát triển chung của các quốc gia khác nhau Đã có nhiều tài liệu nghiên cứu và giới thiệu kinh nghiệm của các nước phát triển trên thế giới trong việc phát triển doanh nghiệp KH&CN, trong đó chứa đựng, bao hàm nhiều khía cạnh Năm 2015, nhóm tác giả Mai Hà và đồng nghiệp xuất bản nghiên cứu “Doanh nghiệp Khoa học và Công nghệ - Từ lý luận đến thực tiễn” đã

đề cập lý luận và phân tích khá tổng quát về đối tượng này

Có thể khái quát nội dung nghiên cứu như sau:

Nghiên cứu về kinh nghiệm và phương thức chuyển đổi tổ chức NC&PT sang hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp; kinh nghiệm xây dựng và phát triển các hình thức doanh nghiệp KH&CN: Nghiên cứu loại này đã đưa ra những phát hiện liên quan đến yếu tố quyết định sự thành công của chuyển đổi và khuyến nghị các chính sách hỗ trợ chuyển đổi các Viện NC&PT, thay đổi cách nhìn nhận về vai trò của các Viện trong hệ thống đổi mới quốc gia

Nghiên cứu về cơ sở hình thành doanh nghiệp KH&CN: Nghiên cứu loại này đưa ra nhiều nhìn nhận và khái niệm về doanh nghiệp KH&CN, ví dụ là đối tượng được hình thành trên cơ sở công nghệ cao (High - Technology New Firms), doanh nghiệp dựa trên tri thức; doanh nghiệp dựa trên khoa học; doanh nghiệp dựa trên công nghệ; doanh nghiệp dựa trên công nghệ mới/ và cao; doanh nghiệp vệ tinh hàn lâm và nhiều thuật ngữ khác Từ đó cho thấy, khó có thể đưa ra một định nghĩa hoàn chỉnh về doanh nghiệp KH&CN, tuy nhiên bản thân tên doanh nghiệp dựa trên tri thức, doanh nghiệp dựa trên KH&CN đã có ngụ ý và hàm ý chỉ ra rằng: Doanh nghiệp KH&CN là những doanh nghiệp tạo ra những hàng hóa và dịch vụ đặc biệt trên cơ sở nghiên cứu, phát triển, sở hữu và áp dụng tri thức

* Doanh nghiệp vệ tinh hàn lâm

Doanh nghiệp spin- off nghiên cứu trực tiếp: là những doanh nghiệp được tạo ra để thương mại hóa SHTT xuất phát từ tổ chức KH&CN, thông qua sáng chế

từ tổ chức mẹ đến doanh nghiệp mới để hình thành SHTT của doanh nghiệp và các

Trang 10

thành viên có thể làm việc chính nhiệm hoặc kiêm nhiệm từ tổ chức mẹ đến doanh nghiệp mới.[06, tr 2]

- Doanh nghiệp spin- off gián tiếp: là những doanh nghiệp được thành lập bởi các cán bộ /hoặc sinh viên trường đại học trước đây hoặc hiện tại dựa trên kinh nghiệm của họ nhận được trong thời gian làm việc hoặc học tập tại trường nhưng không có giấy phép SHTT chính thức hoặc những quan hệ tương tự với trường đại học

- Doanh nghiệp chuyển giao công nghệ: là những doanh nghiệp được thành lập để thương mại một cách ngầm định tri thức và bí quyết kỹ thuật của trường đại học Nói chung quá trình chuyển giao ngầm định là không đơn giản, một khi việc sản xuất sản phẩm mới theo SHTT được bảo hộ

* Doanh nghiệp dựa trên công nghệ (hoặc cao): là doanh nghiệp tập trung nhiều vào nghiên cứu và thiết kế hoặc chú trọng vào việc khai thác tri thức kỹ thuật mới

Trong cuốn sách “KH&CN thế giới – kinh nghiệm và định hướng chiến lược” của Cục Thông tin KH&CN Quốc gia xuất bản, đã tổng hợp, đánh giá và giới thiệu chính sách phát triển doanh nghiệp KH&CN của một số quốc gia châu Mỹ, châu Âu, châu Á và một số khu vực khác trên thế giới Do đó, trong giới hạn của luận văn tôi không đi sâu vào minh họa bằng các số liệu cụ thể của từng nước mà chỉ nêu tổng quan và kinh nghiệm của các nước trên thế giới trong phát triển doanh nghiệp KH&CN mỗi quốc gia

Một kết quả nghiên cứu của dự án ISHIKAWA (Nhật Bản - 2000) đã giải đáp được câu hỏi tại sao đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp công nghiệp chậm được thực hiện? Câu trả lời được thể hiện bằng việc nêu ra sau khó khăn chủ yếu sau đây:

Một là, các cấp lãnh đạo chưa thực sự có quyết tâm trong đổi mới công nghệ Hai là, không đủ khả năng tiếp thị

Ba là, thiếu nguồn nhân lực giỏi về công nghệ

Bốn là, thiếu thông tin về công nghệ

Năm là, khó khăn trong việc huy động nguồn tài chính

Sáu là, quá trình ra quyết định quá dài

Trang 11

* Ở Trung Quốc, nhằm giúp người dân nông thôn thoát khỏi đói nghèo và tiến lên cuộc sống sung túc, Chính phủ đã thực hiện nhiều giải pháp; trong đó, thông qua chính sách hỗ trợ phát triển các doanh nghiệp KH&CN, các doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao là một trong những giải pháp mang lại thành công nổi bật Trong những năm 70 của thế kỷ XX, hàng loạt doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Trung Quốc được hỗ trợ về vốn, kỹ thuật, đất đai, thuế, thậm chí cả thị trường Nhiều công ty, xí nghiệp đã được thành lập ngay tại các vùng nguyên liệu (được gọi

là các xí nghiệp Hương Trấn)

Năm 1986, nhằm mục tiêu phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn; chương trình “Đốm lửa” ở Trung Quốc đã được thực hiện Đây là biện pháp xúc tiến phát triển kinh tế các vùng nông thôn của bằng con đường áp dụng các thành tựu tiến bộ KH&CN trong nông nghiệp, thông qua các chương trình thí điểm và sự thành lập các “Khu công nghiệp chế biến nông sản có hàm lượng công nghệ cao” Chương trình này đã góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy việc phổ biến KH&CN tại các vùng nông thôn cũng như đào tạo kỹ thuật cho đông đảo nhân dân sống ở các vùng nông thôn Trung Quốc, đồng thời đã tạo ra biện pháp khuyến khích triển khai các công nghệ cải tiến mới để hỗ trợ cho các doanh nghiệp hiện tại và tạo

ra các cơ hội cho các doanh nghiệp vệ tinh mới thành lập để sao cho họ có khả năng khai thác được những thị phần thích hợp trên thị trường Việc hỗ trợ về KH&CN không chỉ dừng lại ở những doanh nghiệp lớn quốc doanh, mà nó còn được thực hiện ở các doanh nghiệp tư nhân vừa và nhỏ

Việc thành lập các doanh nghiệp KH&CN ở Trung Quốc cũng đã góp phần đẩy mạnh thương mại hóa các kết quả NC&PT và tăng cường phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao

*.Ở Thái Lan, nhằm duy trì và thúc đẩy thế mạnh về sản xuất và xuất khẩu nông nghiệp, Chính phủ Thái Lan đã thực hiện giải pháp hiệu quả là thành lập các Cụm Kinh

tế Kỹ thuật Thông qua các cụm này, sẽ thực hiện hỗ trợ tài chính và cấp vốn cho phát triển công nghệ trong các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh phối hợp với các đơn vị nhà nước và các trường thực hiện các dự án nghiên cứu phát triển công nghệ Phát triển

Trang 12

liên kết và hợp tác mạng thông qua Cụm để hỗ trợ các mối liên kết và hợp tác giữa các đơn vị tác nghiệp chính trong các Cụm, đặc biệt là các luồng dữ liệu và tri thức qua quan hệ đối tác R&D, trao đổi nhân sự và các khóa đào tạo giữa các công ty… nhằm mục đích phát triển năng lực công nghệ, đổi mới và cạnh tranh lành mạnh

2.2 Ở trong nước

Doanh nghiệp KH&CN có thể được hiểu đơn giản là doanh nghiệp có chức năng tạo ra công nghệ và thực hiện các dịch vụ KH&CN Hiện nay, phát triển doanh nghiệp KH&CN đang là vấn đề quan trọng được Đảng và Chính phủ quan tâm thực hiện, được coi là một trong những giải pháp có khả năng tạo ra những bước đột phá cho sự phát triển của quốc gia Trên cơ sở định hướng này, ngày 19 tháng 5 năm 2007, Chính phủ đã ban hành Nghị định 80/2007/NĐ-CP quy định về doanh nghiệp KH&CN và thông tư 06/2008/TTLT-BKH&CN-BTC-BNV ngày 18/6/2008 hướng dẫn thực hiện Nghị định 80/2007/NĐ-CP Mặc dù kết quả thực hiện nghị định này chưa cao, nhưng đây là một cơ sở, mốc dấu quan trọng về chính sách phát triển doanh nghiệp KH&CN ở nước ta

Trên thực tế tỷ lệ đầu tư cho phát triển các doanh nghiệp KH&CN ở nước ta còn quá thấp, đây là một trong những nguyên nhân chính cản trở sự phát triển công nghệ ở nước ta hiện nay Theo đánh giá của UNDP, tỉ lệ nhập khẩu thiết bị, công nghệ mỗi năm của các nước đang phát triển thường chiếm gần 40% tổng kim ngạch nhập khẩu nhưng ở Việt Nam, tỉ lệ này rất thấp, chiếm dưới 10% Nguồn cung ứng công nghệ cho Việt Nam chủ yếu là nhập ngoại Mỗi năm, Việt Nam bỏ ra trên 10-

15 tỷ USD mua máy móc, thiết bị, phụ tùng nhưng hàm lượng công nghệ của những sản phẩm này lại không cao Nhiều chuyên gia cho rằng thực chất, chúng ta mới chỉ nhập trang thiết bị, dây chuyền công nghệ toàn bộ mà chưa chú ý nhập và khai thác tài sản trí tuệ Khoảng 90% công nghệ nhập từ nước ngoài có trình độ ở mức trung bình và lạc hậu Trong khi đó, mức đầu tư, đổi mới công nghệ của doanh nghiệp Việt Nam rất thấp, chỉ chiếm khoảng 0,2- 0,3% doanh thu của doanh nghiệp, thấp hơn rất nhiều so với các nước khác, như ở Ấn Độ là 5%, Hàn Quốc là 10%

Trang 13

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục tiêu của nghiên cứu

Trên cơ sở làm rõ những lý luận về chính sách phát triển, phân tích và đánh giá thực trạng trạng phát triển doanh nghiệp KH&CN đề xuất giải pháp chính sách phát triển doanh nghiệp KH&CN ở Việt Nam trong giai đoạn hội nhập quốc tế hiện nay

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

- Tổng quan lý luận và thực tiễn trong và ngoài nước về chính sách phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ

- Đánh giá được tổng quan thực trạng phát triển doanh nghiệp KH&CN

- Xác định được các doanh nghiệp có tiềm năng trở thành doanh nghiệp KH&CN ở một số địa phương tiêu biểu

- Đề xuất một số giải pháp phát triển doanh nghiệp KH&CN ở Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu thực trạng doanh nghiệp tập trung vào 02 nhóm đối tượng: (1) Các doanh nghiệp đã được chứng nhận doanh nghiệp KH&CN (2) Các doanh nghiệp KH&CN tiềm năng tức là các doanh nghiệp đã được thành lập, đang hoạt động sản xuất các sản phẩm dựa trên nền tảng KH&CN

4.2 Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu khảo sát thực tế ở một số địa phương tiêu

biểu, trong đó tập trung nghiên cứu các địa phương có số lượng lớn các doanh nghiệp KH&CN tiềm năng như: Hà Nội, Tp.Hồ Chí Minh

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Nghiên cứu các văn bản quy phạm pháp luật, các bài viết trên các báo, tạp chí có liên quan đến đề tài của Luận văn để tìm

ra phương pháp luận cho vấn đề nghiên cứu

- Phương pháp tổng hợp, thống kê: Thu thập báo cáo của các tỉnh/thành phố qua

và tổng hợp, thống kê thành những vấn đề lớn theo hướng nghiên cứu của Luận văn

Trang 14

- Phương pháp phân tích, đánh giá: Từ việc tổng hợp, thống kê tìm ra những quy luật và thực trạng của vấn đề nghiên cứu, từ đó đưa ra quan điểm bản thân và phân tích, đánh giá quan điểm đó

- Phương pháp so sánh, đối chiếu: So sánh, đối chiếu kết quả tổng hợp được

từ số liệu thống kê giữa các Vùng, các tỉnh/thành phố

- Phương pháp kế thừa các kinh nghiệm, thực tiễn đã có: Từ nhận thức thực tiễn

về vấn đề nghiên cứu của bản thân và thông qua các buổi tập huấn, trao đổi kinh nghiệm của các nhà quản lý về vấn đề liên quan chắt lọc ra các ý kiến hợp lý, sau đó lồng ghép và phát triển ý kiến đó trong nội dung của Luận văn

- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: Trao đổi và xin ý kiến trực tiếp của một

số Lãnh đạo Sở KH&CN Hà cùng ý kiến của một số Lãnh đạo của các đơn vị quản lý thuộc Bộ KH&CN có liên quan đến vấn đề nghiên cứu

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo Luận văn được kết cầu thành 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận cơ bản về phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ Chương 2: Thực trạng phát triển doanh nghiệp KH&CN và chính sách thúc đẩy phát triển doanh nghiệp KH&CN ở Việt Nam

Chương 3: Đề xuất giải pháp chính sách phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ ở Việt Nam

Trang 15

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN

DOANH NGHIỆP KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 1.1 Khái niệm cơ bản

1.1.1 Tổ chức khoa học và công nghệ

Tổ chức khoa học và công nghệ là tổ chức có chức năng chủ yếu nghiên cứu khoa học, nghiên cứu triển khai và phát triển công nghệ, hoạt động dịch vụ KH&CN.[10, tr 2]

1.1.2 Chính sách

một chủ thể theo đuổi để giải quyết những vấn đề mà họ quan tâm

Theo Học viện Hành chính: Chính sách là những hành động ứng xử của chủ thể với các hiện tượng tồn tại trong quá trình vận động phát triển nhằm đạt mục tiêu

nhất định

Hiểu một cách giản đơn, chính sách là chương trình hành động do các nhà lãnh đạo hay nhà quản lý đề ra để giải quyết một vấn đề nào đó thuộc phạm vi thẩm quyền của mình

1.1.3 Chính sách khoa học và công nghệ

Theo UNESCO: Chính sách khoa học và công nghệ là một tập hợp các biện pháp lập pháp và hành pháp được thực hiện nhằm nâng cao, tổ chức, sử dụng tiềm lực KH&CN quốc gia để đạt được mục tiêu quốc gia đề ra

Trung Quốc: Chính sách khoa học và công nghệ là những phương châm, điều lệ quy định Đó là những nguyên tắc và quy tắc do một Nhà nước, một ngành, một cơ sở trong một thời kỳ nhất định và với một mục tiêu chiến lược nhất định đặt

ra nhằm phát triển KH&CN [06, tr 9]

Chính sách KH&CN là chính sách công trong lĩnh vực KH&CN Trước hết

nó có các đặc điểm của chính sách công nói chung, sau là thêm những đặc điểm do lĩnh vực đặc thù là KH&CN mang lại Theo nghĩa rộng, chính sách bao gồm cả chiến lược, kế hoạch KH&CN

Trang 16

1.1.4 Doanh nghiệp khoa học và công nghệ

Theo Nghị định 80/2007/NĐ-CP, Doanh nghiệp KH&CN là doanh nghiệp

mà hoạt động sản xuất, kinh doanh các loại sản phẩm hàng hoá hình thành từ kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ và thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ Ngoài các hoạt động này, doanh nghiệp khoa học và công nghệ

có thể thực hiện sản xuất, kinh doanh các loại sản phẩm hàng hoá khác và thực hiện các dịch vụ khác theo quy định của pháp luật. [13, tr 1] Doanh nghiệp KH&CN phải đáp ứng các điều kiện sau:

- Là doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp;

- Có năng lực thực hiện nhiệm vụ KH&CN;

- Doanh thu từ việc sản xuất, kinh doanh sản phẩm, hàng hóa hình thành từ kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ đạt tỷ lệ quy định

Thông thường, doanh nghiệp KH&CN được hình thành dựa trên cơ sở áp dụng, khai thác kết quả nghiên cứu KH&CN được tạo ra ở các viện nghiên cứu, trường đại học, tổ chức nghiên cứu tư nhân; cá nhân hoặc tập thể nhà khoa học, chủ công nghệ Doanh nghiệp KH&CN thường là các doanh nghiệp khởi nguồn (spin-off), là một tổ chức thuộc viện nghiên cứu, trường đại học; hoặc doanh nghiệp khởi nghiệp (start-up) nằm trong các vườn ươm công nghệ, công viên công nghệ; hoặc doanh nghiệp dựa trên nền tảng công nghệ (technology-based enterprise) có hoạt động chính là thương mại hóa kết quả nghiên cứu, cung cấp sản phẩm công nghệ phục vụ các doanh nghiệp sản xuất trong nước

Doanh nghiệp KH&CN, trước hết, cũng là một loại hình doanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp Do đó, một doanh nghiệp KH&CN có đầy đủ những đặc điểm chung của doanh nghiệp: được cơ quan có thẩm quyền cấp phép hoạt động, được sản xuất, kinh doanh những hàng hóa, dịch vụ mà pháp luật không cấm

và phù hợp với giấy phép đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp Bên cạnh những đặc điểm của doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp KH&CN còn có những đặc điểm riêng khác biệt so với doanh nghiệp thông thường, kể cả với ý nghĩa doanh nghiệp sản sinh công nghệ (nghiên cứu, phát triển công nghệ và chuyển giao cho

Trang 17

doanh nghiệp khác khai thác, ứng dụng) và doanh nghiệp ứng dụng công nghệ (doanh nghiệp tiếp thu và ứng dụng công nghệ trong sản xuất, kinh doanh của mình) Các doanh nghiệp này đòi hỏi nguồn vốn đầu tư mạo hiểm khá lớn và luôn phải đối mặt với khả năng rủi ro cao do tính rủi ro của công nghệ và những biến động trên thị trường Bản thân các chủ thể tạo dựng và điều hành các doanh nghiệp này cũng có những đặc điểm riêng biệt, họ thường là các nhà khoa học, thông thạo môi trường nghiên cứu hơn là môi trường kinh doanh Vì vậy, Nhà nước cần trợ giúp họ vượt qua thử thách trên thương trường để tồn tại và phát triển

Để hình thành nên một doanh nghiệp KH&CN cần có đủ 4 yếu tố sau:

(i) người sáng tạo công nghệ – là những cá nhân hoặc tổ chức có công nghệ được hình thành trong các giai đoạn của quá trình đổi mới, sẵn sàng để chuyển giao; (ii) tổ chức mẹ – là nơi thực hiện các hoạt động nghiên cứu và phát triển;

(iii) những người người có tinh thần kinh thương – là người áp dụng công nghệ đã được sáng tạo ra để hình thành một doanh nghiệp mới;

(iv) các nhà đầu tư mạo hiểm – là người cung cấp vốn cho doanh nghiệp mới và sở hữu một số cổ phiếu hoặc chia sẻ lợi ích trong doanh nghiệp mới

1.1.5 Thị trường khoa học và công nghệ

Thị trường KH&CN là một phạm trù kinh tế, phản ánh toàn bộ quan hệ trao đổi giữa người mua và người bán đã được thể chế hoá nhằm xác định giá cả và khối lượng hàng hoá KH&CN

Thị trường KH&CN được hình thành trên cơ sở các điều kiện: Có hàng hóa công nghệ; Có quan hệ cung - cầu về hàng hóa công nghệ; Có phương tiện thanh toán; Có các quy định, quy chế, thể thức điều tiết các quá trình mua - bán hàng hóa công nghệ TTCN là một phân khúc của hệ thống thị trường chung Khác với các hàng hoá khác, hàng hoá KH&CN có những đặc tính đặc biệt sau:

- Hàng hoá của KH&CN thực chất là kiến thức được thể hiện dưới một dạng vật chất hữu hình như bằng sáng chế nhưng cũng có thể vô hình dưới dạng các ý tưởng công nghệ;

Trang 18

- Việc xác định giá trị của hàng hoá rất khó khăn do lao động được kết tinh trong hàng hoá là lao động trí óc và tồn tại sự bất đối xứng thông tin giữa người bán

và người mua Trong đó, thông thường trong trường hợp này, người bán (chủ công nghệ) ở vị thế mặc cả kém hơn người mua;

- Hàng hoá KH&CN mang tính chất tác động ngoại lai tích cực mà ở đó, lợi ích xã hội do hàng hoá đem lại lớn hơn lợi ích cá nhân;

- So với các hàng hoá khác, hàng hoá KH&CN được sản xuất và phát triển muộn hơn so với các hàng hoá vật thể thông thường

1.2 Vai trò của doanh nghiệp khoa học và công nghệ

1.2.1 Đẩy nhanh ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ vào thực tiễn sản xuất, kinh doanh

Do hoạt động chính của doanh nghiệp KH&CN là sản xuất, kinh doanh các sản phẩm là kết quả của nghiên cứu KH&CN nên vấn đề gắn kết giữa nghiên cứu ứng dụng với tổ chức sản xuất trong thực tiễn trong doanh nghiệp KH&CN đương nhiên nằm trong một quy trình liên tục và chặt chẽ [06, tr 09].Bên cạnh đó, doanh nghiệp KH&CN còn tham gia vào quá trình chuyển giao công nghệ cho các tổ chức kinh tế - xã hội bên ngoài Thông qua các hoạt động này sẽ tạo điều kiện để thúc đẩy nhanh quá trình chọn lọc và ứng dụng các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn hoạt động sản xuất kinh doanh

Trong xu thế hội nhập và cạnh tranh ngày càng khốc liệt hiện nay, vấn đề chọn lọc, nghiên cứu ứng dụng và đổi mới nhanh công nghệ sản xuất, kinh doanh nhằm cải thiện năng suất và chất lượng sản phẩm là một trong những yếu tố quan trọng quyết định đến năng lực cạnh tranh và vị thế của doanh nghiệp trên thị trường

1.2.2 Trực tiếp đóng góp giá trị cho nền kinh tế

Ngoài việc thực hiện các nhiệm vụ KH&CN và chuyển giao công nghệ, doanh nghiệp KH&CN còn trực tiếp tổ chức sản xuất kinh doanh sản phẩm hàng hóa phục vụ sản xuất và đời sống của người dân Do vậy, doanh nghiệp KH&CN tạo gia giá trị đóng góp vào nền kinh tế quốc dân.[06, tr 10]

Trang 19

Nhiều nghiên cứu hiện nay đã cho phép tính toán một cách tương đối chính

xác hàm lượng đóng góp của KH&CN trong nền kinh tế của mỗi địa phương hay mỗi

quốc gia thông qua phân tích chỉ số năng suất tổng hợp TFP (trong hàm sản xuất

Cobb-Douglass thì với Y là sản lượng đầu ra [GDP], hai yếu

tố sản xuất hữu hình K [vốn], L [lao động] và A là TFP; α và β lần lượt là tỷ trọng

của K và L để tạo ra Y Sự tăng lên của A, K và L sẽ dẫn đến sự tăng lên của Y

Trong đó, A là yếu tố mang tính vô hình như công nghệ hay trình độ của lao động…)

Như vậy, rõ ràng khi TFP tăng sẽ góp phần thúc đẩy tăng GDP Đặc biệt tốc

độ tăng GDP sẽ càng nhanh hơn khi các nhân tố vốn và lao động cũng đồng thời

tăng Trong khi đó KH&CN nói chung hay doanh nghiệp KH&CN nói riêng lại là

một trong những nhân tố cấu thành cơ bản của TFP Vì vậy, xem xét một cách logic

thì doanh nghiệp KH&CN sẽ có sự ảnh hưởng nhất định tới chất lượng tăng trưởng

kinh tế Trong điều kiện yếu tố vốn và lao động là giới hạn thì TFP đương nhiên sẽ

là nhân tố chủ yếu quyết định đến tăng hay giảm GDP của một nền kinh tế

Hình 1.1: So sánh đóng góp của TFP vào tăng trưởng GDP của Việt Nam với một số nước Châu Á giai đoạn 2001-2010

(Nguồn: Báo cáo Năng suất của Tổ chức Năng suất Châu Á – APO)

1.2.3 Tạo động lực phát triển thị trường khoa học và công nghệ

Doanh nghiệp KH&CN được coi như một chủ thể vừa trực tiếp vừa là trung

gian trong quá trình giao dịch công nghệ Các kết quả nghiên cứu KH&CN một

Trang 20

phần sẽ được chính doanh nghiệp KH&CN tiếp thu vào trong quá trình sản xuất tạo

ra sản phẩm của đơn vị mình, một phần sẽ được chuyển giao cho đơn vị khác Quá trình chuyển giao công nghệ sẽ thúc đẩy hoạt động giao dịch công nghệ gia tăng, từ

đó góp phần thúc đẩy phát triển thị trường KH&CN [06, tr 11]

1.2.4 Góp phần đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Hoạt động nghiên cứu ứng dụng và chuyển giao công nghệ mới, công nghệ tiến

bộ trong các doanh nghiệp KH&CN sẽ góp phần thúc đẩy quá trình đi tắt, đón đầu, góp phần thực hiện thành công quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay Thực tế, trình độ công nghệ sản xuất ở nước ta hiện còn ở mức thấp, trong khi nguồn lực về vốn, nhân lực kỹ thuật cao và thông tin công nghệ hạn chế Do đó, để đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa, thì không có cách nào khác tốt hơn là phải lựa chọn được các công nghệ tiên tiến, công nghệ phù hợp để ứng dụng nhanh vào sản xuất, từ đó gia tăng nhanh chóng chất lượng và sản lượng sản phẩm hàng hóa ở nước ta Điều này sẽ được thực hiện hiệu quả nếu hình thành được hệ thống các doanh nghiệp KH&CN đủ lớn với vai trò là đơn vị trung gian vừa tiếp thu, vừa ứng dụng và chuyển giao công nghệ mới vào thực tiễn

1.2.5 Góp phần nâng cao chất lượng hoạt động khoa học và công nghệ nói chung và hoạt động nghiên cứu triển khai nói riêng

Là loại hình đơn vị vừa tham gia vào hoạt động nghiên cứu phát triển vừa là đơn vị “tiêu thụ” các sản phẩm KH&CN của các tổ chức KH&CN bên ngoài, có thể nói doanh nghiệp KH&CN là một chủ thể quan trọng trong hệ thống KH&CN của mỗi quốc gia Do đó, hoạt động của doanh nghiệp tất yếu sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của hoạt động KH&CN nói chung [06, tr 12]

Quá trình nghiên cứu và tiêu thụ các kết quả nghiên cứu KH&CN, doanh nghiệp KH&CN sẽ đặt ra những yêu cầu cao hơn cho các nhà nghiên cứu sáng tạo, từ

đó góp phần thúc đẩy cạnh tranh nâng cao chất lượng hoạt động nghiên cứu KH&CN Bên cạnh đó, thông qua hoạt động nghiên cứu KH&CN, doanh nghiệp KH&CN sẽ góp phần phần đào tạo và nâng cao trình độ nhân lực, nguồn lực KH&CN của quốc gia

Trang 21

1.3 Đặc điểm nhận biết và thực trạng doanh nghiệp tiềm năng trở thành doanh nghiệp khoa học và công nghệ ở Việt Nam

1.3.1 Cơ sở vật chất khoa học và công nghệ

* Cơ sở hạ tầng

Diện tích đất dành cho nghiên cứu phát triển chiếm tỷ lệ đáng kể trong các doanh nghiệp KH&CN tiềm năng, đặc biệt là trong các doanh nghiệp hoạt động

trong các lĩnh vực công nghệ cao

Hạ tầng cơ bản trong các doanh nghiệp KH&CN tiềm năng, công năng của các công trình hạ tầng phục vụ sản xuất kinh doanh và nghiên cứu phát triển nhiều

hơn là dành cho các hoạt động hành chính

* Trang thiết bị

Thiết bị phụ trợ :Giống như đối với hạ tầng cơ bản, công năng của các thiết

bị phụ trợ cũng có thể được chia làm 3 tiêu chí là: phục vụ nghiên cứu phát triển; phục vụ sản xuất kinh doanh; phục vụ hành chính và được xem xét theo các mức độ khác nhau từ không có, đến trung bình hoặc nhiều Công năng của hệ thống thiết bị phụ trợ chủ yếu dành nhiều nhất cho hoạt động sản xuất, kinh doanh hoặc nghiên

cứu phát triển

Thiết bị kỹ thuật sản xuất: Thiết bị sản xuất là một trong những yếu tố quan

trọng đối với hoạt động của các doanh nghiệp nói chung, bởi đây là yếu tố góp phần quyết định đến hiệu quả sản xuất, kinh doanh của đơn vị Thông qua các chỉ tiêu về tuổi, xuất xứ và tình trạng sử dụng của thiết bị kỹ thuật sản xuất có thể xác định

được doanh nghiệp KH&CN tiềm năng

Thiết bị nghiên cứu ứng dụng: Hệ thống thiết bị nghiên cứu ứng dụng có vai

trò rất quan trọng đối với hoạt động của các doanh nghiệp tiềm năng, bởi đây là yếu

tố tiên quyết trong việc đảm bảo các hoạt động nghiên cứu phát triển của doanh

nghiệp Một số chỉ tiêu về thiết bị có thể nhận biết doanh nghiệp KH&CN và doanh nghiệp KH&CN tiềm năng như sau:

- Về tuổi: thông thường tuổi của các thiết bị ở mức trung bình hoặc cao

- Về xuất xứ: các thiết bị có nguồn gốc xuất xứ uy tín, tin cậy

Trang 22

- Về tình trạng sử dụng: các thiết bị luôn ở trong tình trạng sử dụng tốt

- Về khả năng đáp ứng nhu cầu: hệ thống thiết bị đáp ứng khá cao các nhu cầu của doanh nghiệp cả về số lượng, chất lượng và chủng loại

* Công nghệ chủ yếu

Đặc điểm công nghệ là một trong những chỉ tiêu nhận biết doanh nghiệp KH&CN và doanh nghiệp KH&CN tiềm năng, thông qua xem xét một số chỉ tiêu công nghệ như sau:

- Về xuất xứ công nghệ: thường có nguồn gốc từ hoạt động chuyển giao hoặc

mua từ địa chỉ có độ tin cậy cao

- Về thế hệ công nghệ: công nghệ sử dụng thường ở tình trạng mới hoặc mới nhất so với thị trường trong nước với nhiều ưu thế tích cực, do đó nó có khả năng góp phần nâng cao đáng kể năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

- Mức độ đáp ứng nhu cầu của công nghệ: công nghệ áp dụng có mức độ đáp

ứng nhu cầu cao

1.3.2 Nhân lực khoa học và công nghệ

* Nhân lực có trình độ, nhân lực trình độ cao và công nhân kỹ thuật

- Đối với nhân lực trình độ chuyên sâu (GS/PGS): thường ít thấy trong các doanh nghiệp KH&CN tiềm năng

- Đối với nhân lực trình độ cao (TS/ThS): Trong doanh nghiệp KH&CN tiềm năng, lực lượng nhân lực trình độ cao thường có tỷ trọng ít hoặc trung bình, nhưng tham gia chủ yếu vào hầu hết các khâu công việc quan trọng như quản lý, điều hành, nghiên cứu phát triển…

- Đối với nhân lực trình độ đại học/cao đẳng: thường tham gia vào các khâu cuối của quá trình nghiên cứu phát triển và trực tiếp vận hành hoạt động sản xuất

- Đối với nhân lực trình độ TC/CNKT: lực lượng này thường chiếm tỷ trọng nhỏ, chủ yếu tham gia vào các hoạt động phụ trợ (vận chuyển, đóng gói…)

*.Nhân lực R&D

- Đối với nhân lực R&D trình độ chuyên sâu (GS/PGS): thường ít xuất hiện trong các doanh nghiệp KH&CN tiềm năng

Trang 23

- Đối với nhân lực R&D trình độ cao (TS/ThS): hầu hết nhân lực R&D trong doanh nghiệp KH&CN tiềm năng đều có trình độ sau đại học, đây là điểm khác biệt giữa doanh nghiệp KH&CN tiềm năng so với các doanh nghiệp thông thường

- Đối với nhân lực R&D trình độ đại học/cao đẳng: đây không phải là lực lượng có ý nghĩa quyết định đến kết quả nghiên cứu sáng tạo, nhưng có vai trò quan trọng đối với hoạt động R&D của doanh nghiệp Hầu hết lực lượng R&D trong doanh nghiệp KH&CN tiềm năng đều có trình độ từ đại học trở lên

*.Các chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực KH&CN

Các chuyên gia đầu ngành là một trong những đặc điểm khác biệt với doanh nghiệp thông thường.Trong các doanh nghiệp KH&CN tiềm năng thường là chuyên gia trong nước với số năm kinh nghiệm không cao

1.3.3 Thông tin khoa học và công nghệ

- Về dữ liệu thông tin KH&CN: thường chỉ lữu trữ ở thông tin cơ bản

- Về liên kết thông tin: được quan tâm chú trọng

- Về giao dịch thông tin KH&CN: có thực hiện nhưng không nhiều

1.3.4 Tài chính đầu tư cho khoa học và công nghệ

- Chi cho hoạt động R&D: mức độ chi cho hoạt động R&D trong các doanh nghiệp KH&CN tiềm năng có tỷ trọng ở mức ít hoặc trung bình và có tính thường xuyên trong kế hoạch chi của doanh nghiệp

- Chi cho đổi mới công nghệ: đây là hoạt động thường xuyên trong kế hoạch chi của các doanh nghiệp và thường tập trung nhiều cho mua máy móc thiết bị và công nghệ mới nhằm phục vụ hoạt động sản xuất trong doanh nghiệp

1.3.5 Hoạt động nghiên cứu, phát triển và sở hữu sáng chế công nghệ

- Về Số đề tài/dự án nghiên cứu đã triển khai và tham gia triển khai: có số lượng ít hoặc trung bình

- Về số sáng chế/giải pháp hữu ích: có số lượng ít hoặc trung bình

Trang 24

1.4 Thực trạng doanh nghiệp tiềm năng trở thành doanh nghiệp khoa học và công nghệ

1.4.1 Thực trạng phân bố và quy mô

Thực hiện Nghị định 80/2007/NĐ-CP và những chính sách về Doanh nghiệp

KH&CN khác Các doanh nghiệp khoa học và công nghệ đã phát triển cả về quy

mô cũng như chất lượng sản phẩm và dịch vụ, góp phần không nhỏ thúc đẩy sự phát triển của KH&CN và kinh tế - xã hội

Theo báo cáo của Cục Phát triển thị trường và Doanh nghiệp khoa học công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ, hiện nay cả nước có khoảng 2.000 doanh nghiệp

đã đủ điều kiện để được công nhận là doanh nghiệp KH&CN và đang có xu hướng ngày càng gia tăng (trong đó có trên 300 doanh nghiệp được hình thành từ các viện nghiên cứu, trường đại học) [06]

Bảng 1.1: Tổng hợp một số thông tin chung về doanh nghiệp KH&CN tiềm năng

Trang 25

Trên 20 tỷ đồng 50 17,0%

4

Lĩnh vực hoạt động chính của doanh nghiệp

(Nguồn: Cục phát triển thị trường và Doanh nghiệp KH&CN năm 2010)

- Về loại hình: các doanh nghiệp KH&CN tiềm năng chủ yếu có quy mô vừa

và nhỏ, hoạt động theo mô hình Công ty TNHH (chiếm 42,5%) và mô hình Công ty

cổ phần (chiếm 40%)

- Về quy mô vốn điều lệ:Trong tổng số các doanh nghiệp KH&CN tiềm năng,

số doanh nghiệp có vốn điều lệ lớn chiếm tỷ trọng khá cao: có 45% doanh nghiệp có vốn điều lệ từ 1 đến 5 tỷ đồng, 28% doanh nghiệp có vốn điều lệ từ 5 đến 20 tỷ đồng

và 17% doanh nghiệp có vốn điều lệ trên 20 tỷ đồng

- Về thời gian và lĩnh vực hoạt động: có trên 80% doanh nghiệp được đã hoạt

động trên 5 năm, tức là đã bước đầu chiếm lĩnh thị trường và đi vào hoạt động ổn định Hầu hết các đơn vị hoạt động trong một số lĩnh vực ưu thế là công nghệ thông tin (chiếm gần 60%), công nghệ sinh học (chiếm gần 30%) Tỷ trọng các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực khác (công nghệ tự động hóa, công nghệ vật liệu, môi trường…) khá thấp (trên 10%)

- Về phân bố không gian: thường tập trung chủ yếu ở trung tâm các thành phố lớn, các khu công nghiệp hoặc khu kinh tế lớn

1.4.2 Những đặc điểm nổi bật của doanh nghiệp khoa học và công nghệ tiềm năng

*.Đặc điểm về cơ sở vật chất

Hầu hết các đơn vị có cơ sở hạ tầng còn nhiều hạn chế như:

Trang 26

Cơ sở hạ tầng KH&CN chưa đồng bộ: Rất nhiều doanh nghiệp KH&CN tiềm năng có trụ sở đã được xây dựng từ lâu, chắp vá qua nhiều lần sửa chữa, nâng cấp, việc kiểm tra, đánh giá không thường xuyên

Bảng 1.2: Đánh giá mức độ đồng bộ của hệ thống cơ sở hạ tầng trong

các doanh nghiệp KH&CN tiềm năng

(Nguồn: Cục phát triển thị trường và Doanh nghiệp KH&CN năm 2010)

Phân bổ diện tích làm việc còn bất cập, chưa tương ứng với bộ máy hoạt động cũng như nhu cầu mở rộng trong tương lai: thực tế trong nhiều doanh nghiệp KH&CN tiềm năng, đặc biệt là các doanh nghiệp ở các thành phố lớn diện tích hoạt động của các đơn vị khá chật hẹp, hầu hết các doanh nghiệp đều cho rằng đơn vị mình thiếu diện tích làm việc

Bảng 1.3: Khả năng đáp ứng nhu cầu diện tích làm việc trong các doanh nghiệp

KH&CN tiềm năng

(Nguồn: Cục phát triển thị trường và Doanh nghiệp KH&CN năm 2010)

Quy mô và chất lượng các công trình hạ tầng ở phần lớn các doanh nghiệp chưa đáp ứng được các yêu cầu Nhiều doanh nghiệp tuy có diện tích lớn, nhưng diện tích xây dựng dành cho các công trình hạ tầng phục vụ hoạt động và sản xuất, kinh doanh lại nhỏ khiến việc bố trí điểm làm việc cho cán bộ nhân viên khó khăn

Trang 27

Bảng 1.4: Khả năng đáp ứng của hệ thống cơ sở hạ tầng trong các

doanh nghiệp KH&CN tiềm năng

Các nhóm doanh nghiệp

Khả năng đáp ứng (%) Không đáp ứng Đáp ứng một

- Trang thiết bị phụ trợ có vai trò quan trọng để đảm bảo hoạt động của các các

doanh nghiệp KH&CN Doanh nghiệp KH&CN đã được trang bị đầy đủ các thiết bị văn phòng như máy fax, máy in, điện thoại… Việc trang bị và ứng dụng thiết bị CNTT trong nghiên cứu phát triển và sản xuất kinh doanh cũng được áp dụng phổ

biến, tỷ lệ máy tính nối mạng trong các doanh nghiệp ngày càng được nâng cao

Bảng 1.5: Tình hình sử dụng trang thiết bị phụ trợ trong DN KH&CN tiềm năng

Các nhóm doanh nghiệp

Khả năng đáp ứng (%) Máy tính

nối mạng

Sử dụng cụ tin học chuyên ngành

Công cụ quản lý trực tuyến

(Nguồn: Cục phát triển thị trường và Doanh nghiệp KH&CN năm 2010)

-Thiết bị nghiên cứu phát triển chuyên ngành có ý nghĩa quan trọng cho hình thành và phát triển của doanh nghiệp KH&CN tiềm năng, bởi nó ảnh hưởng đến khả năng phát triển và làm chủ công nghệ của doanh nghiệp, cũng như khả năng trở thành doanh nghiệp KH&CN Hiện trạng trang thiết bị phục vụ nghiên cứu phát triển chuyên ngành như sau:

Trang 28

- Tuổi của thiết bị nghiên cứu sử dụng trong các doanh nghiệp KH&CN khá

đa dạng theo từng loại hình doanh nghiệp và thời gian sử dụng khác nhau Trong đó tập trung chủ yếu ở mức thời gian từ 10-20 năm

Bảng 1.6: Hiện trạng về tuổi thiết bị trong doanh nghiệp KH&CN tiềm năng

Các nhóm doanh nghiệp

Tuổi của thiết bị chủ yếu (%)

<10 năm 10-20 năm > 20 năm

(Nguồn: Cục phát triển thị trường và Doanh nghiệp KH&CN năm 2010)

- Về xuất xứ thiết bị:Cũng như độ tuổi, xuất xứ của thiết bị cũng rất đa dạng

trong từng loại hình doanh nghiệp khác nhau và trong từng nhóm xuất xứ khác nhau Đối với doanh nghiệp thuộc nhóm 1 và nhóm 3, hầu hết các thiết bị nghiên cứu được sử dụng có nguồn gốc cả trong và ngoài nước (chủ yếu là Trung Quốc, Đài Loan) Đối với các doanh nghiệp thuộc nhóm 2, xuất xứ của hệ thống thiết bị rất đa dạng, trong đó có 34,21% doanh nghiệp chủ yếu sử dụng thiết bị trong nước, 41,20% doanh nghiệp chủ yếu sử dụng thiết bị có nguồn gốc ở ngoài nước và 24,59% doanh

nghiệp chủ yếu sử dụng thiết bị có nguồn gốc cả trong và ngoài nước

Về tình trạng thiết bị: Tỷ lệ doanh nghiệp có phần lớn thiết bị nghiên cứu hư hỏng một phần chiếm khá cao

Bảng 1.7: Tình trạng thiết bị chuyên ngành trong doanh nghiệp KH&CN tiềm năng

Các nhóm doanh nghiệp

Tình trạng của thiết bị (%) Phần lớn

sử dụng tốt

Phần lớn hư hỏng một phần

Phần lớn hư hỏng toàn bộ

Trang 29

Trang thiết bị kỹ thuật sản xuất: Số lượng các doanh nghiệp KH&CN tiềm

năng có hệ thống phương tiện sản xuất ở tình trạng hư hỏng một phần là khá phổ biến nhất là ở nhóm 2 (chiếm 61,74%) và nhóm 3 (chiếm 52,31%) Mặc dù có quy

mô nhỏ hơn nhưng tỷ lệ các doanh nghiệp thuộc nhóm 1 sử dụng các trang thiết bị

trong tình trạng sử dụng tốt là khá cao

Công nghệ áp dụng chủ yếu: Hầu hết các doanh nghiệp thường xuyên nghiên cứu phát triển và cải tiến công nghệ áp dụng trong đơn vị Có hơn 9,4% doanh nghiệp tự phát triển công nghệ là chủ yếu, 78,2% doanh nghiệp liên kết với các tổ chức bên ngoài để phát triển công nghệ và có 12,4% doanh nghiệp mua bản quyền

công nghệ từ các tổ chức, hay cá nhân bên ngoài

Bảng 1.8: Hiện trạng nhân lực trong các doanh nghiệp KH&CN tiềm năng

Cao đẳng

TC/ CNKT Nhóm 1: Từ 1 năm đến 3

- Nhân lực R&D: Khác với nhân lực có trình độ, nhân lực R&D tham gia chủ

yếu vào hoạt động nghiên cứu phát triển trong doanh nghiệp KH&CN tiềm năng

Trang 30

Xét về quy mô: các doanh nghiệp thuộc nhóm 2 và một số doanh nghiệp thuộc nhóm 3 là có đội ngũ nhân lực R&D đông đảo hơn cả Bình quân 1 doanh nghiệp thuộc nhóm 2 có 18,23 cán bộ R&D và ở nhóm 3 có 13,32 cán bộ R&D [05, tr 12]

Xét về trình độ: hầu hết nhân lực R&D trong các doanh nghiệp KH&CN tiềm năng có trình độ từ cao đẳng trở lên

* Đặc điểm về Thông tin khoa học và công nghệ

Có hơn 80% doanh nghiệp đã xây dựng và lữu trữ cơ sở dữ liệu thông tin công nghệ và sản phẩm của trong vòng 5 năm trở lại đây, trong đó hầu hết là cơ sở

dữ liệu thông tin nội bộ ở dạng bản cứng, ít thông tin được số hóa

Thực tế, gần như không có doanh nghiệp nào có cơ sở dữ liệu đáp ứng được nhu cầu hoạt động Do đó, để khai thác đủ dữ liệu cần thiết, nhiều doanh nghiệp đã chú trọng tăng cường liên kết và trao đổi thông tin giữa các doanh nghiệp với nhau và với các tổ chức KH&CN bên ngoài

*.Đặc điểm về hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ

Trong các doanh nghiệp KH&CN tiềm năng chủ yếu được thực hiện ở dạng các đề tài/dự án nhỏ với nguồn kinh phí chủ yếu từ nguồn hỗ trợ của các tổ chức kinh tế bên ngoài Bình quân, mỗi năm 1 doanh nghiệp KH&CN tiềm năng thực hiện từ 0,5 - 1 đề tài/dự án cấp cơ sở và 0,1 – 0,3 đề tài/dự án cấp tỉnh

Có thể nói nghiên cứu KH&CN có tác động tích cực trong việc thúc đẩy hiệu quả sản xuất kinh doanh trong các doanh nghiệp Có 30% doanh nghiệp tăng lợi nhuận trong g/đ 3 năm đầu tư cho nghiên cứu và phát triển, gần một nửa trong số đó đạt tốc độ tăng lợi nhuận rất cao Sự gia tăng này được lý giải bởi sự cộng hưởng từ việc gia tăng doanh số đầu ra và việc tiết kiệm chi phí đầu vào nhờ KH&CN

* Đặc điểm về tài chính đầu tư cho khoa học và công nghệ

Về đầu tư cho nghiên cứu phát triển: Vốn là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng, quy mô của hoạt động nghiên cứu phát, có 20,5% doanh nghiệp chủ yếu sử dụng vốn nội bộ cho hoạt động R&D, 31,3% doanh nghiệp chủ yếu sử dụng vốn ngân sách thông qua các chương trình hỗ trợ của nhà nước,

Trang 31

48,2% doanh nghiệp còn lại sử dụng các nguồn vốn khác thông qua các chương trình hợp tác, cho vay, hỗ trợ… của các tổ chức kinh tế - xã hội bên ngoài

Theo nghiên cứu của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, phần lớn các khoản chi tiêu cho nghiên cứu không được dùng để nghiên cứu các công nghệ

“nguồn” mà dùng để phát triển công nghệ có thể đã xuất hiện [25, tr 22]

Hình 1.2: Huy động vốn cho nghiên cứu trong doanh nghiệp

(Nguồn: Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương năm 2010)

* Về đầu tư đổi mới công nghệ: Tỉ lệ đầu tư đổi mới công nghệ rất thấp, chỉ đạt dưới 0,05% doanh thu (tỉ lệ đầu tư cho R&D/GDP tại một số quốc gia khác cao hơn rất nhiều: 3,57% tại Hàn Quốc, 1,7% tại Trung Quốc, 0,76% tại Ấn Độ) Theo báo của Viện Đánh giá khoa học và Định giá công nghệ chỉ có 23% các doanh nghiệp được điều tra có quan tâm tới đổi mới, cải tiến công nghệ Trong số đó, 6,6% doanh nghiệp thực hiện việc nghiên cứu và các hoạt động làm chủ công nghệ, 16,4% khác thực hiện việc làm chủ công nghệ nhưng không liên quan đến R&D Số lượng thực các doanh nghiệp có hoạt động đổi mới công nghệ thấp hơn nhiều Đặc biệt, có tới 77% các doanh nghiệp không theo đuổi hoạt động R&D hay đổi mới làm chủ công nghệ

Trang 32

Hình 1.3: Mức độ đổi mới công nghệ của doanh nghiệp KH&CN tiềm năng

(Nguồn: Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương năm 2010)

* Về đầu tư cải tiến công nghệ:Cải tiến công nghệ là cách để tránh được việc phải tốn chi phí rất lớn cho việc thực hiện nghiên cứu: mua các công nghệ tốt sau đó cải tiến để phù hợp với điều kiện ở địa phương hay các máy móc, quy trình sản xuất sẵn có của doanh nghiệp Thực tế, phần lớn công nghệ được chuyển giao thông qua liên kết xuôi và liên kết ngược đều có thể được cải tiến Điểm khác biệt ở đây là cải tiến bao gồm việc doanh nghiệp tự tham gia tìm kiếm và điều tra những công nghệ cụ thể chứ không thụ động, dựa vào chuyển giao phát sinh qua liên kết thương mại

Theo Viện quản lý kinh tế trung ương, các doanh nghiệp ít tham gia vào các hoạt động nào, nếu có chỉ đầu tư vào đổi mới công nghệ

Hình 1.4: Hoạt động nghiên cứu và cải tiến công nghệ [25, tr 16]

(Nguồn: Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương năm 2010)

Trang 33

* Về thành lập quỹ khoa học và công nghệ: Hiện nay, một số doanh nghiệp đã thành lập quỹ KH&CN Tuy nhiên, thực tế số doanh nghiệp hiểu về vấn đề này vấn còn rất hạn chế Các quỹ KH&CN được thành lập chủ yếu thuộc các doanh nghiệp lớn ở nhóm 3

*.Về doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp: Khoảng 60% doanh nghiệp có

doanh thu tăng qua các năm từ 2010 đến 2012 Đây là kết quả khả quan của quá trình nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ Chỉ có 9% doanh nghiệp danh thu không đổi, 8% doanh nghiệp doanh thu thay đổi không ổn định và có 23% doanh nghiệp bị sụt giảm doanh số Có đến 30% doanh nghiệp tăng lợi nhuận trong giai đoạn 3 năm đầu tư cho nghiên cứu và phát triển, gần một nửa trong số đó đạt tốc độ tăng lợi nhuận rất cao Sự gia tăng này được lý giải bởi sự cộng hưởng của việc gia tăng doanh số đầu ra và việc tiết kiệm chi phí đầu vào nhờ KH&CN

* Về tổ chức quản lý :Các doanh nghiệp KH&CN tiềm năng có mô hình tổ chức quản lý khá chặt chẽ với các quy chế hoạt động rõ ràng, bộ máy máy tổ chức khá gọn gàng và có xu hướng ngày càng tinh giảm

Về bộ máy quản lý: Có 30,2% doanh nghiệp có bộ máy quản lý trên 100 người, 37,3% doanh nghiệp có bộ máy quản lý từ 50 đến 100 người, còn lại 22,5%

là các doanh nghiệp có bộ máy quản lý dưới 50 người

Về tổ chức hoạt động: có 41,2% doanh nghiệp phân tách hai mảng hoạt động

rõ rệt bao gồm mảng sản xuất kinh doanh và mảng R&D (trong đó có 11,2% được

tổ chức theo mô hình hoạt động độc lập, 30% được tổ chức theo mô hình hoạt động đan xen dưới sự chỉ đạo lãnh đạo công ty)

1.5 Những phương hình thành và phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ

1.5.1 Thành lập mới hoàn toàn một doanh nghiệp theo các tiêu chí của doanh nghiệp khoa học và công nghệ

Trong thực tế có những doanh nghiệp đáp ứng ngay các tiêu chí của doanh nghiệp KH&CN và đang kinh doanh hết sức thành công Các doanh nghiệp này

Trang 34

thường được phát triển từ ý tưởng của những nhóm sinh viên, giảng viên, các nghiên cứu viên của các trường đại học, viện nghiên cứu trong và ngoài nước

1.5.2 Thành lập doanh nghiệp khoa học và công nghệ từ phát triển các tổ chức nghiên cứu khoa học và công nghệ

Nghị định 115/2005/NĐ-CP ngày 05/9/2005 của Chính phủ quy định cơ chế

tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức KH&CN công lập đã yêu cầu các tổ chức KH&CN công lập phải chuyển đổi tổ chức và hoạt động (điều 4, chương I) sang mô hình tổ chức KH&CN tự trang trải kinh phí hoặc mô hình doanh nghiệp KH&CN Việt Nam có số lượng khá đông các tổ chức nghiên cứu và phát triển Các tổ chức KH&CN có tiềm năng sẵn có về nghiên cứu, bao gồm cả nguồn nhân lực trình độ cao

và nguồn cơ sở vật chất phục vụ nghiên cứu Chỉ cần có những tác động vào khâu ươm tạo, thương mại hóa các kết quả khoa học công nghệ của tổ chức là có thể hình thành doanh nghiệp KH&CN [18, tr 6]

1.5.3 Thành lập doanh nghiệp khoa học và công nghệ từ những nhân tố nội tại trong một doanh nghiệp thông thường đang hoạt động

Trong bối cảnh xuất phát điểm của nền kinh tế Việt Nam còn thấp, phần lớn các doanh nghiệp khởi nghiệp khó có các điều kiện để đi ngay vào công nghệ cao, công nghệ hiện đại Tuy nhiên, cũng có một bộ phận doanh nghiệp đã có bề dày phát triển, tạo lập được chỗ đứng nhất định trên thương trường, có tiềm lực tốt Những doanh nghiệp này là đội ngũ có tiềm năng để phát triển thành doanh nghiệp khoa học công nghệ và có thể tạm chia ra làm hai loại

Đối với những doanh nghiệp mà hoạt động sản xuất, kinh doanh chính dựa trên nền tảng công nghệ thuộc bản quyền, nếu hội tụ đủ các điều kiện theo quy định

về doanh nghiệp KH&CN thì có thể chuyển đổi toàn bộ doanh nghiệp sang mô hình doanh nghiệp khoa học công nghệ

Đối với những doanh nghiệp đa ngành, đa lĩnh vực mà hoạt động sản xuất dựa trên công nghệ thuộc quyền sử dụng không tạo ra doanh thu chính cho công ty, thì có thể thành lập các doanh nghiệp KH&CN trực thuộc để sản xuất, kinh doanh các sản phẩm KH&CN Cho đến cuối năm 2013, cả nước còn khoảng 450 nghìn

Trang 35

doanh nghiệp đang hoạt động Nếu so sánh với tổng số khoảng 607 nghìn doanh nghiệp đã đăng ký hoạt động thì số lượng các doanh nghiệp phải chấm dứt hoạt đông đến thời điểm đó là không nhỏ Tuy nhiên với con số 450 nghìn doanh nghiệp còn hoạt động thì rõ ràng tiềm năng phát triển doanh nghiệp khoa học công nghệ bằng con đường thứ ba này còn rất dồi dào

1.6 Những yếu tố ảnh hưởng đến phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ

1.6.1 Hệ thống pháp luật và chính sách hỗ trợ vĩ mô

chủ trương đúng đắn, có ý nghĩa quan trọng thúc đẩy sự phát triển KH&CN, tăng sức cạnh tranh cho nền kinh tế Điều này đã được khẳng định tại Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI (Nghị quyết số 20-NQ/TW) về phát triển KH&CN và nhiều văn bản khác đã tạo dựng cơ sở pháp lý quan trọng phát triển doanh nghiệp KH&CN

1 6.2 Thủ tục công nhận doanh nghiệp khoa học và công nghệ

* Đối tượng thành lập doanh nghiệp khoa học và công nghệ

Theo Thông tư 06, đối tượng được thành lập doanh nghiệp KH&CN được áp dụng cho mọi tổ chức, cá nhân Việt Nam; tổ chức, cá nhân nước ngoài có quyền sở hữu hoặc sử dụng hợp pháp các kết quả KH&CN Kết quả KH&CN bao gồm kết quả của các chương trình, đề tài, dự án KH&CN; kết quả của các dự án nghiên cứu giải mã, làm chủ công nghệ được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền công nhận; các đối tượng sở hữu trí tuệ như các sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, giống cây trồng, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn đã được cấp văn bằng bảo hộ, chương trình máy tính

* Kết quả khoa học và công nghệ làm cơ sở chứng nhận doanh nghiệp khoa học và công nghệ

- Chứng minh quyền sở hữu hợp pháp đối với kết quả khoa học và công nghệ hoặc công nghệ mà doanh nghiệp đang ứng dụng

Theo quy định tại Thông tư 06, kết quả KH&CN làm cơ sở để chứng nhận doanh nghiệp KH&CN phải là:

Trang 36

(i) Kết quả của việc thực hiện các nhiệm vụ KH&CN được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền công nhận

(ii) Các sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, giống cây trồng, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn đã được cấp văn bằng bảo hộ theo quy định pháp luật về

sở hữu trí tuệ hoặc được công nhận đăng ký quốc tế theo Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; chương trình máy tính

Trong đó, nội dung dự án sản xuất, kinh doanh phải giải trình các nội dung: chứng minh việc sử dụng hoặc sở hữu hợp pháp các kết quả KH&CN kèm theo các văn bản xác nhận quyền sử dụng hoặc sở hữu hợp pháp các kết quả KH&CN; giải trình quá trình ươm tạo và làm chủ công nghệ từ các kết quả KH&CN có quyền sử dụng hoặc sở hữu hợp pháp; phương án sản xuất, kinh doanh trong đó nêu rõ các sản phẩm hàng hóa hình thành từ kết quả KH&CN và các điều kiện bảo đảm hoạt động sản xuất, kinh doanh

Doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc giải trình quá trình nghiên cứu, ươm tạo và làm chủ công nghệ Đối với các kết quả KH&CN do doanh nghiệp tự bỏ tiền

ra nghiên cứu, doanh nghiệp cũng gặp khó khăn trong việc chứng minh họ là chủ sở hữu kết quả nghiên cứu Quy định “kết quả KH&CN được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận” cũng khó thực hiện, bởi chưa có hướng dẫn cụ thể cơ quan nhà nước nào có thẩm quyền công nhận và việc công nhận cần thực hiện như thế nào

- Đối với vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ các kết quả khoa học và công nghệ Quy định pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với các đối tượng nêu trên Tuy nhiên, hiện nay việc đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với các kết quả KH&CN chưa được các tổ chức KH&CN, doanh nghiệp, nhà nghiên cứu độc lập chú trọng do nhận thức hạn chế về tầm quan trọng của việc đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, cũng như sự khó khăn, phức tạp trong quá trình đăng ký, Hơn thế, với sự phát triển KH&CN của Việt Nam hiện nay, các điều kiện đối với việc bảo hộ một sáng chế khiến cho nhiều sản phẩm chưa đáp ứng được Theo số liệu của Cục Sở hữu trí tuệ tính đến hết năm 2010, số lượng sáng chế của người Việt Nam được bảo hộ tại Việt Nam là 418, số lượng giải pháp hữu ích là 530 Trong khi đó, số lượng sáng chế của người nước ngoài

Trang 37

được bảo hộ tại Việt Nam là 335; giải pháp hữu ích là 8570 Sự khác biệt về tỉ

lệ sáng chế, giải pháp hữu ích của người Việt Nam và nước ngoài đã thể hiện phần nào chất lượng nghiên cứu của ta Việc chứng minh quyền sở hữu, quyền

sử dụng hợp pháp đối với các sản phầm phần mềm lại càng khó khăn hơn

Do vậy, có rất nhiều doanh nghiệp hội tụ đủ điều kiện được coi là doanh nghiệp KH&CN nhưng lại gặp khó khăn trong quá trình chứng minh quyền sở hữu hay sử dụng hợp pháp kết quả nghiên cứu KH&CN

Các lĩnh vực công nghệ mà doanh nghiệp khoa học và công nghệ hoạt động: Theo quy định tại Thông tư 06/2008/TTLT-BKH&CN-BTC-BNV, doanh nghiệp KH&CN hoàn thành việc ươm tạo và làm chủ công nghệ thuộc các lĩnh vực: i) Công nghệ thông tin - truyền thông, đặc biệt công nghệ phần mềm tin học; ii) Công nghệ sinh học, đặc biệt công nghệ sinh học phục vụ nông nghiệp, thủy sản và y tế; iii) Công nghệ tự động hóa; iv) Công nghệ vật liệu mới, đặc biệt công nghệ nano; v) Công nghệ bảo vệ môi trường; vi) Công nghệ năng lượng mới; vii) Công nghệ vũ trụ và một số công nghệ khác do Bộ KH&CN quy định

- Liên quan đến chủ sở hữu các kết quả đề tài, dự án R&D do Nhà nước đầu

tư kinh phí: Cơ chế chuyển giao các kết quả nghiên cứu từ viện nghiên cứu, trường đại học cho các doanh nghiệp cũng chưa được quy định cụ thể khiến việc chuyển giao các kết quả, đề tài nghiên cứu từ khối viện, trường, tạo tiền đề hình thành doanh nghiệp KH&CN bị hạn chế

Việc giao kết quả KH&CN thuộc sở hữu nhà nước, Thông tư 06 quy định đối với trường hợp giao kết quả KH&CN cho tổ chức KH&CN công lập (hoặc bộ phận của tổ chức KH&CN công lập) thực hiện chuyển đổi để thành lập doanh nghiệp KH&CN Khi đó, việc giao các kết quả này sẽ thực hiện theo một trong hai phương thức: giao quyền sở hữu hoặc giao quyền sử dụng Đồng thời, Thông tư 06 cũng chỉ rõ: “Trong trường hợp giao quyền sử dụng kết quả KH&CN, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể giao cho một hoặc nhiều tổ chức KH&CN công lập sử dụng cùng một kết quả KH&CN Kết quả KH&CN được ưu tiên giao cho tổ chức KH&CN chủ trì nghiên cứu, hình thành kết quả KH&CN đó”

* Thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận doanh nghiệp khoa học và công nghệ

Trang 38

Theo các văn bản quy định, thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận doanh nghiệp KH&CN được phân cấp cho các Sở KH&CN thuộc tỉnh, thành phố Tuy nhiên, nhận thức cũng như trình độ của các cán bộ địa phương về doanh nghiệp KH&CN, thủ tục đăng ký doanh nghiệp KH&CN còn hạn chế Việc xem xét quyền sở hữu hay sử dụng hợp pháp đối với kết quả KH&CN, thẩm định giá trị và khả năng ứng dụng của công nghệ đòi hỏi các chuyên gia trình độ chuyên môn cao về các lĩnh vực luật, công nghệ, thị trường, Trong khi đó số lượng đội ngũ các cán bộ chuyên môn

có trình độ ở một số địa phương còn chưa đáp ứng yêu cầu

- Chính sách ưu đãi: Theo quy định, doanh nghiệp KH&CN được hưởng 8

ưu đãi [02, tr.5 ], bao gồm:

(i) Được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền xem xét, giao quyền sử dụng hoặc sở hữu các kết quả KH&CN thuộc sở hữu nhà nước;

(ii) Được miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp;

(iii)Được miễn lệ phí trước bạ khi đăng ký quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà; (iv)Các khoản chi phí hợp lý được trừ khi tính thu nhập chịu thuế đối với hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ

và các hoạt động khác thực hiện theo quy định của pháp luật;

(v) Được hưởng chính sách ưu đãi về tín dụng đầu tư của Ngân hàng Phát triển Việt Nam, Quỹ phát triển KH&CN và các quỹ khác theo quy định của pháp luật để thực hiện dự án đầu tư sản xuất, kinh doanh;

(vi) Được ưu tiên trong việc sử dụng trang thiết bị nghiên cứu phục vụ cho hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ tại các Phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia, cơ sở ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp, cơ sở nghiên cứu KH&CN của Nhà nước;

(vii) Được hưởng các dịch vụ tư vấn, đào tạo miễn phí của các cơ sở ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp do các cơ quan nhà nước thành lập;

(viii) Được ưu tiên cho thuê đất, giao đất và miễn, giảm tiền thuê đất theo quy định Trong trường hợp Luật Đầu tư và văn bản pháp luật khác có quy định doanh nghiệp KH&CN được hưởng ưu đãi cao hơn Nghị định này thì doanh nghiệp KH&CN được hưởng ưu đãi theo các văn bản đó

Trang 39

- Môi trường ươm tạo doanh nghiệp, ươm tạo công nghệ: Mỗi doanh nghiệp KH&CN chỉ có thể được hình thành sau một thời gian ươm tạo, làm chủ công nghệ cốt lõi của doanh nghiệp Ươm tạo công nghệ (technology incubation) được hiểu là quá trình nghiên cứu khoa học nhằm một trong các mục đích sau đây:

+ Thích nghi và làm chủ công nghệ tiên tiến ngoại nhập;

+ Sáng tạo công nghệ

+ Đổi mới, cải tiến công nghệ theo hướng hiện đại hoá làm tăng năng suất, giảm giá thành, nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm;

Cần có những điều kiện ưu đãi cần thiết bao gồm cả vốn, miễn giảm thuế và

ưu đãi khác để doanh nghiệp có thể ươm tạo thành công công nghệ

Doanh nghiệp KH&CN thường là các doanh nghiệp vừa và nhỏ phải đối diện với nhiều rủi ro từ những giai đoạn đầu phát triển Doanh nghiệp KH&CN rất cần được ươm tạo, tức là cần được hỗ trợ trong giai đoạn khởi nghiệp nhằm giảm thiểu chi phí ban đầu, hạn chế rủi ro, khắc phục những thiếu hụt kiến thức và kinh nghiệm

về tổ chức, quản lý, mạng lưới liên kết, tiếp cận thị trường, nâng cao khả năng tồn tại và sự phát triển ổn định của doanh nghiệp sau khi kết thúc giai đoạn ươm tạo

- Phát triển thị trường khoa học và công nghệ không chỉ tạo nguồn cung cấp đầu vào mà còn là nơi tiêu thụ “đầu ra” cho các sản phẩm công nghệ và thương mại hóa các kết quả nghiên cứu Thị trường KH&CN cũng là nơi phổ biến thông tin công nghệ cập nhật và thiết thực phục vụ hoạt động sản xuất và nghiên cứu cải tiến công nghệ Nhu cầu của thị trường KH&CN và những lợi ích thương mại đem lại từ quy luật giá trị và quy luật cung cầu đối với loại hàng hoá đặc biệt này là yếu tố kích thích sáng tạo, cải tiến và phổ biến công nghệ phù hợp với nhu cầu sản xuất kinh doanh Thị trường KH&CN có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự hình thành và phát triển của doanh nghiệp KH&CN Nhờ ưu thế vượt trội trong khai thác và thương mại hóa kết quả nghiên cứu và tài sản trí tuệ, doanh nghiệp KH&CN luôn là chủ thể tích cực tham gia các giao dịch về công nghệ trên thị trường với vai trò vừa là người mua lại vừa là người bán

Nếu thị trường KH&CN là môi trường để các giao dịch công nghệ được thực hiện, theo đó, những yếu tố tác động lên thị trường sẽ ảnh hưởng gián tiếp đến các

Trang 40

chủ thể tham gia giao dịch thì ngược lại, doanh nghiệp KH&CN là yếu tố quyết định sự hình thành, phát triển của thị trường KH&CN Mặt khác,thị trường KH&CN cũng là nơi Chính phủ các nước lựa chọn để thực hiện những điều tiết, hỗ trợ cho phát triển khoa học công nghệ và doanh nghiệp KH&CN

Thị trường KH&CN Việt Nam đã có những bước khởi sắc: sự hình thành các sàn giao dịch công nghệ, triển lãm sản phẩm kết nối cung - cầu, các Techmart quy

mô địa phương, vùng và quốc gia, hình thành các tổ chức ươm tạo và hỗ trợ chuyển giao công nghệ tại các tổ chức KH&CN, đã có những tác động nhất định tới sự phát triển hệ thống doanh nghiệp khoa nghiệp và công nghệ ở nước ta

Ngoài ra còn có các website thông tin sản phẩm KH&CN của các sở KH&CN, viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp lớn

Sự hình thành và phát triển thị trường KH&CN ở Việt Nam trong thời gian qua đã tác động phần nào tới việc định hướng hoạt động nghiên cứu khoa học của các trường đại học, chuyển hướng hoạt động nghiên cứu gắn liền với nhu cầu công nghệ của doanh nghiệp cũng như định hướng phát triển kinh tế của Chính phủ, phát triển mối quan hệ giữa viện, trường với doanh nghiệp Cùng với sự hình thành các

tổ chức ươm tạo, xúc tiến chuyển giao công nghệ trong các trường đại học thúc đẩy

sự hình thành các doanh nghiệp KH&CN nói chung, trong đó có loại hình doanh nghiệp khởi nguồn (spin-off) Sự phát triển của các tổ chức trung gian hỗ trợ chuyển giao công nghệ trên thị trường cũng hỗ trợ các doanh nghiệp KH&CN thương mại hóa các sản phẩm của mình

1.6.3 Nguồn nhân lực chất lượng

Nhân lực luôn là yếu tố then chốt cho sự phát triển và là một trong những chỉ tiêu định lượng trong các cuộc điều tra xác định các doanh nghiệp KH&CN tiềm năng.Trong các doanh nghiệp KH&CN, thường phải có một bộ phận nghiên cứu và phát triển với những cán bộ có trình độ, khả năng am hiểu công nghệ, hỗ trợ các bộ phận khác trong việc ứng dụng công nghệ cũng như có nhiệm vụ nghiên cứu, cải tiến công nghệ thường xuyên

Yêu cầu đặt ra đối với người tạo dựng điều hành doanh nghiệp còn cao hơn nữa Người tạo dựng doanh nghiệp KH&CN hoặc phải là các nhà khoa học có tinh

Ngày đăng: 29/09/2016, 15:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Khoa học và Công nghệ (2014), Khoa học và công nghệ Việt Nam 2013, Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học và công nghệ Việt Nam 2013
Tác giả: Bộ Khoa học và Công nghệ
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2014
2. Bộ Khoa học và Công nghệ (2015), Văn bản hợp nhất số 01/VBHN-BKHCN ngày 06/01/2015 Nghị định Về doanh nghiệp khoa học và công nghệ, Hà Nội 3. Bộ Khoa học và Công nghệ (2015), Văn bản hợp nhất số 03/VBHN-BKHCN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bản hợp nhất số 01/VBHN-BKHCN ngày 06/01/2015 Nghị định Về doanh nghiệp khoa học và công nghệ, "Hà Nội 3. Bộ Khoa học và Công nghệ (2015)
Tác giả: Bộ Khoa học và Công nghệ (2015), Văn bản hợp nhất số 01/VBHN-BKHCN ngày 06/01/2015 Nghị định Về doanh nghiệp khoa học và công nghệ, Hà Nội 3. Bộ Khoa học và Công nghệ
Năm: 2015
6. Mai Hà, Hoàng Văn Tuyên và Đào Thanh Trường (2015), Doanh nghiệp khoa học và công nghệ - Từ lý luận đến thực tiễn, Nxb Khoa học và kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Doanh nghiệp khoa học và công nghệ - Từ lý luận đến thực tiễn
Tác giả: Mai Hà, Hoàng Văn Tuyên và Đào Thanh Trường
Nhà XB: Nxb Khoa học và kỹ thuật
Năm: 2015
7. Nguyễn Mạnh Khương, (2015) Luận văn cao học “Chính sách phát triển doanh nghiệp Khoa học và Công nghệ qua thực tiễn tỉnh Thái Bình” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận văn cao học “Chính sách phát triển doanh nghiệp Khoa học và Công nghệ qua thực tiễn tỉnh Thái Bình
8. Nguyễn Sỹ Lộc (1997), Quản lý KH&amp;CN. Trường nghiệp vụ quản lý – Bộ KH&amp;CN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý KH&CN
Tác giả: Nguyễn Sỹ Lộc
Năm: 1997
9. Hoàng Xuân Long, Chính sách Khoa học và Công nghệ - Viện chiến lược và chính sách khoa học và công nghệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách Khoa học và Công nghệ
11. Nguyễn Thị Minh Nga (2006), Nghiên cứu khía cạnh pháp lý của doanh nghiệp khoa học và công nghệ, Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khía cạnh pháp lý của doanh nghiệp khoa học và công nghệ
Tác giả: Nguyễn Thị Minh Nga
Năm: 2006
12. Phạm Đức Nghiệm (2009),Một số vấn đề về phương pháp tiếp cận và quy trình quy hoạch phát triển KH&amp;CN cấp tỉnh, Tài liệu lưu hành nội bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về phương pháp tiếp cận và quy trình quy hoạch phát triển KH&CN cấp tỉnh
Tác giả: Phạm Đức Nghiệm
Năm: 2009
13. Nghị định, số 80/2007/NĐ-CP, ngày 19/5/2007 của Thủ tướng Chính phủ, Về doanh nghiệp khoa học và công nghệ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: số 80/2007/NĐ-CP, ngày 19/5/2007 của Thủ tướng Chính phủ, Về doanh nghiệp khoa học và công nghệ
14. Nguyễn Quân (2006), Doanh nghiệp Khoa học Công nghệ – một lực lượng sản xuất mới, Tạp chí Hoạt động khoa học, số tháng 10/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Doanh nghiệp Khoa học Công nghệ – một lực lượng sản xuất mới
Tác giả: Nguyễn Quân
Năm: 2006
15. Nguyễn Mạnh Quân (2008), Vấn đề đặt ra khi xây dựng chiến lược KH&amp;CN giai đoạn 2010-2020, Tạp chí Hoạt động khoa học 5/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề đặt ra khi xây dựng chiến lược KH&CN giai đoạn 2010-2020
Tác giả: Nguyễn Mạnh Quân
Năm: 2008
16. Quyết định, số 2075/QĐ-TTg ngày 08/11/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: số 2075/QĐ-TTg ngày 08/11/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ đến năm 2020
19. Sở Khoa học và Công nghệ Thành Phố Hà Nội (2013), Đề án phát triển doanh nghiệp KH&amp;CN Thành phố Hà Nội đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án phát triển doanh nghiệp KH&CN Thành phố Hà Nội đến năm 2020
Tác giả: Sở Khoa học và Công nghệ Thành Phố Hà Nội
Năm: 2013
20. Sở Khoa học và Công nghệ Thành Phố Hải Phòng (2013), Đề án phát triển doanh nghiệp KH&amp;CN Thành phố Hải Phòng đến năm 2020, Hải Phòng 21. Sở Khoa học và Công nghệ Thành Phố Đà Nẵng (2013), Đề án phát triểndoanh nghiệp KH&amp;CN Thành phố Đà Nẵng đến năm 2020, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Đề án phát triển doanh nghiệp KH&CN Thành phố Hải Phòng đến năm 2020, "Hải Phòng 21. Sở Khoa học và Công nghệ Thành Phố Đà Nẵng (2013), "Đề án phát triển "doanh nghiệp KH&CN Thành phố Đà Nẵng đến năm 2020
Tác giả: Sở Khoa học và Công nghệ Thành Phố Hải Phòng (2013), Đề án phát triển doanh nghiệp KH&amp;CN Thành phố Hải Phòng đến năm 2020, Hải Phòng 21. Sở Khoa học và Công nghệ Thành Phố Đà Nẵng
Năm: 2013
5. Cục Phát triển thị trường và Doanh nghiệp Khoa học và Công nghệ (2015), Báo cáo tình hình phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ năm 2015 Khác
10. Luật KH&amp;CN, số 29/2013/QH13 được Quốc Hội ban hành ngày 18/6/2013 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

1  Hình 1.1  So sánh đóng góp của TFP vào tăng trưởng GDP của - Các giải pháp chính sách phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ ở việt nam hiện nay
1 Hình 1.1 So sánh đóng góp của TFP vào tăng trưởng GDP của (Trang 6)
Hình  1.1:  So  sánh  đóng  góp  của  TFP  vào  tăng  trưởng  GDP  của  Việt  Nam                         với một số nước Châu Á giai đoạn 2001-2010 - Các giải pháp chính sách phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ ở việt nam hiện nay
nh 1.1: So sánh đóng góp của TFP vào tăng trưởng GDP của Việt Nam với một số nước Châu Á giai đoạn 2001-2010 (Trang 19)
Bảng 1.1: Tổng hợp một số thông tin chung về doanh nghiệp KH&amp;CN tiềm năng - Các giải pháp chính sách phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ ở việt nam hiện nay
Bảng 1.1 Tổng hợp một số thông tin chung về doanh nghiệp KH&amp;CN tiềm năng (Trang 24)
Bảng 1.4: Khả năng đáp ứng của hệ thống cơ sở hạ tầng trong các - Các giải pháp chính sách phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ ở việt nam hiện nay
Bảng 1.4 Khả năng đáp ứng của hệ thống cơ sở hạ tầng trong các (Trang 27)
Bảng 1.8: Hiện trạng nhân lực trong các doanh nghiệp KH&amp;CN tiềm năng - Các giải pháp chính sách phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ ở việt nam hiện nay
Bảng 1.8 Hiện trạng nhân lực trong các doanh nghiệp KH&amp;CN tiềm năng (Trang 29)
Hình 1.2: Huy động vốn cho nghiên cứu trong doanh nghiệp - Các giải pháp chính sách phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ ở việt nam hiện nay
Hình 1.2 Huy động vốn cho nghiên cứu trong doanh nghiệp (Trang 31)
Hình 1.3: Mức độ đổi mới công nghệ của doanh nghiệp KH&amp;CN tiềm năng - Các giải pháp chính sách phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ ở việt nam hiện nay
Hình 1.3 Mức độ đổi mới công nghệ của doanh nghiệp KH&amp;CN tiềm năng (Trang 32)
Hình 1.4: Hoạt động nghiên cứu và cải tiến công nghệ [25, tr. 16] - Các giải pháp chính sách phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ ở việt nam hiện nay
Hình 1.4 Hoạt động nghiên cứu và cải tiến công nghệ [25, tr. 16] (Trang 32)
Bảng 2.1: Công năng chủ yếu của công trình hạ tầng trong các - Các giải pháp chính sách phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ ở việt nam hiện nay
Bảng 2.1 Công năng chủ yếu của công trình hạ tầng trong các (Trang 45)
Bảng 2.2: Mức độ đáp ứng nhu cầu của các công trình hạ tầng - Các giải pháp chính sách phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ ở việt nam hiện nay
Bảng 2.2 Mức độ đáp ứng nhu cầu của các công trình hạ tầng (Trang 46)
Bảng 2.6: Hiện trạng nhân lực R&amp;D trong các doanh nghiệp KH&amp;CN - Các giải pháp chính sách phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ ở việt nam hiện nay
Bảng 2.6 Hiện trạng nhân lực R&amp;D trong các doanh nghiệp KH&amp;CN (Trang 49)
Bảng 2.5: Hiện trạng nhân lực trong các doanh nghiệp KH&amp;CN - Các giải pháp chính sách phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ ở việt nam hiện nay
Bảng 2.5 Hiện trạng nhân lực trong các doanh nghiệp KH&amp;CN (Trang 49)
Bảng 2.7: Hiện trạng sử dụng chuyên gia trong các doanh nghiệp KH&amp;CN - Các giải pháp chính sách phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ ở việt nam hiện nay
Bảng 2.7 Hiện trạng sử dụng chuyên gia trong các doanh nghiệp KH&amp;CN (Trang 50)
Bảng 2.8: Tổng hợp một số khó khăn của doanh nghiệp KH&amp;NC - Các giải pháp chính sách phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ ở việt nam hiện nay
Bảng 2.8 Tổng hợp một số khó khăn của doanh nghiệp KH&amp;NC (Trang 57)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm