Nguyên nhân của những hạn chế trên có thể là: - Không có phương pháp hay quy trình đánh giá các nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ - Không có tiêu chí để đánh giá, chỉ dựa vào đ
Trang 1VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
HÀ NỘI, 2016
Trang 2VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Chuyên ngành: Quản lý Khoa học và Công nghệ
Mã số: 60.34.04.12
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS NGUYỄN ĐÌNH BÌNH
HÀ NỘI - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này do chính tôi thực hiện dưới sự hướng
dẫn khoa học của TS Nguyễn Đình Bình
Mọi tham khảo dùng trong luận văn đều được trích dẫn rõ ràng, có độ chính xác cao nhất trong phạm vi hiểu biết của tôi
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình./
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Học viên
Nguyễn Đức Tâm
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ 6
1.1.Tổng quan về hoạt động NCKH&PTCN 6
1.2 Tổng quan về Đánh giá hiệu quả hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ 8
1.3.Kinh nghiệm quốc tế 13
1.4.Bài học kinh nghiệm 29
Kết luận chương 1 32
Chương 2: XÂY DỰNG PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ 33
2.1 Mục đích và đối tượng đánh giá 33
2.2 Phương pháp luận đánh giá hiệu quả hoạt động NCKH&PTCN 33
2.3 Quy trình đánh giá 39
2.4 Tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động NCKH&PTCN 44
Chương 3: ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG 49
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ 49
TẠI VIỆN KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT HẠT NHÂN 49
3.1 Thực trạng hoạt động NCKH&PTCN tại Viện KH&KTHN 49
3.2 Đánh giá hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ tại Viện Khoa học và Kỹ thuật hạt nhân 51
3.3 Một số đề xuất nâng cao hiệu quả hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ của Viện Khoa học và Kỹ thuật hạt nhân 75
Kết luận chương 3 76
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
Trang 5DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
ISI (Institute for Scientific Information, ISI, Hoa Kỳ): Cơ quan
xét chọn chất lượng tạp chí
Danh mục tạp chí khoa học (SCI, SCIe, SSCI, AJCI) KH&CN Khoa học và Công nghệ
NCKH&PTCN Nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ
KH&KTHN Viện Khoa học và Kỹ thuật hạt nhân
NCCB Nghiên cứu cơ bản
KQNC Kết quả nghiên cứu
NCKH&PTCN Nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ
KHCN&MT Khoa học công nghệ và môi trường
NCUD Nghiên cứu ứng dụng
Trang 6MỤC LỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2 : Các nhóm tiêu chí đánh giá hiệu quả 48
Bảng 3: Tổng hợp các công trình khoa học được công bố 50
Bảng 4: Nhóm các tiêu chí lớn và tiêu chí nhỏ 52
Bảng 5: Kết quả thăm dò về hiệu quả kỹ thuật công nghệ từ NCKH&PTCN 59
Bảng 6: Kết quả thăm dò về hiệu quả thông tin từ 61
NCKH&PTCN 61
Bảng 8: Kết quả thăm dò về hiệu quả xã hội từ NCKH&PTCN 63
Bảng 9: Kết quả thăm dò về hiệu quả đào tạo từ NCKH&PTCN 64
Bảng 10: Tổng hợp kết quả thăm dò hiệu quả bằng tiêu chí đánh giá 65
Hình 1: Hiệu quả kỹ thuật công nghệ từ NCKH&PTCN 68
Hình 2: Hiệu quả đào tạo từ NCKH&PTCN 69
Hình 3: Hiệu quả thông tin từ NCKH&PTCN 70
Hình 4: Hiệu quả xã hội từ NCKH&PTCN 71
Hình 5: Hiệu quả kinh tế từ NCKH&PTCN 72
Trang 71
MỞ ĐẦU
1 Tình cấp thiết của đề tài
Đánh giá hoạt động khoa học và công nghệ là một chức năng, nhiệm vụ
cơ bản của công tác tổ chức khoa học và công nghệ ở mọi cấp quản lý Thông qua đánh giá có thể nhận biết được giá trị khoa học đích thực, ý nghĩa ứng dụng của kết quả, hiệu quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ đối với sự tăng trưởng kinh tế và phát triển đất nước
Ở các nước phát triển, vấn đề đánh giá hoạt động khoa học và công nghệ được công chúng nhận thức cao, do đó áp lực đòi hỏi chính phủ phải tăng cường công tác đánh giá Công chúng là những người đóng thuế cho ngân sách quốc gia, họ yêu cầu cơ quan quản lý đánh giá nhiệm vụ khoa học
và công nghệ để giải thích rõ hiệu quả sử dụng nguồn vốn đã đầu tư Chính vì vậy, ở các nước này đánh giá hoạt động khoa học và công nghệ trở thành hoạt động thường xuyên và là nhu cầu không thể thiếu trong quản lý cũng như trong hoạch định chính sách phát triển khoa học và công nghệ
Đối với nước ta, trong điều kiện nền kinh tế còn ở trình độ thấp, vốn đầu tư thiếu và hạn chế, thì việc đánh giá hoạt động khoa học và công nghệ để tạo điều kiện sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả các nguồn lực là vấn đề hết sức cần thiết Những năm gần đây, thuật ngữ “đánh giá” được nhắc đến nhiều và
sử dụng khá rộng rãi Nhiều hoạt động được coi là “đánh giá” và cũng có nhiều cách hiểu về đánh giá Cùng một sự việc, một sự kiện, đối với mỗi người đánh giá, tùy theo quyền lợi và vị thế xã hội của họ, việc đánh giá tốt xấu là có thể khác nhau, khó đồng nhất với nhau
Đối tượng đánh giá khoa học và công nghệ rất đa dạng, từ tổ chức khoa học công nghệ, các cá nhân và tổ chức thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ, các chính sách đầu tư cho khoa học và công nghệ,… đến việc thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ Tuy nhiên trong khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ khoa học luận, luận văn này chỉ tập trung vào giới thiệu một số
Trang 82
vấn đề về đánh giá hiệu quả hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ tại Viện Khoa học và Kỹ thuật hạt nhân Nhưng theo ý kiến của nhiều chuyên gia, các nhà quản lý thì đây là một chủ đề rất khó
Thực tiễn quản lý nhà nước về hoạt động khoa học và công nghệ nhiều năm qua cho thấy, đánh giá hiệu quả ở các đơn vị hoạt động NCKH&PTCN còn nhiều hạn chế Những hạn chế thể hiện rõ nhất ở sự mâu thuẫn giữa các kết quả của hoạt động đánh giá với giá trị thực tiễn của kết quả nghiên cứu
Hiện nay, việc đánh giá hiệu quả nghiên cứu được thực hiện dựa trên thanh điểm “xuất sắc”, “khá”, “đạt”, và “không đạt” Trong khi đó, tiêu chí để xem xét đánh giá công trình nghiên cứu lại không thực sự rõ ràng
Nhiều năm qua, Viện Khoa học và Kỹ thuật hạt nhân đã triển khai hàng trăm đề tài nghiên cứu khoa học Tuy nhiên, một trong những vấn đề đã trở nên bức xúc trong quản lý cũng như trong dư luận xã hội là chất lượng đánh giá hiệu quả hoạt động NCKH&PTCN còn hạn chế
Biểu hiện của những hạn chế này là các kết quả đánh giá nghiên cứu được xếp loại “xuất sắc”, trong khi chất lượng nghiên cứu, hiệu quả của đề tài
dự án trên thực tế đang bị chậm lại
Nguyên nhân của những hạn chế trên có thể là:
- Không có phương pháp hay quy trình đánh giá các nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ
- Không có tiêu chí để đánh giá, chỉ dựa vào đánh giá định tính và thiên vị về định tính hơn định lượng
Thực trạng trên đòi hỏi phải có nghiên cứu các luận cứ khoa học, xây dựng các chuẩn mực quy trình đánh giá và đề xuất các giải pháp, tiêu chí đánh giá nhằm tìm ra điểm mạnh điểm yếu trong hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ của Viện Khoa học và Kỹ thuật hạt nhân, tư vấn cho các nhà quản lý cụ thể là lãnh đạo các cấp, Viện trưởng Viện KH&KTHN biết rõ
Trang 92 Tình hình nghiên cứu đề tài
Có một số tác giả từ góc độ quản lý, nghiên cứu viên đã đề cập đến lĩnh vực liên quan đến đánh giá NCKH&PTCN như:
+ Vũ Cao Đàm ( 2005): Đánh giá nghiên cứu khoa học, Nxb Khoa học
+ Phan Xuân Dũng (2006): Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về đánh giá nhiệm vụ khoa học và công nghệ ở Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia[11]
+ Trần Chí Đức (2002): Phương pháp luận đánh giá các tổ chức R&D, Báo cáo khoa học của đề tài, Viện nghiên cứu Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ, Bộ KHCN&MT nay được gọi là Bộ KH&CN[12]
Nhìn chung, các kết quả của các công trình nghiên cứu trên đều có những đóng góp quan trọng đối với việc đánh giá hiệu quả NCKH&PTCN
Tuy nhiên các nghiên cứu chuyên sâu liên quan đến đánh giá hiệu quả NCKH&PTCN vẫn chưa hoàn chỉnh, chưa được đề cập đầy đủ, rõ ràng, đặc biệt là chưa có nghiên cứu cụ thể nào trong việc đánh giá hiệu quả hoạt động
Trang 104
NCKH&PTCN cho một Viện nghiên cứu trong ngành Năng lượng nguyên tử tại Việt Nam Vậy tính mới của đề tài sẽ tập trung vào nghiên cứu đánh giá hiệu quả hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ tại Viện Khoa học và Kỹ thuật hạt nhân
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích:
Xây dựng phương pháp, tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ tại Viện Khoa học và Kỹ thuật hạt nhân
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về đánh giá hiệu quả hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ
- Xây dựng phương pháp, tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ cho tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ
- Đánh giá hiệu quả hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ tại Viện Khoa học và Kỹ thuật hạt nhân
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu tập trung vào các kết quả của hoạt động khoa học và công nghệ (chủ yếu là hoạt động NCKH&PTCN của Viện Khoa học và Kỹ thuật hạt nhân trong 5 năm gần đây)
- Phạm vi nghiên cứu: Tập trung vào phương pháp, tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động khoa học và phát triển công nghệ, nghiên cứu, khảo sát và xây dựng các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động của các đơn vị nghiên cứu khoa học thuộc Viện Khoa học và Kỹ thuật hạt nhân
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Một số phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu có thể được lựa chọn trong nghiên cứu của đề tài này gồm:
Trang 115
- Phương pháp phân tích tài liệu: phân tích và tổng kết các tài liệu liên quan đến nội dung của đề tài (cơ sở lý thuyết liên quan, các báo cáo tổng kết
đề tài, báo cáo tổng hợp về công tác đánh giá NCKH&PTCN
- Phương pháp quan sát: khảo sát, quan sát hiệu quả hoạt động NCKH&PTCN
- Phương pháp phỏng vấn: phỏng vấn một số chuyên gia về đánh giá hiệu quả hoạt động NCKH&PTCN
- Phương pháp thu thập số liệu bằng phiếu điều tra với các đối tượng cụ thể: các cán bộ khoa học, quản lý khoa học
6 Ý nghĩa luận văn
- Trên cơ sở phân tích logic và kết hợp vận dụng các kiến thức sẵn có
để làm rõ được phương pháp, tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động NCKH&PTCN, từ đó có những căn cứ lý thuyết quan trọng luận giải cho việc đánh giá hiệu quả NCKH&PTCN tại Viện KH&KTHN
- Làm rõ được bức tranh thực trạng hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ, đánh giá hiệu quả và xây dựng bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả cho Viện KH&KTHN từ đó làm tiền để các nghiên cứu tiếp tục được phát triển phục vụ cho ngành năng lượng nguyên tử Việt Nam
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu thành 3 chương như sau:
Chương 1 Cơ sở lý luận về đánh giá hiệu quả hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ
Chương 2 Xây dựng phương pháp đánh giá hiệu quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ
Chương 3 Đánh giá hiệu quả hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ tại Viện KH&KTHN
Trang 126
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN
CỨU KHOA HỌC VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ
Nhiều quốc gia ở các trình độ phát triển khác nhau trên thế giới từ mấy thập kỷ gần đây đã có những thay đổi tư duy, quan điểm và cách tiếp cận đánh giá hiệu quả hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ trong bối cảnh quốc tế hóa và toàn cầu hóa Vậy đánh giá hiệu quả hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ được hiểu như thế nào? và cách tiếp cận ra sao? hay dùng phương pháp gì đều cần phải tìm hiểu và làm rõ Việc thống nhất các khái niệm trong chương này là cần thiết để có cơ sở trao đổi những nội dung tiếp sau đó
1.1 Tổng quan về hoạt động NCKH&PTCN
Theo Luật Khoa học và Công nghệ đã định nghĩa một số khái niệm như sau [19]:
- Khoa học là hệ thống tri thức về bản chất, quy luật tồn tại và phát
triển của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy
- Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm theo hoặc
không kèm theo công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm [19]
Hoạt động Khoa học và Công nghệ là hoạt động nghiên cứu khoa học,
nghiên cứu và triển khai thực nghiệm, phát triển công nghệ, ứng dụng công nghệ, dịch vụ khoa học và công nghệ, phát huy sáng kiến và hoạt động sáng tạo khác nhằm phát triển khoa học và công nghệ
Theo UNESCO[14], hoạt động khoa học và công nghệ (scientific and technological activities) được định nghĩa là "các hoạt động có hệ thống liên quan chặt chẽ với việc sản xuất, nâng cao, truyền bá và ứng dụng các tri thức khoa học và kỹ thuật (scientific and technologies knowledge) trong mọi lĩnh
Trang 13kỹ thuật được tạo ra, truyền bá, thu thập, sửa đổi, cải biến, làm cho phù hợp với nhu cầu và được sử dụng Khía cạnh thứ hai liên quan tới các lĩnh vực được các hoạt động này bao quát
Hoạt động KH&CN theo nghĩa này bao gồm:
- Hoạt động dịch vụ nghiên cứu khoa học và công nghệ
- Hoạt động chuyển giao công nghệ
Theo hệ phân loại này của UNESCO[14], những hoạt động sau đây không được kể vào hoạt động KH&CN: giáo dục phổ thông và công tác đào tạo không chính quy trong công nghiệp (học việc, vừa học vừa làm, v.v.); các hoạt động thường nhật của các nhà xuất bản, các cơ quan phát thanh và truyền hình; các dịch vụ y tế; sản xuất công nghiệp và phân phối hàng hóa và dịch vụ (bao gồm cả sản xuất thử sau khi thử nghiệm thành công các vật mẫu – prototype) Họ cho rằng sản xuất các vật mẫu là thuộc chức năng của sản xuất
Trên đây là quan điểm của UNESCO[14] trình bày vào giữa những năm 1970 và đặt trong khuôn khổ quan niệm "hoạt động KH&CN" ở Châu
Âu Nhưng trên thực tế ở nhiều quốc gia và ngay cả ở nước ta, hoạt động sản xuất các prototype trong các xưởng pilot vẫn được xếp trong phạm trù của giai đoạn cuối cùng của nghiên cứu và triển khai
Cũng trong những năm 1970, UNESCO không xem hoạt động "Triển khai" có mặt trong các khoa học xã hội, nhưng các tài liệu về sau này, cộng đồng nghiên cứu đã công nhận, trong khoa học xã hội cũng có hoạt động
Trang 14- Nghiên cứu Khoa học là hoạt động khám phá, phát hiện, tìm hiểu bản
chất, quy luật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo giải phápnhằm ứng dụng vào thực tiễn
- Phát triển Công nghệ là hoạt động sử dụng kết quả nghiên cứu cơ
bản, nghiên cứu ứng dụng, thông qua việc triển khai thực nghiệm và sản xuất thử nghiệm để hoàn thiện công nghệ hiện có, tạo ra công nghệ mới
1.2 Tổng quan về Đánh giá hiệu quả hoạt động nghiên cứu khoa học và
Như vậy, một KQNC có thể đưa lại hiệu quả sau khi áp dụng, và sẽ không đưa lại hiệu quả gì nếu không đưa vào áp dụng
Tuy nhiên, người ta có thể tính trước được những hiệu quả dự kiến nếu như một KQNC được áp dụng trong tương lai Người ta gọi đó là hiệu quả tiềm năng
Phân loại hiệu quả
Tùy thuộc hiệu quả NCKH&PTCN được xem xét trên góc độ nào mà chúng ta có các loại hiệu quả NCKH&PTCN khác nhau:
- Hiệu quả tri thức là những đóng góp của KQNC làm tăng thêm những
hiểu biết mới của con người với tự nhiên và xã hội
Trang 159
- Hiệu quả đào tạo là những đóng góp của KQNC vào việc phát triển
nội dung và phương pháp đào tạo
- Hiệu quả công nghệ là những đóng góp của KQNC vào sự phát triển
những công nghệ mới
- Hiệu quả môi trường là những đóng góp của KQNC vào việc chống ô
nhiễm môi trường, làm sạch môi trường, phát triển một nền sản xuất không gây ô nhiễm môi trường
- Hiệu quả kinh tế là sự đóng góp của KQNC vào sự phát triển sản xuất,
phát triển kinh tế, đưa lại lợi nhuận cho nhà kinh doanh, biến đổi cơ cấu kinh
tế theo hướng tiến bộ xã hội
- Hiệu quả xã hội là sự đóng góp của KQNC vào những biến đổi xã hội
với một nghĩa rộng nhất; bao gồm sự nâng cao dân trí, phát triển văn hóa, tăng cường an ninh quốc phòng, v.v
- Tiêu chí đánh giá [20] là tiêu chí được thiết lập để đánh giá kết quả
đạt được so với mục tiêu đã đề ra trong định hướng và kế hoạch của tổ chức khoa học và công nghệ thông qua việc so sánh điểm mạnh và điểm yếu
1.2.2 Đánh giá hiệu quả
Khái niệm “Đánh giá hiệu quả”[14]
Đánh giá hiệu quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ là sự
so sánh lợi ích thu được trước và sau khi áp dụng KQNC
Phương pháp thông dụng nhất và cũng được xem là tiến bộ nhất hiện nay là sử dụng phương pháp đánh giá tương quan Cost/Benefit, thông qua việc xác định quan hệ Cost/Benefit Analysis
Tuy nhiên, trong khoa học không phải hiệu quả nào cũng có thể đánh giá bằng chỉ tiêu này mà chỉ có thể đánh giá định tính
Mục đích đánh giá hiệu quả
Đánh giá hiệu quả NCKH&PTCN là nhằm đưa ra những nhận dạng mức độ hiệu quả của mỗi phương án đầu tư vào nghiên cứu khoa học và phát
Trang 1610
triển công nghệ, xem đầu tư vào hướng nào thì đạt được hiệu quả như thế nào,
từ đó có thể so sánh hiệu quả của những phương án đầu tư khác nhau, để cuối cùng đưa ra được những quyết định chính sách đầu tư có hiệu quả nhất
Quan điểm đánh giá hiệu quả
Hiệu quả của NCKH&PTCN là một phạm trù phức tạp, thậm chí rất phức tạp, không dễ đặt một con số về đầu tư và NCKH&PTCN nói chung và mọi chi phí để dẫn đến KQNC lên bàn để tính toán hiệu quả
Lý do của những khó khăn này khá đa dạng, nhưng có thể nêu vài điểm như sau:
- Không phải mọi KQNC đều đưa đến hiệu quả kinh tế
Đây là một đặc điểm rất quan trọng của khoa học Như chúng ta đều biết, không phải mọi KQNC đều đưa đến hiệu quả kinh tế Ví dụ: những KQNC cơ bản đưa ra những lý thuyết có giá trị bước ngoặt cách mạng trong khoa học, kể cả trong khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, những nghiên cứu về văn hóa, về đạo đức, về xã hội, về chính trị, v.v
Ngược lại, trong hàng loạt trường hợp, những hiệu quả không thể tính thành tiền này lại có những ảnh hưởng gấp bội so với những hiệu quả có thể tính được bằng tiền Chẳng hạn: lý thuyết tương đối của Einstein, Tư bản của Marx, Lý thuyết tiến hóa của Darwine
- Không phải mọi hiệu quả kinh tế đều thấy được ngay
Ngay trong trường hợp các KQNC đưa đến hiệu quả kinh tế, thì cũng không phải mọi KQNC có thể cho ta hiệu quả kinh tế thấy được ngay mà còn
có một độ trễ nhất định
Tuy nhiên, một khó khăn nữa lại xuất hiện, đó là không dễ gì xác định
độ trễ Bởi vì trong thực tế tồn tại rất nhiều nguyên nhân dẫn đến độ trễ trong
áp dụng KQNC như là:
Mong muốn của nơi áp dụng Người ta có muốn áp dụng hay không?
Trang 1711
Ngay cả khi đã có ý định áp dụng, vẫn còn một loại yếu tố cần xem xét, chẳng hạn có đủ để đầu tư không? Có đủ những nguyên liệu cần thiết để sản xuất sản phẩm theo yêu cầu mới hay không? Có thị trường tiêu thụ hay không? Sản xuất có đưa lại hiệu quả kinh tế hay không?
Ngay cả khi đã thỏa mãn tất cả các yếu tố trên đây, vẫn còn tồn tại vấn
đề môi trường Sản xuất sản phẩm này có gây những tác hại tới môi trường hay không?
Khi điều kiện môi trường thỏa mãn, thì vẫn còn cần xem xét hàng loạt thiết chế xã hội có cho phép áp dụng hay không? Ví dụ: đưa ra một phương pháp phòng chống sự cố an toàn bức xạ trong khu dân cư trong khi dân ở đó không hiểu rõ về sự cố bức xạ mà có hành vi gây cản trở nhân viên an toàn
Ngay cả khi các thiết chế xã hội thuận lợi, vẫn còn yếu tố năng lực của
hạ tầng công nghiệp Hạ tầng công nghiệp có đủ năng lực sản xuất những sản phẩm theo những yêu cầu mới hay không?
1.2.3 Các hướng tiếp cận đánh giá hiệu quả
Tiếp cận thông tin[14]
Theo cách tiếp cận thông tin, chúng ta có thể đánh giá hiệu quả NCKH&PTCN của một chương trình, của một đề tài, của một đơn vị tổ chức nghiên cứu khoa học và triển khai kỹ thuật, và của cơ quan khoa học bởi
“Hiệu quả thông tin” Hiệu quả thông tin là kết quả đóng góp vào sự tăng lượng thông tin trong lĩnh vực nghiên cứu được xem xét Như chúng ta thấy, hiệu quả này chỉ có thể đánh giá định tính
Tiếp cận công nghệ
Theo cách tiếp cận công nghệ, chúng ta có thể đánh giá hiệu quả NCKH&PTCN của một chương trình, của một đề tài, của một tổ chức nghiên cứu khoa học và triển khai kỹ thuật, và của cơ quan khoa học bởi “Hiệu quả công nghệ” Hiệu quả công nghệ là kết quả đóng góp vào sự xuất hiện một
Trang 18tố cùng tham gia và cùng có ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế
Tiếp cận môi trường
Theo cách tiếp cận môi trường, chúng ta có thể đánh giá hiệu quả NCKH&PTCN của một chương trình, của một đề tài, của một tổ chức nghiên cứu khoa học và triển khai kỹ thuật, và của cơ quan khoa học bởi “Hiệu quả môi trường” Hiệu quả môi trường là xét đến tác động của KQNC vào điều kiện môi trường sau khi áp dụng KQNC Hiệu quả này trong hàng loạt trường hợp chúng ta có thể đánh giá cả bằng định tính, cả bằng định lượng
Tuy nhiên, khi đánh giá “Hiệu quả môi trường” chúng ta đụng chạm tới rất nhiều quan điểm đánh giá khác nhau thuộc các cách tiếp cận nghiên cứu khác nhau về bản thân môi trường: tiếp cận dịch tễ học môi trường, tiếp cận độc học môi trường, tiếp cận công nghệ học môi trường, tiếp cận sinh thái học môi trường và tiếp cận xã hội học môi trường
Tiếp cận xã hội
Theo cách tiếp cận xã hội, chúng ta có thể đánh giá hiệu quả NCKH&PTCN của một chương trình, của một đề tài, của một tổ chức nghiên cứu khoa học và triển khai kỹ thuật, và của cơ quan khoa học bởi “Hiệu quả
xã hội” Hiệu quả xã hội là xét đến tác động của KQNC vào những biến đổi
xã hội, tốt lên hoặc xấu đi sau khi áp dụng KQNC Hiệu quả xã hội bao quát
Trang 1913
một giải rất rộng, có thể là văn hóa, lối sống, an ninh, quốc phòng, v.v Hiệu quả này trong một số trường hợp chúng ta có thể đánh giá cả bằng định tính,
cả bằng định lượng nhưng chủ yếu và trước hết là đánh giá định tính
Mỗi cách tiếp cận có những chuẩn mực riêng để đánh giá Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên, hiện nay trên thế giới chưa có những phương pháp định lượng thỏa mãn yêu cầu đánh giá hiệu quả Việc đánh giá chủ yếu vẫn dựa trên các chuẩn mực định tính
Việc đánh giá hiệu quả hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ của tổ chức được thực hiện trên cơ sở kết hợp hai phương pháp: Đánh giá định tính và đánh giá định lượng Trong đó:
Đánh giá định tính là phương pháp tiếp cận nhằm mô tả và phân tích
đặc điểm của đối tượng, phân tích những điểm mạnh, điểm yếu và đề xuất những kiến nghị để cải thiện hoạt động của tổ chức Chuyên gia đánh giá đưa
ra những nhận định đánh giá định tính theo từng tiêu chí đánh giá để hỗ trợ đánh giá định lượng
Đánh giá định lượng là phương pháp chấm điểm đánh giá trên cơ sở
xác định trọng số, mức đánh giá và tổng hợp điểm đánh giá theo mỗi tiêu chí, nhóm tiêu chí đánh giá Việc xác định trọng số phù hợp cho mỗi nhóm tiêu chí và cho từng tiêu chí đánh giá trong mỗi nhóm phải căn cứ vào đặc trưng hoạt động chủ yếu của tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ được đánh giá
1.3 Kinh nghiệm quốc tế
Trong phần này tác giả đưa ra một số kinh nghiệm đánh giá hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ của một số nước phát triển
1.3.1 Kinh nghiệm của Úc
Các loại hình đánh giá hiệu quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ thông qua các dự án nghiên cứu ở Úc
Trang 2014
Năm 2003, Hội đồng nghiên cứu của Úc đã công bố kết quả nghiên cứu
về tác động của các nghiên cứu được tài trợ công, trong đó họ đã xem xét lại các tài liệu và kiểm tra nhiều đối tượng cụ thể nhằm mục đích xác định những tác động tích cực của các nghiên cứu đó Các tác động cơ bản được xác định bao gồm:
+) Đối với các dự án nghiên cứu cơ bản, theo quan điểm của Úc, mục tiêu của nghiên cứu cơ bản không phải là trực tiếp tạo ra các sản phẩm thương mại mà là cung cấp những hỗ trợ cần thiết cho các nghiên cứu khác mang tính ứng dụng hơn Ngoài vai trò phổ biến đó, nghiên cứu cơ bản còn có vai trò quan trọng chính giúp cho việc cải tiến thành công Như vậy, tác động của các
dự án nghiên cứu cơ bản bao gồm:
- Đào tạo những nhà nghiên cứu, họ sẽ làm việc trong các ngành công nghiệp hoặc làm việc cho Chính phủ và tác động của việc đào tạo các nhà nghiên cứu có thể được thể hiện dựa trên những tác động của họ tới năng suất lao động,…
- Tạo ra một “kho dữ liệu tri thức”, nhờ đó phát triển hiệu quả của các hoạt động nghiên cứu công nghệ;
- Cho phép gia nhập thành viên của những mạng lưới nghiên cứu và phát triển, đạt được sự tiếp cận tới một hệ tri thức từ khắp mọi miền;
- Phát triển kỹ thuật nghiên cứu mới và công cụ mới (nâng cao những
kỹ năng cơ bản);
+) Đối với các dự án nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ, tác động từ các dự án có thể được bao gồm cả các tác động giống như của nghiên cứu cơ bản và kèm thêm các tác động sau:
- Các đóng góp cho sự tăng trưởng kinh tế (sự hình thành sản phẩm trí tuệ có khả năng thương mại);
- Đóng góp cho sự phát triển xã hội (lợi ích mang lại từ việc hình thành những chính sách tốt hơn; sức khỏe; văn hóa; …);
Trang 2115
- Đóng góp cho việc bảo vệ môi trường, hệ sinh thái
Đánh giá hiệu quả các dự án nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ vào thực tế
Hiệu quả kinh tế
Ở Úc, giá trị kinh tế của việc cải thiện sức khỏe đang thu hút nhiều sự quan tâm Ảnh hưởng kinh tế của việc cải thiện sức khỏe con người vẫn đang được nghiên cứu thông qua việc xem xét các khía cạnh sau:
- Tiền tiết kiệm trực tiếp trong hệ thống chăm sóc sức khỏe, bao gồm giảm chi phí khám chữa bệnh tại bệnh viện, hạn chế phẫu thuật, giảm sự phụ thuộc vào chăm sóc y tế tại nhà;
- Tiết kiệm gián tiếp dựa vào tăng cường sức khỏe dân số, bao gồm tăng năng suất lao động, giảm số lượng ngày ốm đau và gia tăng tỉ lệ người có việc làm
Tương tự, một loạt chương trình đã được thực hiện ở Úc nhằm xác định
và đánh giá tác động của nghiên cứu tạo ra từ những kênh lợi ích về kinh tế có thể đánh giá được Cụ thể, những chương trình này cố gắng tạo ra mối liên hệ giữa các nghiên cứu được thực hiện với những kết quả hoặc quy trình mới hay vừa được cải tiến trong công nghiệp Chi phí cho nghiên cứu khi đó được
so sánh với giá trị của các kết quả, quy trình mới vừa được cải tiến trong công nghiệp Có lẽ những ví dụ điển hình nhất về chi phí – lợi ích được đề cập tại lĩnh vực nghiên cứu về nông nghiệp Tại Úc, Liên doanh phát triển nông thôn
đã có một quá trình dài nghiên cứu về đề tài này Năm 2001 CSIRO đã công
bố một nghiên cứu về mối liên hệ giữa những lợi ích kinh tế với số lượng những dự án nghiên cứu
Hiệu quả phi kinh tế
Giá trị cuộc sống và chất lượng cuộc sống chính là mục đích sự tính toán Cách tiếp cận này đã đưa đến nỗ lực nhằm chuyển hoá giá trị phi tiền bạc (tinh thần) sang những giá trị bằng tiền (vật chất) Sử dụng một phương
Trang 2216
pháp tương tự đã được áp dụng trong nghiên cứu của Mỹ, nghiên cứu được uỷ nhiệm bởi Hiệp hội nghiên cứu y học của Úc đã chỉ ra những tác động rất lớn của sự đầu tư vào nghiên cứu và phát triển sức khoẻ Đó là:
- Đầu tư vào nghiên cứu và phát triển thuộc lĩnh vực sức khoẻ chỉ ra rằng để chất lượng cuộc sống tăng lên gấp rưỡi trong vòng 40 năm, với tuổi thọ được kéo dài 8 năm kể từ năm 1960 cùng với việc nâng cao sức khoẻ thì người Úc đã chi mất 5,4 nghìn tỷ $Úc
- Những thành quả trong xử lý các bệnh về tim mạch có giá trị 1,7 nghìn tỷ $Úc;
- Nghiên cứu và phát triển về sức khoẻ đã làm giảm 20% số người chết
vì ung thư, có giá trị 184 tỷ $Úc
Tiêu chí đánh giá hiệu quả
Tác giả của những chương trình đánh giá tác động các dự án nghiên cứu và triển khai ở Úc đã xác định những chỉ số tác động lên vật chất, con người, môi trường và xã hội đối với các dự án thuộc các lĩnh vực cụ thể Ví
dụ, những chỉ số về công bố, phổ biến trong khoa học thể chất và sinh học có thể liên quan đến các tác động như:
- Số lượng những bài báo đã xuất bản được trích dẫn cao;
- Sốlượng những bài báo được đăng ở những tạp chí có chất lượng cao;
- Số lượng những bằng phát minh được trích dẫn cao;
- Tỷ lệ thành công để đảm bảo việc tài trợ cho nghiên cứu được phân
bổ một cách cạnh tranh;
- Lời mời tham gia hoạt động tại các Ban Tư vấn Chính phủ;
- Giá trị của sự đóng góp vào quỹ nghiên cứu từ khu vựccông nghiệp;
- Giá trị của những hợp đồng tài trợ cho nghiên cứu từ khu vực công nghiệp
Trong khoa học xã hội và nhân văn, những chỉ số chỉ chất lượng có thể liên quan đến các tác động như:
Trang 2317
- Số lượng những cuốn sách được xuất bản tại nhà xuất bản lớn;
- Số lượng những bài báo xuất bản được trích dẫn cao;
- Số lượng bài báo được đăng trên những tạp chí chất lượng cao;
- Tỷ lệ thành công để đảm bảo việc tài trợ cho nghiên cứu được phân
bổ một cách cạnh tranh;
- Lời mời tham gia hoạt động ở các Ban Tư vấn Chính phủ;
- Giá trị những hợp đồng nghiên cứu từ khu vực công nghiệp và Chính phủ;
- Số lần trích dẫn của những bài báo được đăng trên những tạp chí chất lượng cao
Trong khoa học thể chất và sinh học, những chỉ số chỉ sự phổ biến có thể liên quan đến những tác động sau:
- Các bài trình bày tại hội thảo được tài trợ từ khu vực công nghiệp;
- Các bài trình bày tại hội thảo được tài trợ từ trường đại học;
- Các bài trình bày tại những tầng lớp xã hội uyên bác;
- Việc cung cấp những bản tin nghiên cứu cho các chủ thể (đối tượng) thuộc khu vực công nghiệp;
- Những hội thảo có sự tham gia của những người sử dụng có tiềm năng đến từ khu vực công nghiệp;
- Kết quả từ những cuộc điều tra của những nhà quản lý nghiên cứu từ Chính phủ và khu vực công nghiệp, cũng như những người quan tâm kiểu các nhà nghiên cứu học thuật “tác động cao”;
- Số lượng sinh viên tham gia nghiên cứu và sau đó làm việc tại các doanh nghiệp
Trong khoa học xã hội và nhân văn, những chỉ số chỉ sự phổ biến có thể liên quan đến những tác động, bao gồm:
- Các bài trình bày tại những tầng lớp xã hội có tri thức;
- Các bài trình bày tại những hội nghị học thuật;
Trang 2418
- Các bản đệ trình theo yêu cầu của Chính phủ;
- Các trích dẫn của nghiên cứu trong các bài báo về chính sách của chính phủ;
- Những bài báo được đăng trên các báo nổi tiếng;
- Nghiên cứu được trích dẫn trong các bài báo đăng trên báo nối tiếng;
- Kết quả từ những cuộc điều tra của người đứng đầu bộ phận chính sách trong các cơ quan Chính phủ, cũng như những người quan tâm kiểu các nhà nghiên cứu học thuật “tác động cao”;
- Số lượng những sinh viên làm nghiên cứu, sau đó tiếp tục làm việc cho những cơ quan Chính phủ, các Bộ và khu vực công nghiệp
1.3.2 Kinh nghiệm của Pháp
Tổng quan về hoạt động đánh giá hoạt động nghiên cứu khoa học
và xác định một đề xuất có thực sự tốt của một chương trình mới trước khi
nó được đưa vào triển khai Nhiệm vụ của hoạt động đánh giá này là xác định sự đầy đủ của các mục tiêu thông qua các báo cáo được yêu cầu, các vấn đề cần giải quyết (sự phù hợp) Đối với Cộng đồng Châu Âu và nhiều quốc gia Châu Âu thì việc đánh giá đầu vào là bắt buộc trước khi một Chương trình/dự án mới được đưa ra
- Đánh giá giữa kỳ có thể được thực hiện để xác định, ở giữa vòng đời của chương trình/dự án, nếu có yêu cầu được đặt ra, nếu việc quản lý chương trình/dự án tiến hành như đã dự kiến hoặc cần thiết có sự thay đổi, và để phân tích có thể có những tác động đầu tiên của Chương trình/dự án Một ví
Trang 2519
dụ cho việc đánh giá giữa kỳ đã được thực hiện vào năm 1999 cho Chương trình liên bộ về nghiên cứu, phát triển và đổi mới trong lĩnh vực giao thông đường bộ tại Pháp Đánh giá đã cho phép có rất nhiều điều chỉnh cho chương trình này như sự hợp tác tốt hơn giữa các nhóm thực hiện trước các sự phân nhóm và phân vùng trách nhiệm
- Đánh giá kết thúc chương trình/dự án hoặc đánh giá hậu chương trình/dự án, hai dạng đánh giá khác nhau, thiên về lĩnh vực quản lý được thực hiện với mục đích về chính sách, tính toán những đóng góp của chương trình/dự án mang lại
Kinh nghiệm của Pháp trong việc xây dựng phương pháp luận đánh giá hiệu quả hoạt động NCKH&PTCN
Đặc thù nghiên cứu dựa vào chính sách công của Pháp Cách tiếp cận theo hướng này được đề xuất bởi Cơ quan giám sát khoa học và công nghệ Pháp (OST) Trong tổ chức này, một nhóm công tác nghiên cứu hai mục liên quan đến vấn đề đặt ra là:
- Nghiên cứu và phát triển các phương pháp đối với cơ quan giám sát các chính sách công
- Các dự án nghiên cứu đã chính thức kết thúc
Các nghiên cứu và phát triển các phương pháp cho cơ quan giám sát các chính sách công đề cập đến những nghiên cứu tác động thực tiễn lên người sử dụng, những nghiên cứu tác động lên các quyết định của những cơ quan quyền lực công, những nghiên cứu đánh giá sự thỏa mãn của người sử dụng đối với các chính sách công
Đánh giá tác động/hiệu quả các dự án nghiên cứu đã chính thức kết thúc gồm các công trình nghiên cứu được dành cho các mục đích cụ thể trong các lĩnh vực trực tiếp liên quan đến quyền lực công, như giao thông, y tế hay môi trường v.v Những dự án nghiên cứu này có thể được trợ cấp vốn hoặc không Những dự án này có thể là kết quả của một công trình dự báo của tổ
Trang 26Cơ quan giám sát khoa học và công nghệ Pháp (OST) tiến hành đánh giá dựa trên khung đánh giá được xác định như sau:
Xác định mục tiêu đánh giá hiệu quả/tác động chương trình nghiên cứu:
- Đánh giá xem kết quả chương trình có đóng góp vào chính sách phát triển bền vững không và theo cách nào
- Đánh giá trên những mục tiêu tổng quát nào (tương ứng với tác động tổng quát được nghiên cứu), mục tiêu chuyên biệt cụ thể nào (tương ứng với các kết quả dự tính trước) và hành động nào (tương ứng các thành tựu)?
- Những tác động công khác cũng đã được tính đến trong những đánh giá trước đó của chương trình?
- Những chỉ số nào được dự kiến để đo các nguồn lực, các thành tựu, các kết quả và tác động?
Đánh giá những tác động tích cực và tiêu cực của Chương trình đối với mỗi lựa chọn được chú ý đến:
- Đâu là những tác động mà người ta mong đợi đối với mỗi lựa chọn ?
- Có tồn tại những xung đột dự kiến nào giữa các lựa chọn/giữa các tác động không?
- Có tồn tại những tác động đặc biệt mạnh mẽ (tích cực hay tiêu cực) của chương trình đối với dân số, nhóm mục tiêu, lĩnh vực… này hay khác không?
- Có tồn tại những tác động bên ngoài nước Pháp hay không ?
Trang 2721
- Những tác động sẽ được thể hiện theo thời gian như thế nào ?
- Những phân tích nào trước đó đã được thực hiện để hiểu rõ hơn các tác động và đạt được những kết quả nào?
1.3.3 Kinh nghiệm của Anh
Đánh giá hiệu quả hoạt động NCKH&PTCN tại Anh
Cũng như chính phủ của các quốc gia khác, Chính phủ Anh cũng phải đối mặt với áp lực trong việc cung cấp đầy đủ cho người dân về kết quả của các chương trình KH&CN Để cung cấp thông tin tốt hơn, Chính phủ Anh đã thực hiện các công tác đánh giá KH&CN Một số cơ quan chủ chốt của Anh như Quốc hội, Ủy ban tài chính của chính phủ, Tổng Kiểm toán và các bộ, ban ngành liên quan đến KH&CN đều có quan điểm riêng về đánh giá hiệu quả KH&CN Điều này đòi hỏi Anh phải có một hệ thống các chính sách về đánh giá hiệu quả KH&CN hoàn thiện để làm khung cho các tổ chức trên thực hiện theo
Hiện nay, ở Anh, cơ quan hàng đầu phụ trách về đánh giá KH&CN là Cục đổi mới và các kỹ năng trong kinh doanh (Department for Business Innovation and Skills (BIS)) Đây là một cơ quan ngang bộ được thành lập vào ngày 5 tháng 6 năm 2009 dựa trên sự hợp nhất giữa Bộ Đổi mới, Kỹ năng
và Đại học (Department for Innovation, Universities and Skills (DIUS)) và Cục kinh doanh, Doanh nghiệp và Cải cách quy định (Department for Business, Enterprise and Regulatory Reform (BERR))
Cục BIS vẫn tiến hành đánh giá các chương trình KH&CN theo những khung đã được xây dựng trước đó như:
Mục đích của việc đánh giá chương trình:
- Tư vấn cho Chính phủ về các vấn đề mà chính phủ khởi xướng (đã thành công): cải thiện, đi tiếp hay lựa chọn một phương hướng mới hiệu quả hơn Để làm được điều này thì cần dùng các phương pháp nghiên cứu có đầy
Trang 28- Chương trình thích hợp: chương trình đang tiến hành phù hợp với các
ưu tiên của các tổ chức và Chính phủ, đáp ứng hợp lý các nhu cầu hiện tại
- Chương trình thành công: đáp ứng được các mục đích đề ra và đang tiến hành sản xuất các sản phẩm dự kiến
- Chi phí – hiệu quả: đánh giá chi phí bỏ ra thực hiện chương trình và hiệu quả thu được, so sánh giữa các chương trình để lựa chọn chương trình có thiết kế hiệu quả nhất và phải có phương án để thay thế
Ngoài ra, Cục đã phát triển và hoàn thiện quy trình đánh giá tác động của chương trình NCKH&PTCN chung như sau:
Chuẩn bị đánh giá
- Xác định rõ các yêu cầu chung của đánh giá:
+ Xác định phạm vi và đối tượng của đánh giá
+ Mục đích của đánh giá
+ Thời hạn tiến hành công tác đánh giá
+ Ai là người sử dụng báo cáo đánh giá
+ Yêu cầu về bảo mật thông tin và tài liệu liên quan
- Mô tả sơ bộ chương trình
Để mô tả tổng quát về chương trình cần tiến hành thu thập tư liệu và thông tin về tổ chức từ các nguồn khác nhau (cơ quan quản lý cấp trên, từ bản thân tổ chức, từ các đối tác ) từ các tài liệu thu thập được, lựa chọn các thông tin cơ bản nhất để mô tả Việc mô tả tổ chức chi tiết giúp cho khâu thiết
kế đánh giá dễ dàng hơn
Trang 2923
Thiết kế đánh giá
Cơ quan chủ trì đánh giá khi tiếp nhận thực hiện đánh giá phải thành lập tổ đánh giá Tổ đánh giá có nhiệm vụ xây dựng khung đánh giá chi tiết cho từng tổ chức cụ thể phù hợp với mục đích đánh giá
Mọi hoạt động như thu thập thông tin đánh giá, phân tích vấn đề đánh giá và soạn thảo báo cáo đánh giá đều phải dựa vào khung đánh giá này
Thu thập thông tin
- Chỉnh lý phương án thu thập thông tin, dữ liệu
- Thu thập thông tin dữ liệu đánh giá
- Chỉnh lý và kiểm nghiệm thông tin dữ liệu
- Tiến hành điều tra bổ sung khi cần thiết
Phân tích và đánh giá
- Tổng hợp thông tin theo tiêu chí đánh giá
- Xây dựng bảng biểu trung gian phục vụ đánh giá
- Họp tổ chuyên gia đánh giá: phân tích, nhận định vấn đề
- Xây dựng những kết luận đánh giá sơ bộ, chính thức
- Hội thảo các bên liên quan để tạo sự đồng thuận
Soạn thảo và bàn giao báo cáo đánh giá
Báo cáo đánh giá bao gồm các nội dung sau:
- Tên cơ quan đánh giá, tổ chuyên gia đánh giá;
- Tên bên uỷ thác;
- Mục đích, đối tượng và nội dung đánh giá;
- Nguyên tắc, phương pháp và tiêu chí đánh giá;
- Trình tự đánh giá;
- Kết quả phân tích, đánh giá được trình bày theo từng tiêu chí đánh giá
- Thoả thuận hợp đồng hoặc vấn đề thuyết minh cần thiết khác
Trang 3024
Sau khi xây dựng được một quy trình đánh giá tác động của chương trình KH&CN chung thì Cục BIS đã thực hiện đánh giá tác động một loạt các chương trình KH&CN lớn ở Anh Ví dụ như là đánh giá chương trình phát triển vùng do Cục phát triển vùng (RDA) thực hiện, hay đánh giá chương trình hỗ trợ các doanh nghiệp trong phát triển công nghệ Qua đánh giá tác động của BIS với các chương trình trên thì có thể thấy, các phương pháp đánh giá chủ yếu được BIS sử dụng là:
Các phương pháp đánh giá:
Phương pháp điều tra, thu thập thông tin
Phương thức điều tra nên dùng là phối hợp cả phỏng vấn bằng phiếu hỏi và phỏng vấn trực tiếp để có thông tin sâu, thông tin kiểm chứng Cách thức này cho phép thu thập thông tin từ nhiều đối tượng - nhà nghiên cứu và những người làm công tác quản lý của tổ chức nghiên cứu Người điều tra có thể giải thích thêm cho người trả lời về mục tiêu của cuộc điều tra, về bản chất của số liệu yêu cầu và thuyết phục họ cung cấp những thông tin hữu ích
Và như vậy là làm tăng tỷ lệ trả lời và tránh bị mất thông tin
Khi thực hiện phỏng vấn (trực tiếp), người điều tra phải kết hợp cả hai cách: phỏng vấn cấu trúc và phỏng vấn phi cấu trúc như một dạng bán cấu trúc Phỏng vấn cấu trúc là người phỏng vấn sử dụng mẫu phiếu điều tra đã lập sẵn để người được phỏng vấn khai thông tin và có thể người phỏng vấn ghi lại thông tin thu thập được Phỏng vấn phi cấu trúc (mở) tức là người phỏng vấn nói chuyện với người trả lời theo nội dung trọng tâm, cách trao đổi thông tin ở đây linh hoạt hơn cách sử dụng phiếu điều tra Cách phỏng vấn này thường được sử dụng để trao đổi thông tin hay để tham khảo ý kiến của một nhóm người nhất định thông qua điều tra nhóm Phỏng vấn mở chủ yếu thu được các thông tin định tính Các bảng câu hỏi kết hợp giữa câu hỏi mở
và câu hỏi đóng Dạng phỏng vấn này thường đem lại hiệu quả cao trong
Trang 3125
những điều tra chuyên sâu vì vừa dễ xử lý dữ liệu lại vẫn thu được những ý kiến xác đáng
Phương pháp đánh giá bằng chuyên gia cùng ngành
Đánh giá chuyên gia cùng ngành được hiểu là một phương pháp đánh giá mà trong đó các chuyên gia nêu ý kiến và khuyến nghị mang tính định tính về những chủ đề cần phải đánh giá dựa trên các tiêu chí khách quan Về thực chất, đây là quá trình lấy ý kiến chuyên gia để xác định chất lượng và hiệu quả nghiên cứu ra sao Một Viện nghiên cứu được xem xét cẩn thận bởi các chuyên gia độc lập để đưa ra những khuyến nghị mang tính quyết định về hiệu quả tổ chức, hoạt động Đánh giá bằng chuyên gia cùng ngành là một quá trình cung cấp tri thức (về mặt khoa học) và mang tính chủ quan dựa trên kinh nghiệm tích lũy nhiều năm và trình độ chuyên sâu của các chuyên gia trong ngành
Đánh giá bằng chuyên gia cùng ngành có thể được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau như: đánh giá bằng hội đồng chuyên gia hay họp tổ tư vấn chuyên gia, đánh giá qua thư
Đánh giá hội đồng chuyên gia/tư vấn chuyên gia: một nhóm các chuyên gia được lựa chọn để lập thành một hội đồng chuyên gia/tổ tư vấn Hội đồng/tổ tư vấn sẽ họp, thảo luận và nhất trí đưa ra những kết luận đánh giá
Đánh giá qua thư: với hình thức này, không cần thành lập hội đồng chuyên gia cũng như tổ tư vấn chuyên gia, thông tin cần đánh giá được gửi cho các chuyên gia và sau đó, ý kiến phản hồi của chuyên gia được gửi trả thông qua trao đổi thư từ
Trong một số trường hợp, khi đánh giá một Viện nghiên cứu, người ta
có thể sử dụng cả hai hình thức trên: một số chuyên gia sẽ kết hợp làm việc trong một Hội đồng đánh giá, một số chuyên gia độc lập sẽ đánh giá qua thư
Phương pháp mô tả
Trang 3226
Đây là phương pháp dùng để hỗ trợ cho các phương pháp trên trong việc đánh giá các viện nghiên cứu Phương pháp mô tả là miêu tả dữ liệu và các đặc điểm của đối tượng và trả lời các câu hỏi: ai, cái gì, ở đâu, khi nào và như thế nào Mặc dù dữ liệu mô tả là thực tế, chính xác và có hệ thống, nhưng phương pháp mô tả không thể thể hiện nguyên nhân của tình huống là gì Vì vậy, phương pháp mô tả không thể sử dụng để tạo ra mối quan hệ nhân - quả,
ở đó một biến có ảnh hưởng, tác động đến các biến khác Và cũng chính vì lý
do này mà trong đánh giá, phương pháp mô tả dùng để hỗ trợ các phương pháp khác, nhất là hỗ trợ về mặt kỹ thuật cho việc điều tra, khảo sát, phỏng vấn và phân tích theo cơ cấu Ví dụ, đối với việc phân tích theo cơ cấu, phương pháp mô tả trợ giúp đặc lực cho việc đo lường công việc dựa vào hoạt động thực tế, nó cho thấy rõ các sản phẩm phản ánh quy trình của các hoạt động và sự phát triển theo thời gian
Hầu hết các nghiên cứu đều bao hàm các câu hỏi tìm hiểu nguyên nhân, không dễ dàng tách bạch các biến số giải thích nguyên nhân, do đó, phương pháp mô tả thể hiện vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin từ các phối cảnh khác nhau Bằng cách hội tụ các mô tả theo cách "là gì" và so sánh với "chúng ta muốn gì", chúng ta có thể nhận ra các thông tin cần thiết
Với vai trò ngày càng được đánh giá cao trong công tác đánh giá KH&CN, Cục BIS đã góp phần quan trọng trong việc đưa đánh giá hiệu quả KH&CN ở Anh đã trở thành một công cụ quản lý nói chung được các tổ chức, ban ngành Chính phủ chấp nhận và sử dụng Đánh giá không chỉ giúp chứng tỏ giá trị của các quyết định trong quá khứ mà còn hỗ trợ trong việc ra quyết định và chiến lược cho tương lai ở Anh
1.3.4 Kinh nghiệm của một số nước khác
Canada
Ở Canada, đánh giá hiệu quả hoạt động NCKH&PTCN giữ vai trò hết sức quan trọng trong toàn bộ hệ thống đánh giá Hệ thống đánh giá của
Trang 3327
Canada đã được Chính phủ Canada triển khai trong gần 20 năm qua, trong đó
Ủy ban ngân sách là cơ quan thiết lập chính sách của Liên bang về đánh giá chương trình cũng như hiệu quả/tác động của các chương trình này Ở Canada, mô hình đánh giá của Liên bang là mô hình phi tập trung Mỗi tổ chức tự chịu trách nhiệm đánh giá chương trình của mình theo chính sách của
Ủy ban ngân sách, độc lập với bộ phận quản lý và kết quả đánh giá phải được chia sẻ với các cơ quan bên ngoài có quan tâm Chính sách đánh giá hiệu quả/tác động Chương trình của Canada tập trung vào giải quyết ba vấn đề cơ bản bao gồm:
- Sự phù hợp của chương trình, dự án khoa học công nghệ;
- Sự thành công của chương trình, dự án khoa học công nghệ (liệu các kết quả của chương trình, dự án có đáp ứng được mục tiêu và đạt được kết quả như mong đợi không?;
- Đánh giá hiệu quả - chi phí: Với nhưng chi phí đã bỏ ra thì mang lại hiệu quả nhất không?
Tại Canada, phương pháp đánh giá chuyên gia cùng ngành (peer review) là phương pháp được sử dụng phổ biến Ngoài ra, còn có các phương pháp đánh giá bổ sung, ví dụ khảo sát về tiềm năng khách hàng, thị trường… với những nghiên cứu tình huống và phân tích chi phí – lợi ích
Hàn Quốc
Từ năm 1997, Chính phủ Hàn Quốc đã ban hành “Luật về cải cách KH&CN”, theo đó bắt đầu tiến hành công tác điều tra, phân tích và đánh giá các chương trình, dự án R&D theo tinh thần của Bộ luật này Năm 1998, Viện đánh giá và lập kế hoạch khoa học công nghệ Hàn Quốc (KISTEP) được thành lập, Viện này có chức năng lập kế hoạch và tổ chức điều tra, phân tích đánh giá các chương trình R&D
Trang 3428
Một điểm khác biệt ở Hàn Quốc là các chương trình KH&CN của Hàn Quốc được phân loại theo đặc tính kinh tế xã hội chứ không phân theo chuyên ngành công nghệ
Tại Hàn Quốc, Viện tập trung đánh giá vào các chương trình R&D đáp ứng các điều kiện sau:
- Kinh phí chương trình trên 10 triệu USD$;
- Chương trình có tầm quan trọng đặc biệt với chiến lược phát triển KH&CN quốc gia
Công tác đánh giá hiệu quả hoạt động NCKH&PTCN ở Hàn Quốc được chia làm 3 giai đoạn chính:
- Giai đoạn chuẩn bị;
- Giai đoạn thực hiện đánh giá;
- Giai đoạn điều chỉnh và tổng hợp kết quả đánh giá
Viện đánh giá và lập kế hoạch khoa học công nghệ Hàn Quốc (KISTEP) sẽ tổng hợp các kết quả đánh giá khác như đánh giá Viện nghiên cứu, đánh giá chương trình phát triển vùng, đánh giá các chương trình quốc phòng cùng với kết quả đánh giá các chương trình R&D thành một báo cáo tổng hợp kết quả đánh giá của năm để Hội đồng đánh giá tổng hợp thông qua
và trình lên Hội đồng Khoa học công nghệ Quốc gia (tại Hàn Quốc, Hội đồng Khoa học công nghệ quốc gia giữ vai trò quan trọng trong giám sát điều hành các hoạt động liên quan đến đánh giá và điều chỉnh trước đối với các chương trình R&D quốc gia có nguồn vốn từ ngân sách nhà nước)
Trung Quốc
Từ năm 1994, Bộ KH&CN Trung Quốc đã thành lập Trung tâm đánh giá khoa học và công nghệ quốc gia (NCSTE) Trung tâm đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nội dung và đánh giá khách quan nhằm giúp các cơ quan nhà nước, các công ty và các tổ chức đầu tư có thể ra quyết định liên quan đến việc phát triển khoa học và công nghệ Một trong các nhiệm vụ chính của Trung tâm này là đánh giá các đề tài, các chương trình khoa học công nghệ do Chính phủ tài trợ Năm 2001, Trung tâm đánh giá khoa học và
Trang 35- Đối thoại bình đẳng giữa các bên tham gia, không phân biệt địa vị, chức danh;
- Thảo luận những vấn đề đã được chuẩn bị trước;
- Khuyến khích mọi người trao đổi với các quan điểm khác nhau;
- Thảo luận kết quả, cả đồng thuận hoặc khác biệt
Qua tìm hiểu và nghiên cứu các phương thức mà các nước có hoạt động NCKH&PTCN phát triển áp dụng để đánh giá hiệu quả của hoạt động NCKH&PTCN tại quốc gia của họ, sẽ cho chúng ta những bài học và kinh nghiệm của những người đi trước trong việc ứng dụng , xây dựng cơ sở cho việc đánh giá hiệu quả hoạt động NCKH&PTCN của Việt Nam
1.4 Bài học kinh nghiệm
Từ những kinh nghiệm đánh giá của các nước phát triển trên thế giới, tác giả đã học được những bài học quan trọng sau đây để rút kinh nghiệm cho việc thực hiện các nhiệm vụ đánh giá hiệu quả NCKH&PTCN:
Bài học thứ nhất: Đánh giá hiệu quả là một phương pháp hữu ích hỗ
trợ công tác quản lý hoạt động NCKH&PTCN ở Việt Nam
Trang 36Ngoài ra, đánh giá hiệu quả hoạt động NCKH&PTCN cũng chỉ ra những vấn đề gây cản trở để có được nhiều lợi ích hơn từ chiến lược, chương trình, dự án NCKH&PTCN Đánh giá hiệu quả sẽ tìm ra và đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả
Bài học thứ hai: Cần phải xây dựng phương pháp luận đánh giá phù
hợp với điều kiện và hoàn cảnh của Việt Nam
Phương pháp đánh giá hiệu quả hoạt động NCKH&PTCN hiện nay đã được phát triển ở các nước tiên tiến có hệ thống NCKH&PTCN hoạt động hiệu quả Tại các quốc gia này, các tổ chức tài trợ, các nhà nghiên cứu và các doanh nghiệp áp dụng phương pháp quản lý hoạt động NCKH&PTCN tiên tiến nhất và tất cả các dữ liệu cần thiết đều có sẵn Khác với những quốc gia này, ở Việt Nam việc thiết lập các phương pháp như vậy mới ở bước khởi đầu Các nhà nghiên cứu và các doanh nghiệp thường không hợp tác với nhau khi thực hiện các hoạt động NCKH&PTCN và số liệu thống kê thực tế thường không có sẵn Điều này yêu cầu phải xây dựng phương pháp đánh giá hiệu quả hoạt động NCKH&PTCN thực tế, đơn giản để áp dụng và không đòi hỏi hoặc phải phân tích dữ liệu phức tạp không có sẵn tại Việt Nam Ngoài ra, phương pháp này cũng phải tính đến yếu tố chính trị và kinh tế khác biệt của Việt Nam
Trang 3731
Bài học thứ ba: Đánh giá hiệu quả hoạt động NCKH&PTCN chỉ có
thể thực hiện được nếu tất cả các bên tham gia đều hợp tác và cung cấp các thông tin và dữ liệu cần thiết
Nếu trong quá trình đánh giá, các bên tham gia, ví dụ: đối tượng được đánh giá (chủ nhiệm đề tài, dự án…), những người sử dụng kết quả nghiên cứu (các doanh nghiệp) và những đối tượng liên quan khác không hợp tác cung cấp thông tin, dữ liệu thì đánh giá hiệu quả sẽ thất bại
Bài học thứ tư: Áp dụng đánh giá hiệu quả các chiến lược, chương
trình và đề tài quan trọng
Không thể thực hiện đánh giá hiệu quả tất cả đề tài, dự án KH&CN vì
nó đòi hỏi nỗ lực rất lớn để thu thập và phân tích dữ liệu, phát triển các kết luận, kiến nghị và thảo luận kết quả với các bên liên quan Do đó, chỉ nên tiến hành đánh giá hiệu quả các chương trình, đề tài, dự án quan trọng hoặc đòi hỏi nỗ lực hợp lý
Bài học thứ năm: Đảm bảo các nhiệm vụ đánh giá hiệu quả hoạt động
NCKH&PTCN được thực hiện hiệu quả
Để đảm bảo các nhiệm vụ đánh giá hiệu quả hoạt động NCKH&PTCN được thực hiện hiệu quả và có chất lượng, các nhiệm vụ này phải được lập kế hoạch và thực hiện bởi các chuyên gia đánh giá có kinh nghiệm Chuyên gia đánh giá phải độc lập (không tham gia đề tài, dự án được đánh giá hoặc sử dụng các kết quả của nó) Phân tích phải có sự tham gia của tất cả các bên liên quan, đặc biệt là các nhà nghiên cứu và những người sử dụng các kết quả NCKH&PTCN Và kết quả phải được thảo luận với các bên liên quan để đảm bảo rằng họ hiểu và chấp nhận kết quả đánh giá và thực hiện các khuyến nghị
Trang 3832
Kết luận chương 1
Trong chương này tác giả đã nghiên cứu kinh nghiệm của Úc, Pháp, Anh và một số nước khác trong việc đánh giá hiệu quả hoạt động NCKH&PTCN, qua đó rút ra được một số bài học hữu ích về đánh giá hiệu quả hoạt động NCKH&PTCN
Qua kinh nghiệm của một số nước, tác giả nghiên cứu nhận thấy rằng những nước có kinh nghiệm về đánh giá đều có một điểm chung về mục đích đánh giá hiệu quả/tác động của chương trình, dự án khoa học và công nghệ và kết quả của đánh giá này là sản phẩm đầu vào cho một quá trình ra quyết định về chính sách nói chung và chính sách nhằm phát triển tiềm lực KH&CN nói riêng Về phương pháp, mỗi nước lựa chọn phương pháp đánh giá khác nhau, phù hợp với đặc thù trong hoạt động NCKH&PTCN của mỗi nước Về cơ bản
có các phương pháp được sử dụng để đánh giá tác động/hiệu quả của chương
trình, dự án khoa học và công nghệ ở các nước là: 1) Phương pháp điều tra,
thu thập thông tin; 2) Phương pháp chuyên gia cùng ngành; 3) Phương pháp
mô tả; và 4) Phương pháp Hội nghị bàn tròn được sử dụng phổ biến ở Trung Quốc Điểm khác nhau cơ bản giữa các nước liên quan đến việc thực hiện công tác đánh giá là cơ quan chuyên trách đánh giá
Trang 3933
Chương 2 XÂY DỰNG PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ
Trong chương này tác giả sẽ xây dựng quy trình, phương pháp, tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ cho một tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, từ đó áp dụng khung phương pháp luận vào thực tế để đánh giá hiệu quả hoạt động NCKH&PTCN tại Viện Khoa học và Kỹ thuật hạt nhân
2.1 Mục đích và đối tượng đánh giá
Mục đích cơ bản là đánh giá hiệu quả hoạt động nghiên cứu khoa học
và phát triển công nghệ cho một tổ chức khoa học và công nghệ nhằm:
- Để củng cố hoặc xác định lại chức năng và nhiệm vụ của tổ chức;
- Để nâng cao chất lượng các hoạt động của tổ chức thông qua các chuẩn đoán (nhận định) từ cả bên trong và bên ngoài;
- Phát triển việc quản lý và nâng cao tính mềm dẻo của việc quản lý hành chính;
- Phân tích sự phù hợp của cơ cấu quản lý của tổ chức;
- Nâng cao tầm nhìn và khả năng cạnh tranh của tổ chức;
- Cung cấp thông tin, thể hiện trách nhiệm giải trình cho các cơ quan quản lý cấp trên của tổ chức và xa hơn nữa là cho xã hội nói chung
Các kết quả đánh giá phải hỗ trợ cho công tác tổ chức, quản lý (và cả các nhà nghiên cứu) trong quá trình ra quyết định cho tương lai của tổ chức dưới góc nhìn quản lý (và nghiên cứu)
Đối tượng đánh giá là hiệu quả hoạt động nghiên cứu khoa học của tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ
2.2 Phương pháp luận đánh giá hiệu quả hoạt động NCKH&PTCN
Phương pháp được đề xuất cho đánh giá hiệu quả hoạt động NCKH&PTCN cho một tổ chức khoa học và công nghệ sử dụng ý tưởng
Trang 4034
chuỗi kết quả của hoạt động NCKH&PTCN Tác giả sẽ cố gắng xác định và
đo lường tất cả những hiệu quả trong chuỗi kết quả của NCKH&PTCN được đánh giá (xem hình 1) và phân tích những hiệu quả đó
Hình 1: Chuỗi kết quả các hoạt động NCKH&PTCN được đánh giá
Hiệu quả lớn nhất của hoạt động NCKH&PTCN đó là hiệu quả đối với
xã hội Các nhà hoạch định chính sách cấp vốn cho hầu hết các hoạt động
NCKH&PTCN, vì vậy hoạt động NCKH&PTCN có nhiệm vụ phải tạo ra lợi ích cuối cùng cho xã hội Những ích lợi này được xác định bởi các mục tiêu chính sách kinh tế và các chính sách khác Bao gồm các mục tiêu kinh tế điển hình (như tăng trưởng kinh tế, việc làm mới hoặc việc làm có chất lượng cao hơn, tăng cường sức cạnh tranh của ngành công nghiệp quốc gia hoặc khu vực,…), cũng như các mục tiêu khác quan trọng đối với công cuộc phát triển
và phúc lợi xã hội của Việt Nam (ví dụ như bảo vệ môi trường, cải thiện sức khỏe và chất lượng sống, phát triển nông thôn hoặc thành thị, tính đa dạng văn hóa…)
Hiệu quả hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ