PHẠM THỊ THU HẰNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ TÀI TRỢ CỦA QUỸ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUỐC GIA CHO HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU TRONG LĨNH VỰC KHOA HỌC TỰ NHIÊN Chuyên ngành: Quản lý K
Trang 1VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
KHOA HỌC TỰ NHIÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Trang 2PHẠM THỊ THU HẰNG
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ TÀI TRỢ CỦA QUỸ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUỐC GIA CHO HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU TRONG LĨNH VỰC
KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Chuyên ngành: Quản lý Khoa học và Công nghệ
Mã số: 60.34.04.12
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS TẠ DOÃN TRỊNH
HÀ NỘI - 2016
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
VIỆN CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này do chính tôi thực hiện dưới sự hướng
dẫn khoa học của TS Tạ Doãn Trịnh
Mọi tham khảo dùng trong luận văn đều được trích dẫn rõ ràng, có độ chính xác cao nhất trong phạm vi hiểu biết của tôi
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình./
Hà Nội, ngày 28 tháng 7 năm 2016
Học viên
Phạm Thị Thu Hằng
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC TÀI TRỢ CHO HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU CƠ BẢN TRONG LĨNH VỰC KHOA HỌC TỰ NHIÊN 6
1.1 Một số khái niệm và thuật ngữ dùng trong luận văn 6
1.2 Đặc điểm của hoạt động nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học tự nhiên 7
1.3 Thước đo kết quả nghiên cứu 10
1.4 Phương thức tổ chức lựa chọn nhiệm vụ nghiên cứu 14
1.5 Phương thức tổ chức nhóm trong hoạt động nghiên cứu 16
1.6 Phương thức cung cấp tài chính cho nhiệm vụ nghiên cứu 20
Chương 2: THỰC TRẠNG TÀI TRỢ CHO HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU TRONG LĨNH VỰC KHOA HỌC TỰ NHIÊN CỦA QUỸ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUỐC GIA 23
2.1 Giới thiệu về Quỹ phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia 23
2.2 Thực trạng hoạt động tài trợ cho nghiên cứu cơ bản trong khoa học tự nhiên của Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia 29
2.3 Một số vấn đề còn tồn tại trong hoạt động tài trợ cho nghiên cứu cơ bản trong lĩnh vực khoa học tự nhiên của Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia 37
Chương 3: KINH NGHIỆM THẾ GIỚI VỀ TÀI TRỢ CHO HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU TRONG KHOA HỌC TỰ NHIÊN CỦA MỘT SỐ QUỸ KHOA HỌC QUỐC TẾ 48
3.1 Kinh nghiệm về đánh giá kết quả nghiên cứu 48
3.2 Kinh nghiệm về lựa chọn nhiệm vụ nghiên cứu 49
3.3 Kinh nghiệm xác định quy mô trong tổ chức hoạt động nghiên cứu 54
3.4 Kinh nghiệm cung cấp tài chính cho hoạt động nghiên cứu 55
Chương 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ TÀI TRỢ CHO HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU TRONG LĨNH VỰC KHOA HỌC TỰ NHIÊN CỦA QUỸ 60
4.1 Đổi mới phương thức quản lý chất lượng đề tài nghiên cứu 60
4.2 Tiếp tục đổi mới phương thức xét chọn, đánh giá các đề tài, dự án 61
4.3 Thực hiện chương trình tài trợ với quy mô nhóm nghiên cứu lớn 61
4.4 Đổi mới về cơ chế tài chính của Quỹ 62
KẾT LUẬN 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
Trang 5DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ISI Institute for Science Information
Viện thông tin khoa học máy tính Hoa Kỳ
KH&CN Khoa học và Công nghệ
KHTN Khoa học tự nhiên
NAFOSTED National Foundation for Science and Technology Development
Quỹ phát triển Khoa học và công nghệ quốc gia
NCCB Nghiên cứu cơ bản
NSF National Science Foundation
Quỹ khoa học quốc gia Mỹ
Trang 6MỤC LỤC BẢNG BIỂU
1 Bảng 2.1 So sánh tỉ trọng đầu tư cho hoạt động KH&CN
của Quỹ NAFOSTED với Trung ương và địa phương trong
1 Hình 1.1 Tính rủi ro của kết quả nghiên cứu 8
3 Hình 2.2 Quy trình tài trợ cho KHTN của Quỹ NAFOSTED 32
4 Hình 2.3 Kết quả công bố ISI của Việt Nam được tài trợ bởi
Quỹ NAFOSTED
36
5 Hình 2.4 Quy trình cấp kinh phí cho Quỹ NAFOSTED 44
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nghiên cứu cơ bản trong lĩnh vực khoa học tự nhiên giúp hình thành nên nền tảng tri thức Việc nắm vững tri thức trong khoa học tự nhiên giúp nhanh chóng rút ngắn khoảng cách giữa Việt Nam với các nước phát triển trong lĩnh hội tri thức mới, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi các kết quả nghiên cứu cơ bản có thể nhanh chóng được triển khai ứng dụng và chuyển hóa thành thành quả ứng dụng trong sản xuất kinh doanh Đồng thời, nghiên cứu cơ bản của Việt Nam phát triển sẽ tạo điều kiện hội nhập với nền khoa học công nghệ của thế giới
Đảng và Nhà nước đã sớm nhận thức được vai trò của NCCB trong KHTN, do đó, trong Nghị quyết 20-NQ/TW đã nêu rõ, khoa học tự nhiên đã
có bước phát triển trong nghiên cứu cơ bản, tạo cơ sở cho việc hình thành một
số lĩnh vực khoa học và công nghệ đa ngành mới, góp phần nâng cao trình độ
và năng lực của khoa học cơ bản
Vì vậy, trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước đã quan tâm tới đầu tư cho nghiên cứu cơ bản bằng cách tài trợ cho các chương trình, đề tài thông qua việc hình thành các Quỹ khoa học trực tiếp quản lý Sự xuất hiện của Quỹ khoa học đã giúp giảm tình trạng manh mún, thiếu đầu tư cũng như hạn chế được vấn đề trong tài trợ theo kỳ ngân sách, đồng thời nâng cao tính khách quan, minh bạch trong xét chọn
Khoa học tự nhiên có những thành tựu trong nghiên cứu, điều tra điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và môi trường, góp phần tạo luận cứ cho việc xây dựng chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế xã hội, tạo cơ sở cho quá trình tiếp thu và làm chủ công nghệ mới Một số ngành nghiên cứu cơ bản
Trang 8đã xây dựng được đội ngũ cán bộ khoa học có khả nǎng tiép cận trình độ hiện đại trên thế giới
Tuy nhiên, cho đến thời điểm này, hoạt động khoa học – từ nghiên cứu
cơ bản đến nghiên cứu triển khai - của nước ta vẫn theo kỳ ngân sách, chủ yếu
sử dụng Ngân sách nhà nước Quản lý khoa học theo kế hoạch đã bộc lộ nhiều bất cập Cụ thể, cơ chế tài chính hiện nay không phù hợp đối với quản lý các nhiệm vụ khoa học công nghệ, từ xây dựng nhiệm vụ, tiến độ cấp vốn, định mức và đánh giá việc chi tiêu để thực hiện nhiệm vụ
Theo Quyết định 418/QĐ-TTg ngày 11/04/2012 về phê duyệt chiến lược phát triển khoa học và công nghệ giai đoạn 2011-2020 đã đề ra định
hướng “Chuyển cơ chế cấp phát tài chính để thực hiện các nhiệm vụ khoa học
và công nghệ sang cơ chế quỹ” Theo đó, chiến lược này đã được cụ thể hóa
trong Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013 và Nghị định 95/2014/NĐ-CP quy định về đầu tư và cơ chế tài chính đối với hoạt động khoa học công nghệ Việc quản lý tài chính theo cơ chế quỹ sẽ giúp việc cấp kinh phí cho các đề tài
dự án sẽ kịp thời, phù hợp với tiến độ đặt hàng và phê duyệt nhiệm vụ khoa học và công nghệ, đồng thời chú trọng đến sản phẩm cuối cùng để đánh giá sự thành công của các nhà khoa học
Đó là sự thay đổi phù hợp với yêu cầu của thực tiễn Như vậy, sau khi được phê duyệt và ký hợp đồng, các nhà khoa học sẽ được cấp ngay kinh phí
để thực hiện Vì kinh phí của quỹ là thường xuyên, nên việc xem xét, phê duyệt và thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu không bị ngắt quãng theo quy hoạch hàng năm như hiện nay Khi đó, cơ chế tài chính sẽ không là rào cản,
mà là một đòn bẩy cho nghiên cứu khoa học
Từ thực tế đó, ngay từ khi đi vào hoạt động, Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia đã liên tục đổi mới phương thức quản lý hoạt động khoa học nhằm nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học cơ bản của Việt Nam,
Trang 9xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học đạt trình độ quốc tế, góp phần thúc đẩy hoạt động nghiên cứu ở các tổ chức KH&CN Đồng thời, phương thức tài trợ của Quỹ cũng hướng tới các chuẩn mực quốc tế, bình đẳng trong đánh giá tài trợ hơn nữa Trong 7 năm hoạt động, số lượng công bố quốc tế hàng năm tăng lên nhanh chóng (khoảng 15-20%), lĩnh vực nghiên cứu được mở rộng…
Mặc dù Quỹ phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia được cộng đồng khoa học trong và ngoài nước đánh giá, ghi nhận những kết quả đáng khen ngợi, như một bước tiến thành công có tính cách mạng trong quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học ở Việt Nam nhưng vẫn còn tồn tại một số vấn
đề trong thực hiện tài trợ cho hoạt động nghiên cứu trong khoa học tự nhiên như đánh giá chất lượng đề tài, tuyển chọn nhiệm vụ, tổ chức nhóm nghiên cứu và cơ chế tài trợ cho các đề tài nghiên cứu
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Đầu tư cho nghiên cứu cơ bản là một trong những vấn đề được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm Đã có nhiều đề tài nghiên cứu về cơ chế tài trợ cho nghiên cứu cơ bản thông qua các Quỹ khoa học như:
- Nguyễn Văn Tuấn: Đóng góp của NAFOSTED: Lượng nhiều, chất
thấp Báo Tuổi trẻ ngày 06/04/2013
- Đỗ Tiến Dũng:“Nghiên cứu đề xuất giải pháp đổi mới tổ chức hoạt
động và quản lý tài chính của Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia theo Luật Khoa học và Công nghệ (sửa đổi)” Đề án của Quỹ Phát triển khoa
học và Công nghệ Quốc gia, 2013
- Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN: “Quỹ phát triển khoa học và
công nghệ quốc gia: Cứu cánh cho các nhà khoa học trẻ”
http://www.nistpass.gov.vn/ đăng ngày 16/4/2012
Trang 10- Nguyễn Danh Sơn: “Nghiên cứu hình thành và cơ chế hoạt động của
hệ thống các quỹ hỗ trợ tài chính cho hoạt động KH&CN ở Việt Nam” Đề tài
cấp Bộ của Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN, 2001
Các nghiên cứu này mới chỉ đưa ra được các vấn đề liên quan tới xây dựng và hoàn thiện cơ chế tài chính đối với Quỹ khoa học nói chung mà chưa
đi sâu vào phân tích đặc điểm cũng như tình hình thực tế về tài trợ cho hoạt động nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học tự nhiên thông qua Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia Do đó, luận văn mong muốn hệ thống hóa
cơ sở lý luận về các yếu tố liên quan tới hiệu quả tài trợ cũng như phân tích những khó khăn mà Quỹ NAFOSTED găp phải để đề xuất giải pháp phù hợp
và giúp Quỹ hoạt động hiệu quả hơn
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Cung cấp luận cứ khoa học nhằm tháo gỡ những vướng mắc cũng như nâng cao hiệu quả tài trợ cho hoạt động nghiên cứu cơ bản trong lĩnh vực khoa học tự nhiên của Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Tài trợ cho nghiên cứu cơ bản của Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia
Phạm vi nghiên cứu: lĩnh vực khoa học tự nhiên của Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Được sử dụng để thu thập, phân tích và khai thác thông tin từ các nguồn có sẵn liên quan đến đề tài nghiên cứu, bao gồm các văn bản luật pháp của Nhà nước và các văn bản hướng dẫn thi hành
- Phương pháp phân tích và so sánh
Trang 11- Nghiên cứu kinh nghiệm nước ngoài
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Ý nghĩa lý luận của luận văn
+ Hệ thống hóa cơ sở lý luận về đặc điểm kết quả nghiên cứu cơ bản, các yếu tố liên quan tới hiệu quả tài trợ của Quỹ khoa học nói chung
- Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
+ Phân tích, đánh giá những thành công cũng như rào cản, vướng mắc
mà Quỹ NAFOSTED đang gặp phải trong tài trợ cho khoa học tự nhiên
+ Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tài trợ cho NCCB trong lĩnh vực KHTN của Quỹ NAFOSTED
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn gồm 4 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận về tài trợ cho hoạt động nghiên cứu cơ bản trong lĩnh vực khoa học tự nhiên
Chương 2 Thực trạng tài trợ cho hoạt động nghiên cứu cơ bản trong lĩnh vực khoa học tự nhiên của Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia
Chương 3 Kinh nghiệm thế giới về tài trợ cho hoạt động nghiên cứu trong khoa học tự nhiên của một số quỹ phát triển khoa học và công nghệ
Chương 4 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả tài trợ cho hoạt động nghiên cứu cơ bản trong lĩnh vực khoa học tự nhiên của Quỹ phát triển KH&CN quốc gia
Trang 12Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC TÀI TRỢ CHO HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU CƠ BẢN TRONG LĨNH VỰC
KHOA HỌC TỰ NHIÊN 1.1 Một số khái niệm và thuật ngữ dùng trong luận văn
Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013 đã định nghĩa:
- Khoa học là hệ thống tri thức về bản chất, quy luật tồn tại và phát triển của
sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy
TheoWikipedia, khoa học, theo nghĩa rộng, là bất kỳ hệ thống kiến thức với cố gắng mô hình hóa thực tế khách quan bằng cách sử dụng phương pháp luận, thủ thuật để đưa ra dự báo chắc chắn và định lượng cho các sự vật, hiện tượng tương lai Với nghĩa hẹp hơn, khoa học cung cấp một hệ thống kiến thức dựa vào phương pháp khoa học cũng như tổ chức sắp xếp toàn bộ hệ thống kiến thức thu được từ nghiên cứu
- Nghiên cứu khoa học là hoạt động khám phá, phát hiện, tìm hiểu bản
chất, quy luật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn
- Nghiên cứu cơ bản là hoạt động nghiên cứu nhằm khám phá bản
chất, quy luật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy
- Khoa học tự nhiên, hay Tự nhiên học, (tiếng Anh: Natural science)
là một nhánh của khoa học, có mục đích nhận thức, mô tả, giải thích và tiên đoán về các hiện tượng và quy luật tự nhiên, dựa trên những dấu hiệu được kiểm chứng chắc chắn Trong khoa học tự nhiên, giả thuyết được sử dụng rộng rãi để xây dựng những lý thuyết khoa học
Trang 13- Danh mục ISI: Danh mục khoa học do Viện thông tin khoa học máy
tính Hoa Kỳ (Institute for Scientific Information - ISI) lựa chọn và xếp hạng
- Chỉ số SCI (Science Citation Index): Chỉ số Trích dẫn Khoa học là
một danh mục các tạp chí xây dựng dựa trên tần suất trích của các bài báo đăng trong đó Danh sách này do Viện Thông tin khoa học quốc tế (ISI, hiện nay là một bộ phận của hãng Thomson Reuteurs) lần đầu tiên công bố vào năm 1960 Có hơn 3700 tạp chí nằm trong danh sách này, bao trùm 100 lĩnh vực khác nhau
- Danh mục SCIe (Science Citation Index Expanded): là danh sách
các tạp chí SCI mở rộng, với khoảng 7000 tạp chí
1.2 Đặc điểm của hoạt động nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học tự nhiên
Hoạt động nghiên cứu trong khoa học tự nhiên có đầy đủ những đặc điểm của hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ được nêu trong bài
báo “Những đặc điểm riêng của môi trường làm việc nghiên cứu và triển khai
và của các nhà khoa học, kỹ sư nghiên cứu” của tác giả Thomas E Clark
Những đặc điểm này cụ thể như sau:
- Tính bất định của kết quả nghiên cứu
Hoạt động nghiên cứu KH&CN về bản chất là hoạt động nhằm tạo ra tri thức mới, kiểm nghiệm các giả thuyết về hoạt động và ứng xử của thế giới vật chất và xã hội trong tự nhiên
Một đặc tính để phân biệt với các hoạt động khác là tính bất định của kết quả nghiên cứu Hoạt động nghiên cứu KH&CN không chỉ có tính bất định trong thời hạn thời gian dự án hay tài chính mà còn là bản chất của kết quả Điều này đặc biệt đúng khi ở giai đoạn cuối của nghiên cứu – giai đoạn chuyển tiếp từ nghiên cứu cơ bản sang triển khai thử nghiệm
Trang 14Tính bất định của kết quả nghiên cứu được thể hiện qua các đặc điểm: + Bất định về thời gian thực hiện nghiên cứu
+ Bất định về tài chính để thực hiện nghiên cứu
+ Có thể khi kết thúc dự án nghiên cứu vẫn không thu được kết quả Có thể gọi đó là thất bại của dự án
+ Tính bất định của kết quả nghiên cứu còn được thể hiện dưới dạng sản phẩm phụ
Tính bất định về kết quả nghiên cứu làm cho các nhà quản lý khó lập kế hoạch và dự toán ngân sách Hoạt động nghiên cứu có thể sẽ mất nhiều thời gian hơn so với kế hoạch ban đầu mới tạo ra được kết quả Điều này là không được phép đối với những chu trình ngân sách hàng năm thường thấy ở phần lớn các cơ quan hành chính nhà nước Do đó, cần có sự tài trợ nhiều năm để
đà nghiên cứu được duy trì ổn định thường xuyên
Hình 1.1 Tính rủi ro của kết quả nghiên cứu
Trang 15- Khó đánh giá được tác động và đóng góp của kết quả nghiên cứu
Việc đánh giá được tác động cũng như đóng góp của kết quả nghiên cứu được thể hiện qua 3 đặc điểm:
+ Khó dự đoán trước chất lượng, số lượng của tri thức
+ Do độ trễ giữa sự thành công của kết quả nghiên cứu và tác động của kết quả nghiên cứu
+ Do người quản lý khoa học có thể không được trang bị đầy đủ những kiến thức chuyên sâu nên không đánh giá được hiệu quả của kết quả nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu là tri thức nên khó có thể dự đán trước được chính xác chất lượng, số lượng hay tính hữu ích của tri thức được sinh ra từ bất kỳ
dự án nghiên cứu nào Tuy nhiên các đơn vị hành chính quản lý về ngân sách luôn muốn thấy được các bằng chứng cụ thể định lượng các nguồn lực đầu tư trong nghiên cứu có kết quả hữu hình hoặc tác động của kết quả nghiên cứu trong khung thời hạn ngân sách nhất định hoặc trong chu trình đánh giá nhất định
Ngay cả khi đo lường được thì độ trễ giữa sự thành công của nghiên cứu cũng như tác động của nó sẽ rất lớn, dẫn đến việc khó sử dụng những hiểu biết về kết quả nghiên cứu làm cơ sở để lập kế hoạch cho tương lai Trong một số trường hợp, tác động của kết quả nghiên cứu phải chờ đợi sự phát triển của các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật khác trước khi có thể thấy tác động hoặc sự ứng dụng của nó
Một khó khăn nữa mà các nhà quản lý R&D phải đổi mặt là tiến hành đánh giá các đóng góp hàng năm của các nhà khoa học một cách công bằng
và chính xác Đánh giá sự đóng góp của các nhà khoa học đối với lĩnh vực
Trang 16hoặc tác động cuối cùng mà những đóng góp này sẽ có được trong tương lai
có thể là một thách thức vô cùng lớn
- Nghiên cứu không thể bị dừng lại rồi tái khởi động một cách dễ dàng
Một trong những hệ quả quan trọng nhất của sự thay đổi nhanh chóng nền tảng tri thức khoa học là việc các nghiên cứu vốn đã mang đặc tính dài hạn nên không thể bị dừng lại rồi tái khởi động một cách dễ dàng và nhanh chóng như dây chuyền sản xuất Nếu đề tài bị dừng lại, nhà khoa học sẽ phải tiếp tục làm việc trong các dự án khác hoặc chuyển sang tổ chức các nghiên cứu khác, như vậy họ không thể dễ dàng quay lại làm việc cho các dự án ban đầu nữa
Một vấn đề nữa là sẽ cần rất nhiều thời gian để xây dựng một nhóm nghiên cứu có hiệu quả Do đó, khi nghiên cứu bị dừng lại sẽ dẫn đến tình trạng nhóm nghiên cứu bị chia tách, rất khó trở lại trạng thái ban đầu, ảnh hưởng rất nhiều tới chất lượng nghiên cứu
Tóm lại, đặc điểm của hoạt động nghiên cứu cơ bản là rất khó để đo lường một cách trực tiếp về giá trị kinh tế, chi phí lợi ích Vậy có cách nào để đánh giá tri thức mới do nhà khoa học tạo ra từ các tài trợ của Nhà nước? Cách phổ biến nhất được nhà nước áp dụng trong đo lường kết quả nghiên cứu là sử dụng công bố khoa học Đây chính là hình thức tốt nhất để bộc lộ tri thức mới tạo ra cho xã hội
1.3 Thước đo kết quả nghiên cứu
Trang 17này có 2 đặc tính gồm tính không tranh giành và tính không thể loại trừ khi được sử dụng
Các nhà nghiên cứu nhận tài trợ của Nhà nước phải có trách nhiệm báo cáo thành quả đạt được thông qua công trình nghiên cứu Những kết quả này
là hàng hóa công do đó cần phải được công bố, chia sẻ thông tin, tri thức Đồng thời, đây cũng là một tiêu chí để đánh giá năng lực, hiệu suất của nhà nghiên cứu Việc báo cáo cũng là một cách thể hiện sự tôn trọng với cơ quan quản lý hay người đã tài trợ nghiên cứu (trong trường hợp của Quỹ là báo cáo
để thấy được hiệu quả từ việc tài trợ của Nhà nước) Báo cáo khoa học hướng đến cộng đồng khoa học quốc tế mà trong đó các nhà khoa học cẩn thận mô tả
lí do làm nghiên cứu, phương pháp thực hiện, kết quả và ý nghĩa của nghiên cứu đó
Có thể nói rằng bài báo khoa học chính là sợi chỉ xuyên suốt quá trình nghiên cứu, từ khi bắt đầu tới khi kết thúc Các bài báo khoa học là một thước
đo cho nghiên cứu cơ bản và khám phá khoa học, và xuất bản từ lâu đã được
sử dụng làm một chỉ số về năng suất khoa học của các trường đại học, các viện nghiên cứu của chính phủ các tổ chức khác Các bài báo là những công
cụ chính để phổ biến và đánh giá các kết quả nghiên cứu, và là cơ sở cho chuyển giao kiến thức Khi bắt đầu một đề tài, người nghiên cứu sẽ phải tìm đọc các bài báo của các tác giả khác về lĩnh vực đó nhằm hai mục đích: học những kiến thức nền tảng và nắm bắt xu thế nghiên cứu của đề tài Từ đó, nhà nghiên cứu định ra con đường của mình, tìm hướng nghiên cứu riêng của mình Một công trình nghiên cứu chỉ được coi là có giá trị khoa học khi kết quả của nó có thể được viết thành các bài báo đăng trên các tạp chí hoặc báo cáo ở các hội nghị khoa học quốc tế được thẩm định về chuyên môn thông qua phản biện của các chuyên gia (peer-review, có người gọi là “bình duyệt”)
Trang 18việc công bố bài báo của chính bản thân mình, đó là một chu trình bắt buộc của nghiên cứu
Bởi vì chỉ có nhà khoa học cùng chuyên môn mới có khả năng thẩm định giá trị của một công trình nghiên cứu, cho nên các báo cáo khoa học phải công bố trên các tập san khoa học có hệ thống bình duyệt (peer reviewed journal) nghiêm chỉnh Hệ thống bình duyệt là một cơ chế khoa học nhằm loại
bỏ các công trình nghiên cứu không đạt tiêu chuẩn hay các trường hợp gian lận khoa học Tuy hệ thống này không hẳn hoàn chỉnh, nhưng cho đến nay chưa có hệ thống nào tốt hơn, nên cộng đồng khoa học quốc tế vẫn phải dựa vào đó để duy trì chất lượng hoạt động khoa học Nếu công trình nghiên cứu đạt tiêu chuẩn khoa học thì công trình đó sẽ được chấp nhận cho công bố; nếu công trình không đạt chuẩn mực khoa học thì sẽ bị từ chối Tập san khoa học
có uy tín càng cao, hệ thống bình duyệt càng gắt gao Do đó, công bố báo cáo khoa học trên các tập san có bình duyệt nghiêm chỉnh là một yêu cầu cực kì
cơ bản của hoạt động khoa học
Trong hoạt động nghiên cứu khoa học, bài báo khoa học không chỉ là sản phẩm tri thức, mà còn là một loại tiền tệ của giới làm khoa học, bởi vì qua
đó mà người ta có thể đánh giá khả năng chuyên môn và năng suất khoa học của nhà nghiên cứu Giới làm nghiên cứu khoa học nói chung nhất trí rằng cái chỉ tiêu số 1 để đề bạt một nhà khoa học là dựa vào số lượng và chất bài báo khoa học đã công bố trên các tập san chuyên ngành
Tuy nhiên, một vấn đề đặt ra rằng không phải tạp chí và hội nghị nào cũng có giá trị như nhau và đều được cộng đồng khoa học quốc tế công nhận
Có thể thấy những tạp chí của Việt Nam hầu như có rất ít giá trị đối với thế giới Vậy tạp chí nào mới thật sự có chất lượng và được công nhận? Để giải quyết vấn đề này, có thể sử dụng danh mục các tạp chí khoa học do Viện
Trang 19Thông tin Khoa học ISI đưa ra ISI được thành lập bởi Eugene Garfield, một nhà khoa học người Mỹ, vào năm 1960 và sau đó được sáp nhận vào tập đoàn Thomson Reuters ISI thống kê, đánh giá và xếp hạng hàng nghìn tạp chí khoa học thuộc hầu hết các lĩnh vực tạo thành một bộ cơ sở dữ liệu thông tin khoa học đáng tin cậy với nhóm:
- SCI (Science Citation Index) có 3773 tạp chí thuộc 100 ngành Sau đó
có SCIE (Science Citation Index Expanded với 8207 tạp chí thuộc 150 ngành
Có thể xem rằng các tạp chí thuộc SCI được đánh giá cao hơn các tạp chí thuộc SCIE (mở rộng)
- SSCI (Social Sciences Citation Index) gồm 2697 tạp chí và 3500 công trình của 50 ngành A&HCI (Art and Humanities Citation Index) gồm 1470 tạp chí và 6000 công trình Đây là những tạp chí thuộc lĩnh vực Nghệ thuật, Khoa học Xã hội và Nhân văn
- CPCI (Conference Proccedings Citation Index) gồm 110000 tuyển tập hội nghị
1.3.2.Hệ số ảnh hưởng Impact factor (IF)
Đánh giá chất lượng một công trình khoa học hay một bài báo khoa học không phải là việc làm đơn giản vì nó đòi hỏi thời gian và phương pháp đánh giá Một công trình nghiên cứu cơ bản sau khi công bố có khi phải chờ đến 20 năm hay lâu hơn mới có khả năng ứng dụng, hay được cộng đồng khoa học chấp nhận Tuy nhiên, đối với các hội đồng đánh giá, họ không thể chờ đến
20 năm sau để đánh giá một nhà khoa học; họ cần những chỉ số ngắn hạn nhưng đáng tin cậy để làm “thước đo” chất lượng nghiên cứu của một nhà khoa học
Trang 20Một trong những thước đo phổ biến hiện nay là hệ số ảnh hưởng hay impact factor (IF) IF là số lần trích dẫn trung bình của những bài báo khoa học đã được công bố 2 năm trước IF chỉ tính cho những tập san được liệt kê trong danh bạ ISI hay Journal Citation Report của ISI
Chỉ số IF tuy được sử dụng rộng rãi, nhưng cũng bị phê phán rất nhiều,
Do một số khiếm khuyết của IF đã được chỉ ra trong quá khứ bao gồm những vấn đề liên quan đến văn hóa ngành, cách tính toán, IF không biết đến sự khác biệt về “văn hóa” giữa các ngành khoa học, như ngành toán thường có chỉ số trích dẫn thấp hơn ngành vật lí; IF không thể phân biệt xu hướng tác giả tự trích dẫn bài báo của mình; IF trung bình hóa quá đáng, bởi vì trong thực tế chỉ có khoảng 20% trích dẫn của một tập san có thể chiếm đến 80% tổng số trích dẫn; khoảng thời gian 2 năm trong tính toán IF là quá ngắn và không công bằng cho các ngành khoa học cơ bản; IF không phân biệt được những công trình nghiên cứu sai nhưng được trích dẫn thường xuyên để làm ví dụ
Dù bị phê bình nhiều, nhưng IF vẫn được các cơ quan tài trợ nghiên cứu, đại học, và trung tâm khoa học áp dụng rộng rãi Sự thật là hiện nay thế giới có trên 108.000 tạp chí khoa học với đủ thứ chất lượng “thượng vàng hạ cám” (con số này chưa kể đến các tạp chí trực tuyến) Do đó, một công trình nghiên cứu dù có chất lượng thấp cỡ nào đi nữa, và nếu tác giả kiên trì theo đuổi, thì công trình sẽ được in trong một tạp chí nào đó, cũng có thể mang tiếng “tạp chí quốc tế” Do đó, việc sử dụng IF như là một tiêu chí để đánh giá năng lực của nhà khoa học là điều có thể hiểu được
1.4.Phương thức tổ chức lựa chọn nhiệm vụ nghiên cứu
Việc lựa chọn, xét duyệt các nhiệm vụ nghiên cứu không phải là việc làm đơn giản mà cần phải do một hội đồng các nhà khoa học có chuyên môn,
uy tín thực hiện
Trang 21- Chức năng của hội đồng khoa học
Hội đồng khoa học đóng vai trò làm trung gian, cấu nối giữa cơ quan cấp vốn và nhà khoa học, giải quyết vấn đề bất đối xứng thông tin Hội đồng khoa học cũng giúp nhà quản lý lựa chọn được các đề tài tốt, phù hợp với yêu cầu đặt ra cũng như đánh giá chất lượng các đề tài này, đồng thời, hội đồng sẽ
cố vấn cho các nhà nghiên cứu những vấn đề về chuyên môn Lý thuyết thông tin bất cân xứng (Asymmetric Information) lần đầu tiên xuất hiện vào những năm 1970 và đã khẳng định được vị trí của mình trong nền kinh tế học hiện đại bằng sự kiện năm 2001, các nhà khoa học nghiên cứu lý thuyết này là George Akerlof, Michael Spence và Joseph Stiglitz cùng vinh dự nhận giải Nobel kinh tế Thông tin bất cân xứng có thể xảy ra trước khi tiến hành ký kết hợp đồng Các bên tham gia giao dịch cố tình che đậy thông tin, người mua không có thông tin xác thực, đầy đủ và kịp thời nên trả giá thấp hơn giá trị đích thực của hàng hóa Hậu quả là người bán cũng không còn động lực để sản xuất hàng có giá trị và có xu hướng cung cấp những sản phẩm có chất lượng thấp hơn chất lượng trung bình trên thị trường Rốt cuộc trên thị trường chỉ còn lại những sản phẩm chất lượng xấu- những “trái chanh” bỏ đi, hàng tốt bị loại bỏ, dẫn đến lựa chọn bất lợi (adverse selection) cho cả hai bên
Trang 22- Yêu cầu đối với thành viên nhóm nghiên cứu
Trong nhiều ngành khoa học hiện đại, các nhà khoa học cần phải làm việc theo nhóm Phân bổ nguồn lực là một công cụ hiệu quả để khuyến khích
sự hợp tác giữa các nhóm và tránh tình trạng các nhóm làm việc một cách riêng rẽ với những dự án không có sự liên hệ với nhau Thành viên hội đồng phải có khả năng đánh giá mang tính chuyên môn về một người, một nhóm hay một dự án chứ không phải chỉ đơn giản là đếm số lượng công bố khoa học hay áp dụng các chỉ tiêu thống kê đại loại tương tự như vậy, vốn đã trở thành mốt trên toàn thế giới trong những năm gần đây
- Sự tham gia của thành viên nhà khoa học quốc tế trong hội đồng
Sự hiện diện của các thành viên nhà khoa học quốc tế trong hội đồng cũng là một khía cạnh quan trọng trong việc đảm bảo chất lượng của hội đồng biên tập Một hội đồng khoa học không cần phải có nhiều thành viên là nhà khoa học quốc tế mà nên chỉ cần khoảng 10% nhưng cần phải có ít nhất hai hoặc ba người trong hội đồng để họ có thể thảo luận và phản biện lẫn nhau
Sự hiện diện của họ đóng vai trò như một đòn bẩy để nâng cao trình độ thảo luận của hội đồng, cả về chất lượng khoa học và đạo đức
Chất lượng của hội đồng sẽ là yếu tố then chốt quyết định sự thành công của Quỹ Các thành viên tham gia hội đồng cần là những người thực sự làm nghiên cứu, công tâm, hiểu biết sâu và theo dõi được sự phát triển của lĩnh vực chuyên môn trên thế giới
1.5 Phương thức tổ chức nhóm trong hoạt động nghiên cứu
Trong lịch sử, có rất nhiều nhà khoa học có khả năng nghiên cứu ở nhiều lĩnh vực khác nhau và đã đạt được nhiều thành tựu Tuy nhiên, trong thời đại hiện nay, với sự phát triển không ngừng của xã hội cũng như hàm lượng tri thức ngày càng tăng lên thì một nhà khoa học không thể đủ khả năng
Trang 23để tiến hành nghiên cứu một cách độc lập Do đó, việc hình thành các nhóm nghiên cứu là điều tất yếu Tùy theo từng đề tài mà hình thành các nhóm nghiên cứu với số lượng thành viên phù hợp nhằm mang lại hiệu quả cao nhất
1.5.1 Khái niệm nhóm nghiên cứu
Một khái niệm về nhóm nghiên cứu, hay nhóm nghiên cứu khoa học (Scientific Research Group) được nhiều nhà khoa học tin dùng do Joseph S Fruton định nghĩa: Nhóm nghiên cứu khoa học là một tập thể nghiên cứu định hướng trong một lĩnh vực chuyên môn nhất định tại một đơn vị đào tạo, đơn
vị nghiên cứu, được dẫn dắt bởi một nhà khoa học có uy tín khoa học đủ để có thể tiến hành một chương trình nghiên cứu độc lập Thông qua tương tác với lãnh đạo chuyên môn của nhóm (trưởng nhóm) và với các thành viên khác, các thành viên trong nhóm có cơ hội học hỏi các kỹ thuật thực nghiệm, nắm bắt kiến thức lý thuyết và tham gia tích cực vào chương trình nghiên cứu của nhóm để tạo ra những thành tựu khoa học mới, những ý tưởng mới, những sản phẩm khoa học công nghệ mới
Khái niệm về nhóm nghiên cứu mở rộng – các nhóm nghiên cứu là tập hợp của nhiều nhóm nghiên cứu nhỏ và có thể rất nhiều thành viên - được Valerie I Sessa đưa ra là tập hợp các nhà khoa học hay các trung tâm, phòng thí nghiệm liên kết với nhau trên một hay một số lĩnh vực nhằm nghiên cứu
và phát triển những hoạt động khoa học và công nghệ ở trình độ cao trong những lĩnh vực khoa học khác nhau Các nhóm nghiên cứu sẽ đóng vai trò trung gian trong hệ thống tổ chức trung tâm, viện, trường Các nhóm sẽ liên kết các cá nhân lại với nhau trong khoảng thời gian cố định và liên kết với nhau dưới dạng hệ thống hoàn chỉnh Nói cách khác, các nhóm nghiên cứu đóng vai trò là tổ chức nhỏ tập hợp các cá nhân hoạt động nghiên cứu khoa
Trang 24học và phát triển công nghệ và các trung tâm, viện, trường là nơi tổ chức tập hợp các nhóm nghiên cứu lại theo hướng tương hỗ hoặc song song với nhau
Từ các định nghĩa nêu trên có thể diễn đạt khái niệm về nhóm nghiên
cứu như sau: "Nhóm nghiên cứu là một tập thể những người làm công tác
nghiên cứu được dẫn dắt bởi một nhà khoa học có uy tín và năng lực đủ để có thể tiến hành một hướng nghiên cứu trong một lĩnh vực chuyên môn nhất định tại một đơn vị đào tạo, đơn vị nghiên cứu nhằm tạo ra những sản phẩm khoa học công nghệ mới"
Một xu thế hiện rõ trong hoạt động khoa học là hoạt động này ngày càng mang tính tập thể và tài năng của các nhà khoa học lỗi lạc chỉ bộc lộ thông qua gắn liền với tập thể Con số các nhà bác học lo sáng tạo những mốc mới trong khoa học, lo khám phá những trang sử mới trong khoa học hợp thành một bộ phận tương đối nhỏ trong đội ngũ đông đảo các bộ khoa học
như Vinero đã nhấn mạnh trong cuốn “Tôi là nhà toán học”:“hoàn toàn có thể
nói rằng 95% những công trình nghiên cứu khoa học độc đáo là thuộc không đầy 5% những nhà khoa học chuyên nghiệp, nhưng phần lớn những công trình đó nói chung sẽ không được viết ra nếu như 95% những nhà khoa học kia không đóng góp để xây dựng các trình độ khoa học chung”
Tương tự như vậy, quy luật Pareto hay quy luật 80/20 (quy luật thiểu số quan trọng và phân bổ nhân tố) nói rằng trong nhiều sự kiện, khoảng 80% kết quả là do 20% nguyên nhân gây ra Trong lĩnh vực KH&CN, 80% kết quả KH&CN có giá trị do 20% nhà khoa học tài năng tạo ra
Điều đó chỉ ra rằng nên tập trung đầu tư vào các nhóm nghiên cứu Việc ưu tiên đầu tư cho nhóm khoa học sẽ có tác động lan tỏa cho cả đội ngũ cán bộ KH&CN, phù hợp với quy luật kinh tế, quy luật về hiệu quả cũng như hoàn cảnh, nhu cầu phát triển KH&CN hiện nay Cách đầu tư này tương tự
Trang 25với mô hình “đàn nhạn bay” Theo Michael Eskew – chủ tập đoàn United Parcel ServiceEskew, đàn chim bay hình chữ V như một mũi tên, có một con chim đầu đàn, những con bay sau đều bay được theo một trật tự nhất định, không có sự hỗ loạn Có như vậy đàn chim mới tạo ra được một tốc độ nhanh nhất, con đằng trước không cản tầm nhìn của con đằng sau Những con bay sau vẫn luôn quan sát được đường bay của con bay đầu đàn
Theo quan điểm của lý thuyết đàn nhạn bay, nếu sử dụng hợp lý và đầu
tư, hỗ trợ tập trung cho một nhóm nhỏ có trình độ cao, chúng ta cũng có thể tạo ra một sự thay đổi lớn Khi đó việc tập trung đầu tư, ưu đãi cho các nhóm nghiên cứu này sẽ có thể nâng cao chất lượng cho cả đội ngũ KH&CN nói chung
1.5.2 Phân loại nhóm nghiên cứu
- Nhóm nghiên cứu nhỏ (dưới 10 người) thường xuất phát từ các ý
tưởng của các cá nhân hoặc nhu cầu hợp tác của một số cá nhân hoặc các nhóm nghiên cứu nhỏ hơn từ các chuyên ngành khác nhau Chức năng chính
là nghiên cứu và tham gia đào tạo Cấu trúc quản lý đơn giản, linh động Bản thân các thành viên cũng có các nhiệm vụ nghiên cứu đơn ngành, riêng biệt
- Trung tâm nghiên cứu lớn hình thành theo nhu cầu của cơ sở hoặc
theo mô hình các vườn ươm công nghệ, có chức năng nghiên cứu và đào tạo Được tổ chức và quản lý bởi một Ban lãnh đạo mà Giám đốc là người trực tiếp điều hành và chịu trách nhiệm báo cáo cấp trên Trung tâm có thể có nhân
sự, cơ sở vật chất, địa điểm cố định hoặc chia sẻ với các đơn vị
- Phòng thí nghiệm quốc gia được nhà nước đầu tư cơ sở vật chất đầy
đủ, nghiên cứu theo các nhiệm vụ được đề xuất từ dưới lên, có tính kế hoạch cao và có tổ chức với cấu trúc chặt chẽ Cán bộ nghiên cứu có thể linh động chuyển đổi giữa các nhóm nghiên cứu tham gia
Trang 26- Mô hình công nghiệp hình thành do nhu cầu của có sở, định hướng
nghiên cứu theo sản phẩm, mang tính kế hoạch cao và không tham gia đào tạo Cán bộ nghiên cứu cũng có thể linh động chuyển đổi giữa các nhóm nghiên cứu tham gia
- Mô hình liên kết trường đại học – viện nghiên cứu – khối công nghiệp
thường được khởi tạo với các dự án đầu tư nghiên cứu lớn, có thể có hội đồng
tư vấn, thực hiện các nghiên cứu theo nhu cầu kinh tế - xã hội và có chức năng nghiên cứu và đào tạo
1.6 Phương thức cung cấp tài chính cho nhiệm vụ nghiên cứu
Như đã phân tích ở trên, do đặc thù của hoạt động và kết quả nghiên cứu cơ bản nên Quỹ dành cho hoạt động nghiên cứu khoa học cũng mang tính đặc thù Kết quả của hoạt động nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực nghiên cứu cơ bản là một dạng hàng hóa công cộng do đó rất ít nhà đầu tư tư nhân quan tâm tới hàng hóa này do đó Nhà nước đóng vai trò then chốt trong việc thúc đẩy hoạt động nghiên cứu này
Ngay từ những năm 1945, Vannevar Bush đã chỉ ra rằng đầu tư cho nghiên cứu cơ bản rõ ràng là trách nhiệm của Chính phủ bởi nếu Chính phủ không làm thì chẳng có ai làm điều này cả Các ý tưởng nghiên cứu có thể xuất hiện bất cứ lúc nào do đó cần phải thoát ly khỏi việc cấp phát tài chính theo năm ngân sách nhưng vẫn phải đảm bảo nhà nước có thể quản lý được
Vì vậy, việc hình thành các Quỹ khoa học do nhà nước tài trợ là điều tất yếu
Ở nhiều nước, Quỹ khoa học quốc gia hầu hết là cơ quan độc lập, có
tư cách pháp nhân, không trực thuộc một cơ quan bộ nào mà thường trực thuộc Tổng thống hoặc Thủ tướng Chính phủ (Ví dụ: Quỹ khoa học quốc gia NSF của Mỹ, Quỹ nghiên cứu cơ bản của Nga, Quỹ nghiên cứu cơ bản trong khoa học tự nhiên Trung Quốc…)
Trang 27Các quỹ khoa học ở các nước được nhà nước cho phép hoạt động theo nguyên tắc tự quản trong khuôn khổ luật định Hoạt động của Quỹ có thể do Hội đồng chính sách (Policy board) hoặc Hội đồng Quỹ (Foundation Board) quyết định mà không phải tuân theo các nguyên tắc của cơ quan hành chính nhà nước Điều này tạo điều kiện cho Quỹ được hoạt động một cách linh hoạt
và hiệu quả nhất Hình thức tài trợ của Quỹ là đa dạng, hoạt động của Quỹ không cứng nhắc theo kế hoạch hành chính, kinh phí trong năm không sử dụng hết có thể chuyển sang năm sau
Nhìn chung, các quỹ khoa học thường có những đặc điểm sau đây:
- Về nguồn tài trợ: nguồn kinh phí của quỹ quốc gia cho nghiên cứu khoa học chủ yếu là từ ngân sách nhà nước, những phần đóng góp của các thành phần khác thường chiếm tỉ lệ rất nhỏ (Ngân sách nhà nước chiếm khoảng 90 – 95%, còn lại là các nguồn khác từ doanh nghiệp, tư nhân, cá nhân khác)
- Về đối tượng tài trợ: Quỹ khoa học quốc gia thường chủ yếu tài trợ cho nghiên cứu cơ bản Tuy nhiên, cũng có quỹ tài trợ cho công nghệ hoặc thành lập riêng quỹ phát triển công nghiệp Ngoài tài trợ các nghiên cứu, các quỹ còn hỗ trợ học bổng nghiên cứu, mua sắm trang thiết bị nghiên cứu, tham gia hội nghị hội thảo, xuất bản phẩm, khen thưởng và hỗ trợ cho các nhà khoa học trẻ tuổi
- Về cấp phát tài chính: các quỹ khoa học quốc gia thường cấp kinh phí trực tiếp tới người thực hiện đề tài hoặc đến cơ quan chủ trì thực hiện đề tài
Ví dụ: Quỹ khoa học tự nhiên Trung Quốc, Quỹ nghiên cứu cơ bản của Nga chuyển kinh phí đến cơ quan chủ trì thực hiện các đề án theo hệ thống kho bạc nhà nước mà không cần thông qua các cơ quan bộ, ngành chủ quản
Trang 28đo như công bố khoa học, hệ số ảnh hưởng để đánh giá chất lượng Việc hình thành hội đồng khoa học xét chọn nhiệm vụ nghiên cứu, quy mô tổ chức nhóm nghiên cứu cũng như phương thức tài chính đều ảnh hưởng tới hiệu quả tài trợ cho hoạt động nghiên cứu
Ở Việt Nam, Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia đã được thành lập theo Nghị định 122/2003/NĐ-CP của Chính phủ ngày 22/10/2003 nhằm tạo điều kiện thúc đẩy phát triển hoạt động nghiên cứu trong KHTN (chiếm tới hơn 60% nguồn kinh phí tài trợ của Quỹ) Chương 2 sẽ làm rõ thực trạng tài trợ cho hoạt động NCCB trong KHTN của Quỹ cũng như chỉ ra những vấn đề còn tồn tại trong thời gian qua ảnh hưởng tới hiệu quả tài trợ trong lĩnh vực này
Trang 29Chương 2
THỰC TRẠNG TÀI TRỢ CHO HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU TRONG LĨNH VỰC KHOA HỌC TỰ NHIÊN CỦA QUỸ PHÁT TRIỂN
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUỐC GIA
Mô hình Quỹ phát triển KH&CN đã được đề cập từ Luật KH&CN năm
2000 Trong đó việc thành lập Quỹ được hình thành ở cấp quốc gia, tỉnh/thành phố, bộ/ngành; tổ chức và cá nhân nhằm mục đích đa dạng hóa nguồn đầu tư tài chính cho hoạt động KH&CN
Sau khi Luật Khoa học và Công nghệ (sửa đổi) năm 2013 được ban hành, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 08/2014/NĐ-CP ngày 27/01/2014 Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Khoa học và Công nghệ và một số Nghị định khác liên quan đến hoạt động khoa học và công nghệ, trong đó có Nghị định số 23/2014/NĐ-CP ngày 03/4/2014 của Chính phủ về Điều lệ tổ chức và hoạt động của Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia được ban hành thay thế Nghị định số 122/2003/NĐ-CP
Tính đến nay, Việt Nam có 2 quỹ khoa học công nghệ quốc gia gồm: Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia (NAFOSTED), Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia (NATIF) Đối tượng của 2 quỹ này cũng khác nhau Nếu như đối tượng tài trợ của NATIF là các tổ chức, cá nhân và doanh nghiệp thực hiện nghiên cứu, chuyển giao, đổi mới và hoàn thiện công nghệ thì Quỹ NAFOSTED lại dành phần lớn kinh phí nhằm tài trợ cho hoạt động nghiên cứu cơ bản
2.1.Giới thiệu về Quỹ phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia
Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia (National Foundation for Science and Technology development) được thành lập theo Nghị định
Trang 30định là điều lệ về tổ chức và hoạt động của Quỹ Quỹ hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, có chức năng tài trợ, cho vay để thực hiện nhiệm vụ khoa học
và công nghệ do các tổ chức, cá nhân tự đề xuất Quỹ chính thức đi vào hoạt động từ tháng 02/2008 và bắt đầu hoạt động tài trợ từ tháng 11/2009
Ngay từ khi đi vào hoạt động, Quỹ đã tập trung xây dựng hệ thống các quy định về tổ chức và hoạt động, đổi mới phương thức quản lý hoạt động khoa học nhằm nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học cơ bản của Việt Nam Cơ chế quản lý của Quỹ đã có những tác động tích cực đối với việc nâng cao chất lượng nghiên cứu và xây dựng đội ngũ các nhà khoa học đạt trình độ quốc tế, góp phần thúc đẩy hoạt động nghiên cứu ở các tổ chức KH&CN Phương thức tài trợ hướng tới các chuẩn mực quốc tế, bình đẳng trong việc đánh giá tài trợ cũng góp phần tích cực trong việc hỗ trợ các nhà khoa học bắt đầu sự nghiệp nghiên cứu, thu hút đội ngũ cán bộ nghiên cứu trẻ, tốt nghiệp tiến sỹ ở nước ngoài trở về làm việc tại các viện nghiên cứu, trường đại học trong nước
Định hướng hoạt động
Xây dựng chính sách khuyến khích nâng cao chất lượng nghiên cứu, tăng cường chất lượng đánh giá, xác định các định hướng phát triển KH&CN phù hợp Tăng cường các hoạt động hỗ trợ nghiên cứu khoa học Hỗ trợ các tạp chí chuyên ngành quốc gia hướng tới chuẩn mực quốc tế, hỗ trợ công bố công trình khoa học Thúc đẩy hợp tác trong nước và quốc tế trong nghiên cứu KH&CN Ưu tiên đơn giản hóa thủ tục, chế độ tài chính, trả công lao động khoa học phù hợp, trọng dụng các nhà khoa học xuất sắc Thu hút các nguồn vốn đầu tư cho KH&CN Hỗ trợ các nhà nghiên cứu trẻ, trọng dụng các nhà khoa học xuất sắc Thúc đẩy sự hình thành các tập thể nghiên cứu mạnh có năng lực nghiên cứu ở trình độ quốc tế Xây dựng cơ chế chính sách
Trang 31và tổ chức thực hiện các chương trình, nhiệm vụ KH&CN phù hợp yêu cầu thực tiễn, tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội
Các lĩnh vực tài trợ
Chương trình nghiên cứu cơ bản trong khoa học tự nhiên là một trong
số những trọng tâm của NAFOSTED, chiếm khoảng 60% nguồn kinh phí tài trợ của Quỹ trong thời gian qua Bắt đầu được Quỹ triển khai từ năm 2009, để triển khai hoạt động này, Quỹ đã ban hành Quyết định số 03/QĐ-HĐQL ngày 24/12/2008 về Quy định việc tổ chức thực hiện đề tài nghiên cứu cơ bản trong khoa học tự nhiên, theo đó, phạm vi và đối tượng tài trợ như sau:
Phạm vi tài trợ:
Quỹ tài trợ các nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản và một số hoạtđộng liên quan trực tiếp đến nghiên cứu cơ bản thuộc các ngành khoa học: toán học, khoa học vật ký và thiên văn, hóa học, tin học, cơ học, khoa học sự sống và khoa học trái đất và các ngành khoa học liên ngành do tổ chức KH&CN, cá nhân nhà khoa học đề xuất
Đối tượng tài trợ:
o Tổ chức KH&CN có chức năng nghiên cứu cơ bản, cá nhân nhà khoa học là công dân Việt Nam tham gia nghiên cứu cơ bản trong các lĩnh vực khoa học trong phạm vi tài trợ
o Tổ chức KH&CN, nhà khoa học nước ngoài tham gia hợp tác nghiên cứu với tổ chức, cá nhân nhà khoa học Việt Nam
Hằng năm, Quỹ công bố các hướng nghiên cứu cơ bản trong các ngành khoa học được Quỹ tài trợ và hướng dẫn về điều kiện, thủ tục có liên quan trên các phương tiện thông tin đại chúng (trang thông tin điện tử của Quỹ và
Trang 32của Bộ Khoa học và Công nghệ; báo Khoa học và Phát triển và các phương tiện thông tin khác)
Hình 2.1 Lĩnh vực tài trợ của NAFOSTED
Một số điểm nổi bật trong hoạt động của NAFOSTED trong thời gian qua có thể thấy như:
- Đóng góp trong việc xây dựng chuẩn mực nghiên cứu khoa học, tiếp cận trình độ quốc tế thông qua tiêu chí lựa chọn thành viên hội đồng khoa học, các tiêu chí đánh giá hồ sơ nghiên cứu khoa học và đặc biệt là các tiêu chuẩn về công bố quốc tế đối với tạp chí khoa học quốc tế được xếp hạng của Quỹ đối với đề tài NCCB trong KHTN đã được chấp nhận và dần được sử dụng như một tiêu chí chất lượng trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu khoa học
Các lĩnh vực tài trợ
Chương trình nghiên cứu cơ bản
NCCB trong KHTN
NCCB trong KHXH Nhiệm vụ đột xuất
phát sinh, đề tài triển vọng
Hợp tác quốc tế
Nâng cao năng lực KH&CN
Chương trình vay vốn
Hỗ trợ doanh nghiệp
Trang 33- Nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của Việt Nam, phát triển lực lượng nghiên cứu khoa học, đặc biệt là đội ngũ cán bộ trẻ
- Đổi mới cơ chế vận hành và cơ chế tài chính Phương thức tổ chức thực hiện các nhiệm vụ KH&CN của Quỹ rút ngắn việc bắt đầu thực hiện các
ý tưởng nghiên cứu, đẩy nhanh quá trình cấp phát kinh phí, tăng hiệu quả đầu
tư, đơn giản hóa thủ tục thanh toán, tạo động lực tích cực cho các nhà khoa học
Để có thể có cái nhìn rõ hơn về hiệu quả nguồn kinh phí do Quỹ NAFOSTED đầu tư, ta có thể so sánh với tổng kinh phí sự nghiệp khoa học
và công nghệ của cả nước nói chung và nguồn của Trung ương nói riêng
Bảng 2.1 So sánh tỉ trọng đầu tư cho hoạt động KH&CN của Quỹ
NAFOSTED với Trung ương và địa phương trong tổng kinh phí SNKH
dung chi
kinh phí 3năm (2011-
2013)
Kinh phí (Tỉ đồng)
Tỉ
lệ (%)
Kinh phí (Tỉ đồng)
Tỉ
lệ (%)
Kinh phí (Tỉ đồng)
Tỉ lệ (%)
Trang 34tỉ bổ sung cho Quỹ NAFOSTED
43 2036,76 trong đó 250
tỉ bổ sung cho Quỹ NAFOSTED
38 2339,12
trong đó 200
tỉ bổ sung cho Quỹ NAFOSTED
Trang 352.2.Thực trạng hoạt động tài trợ cho nghiên cứu cơ bản trong khoa học
tự nhiên của Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia
Bắt đầu được quỹ triển khai từ năm 2009, để triển khai hoạt động tài trợ nghiên cứu cơ bản trong khoa học tự nhiên, Quỹ đã ban hành Quyết định số 03/QĐ-HĐQL ngày 24/12/2008 về Quy định về việc tổ chức thực hiện đề tài nghiên cứu cơ bản trong khoa học tự nhiên
- Nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học, hướng tới chuẩn mực quốc tế
- Thúc đẩy hợp tác và hội nhập quốc tế trong nghiên cứu khoa học
Phạm vi tài trợ
- Khoa học tự nhiên: Toán học, Khoa học Thông tin và máy tính, Vật lý, Hóa học, Khoa học Trái đất và môi trường, Sinh học và các khoa học tự nhiên
khác
Đối tượng tài trợ
- Tổ chức khoa học và công nghệ của Việt Nam; tổ chức nước ngoài hoạt động tại Việt Nam có chức năng nghiên cứu khoa học; tổ chức nước ngoài tham gia hợp tác nghiên cứu với tổ chức khoa học và công nghệ của Việt Nam
- Cá nhân nhà khoa học là công dân Việt Nam; nhà khoa học nước ngoài tham gia hợp tác nghiên cứu với tổ chức khoa học và công nghệ, cá nhân nhà khoa học Việt Nam
Trang 36 Hội đồng khoa học
Hiện nay, Quỹ có 7 Hội đồng khoa học trong khoa học tự nhiên (Toán học, Tin học, vật lý, hóa học, khoa học trái đất, khoa học sự sống) Các hội đồng khoa học trong lĩnh vực khoa học tự nhiên hoạt động trong nhiệm kỳ 02 năm Quy định về thành viên tham gia hội đồng khoa học như sau:
- Thuộc cơ sở dữ liệu chuyên gia của Quỹ
- Có kết quả nghiên cứu chuyên môn phù hợp được công bố trên tạp chí khoa học có uy tín trong 5 năm gần nhất
- Có điều kiện tham gia công việc tư vấn với trách nhiệm cao, trung thực
và khách quan
- Được các nhà khoa học cùng ngành tín nhiệm giới thiệu
- Có cam kết tham gia và thực hiện các quy định của Quỹ
Hội đồng khoa học có nhiệm kỳ 02 năm nhưng các thành viên của hội đồng khoa học không được quá 03 nhiệm kỳ liên tục
Điều kiện đối với tổ chức, cá nhân thực hiện đề tài và yêu cầu về kết
quả đề tài
- Đối với tổ chức chủ trì đề tài:
a) Các tổ chức khoa học và công nghệ có đăng ký hoạt động khoa học
và công nghệ, có chức năng hoạt động phù hợp với lĩnh vực chuyên môn của
đề tài;
b) Thực hiện đầy đủ trách nhiệm của tổ chức chủ trì đối với các đề tài
đã được Quỹ tài trợ
- Đối với chủ nhiệm đề tài:
Trang 37a) Có chuyên môn phù hợp với nội dung nghiên cứu đề tài, đang làm công tác nghiên cứu tại một tổ chức khoa học và công nghệ Trường hợp chủ nhiệm đề tài không thuộc tổ chức khoa học và công nghệ nào, phải được một
tổ chức khoa học và công nghệ của Việt Nam uy tín trong lĩnh vực chuyên môn phù hợp bảo trợ và chấp nhận làm tổ chức chủ trì;
b) Có năng lực nghiên cứu đáp ứng yêu cầu của đề tài: có học vị tiến sỹ hoặc học hàm phó giáo sư, giáo sư và có kết quả nghiên cứu chuyên ngành phù hợp được công bố trên tạp chí quốc tế có uy tín trong thời gian 05 năm tính đến thời điểm nộp hồ sơ;
c) Có đủ thời gian để hoàn thành nội dung nghiên cứu của đề tài theo quy định Trường hợp chủ nhiệm đề tài đi công tác, làm việc tại nước ngoài, tổng thời gian ở nước ngoài không quá 1/3 thời gian thực hiện đề tài;
d) Không vi phạm các điều kiện đăng ký chủ trì, tham gia đề tài theo quy định
- Thành viên nhóm nghiên cứu đề tài phải có trình độ chuyên môn và
kỹ năng phù hợp với nội dung nghiên cứu của đề tài, bao gồm:
a) Thành viên nghiên cứu chủ chốt, thư ký khoa học: có học vị tiến sỹ hoặc học hàm phó giáo sư, giáo sư và có kết quả nghiên cứu phù hợp được công bố trên các tạp chí quốc gia hoặc quốc tế có uy tín trong 05 năm tính đến thời điểm kết thúc nhận hồ sơ
Trường hợp là thạc sĩ phải có kết quả nghiên cứu phù hợp, có 01 bài báo công bố trên tạp chí quốc tế có uy tín đối với lĩnh vực khoa học tự nhiên
và kỹ thuật; 01 bài báo công bố trên tạp chí quốc tế có uy tín hoặc 02 bài báo công bố trên tạp chí quốc gia có uy tín trong 05 năm tính đến thời điểm kết thúc nhận hồ sơ;