Mục đích nghiên cứu Đề tài nghiên cứu nhằm: 1 Xác định cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu với động từ trải nghiệm trong tiếng Anh và đối chiếu với tiếng Việt để tìm ra điểm tương đồng và
Trang 1KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LẠI THỊ PHƯƠNG THẢO
Trang 2HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM VIỆN NGÔN NGỮ HỘC VIỆN KHOA HỌC XÁC HỘI
VIỆT NAM Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lâm Quang Đông GS.TS Lâm Quang Đông
Phản biện 1: GS.TS Lê Quang Thiêm
Phản biện 2: GS.TS Bùi Minh Toán
Phản biện 3: PGS.TS Phạm Hùng Việt
Luận án được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án cấp Học viện, họp tại Học viện Khoa học xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, 477 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội
Vào hồi giờ ngày tháng năm 201
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Thư viện Học viện Khoa học xã hội
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trải nghiệm là một hiện tượng cơ bản trong cuộc sống của con người Dik [41, tr.115] cho rằng tính trải nghiệm chỉ có thể có được thông qua hoạt động của các giác quan và trí óc con người (hoặc các động vật sống) Tính trải nghiệm trong các phát ngôn cho thấy trạng thái của chủ thể hành động tri nhận, cảm giác, mong muốn, tưởng tượng, hay cái gì đó mà họ đã trải qua Theo Verhoeven [92, tr.1], trải nghiệm là “một khái niệm cơ bản cần được thể hiện ở mọi ngôn ngữ bằng cách này hay cách khác Lĩnh vực trải nghiệm ở đây được hiểu là bao gồm các loại trải nghiệm cụ thể mà liên quan chủ yếu đến việc xử lý các tác nhân kích thích (stimuli) bên trong và bên ngoài bởi hệ thần kinh con người Các lĩnh vực trải nghiệm bao
gồm “cảm giác cơ thể (bodily sensation), tình cảm (emotion), tri nhận (cognition), mong muốn (volition) và tri giác (perception)”
Trong giao tiếp khi muốn diễn đạt ý tưởng hay thông báo một sự tình nào đó bằng ngôn ngữ, người ta cần tuân theo những quy tắc ngữ pháp, sự đúng đắn và phù hợp khi lựa chọn từ vựng để có thể truyền tải được thông điệp một cách đầy chính xác, đầy đủ và phù hợp với ngữ cảnh Trong số lớp từ loại được sử dụng để diễn đạt sự tình trải nghiệm, theo khảo sát của chúng tôi, động từ trải nghiệm được coi là một trong những lớp từ loại quan trọng nhất Động từ trải nghiệm giúp người
ta diễn đạt được những điều tri nhận được qua các giác quan, những biểu hiện tình cảm và mong muốn Động từ trải nghiệm chính là tâm điểm đối với việc mô tả một
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu nhằm: (1) Xác định cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu với
động từ trải nghiệm trong tiếng Anh và đối chiếu với tiếng Việt để tìm ra điểm tương đồng và dị biệt; và (2) Thiết lập được cấu trúc cú pháp của câu với động từ trải nghiệm trong tiếng Anh và đối chiếu với tiếng Việt để tìm ra điểm tương đồng
và dị biệt
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận án tập trung giải quyết những nhiệm vụ sau: (1) Xác lập cơ sở lí luận liên quan đến ngữ pháp chức năng ở bình diện ngữ nghĩa
Trang 4và ngữ pháp, quan niệm về nghĩa biểu hiện, phân loại sự tình với các tham số nghĩa
và vai nghĩa, cấu trúc nghĩa của một sự tình; (2) Xác lập cơ sở lí luận liên quan đến bình diện ngữ pháp như khái niệm thành phần câu, các kiểu cấu tạo ngữ pháp của câu; mối quan hệ giữa hai bình diện ngữ nghĩa và ngữ pháp trong câu Hai nhiệm
vụ trên cung cấp cơ sở lí luận để thực hiện đề tài; (3) Xác định lĩnh vực trải nghiệm, cấu trúc nghĩa của sự tình trải nghiệm, các thành phần tham gia vào sự tình trải nghiệm và đặc điểm ngữ nghĩa của chúng; tiêu chí nhận diện và phân loại các động
từ trải nghiệm trong tiếng Anh và tiếng Việt; cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu với mỗi tiểu lớp động từ trải nghiệm trong tiếng Anh, đối chiếu với tiếng Việt; và (4) Phân tích sự hiện thực hóa các thành tố nghĩa trong cấu trúc nghĩa biểu hiện của sự tình trải nghiệm trong câu, cấu trúc cú pháp của câu với mỗi tiểu lớp động từ trải nghiệm trong tiếng Anh, và đối chiếu với tiếng Việt
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là lớp động từ trải nghiệm trong tiếng Anh và tiếng Việt với bốn tiểu lớp: động từ tri giác, động từ tri nhận, động từ tình cảm, và động từ mong muốn Luận án lấy ngữ liệu tiếng Anh làm gốc, sau đó đối chiếu với tiếng Việt
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Động từ trải nghiệm trong tiếng Anh và tiếng Việt được chia thành nhiều tiểu loại; mỗi tiểu loại lại có một số lượng lớn động từ Do vậy, luận án này không tiến hành nghiên cứu nét nghĩa của từng lớp động từ hay nhóm động từ, mà nghiên cứu mỗi tiểu lớp động từ trải nghiệm trong cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu trên bình diện ngữ nghĩa theo hướng ngữ pháp chức năng Sau đó luận án nghiên cứu mỗi tiểu lớp động từ trải nghiệm trong cấu trúc cú pháp của câu Cụ thể hơn, sau khi nhận diện và phân loại động từ trải nghiệm trong tiếng Anh và tiếng Việt (64 động
từ tri giác tiếng Anh với khoảng 64 động từ tương đương trong tiếng Việt, 98 động
từ tri nhận tiếng Anhvới khoảng 98 động từ tương đương trong tiếng Việt, 98 động
từ tình cảm tiếng Anh với khoảng 98 động từ tương đương trong tiếng Việt, và 41 động từ mong muốn tiếng Anh với khoảng 41 động từ mong muốn tiếng Việt), chúng tôi tiến hành nghiên cứu cấu trúc ngữ nghĩa của câu với lõi sự tình là động từ trải nghiệm – yếu tố quy định các tham thể tham gia vào cấu trúc nghĩa Từ mô hình cấu trúc ngữ nghĩa đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu sự ánh xạ của chúng lên cấu trúc cú pháp của câu
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Xuất phát từ tính chất, đối tượng và mục đích nghiên cứu của luận án, các phương pháp chủ yếu được dùng trong luận án này là: phương pháp so sánh-đối chiếu và phương pháp phân tích-miêu tả Ngoài ra, chúng tôi còn dùng một số thủ
pháp như: thống kê, mô hình hóa, đối lập và loại suy, và nội quan
Trang 55 Đóng góp mới về khoa học của luận án
Thứ nhất, luận án có thể được coi là công trình đầu tiên ở Việt Nam nghiên
cứu các động từ trải nghiệm trong tiếng Anh, đối chiếu với tiếng Việt theo cách tiếp cận của ngữ pháp chức năng
Thứ hai, luận án thiết lập được khung lí luận trong việc đối chiếu động từ trải
nghiệm trong tiếng Anh và tiếng Việt, đó là: (i) đưa ra được về khái niệm trải nghiệm, các lĩnh vực trải nghiệm; (ii) phân loại sự tình, sự tình trải nghiệm theo hướng ngữ pháp chức năng; (iii) tìm hiểu cấu trúc của một sự tình trải nghiệm, nhận diện và phân loại các lớp động từ trải nghiệm là lõi sự tình trải nghiệm, miêu
tả đặc điểm của các vai nghĩa tham gia vào sự tình trải nghiệm; (iv) thiết lập, mô tả các cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu với mỗi lớp động từ trải nghiệm trong tiếng Anh, đối chiếu với tiếng Việt; và (v) trên cơ sở các mô hình cấu trúc ngữ nghĩa đó, luận án tìm ra sự ánh xạ của các thành tố tham gia vào cấu trúc nghĩa do động từ là lõi sự tình quy định lên cấu trúc cú pháp của câu với mỗi lớp động từ trải nghiệm trong tiếng Anh, đối chiếu với tiếng Việt để tìm ra nét tương đồng và dị biệt
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Về mặt lý luận, kết quả nghiên cứu của đề tài đã chứng minh hai bình diện
ngữ nghĩa và ngữ pháp trong câu với động từ trải nghiệm tiếng Anh và tiếng Việt một mặt phân giới với nhau nhưng mặt khác lại có mối quan hệ khăng khít, tương tác với nhau Bằng việc nghiên cứu động từ trong sự hành chức của câu trên hai bình diện này, luận án đã góp thêm một tiếng nói khẳng định hướng tiếp cận và nghiên cứu ngôn ngữ theo quan điểm của ngữ pháp chức năng là một hướng tiếp cận và nghiên cứu mới, hứa hẹn những kết quả khả quan Kết quả nghiên cứu này bước đầu đã đem đến cho người đọc một cái nhìn tổng quan có hệ thống hơn về vấn đề động từ trải nghiệm trong tiếng Anh và tiếng Việt trong sự hành chức của câu theo hướng tiếp cận của ngữ pháp chức năng
Về mặt thực tiễn, các kết quả của luận án sẽ là một nguồn tư liệu tham khảo có
ích trong lĩnh vực nghiên cứu ngôn ngữ nói chung và nghiên cứu về động từ nói riêng, trong lĩnh vực giảng dạy tiếng Anh cho người Việt và giảng dạy tiếng Việt
cho người nói tiếng Anh, trong lĩnh vực dịch thuật và biên soạn từ điển
7 Cơ cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Nguồn tư liệu trích dẫn và
Phụ lục, luận án gồm bốn (4) chương được kết cấu như sau: Chương 1 - Tổng quan tình hình nghiên cứu; Chương 2 - Cơ sở lí luận; Chương 3 - Động từ trải nghiệm tiếng Anh và tiếng Việt trong cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu; Chương 4 - Động từ trải
nghiệm tiếng Anh và tiếng Việt trongcấu trúc cú pháp của câu Phần Kết luận của luận
án tổng hợp lại kết quả nghiên cứu dựa vào mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu Phần này cũng nêu ra những điểm còn hạn chế, chưa được giải quyết hết trong luận án và gợi mở hướng nghiên cứu mới Phần cuối cùng của luận án là danh mục các tài liệu tham khảo,
Trang 6nguồn ngữ liệu nghiên cứu và phụ lục về danh sách động từ trải nghiệm trong tiếng Anh và tiếng Việt được nghiên cứu trong luận án
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Động từ trải nghiệm được nghiên cứu theo hướng là một phạm trù từ loại
Theo hướng nghiên cứu này, động từ được nghiên cứu trong sự phân biệt với danh từ, tính từ, trạng từ, v.v Động từ trải nghiệm trong các công trình nghiên cứu
được thể hiện ở một số tiểu lớp với những đặc điểm cơ bản như sau: (a) Động từ tri giác tĩnh, động từ tri nhận tĩnh, động từ chỉ trạng thái cơ thể; (b) Động từ tình cảm, động từ chỉ trạng thái tinh thần/cảm nghĩ; (c) Động từ trải nghiệm là động từ hoạt động tri giác và động từ nối; (d) Một số nhóm động từ cụ thể như annoying (bực mình), attention (chú ý), thinking (suy nghĩ)
Những động từ được nghiên cứu chủ yếu ở các khía cạnh khả năng kết hợp với các từ loại khác, thời thể (đơn và tiếp diễn) Trong tiếng Việt, động từ trải nghiệm được phân loại thành các tiểu loại khác nhau với những tên gọi khác nhau như động từ tình cảm, động từ tri giác, động từ trạng thái tinh thần, động từ cảm nghĩ nói năng, động từ cảm nghĩ, động từ ý chí, động từ chỉ hoạt động của các giác quan Các tiêu chí phân loại cũng đa dạng, như: phân loại theo sự chi phối của các
hư từ phục vụ động từ, dựa trên khả năng kết hợp với các phụ tố và ngữ nghĩa từ vựng, phân chia theo tính chất chi phối của các giác quan
1.2 Động từ trải nghiệm được nghiên cứu theo hướng là một phạm trù chức năng
Theo hướng nghiên cứu động từ là phạm trù chức năng, động từ trải nghiệm là lõi vị ngữ biểu thị cho mỗi sự tình, xoay quanh các động từ là các tham thể tham gia vào sự tình đó Các nhà nghiên cứu đã nghiên cứu động từ trải nghiệm trong sự tình trạng thái sự tình quá trình, sự tình tinh thần hoặc là sự tình trải nghiệm Cho tới nay, động từ trải nghiệm tiếng Việt được nghiên cứu một cách rõ nét nhất ở công trình của Hoàng Văn Vân [30, 88] Tuy nhiên, các tiểu lớp động từ trải nghiệm (hay còn gọi là động từ tinh thần) trong tiếng Việt của Hoàng Văn Vân chỉ
là một trong các nội dung nghiên cứu trong công trình “Ngữ pháp kinh nghiệm của
Cú tiếng Việt: Mô tả theo quan điểm chức năng hệ thống” Việc nghiên cứu sâu
hơn về mô hình ngữ nghĩa, các vai nghĩa, hay là sự ánh xạ mô hình cấu trúc nghĩa lên cấu trúc cú pháp còn bị bỏ ngỏ trong công trình này
Tóm lại, các lớp động từ trải nghiệm chưa được đi sâu phân tích như một công trình nghiên cứu độc lập mà chỉ được đề cập một phần trong các công trình nghiên cứu về ngữ pháp hay lớp động từ khác Do vậy, rất cần phải có một công trình nghiên cứu độc lập về động từ trải nghiệm trong tiếng Anh và tiếng Việt, đặc biệt là nghiên cứu so sánh đối chiếu chúng trong sự hành chức của câu trên bình
Trang 7diện ngữ nghĩa và ngữ pháp theo hướng tiếp cận ngữ pháp chức năng để tìm ra nét tương đồng và dị biệt
CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÍ LUẬN 2.1 Ngữ pháp chức năng với bình diện ngữ nghĩa và ngữ pháp của câu
Có nhiều quan điểm khác nhau về vai trò của nghĩa trong việc phân tích cú pháp Theo Nguyễn Văn Hiệp [14], Ngôn ngữ học miêu tả Mĩ được coi là trường phái không thừa nhận vai trò của nghĩa, trong đó Bloomfield cho rằng nghĩa không thể được nghiên cứu một cách khoa học Một số nhà ngôn ngữ học hàng đầu ở Mĩ còn cho rằng có thể loại bỏ hẳn ngữ nghĩa ra khỏi lĩnh vực ngôn ngữ Những khuynh hướng không thừa nhận hoặc coi nhẹ vai trò của nghĩa trong phân tích và miêu tả cú pháp có thể được gọi chung là cách tiếp cận hình thức (Formal Approach) (tr.13) Hướng tiếp cận chức năng ra đời đã khắc phục những yếu điểm
mà hướng tiếp cận hình thức gặp phải Theo cách tiếp cận này, ngôn ngữ được xem
là một công cụ tương tác xã hội, là một phương tiện giao tiếp Với hướng tiếp cận chức năng, câu không chỉ được nghiên cứu ở phương diện đặc trưng cấu trúc mà còn được chú ý ở cả bình diện ngữ nghĩa và ngữ dụng Ngữ pháp chức năng đã phân định ranh giới rõ ràng ở ba bình diện này nhưng cũng chỉ ra mối quan hệ khăng khít giữa ba bình diện: ngữ nghĩa, ngữ pháp, ngữ dụng Luận án này chọn hướng tiếp cận theo ngữ pháp chức năng để phân tích động từ trải nghiệm trong sự hành chức của câu trên bình diện ngữ nghĩa và bình diện ngữ pháp
2.1.1 Bình diện ngữ nghĩa
2.1.1.1 Nghĩa biểu hiện
Ngữ pháp chức năng đã tập trung nghiên cứu hai thành phần nghĩa của câu: nghĩa biểu hiện (nghĩa miêu tả, nghĩa sự vật, nghĩa mệnh đề, nghĩa quan niệm) và nghĩa tình thái Nghĩa tình thái chính là thành phần nghĩa biểu thị thái độ, quan hệ, cách đánh giá của người nói đối với người nghe hay của người nói với hiện thực được nói trong câu, là thành phần nghĩa không thể thiếu trong câu Tuy nhiên, trong một câu nói, một thành phần nghĩa khác cũng được quan tâm thích đáng – đó là nghĩa biểu hiện (mang nội dung thông báo của câu) Đây chính là một trong các đối tượng khảo sát của luận án này Câu là đơn vị nhỏ nhất có thể sử dụng vào việc giao tiếp Khi nói ra một câu, người nói muốn truyền đạt một ý tưởng, một sự vật,
sự việc, hay một sự tình nào đó đang diễn ra trong thực tế khách quan Lõi của sự
tình/sự việc chính là nghĩa biểu hiện của câu Như vậy, có thể khẳng định là nghĩa biểu hiện của câu chính là thành phần nghĩa phản ánh một sự tình nào đó của hiện thực, là hình ảnh của những sự tình trong thực tế khách quan được con người phản
ánh vào trong câu nói [1, tr.41] Việc phân loại nghĩa biểu hiện cũng chính là phân loại các sự tình
2.1.1.2 Phân loại sự tình
Trang 8Nhìn chung các nhà ngôn ngữ tập trung vào phân loại các kiểu sự tình dựa trên hai tiêu chí: (i) tham số ngữ nghĩa và (ii) số lượng và loại tham thể do từ loại chi phối, chủ yếu là động từ
Phân loại sự tình dựa trên tham số ngữ nghĩa
Dựa trên những tham số ngữ nghĩa (semantic parameters), nhiều tác giả đã phân chia sự tình thành các tiểu loại khác nhau Những tham số phổ biến được bàn luận nhiều nhất là: [±dynamic] (động), [±telic] (hữu kết), [± momentaneous] (nhất thời), [±control] (kiểm soát), [±experience] (trải nghiệm) (Dik [42, tr.106-117]) Rothtein [82, tr.12] đề xuất thêm tính [± stages] ([±giai đoạn]) Dựa vào tham số ngữ nghĩa, sự tình trong tiếng Anh được phân chia thành các tiểu loại với những đặc trưng ngữ nghĩa sau đây:
Kiểu sự tình ±Stati
c (Tĩnh)
±Dynamic (Động)
± Telic (Hữu kết)
± Instantaneous (Nhất thời)
±Controlled (Kiểm soát)
±Stag
es (Giai đoạn)
Bảng 2: Bảng tổng kết các sự tình và tham số nghĩa của chúng
Trong tiếng Việt, dựa vào đặc trưng [±động], [± chủ ý], và [± nội tại], Cao Xuân Hạo (chủ biên) [11,12] đã chia sự tình thành ba loại: sự tình biến cố (gồm sự tình hành động và sự tình quá trình), sự tình tồn tại, và sự tình tình hình (gồm sự tình trạng thái và sự tình quan hệ) Ứng với mỗi sự tình là các tham tố tham gia vào các sự tình ấy Nguyễn Thị Quy [21] đã áp dụng tiêu chí phân loại tính [± động] và [± chủ ý] của Dik (1978) vào việc phân chia sự tình tiếng Việt, và đã phân sự tình của tiếng Việt thành bốn loại sau: (1) Các vị từ hành động [+ động, + chủ ý]; (2) Các vị từ tư thế [ động, + chủ ý]; (3) Các vị từ quá trình [+ động, chủ ý]; (4) Các
vị từ trạng thái [ động, chủ ý]
Phân loại sự tình dựa trên số loại vai nghĩa
Một cách phân loại sự tình phổ biến thứ hai là dựa trên số lượng tham thể (participants) và vai tham thể Mỗi tác giả lại phân loại sự tình thành các tiểu loại khác nhau, nhưng nhìn chung có những tiểu loại sau: sự tình vật chất (hành động),
sự tình tinh thần (sự tình trải nghiệm hay cảm giác), sự tình quan hệ, sự tình nói năng, sự tình tồn tại, và sự tình ứng xử Sự tình trải nghiệm còn được phân loại thành các tiểu loại: tri giác, tri nhận, tình cảm, và mong muốn
2.1.1.3 Cấu trúc nghĩa của sự tình
Trang 9Một sự tình thường gồm các thành phần: lõi sự tình và các vai nghĩa (bắt buộc
và tùy nghi)
(a) Lõi sự tình: thường được biểu thị bằng các từ loại: động từ, danh từ, tính
từ, trạng từ, v.v Lõi sự tình sẽ quy định sự có mặt hay vắng mặt của các vai nghĩa
(b) Vai nghĩa: Trong công trình nghiên cứu ngôn ngữ, vai nghĩa được nhắc
tới với nhiều tên gọi khác nhau như vai chức năng, quan hệ nghĩa, vai tham thể, cách sâu, cách ngữ nghĩa, vai ngữ nghĩa Cho dù được bàn luận theo cách này hay cách khác, theo khảo sát của chúng tôi, vai nghĩa được bàn đến với hai loại phổ
biến: vai diễn tố và vai phi diễn tố Vai diễn tố là những vai của những tham thể bắt
buộc tham gia vào cấu trúc nghĩa biểu hiện của sự tình, do lõi sự tình quy định Theo quan điểm của nhiều nhà ngữ pháp chức năng, mỗi một kiểu loại sự tình lại
thường có những vai nghĩa bắt buộc có mặt Vai phi diễn tố là vai của các tham thể
tùy nghi, do ngữ cảnh quy định Chúng thường trả lời cho các câu hỏi: Tại sao? Ở đâu? Khi nào? Như thế nào? Vai phi diễn tố còn được gọi là vai chu tố (circumstantial roles hay circumstant), bao gồm Location/Locative (Địa điểm hay
Vị trí), Reason (Lý do), Purpose (Mục đích), Manner (Cách thức), Path (Lộ trình)
và Time (Thời gian)
2.1.2 Bình diện ngữ pháp
Bình diện ngữ pháp xuất phát từ từ bình diện kết học của tín hiệu – bình diện nghiên cứu mối quan hệ giữa tín hiệu với tín hiệu [1, tr.64] Bình diện này xem các mối quan hệ ngữ pháp giữa các đơn vị ngữ pháp trong câu; hay nói cách khác những vấn đề được tập trung nghiên cứu là các chức vụ cú pháp của các yếu tố ngôn ngữ làm thành các cấu trúc cú pháp của câu và các kiểu cấu tạo ngữ pháp của câu
Ngữ pháp truyền thống xem câu là đơn vị cấu trúc lớn nhất trong tổ chức ngữ pháp của một ngôn ngữ, do vậy cấu trúc cú pháp của câu được các nhà ngữ pháp truyền thống nghiên cứu rất kỹ Theo đó, các chức năng cú pháp của câu như chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ, tân ngữ, trạng ngữ, v.v được tập trung làm rõ Kể từ khi ngữ pháp chức năng ra đời, cấu trúc cú pháp của câu vẫn được nghiên cứu nhưng ít được ưu tiên hơn so với cấu trúc nghĩa của câu Lúc này, cấu trúc cú pháp được hiểu là cấu trúc của câu xét ở bình diện ngữ pháp Tuy nhiên, trên thực tế cấu trúc cú pháp không tách rời nhau cấu trúc nghĩa mà có sự tương hỗ cho nhau để làm tốt chức năng làm công cụ giao tiếp của con người Theo Lê Thị Lan Anh [1, tr.65], cấu trúc cú pháp bao gồm những chức vụ cú pháp nhất định trong câu được biểu hiện ra bằng những từ ngữ cụ thể có quan hệ cấu trúc trực tiếp với nhau làm thành câu
2.1.2.1 Khái niệm thành phần câu
Khái niệm thành phần câu được nhiều nhà ngữ pháp đề xuất Theo Diệp Quang Ban [2, tr.93], “thành phần câu là những chức vụ cú pháp mà những thực từ đảm nhiệm trong mối quan hệ cấu trúc với những thực từ khác nhau” Nguyễn Văn Hiệp [13, tr.127] khẳng định: “Thành phần câu là những thành phần chức năng”
Trong công trình Câu quan hệ tiếng Việt dưới góc nhìn của ngữ pháp chức năng,
Trang 10Lê Thị Lan Anh [1, tr.66] đã đưa ra một định nghĩa thống nhất trên cơ sở nghiên cứu khái niệm khác nhau về thành phần câu: Thành phần câu chính là thành phần chức năng của câu (phân biệt với thành phần chức năng của từ) Xuất hiện trong câu, mỗi thành phần câu sẽ đảm nhận một chức năng nhất định và có mối quan hệ với những thành phần câu khác
Như vậy cho dù được định nghĩa theo cách này hay cách khác, thành phần câu chính là những chức vụ cú pháp mà chúng đảm nhiệm trong câu và có mối quan hệ với nhau trong câu Chức vụ cú pháp này có thể là: chủ ngữ, vị ngữ, tân ngữ, bổ ngữ, trạng ngữ, v.v
2.1.2.2 Về các kiểu cấu tạo ngữ pháp của câu
Ngoài vấn đề xem xét cấu trúc cú pháp của câu với các thành phần câu –vấn
đề luận án tập trung làm rõ – còn một vấn đề quan trọng nữa là các kiểu cấu tạo ngữ pháp của câu, hay là các kiểu câu Trong ngữ pháp truyền thống, kể cả tiếng Anh và tiếng Việt, các kiểu cấu tạo ngữ pháp cơ bản của câu chủ yếu được dựa trên cấu trúc cơ sơ của câu (nòng cốt câu: Chủ ngữ – Vị ngữ) Theo đó, câu đơn là câu
có một nòng cốt, còn câu phức là câu có ít nhất hai nòng cốt Câu đơn lại có thể được chia thành câu đơn bình thường và câu đơn đặc biệt Câu phức lại có thể phân biệt thành câu phức liên hợp và câu phức chính phụ [1, tr.76]
Theo hướng nghiên cứu của ngữ pháp chức năng, các nhà nghiên cứu lại có
xu hướng đặt kiểu cấu tạo cú pháp của câu trong mối quan hệ với bình diện nghĩa,
theo đó cơ sở cấu tạo cú pháp của câu được xác định dựa trên kết cấu: vị ngữ và những yếu tố xoay quanh vị ngữ (trước và sau) để diễn đạt một sự tình Do vậy, câu đơn được quan niệm là câu chỉ có một kết cấu vị ngữ với những yếu tố xung quanh nó; câu phức là câu có từ hai kết cấu vị ngữ và những yếu tố xoay quanh nó trở lên
và diễn đạt hơn một sự tình
2.2 Mối quan hệ giữa bình diện ngữ nghĩa và ngữ pháp trong câu
Ngữ pháp chức năng là ngữ pháp hướng tới sự tương thích với nghĩa học Vì vậy, cả trong tiếng Anh và tiếng Việt, khi nhận diện và miêu tả thành phần câu trên bình diện ngữ pháp, không thể không quan tâm đến quan hệ giữa thành phần câu với các yếu tố thuộc bình diện ngữ nghĩa Nói cách khác, có mối quan hệ chặt chẽ giữa thành phần câu (thuộc bình diện ngữ pháp) với các vai nghĩa (thuộc bình diện ngữ nghĩa)
2.3 Tiểu kết
Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về động từ nhưng chúng tôi nhận thấy rằng trong tiếng Anh và tiếng Việt lớp động từ trải nghiệm không được nghiên cứu một cách độc lập mà chúng được đề cập trong những công trình nghiên cứu về ngữ pháp-từ vựng nói chung, hoặc là chỉ được nghiên cứu ở một tiểu lớp động từ trải nghiệm cụ thể nào đó Vì vậy, rất cần thiết phải có một công trình nghiên cứu độc lập và tổng thể về lớp động từ này trong tiếng Anh và tiếng Việt Trong lịch sử nghiên cứu, vai trò của nghĩa được chú trọng ở các mức độ khác nhau theo ở các
Trang 11hướng tiếp cận: hướng tiếp cận hình thức (tiêu biểu là trường phái miêu tả Mĩ, Ngữ pháp tạo sinh, Lý thuyết Chi phối và Ràng buộc, hướng tiếp cận Tối thiểu luận), hướng tiếp cận chức năng, và hướng tiếp cận của ngôn ngữ học tri nhận Trong luận án này chúng tôi chọn hướng tiếp cận thứ hai làm cơ sở lí luận chủ yếu để đi sâu vào phân tích cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu với động từ trải nghiệm trong tiếng Anh và đối chiếu với tiếng Việt trên bình diện ngữ nghĩa Từ đó, luận án xem xét cấu trúc cú pháp của câu với động từ trải nghiệm trong tiếng Anh và đối chiếu với tiếng Việt trên bình diện ngữ pháp
CHƯƠNG 3 ĐỘNG TỪ TRẢI NGHIỆM TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT TRONG CẤU TRÚC NGHĨA BIỂU HIỆN CỦA CÂU 3.1 Quan niệm về sự tình trải nghiệm
Lĩnh vực trải nghiệm được bàn luận ở nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ Mặc
dù mỗi nhà nghiên cứu bàn luận đến những lĩnh vực trải nghiệm khác nhau theo cách khác nhau, theo khảo sát của chúng tôi, lĩnh vực trải nghiệm chính là lĩnh vực
liên quan đến là sự tình tinh thần, biểu thị khả năng tri nhận giác quan, cảm nhận
và cảm giác cơ thể, quá trình tinh thần, cũng như là phản ứng tình cảm Nói cách khác, lĩnh vực trải nghiệm bao gồm: cảm giác cơ thể (bodily sensation), tình cảm (emotion), tri nhận (cognition), mong muốn (volition) và tri giác (perception) Tuy
nhiên, trong khuôn khổ của luận án, chúng tôi bàn luận đến bốn lĩnh vực trải
nghiệm: tình cảm, tri nhận, tri giác và mong muốn Việc phân loại lĩnh vực trải
nghiệm cũng chính là phân loại sự tình trải nghiệm
3.2 Quan niệm và phân loại động từ trải nghiệm
3.2.1 Quan niệm về động từ trải nghiệm
Động từ trải nghiệm chính là động từ tinh thần (mental verbs) trong sự tình tinh thần (sự tình trải nghiệm) Về mặt ngữ nghĩa, động từ trải nghiệm điển hình có tính [+tĩnh] Về mặt ngữ pháp, động từ trải nghiệm chỉ sử dụng được với thể đơn, không thể sử dụng với thể tiếp diễn Có thể mô hình hóa đặc điểm của động từ trải nghiệm như sau:
Động từ tinh thần điển hình trải nghiệm (experiential)
[+ tĩnh ] (static)
Từ đây, động từ trải nghiệm điển hình được nhận diện theo các quy tắc sau: (i) Động từ trải nghiệm nằm trong sự tình tinh thần; (ii) Động từ trải nghiệm được phân loại theo các tiểu loại của sự tình tinh thần; (iii) Động từ trải nghiệm điển hình
có tính [+tĩnh] Tuy nhiên, có một số động từ trải nghiệm có cả tính [+động] Có
thể liệt kê một số động từ động từ tri giác: look at (nhìn), listen to (lắng nghe); một
số động từ tri nhận: think about (nghĩ về), wonder (phân vân), consider (xem xét,
cân nhắc), v.v
Trang 12Như vậy, động từ trải nghiệm chính là lõi của sự tình trải nghiệm (hay là sự tình tinh thần), được chia thành bốn nhóm chính: (1) động từ tri giác, (2) động từ tri nhận, (3) động từ tình cảm, và (4) động từ mong muốn
3.2.2 Phân loại động từ trải nghiệm
3.2.2.1 Động từ tri giác
Động từ tri giác tĩnh tiêu biểu là see (nhìn thấy), hear (nghe thấy), overhear (nghe lỏm), feel (cảm thấy), taste (nếm thấy), smell (ngửi thấy), sniff (đánh hơi thấy), notice (để ý, chú ý, thấy), v.v Một số nhóm động từ tri giác còn mang tính động, tức là có thể sử dụng với thể tiếp diễn (progressive aspect) như watch (xem), look at (nhìn), feel (sờ, mó), taste (nếm), behold (nhìn), stare at (nhìn chằm chằm), v.v Như vậy, động từ tri giác điển hình được nhận diện trong luận án có tính
[+tĩnh], nhưng có cả những động từ tri giác có tính [+động]
3.2.2.2 Động từ tri nhận
Động từ tri nhận điển có tính [+tĩnh] như think (nghĩ, tưởng), believe (tin, tin tưởng), suppose (cho rằng), assume (giả sử,cho rằng, thừa nhận), guess (đoán), feel (cảm nghĩ là, cho là), mean (có nghĩa, ý muốn nói), know (biết), learn (học được, nắm được, được biết), doubt (nghi ngờ), wonder (phân vân, muốn biết, tự hỏi), hypothesize (giả định), remember (nhớ), forget (quên), v.v Một số động từ tri nhận có cả đặc điểm [+động] như think about/of (nghĩ về), wonder (phân vân), consider (xem xét, cân nhắc)
3.2.2.3 Động từ tình cảm
Lớp động từ tình cảm là hiện thực hóa sự tình trải nghiệm tình cảm, gồm
những tiểu loại: thích (liking), yêu (loving), ngưỡng mộ (admiring), nhớ (missing),
sợ hãi (fearing) và ghét (hating) Động từ tình cảm điển hình trong tiếng Anh và tương đương trong tiếng Việt như like (thích), love (yêu), enjoy (thích), prefer (thích), adore (say mê), admire (ngưỡng mộ), rejoice (vui mừng), exult (hoan hỉ); dislike (ghét), v.v Theo Halliday & Matthiessen [55, tr.210], những động từ trên
thuộc nhóm “like” (thích) Những động từ tình cảm sau đây thuộc nhóm “please”
(làm hài lòng): allure (quyến rũ, lôi cuốn), attract (thu hút), please (làm hài lòng), displease (làm phật lòng), disgust (làm ghê tởm, làm căm phẫn), offend (làm tổn thương, làm bực mình), v.v (Halliday & Matthiessen [55, tr.210])
3.2.2.4 Động từ mong muốn
Những động từ điển hình là: want (muốn), wish (ước muốn), would like (muốn), desire (muốn, khao khát), need (cần), hope (for) (hi vọng), long for (mong đợi), yearn for (mong mỏi), plan (dự định, lập kế hoạch), choose (lựa chọn), decide (quyết định), v.v Đặc điểm ngữ nghĩa điển hình của lớp động từ này là [+tĩnh]; một
số có tính [+động] như long for (mong đợi), plan (dự định, lập kế hoạch), v.v
3.3 Đặc điểm ngữ nghĩa của sự tình trải nghiệm
3.3.1 Cấu trúc nghĩa của sự tình trải nghiệm
Trang 13Việc miêu tả cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu với động từ trải nghiệm trong tiếng Anh và tiếng Việt cũng chính là miêu tả cấu trúc của sự tình trải nghiệm, trong đó động từ trải nghiệm chính là lõi sự tình, xoay quanh nó chính là các vai nghĩa Một sự tình trải nghiệm điển hình thường gồm các phần sau: (i) Lõi sự tình trải nghiệm và (ii) vai diễn tố
Về mặt từ ngữ biểu thị, lõi sự tình trải nghiệm được cụ thể hóa bằng động từ trải nghiệm như động từ tri giác, tri nhận, tình cảm và mong muốn Đặc điểm ngữ nghĩa điển hình của các động từ này có tính [+tĩnh]
Về mặt hình thức, lõi sự tình trải nghiệm luôn được làm rõ bởi hai vai nghĩa chính: Nghiệm thể và Hiện tượng (hai vai nghĩa này nằm trong một mối quan hệ với lõi sự tình trải nghiệm) Trong đó, lõi sự tình trải nghiệm đóng vai trò là yếu tố trung tâm, chi phối và ấn định hai vai nghĩa Ngược lại, sự xuất hiện của hai vai nghĩa này sẽ bổ sung và làm rõ nghĩa cho lõi sự tình trải nghiệm
3.3.2 Vai nghĩa Nghiệm thể
Tùy vào các kiểu sự tình cụ thể, vai nghĩa Nghiệm thể được cụ thể hóa bằng những vai cụ thể như: Perceiver (Nghiệm thể tri giác), Cognizer (Nghiệm thể tri nhận), Emoter (Nghiệm thể tình cảm), Wanter (Nghiệm thể mong muốn) Vai nghĩa Nghiệm thể điển hình có tính [+động vật], thường là [+con người] và được ban cho [+ý thức] thường là vai thứ nhất trong cấu trúc ngữ nghĩa
3.3.3 Vai nghĩa Hiện tượng
Quan niệm về vai nghĩa Hiện tượng được thể hiện cụ thể và chi tiết hơn cả là của nhiều nhà ngữ pháp chức năng, theo đó vai nghĩa Hiện tượng được phân biệt với các tiểu loại: Hiện tượng (đơn), Đại hiện tượng, Siêu hiện tượng Vai nghĩa Hiện tượng đơn biểu thị một sự vật (a thing); vai nghĩa Đại hiện tượng là một hành động (an act) hay sự kiện (an event); vai nghĩa Siêu hiện tượng biểu thị một sự thật hay thực tế (a fact) Xét về thuộc tính vai nghĩa (role properties) của vai nghĩa Hiện tượng, thuộc tính [chịu ảnh hưởng] là điển hình trong các kiểu loại sự tình mà nó xuất hiện
3.4 Cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu với động từ trải nghiệm trong tiếng Anh và tiếng Việt
3.4.1 Cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu với lớp động từ tri giác
Trong tiếng Anh và tiếng Việt, cấu trúc nghĩa biểu hiện chung của lớp động từ tri giác ở thể chủ động như sau: Perceiver+ SoA core: Perception verbs: active + Phenomenon (Nghiệm thể tri giác + Lõi sự tình: Động từ tri giác:chủ động + Hiện tượng/Đại hiện tượng/Siêu hiện tượng) Ở thể bị động, trong tiếng Anh, cấu trúc ngữ nghĩa của câu do động từ tri giác quy định có dạng cơ bản: Phenomenon (P) +
Perception process: Perception verbs: passive ± by Experiencer (Hiện tượng + Động từ tri giác:bị động ± by Nghiệm thể); trong tiếng Việt, cấu trúc này tương đương: Hiện tượng + được/bị/do + Nghiệm thể + Lõi sự tình: Động từ tri giác.Từ