1. Lý do, mục đích chọn đề tài: 1. Đổi mới, cách tân là quy luật, là nhu cầu tất yếu của sáng tạo nghệ thuật, trong đó có thơ. Thơ Việt Nam từ sau 1975 đặc biệt từ sau 1986 đến nay đã có sự đổi mới cơ bản theo nhiều xu hướng khác nhau: Có xu hướng trở về với nền thơ truyền thống; có xu hướng đi tìm cái mới trên cơ sở tiếp thu những lý thuyết mới; có xu hướng tìm tòi, cách tân đổi mới trên cơ sở truyền thống thơ dân tộc kết hợp một cách khoa học sáng tạo truyền thống và hiện đại. Hữu Thỉnh là một cây bút tiêu biểu của xu hướng này. 2. Là nhà thơ trưởng thành trong giai đoạn thơ chống Mỹ, Hữu Thỉnh sớm khẳng định được vị trí và phong cách sáng tạo độc đáo. Sau 1975 Hữu Thỉnh tiếp tục sáng tâc và ngày càng khẳng định được vị thế riêng qua nhiều giải thưởng cao quý, đặc biệt tạo được sự mến mộ thường trực của nhiều thế hệ độc giả. Có thể nói, truyền thống và cách tân thực sự là hai giá trị thẩm thấu, hội tụ trong thơ Hữu Thỉnh tạo nên cảm quan nghệ thuật và giá trị riêng của thơ ông. 3. Hữu Thỉnh sáng tác không nhiều nhưng thơ ông luôn tạo được sự quan tâm đặc biệt của công chúng và giới nghiên cứu, phê bình. Số lượng bài viết về thơ Hữu Thỉnh khá nhiều trong đó cũng có một số ý kiến quan tâm đến tính dân tộc và tính hiện đại, truyền thống và cách tân trong thơ ông. Tuy nhiên đó mới chỉ là những ý kiến lẻ tẻ, đan xen trong các bài viết về từng tập thơ, từng tập trường ca và thơ chung của ông. Thực tế, cho đến nay chưa có công trình nào đi sâu, nghiên cứu riêng về tính truyền thống và hiện đại trong thơ Hữu Thỉnh. Bởi vậy chúng tôi chọn đi sâu nghiên cứu về Truyền thống và cách tân trong thơ Hữu Thỉnh với hy vọng góp phần nhận diện đánh giá những nét đặc sắc của thơ Hữu Thỉnh và những đóng góp đáng trân trọng của ông đối với sự phát triển của nền thơ Việt Nam hiện đại. Từ đó, đúc rút được những bài học kinh nghiệm thẩm mỹ quý báu cho việc tìm tòi, đổi mới thơ. 2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu: Hữu Thỉnh là cây bút luôn thu hút được sự mến mộ, quan tâm của các nhà nghiên cứu phê bình và đông đảo công chúng. Đến nay số bài viết, công trình nghiên cứu về thơ Hữu Thỉnh khá nhiều. Trong giới hạn của luận văn, chúng tôi tập trung khảo sát những công trình, bài viết về thơ Hữu Thỉnh trên hai phương diện chính: Đánh giá chung về thơ Hữu Thỉnh và tính truyền thống, hiện đại trong thơ Hữu Thỉnh.
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do, mục đích chọn đề tài:
1 Đổi mới, cách tân là quy luật, là nhu cầu tất yếu của sáng tạo nghệ thuật, trong đó có thơ Thơ Việt Nam từ sau 1975 đặc biệt từ sau 1986 đến nay đã có sự đổi mới cơ bản theo nhiều xu hướng khác nhau: Có xu hướng trở về với nền thơ truyền thống; có xu hướng đi tìm cái mới trên cơ
sở tiếp thu những lý thuyết mới; có xu hướng tìm tòi, cách tân đổi mới trên cơ sở truyền thống thơ dân tộc kết hợp một cách khoa học sáng tạo truyền thống và hiện đại Hữu Thỉnh là một cây bút tiêu biểu của xu hướng này
2 Là nhà thơ trưởng thành trong giai đoạn thơ chống Mỹ, Hữu Thỉnh sớm khẳng định được
vị trí và phong cách sáng tạo độc đáo Sau 1975 Hữu Thỉnh tiếp tục sáng tâc và ngày càng khẳng định được vị thế riêng qua nhiều giải thưởng cao quý, đặc biệt tạo được sự mến mộ thường trực của nhiều thế hệ độc giả Có thể nói, truyền thống và cách tân thực sự là hai giá trị thẩm thấu, hội tụ trong thơ Hữu Thỉnh tạo nên cảm quan nghệ thuật và giá trị riêng của thơ ông
3 Hữu Thỉnh sáng tác không nhiều nhưng thơ ông luôn tạo được sự quan tâm đặc biệt của công chúng và giới nghiên cứu, phê bình Số lượng bài viết về thơ Hữu Thỉnh khá nhiều trong đó cũng có một số ý kiến quan tâm đến tính dân tộc và tính hiện đại, truyền thống và cách tân trong thơ ông Tuy nhiên đó mới chỉ là những ý kiến lẻ tẻ, đan xen trong các bài viết về từng tập thơ, từng tập trường ca và thơ chung của ông Thực tế, cho đến nay chưa có công trình nào đi sâu, nghiên cứu riêng về tính truyền thống và hiện đại trong thơ Hữu Thỉnh Bởi vậy chúng tôi chọn đi sâu nghiên
cứu về Truyền thống và cách tân trong thơ Hữu Thỉnh với hy vọng góp phần nhận diện đánh giá
những nét đặc sắc của thơ Hữu Thỉnh và những đóng góp đáng trân trọng của ông đối với sự phát triển của nền thơ Việt Nam hiện đại Từ đó, đúc rút được những bài học kinh nghiệm thẩm mỹ quý báu cho việc tìm tòi, đổi mới thơ
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu:
Hữu Thỉnh là cây bút luôn thu hút được sự mến mộ, quan tâm của các nhà nghiên cứu phê bình và đông đảo công chúng Đến nay số bài viết, công trình nghiên cứu về thơ Hữu Thỉnh khá nhiều Trong giới hạn của luận văn, chúng tôi tập trung khảo sát những công trình, bài viết về thơ Hữu Thỉnh trên hai phương diện chính: Đánh giá chung về thơ Hữu Thỉnh và tính truyền thống, hiện đại trong thơ Hữu Thỉnh
2.1 Đánh giá chung về thơ Hữu Thỉnh
Trang 2Về trường ca: Rất nhiều bài viết của các nhà thơ Xuân Diệu, Tế Hanh, Phạm Tiến Duật, Thanh Thảo, Vũ Quần Phương, Nguyễn Trọng Tạo, Lê Thị Mây, Đỗ Trung Lai và các nhà nghiên cứu phê bình: Thiếu Mai, Trường Lưu, Đào Thái Tôn, Mai Hương đều thống nhất đánh giá cao thành công cả về nội dung và nghệ thuật của trường ca Hữu Thỉnh, đồng thời khẳng định những nét đặc sắc riêng trong phong cách sáng tạo của Hữu Thỉnh ở thể trường ca
Về các tập thơ: Cùng với những bài viết chung về thơ Hữu Thỉnh của Hoài Anh, Nguyễn Đăng Điệp, Lý Hoài Thu, Lưu Khánh Thơ là nhiều bài viết của Tô Hoài, Vũ Nho, Thanh Thảo, Nguyễn Trọng Tạo, Trúc Thông, Đỗ Ngọc Yên, Thiên Sơn, Trần Mạnh Hảo
về các tập thơ Thư mùa đông, Thơ Hữu Thỉnh, Thương lượng với thời gian, Thơ với tuổi thơ
Nhìn chung, các bài viết đều khẳng định những thành công và đóng góp của Hữu Thỉnh ở cả hai chặng thơ viết về chiến tranh và đời sống hậu chiến Một số bài đi sâu vào nghệ thuật thơ Hữu Thỉnh khẳng định những nét đặc sắc trong phong cách thơ Hữu Thỉnh và đóng góp của Hữu Thỉnh ở mỗi chặng sáng tác
2.2 Nghiên cứu về truyền thống và cách tân trong thơ Hữu Thỉnh
Nhìn chung, vấn đề truyền thống và cách tân trong thơ Hữu Thỉnh mới chỉ được kết hợp
đề cập trong một số bài viết chung về thơ Hữu Thỉnh của Lý Hoài Thu, Vũ Nho, Nguyễn Trọng Tạo Cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu trực tiếp, toàn diện, hệ thống về vấn đề này Chính vì vậy chúng tôi chọn đi sâu nghiên cứu về truyền thống và cách tân trong thơ Hữu Thỉnh
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Trên cơ sở khảo sát yếu tố truyền thống và cách tân trong thơ Hữu Thỉnh, luận văn khẳng định hướng tìm tòi, đổi mới thơ của Hữu Thỉnh cùng những đóng góp có ý nghĩa của Hữu Thỉnh đối với thơ Việt Nam hiện đại, vì vậy toàn bộ sáng tác thơ và trường ca của Hữu Thỉnh là đối tượng khảo sát của luận văn, cụ thể các tập thơ và trường ca:
- Âm vang chiến hào, tập thơ, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 1975, (in chung với
Lâm Huy Nhuận)
- Sức bền của đất, trường ca, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 1998.
- Thơ Hữu Thỉnh, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 1998 bao gồm:
Trang 3+ Đường tới thành phố, trường ca + Thư mùa đông, tập thơ
+ Trường ca Biển, trường ca
- Thơ với tuổi hoa, Nxb Kim Đồng, Hà Nội, 2000.
- Thương lượng với thời gian, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 2006.
Bên cạnh đó, để có cơ sở so sánh làm nổi bật những nét đặc sắc riêng trong thơ Hữu Thỉnh, chúng tôi mở rộng khảo sát một số tập thơ và trường ca của các tác giả cùng thời với ông
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
- Phương pháp hệ thống
- Phương pháp so sánh
5 Đóng góp mới của luận văn:
Luận văn đặt và khảo sát thơ Hữu Thỉnh trong tiến trình thơ Việt Nam hiện đại để từ
đó phát hiện, lý giải những thành công của nhà thơ trong việc kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống, những đóng góp tích cực nhằm hiện đại hóa thơ, bước đầu khẳng định giá trị đặc sắc của Hữu Thỉnh trong nỗ lực đổi mới thơ
- Luận văn góp phần đánh giá một phương diện quan trọng trong văn nghiệp của Hữu Thỉnh, từ đó khẳng định được vai trò, đóng góp đáng trân trọng của nhà thơ trong công cuộc sáng tạo và xây dựng nền thơ dân tộc
6 Cấu trúc của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được triển khai trong 3 chương:
Chương 1: Về khái niệm truyền thống – cách tân và Hành trình sáng tạo thơ
của Hữu Thỉnh
Chương 2: Tính truyền thống trong thơ Hữu Thỉnh
Chương 3: Hữu Thỉnh và những nỗ lực cách tân thơ
PHẦN NỘI DUNG Chương 1: Về khái niệm truyền thống – cách tân và Hành trình sáng tạo thơ của Hữu Thỉnh 1.1 Về khái niệm truyền thống – cách tân trong văn học
1.1.1 Về khái niệm truyền thống văn học
1.1.1.1 Truyền thống:
Trang 4Theo Từ điển tiếng Việt (do Hoàng Phê chủ biên) và Sổ tay từ Hán Việt (do Nxb Giáo dục
ấn hành 1990), “truyền thống” được xác định là: Các nhân tố xã hội đặc biệt truyền từ đời này sang đời khác ví như: Truyền thống lịch sử, truyền thống cách mạng, truyền thống văn hóa
1.1.1.2 Truyền thống văn học:
Theo Từ điển thuật ngữ văn học “Truyền thống văn học” là “những thành tựu chung, đặc sắc tương đối bền vững, ổn định trên cả hai phương diện nội dung và hình thức của văn học được lưu chuyển, kế thừa từ thế hệ này sang thế hệ khác trong quá trình văn học Có những truyền thống văn học của một dân tộc hoặc một vùng, một khu vực gồm nhiều dân tộc có quan hệ mật thiết với nhau, có truyền thống văn học của cả nhân loại” [63, 299].
Truyền thống văn học là những giá trị văn học tinh túy của mỗi dân tộc được chắt lọc, kết tinh, gìn giữ trong tiến trình văn học dân tộc Mỗi thời đại, mỗi thế hệ người cầm bút do vậy vừa được tiếp nhận, kế thừa những truyền thống văn học quý báu, đồng thời vừa lại cũng sáng tạo những giá trị “truyền thống” mới góp phần làm giàu có, phong phú truyền thống văn học
1.1.2 Về khái niệm cách tân trong văn học:
1.1.2.1 Cách tân:
Theo Đại từ điển tiếng Việt, cách tân được định nghĩa là “quá trình vận động loại bỏ cái cũ, sáng tạo cái mới như các hành vi hoặc quá trình sáng tạo trong khoa học kỹ thuật, quá trình sáng tạo các sự vật Cách tân là cải cách và càng làm mới thêm tất cả các sự vật, hiện tượng” Trong cả hai cuốn Từ điển văn học và Sổ tay từ Hán Việt, “Cách tân” đều có nghĩa là Đổi mới
1.1.2.2 Cách tân trong văn học:
Trong văn học nói đến cách tân là nói đến sự đổi mói tìm kiễm cái mới, sáng tạo ra cái mới
“Cách tân là lẽ sống” của sáng tạo văn học nghệ thuật Những sự cách tân đích thực, “những cách tân chân chính sẽ trở lại thành những truyền thống mới bồi đắp thêm cho kho tàng kinh nghiệm đã vượt qua sự thử thách của thời gian của những thế hệ đi trước” [63, 230]
Nhìn như vậy có thể thấy, “kế thừa truyền thống và cách tân nghệ thuật là những phương diện không bao giờ tách rời của quá trình văn học” [64, 230]
1.2 Khái lược thơ Hữu Thỉnh:
1.2.1 Quan niệm của Hữu Thỉnh về thơ:
Đến với thơ, Hữu Thỉnh thực sự suy tư, trăn trở trong việc xác định một quan niệm sâu sắc
và nghiêm túc về thơ, về người “làm ra thơ”:
Trang 5- Một trong những nét đặc sắc của thơ chống Mỹ là sự hiện diện đông đảo của nhà thơ – chiến sĩ; trực tiếp đánh giặc và làm thơ “Văn chương đối với học như một phương tiện nhập cuộc” (Vũ Quần Phương) Từ trong “luồng xiết” của cuộc chiến tranh, như một nhu cầu tự tại – người lính
“làm thơ ghi lấy cuộc đời mình”
- Chính vì thế, thơ Hữu Thỉnh là thơ của “người trong trận”, là “bài ca người lính”, trở thành cội nguồn sức mạnh của người lính chiến đấu và chiến thắng
- Trong quan niệm của Hữu Thỉnh, thơ không thể là “dây bìm trang trí”, không thể thờ ơ, xa
lạ với cuộc sống và con người
1.2.1.2 “Tôi rất tin: Thơ là kinh nghiệm sống”
Với Hữu Thỉnh, thơ phải được viết bằng chính sự từng trải, và “bằng những trải nghiệm của mình ở chiến trường” Hữu Thỉnh khẳng định “con người ta không từng trải với cuộc đời khó mà viết hay Thơ sẽ rất nhạt nếu đời người cầm bút không trải qua những thăng trầm, thách thức, cam go Kinh nghiệm cá nhân của người cầm bút là đặc biệt quan trọng Phải có những kinh nghiệm từ chính số phận mình, sống đến đáy các sự kiện của đời mình mới mong có cái riêng, viết cái gì riêng Nhà thơ không thể tựa vào ai khác ngoài chính mình, cũng như không thể tựa vào kinh nghiệm của đám đông mà viết”
Sống và trưởng thành từ chính cuộc kháng chiến chống Mỹ với những cam go, khốc liệt Nhà thơ đã trải nghiệm sâu sắc và sống hết mình với hiện thực đó Chính nhờ vậy hiện thực đời sống chiến trường đã trở thành “một bộ phận của cái tôi” (Khrapchenkô), một phần cuộc đời và thơ của Hữu Thỉnh Đó là cơ sở cho sự ra đời và thành công các sáng tác thơ của Hữu Thỉnh; tạo nên nét đặc sắc, sức hấp dẫn và ám ảnh riêng của thơ ông
Với Hữu Thỉnh, thơ chính là những suy nghĩ, tâm trạng, tình cảm, những trải nghiệm, chiêm nghiệm của chính nhà thơ mà chỉ trực tiếp sống, ngụp lặn trong đời sống mới có thể có được Muốn
có thơ hay do vậy phải “nhập cuộc” và “dấn thân”
1.2.1.3 Cá tính sáng tạo của nhà văn:
- Trong quan niệm của Hữu Thỉnh nhà thơ phải có “giọng” riêng, có cá tính sáng tạo riêng.
“Muốn tươi mát xin hãy là dòng suối/ Hát về rừng đừng bắt chước tiếng chim”.
- Khổ công, tâm huyết trăn trở, tìm tòi, thể nghiệm, Hữu Thỉnh dần tìm được một “lối đi
riêng” vừa tìm về khai thác vốn văn hóa dân gian truyền thống vừa dồn tâm lực tìm kiếm, sáng tạo cái mới” Tìm về với văn hóa dân gian truyền thống theo Hữu Thỉnh là “tìm đến mẫu số chung lớn nhất của con người Tình yêu nhớ thương, khát vọng, đau buồn” [96] Nhờ vậy hồn điệu dân gian đã thăng hoa, chuyển hóa thành những phức điệu thẩm mỹ đặc sắc , tạo nét riêng cho thơ Hữu Thỉnh
Trang 6Quan niệm thơ của Hữu Thỉnh được hình thành và bồi đắp chính trong hành trình sống, tìm tòi và sáng tạo của nhà thơ mà cốt lõi của nó là phải sống, phải dấn thân, phải tìm tòi và sáng tạo, tìm cho mình một giọng riêng không lẫn Vừa trở về với truyền thống vừa dồn sức sáng tạo cái mới – sự kết hợp dân gian – hiện đại thực sự đã mang lại hiệu quả thẩm mĩ, tạo nên nét riêng đặc sắc, hấp dẫn cho thơ Hữu Thỉnh
1.2.2 Hành trình sáng tạo thơ của Hữu Thỉnh
1.2.2.1 Thơ viết về chiến tranh
Mảng thơ của Hữu Thỉnh về chiến tranh bật lên từ hiện thực đời sống chiến trường với những đói, những rét, những đổ máu, hy sinh nhưng cũng nhiều thương cảm, thấm đẫm tình đời Bởi vậy nó mang đậm dấu ấn của hiện thực cuộc sống chân thực và cụ thể Tiêu biểu bộc lộ trong
hai trường ca Sức bền của đất và Đường tới thành phố.
Sức bền của đất là những tâm tình, suy tư đằm sâu và thấm thía của những người lính về cội
nguồn sức mạnh của mình và đồng đội được truyền dẫn từ lòng mẹ, từ đất đai quê hương, từ các thế
hệ đi trước và truyền thống dân tộc
Trường ca Đường tới thành phố là tác phẩm quan trọng nhất của đời thơ Hữu Thỉnh và cũng
là tác phẩm giá trị của nền thơ Việt Nam hiện đại Tác phẩm viết về giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh chống Mỹ, được coi là bản “tổng phổ” của biết bao số phận, cảnh ngộ, cùng những hy sinh chịu đựng và suy tư trăn trở của cả một dân tộc trên chặng đường “dằng dặc đau đớn mất mát” để đi tới chiến thắng Tác phẩm đi sâu vào những phần chìm khuất của hiện thực đời sống, kết hợp nhuần nhị giữa chất triết lý, chính luận với chất trữ tình nồng hậu đằm thắm, không dễ lẫn, không dễ nhạt nhòa
1.2.2.2 Thơ viết về đời sống hậu chiến
Thơ viết về đời sống hậu chiến của Hữu Thỉnh gồm hai tập Thư mùa đông, Thương lượng với thời gian và Trường ca Biển Ghi lại những số phận với những cung bậc cảm xúc đậm chất thân
phận, phần ẩn lấp trong tâm hồn con người sau chiến tranh
Trường ca Biển là số phận cá nhân của những người lính đảo thời bình, luôn gồng mình
vượt qua mọi gian lao, hiểm nguy để giữ vững chủ quyền đất đai của Tổ quốc Đó là hành trình gian lao của người lính để đi tới và “neo” được ở nơi “mịt mù biển mịt mù trời”
Thư mùa đông là hành trình đi “tìm người”, tìm kiếm những giá trị nhân bản Tập thơ đậm
dấu ấn cá nhân với sự cô đơn, lạc lõng trong tâm hồn và những trăn trở luôn thường trực về nhân tình, thế thái
Trang 7Thương lượng với thời gian tiếp tục là những trăn trở, suy tư đằm sâu của Hữu Thỉnh về cõi
nhân sinh, về nhân tình thế thái; là những tâm sự, trăn trở, thao thức về cuộc đời, vê tình yêu, về đạo
lí đối nhân xử thế
Tuy nhiên, nếu Thư mùa đông phần lớn là câu Hỏi và những lời Tự thú có phần đau đớn chua chát thì đến Thương lượng với thời gian bên cạnh câu Hỏi, Hữu Thỉnh đã gắng tìm câu trả lời, theo lẽ sống học được từ tư tưởng nhân văn truyền thống “Hãy yêu lấy con người/ Dù trăm cay nghìn đắng”
Chương 2: Tính truyền thống trong thơ Hữu Thỉnh 2.1.1.1 Cảm hứng về quê hương
Đây là nguồn cảm hứng dạt dào trong thơ Việt và Hữu Thỉnh đã kế thừa sáng tạo nguồn cảm
hứng này Sinh ra ở quê, sống gắn bó với quê, nên “hồn thơ Hữu Thỉnh đã thấm đẫm chất dân gian vừa bay bổng lãng mạn vừa mặn mòi gian khó của quê hương” Vì thế, quê hương hiển hiện trong
thơ Hữu Thỉnh cũng thấm đượm sắc vẻ riêng
Ông đã đưa vào thơ những hình ảnh mang đậm hồn quê với những cỏ hội hè, cau ấp bẹ, những đám mây mùa hạ, những trởi bỏ ngỏ, những chiều bỏ không, những cây rơm gầy, rơm rạ nằm mơ cảm hứng về quê hương xuyên suốt trong cả hành trình thơ Hữu Thỉnh.
Tình cảm quê hương trong thơ Hữu Thỉnh không phải là tình cảm chung chung, trừu tượng
mà được lắng lọc qua tình cảm, tâm trạng của người lính xa quê đi chiến đấu và bởi thế là tình cảm thường trực đau đáu, thấp thỏm nhiều khi đến xa sót
Quê hương trong thơ Hữu Thỉnh chính là phần hồn, phần kí ức - nơi nhà thơ gửi gắm những hồi ức, những kỉ niệm, những dấu ấn không thể phai nhòa
Quê hương với Hữu Thỉnh luôn là cái nôi đưa, là “nhà ga”, là điểm dừng chân tiếp sức cho mỗi người con Với Hữu Thỉnh quê hương chính là nơi cội nguồn tìm về sau những nhọc nhằn, bon chen, ồn ã của cuộc sống
2.1.1.2 Cảm hứng về đất nước
Cũng như quê hương, đất nước luôn là nguồn cảm hứng không vơi cạn trong truyền thống thơ ca dân tộc Hữu Thỉnh đã kế thừa và góp vào nguồn mạch thơ đất nước những bài thơ, câu thơ đặc sắc
Với Hữu Thỉnh, đất nước trường tồn trong những giá trị chìm khuất, sâu thẳm nhất, đó là những giá trị không nhìn thấy được, không hiện hữu, không trực tiếp bộc lộ, nhưng lại hiển hiện trong từng hình ảnh giản dị, cụ thể Đất nước tiềm ẩn những giá trị không thể đánh giá, đó là âm
Trang 8vang, là dư vị, là hồn cốt của những gì đau xót nhất, thiêng liêng nhất, vang dội nhất, là mạch ngầm thẩm thấu trong từng con chữ
Đất nước gắn với gia đình người thân, là nơi gửi gắm tình mẫu tử, tình bạn, tình đồng chí, đồng đội, tình yêu
2.1.2 Cốt cách của con người Việt Nam
2.1.2.1 Trọng tình nghĩa, nhân nghĩa
Từ xa xưa, tư tưởng trọng tình nghĩa, nhân nghĩa đã là một trong những truyền thống quý báu của dân tộc Hữu Thỉnh đã kế thừa và góp phần làm sâu đậm tư tưởng nhân văn đó qua những câu thơ chan chứa cảm xúc, sâu nặng ân tình Con người tình nghĩa trong thơ Hữu Thỉnh luôn mang một tấm lòng thơm thảo với quê hương, hiếu nghĩa với cha mẹ và nhân nghĩa với bạn bè, đồng bào đồng chí
Hữu Thỉnh viết về mẹ, bạn bè, đồng chí, đồng đội với những rung cảm xúc động nhất , với tấm lòng trắc ẩn Nhà thơ rung động một cách mãnh liệt và phản ánh sâu đậm những khía cạnh thể hiện phẩm chất, tình nghĩa cao đẹp của con người Việt Nam, góp phần khắc đậm phẩm chất truyền thống cao đẹp trọng tình nghĩa của con người Việt Nam
2.1.2.2 Sống đồng cảm, hy sinh, nhường nhịn, xẻ chia:
Phẩm chất này bộc lộ rõ hơn cả ở hai hình tượng: người lính và người mẹ trong thơ Hữu Thỉnh Ông viết về họ như một trong những nét đẹp đáng khâm phục, tự hào của những người lính
bộ đội cụ Hồ, những người mẹ tần tảo, anh hùng Nhà thơ ghi lại một cách chân thực và dung dị về
sự chia sẻ, nhường nhịn, nâng niu, che chở, bảo vệ và đỡ đần của con người trong chiến tranh vượt qua mọi thử thách khắc nghiệt của cuộc chiến, thậm chí cả những người không quen biết, không chung cội nguồn lí tưởng
2.1.2.3 Sống lạc quan, tin tưởng, bền bỉ, dẻo dai:
Một tinh thần chủ đạo xuyên suốt trong thơ Hữu Thỉnh là khẳng định sức sống lạc quan, yêu đời trong thời loạn lạc, sức chống chọi bền bỉ, dẻo dai trước mọi vấp ngã, khó khăn, thử thách Dù trong hoàn cảnh nào, tinh thần đó vẫn sáng ngời
Trong thơ Hữu Thỉnh phẩm chất này bộc lộ sâu đậm nhất ở hình tượng người lính Dù trong hoàn cảnh bình yên, hay nguy hiểm thậm chí phải hy sinh tính mạng của mình, người lính vẫn gan
dạ, đanh thép, keo cứng trước mọi nỗi đau, thù hận để cống hiến hết mình cho dân tộc, đất nước với
ý chí quyết tâm kiên định làm nên lòng tự hào của dân tộc
2.1.2.4 Sống cởi mở giãi bày, tâm tình:
Trang 9- Giãi bày, tâm tình là một trong những nét tính cách đặc trưng của con người Việt Nam
được phản ánh sâu đậm trong văn học truyền thống đặc biệt trong ca dao Hữu Thỉnh đã tiếp nhận sáng tạo, hiệu quả phẩm chất sống đó, nhờ vậy thơ Hữu Thỉnh thực sự là “những tâm tình ở đằng sau tâm tình” (Nguyễn Duy): tâm tình của người lính với người đồng chí, đồng đội; của người con giữa chiến trận với người mẹ nơi hậu phương; của người lính cảm thương, chia xẻ với những mất mát, hy sinh thầm lặng của những người mẹ, người chị
- Hữu Thỉnh cũng tự tâm tình giãi bày chân thành về mình khi tự họa, khi tự thú, khi vui, khi
buồn; chuyện riêng tư, chuyện nhân tình thế thái; chuyện đời, chuyện nghề nhà thơ đều chân thành giãi bày, tin cậy gửi trao Khơi nối được nguồn mạch tâm tình giãi bày vốn là một ưu thế nổi trội của thơ truyền thống, thơ Hữu Thỉnh nhờ thế dễ cảm và dễ tìm được sự đồng cảm của người đọc
2.2 Tiếp nhận sáng tạo những trầm tích lịch sử văn hóa dân tộc
2.2.1 Trầm tích lịch sử , văn hóa dân tộc – một mạch nguồn đặc sắc trong thơ Hữu Thỉnh
- Hữu Thỉnh rất có ý thức trong việc khai thác tiếp nhận những trầm tích lịch sử, văn hóa Những địa danh, những sự kiện, những nhân vật lịch sử xuất hện khá nhiều Có những câu thơ dường như được “ghép” từ những địa danh lịch sử nhưng vẫn không khô khan, ngược lại tạo được chiều sâu tư tưởng
- Hàng loạt địa danh, danh nhân văn hóa, những truyền thuyết đi vào thơ Hữu Thỉnh tạo một không khí cổ sơ, hư ảo
Những câu hát giặm, câu đồng giao, hát ví, hát xoan, hát ghẹo, ca dao, tục ngữ, hàng loạt những hình ảnh về người mẹ, cây đa, giếng nước, sân đình…được Hữu Thỉnh khéo léo đưa vào thơ một cách hài hòa và tao nhã Điều đặc biệt là Hữu Thỉnh rất tài tình trong việc khai thác vận dụng: chỉ với một nét của những giá trị truyền thống đó, đã có thể mường tượng, hiểu được giá trị của những trầm tích lịch sử, văn hóa đó
Chính sự kế thừa, tiếp nhận và khai thác sáng tạo những trầm tích lịch sử văn hóa truyền thống tạo nên những điểm nhấn, sự hấp dẫn đặc biệt cho thơ Hữu Thỉnh, đồng thời tạo khoảng rộng cho sự liên tưởng đầy sáng tạo của người đọc Đây cũng là một trong những phương diện tạo nên phong cách sáng tạo độc đáo cho thơ Hữu Thỉnh
2.2.2 Tiếp nhận sáng tạo từ nghệ thuật thơ truyền thống
2.2.2.1 Hình ảnh thơ giản dị, gần gũi, gợi cảm:
Trang 10Hữu Thỉnh là một trong những nhà thơ thấm nhuần giá trị truyền thống dân gian một cách sâu sắc và toàn diện Bởi vậy thơ ông luôn mang lại cảm nhận giản dị, gần gũi, gợi cảm nhưng hàm
ẩn chiều sâu ngữ nghĩa
Trong thơ Hữu Thỉnh tràn ngập những hình ảnh của cuộc sống đời thường giản dị, gần gũi nhưng đầy gợi cảm, lôi cuốn Trong thơ viết về chiến tranh là những hình ảnh bom đạn, đường rừng, con suối, hầm đất, giấc ngủ chập chờn trên đường ra trận, nắm cơm ăn vội, cháy than, những đống lửa hắt hiu, giường chiếu chăn tạm bợ, máu lửa, chết chóc, hy sinh… tất cả đều tái hiện hiện thực một cách chân thực, sinh động theo guồng quay của chiến trận dưới một nhãn quan tinh tế và đầy ý nhị
2.2.2 Giọng điệu thơ truyền thống
2.2.2.1 Giọng tâm tình, giãi bày
Nói về giọng thơ Hữu Thỉnh, điều đầu tiên độc giả cảm nhận ở trong những vần thơ ông là lối dẫn dắt mang âm hưởng thơ trữ tình sâu lắng và giãi bày.Giọng thơ trữ tình, nhẹ nhàng, man mác Chất giọng này giữ vai trò chủ đạo trong thơ Hữu Thỉnh giai đoạn sáng tác trong chiến tranh Chất giọng trữ tình ngọt ngào, đó là những dòng thơ viết về người lính, người mẹ, về cuộc chiến tranh…
2.2.2.2 Giọng chiêm nghiệm, triết lý:
Đây là một giọng điệu đặc sắc của thơ ca truyền thống Nếu trước và trong chiến tranh, giọng điệu tâm tình, giãi bày cảm xúc là giọng điệu chủ đạo làm nên phần hồn cho thơ Hữu Thỉnh, thì sau chiến tranh đã có thay đổi, thơ Hữu Thỉnh nghiêng về trải nghiệm và đúc kết triết lý
Giọng chiêm nghiệm thể hiện trên rất nhiều phương diện Tiêu biểu nhất là về người mẹ, về
cá nhân, về thiên nhiên đất trời về sự đổi thay của thời cuộc, của nhân tình thế thái Tính triết lý còn bộc lộ qua nghệ thuật ẩn dụ được thể hiện hiệu quả trong các tập thơ
Với giọng điệu chiêm nghiệm, triết lý, Hữu Thỉnh bộc lộ sự khắc khoải của một hồn thơ chân thực với cuộc sống, với đời và con người
2.2.2.3 Giọng suy tư, trăn trở
Suy tư, trăn trở, cũng là chất giọng đặc sắc trong thơ Hữu Thỉnh Hữu Thỉnh trăn trở về cuộc
sống đầy thử thách, về những thân phận con người trong xã hội và tình yêu
Biết tiếp nhận một cách tinh tế, sáng tạo hồn điệu dân gian truyền thống từ tư tưởng nhân văn sâu sắc, những nguồn cảm hứng, đã thành “cổ điển” cùng nghệ thuật thể hiện đặc sắc, Hữu