Nguồn gốc phát sinh - Hầu hết, các chất thải rắn y tế là các chất thải sinh học độc hại và mang tính đặc thù, nếu không được phân loại cẩn thận trước khi xả chung với các loại chất thải
Trang 1ĐỖ THỊ HỒNG HUỆ
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG THU GOM, XỬ LÝ CHẤT THẢI
VÀ NƯỚC THẢI Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA
TRÙNG KHÁNH – CAO BẰNG
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính Quy Chuyên ngành : Khoa học môi trường Khoa : Môi trường
Khóa học : 2010 – 2014
Thái Nguyên, năm 2014
Trang 2ĐỖ THỊ HỒNG HUỆ
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG THU GOM, XỬ LÝ CHẤT THẢI
VÀ NƯỚC THẢI Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA
TRÙNG KHÁNH – CAO BẰNG
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành : Khoa học môi trường Khoa : Môi trường
Khóa học : 2010 – 2014 Giáo viên hướng dẫn : PGS.TS Đỗ Thị Lan
Thái Nguyên, năm 2014
Trang 3Thực tập tốt nghiệp là một giai đoạn cần thiết và hết sức quan trọng của mỗi sinh viên, đó là thời gian để sinh viên tiếp cận với thực tế, nhằm củng cố
và vận dụng những kiến thức mà mình đã học được trong nhà trường Được
sự nhất trí của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiêm khoa Môi trường - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, em đã tiến hành thực hiện đề tài:
“Đánh giá thực trạng thu gom, xử lý rác thải và nước thải tại bệnh viện
đa khoa Trùng Khánh – Cao Bằng”
Sau một thời gian nghiên cứu và thực tập tốt nghiệp, bản báo cáo tốt nghiệp của em đã hoàn thành
Vậy em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô giáo trong Môi trường, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã giảng dạy và hướng dẫn chúng em
Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo PGS.TS Đỗ Thị Lan đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong quá trình thực hiện đề tài
Em xin cảm ơn các bác, các chú và các anh chị của Bệnh viện Đa khoa huyện Trùng Khánh – Cao Bằng đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình thực tập để hoàn thành báo cáo tốt nghiệp này
Trong quá trình nghiên cứu vì nhiều lý do chủ quan, khách quan, khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế Em rất mong nhận được sự thông cảm và đóng góp ý kiến của các thầy, cô giáo và các bạn sinh viên./
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 25 tháng 05 năm 2014 Sinh viên
Đỗ Thị Hồng Huệ
Trang 4PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Yêu cầu 3
1.4 Ý nghĩa đề tài 3
1.4.1.Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 3
1.4.2.Ý nghĩa thực tiễn 3
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
2.1.1 Một số khái niêm 4
2.2.2 Nguồn gốc phát sinh 4
2.2.3 Phân loại chất thải y tế 6
2.2.4 Thành phần của chất thải rắn y tế 8
2.2 Cở sở pháp lý 12
2.3 Ảnh hưởng của CTYT đến môi trường và sức khỏe cộng đồng 14
2.4 Thực trạng thu gom, xử lý chất thải y tế trên thế giới và Việt Nam 17
2.4.1 Thực trạng thu gom xử lý chất thải y tế trên Thế giới 17
2.4.2 Hiện trạng quản lý và xử lý chất thải y tế tại Việt Nam 19
2.5 Hiện trạng quản lý và xử lý chất thải y tế tại Cao Bằng 21
2.6 Các biện pháp và công nghệ xử lý chất thải y tế 22
2.6.1 Các phương pháp xử lý và tiêu hủy chất thải rắn y tế 22
2.6.2 Chôn lấp chất thải y tế 24
Trang 53.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 27
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 27
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 27
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 27
3.3 Nội dung nghiên cứu 27
3.3.1 Tổng quan về Bệnh viện đa khoa huyện Trùng Khánh – Cao Bằng 27
3.3.2 Thực trạng công tác thu gom, xử lý rác thải và nước thải y tế tại Bệnh viện đa khoa huyện Trùng Khánh – Cao Bằng 27
3.4 Phương pháp nghiên cứu 28
3.4.1 Phương pháp kế thừa 28
3.4.2 Phương pháo thu thập số liệu thứ cấp 28
3.4.3 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 28
3.4.4 Phương pháp xác định lượng rác thải phát sinh 28
3.4.5 Phương pháp lấy mẫu nước thải 29
3.4.6 Phương pháp tổng hợp phân tích và xử lý số liệu 30
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 31
4.1 Tổng quan về Bệnh viện đa khoa huyện Trùng Khánh – tỉnh Cao Bằng 31
4.1.1 Địa điểm, quy mô Bệnh viện 31
4.1.2 Cơ cấu tổ chức hoạt động của bệnh viện khoa huyện Trùng Khánh – Cao Bằng 31
4.2 Đánh giá thực trạng thu gom, xử lý chất thải y tế tại Bệnh viện huyện Trùng Khánh – Cao Bằng 34
4.2.1 Lượng rác thải và nước thải phát sinh của Bệnh viện 34
4.2.2 Đánh giá thực trạng thu gom rác thải và nước thải y tế tại Bệnh viện đa khoa huyện Trùng Khánh – Cao Bằng 40
Trang 6viện huyện Trùng Khánh – Cao Bằng 44
4.3.1.Giải pháp trong hoạt động thu gom, lưu trữ và xử lý rác thải y tế 44
4.3.2 Giải pháp đối với hệ thống thu gom và xử lý nước thải y tế 45
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 48
5.1 Kết luận 48
5.2 Kiến nghị 49
Tài Liệu Tham Khảo 50
Trang 7Bảng 2.1: Thành phần rác thải y tế 8
Bảng 2.2: Thành phần rác thải ở bệnh viện Việt Nam 9
Bảng 2.3 Thành phần nước thải bệnh viện 10
Bảng 2.4 Các vi khuẩn gây bệnh phân lập được trong nước thải bệnh viện 11
Bảng 2.5 Các chỉ tiêu vệ sinh trong nước thải bệnh viện trước và sau xử lý bằng phương pháp sinh học 12
Bảng 2.6: Tổng lượng chất thải bệnh viện tại một số nước trên thế giới 18
(kg/giường/ngày) 18
Bảng 2.7: Lượng chất thải phát sinh tại các khoa trong bệnh viện 20
Bảng 2.8: Dự báo khối lượng chất thải rắn y tế nguy hại phát sinh trên địa bàn toàn tỉnh 21
Bảng 2.9 Thông số yêu cầu đầu ra của trạm xử lý 26
Bảng 4.1: Cơ cấu cán bộ viên chức Bệnh viện Đa khoa huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng 31
Bảng 4.2: Kết quả thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch của Bệnh viện Đa khoa huyện Trùng Khánh – Cao Bằng 33
Bảng 4.3 Danh sách nguyên liệu thô, hóa chất sử dụng hàng tháng 35
Bảng 4.4 Thống kê nguồn phát sinh chất thải y tế tại Bệnh viện 36
Bảng 4.5 Lượng rác thải trung bình theo tháng của BV Đa khoa Trùng Khánh 38
Bảng 4.6 Thống kê lượng rác thải phát sinh hàng tháng theo thành phần 39
Bảng 4.7 Kết quả phân tích mẫu nước thải bệnh viện chưa qua xử lý 43
Bảng 4.8: Kết quả phân tích chất lượng nước sau xử lý của bệnh viện Graha Asih – Bali – Indonesia 47
Trang 8BOD Nhu cầu ôxy hóa sinh học BTNMT Bộ tài nguyên môi trường COD Nhu cầu ôxy hóa hóa học QCVN Quy chuẩn Việt Nam TSS Tổng chất rắn lơ lửng TCCP Tiêu chuẩn cho phép TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam QCVN Qui chuẩn Việt Nam BYT Bộ y tế
CTYT Chất thải y tế
UBND Ủy ban nhân dân
BV Bệnh viện
Trang 9PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay vấn đề môi trường đang là tâm điểm lớn của các quốc gia và trên toàn thế giới, môi trường có ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp tới đời sống của con người Bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề sống còn của nhân loại, là nhân tố bảo đảm sức khoẻ và chất lượng cuộc sống của nhân dân, góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế - xã hội, ổn định chính trị, an ninh quốc gia và thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta Bảo vệ môi trường vừa là mục tiêu, vừa là một trong những chiến lược cơ bản của phát triển bền vững Bảo vệ môi trường là quyền lợi và nghĩa vụ của mọi tổ chức, mọi gia đình và của mỗi người, là biểu hiện của nếp sống văn hoá, đạo đức, là tiêu chí quan trọng của xã hội văn minh và là sự nối tiếp truyền thống yêu thiên nhiên, sống hài hoà với tự nhiên của cha ông ta Bảo vệ môi trường phải theo phương châm lấy phòng ngừa và hạn chế tác động xấu đối với môi trường là chính kết hợp với xử lý ô nhiễm, khắc phục suy thoái, cải thiện môi trường và bảo tồn thiên nhiên, kết hợp giữa sự đầu tư của Nhà nước với đẩy mạnh huy động nguồn lực trong xã hội và mở rộng hợp tác quốc tế, kết hợp giữa công nghệ hiện đại với các phương pháp truyền thống Bảo vệ môi trường là nhiệm vụ phức tạp, cấp bách, có tính đa ngành và liên vùng rất cao
Khi khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển mạnh, cuộc sống của con người ngày càng được nâng cao Công tác khám chữa bệnh ngày càng được chú trọng, vấn đề sức khỏe con người đươch quan tâm và đặt lên hàng đầu Ngành y tế đã có những chuyển biến mới mẻ với những máy móc kỹ thuật hiện đại phục vụ cho nhu cầu khám chữa bệnh của con người Nhưng song song với sự phát triển đó có nhiều vấn đề phát sinh và cần được quan tâm
Trang 10Ngành y tế càng phát triển thì thải ra càng nhiều chất thải y tế, đó là những chất thải từ các hoạt động khám chữa bệnh, xét nghiệm, phẫu thuật Những chất thải này có thể chứa những yếu tố độc hại và gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của con người và môi trường nếu không được thu gom, phân loại và xử lý đứng cách Hiện nay vấn đề xử lý chất thải y tế là một vấn đề nan giải, công tác xử lý còn nhiều khó khăn bất cập và cần được quan tâm
Bệnh viện Đa khoa huyện Trùng Khánh là bệnh viện tuyến huyện hạng III được hình thành và phát triển đi lên mạnh mẽ Với đội ngũ y bác sĩ lành nghề và được đề cao về y đức đã và đang vươn lên khẳng định vai trò quan trọng trong quá trình xây dựng và phát triển của đất nước NHờ những nỗ lực phấn đấu không ngừng đó mà bệnh viện đã đạt được những thành quả đáng kể trong công tác khám chữa bệnh, phòng bệnh và chăm lo sức khỏe của người dân Bên cạnh những thành quả đạt được thì hiện nay vấn đề nhức nhối tại bệnh viện là chất thải y tế, quá trình thu gom, quản lý cần cụ thể hơn, giúp tìm hiểu những thiếu sót còn tồn tại trong việc thu gom và quản lý để góp phần làm tăng hiểu biết và nâng cao ý thức cũng nhu chất lượng điều trị
Xuất phát từ tình hình thực tế và yêu cầu của công tác thu gom, xử lý chất thải y tế tại các bệnh viện Được sự đồng ý của Khoa Môi trường, dưới
sự hướng dẫn của PGS.TS Đỗ Thị Lan, em tiến hành thực hiện đề tài: "Đánh giá thực trạng thu gom, xử lý rác thải và nước thải tại bệnh viện đa khoa Trùng Khánh – Cao Bằng"
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng thu gom, xử lý rác thải và nước thải y tế tại Bệnh viện Đa khoa huyện Trùng Khánh – Cao Bằng Từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác thu gom, xử lý chất thải
y tế, nâng cao chất lượng môi trường
Trang 11- Đánh giá hiểu biết của cán bộ nhân viên, bệnh nhân về tình hình quản
lý rác thải y tế của bệnh viện
- Đề xuất các giải pháp quản lý rác thải y tế nguy hại tại bệnh viện đảm bảo an toàn và vệ sinh môi trường
1.3 Yêu cầu
- Số liệu thu thập phải đảm bảo tính chính xác và khách quan
- Đánh giá được thực trạng công tác thu gom, lý rác thải và nước thải tại Bệnh viện Đa khoa huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng
- Các giải pháp đưa ra phải có tính thực tiễn cao và phù hợp với điều kiện của Bệnh viện
1.4 Ý nghĩa đề tài
1.4.1.Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Vận dụng và phát huy được các kiến thức đã học tập và nghiên cứu áp dụng vào thực tế
- Rèn luyện về kỹ năng tổng hợp và phân tích số liệu, tiếp thu và học hỏi những kinh nghiệm từ thực tế
- Nâng cao kiến thức kỹ năng và rút ra những kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công tác sau này
Trang 12PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1 Một số khái niêm
* Định nghĩa chất thải y tế
Theo Quy chế Quản lý CTYT của Bộ Y tế ban hành tại Quyết định số 43/QĐ-BYT ngày 30/11/2007 quy định:
+ Chất thải y tế là vật chất ở thể rắn, lỏng và khí được thải ra từ các cơ
sở y tế bao gồm chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường
+ Chất thải y tế nguy hại là chất thải y tế chứa yếu tố nguy hại cho sức
khỏe con người và môi trường như dễ lây nhiễm, gây ngộ độc, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn hoặc có đặc tính nguy hại khác nếu những chất thải này không được tiêu hủy an toàn
+ Quản lý chất thải nguy hại là các hoạt động liên quan đến việc phòng
ngừa, giảm thiểu, phân định, phân loại, tái sử dụng trực tiếp, lưu giữ tạm thời, vận chuyển và xử lý CTNH
+ Quản lý chất thải y tế là hoạt động quản lý việc phân loại, xử lý ban
đầu, thu gom, vận chuyển, lưu giữ, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu hủy chất thải y tế và kiểm tra, giám sát việc thực hiện
2.2.2 Nguồn gốc phát sinh
- Hầu hết, các chất thải rắn y tế là các chất thải sinh học độc hại và mang tính đặc thù, nếu không được phân loại cẩn thận trước khi xả chung với
các loại chất thải sinh hoạt sẽ gây ra những nguy hại đáng kể
- Theo Qui chế quản lý chất thải y tế (Bộ Y tế) thì chất thải y tế là vật chất ở thể rắn, lỏng và khí, được thải ra từ các cơ sở y tế bao gồm chất thải y
tế nguy hại và chất thải thông thường
Trang 13Chất thải y tế nguy hại là chất thải y tế chứa yếu tố nguy hại cho sức khỏe con người và môi trường như dễ lây nhiễm, gây ngộ độc, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn hoặc có đặc tính nguy hại khác nếu những chất thải này không được tiêu hủy hoàn toàn
- Các chất thải rắn y tế nguy hại bao gồm:
+ Chất thải lây nhiễm sắc nhọn (bơm kim tiêm, đầu sắc nhọn của dây truyền dịch, lưỡi dao mổ, đinh mổ, cưa, các ống tiêm, mảnh thủy tinh vỡ và các vật sắc nhọn khác), chất thải lây nhiễm không sắc nhọn (bông, băng, gạc); chất thải có nguy cơ lây nhiễm (bệnh phẩm và dụng cụ đựng dính bệnh phẩm); chất thải giải phẫu (các mô, cơ quan, bộ phân cơ thể người, rau thai, bào thai); chất thải hóa học nguy hại (dược phẩm quá hạn, kém phẩm chất không còn khả năng sử dụng, chất hóa học ngy hại sử dụng trong y tế), chất thải chứa kim loại nặng (thủy ngân từ nhiệt kế, huyết áp kế bị vỡ)
- Chất thải lỏng y tế nguy hại:
+ Được phát sinh từ các hoạt động chuyên môn (từ các phòng phẫu thuật, thủ thuật, xét nghiệm, thí nghiệm ) và sinh hoạt của nhân viên bệnh viện, bệnh nhân và người chăm nuôi (từ các nhà vệ sinh, giặt giũ, từ việc làm vệ sinh phòng bệnh Đối với nước thải bệnh viện ngoài những yếu tố ô nhiễm thông thường như chất hữu cơ, dầu mỡ động thực vật, vi khuẩn thông thường còn có những chất bẩn khoáng và hữu cơ đặc thù như các vi khuẩn gây bệnh, chế phẩm thuốc, chất khử trùng, các dung môi hóa học, dư lượng thuốc kháng sinh, các đồng vị phóng xạ được sử dụng trong quá trình chẩn đoán và điều trị
- Chất thải thông thường (hay chất thải không nguy hại):
Là chất thải không chứa các yếu tố lây nhiễm, hóa học nguy hại, phóng xạ, dễ cháy nổ, bao gồm:
+ Chất thải sinh hoạt phát sinh từ các buồng bệnh (trừ các buồng bệnh cách ly)
Trang 14+ Chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn y tế (chai, lọ thủy tinh, chai lọ huyết thanh, các vật liệu nhựa, các loại bột bó trong gãy xương kín Những chất thải này không dính máu, dịch sinh học và các chất hóa học nguy hại), chất thải phát sinh từ các công việc hành chính (giấy, báo, tài liệu, túi nilon ), chất thải ngoại cảnh (lá cây, rác ở các khu vực ngoại cảnh)
(Nguồn Quy chế Quản lý CTYT Bộ Y tế, 2007)
2.2.3 Phân loại chất thải y tế
Căn cứ vào Quy chế Quản lý CTYT của Bộ Y tế ban hành tại Quyết định số 43/QĐ-BYT ngày 30/11/2007 Các đặc điểm lý học, hoá học, sinh học và tính chất nguy hại thì việc phân loại chất thải trong các cơ sở y tế ở đa
số các nước trên thế giới và của tổ chức WHO được phân thành 5 nhóm:
* Chất thải lây nhiễm:
- Chất thải sắc nhọn (loại A): Là chất thải có thể gây ra các vết cắt hoặc chọc thủng, có thể nhiễm khuẩn, bao gồm: bơm kim tiêm, đầu sắc nhọn của dây truyền, lưỡi dao mổ, đinh mổ, cưa, các ống tiêm, mảnh thủy tinh vỡ và
các vật sắc nhọn khác sử dụng trong các hoạt động y tế
- Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn (loại B): Là chất thải bị thấm máu, thấm dịch sinh học của cơ thể và các chất thải phát sinh từ buồng bệnh cách ly
- Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao (loại C): Là chất thải phát sinh trong các phòng xét nghiệm như: bệnh phẩm và dụng cụ đựng, dính bệnh phẩm
- Chất thải giải phẫu (loại D): Bao gồm các mô, cơ quan, bộ phận cơ thể người: rau thai, bào thai và xác động vật thí nghiệm
* Chất thải hóa học nguy hại:
- Dược phẩm quá hạn, kém phẩm chất không còn khả năng sử dụng
- Chất hóa học nguy hại sử dụng trong y tế
Trang 15- Chất gây độc tế bào, gồm: vỏ các chai thuốc, lọ thuốc, các dụng cụ dính thuốc gây độc tế bào và các chất tiết từ người bệnh được điều trị bằng hóa trị liệu
- Chất thải chứa kim loại nặng: thủy ngân (từ nhiệt kế, huyết áp kế thủy ngân bị vỡ, chất thải từ hoạt động nha khoa), cadimi (Cd) (từ pin, ắc quy), chì (từ tấm gỗ bọc chì hoặc vật liệu tráng chì sử dụng trong ngăn tia xạ từ các khoa chẩn đoán hình ảnh, xạ trị)
* Chất thải phóng xạ:
- Chất thải phóng xạ: Gồm các chất thải phóng xạ rắn, lỏng và khí phát sinh từ các hoạt động chẩn đoán, điều trị, nghiên cứu và sản xuất
- Danh mục thuốc phóng xạ và hợp chất đánh dấu dùng trong chẩn đoán và điều trị ban hành kèm theo Quyết định số 33/2006/QĐ - BYT ngày
24 tháng 10 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Y tế
* Bình chứa áp suất:
Bao gồm bình đựng oxy, CO2, bình ga, bình khí dung Các bình này dễ gây cháy, gây nổ khi thiêu đốt
* Chất thải thông thường
Là chất thải không chứa các yếu tố lây nhiễm, hóa học nguy hại, phóng
- Chất thải phát sinh từ các công việc hành chính: giấy, báo, tài liệu, vật liệu đóng gói, thùng các tông, túi nilon, túi đựng phim
Trang 16- Chất thải ngoại cảnh: lá cây và rác từ các khu vực ngoại cảnh
2.2.4 Thành phần của chất thải rắn y tế
* Thành phần vật lý:
+ Đồ bông vải sợi: gồm bông gạc, băng, quần áo cũ, khăn lau, vải trải… + Đồ giấy: hộp đựng dụng cụ, giấy gói, giấy thải từ nhà vệ sinh… + Đồ thủy tinh: chai lọ, ống tiêm thủy tinh, ống nghiệm…
+ Đồ kim loại: kim tiêm, dao mổ, hộp đựng dụng cụ mổ…
+ Bệnh phẩm, máu mủ dính ở băng gạc…
+ Đồ nhựa: hộp đựng, bơm tiêm, dây truyền máu, túi đựng hàng… + Rác, lá cây, đất đá…
* Thành phần hóa học:
+ Những chất vô cơ: kim loại, bột bó, chai lọ thủy tinh, sỏi đá, hóa chất…
+ Những chất hữu cơ: đồ vải sợi, giấy, bộ phận cơ thể, đồ nhựa…
+ Thành phần gồm các nguyên tố: C, H, O, N, S, Cl và một số phân tro.- Thành phần sinh học: máu, các loại dịch tiết, những động vật làm thí nghiệm, bệnh phẩm và các vi trùng gây bệnh
Bảng 2.1: Thành phần rác thải y tế
nguy hại
5 Chai lọ, xilanh, ống thuốc thủy tinh 2.3 Có
9 Đất, cát, sành sứ và các chất rắn
Tỷ lệ phần chất thải nguy hại 22.6
( Nguồn: Quản lý chất thải nguy hại- Nguyễn Đức Khiển, 2003 )
Trang 17Theo Nguyễn Đức Khiển, thành phần rác thải y tế gồm 09 loại cơ bản như trên trong đó tỷ lệ CTNH chiếm 22,6% Tuy chiếm ¼ thành phần nhưng tính chất lại rất nguy hại với môi trường và sức khỏe con người nếu không được thu gom, vận chuyển, xử lý theo quy định
Theo kết quả điều tra trong dự án hợp tác giữa Bộ Y tế và tổ chức WHO thành phần một số rác thải ở bệnh viện Việt Nam như sau:
Bảng 2.2: Thành phần rác thải ở bệnh viện Việt Nam
3 Thủy tinh, ống tiêm, chai lọ thuốc, bơm kim tiêm nhựa 3.2
( Nguồn: Bộ Y tế, 2006 )
2.2.5 Thành phần nước thải bệnh viện
Nước thải bệnh viện ngoài ô nhiễm thông thường như nước thải sinh hoạt của cán bô ̣ viên chức, của bê ̣nh nhân, người nhà bê ̣nh nhân, nước lau sàn nhà, bể phốt của các khu điều tri ̣ (ô nhiễm hữu cơ), nước trong mùa mưa còn
có thể nhiễm những hóa chất phát sinh trong quá trình chuẩn đoán và điều trị bệnh như các chế phẩm thuốc, các chất khử trùng, các đồng vị phóng xạ , các khu xét nghiê ̣m , phòng mổ Bên cạnh đó, nước thải bệnh viện nguy hiểm về phương diện vệ sinh dịch tễ bởi trong nước thải bệnh viện có chứa các loại vi trùng, động vật nguyên sinh gây bệnh, trứng giun, virut….từ máu, dịch, đờm, phân của người mang bệnh
Trang 18Nước thải sinh hoạt cyar bệnh nhân, người nhà bệnh nhân, khách vãng lai và cán bộ công nhân viên trong bệnh viện Các chất tẩy
axeton
- Các chất hóa học hỗn hợp: gồm các dịch làm sạch và khử khuẩn
- Thuốc sử dụng cho bệnh nhân
Sử dụng trong khoa giải phẫu bệnh, tiệt khuẩn, ướp xác và dùng bảo quản các mẫu xét nghiệm ở một số khoa
Có trong dung dịch dùng cố định và tráng
phim
Sử dụng trong quá trình điều trị, chuẩn đoán
ký sinh trùng, amip và các loại
nấm
Có trong máu, dịch, đờm, phân của người mang bệnh
(Nguồn : Bộ Y tế và ĐTM Dự án Xây dựng 2007)
Trang 19Đánh giá chung về nước thải bệnh viện ở Việt Nam, các kết quả nghiên cứu của Nguyễn Xuân Nguyên và cộng sự (Ban chỉ đạo quốc gia về cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường) cho thấy đối với các bệnh viện tỉnh hàm lượng cặn lơ lửng trong nước thải ở mức trung bình, oxy hòa tan cao, hàm lượng nitơ amoni nhỏ Tuy nghiên tổng số Coliform trong nước thải bệnh viện lại rất cao Phần lớn các chỉ tiêu của nước thải đều vượt tiêu chuẩn cho phép, 1 số chỉ tiêu gấp nhiều lần Nước thải y tế không được khử trùng trước khi thải vào hệ thống cống thải chung Nước thải bệnh viện chưa qua xử lý xả vào các nguồn nước sẽ gây ô nhiễm và làm lan truyền dịch bệnh Phần lớn các bệnh viện tuyến tỉnh tập trung ở khu vực dân cư đông, do vậy dịch bệnh dễ dàng phát tán nhanh chóng
Bảng 2.4 Các vi khuẩn gây bệnh phân lập được trong nước thải bệnh viện
Trang 20Bảng 2.5 Các chỉ tiêu vệ sinh trong nước thải bệnh viện trước và sau xử
2.2 Cở sở pháp lý
- Luật Bảo vệ môi trường ngày 29 tháng 11 năm 2005
- Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường;
- Nghị định số 59/2007 NĐ-CP ngày 09 tháng 04 năm 2007 về Quản lý chất thải rắn
- Nghị định số 21/2008/NĐ-CP ngày 28 tháng 02 năm 2008 của Chính
phủ sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09
tháng 08 năm 2006 của Chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường;
- Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT ngày 14 tháng 04 năm 2011 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về quản lý chất thải nguy hại
Trang 21- Quyết định số 2575/1999/QĐ-BTNMT ngày 27 tháng 08 năm 1999:
Về việc ban hành quy chế quản lý chất thải y tế
- Quyết định 155/1999/QĐ - TTg ngày 16/7/1999 của Thủ tướng Chính phủ về Quy chế quản lý chất thải nguy hại
- Quyết định số 64/2003/QĐ- TTg ngày 22 tháng 04 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ về “ Kế hoạch xử lý triệt để các cơ sở y tế gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng ”;
- Quyết định số 256/2003/QĐ- TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chiến lược bảo vệ môi trường Quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020
- Quyết định số 23/2006/QĐ-BTMT ngày 26 tháng 12 năm 2006:Về việc ban hành Danh mục chất thải nguy hại
- Quyết định 153/2006/QĐ - TTg ngày 30/6/2006 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống y tế Việt Nam giai đoạn
- Quyết định số 2038/QĐ-TTg ngày 15 tháng 11 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt đề án tổng thể xử lý chất thải y tế giai đoạn
2011 đến 2015 và định hướng đến năm 2020;
- Quyết định số 170/QĐ-TTg ngày 08 tháng 02 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt quy hoạch tổng thể hệ thống xử lý chất thải rắn y tế nguy hại đến năm 2025;
Trang 22- Chỉ thị số 17/2008/CT- TTg ngày 05 tháng 06 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ về “ Một số giải pháp cấp bách đẩy mạnh công tác xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng theo Quyết định số 64/2003/QĐ- TTg ”
- TCVN 7382/2004 về chất lượng nước thải bệnh viện, tiêu chuẩn thải
chất, kỹ thuật, thiết bị của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh truyền nhiễm
- TT 31/2013/TT-BYT: Quy định về quan trắc tác động môi trường từ hoạt động khám bệnh, chữa bệnh của bệnh viện
2.3 Ảnh hưởng của CTYT đến môi trường và sức khỏe cộng đồng
* Tác hại, nguy cơ của chất thải y tế đối với môi trường và sức khỏe cộng đồng
- Chất thải y tế là chất thải có chưa đựng các loại sinh vật gây bệnh, các chất độc hại như hóa chất, chất gây độc tế bài, chất phóng xạ… Các nghiên cứu dịch tễ học trên thế giới đã chứng minh, các chất thải bệnh viện có ảnh hưởng lớn đến sức khỏe cán bộ, nhân viên y tế, cộng đồng dân cư nếu CTYT không được quản lý đúng cách Các tác nhân gây bệnh này có thể xâm nhập vào cơ thể người thông qua: da (qua một vết thủng, trầy sước hoặc vết cắt trên da), các niêm mạc (màng nhầy), đường hô hấp (do xông, hít phải), đường tiêu hóa, tác động gián tiếp do ô nhiễm môi trường, hoặc tiếp xúc với các tác nhân
Trang 23trung gian như ruồi, muỗi, chuột… Tất cả những người tiếp xúc với CTYT nguy hại đều là đối tượng có nguy cơ bị tác động bởi chất thải y tế, bao gồm: bác sĩ, y tá, hộ lý; bệnh nhân điều trị nội trú hoặc ngoại trú; khách tới thăm hoặc người nhà bệnh nhân; những người trực tiếp làm công việc xử lý rác thải tại các bãi đổ rác thải hay các lò đốt rác Những người thu gom, bới rác
- Các nguy cơ gây bệnh của CTYT là các bệnh về đường tiêu hóa do các vi khuẩn tả lỵ, thương hàn, trứng giun; nhiễm khuẩn đường hô hấp do lao,
do phế khuẩn cầu; tổn thương nghề nghiệp; nhiễm khuẩn da ; bệnh than ; HIV/AIDS; nhiễm khuẩn huyết ; viêm gan các loa ̣i , các bệnh thần kinh ; gây ngô ̣ độc, ăn mòn, cháy nổ
- Theo báo cáo của tổ chức Bảo vệ môi trường Mỹ có khoảng 162 - 321 trường hợp nhiễm virus viêm gan B có tiếp xúc với CTYT so với tổng số 30.000 trường hợp nhiễm virus viêm gan B mỗi năm Trong số những nhân viên tiếp xúc với chất thải bệnh viện, nhân viên vệ sinh có tỷ lệ tổn thương nghề nghiệp cao nhất Tỷ lệ tổn thương chung là 180/1000 người trong mỗi năm, cao hơn 2 lần so với tỷ lệ này của toàn bộ lực lượng lao động ở Mỹ cộng lại
- Rác không được thu dọn kịp thời sẽ trở thành nơi phát sinh ruồi, muỗi, chuột, gián, ô nhiễm môi trường không khí do phát sinh mùi hôi thối khó chịu Các trung gian truyền bệnh này sẽ tạo ra 1 nguy cơ lan tràn bệnh dịch nhanh chóng từ các bệnh viện, từ CTYT không được xử lý đúng cách Cũng như vậy, nước thải bệnh viện không được xử lý đảm bảo yêu cầu vệ sinh cũng sẽ là nguồn phát sinh các mầm bệnh vào các nguồn nước ( nước mặt, nước ngầm)
(Nguồn: Hoàng Thị Liên, 2009)
* Tại Việt Nam
a) Ảnh hưởng của chất thải y tế đối với môi trường
Trang 24Các nghiên cứu cho thấy ô nhiễm môi trường ở nước ta chủ yếu là môi trường nước và không khí
Theo tài liệu thu thập của Trần Thị Minh Tâm (2006) kết quả điều tra quản lý CTYT tại một số Bệnh viện ngoại thành Hà Nội của Bùi Văn Trường, Nguyễn Tất Hà (năm 1998) cho thấy : các chỉ tiêu trong nước thải như COD, BOD5,Nh4, Coliform và Fecal coliform ở mức độ ô nhiễm nặng so với tiêu chuẩn cho phép Các vi khuẩn có khả năng gây bệnh phân lập được từ nước sinh hoạt, nước thải, không khí và dụng cô chuyên khoa tại các bệnh viện chủ yếu là vi khuẩn đường ruột
b) Ảnh hưởng của chất thải tế đến sức khỏe cộng đồng
Các nghiên cứu ở Việt Nam cho thấy những ảnh hưởng lớn của chất thải y tế đối với cộng đồng xung quanh bệnh viện nhưng chưa có nghiên cứu nào đi sâu đánh giá thức trạng tác động của chất thải y tế đối với sức khỏe ở những người tiếp xúc với chất thải y tế
Đào Ngọc Phong và cộng sự (2006) nghiên cứu về ô nhiễm môi trường
và khả năng lây truyền do nước thải bệnh viện gây ra ở Hà nội cho thấy có hiện tượng tăng trội nhiều bệnh ở các khu dân cư tiếp xúc với nước thải bệnh viện nhất là các bệnh đường tiêu hóa
Đối với sức khỏe: việc tiếp xúc với các chất thải y tế có thể gây nên bệnh tật hoặc tổn thương cho cơ thể do các vật sắc nhọn ( như kim tiêm) Các vật sắc nhọn này không chỉ gây nên những vết cắt, đâm mà còn gây nhiễm trùng các vết thương nếu vật sắc nhọn đó bị nhiễm tác nhân gây bệnh Như vậy những vật sắc nhọn ở đây được coi là là chất thải rất nguy hiểm bởi nó gây tổn thương kép (vừa gây tổn thương vừa gây bệnh truyền nhiễm như viêm gan B, HIV…) Hơn nữa, trong chất thải y tế lại chứa đựng các tác nhân gây bệnh truyền nhiễm như tụ cầu, viêm gan B, HIV… Các tác nhân này có thể xâm nhập vào cơ thể qua các vết trầy xước, vết đâm xuyên, qua niêm mạc,
Trang 25qua đường hô hấp (do hít phải), qua đường tiêu hóa (do nuốt hoặc ăn phải) Nước thải bệnh viện còn là nơi "cung cấp" các vi khuẩn gây bệnh, nhất là nước thải từ những bệnh viện chuyên về các bệnh truyền nhiễm cũng như trong các khoa lây nhiễm của các bệnh viện Những nguồn nước thải này là một trong những nhân tố cơ bản có khả năng làm lây lan những bệnh truyền nhiễm thông qua đường tiêu hóa Đặc biệt nguy hiểm khi nước thải bị lây nhiễm các vi khuẩn gây bệnh có thể dẫn đến dịch bệnh cho người và động vật qua nguồn nước khi sử dụng nguồn nước này vào mục đích tưới tiêu, ăn uống…
- Như vậy, nếu việc thu gom, phân loại và xử lý các chất thải y tế không bảo đảm đó sẽ gây ảnh hưởng tới sức khỏe cộng đồng và nhất là của người trực tiếp tiếp xúc với chất thải
- Đối với môi trường: Khi chất thải y tế không được xử lý đúng cách (chôn lấp, thiêu đốt không đúng qui định, tiêu chuẩn) thì sẽ dẫn đến ô nhiễm môi trường, đất, nước và không khí và sự ô nhiễm này sẽ ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến sức khỏe con người, hệ sinh thái
- Như vây, để tránh được sự nguy hại của chất thải y tế đối với sức khỏe con người, môi trường, và để bảo vệ những người thường xuyên tiếp xúc với chất thải y tế thì ngành y tế phải quan tâm đầu tư hơn nữa cho công tác xử
lý chất thải y tế
(Nguồn Bộ Y tế, 2009)
2.4 Thực trạng thu gom, xử lý chất thải y tế trên thế giới và Việt Nam
2.4.1 Thực trạng thu gom xử lý chất thải y tế trên Thế giới
Nghiên cứu về chất thải y tế (CTYT) đã được tiến hành tại nhiều nước trên thế giới, đặc biệt ở các nước phát triển như Anh, Mỹ, Nhật, Pháp Các nghiên cứu đã quan tâm đến nhiều lĩnh vực như tình hình phát sinh; phân loại CTYT; quản lý CTYT (biện pháp làm giảm thiểu chất thải, tái sử dụng chất thải, xử lý chất thải, đánh giá hiệu quả của các biện pháp xử lý chất thải ); tác hại của CTYT đối với môi trường, sức khoẻ; biện pháp làm giảm tác hại của CTYT đối với sức khỏe cộng đồng, sự đe dọa của chất thải nhiễm khuẩn tới
Trang 26sức khỏe cộng đồng, ảnh hưởng của nước thải y tế đối với việc lan truyền dịch bệnh; những vấn đề liên quan của y tế công cộng với CTYT; tổn thương nhiễm khuẩn ở y tá, hộ lý và người thu gom rác; nhiễm khuẩn bệnh viện, nhiễm khuẩn ngoài bệnh viện đối với người thu nhặt rác, vệ sinh viên, cộng đồng và nhân viên y tế
(Nguồn M.E Rupnow (1992), Survey on medical waste management, Lilburn, GA: Future Technology Surveys)
Bảng 2.6: Tổng lượng chất thải bệnh viện tại một số nước trên thế giới
ở lượng rác thải trung bình từ 3.3 đến 6.5 kg/giường/ngày
Theo Tổ chức Y tế thế giới, có 18 - 64% cơ sở y tế chưa có biện pháp xử lý chất thải đúng cách Tại các cơ sở Y tế, 12,5% công nhân xử lý chất thải bị tổn thương do kim đâm xảy ra trong quá trình xử lý CTYT Tổn thương
Trang 27này cũng là nguồn phơi nhiễm nghề nghiệp, với máu phổ biến nhất, chủ yếu là dùng hai tay tháo lắp kim và thu gom tiêu huỷ vật sắc nhọn Có khoảng 50% số bệnh viện trong diện điều tra vận chuyển CTYT đi qua khu
vực bệnh nhân và không đựng trong xe thùng có nắp đậy (Theo WHO, 1997)
2.4.2 Hiện trạng quản lý và xử lý chất thải y tế tại Việt Nam
Theo thống kê năm 2011 của Cục Quản lý Môi trường Y tế - Bộ Y
tế, cả nước có hơn 1.000 bệnh viện, mỗi ngày phát sinh từ 350 - 500 tấn chất thải y tế, trong đó khoảng 45 tấn chất thải y tế nguy hại Thế nhưng, nhiều bệnh viện không có hệ thống lò đốt chuyên dụng Vì thế, vẫn có những vụ đốt chất thải y tế nguy hại trong khuôn viên bệnh viện với lượng lớn, ảnh hưởng trực tiếp đến bệnh nhân cũng như người dân sống xung quanh Cục phòng chống tội phạm về môi trường (PCTPVMT) cũng từng phát hiện một số bệnh viện ở Hà Nội vi phạm quy định về bảo vệ môi trường, khi trong số tang vật thu được có cả rác thải của bệnh nhân cách ly như HIV, lao v.v… Một xét nghiệm khoa học đã cho thấy sự nguy hiểm của rác thải bệnh viện: mỗi một gram bệnh phẩm như mủ, đờm… nếu không được xử lý, sẽ truyền 11 tỉ vi khuẩn gây bệnh ra ngoài Thực trạng trong quản lý chất thải y tế khiến dư luận bức xúc và lực lượng cảnh sát môi trường đang phải tăng cường phát hiện, xử lý vi phạm
(Nguồn Thông tư số 12/2011/TT- BTNMT năm 2011 quy định về quản lý chất
thải nguy hại)
Trang 28Bảng 2.7: Lượng chất thải phát sinh tại các khoa trong bệnh viện
và hơn 800tấn/ngày vào năm 2020 Rác thải y tế không được xử lý đúng cách
sẽ là ẩn họa cho cuộc sống của người dân
Trong tổng số 1.188 cơ sở khám chữa bệnh (KCB) trên toàn quốc, có tới 62% cơ sở không có hệ thống xử lý chất thải theo quy định, số đã có thì 68% không đạt yêu cầu, 73% cơ sở không đăng ký chủ nguồn chất thải nguy hại, 79% số không có giấy phép xử lý nước thải vào nguồn tiếp nhận Đây là con số do Đại tá Lương Minh Thảo, Phó cục trưởng Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường – Bộ Công an đưa ra, đã cho thấy tính cấp báo trong vấn đề môi trường y tế hiện nay, khi nó tiềm ẩn nhiều nguy cơ lây lan dịch bệnh, ảnh hưởng đến sức khỏe con người
(Nguồn Thông tư số 12/2011/TT- BTNMT năm 2011 quy định về quản lý chất thải nguy hại)
Trang 292.5 Hiện trạng quản lý và xử lý chất thải y tế tại Cao Bằng
Trên địa bàn Cao Bằng có 40 bệnh viện các loại với 6.651 giường bệnh
và 359 cơ sở hành nghề y dược tư nhân khác Trung bình mỗi ngày trên địa bàn tỉnh có 3000kg chất thải rắn y tế nguy hại được thải ra từ các cơ sở y tế
Bảng 2.8: Dự báo khối lượng chất thải rắn y tế nguy hại phát sinh trên
địa bàn toàn tỉnh
TT Khu vực/ cụm Khối lượng chất thải rắn y tế nguy
hại (kg/ngày) Năm
1 Khu vực TP Cao Bằng và các
huyện phụ cận( Hòa An,
Nguyên Bình, Quảng Uyên,
Trang 30Việc xử lý chất thải y tế nguy hại của các cơ sở y tế trên địa bàn Cao Bằng nhu hiện nay phần lớn được thực hiện bằng phương pháp thủ công, chôn lấp không đạt tiêu chuẩn vệ sinh môi trường
Các cơ sở y tế phần lớn nằm trong khu vực dân cư, nội thành, nội thị, trong khi lượng chất thải y tế phát sinh ngày càng nhiều, nếu không được xử
lý hoặc xử lý không đúng quy trình kỹ thuật sẽ gây ô nhiễm môi trường nghiem trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người dân gần các khu vực bệnh viện và thậm chí là với cán bộ y tế và những bệnh nhân nằm viện
2.6 Các biện pháp và công nghệ xử lý chất thải y tế
2.6.1 Các phương pháp xử lý và tiêu hủy chất thải rắn y tế
2.6.1.2 Công nghệ xử lý khí thải lò thiêu với 3 công suất nhỏ, trung bình và lớn
* Lò đốt công suất nhỏ