Khái niệm quản lý Nhà nước về kinh tế : Quản lý Nhà nước về kinh tế là sự tác động có tổ chức và bằng pháp quyền của Nhà nước lên nền kinh tế quốc dân nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các n
Trang 1Câu 1 : Quản lý Nhà nước về kinh tế là gì ? Vì sao nói quản lý Nhà nước vừa
là một khoa học vừa là nghệ thuật? Để kết hợp được cả 2 yếu tố này đạt hiệu quả cao, cần thiết phải tiến hành những công việc gì trong công tác quy hoạch, đào tạo, xây dựng và sử dụng đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về kinh tế?
Bài làm
1 Khái niệm quản lý Nhà nước về kinh tế :
Quản lý Nhà nước về kinh tế là sự tác động có tổ chức và bằng pháp quyền của Nhà nước lên nền kinh tế quốc dân nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực kinh tế trong và ngoài nước, các cơ hội có thể có, đểđạt được các mục tiêu phát triển kinh tếđất nước đặt ra trong điều kiện hội nhập và mở rộng giao lưu quốc tế.Theo nghĩa rộng, quản lý Nhà nước về kinh tế dược thực hiện thông qua cả ba loại
cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp của Nhà nước
Theo nghĩa hẹp, quản lý Nhà nước về kinh tếđược hiểu như hoạt động quản lý có tính chất Nhà nước nhằm điều hành nền kinh tế, được thực hiện bởi cơ quan hành pháp (Chính phủ)
2 Quản lý Nhà nước về kinh tế vừa là một khoa học vừa là nghệ thuật, nghề
nghiệp :
a) Quản lý Nhà nước về kinh tế là một khoa học vì nó cóđối tượng nghiên cứu riêng và có nhiệm vụ phải thực hiện riêng Đó là các quy luật và các vấn đề mang tính quy luật của các mối quan hệ trực tiếp và gián tiếp giưã các chủ thể tham gia các hoạt động kinh tế của xã hội
Tính khoa học của quản lý Nhà nước về kinh tế có nghĩa là hoạt động quản lý của Nhà nước trên thực tế không thể phụ thuộc vào ý chí chủ quan hay sở thích của một cơ quan Nhà nước hay cá nhân nào mà phải dựa vào các nguyên tắc, các
phương pháp, xuất phát từ thực tiễn vàđược thực tiễn kiểm nghiệm, tức là xuất phát từ các quy luật khách quan vàđiều kiện cụ thể của mỗi quốc gia trong từng giai đoạn phát triển
Để quản lý Nhà nước mang tính khoa học cần :
- Tích cực nhận thức các quy luật khách quan, tổng kết thực tiễn đểđề ra nguyên lý cho lĩnh vực hoạt động quản lý của Nhà nước về kinh tế
- Tổng kết kinh nghiệm, những mô hình quản lý kinh tế của Nhà nước trên thế giới
- Áp dụng các phương pháp đo lường định lượng hiện đại, sựđánh giá khách quan
Trang 2các quá trình kinh tế.
- Nghiên cứu toàn diện đồng bộ các hoạt động của nền kinh tế, không chỉ giới hạn
ở mặt kinh tế - kỹ thuật mà còn phải suy tính đến các mặt xã hội và tâm lý tức là phải giải quyết tốt vấn đề thực chất và bản chất của quản lý
b) Quản lý Nhà nước về kinh tế còn là một nghệ thuật và là một nghềvì nó lệ thuộckhông nhỏ vào trình độ nghề nghiệp, nhân cách, bản lĩnh của đội ngũ cán bộ quản
lý kinh tế, phong cách làm việc, phương pháp và hình thức tổ chức quản lý; khả năng thích nghi cao hay thấp v.v của bộ máy quản lý kinh tế của Nhà nước Tính nghệ thuật của quản lý Nhà nước về kinh tế thể hiện ở việc xử lý linh hoạt cáctình huống phong phú trong thực tiễn kinh tế trên cơ sở các nguyên lý khoa học Bản thân khoa học không thểđua ra câu trả lời cho mọi tình huống trong hoạt động thực tiễn Nó chỉ có thểđưa ra các nguyên lý khoa học là cơ sở cho các hoạt động quản lý thực tế Còn vận dụng những nguyên lý này vào thực tiễn cuộc sống phụ thuộc nhiều vào kiến thức, ý chí và tài năng của các nhà quản lý kinh tế Kết quả của nghệ thuật quản lý làđưa ra quyết định quản lý hợp lý tối ưu nhất cho một tình huống quản lsy
* Dùng người phải căn cứ vào phẩm chất và năng lực: khi tuyển chọn, bổ nhiệm
cán bộ quản lý kinh tế, phải dựa theo tiêu chuẩn đức, tài chứ không lấy thân tín làmtrọng Nó đòi hỏi bộ phận quản lý, nhân sự và các cán bộ lãnh đạo phải thật côngtâm, xuất phát từ lợi ích của nhân dân và Nhà nước, phải uốn nắn những biểu hiệnkhông tốt như lợi dụng chức quyền để mưu cầu lợi riêng
* Phát huy ưu điểm, khắc phục nhược điểm, hạn chế mặt yếu: Bất cứ
người nào cũng có những mặt mạnh vừa có cả những mặt yếu Vì thế bộ phận quản
lý, nhân sự và các cán bộ quản lý nhân sự khi đối xử với một cán bộ quản lý kinh
tế đều phải phân tích toàn diện, khảo sát tổng hợp, cân nhắc kỹ lưỡng
* Kiểm tra sát hạch, đề bạt, tiến cử một cách khoa học: Khảo sát những
kiến thức cơ bản, kỹ năng làm việc, trình độ nghiệp vụ, năng lực và thái độ làmviệc của các cán bộ quản lý kinh tế, thực hiện chế độ kiểm tra sát hạch để tránhtình trạng việc dùng người lấy thân tín làm trọng, để đảm bảo chất lượng nhânviên
* Bổ sung trí tuệ và tài năng lẫn nhau, tạo nên một cơ cấu hợp lý:
Một người đứng riên lẻ không thể hoàn thiện, toàn mỹ, không thể đồngthời có tất cả các kiến thức và tài năng thuộc mọi phương diện Thế nhưng, một tập
Trang 3thể được hợp thành bởi nhiều người, có thể bổ sung lẫn nhau để hình thành nênmột cơ cấu tối ưu, có thể làm nên sự nghiệp mà một người không thể làm nổi.
* Luôn luôn đổi mới và chuyển đổi một cách hợp lý:
Để thích ứng với nhu cầu phát triển kinh tế- xã hội, để theo kịp với tràolưu tiến bộ của thời đại Việc thay thế các cán bộ mới, đồng thời điều chỉnh cơ cấu,chất lượng của ban lãnh đạo các cấp là cần thiết
Câu 2: Nguyên tắc quản lý Nhà nước về kinh tế? Phân tích mối liên hệ giữa quy luật kinh tế và nguyên tắc quản lý kinh tế?
2.2.1 KHÁI NIỆM
Nguyên tắc quản lý là các qui tắc chỉ đạo, những tiêu chuẩn hành vi mà các
cơ quan quản lý Nhà nước phải tuân thủ trong quá trình quản lý kinh tế
Mối liên hệ giữa quy luật kinh tế và nguyên tắc quản lý kinh tế???????
2.2.2 YÊU CẦU CỦA CÁC NGUYÊN TẮC QUẢN LÝ KINH TẾ
Các nguyên tắc quản lý kinh tế do con người đặt ra nhưng không phải do sựsuy nghĩ chủ quan mà phải tuân theo các đòi hỏi khách quan của qui luật:
- Các nguyên tắc phải phù hợp với các mục tiêu quản lý
- Các nguyên tắc phải phản ánh đúng tính chất và các quan hệ quản lý
- Các nguyên tắc phải đảm bảo tính hệ thống, tính nhất quán và phải đượcđảm bảo bằng pháp luật
Nguyên tắc phân định và kết hợp tốt chức năng quản lý nhà nước về kinh tế vớichức năng quản lý kinh doanh của các doanh nghiệp
* Mục tiêu quản lý nhà nước về kinh tế: Phát triển nền kinh tế quốc dân ổnđịnh chính trị xã hội, tăng thu nhập
* Mục tiêu của các doanh nghiệp: “Tối đa hoá lợi nhuận “
* Quan hệ quản lý: - Nhà nước với tư cách là chủ thể quản lý
- Các doanh nghiệp là đối tượng bị quản lý của Nhànước
Trang 4* Về đối tượng quản lý của Nhà nước về kinh tế: Quan hệ giữa một cơ quan
có quyền lực chính trị với những tập thể đại diện cho quyền sử dụng những tài sảnthuộc sở hữu toàn dân được giao phó (đất đai, rừng, biển, hầm mỏ, nhà máy)
* Công cụ quản lý của Nhà nước: chủ yếu bằng pháp luật
* Nguyên tắc tổ chức bộ máy (tập trung dân chủ): Theo nguyên tắc này thì
bộ máy Nhà nước quản lý về kinh tế là cơ quan đại diện cho ý chí, nguyện vọngcủa nhân dân, nắm giữ tài sản của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu tráchnhiệm trước nhân dân, Bộ máy quản lý nhà nước về kinh tế được phân thành nhiềucấp từ cấp cao nhất là chính phủ, các bộ đến cơ quan quản lý nhà nước là quan hệcấp trên và cấp dưới
Câu 3: Tại sao các nhà quản lý kinh tế phải hiểu và nắm vững các quy luật giá trị, quy luật cung cầu- giá cả để làm căn cứ khoa học điều hành nền kinh
tế vĩ mô có hiệu quả?
Quy luật giá trị, quy luật cung cầu – giá cả là những quy luật kinh tế cơ bản, cótầm ảnh hưởng to lớn đối với sự hình thành và phát triển trong nền kinh tế thịtrường của nước ta trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội cũng như trong điềuhành nền kinh tế vĩ mô Đó là những quy luật kinh tế căn bản của sản xuất và traođổi hàng hóa Các quy luật kinh tế của thị trường quyết định sự vận động của thịtrường, do đó quyết định sự vận động của nền kinh tế thị trường Các quy luật này
có những đặc trưng chủ yếu sau:
- Các quy luật kinh tế của thị trường tạo ra động lực kinh tế, đó chính là lợi ích vậtchất, mà những người tham gia thị trường có thể đạt tới Động lực này có vai tròquyết định trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển
+ Trong nền kinh tế bao giờ cũng tồn tại đồng thời các loại lợi ích: lợi ích xãhội, lợi ích tập thể và lợi ích cá nhân, trong đó lợi ích cá nhân là động lực trực tiếp.Tiếp đến là lợi ích xã hội, lợi ích tập thể Thực tế nước ta cho thấy nhiều chủtrương, chính sách và biện pháp của Nhà nước do quan tâm thích đáng đến lợi ích
cá nhân, nên chúng đã nhanh chóng đi vào cuộc sống và được mọi người ủng hộ
+ Trong nền kinh tế có nhiều thành phần, thì kinh tế tư nhân thường rất nhạycảm với các quy luật kinh tế của thị trường so với các thành phần kinh tế khác Vìvậy, đối với các nước dựa chủ yếu vào kinh tế Nhà nước và kinh tế tập thể thì khichuyển sang kinh tế thị trường, nhiệm vụ đặt ra không chỉ là phải chuyển dịch các
Trang 5hình thức sở hữu, thực hiện cổ phần hoá và tư nhân hoá một phần, mà còn phải đặcbiệt quan tâm tạo ra động lực kinh tế cho khu vực kinh tế Nhà nước và tập thể.
- Trong nền kinh tế thị trường, các quy luật kinh tế của thị trường là quy luật trungtâm, là cơ sở, là động lực của các quy luật kinh tế khác và chi phối các hiện tượngkinh tế, nhưng chúng lại hoạt động một cách tự phát, vì vậy trong quản lý vĩ mônền kinh tế, trước hết phải nhận thức rõ để vận dụng các điều tiết chúng vì lợi íchcủa quốc kế dân sinh
- Các quy luật kinh tế của thị trường phát sinh và phát triển gắn với sự phát sinh vàphát triển kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trường Quan hệ sản xuất không làm thayđổi được bản chất của các quy luật kinh tế đó Sự phát triển của sức sản xuất rấtkhác nhau của các nền kinh tế ở các quốc gia chỉ làm cho hoạt động của các quyluật mang nhiều màu sắc khác nhau mà thôi
- Các quy luật kinh tế của thị trường có mối quan hệ mật thiết với nhau, trong đóquy luật giá trị có vai trò quan trọng nhất Các quy luật này tác động đến giá cả,đến các yếu tố thị trường theo những chiều hướng khác nhau, do đó, nó tạo ra sự
đa dạng và phong phú của các hiện tượng giá trị thị trường
+ Quy luật giá trị, với tư cách là quy luật cơ bản của sản xuất hàng hoá, đãtạo ra cho người mua và người bán những động lực cực kỳ quan trọng Trên thịtrường, người mua bao giờ cũng muốn tôi đa hoá lợi ích sử dụng Vì vậy, ngườimua luôn luôn muốn ép giá thị trường với mức gia thấp Ngược lại, người bán baogiờ cũng muốn tôi đá hoá lợi nhuận, và do đó, muốn bán với giá cao Để tồn tại vàphát triển, những người bán, một mặt phải phấn đấu giảm chi phí (đặc biệt là ở cácgiai đoạn trước khi đưa hàng hoá ra thị trường) để chi phí cá biệt bằng hoặc nhỏhơn chi phí xã hội trung bình Mặt khác, họ lại tranh thủ tối đa các điều kiện củathị trường để bán với giá cao Họ cố gắng dùng mọi thủ đoạn và biện pháp để bánđược hàng với giá cao nhất, nhằm tối đa hoá lợi nhuận Vì vậy, xét trên phươngdiện này, quy luật giá trị tác động tới người bán theo hướng thúc đẩy họ nâng giáthị trường lên cao Tuy nhiên đó chỉ là xu hướng
+ Quy luật cung cầu – giá cả: quyết định trực tiếp mức giá thị trường thôngqua sự vận động của quan hệ cung cầu Mức giá thị trường thực hiện các chứcnăng: một là, cân đối cầu cung ở ngay thời điểm mua bán (và chỉ ở thời điểm đó
mà thôi) Hai là, chỉ cho các nhà sản xuất biết cần phải giảm hay tăng khối lượng
Trang 6sản xuất, khối lượng hàng hoá cung ứng ra thị trường Xét về mặt thời gian, giá thịtrường là cái có trước quan hệ cung cầu Đây là hiện tượng phổ biến của sự hìnhthành và vận động của giá cả trên thị trường Thông qua sự vận động của giá thịtrường, các nhà sản xuất có thể nhận biết tương đối chính xác cầu của thị trường và
họ có thể chủ động đưa ra thị trường một khối lượng hàng hoá tương đối phù hợpvới nhu cầu đó Sự cân bằng cung cầu là cơ sở quan trọng để ổn định giá cả củatừng loại hàng
Qua đó ta thấy rằng Nhà nước cần phải quản lý giá, sự quản lý đó thể hiện sựnhận thức và vận dụng các quy luật kinh tế của thị trường
Câu 4: Các hình thức quản lý Nhà nước về kinh tế? Gồm những hình thức nào? Trong số các hình thức đó, hình thức nào quan trọng nhất, vì sao?
KHÁI NIỆM
Là tổng thể những phương tiện hữu hình và vô hình mà nhà nước sử dụng đểtác dùng lên mọi chủ thể kinh tế và xã hội nhằm thực hiện mục tiêu quản lý kinh tếquốc dân
Gồm những hình thức sau:
a Pháp luật
* Khái niệm: Hệ thống các quy tắc xử sự có tính chất bắt buộc chung
(quy phạm pháp luật) thể hiện ý chí của giai cấp thống trị và cộng đồng xã hội, donhà nước đặt ra, thực thi và bảo vệ, nhằm mục tiêu bảo toàn và phát triển xã hộitheo đặc trưng đã định
* Vai trò của pháp luật quản lý nhà nước về kinh tế
- Tạo tiền đề pháp lý vững chắc để điều chỉnh các quan hệ kinh tế, duy trì sự
ổn định lâu dài của nền kinh tế quốc dân, nhằm thực hiện mục tiêu tăng trưởngkinh tế bền vững
- Tạo cơ chế pháp lý hữu hiệu để thực hiện sự bình đẳng về quyền lợi vànghĩa vụ giữa các chủ thể kinh tế nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế quốc dân
- Tạo cơ sở pháp lý cần thiết để kết hợp hài hoà phát triển kinh tế và pháttriển xã hội và bảo vệ môI trường
* Các loại văn bản pháp luật
Trang 7+ Văn bản quy phạm pháp luật: gồm 3 loại
- Văn bản do quốc hội và uỷ ban thường vụ quốc hội ban hành: Hiến pháp,luật, nghị quyết, pháp lệnh
- Văn bản do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác ở trung ương banhành để thi hành văn bản quy phạm pháp luật của quốc hội và uỷ ban thường vụquốc hội ban hành: Lệnh, quyết định, chỉ thị, nghị quyết, thông tư
- Văn bản do hội đồng nhân dân Uỷ ban nhân dân các cấp ban hành để thihành văn bản quy phạm pháp luật của quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội vàvăn bản của cơ quan nhà nước cấp trên ngoài ra còn để thi hành nghị quyết cuả hộiđồng Nhân dân cùng cấp
+ Văn bản áp dụng quy phạm pháp luật
Là những văn bản có tính chất cá biệt do các cơ quan nhà nước có thẩmquyền ban hành, nhưng không có đầy đủ các yếu tố của văn bản quy phạm phápluật thường được ban hành để giải quyết các nhiệm vụ cụ thể đối với đối tượng cụthể như các quy định bổ nhiệm, miễn nhiệm, đề bạt, nâng cao, khen thưởng, kỷ luậtđiều động công tác đối với Cán bộ công chức nhà nước
* Đổi mới kinh tế pháp luật và quản lý nhà nước về kinh tế
- Nghiên cứu và ban hành các điều luật có liên quan đến việc tạo môi trườngpháp lý chính thức, ổn định cho sự hình thành và phát triển các quan hệ kinh tế thịtrường
- Quán triệt đầy đủ nguyên tắc bình đẳng trong quá trình xây dựng và thựcthi hệ thống pháp luật quản lý nhà nước về kinh tế
b Kế hoạch
* Khái niệm: Phương án hành động trong tương lai hoặc là quá trình xây
dựng quán triệt chấp hành và giám sát kiểm tra việc thực hiện phương án hànhđộng trong tương lai
* Nội dung hoạt động của kế hoạch
- Chiến lược phát triển kinh tế xã hội là đường lối chung tổng quát và
phương pháp chủ yếu, tổng thể để phát triển kinh tế xã hội của đất nước trong mộtthời gian dài (ở nước ta thường 10 năm)
- Quy hoạch phát triển kinh tế xã hội là sự cụ thể hoá một bước chiến lược
phát triển kinh tế xã hội, nó là tập hợp các mục tiêu và sự bố trí sắp xếp các nguồnlực tương ứng để thực hiện mục tiêu theo không gian và thời gian
Trang 8- Kế hoạch trung hạn là phương tiện chủ yếu để cụ thể hoá các mục tiêu và
các giải pháp đã được lựa chọn trong chiến lược
- Kế hoạch hàng năm là sự cụ thể hoá kế hoạch trung hạn nhằm thực hiện
nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội
- Chương trình là để xác định một cách đồng bộ các mục tiêu cần đạt, các
bước công việc phải tiến hành các nguồn lực cần huy động để thực hiện một ý đồnào đó
- Dự án là tổng thể các hoạt động các nguồn lực và các chi phí được bố trí
chặt chẽ theo thời gian và không gian nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội
cụ thể (dự án xoá đói giảm nghèo của đồng bào các xã đặc biệt khó khăn ở vùngsâu vùng xã)
- Ngân sách là bản tường trình bằng con số sự huy động và phân bổ các
nguồn lực cho việc thực hiện các chương trình dự án trong một giai đoạn pháttriển
* Vai trò của quản lý kế hoạch vĩ mô
- Là căn cứ cơ bản của quản lý kinh tế quốc dân
- Là một khâu quan trọng và là một bộ phận cấu thành hữu cơ của quản lýkinh tế quốc dân
- Là một công cụ quan trọng của nhà nước để điều hành kinh tế vĩ mô
* Đổi mới công tác kế hoạch hoá vĩ mô
- Kết hợp kế hoạch với thị trường
- Chuyển kế hoạch cụ thể trực tiếp sang kế hoạch định hướng gián tiếp
- Nâng cao chất lượng công tác lập kế hoạch đồng thời tăng cường chỉ đạoviệc thực hiện kế hoạch
c.Chính sách
* Khái niệm: là một tập hợp các giải pháp nhất định để thực hiện các mục
tiêu bộ phận trong qúa trình đạt tới mục tiêu chung của sự phát triển kinh tế xã hội
* Các loại chính sách (Theo lĩnh vực hoạt động)
+ Các chính sách kinh tế chủ yếu
- Chính sách cơ cấu kinh tế
- Chính sách tài chính
- Chính sách tiền tệ
Trang 9- Chính sách giá cả
- Chính sách kinh tế đối ngoại
+ Các chính sách xã hội (phi kinh tế)
- Chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình
- Chính sách xoá đói giảm nghèo
- Chính sách bảo vệ môi trường
* Vai trò của chính sách trong quản lý nhà nước về kinh tế
- Tạo ra những kích thích đủ lớn cần thiết để biến đường lối chiến lược củaĐảng thành hiện thực
- Là bộ phận năng động nhất có độ nhạy cảm cao nhất trước những biếnđộng trong đời sống kinh tế xã hội của đất nước nhằm giải quyết những vấn đề bứcxúc mà xã hội đặt ra
* Hoàn thiện hệ thống các chính sách pháp lý cuả nhà nước về kinh tế
- Phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa vì sự nghiệp dân giàu nướcmạnh (trước đây là vì hạnh phúc của nhân dân)
- Tăng trưởng kinh tế phải gắn với mục tiêu công bằng và tiến bộ xã hội
- Mục tiêu và động lực chính của sự phát triển kinh tế là vì con người và docon người
d Tài sản quốc gia
* Khái niệm: Theo nghĩa rộng bao gồm tất cả mọi nguồn lực của đất
nước, theo nghĩa hẹp là nguồn vốn và các phương tiện vật chất - kỹ thuật mà Nhànước có thể sử dụng để tiến hành quản lý kinh tế quốc dân
* Các loại tài sản quốc gia
Trang 10+ Công sở: Nơi làm việc của cơ quan hành chính nhà nước là nơi công
chức và nhân viên Nhà nước thực hiện nhiệm vụ quản lý kinh tế - xã hội của mình
+ Ngân sách nhà nước: Hồ sơ các khoản thu chi của Nhà nước trong dự
toán đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và thực hiện trong mộtnăm đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình
+ Tài nguyên thiên nhiên: gồm đất, nước, khoáng sản, rừng, biển,
khoảng không, môi trường là tài sản vô giá của quốc gia, là tư liệu sản xuất hàngđầu và là thành phần quan trọng bậc nhất của sự tồn tại và phát triển của mọi xãhội
+ Kết cấu hạ tầng: Tổng thể một số ngành sản xuất mang tính chất phục
vụ cung cấp có trả tiền hoặc không trả tiền hàng hoá và dịch vụ cho nhu cầu sinhhoạt dân cư và nhu cầu sản xuất kinh doanh trong đó chủ yếu là hệ thống nănglượng, hệ thống cấp thoát nước, hệ thống bảo vệ môi trường
+ Công khố: kho bạc nhà nước các nguồn dự trữ bằng tiền, ngoại tệ,
vàng bạc, kim cương, đá quý được sử dụng với chức năng chủ yếu là dự trữ bảohiểm các bất trắc xảy ra trong quá trình tồn tại và phát triển của xã hội
+ Doanh nghiệp nhà nước: Tổ chức kinh tế do nhà nước đầu tư vốn
thành lập và tổ chức quản lý hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích nhằmthực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội do nhà nước giao
+ Hệ thống thông tin nhà nước: Tập hợp những con người, các thiết bị
phần cứng, phần mềm dữ liệu, thực hiện hoạt động thu nhập lưu trữ xử lý và phânphối thông tin nhằm phục vụ quản lý kinh tế vĩ mô
* Vai trò của tài sản quốc gia và quản lý nhà nước về kinh tế
- Tài sản quốc gia là cơ sở vật chất mà kinh tế nhà nước dựa vào đó để tồntại và phát triển tạo nền tảng cho các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh pháttriển
- Là một công cụ tối quan trọng mà nhà nước sử dụng để can thiệp trực tiếpvào nền kinh tế quốc dân, kịp thời giải quyết những trục trặc, lệch lạc, mất cân đối
- Là bộ khung vật chất kĩ thuật của nền kinh tế quốc dân có ảnh hưởng trựctiếp năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất kinh doanh của toàn xã hội
* Tăng cường quản lý tài sản quốc gia
Trang 11- Về quản lý ngân sách nhà nước là phương hướng chung là tăng thu giảm
chi thực hiện cân bằng thu chi ngân sách phấn đấu ngân sách có số dư tránh thâmhụt ngân sách
- Về quản lý tài nguyên thiên nhiên là tiến hành kiểm kê và kiểm soát việc
khai thác sử dụng các tài nguyên thiên nhiên Thực hiện nguyên tắc sử dụng tàinguyên thiên nhiên phải trả tiền kết hợp khai thác sử dụng với bảo vệ và khôi phục
- Về quản lý kết cấu hạ tầng là tăng cường sự phối kết hợp giữa các ngành
kết cấu hạ tầng và việc xây dựng khai thác sử dụng và bảo vệ các công trình kếtcấu hạ tầng Thực hiện xây dựng kết cấu hạ tầng theo quy hoạch thống nhất vànhanh chóng đưa vào sử dụng Trong quá trình sử dụng cần có kế hoạch khai thácđồng thời phải tăng cường bảo vệ
- Về quản lý doanh nghiệp nhà nước là thực hiện chuyển đổi cơ cấu sở hữu,
sắp xếp lại và đổi mới quản lý doanh nghiệp nhà nước, nâng cao hiệu quả hoạtđộng và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước, bảo đảm vai trò chủ đạocủa kinh tế nhà nước
Phương hướng cơ bản
- Giữ doanh nghiệp nhà nước toàn phần ở một số ngành lĩnh vực then chốt
- Cổ phần hoá một số doanh nghiệp vừa
- Giao bán, khoán, cho thuê những doanh nghiệp nhà nước có quy mô nhỏ
- Giúp nhập giải thể hoặc phá sản những doanh nghiệp làm ăn thua lỗ kéo dài
Câu 5: Văn bản quản lý nhà nước có ý nghĩa gì trong quản lý kinh tế của Nhànước? Trong hệ thống văn bản quản lý Nhà nước, loại văn bản nào là quan trọngnhất? Tại sao? Cho ví dụ minh họa?
Văn bản quản lý nhà nước (VBQLNN) là những quyết định và thông tin quản lý thành văn (được văn bản hoá) do các cơ quan quản lý nhà nước ban hành theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục, hình thức nhất định và được nhà nước đảm bảo thi hành bằng những hình thức khác nhau nhằm điều chỉnh các mối quan hệ quản lý nội bộ nhà nước hoặc giữa các cơ quan nhà nước với các tổ chức và công dân Văn bản quản lý kinh tế nhà nước là các văn bản xác lập mối quan hệ kinh tế giữa các chủ thể kinh tế và hoạt động kinh tế trong một quốc gia.
Trang 12Quản lý kinh tế nhà nước đòi hỏi phải dựa trên những cơ sở nhất định Một trong những cơ sở đó là các văn bản quản lý của Nhà nước Chúng vừa có tính chất pháp lý cho quản lý kinh tế, vừa có tính chất quyết định đến các hoạt động kinh tế Văn bản quản lý nhà nước giúp cho các nhà hoạch định kinh tế đưa ra được các văn bản quản lý kinh tế, làm cơ sở cho toàn bộ hoạt động của nền kinh tế Văn bản quản lý kinh tế xác lập quan hệ kinh tế và hoạt động kinh tế trong mỗi quốc gia, nhằm đảm bảo cho hệ tống kinh tế hoạt động một cách cân đối, nhịp nhàng, mang lại hiệu quả kinh tế cao, đồng thời còn quyết định các hoạt động của các bộ phận kinh tế về số lượng và chất lượng.
Dựa vào các văn bản quản lý nhà nước các nhà kinh tế có thể hiểu được những vấn đề chung của pháp luật nhà nước trong lĩnh vực quản lý kinh tế, từ đó có thể:
- Soạn thảo chiến lược sản xuất kinh doanh của nhà nước, của doanh nghiêp Soạn thảo kế hoạch sản xuất kinh doanh của Nhà nước, của doanh nghiệp
- Soạn thảo các cự án đầu tư, cho mở rộng sản xuất kinh doanh….
Văn bản quản lý nhà nước gồm 2 loại cơ bản:
- Văn Bản quy phạm Pháp luật
- Văn bản hành chính.
Trong đó, Văn bản quy phạm pháp luật là quan trọng nhất
Văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) là văn bản do cơ quan nhà nước cóthẩm quyền ban hành theo thủ tục, trình tự luật định, trong đó có các quy tắc xử sự
chung nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội và được Nhà nước đảm bảo thực hiện
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật bao gồm:
+ Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội
+ Pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội
+ Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước
+ Nghị định của Chính phủ
+ Quyết định của Thủ tướng Chính phủ