MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN 1 MỞ ĐẦU 2 1. Lý do chọn đề tài 2 2. Phạm vi nghiên cứu 3 3. Phương pháp nghiên cứu 3 4. Mục đích nghiên cứu 3 5. Bố cục đề tài 3 CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ LỄ HỘI CỔ TRUYỀN NÓI CHUNG 5 1.1. Khái niệm về lễ hội cổ truyền. 5 1.2. Quá trình hình thành và phát triển của hệ thống lễ hội trong lịch sử Việt Nam 6 1.2.1. Lễ hội thời bản địa 6 1.2.2. Lễ hội trong mối giao lưu văn hóa với khu vực 8 1.2.3. Lễ hội trong mối giao lưu văn hóa với Phương Tây 11 1.3. Vị trí của lễ hội Gióng trong hệ thống lễ hội cổ truyền thống 15 1.3.1. Thánh Gióng và tín ngưỡng Tứ bất tử 17 1.3.2. Lễ hội Gióng trong mối quan hệ với các lễ hội khác 19 CHƯƠNG II: KHẢO SÁT VỀ THỰC TRẠNG LỄ HỘI GIÓNG TẠI ĐỊA BÀN HÀ NỘI 22 2.1. Lễ hội thờ thánh Gióng ở Gia Lâm 22 2.1.1. Mô tả khái quát lễ hội 22 2.1.2. Những giá trị văn hóa đặc sắc của lễ hội 29 2.2. Hội Gióng Sóc Sơn 31 2.2.1. Mô tả khái quát lễ hội 31 2.2.2. Những giá trị văn hóa đặc sắc của lễ hội 33 2.3. Hội đền Sóc Xuân Đỉnh 37 2.3.1. Mô tả khái quát lễ hội 37 2.3.2. Những giá trị văn hóa đặc sắc của lễ hội 39 CHƯƠNG III: MỘT SỐ VẤN ĐỀ TỒN TẠI VÀ NHỮNG ĐỀ XUẤT TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÍ LỄ HỘI. 41 3.1. Một số vấn đề tồn tại trong công tác quản lí lễ hội. 41 3.1.1. Hội Gióng Gia Lâm 41 3.1.2. Hội Gióng ở Sóc Sơn. 42 3.1.3. Hội đền Sóc Xuân Đỉnh. 43 3.2. Một số đề xuất trong công tác quản lí lễ hội. 44 KẾT LUẬN 47 PHỤ LỤC 49 TÀI LIỆU THAM KHẢO 63
Trang 1MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 1
MỞ ĐẦU 2
1 Lý do chọn đề tài 2
2 Phạm vi nghiên cứu 3
3 Phương pháp nghiên cứu 3
4 Mục đích nghiên cứu 3
5 Bố cục đề tài 3
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ LỄ HỘI CỔ TRUYỀN NÓI CHUNG 5
1.1 Khái niệm về lễ hội cổ truyền 5
1.2 Quá trình hình thành và phát triển của hệ thống lễ hội trong lịch sử Việt Nam 6
1.2.1 Lễ hội thời bản địa 6
1.2.2 Lễ hội trong mối giao lưu văn hóa với khu vực 8
1.2.3 Lễ hội trong mối giao lưu văn hóa với Phương Tây 11
1.3 Vị trí của lễ hội Gióng trong hệ thống lễ hội cổ truyền thống 15
1.3.1 Thánh Gióng và tín ngưỡng Tứ bất tử 17
1.3.2 Lễ hội Gióng trong mối quan hệ với các lễ hội khác 19
CHƯƠNG II: KHẢO SÁT VỀ THỰC TRẠNG LỄ HỘI GIÓNG TẠI ĐỊA BÀN HÀ NỘI 22
2.1 Lễ hội thờ thánh Gióng ở Gia Lâm 22
2.1.1 Mô tả khái quát lễ hội 22
2.1.2 Những giá trị văn hóa đặc sắc của lễ hội 29
2.2 Hội Gióng Sóc Sơn 31
2.2.1 Mô tả khái quát lễ hội 31
2.2.2 Những giá trị văn hóa đặc sắc của lễ hội 33
2.3 Hội đền Sóc Xuân Đỉnh 37
2.3.1 Mô tả khái quát lễ hội 37
2.3.2 Những giá trị văn hóa đặc sắc của lễ hội 39
Trang 2CHƯƠNG III: MỘT SỐ VẤN ĐỀ TỒN TẠI VÀ NHỮNG ĐỀ XUẤT
TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÍ LỄ HỘI 41
3.1 Một số vấn đề tồn tại trong công tác quản lí lễ hội 41
3.1.1 Hội Gióng Gia Lâm 41
3.1.2 Hội Gióng ở Sóc Sơn 42
3.1.3 Hội đền Sóc Xuân Đỉnh 43
3.2 Một số đề xuất trong công tác quản lí lễ hội 44
KẾT LUẬN 47
PHỤ LỤC 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 63
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Nhóm nghiên cứu chúng em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới
cô giáo - Ths Nguyễn Thị Kim Loan- Giảng viên bộ môn Cơ sở văn hóa ViệtNam, Trường Đại học Nội Vụ Hà Nội đã trực tiếp tận tình hướng dẫn, giúp đỡnhóm chúng em hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học: “Khảo sát hệ thống lễhội thờ Thánh Gióng tại địa bàn Hà Nội”
Nhóm nghiên cứu chúng em chân thành cảm ơn thầy giáo, cô giáo trongkhoa Văn hóa-Thông tin & Xã hội đã cung cấp những kiến thức quý báu, tạođiều kiện cho chúng em thực hiện và hoàn thành đề tài này
Hà Nội, ngày 02 tháng 9 năm 2012
Tác giả đề tài khoa học Lưu Thị Quỳnh Nguyễn Thị Nha Trang
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Lễ hội thờ Thánh Gióng là lễ hội lớn nhất và quan trọng nhất ở Bắc Bộ,
có vị trí đặc biệt trong đời sống tâm linh của người dân Hà Thành cổ kính Lễhội là một trong những di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu của Đông Đô ThăngLong Hà Nội nói riêng và của dân tộc Việt Nam nói chung Lễ hội Gióng đã có
từ rất lâu đời trong văn hóa Việt Nam và vẫn được duy trì cho tới tận ngày nay,
vì thế nó đã tích hợp trong mình nhiều lớp văn hóa trong lịch sử Việt Nam Đặcbiệt, lễ hội thờ Thánh Gióng là lễ hội thể hiện tính tâm linh và tính dân tộc sâusắc trong đời sống tinh thần của người dân Hà Nội nói riêng và người Việt Namnói chung, thể hiện rõ nhất truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc ta
Lễ hội tái hiện lại trận đánh của Đức Thánh Gióng chiến thắng 28 đạo binh củagiặc Ân, thể hiện được khí thế chiến thắng hào hùng và bản lĩnh vĩ đại của dântộc Việt
Bên cạnh những giá trị văn hóa nổi trội như thể hiện rõ tinh thần yêunước và lòng dũng cảm quật cường của dân tộc lễ hội Gióng cũng hàm chứatrong mình nhiều giá trị văn hóa độc đáo và tiêu biểu của nhiều lớp văn hóatrước đó Nghiên cứu khảo sát lễ hội Gióng ở Gia Lâm( nơi Gióng sinh ra), lễhội đền Sóc Xuân Đỉnh( nơi Gióng nghỉ chân trên đường về Sóc Sơn), lễ hộiGióng ở Sóc Sơn( nơi Gióng bay về trời) để thấy được những giá trị văn hóaquý giá của dân tộc tiềm ẩn trong đó sẽ mang lại những bổ ích trong việc giáodục truyền thống cho thế hệ trẻ và bổ ích cho những cán bộ văn hóa tương laihiểu biết sâu sắc hơn về văn hóa dân tộc và tự hào về truyền thống văn hóa lâuđời và rực rỡ của mình
Mặt khác, nghiên cứu lễ hội Việt Nam cũng là một môn khoa học rất quantrọng phục vụ cho quá trình học tập trong chuyên ngành quản lý văn hóa, vì vậynghiên cứu đề tài này sẽ hỗ trợ đắc lực cho quá trình nghiên cứu bộ môn cơ sởvăn hóa Việt Nam, quản lý di sản văn hóa, quản lý lễ hội Chính vì vậy nhómtác giả đã chọn “Khảo sát hệ thống lễ hội thờ Thánh Gióng trên địa bàn Hà Nội”làm đề tài nghiên cứu khoa học của mình
Trang 52 Phạm vi nghiên cứu
Khảo sát hệ thống lễ hội thờ Thánh Gióng tại địa bàn Hà Nội, cụ thể:
a Lễ hội thờ Thánh Gióng ở Sóc Sơn
b Lễ hội thờ Thánh Gióng ở Gia Lâm
c Lễ hội thờ Thánh Gióng ở đền Sóc Xuân Đỉnh
3 Phương pháp nghiên cứu
a Phương pháp khảo sát điền dã
5 Bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận đề tài dự định chia làm 3 chương:
Chương I: Một số vấn đề lý luận về lễ hội cổ truyền nói chung
1.1 Khái niệm về lễ hội cổ truyền
1.2 Quá trình hình thành và phát triển của hệ thống lễ hội trong lịch sửViệt Nam
1.2.1 Lễ hội thời bản địa
1.2.2 Lễ hội trong mối giao lưu văn hóa với khu vực
1.2.3 Lễ hội trong mối giao lưu văn hóa với Phương Tây
1.3 Vị trí của lễ hội Gióng trong hệ thống lễ hội cổ truyền thống
1.3.1 Thánh Gióng và tín ngưỡng Tứ bất tử
Trang 61.3.2 Lễ hội Gióng trong mối quan hệ với các lễ hội khác
Chương II Khảo sát về thực trạng lễ hội Gióng tại địa bàn Hà Nội
2.1 Lễ hội thờ Thánh Gióng ở Gia Lâm
2.1.1 Mô tả khái quát Lễ hội
2.1.2 Những giá trị văn hóa đặc sắc của lễ hội
2.2 Hội Gióng Sóc Sơn
2.2.1 Mô tả khái quát Lễ hội
2.2.2 Những giá trị văn hóa đặc sắc của lễ hội
2.3 Đền Sóc ở Xuân Đỉnh
2.3.1 Mô tả khái quát lễ hội
2.3.2 Những giá trị văn hóa đặc sắc của lễ hội
Chương III: Một số vấn đề tồn tại và những đề xuất trong công tác quản lí lễ hội3.1 Một số vấn đề tồn tại trong công tác quản lí lễ hội
3.1.1 Hội Gióng Gia Lâm
3.1.2 Hội Gióng Sóc Sơn
3.1.3 Hội đền Sóc Xuân Đỉnh
3.2 Những đề xuất trong công tác quản lí lễ hội
Trang 7CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN
VỀ LỄ HỘI CỔ TRUYỀN NÓI CHUNG
1.1 Khái niệm về lễ hội cổ truyền.
Mùa xuân - mùa khởi đầu cho một năm, mùa sinh sôi nảy nở của vạn vật,
cỏ cây,…Giữa thời tiết ấm áp ấy, lòng người phơi phới rủ nhau đi hội, hànhhương về cội nguồn, vui chơi và cầu mong cho mùa màng tốt tươi, con ngườihạnh phúc Đây là mùa mọi người cùng nhau hướng về lễ hội
Vậy lễ hội là gì?
Lễ hội là một sự kiện văn hóa được tổ chức mang tính cộng đồng Lễhội gồm hai phần là Lễ và Hội “Lễ” là hệ thống những hành vi, động tácnhằm biểu hiện sự tôn kính của con người với thần linh, phản ánh những ước
mơ chính đáng của con người trước cuộc sống mà bản thân họ chưa có khảnăng thực hiện Lễ là nghi lễ, tín ngưỡng của dân gian và các tôn giáo dunhập được dân gian hóa, cùng các đồ vật được sử dụng làm lễ gọi là lễ vật,mang tính linh nghiêm, mực thước và pha một chút huyền bí, li kì Thông quacác nghi lễ này con người ta dường như giao cảm được với thế giới siêunhiên “ Hội” là sinh hoạt văn hóa, tôn giáo, nghệ thuật của cộng đồng, xuấtphát từ nhu cầu cuộc sống Hội bao gồm tất cả các trò vui, trò diễn và hoạtđộng được gọi chung là diễn xướng dân gian Hội phần dành cho các trò vuichơi, để thỏa mãn nhu cầu giải trí mang tính vui nhộn, hài hước song gắn vớiviệc thờ cúng thần linh
Lễ hội là hoạt động tập thể và thường có liên quan đến tín ngưỡng, tôngiáo, không thể tách rời phần “ Lễ” và phần “ Hội” được Con người xưa rất tinvào trời đất, thần linh Các lễ hội truyền thống phản ánh hiện tượng đó Mỗi một
lễ hội mang một nét tiêu biểu và giá trị riêng, nhưng bao giờ cũng hướng tới mộtđối tượng linh thiêng cần được suy tôn như các hiện tượng tự nhiên được thầnthánh hóa, đặc biệt là những vị anh hùng chống ngoại xâm, những người cócông dạy dỗ truyền nghề, chống thiên tai, diệt trừ ác thú, giàu lòng cứu nhân độthế,…Với tư tưởng uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây, ngày hội
Trang 8diễn ra sôi nổi bằng cách phục hiện lại những sự tích, công trạng, là cầu nối giữaquá khứ với hiện tại, làm cho thế hệ trẻ hôm nay hiểu được công lao tổ tiên,thêm tự hào về truyền thống quê hương, đất nước của mình Đặc biệt lễ hộinước ta gắn bó với làng xã, địa danh, vùng đất như một thành tố không thể thiếuvắng trong đời sống cộng đồng nhân dân Những hoạt động, nghi lễ đó đượctruyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, tạo thành một giá trị không thay đổi theothời gian được gọi là lễ hội truyền thống.
1.2 Quá trình hình thành và phát triển của hệ thống lễ hội trong lịch
sử Việt Nam
1.2.1 Lễ hội thời bản địa
Việt Nam là một quốc gia đã có hàng ngàn năm lịch sử Cũng như cácquốc gia khác trên thế giới, Việt Nam có một nền văn hóa mang đậm bản sắcriêng Chính những nét đó làm nên cốt cách, hình hài và bản sắc của dân tộcViệt Nam Có thể nói, lễ hội là một kho tàng văn hoá, nơi lưu giữ những tínngưỡng, tôn giáo, những sinh hoạt văn hoá văn nghệ, nơi phản ánh tâm thức conngười Việt Nam một cách trung thực Nhìn chung, lễ hội dân tộc Việt Nam gồmhai bộ phận: lễ hội truyền truyền thống cung đình và lễ hội dân gian Với lễ hộidân gian, đây là nơi lưu giữ nhiều tín ngưỡng dân gian Tín ngưỡng của lễ hộidân gian Việt Nam được biểu hiện dưới nhiều dạng như thờ cúng thần hoàng,thờ mẫu, thờ cúng tổ tiên, thờ cúng tổ nghề… Ngoài ra, các tín ngưỡng dân giancòn tiềm ẩn các trò diễn như tín ngưỡng thờ mặt trời, mặt trăng, thần nước… Sựtiềm ẩn đó khiến chúng ta khó nhận diện các tín ngưỡng cổ xưa ấy Cùng với tínngưỡng, nhiều lễ hội còn gắn với Phật giáo, Thiên chúa giáo Lễ hội cung đìnhgắn liền với văn hóa cung đình của các triều đại phong kiến mà đỉnh cao và sựphong phú là các lễ hội cung đình triều Nguyễn như lễ tế Nam Giao, tế Xã tắc,Truyền lô… Lễ hội là sinh hoạt văn hóa dân gian xuất hiện cách đây hàng nghìnnăm vẫn được duy trì
Giai đoạn văn hóa bản địa Việt Nam có thể tính từ khi con người bắtđầu có mặt trên lãnh thổ Việt Nam cho tới khoảng thế kỷ thứ nhất trướccông nguyên
Trang 9Giai đoạn này có thể được chia làm 2 thời kỳ :
Thời tiền sử: từ buổi đầu đến thời đại đá mới
Thời sơ sử: cách đây khoảng trên dưới 4000 năm
Thời kì này bắt đầu hình thành nên các công xã nông nghiệp, phát triểnnông nghiệp lúa nước hoàn chỉnh theo thời vụ, hạt nhân tín ngưỡng là hạt nhânnông nghiệp Hiện tượng tự nhiên chi phối sản xuất nông nghiệp, khi ấy conngười mong muốn có sự hài hòa và hòa đồng với thiên nhiên Họ cầu mong có
sự che trở và bảo hộ từ các thế lực siêu nhiên vô hình Khi con người bước sang
xã hội nông nghiệp thì lễ hội có những bước chuyển biến mạnh mẽ, cùng với sựphát triển của nền văn minh nông nghiệp, trong đó có sự ra đời và ngày cànghoàn thiện các nông cụ sản xuất, đã xuất hiện các quốc gia nông nghiệp cổ đại
Do vậy mà đời sống về vật chất của con người không ngừng được cải thiện tốthơn so với trước
Ở thời kì này con người vừa tiếp cận, khám phá thiên nhiên, lại vừa hòanhập với thiên nhiên, song đồng thời cũng phải đối chọi với thiên nhiên Trongcuộc sống đấu tranh chinh phục thiên nhiên, con người đã giành được nhữngchiến công vĩ đại và học bắt đầu ý thức được sức mạnh của chính mình, họ biếtkiêu hãnh và tự hào về cộng đồng dân tộc mình Đây là thời kỳ hình thành nềntảng - cơ tầng văn hoá Việt Nam, được tính từ khi người nguyên thủy biết dùng
đá để chế tác công cụ cách ngày nay vài chục vạn năm cho đến thời đại HùngVương dựng nước - thời đại làm nên hai thành tựu lớn lao có ý nghĩa lịch sử Đó
là sự hình thành của nền văn minh sông Hồng và sự ra đời của hình thái nhànước sơ khai: nhà nước Văn Lang của các vua Hùng và tiếp đó là nước Âu Lạccủa An Dương Vương Ở thời kì Hùng Vương, lễ hội không chỉ phản ánh nềnvăn minh nông nghiệp lúa nước mà còn mang nội dung mới nhằm suy tôn kínhtrọng tổ tiên giống nòi và ca ngợi các vị anh hùng dân tộc như Âu Cơ, Lạc LongQuân, các vua Hùng đã có công mở nước và dựng nước Đồng thời phản ánhkhá rõ nét đời sống tâm linh của cư dân nông nghiệp, trong các hình thức sinhhoạt văn hóa dân gian, mà hạt nhân tín ngưỡng của lễ hội khi ấy là các nghi lễphồn thực của hệ thống tín ngưỡng nông nghiệp cổ đại như : cầu nhân khang,
Trang 10vật thịnh, cầu mùa , cầu nước…Có thể gọi tên cho các lễ hội khi đó là lễ hộinông nghiệp cổ đại Lễ hội thời kì này tổ chức vào mùa thu, bằng chứng là trênnhững chiếc trống đồng Đông Sơn có chạm khác hình tượng những người LạcViệt đi dự hội, trên đầu họ có cắm những bông lau mà chỉ mùa thu mới có loàibông này Sở dĩ mở hội vào mùa thu vì đây là lúc nông nhàn, khi vụ mùa vừa kếtthúc, người ta tổ chức lễ hội để tạ ơn Trời – Đất và các vị thần linh đã phù hộ chomùa màng tươi tốt, bội thu Nhân đó họ còn tổ chức vui chơi giải trí sau một nămlàm ăn vất vả, mệt nhọc…Hơn nữa nước ta ở vùng nhiệt đới ẩm gió mùa, vàomùa thu thường hay có lũ lụt xảy ra, vì vậy mà người dân e ngại với sự bấtthường của thời tiết, nên họ tổ chức lễ hội cầu mưa thuận gió hòa để làm ăn vàsinh sống.
Lễ hội thời bản địa là lễ hội hoàn toàn mang tính nông nghiệp, phản ánhnguyện vọng và ước mơ của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước: Đó là “ mùamàng bội thu, nhân khang vật thịnh” Mà căn cỗi trong tâm linh của người Việt
cổ là tín ngưỡng phồn thực, được tái hiện trong các lễ hội nông nghiệp cổ đạimang tính thuần Việt Đó chính là hình ảnh hội tụ những phẩm chất cao đẹpnhất của con người Giúp chúng ta nhớ về cội nguồn, hướng thiện và nhằm tạodựng một cuộc sống tốt lành, yên vui
1.2.2 Lễ hội trong mối giao lưu văn hóa với khu vực
Về mặt địa lí, là một quốc gia nằm phía đông bán đảo Đông Dương thuộckhu vực Đông Nam Á, một khu vực có nền nhiết đới ẩm gió mùa, nắng lắm,mưa nhiều Xét về góc độ cảnh quan địa lí, Đông Nam Á có đủ rừng, đồng bằng,sông biển Đó là hằng số tự nhiên góp phần tạo nên bản sắc thống nhất của vănhóa Đông Nam Á: văn hóa nông nghiệp lúa nước, văn hóa sông biển, văn hóaxóm làng Vị trí địa lý của Việt Nam cũng là ngã ba đường, nơi giao thoa cácluồng văn hóa Đông – Tây, vì thế Việt Nam bên cạnh mang các yếu tố ĐôngNam Á còn ảnh hưởng đậm nét của hai nền văn hóa lớn trên thế giới: Văn hóaTrung Quốc và văn hóa Ấn Độ
Về mặt lịch sử, Đông Nam Á là một trong những cái nôi của nhân loại.Trong quá trình phát triển, số phận của các dân tộc, các quốc gia Đông Nam Á
Trang 11thăng trầm theo những bước lên xuống gập ghềnh khá giống nhau Nơi đây cóchung các nền văn hóa nổi tiếng: văn hóa Hòa Bình, văn hóa Bắc Sơn, văn hóaĐông Sơn Con đường dựng nước và giữ nước của các dân tộc, các quốc giaĐông Nam Á cũng luôn luôn ở một hoàn cảnh tương tự: xây dựng nhà nước sơkhai theo mô hình tổ chức của Ấn Độ, cùng phải đối mặt với đế quốc NguyênMông, các đế quốc phương Tây và Nhật Bản Chính những đặc điểm chung vềvăn hóa đó đã kết nối các nước lại với nhau tạo thành một bức tranh văn hóa đamàu sắc.
Việt Nam là một nước Đông Nam Á và từ 1995 là thành viên củaASEAN Ngược về quá khứ xa xưa, thời tiền sử và sơ sử, Việt Nam nằm trongkhu vực địa – văn hoá có cơ tầng văn hoá chung bao quát cả vùng Đông Nam Áhiện nay và vùng nam Trường Giang (nam Trung Quốc) lúc đó còn là địa bànsinh tụ của Bách Việt, cư dân phi Hán tộc Đấy là vùng nông nghiệp trồng lúanước với kết cấu xóm làng mang đậm tính cộng đồng, với tín ngưỡng vật linh,thờ cúng đa thần, nữ thần, với những nghi lễ phồn thực, những lễ hội nôngnghiệp theo mùa, nhiều phong tục tập quán chung như ở nhà sàn, ăn trầu, nhuộmrăng, xăm mình… Nhiều nhà khoa học gọi đó là “văn hoá Nam Á” Việt Nam bịtác động giữa hai nền văn minh lớn của phương Đông và thế giới là văn minhTrung Quốc ở phía bắc và văn minh Ấn Độ ở phía tây nên dĩ nhiên cũng sớmtiếp nhận những ảnh hưởng của văn minh này Hầu như tất cả các nước ĐNAđều chịu ảnh hưởng lớn từ đạo Phật - tôn giáo ra đời ở Ấn Độ từ rất sớm(khoảng 560-480 TCN) và được truyền bá vào vùng Đông Nam Á Giáo lý củanhà Phật từ khi ra đời đã gắn con người với cuộc sống hiện hữu, không tôn thờmột vị thần nào cũng không tự coi mình là thần, chỉ chú trọng đến "triết lý nhânsinh quan", do đó phù hợp với suy nghĩ và tín ngưỡng truyền thống của cư dânĐNA, và lâu dần, do cảm phục mà đạo Phật được người ta tôn thờ
Cùng với văn hóa Ấn Độ, thời kỳ này Việt Nam cũng giao lưu và tiếp xúcvới văn hóa Trung Quốc và du nhập vào hai tôn giáo lớn đó là Đạo giáo và Nhogiáo Những tôn giáo này khi du nhập vào lại kết hợp với văn hóa bản địa để tạo
ra các tín ngưỡng mới và tôn giáo mới Bởi vậy thời kỳ này đời sống tâm linh
Trang 12của người Việt nam đa dạng và phong phú hơn rất nhiều Đồng thời cùng với sự
đa dạng hóa hệ thống tín ngưỡng, tôn giáo là sự đa dạng hóa các loại hình lề hội.Bên cạnh những lễ hội với hạt nhân là tín ngưỡng nông nghiệp và tín ngưỡngthờ anh hùng dân tộc thời kỳ này còn có loại lễ hội chùa với hạt nhân tín ngưỡng
là Phật giáo, lễ hội đền (đạo quán) mà hạt nhân tín ngưỡng là đạo giáo Nôngnghiệp trồng lúa, mà chủ yếu là lúa nước, đã trở thành đặc trưng kinh tế của khuvực Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng Lúa được coi là linh hồntrong lao động sản xuất và sinh hoạt văn hóa tinh thần của cư dân khu vực này
Có thể nói, chính nghề nông trồng lúa nước đã nảy sinh hầu hết các lễ hội cổtruyền ở Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng Là cư dân của nhữngquốc gia nông nghiệp, người Đông Nam Á mang đậm nét văn hóa nông nghiệplúa nước Từ xa xưa, họ đã có quan niệm: mọi vật bao giờ cũng có hai phần,phần xác và phần hồn Mỗi cây lúa cũng vậy, đều có hồn lúa trú ngụ Hồn sẽmang lại sinh khí, giúp cho cây lúa tươi tốt, đâm bông, trổ hạt Giống như conngười, cây lúa sẽ chết nếu phần hồn rời bỏ nó Với người dân nông nghiệp ĐôngNam Á, hồn lúa luôn hiện lên với hình tượng của người phụ nữ Có nhiều cách
lý giải về điều này Có ý kiến cho rằng, kinh tế cơ bản của cư dân nơi đây làtrồng trọt, người phụ nữ đã đóng vai trò quan trọng ở buổi ban đầu trong cuộcsống hái lượm và trồng trọt Với công việc đó, người phụ nữ đã đảm nhận vaitrò to lớn, được trân trọng với sự hình thành chế độ mẫu hệ Có lẽ thế nên hồnlúa, sinh khí sự sống của cây lúa, đã hóa thân vào họ Tuy nhiên, nhiều nghiêncứu về văn hóa Đông Nam Á lại có kiến giải: chức năng người phụ nữ là sinhsản, duy trì nòi giống Điều đó cũng có ở cây lúa Và như thế, người phụ nữchính là biểu tượng thiêng liêng của hồn lúa…
Từ những phân tích trên ta thấy thời kỳ giao lưu văn hóa với khu vực ta
có bên cạnh các loại lễ hội nông nghiệp, các lễ hội thờ Mẫu, thờ anh hùng dântộc, thờ tự nhiên vốn có mạch nguồn từ thời bản địa còn có các lễ hội với hạtnhân tín ngưỡng là các tôn giao du nhập và các biến thể của tín ngưỡng bản địadưới tác động của tín ngưỡng du nhập đó
Trang 131.2.3 Lễ hội trong mối giao lưu văn hóa với Phương Tây
Giao lưu văn hóa với phương Tây bắt đầu từ cuối thế kỷ 16 đầu thế kỷ 17khi các nhà truyền đạo Cơ đốc sang truyền đạo này ở Việt Nam Triều đình NhàNguyễn khi chấp nhận khi lại kỳ thị Tôn giáo này Năm 1858, Pháp lấy cớ triềuđình nhà Nguyễn kỳ thị Cơ đốc giáo đã nổ súng xâm lược nước ta, và chỉ trongvòng một thời gian ngắn, chúng đã chiếm được lục tỉnh Nam Bộ Triều đình nhàNguyễn hèn nhát đã đầu hàng và đồng ý cắt phần đất Nam Kỳ cho Pháp Đếnnăm 1883, Pháp tiếp tục đánh chiếm nốt Trung Kỳ và Bắc Kỳ, hoàn thành cuộcchiến tranh xâm lược nước ta Ngay sau đó chúng tổ chức bộ máy cai trị và biếnnước ta thành thuộc địa của Pháp Để dễ bề cai trị và áp bức bóc lột nhân dân ta,chúng không trực tiếp mà dựa vào bộ máy cai trị sẵn có của triều đình nhàNguyễn từ trung ương đến địa phương Đó là hệ thống vua quan phong kiến vàbọn địa chủ cường hào, hội đồng kỳ mục tại các làng xã của người bản xứ.Chúng tiếp tục duy trì quan hệ sản xuất phong kiến và nền kinh tế tiểu nông lạchậu lỗi thời, cùng với hệ thống làng xã cổ truyền nhỏ lẻ, khép kín ở nông thônViệt Nam
Trong bối cảnh đó, đời sống kinh tế của nông dân gặp nhiều khó khăn vàxuống cấp nghiêm trọng Từ thực tế đó dẫn đến đời sống tinh thần cũng có nhiềukhó khăn phức tạp, dân chúng bi quan, chán nản Do cơ cấu làng xã vẫn còn duytrì như cũ nên các hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian tuy có biến động song
về cơ bản vẫn được bảo lưu, các hoạt động văn hóa: tín ngưỡng, lễ hội dân gian
và phong tục tập quán cổ truyền vẫn được duy trì như trước đây Về thời gian tổchức lễ hội dân gian và phong tục tập quán cổ truyền vẫn tiến hành sôi động vàomùa Xuân và mùa Thu, nhưng các lễ hội tổ chức vào mùa Xuân đã chiếm ưu thếhơn hẳn lễ hội tổ chức vào mùa Thu cả về số lượng và quy mô Về không giantiến hành các lễ hội dân gian vẫn lấy các ngôi đền, đình và chùa làm trung tâm
và diễn trường, tại khắp các làng xã vùng châu thổ sông Hồng, như ở các thời kỳtrước kia Để biểu dương sức mạnh của dân tộc, nhiều lễ hội đền được tổ chứcvới quy mô hoành tráng sôi nổi hơn xưa, như lễ hội đền Phù Đổng tôn thờThánh Gióng người anh hùng huyền thoại của dân tộc Việt Nam, được tổ chức
Trang 14hằng năm vào mồng 9 tháng 4 âm lịch, thu hút hàng chục nghìn người đến tham
dự Đây là lễ hội truyền thống diễn tả lại sự kiện lịch sử chiến thắng giặc Ân củaquân dân nước Văn Lang cổ đại, thời Hùng Vương thứ 6, được dân gian lịch sửhóa và biểu tượng thành thần tượng Thánh Gióng Ngài đã trở thành một trongbốn vị thánh bất tử của tín ngưỡng dân gian Việt Nam
Vào những thập niên đầu thế kỷ XX, nhiều lễ hội đền vẫn được tổ chứctrọng thể, như lễ hội đền Hùng vốn là một lễ hội lớn mang tầm cỡ quốc gia,nhân dịp giỗ tổ Hùng Vương hàng nghìn người từ khắp nơi trong cả nước hànhhương về tưởng niệm các vị vua hùng có công với nước Năm 1937, tiến sĩNguyễn Văn Huyên đã dày công nghiên cứu khảo sát lễ hội Phù Đổng Nhân dịpnày ông đã công bố nhiều tư liệu quan trọng về lễ hội tôn thờ Thánh Gióng ởlàng Phù Đổng thuộc địa phận Bắc Ninh (nay là Gia Lâm, Hà Nội) và ông cũngnhận xét đây là một lễ hội lớn của dân tộc Việt Nam, có quy mô tổ chức chặtchẽ, biểu thị khí phách hào hùng dân tộc
Nhìn chung lễ hội đền trong giai đoạn nay đã góp phần quan trọng làmthức dậy lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc, nhớ về cội nguồn và tổ tiên nòigiống, thông qua việc tổ chức tưởng niệm và suy tôn các vị anh hùng dân tộc,
mà tiêu biểu là các hạt nhân tín ngưỡng của lễ hội đền tôn thờ các vị thần linhbất tử (Tứ bất tử) đã ăn sâu vào tiềm thức và tâm linh của người Việt ở vùngchâu thổ Bắc Bộ bao đời nay
Trong khi đó lễ hội chùa cũng không kém phần long trọng nhiều lễ hộichùa lớn nổi tiếng như: lễ hội chùa Dâu, lễ hội chùa Keo, v.v…vẫn được duy trìđều đặn Nhất là lễ hội chùa Hương nổi tiếng nhất vùng đồng bằng sông Hồngvới quy mô hoành tráng và kéo dài từ mồng 6 Tết cho đến hết tháng 2 âm lịch
Trong hoàn cảnh khó khăn và cuộc sống thiếu thốn, người dân có xuhướng hướng đến đạo Phật nhiều hơn Họ quan niệm chỉ có đức Phật mới có thểcứu giúp họ thoát khỏi cuộc sống trần ai khổ cực Do vậy dân chúng đi lễ hộichùa ngày càng sôi động Không chỉ trong các dịp lễ hội, mà trong những ngàyTết, ngày sóc (mồng một) và ngày vọng (ngày rằm) theo âm lịch, nhân dân nônức đi lễ chùa để tụng kinh niệm Phật và kể hạnh
Trang 15Lễ hội đình khi ấy vẫn diễn ra sôi nỗi ở khắp các làng xã cổ truyền ViệtNam Hầu như làng nào cũng có lễ hội hè đình đám song nổi tiếng nhất là lễ hộiđình Chèm ( Hà Nội), lễ hội Đình Bảng , v.v…Do ảnh hưởng trực tiếp của chínhsách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, nền kinh tế nước ta trở nên què quặt
và yếu kém, cuộc sống của nhân dân lao động vô cùng nghèo nàn, vô cùng lạchậu, nhất là giai cấp nông dân sống lâu đời ở các làng xã phải chịu sưu cao thuếnặng, bọn địa chủ, cường hào ra sức bóc lột nặng nề Người nông dân bị xô đẩyđến bên bờ vực thẳm, không lối thoát Mặc dù họ rất chịu thương, chịu khó, lam
lũ vất vả quanh năm mà vẫn không đủ ăn Điều đó đã dẫn đến đời sống văn hóatinh thần xa sút nghiêm trọng, mọi hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian cổtruyền có nguy cơ bị mai một và xuống cấp Nhất là trong hoạt động của các lễđình của làng xã bị ảnh hưởng trực tiếp của tệ nạn xã hội như: nạn cờ bạc, rượuchè, trai gái, hút xách nhất là mê tín dị đoan “mua thần bán thánh”, xin xăm, xinquẻ bói toán có cơ hội phát triển mạnh và xâm nhập vào trong các lễ hội mỗi khi
có dịp Nhiều khi các tệ nạn đó đã làm lu mờ bản chất tốt đẹp vốn có của lễ hộitruyền thống dân tộc đã được bồi đắp từ rất lâu mới có được
Sau khi tuyên bố độc lập, ngày mùng 2-9-1945, nước Việt Nam Dân chủcộng hòa ra đời Nước ta bước sang kỷ nguyên lịch sử mới- kỷ nguyên của độclập tự do Nhưng kẻ thù xâm lược ngoại bang vẫn không chịu từ bỏ ý đồ biếnnước ta thành thuộc địa của chúng Sang năm 1946, thực dân Pháp nổ súng xâmlược nước ta một lần nữa Đến tháng 12-1946, toàn quốc kháng chiến nhân dân
đã tiến hành cuộc chiến tranh giải phóng đất nước kéo dài gần 30 năm, chốngPháp và chống Mỹ
Trong hoàn cảnh chiến tranh tàn phá ác liệt nhà nước và nhân dân takhông có điều kiện về không gian và thời gian để tổ chức sinh hoạt văn hóa, vănnghệ dân gian sôi nổi như xưa nữa Nhân dân ta tập trung toàn bộ sức người, sứccủa để sản xuất giải phóng đất nước Hơn nữa những nơi tập trung đông ngườiđều trở thành mục tiêu đánh phá của kẻ thù Nhất là trong thời gian chống Pháp,
do sự phong tỏa của địch ở khắp các đô thị nên các làng xã ở nông thôn rộng lớnđều trở thành các chiến lũy chiến đấu chống lại các càn quét của thực dân Pháp
Trang 16Vì vậy, do hoàn cảnh bắt buộc mà hầu hết các ngôi đình, chùa, đền lớn ởvùng đồng bằng Bắc Bộ đều biến thành các pháo đài kiên cố bảo vệ các làng xã
và nhân dân Có nhiều làng xã thực hiện “tiêu thổ kháng chiến”, hoặc “vườnkhông, nhà trống”, người ta dỡ hết các đình chùa, đền miếu đi, để khi giặc đếnkhông có dồn trú quân đội Mặt khác khi các ngôi đình, đền, chùa ở đó trở thànhpháo đài đương nhiên biến thành mục tiêu đánh phá, tiêu hủy của địch Tìnhhình đó dẫn đến nhiều ngôi đình, chùa ở nhiều làng, xã bị hư hỏng, hoặc bị kẻthù san phẳng Sau khi miền Bắc được giải phóng nhiều ngôi đình, chùa, đềnmiếu được nhân dân ta sửa chữa hoặc trùng tu Các làng xã ở vùng châu thổ Bắc
Bộ phục hồi nhanh chóng các lễ hội truyền thống nhất là từ sau khi hoàn thànhcải cách ruộng đất trong các năm 1956 - 1957 Nông dân vô cùng phấn khởinhiều làng lễ hội tổ chức hội rất to để ăn mừng thắng lợi, một số lễ hội cổ truyềnđược tổ chức lại với quy mô hoành tráng như xưa Song cũng chỉ qua hai mùa lễhội từng bừng, rồi lại rơi vào tình trạng im lặng, do phong trào hợp tác hóa nôngnghiệp người nông dân trở thành xã viên, mọi thời gian lao động sản xuất theochế độ tập thể Các hình thức sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng và lễ hội dân gianđều bị cấm đoán, do quan niệm sai lầm, cực đoan của một số cán bộ địa phương
do thiếu hiểu biết, không thận trọng trong việc ứng xử văn hóa truyền thống
Kết quả nhiều ngôi đình bị bỏ hoang hoặc bị phá bỏ Người nông dân làmnhiều, hưởng ít không tương xứng với sức khỏe bỏ ra, nên họ đâm ra trì trệ,chán nản Họ không có thời gian nhàn rỗi để nghĩ đến hội hè nữa, mà cũngchẳng ai dám đứng ra tổ chức lễ hội do e ngại nhiều điều Tiếp theo đó, đế quốcMỹ sau khi thất bại cuộc chiến tranh cục bộ ở miền Nam, chúng tiến hành cuộcchiến tranh phá hoại bằng không quân đối với miền Bắc nước ta Một lần nữanhà nước ta lại huy động toàn bộ sức người và sức của cho cuộc chiến tranhchống xâm lược, bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa Lần này do tính chất ác liệtcủa cuộc chiến tranh chỉ trong vòng 4 năm lần thứ nhất và lần thứ hai trong năm
1972, giặc Mỹ đã ném bom, phá hủy nhiều làng mạc, cầu đường giao thông,trường học và bệnh viện, trong đó có nhiều đình chùa bị hư hỏng, đổ nát hoặc bịphá hủy hoàn toàn Đó là những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến các hình thức
Trang 17sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng dân gian hầu hết bị lãng quên và xuống cấpnghiêm trọng.
Tóm lại lịch sử hình thành và phát triển của lễ hội dân gian truyền thống,
đã trải qua hàng nghìn năm, luôn gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước củadân tộc ta Từ các lễ hội sơ khai nguyên thủy phát triển thành hệ thống lễ hộinông nghiệp cổ đại Trải qua các quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa với cáctôn giáo du nhập như Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo, qua chiếc cầu nối tínngưỡng dân gian bản địa, lễ hội dân gian truyền thống đã phát triển và khôngngừng biến đổi làm cho không chỉ phong phú về nội dung mà còn đa dạng về cảhình thức , hình thành 3 loại hình lễ hội chính là: lễ hội đền, lễ hội chùa và lễ hộiđình Cho đến những năm ở nửa đầu thế kỷ XIX, các loại hình lễ hội truyềnthống đã có một mô hình tương đối ổn định gồm 2 phần chính: Phần Lễ và phầnHội Tuy phân định ra 2 phần như vậy song trên thực tế khó có thể tách biệtriêng rẽ giữa Lễ và Hội, mà chúng gắn quyện đan xen vào nhau trong một chỉnhthể của loại hình sinh hoạt văn hóa dân gian, mang tên ghép: “Lễ hội”
Trong hình thức của lễ hội dân gian truyền thống có hàm chứa nhiều tinhhoa văn hóa và nét đẹp truyền thống thuộc về bản lĩnh và bản sắc dân tộc, đượcbảo lưu, gìn giữ và truyền tụng từ ngàn xưa đến nay
1.3 Vị trí của lễ hội Gióng trong hệ thống lễ hội cổ truyền thống
Lễ hội Thánh Gióng - hội trận thể hiện tinh thần chống giặc ngoại xâmcủa người Việt cổ
Lễ hội Thánh Gióng (hay hội làng Phù Đổng) là một trong những lễ hộidân gian có quy mô lớn nhất ở khu vực đồng bằng Bắc bộ Theo truyền thuyết,ngày 9/4 âm lịch là ngày ông Gióng thắng giặc Ân và đó cũng là ngày tưởngnhớ người anh hùng, nhân dân đã tổ chức hội làng Phù Đổng Hiện Thánh Gióngđược phụng thờ ở Hà Nội và nhiều địa phương khác, nhưng quy mô lớn nhất,độc đáo nhất vẫn là quê hương ông - Phù Đổng, nơi có làng Việt cổ bên sôngĐuống gắn với huyền tích Thánh Gióng, trong đó có 3 làng bờ Bắc: Phù Dực -nơi Gióng sinh ra, Phù Đổng - nơi Gióng hội quân và Đổng Viên - quê mẹGióng; 2 làng bờ Nam: Đổng Xuyên - nơi một thời ngụ cư của mẹ Gióng và Hội
Trang 18Xá - làng có đám trẻ chăn trâu theo Gióng đi đánh giặc Lễ hội là một thực thểvận động trong không gian, thời gian, trong dòng chảy lịch sử, có cái được đắpbồi và cũng có cái đã bị phôi pha Hiện nước ta có gần 8000 lễ hội, trong đó có
7039 lễ hội dân gian, mỗi lễ hội có một dáng vẻ khác nhau Lễ hội Thánh Gióng
đã tồn tại qua hàng ngàn năm lịch sử Nét độc đáo của lễ hội này là cư dân Việt
cổ đã lịch sử hóa một nhân vật huyền thoại, biến thành một nhân vật tín ngưỡng
để phụng thờ, phát triển thành lễ hội và nâng lên hàng Thánh
Mang đặc điểm chung của lễ hội dân gian, lễ hội Thánh Gióng lắng đọngkhá nhiều lớp phù sa lịch sử - văn hóa, vẫn lưu giữ những nét riêng ít lễ hội dângian nào có được Đây là một lễ hội khá ổn định dẫu thời gian, sự tiếp biến vănhóa của cuộc sống đương đại đã tác động rất lớn Việc sưu tầm nghiên cứu lễhội Thánh Gióng có từ rất sớm và kỹ lưỡng Những công trình sớm nhất đã đượcghi lại trong văn bia, thần tích ở các di tích đền Phù Đổng, đền Sóc Sơn…củacác nhà Nho Huyền thoại về Thánh Gióng đã xuất hiện trong các bộ sử của cácvương triều quân chủ như: tư liệu xưa nhất là của Lê Tắc thế kỷ XIV Công trìnhcủa G.Dumoutier công bố năm 1893 Những năm đầu thế kỷ XX, lễ hội ThánhGióng được ghi chép tương đối tỷ mỉ trong cuốn sách của Phạm Xuân Lộc.GS.TS Nguyễn Văn Huyên có 2 công trình về lễ hội Thánh Gióng ở làng PhùĐổng: (1938 ), ( 1941 ) Sau năm 1954, nhiều công trình có giá trị về lễ hộiThánh Gióng xuất hiện, như: tác phẩm được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh củaCao Huy Đỉnh Ngoài ra, còn nhiều tác giả khác nghiên cứu lễ hội này như: GSTrần Quốc Vượng, Trần Bá Chí, Toan Ánh; hai học giả Việt kiều Tạ Chí ĐạiTrường, Như Hạnh (Nguyễn Tự Cường); nhà Việt Nam học N.I.Niculin…Tuynhiên, cho đến nay công trình nghiên cứu của G.Dumoutier và 2 công trình củaGS.TS Nguyễn Văn Huyên vẫn có giá trị đặc biệt trong tiến trình sưu tầm,nghiên cứu lễ hội Thánh Gióng Những gì chúng ta thấy được chỉ là lát cắtđương đại So sánh những tư liệu bằng chữ Hán ghi chép về lễ hội Thánh Gióngđầu thế kỷ XX và nghiên cứu hiện nay có thể thấy lễ hội này còn khá nguyênvẹn Hội Thánh Gióng là lễ hội mà cộng đồng có vai trò to lớn trong việc bảotồn và phát triển cả ngàn năm qua Thời quân chủ, các vương triều rất chú ý đến
Trang 19lễ hội này Vương triều nhà Lý (1009-1225) coi trọng di tích và lễ hội Gióng.Đánh dấu một thời kỳ mới của Đại Việt, nhà Lý, tiêu biểu là Lý Công Uẩn đãcho xây đền thờ Phủ Đổng Thiên Vương, tổ chức lại hội Gióng với một quy môlớn Đến thời Lê (thế kỷ XV-XVI), hội Gióng đã nổi tiếng và được triều đình cửquan đại thần về chủ tế đức Thánh Gióng Tiếp nối truyền thống, các vươngtriều sau cũng như vậy.
Trải qua thời gian biến thiên, lễ hội Thánh Gióng vẫn duy trì, phát triểncho đến ngày nay Cái độc đáo của hội Gióng là vẫn diễn ra tự nhiên theo truyềnthống, không bị sai lệch, nhiễu bởi yếu tố khác Cộng đồng quyết định hình thức
lễ hội Vì thế, đến bây giờ cộng đồng giữ vai trò to lớn, người dân tự làm lễ hộicủa mình với vị thế người chủ, được chủ động sáng tạo, phần lễ và hội chưa bịdàn dựng “sân khấu hóa”, “kịch bản hóa” Cái giữ được ở hội Gióng là yếu tốquý giá, rất phù hợp với tính chất của lễ hội và điều kiện mà công ước củaUNESCO đặt ra Lễ hội Thánh Gióng tập trung về không gian, hơn nữa truyềnthống này được cộng đồng thực hành liên tục nên có thể thấy đây là một lễ hộidân gian giữ được căn gốc yếu tố lõi
Tại Hà Nội, hiện thống kê được 5 làng có đền thờ Thánh Gióng: Đền Sóc(Phù Ninh, Sóc Sơn), đền Thánh Gióng (Phù Đổng, Gia Lâm), đền Sóc (XuânĐỉnh, Từ Liêm), đền Gióng (Đông Bộ Đầu, Thường Tín) và đền Gióng (ChiNam - Gia Lâm) Hàng năm, các địa phương thờ Thánh Gióng đều rất sáng tạo
để tổ chức lễ hội, tưởng nhớ người anh hùng Làng Phù Đổng diễn lại chiếncông của Thánh Gióng, bắt 28 cô gái xinh đẹp của làng làm tướng giặc LàngSóc diễn lại cảnh Thánh Gióng đánh trận rồi bay về trời Điểm nhấn của hộiGióng ở các địa phương là hội trận mà không có gươm đao, tất cả được tái hiệnbằng biểu tượng Lễ hội Thánh Gióng là một hệ thống biểu tượng có những tầng
ý nghĩa sâu xa, lâu đời, nhưng cũng có tầng ý nghĩa mới mẻ, cô đọng Ngoàitính biểu tượng của ý chí chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam, lễ hội ThánhGióng còn có lớp biểu tượng khác, lớp giá trị cổ sơ hơn là nghi lễ nông nghiệp
1.3.1 Thánh Gióng và tín ngưỡng Tứ bất tử
“Tứ bất tử” là tên gọi chung của bốn vị thánh bất tử trong tín ngưỡng Việt
Trang 20Nam, đó là Tản Viên Sơn thần, Phù Đổng Thiên vương, Chử Đồng Tử, và LiễuHạnh Công chúa.
Tản Viên Sơn Thánh, hay Sơn Tinh, là vị thần núi Tản Viên (Ba Vì), núi
tổ của các núi nước Việt Nam Trong tâm thức dân gian của người Việt, TảnViên là vị thánh biểu đạt cho những khả năng to lớn và vĩnh viễn của cộng đồngtrong lao động sáng tạo ra nguồn của cải vô tận và trong chiến đấu chống thiêntai (lũ lụt) để bảo vệ cuộc sống chung
Chử Đồng Tử (còn được gọi là Chử Đạo Tổ) huyền thoại Chử Đồng Tử(Chử Đạo Tổ) là câu chuyện của Đạo Giáo, Đạo Thần Tiên, một tín ngưỡng vốn
du nhập từ bên ngoài vào nước ta từ rất sớm Cốt lõi huyền thoại cũng như tínngưỡng Chử Đạo Tổ là tín ngưỡng Đạo giáo mang màu sắc tín ngưỡng dân gianthuần Việt Chử Đồng Tử chính là người đi tiên phong trong cuộc thụ phép thầntiên để tế độ và truyền dạy cho người khác
Chử Đồng Tử đi vào tâm thức dân gian không chỉ là người con hiếu thảo,nhân ái, mà còn là biểu tượng của một chí hướng phát triển cộng đồng: mởmang khai phá đồng bằng trũng lầy thành cánh đồng tốt tươi, trồng dâu, nuôitằm, dệt vải và phát triển các ngành nghề khác, đặc biệt nghề buôn bán ChửĐồng Tử và Tiên Dung đã mở một hướng mới cho sự phát triển dân tộc, tạo nên
sự giao lưu giữa dân tộc và cộng đồng bên ngoài
Liễu Hạnh hay Mẫu Thượng Thiên Trong những huyền thoại của dân tộc,dân gian vẫn tin rằng Liễu Hạnh là con gái của Ngọc Hoàng, vì phạm lỗi bị đầyxuống trần gian.Trong hệ thống điện thần Việt Nam, Liễu Hạnh là một trong tứbất tử, là vị thánh của tín ngưỡng tứ phủ, mà bản chất của nó là tín ngưỡng thờMẫu, một tín ngưỡng có cội nguồn lâu đời và độc đáo của Việt Nam
Trong tiềm thức của nhân dân, Liễu Hạnh là một vị thần, một biểu tượngcủa khát vọng tự giải phóng, nhất là phụ nữ muốn thoát khỏi sự ràng buộc của
xã hội, của lễ giáo phong kiến, khát vọng vươn tới đạt được những ước vọng củahạnh phúc gia đình Đó cũng là ý thức hệ nhân sinh của người dân Việt Nam đãđược ký thác niềm tin vào biểu tượng người mẹ
Thánh Gióng hay Phù Đổng Thiên Vương là một vị Thánh quá quen
Trang 21thuộc với nhân dân ta Truyền thuyết này gắn bó và lưu truyền với mọi thế hệngười Việt Thông qua một câu chuyện một đứa trẻ kì lạ, lên 3 rồi mà chẳng biếtnói cười gì cả Vậy mà khi giặc Ân từ phương Bắc tới thì cậu bé tầm thường kiabỗng nhiên đổi khác, đứng dậy nói năng hết sức dõng dạc và mau chóng lớnthành một tráng sĩ Vị tráng sĩ này cưỡi ngựa sắt, đội nón sắt, cầm gậy sắt mộtmình xông ra giữa trận tiền Đánh tan giặc Ân, vị anh hùng bỏ lại tất cả, mộtmình một ngựa bay thẳng lên trời.
Trong tâm thức của người dân đất Việt, Thánh Gióng là hào khí của bảnhùng ca hoành tráng từ ngàn xưa vọng lại Niềm tự hào, kính trọng về sức mạnhđoàn kết của dân tộc trong việc chống giặc ngoại xâm, bảo vệ đất nước Bêncạnh đó, còn là bản tình ca tuyệt đẹp về tình mẫu tử, về trách nhiệm của mỗi conngười đối với tổ quốc
1.3.2 Lễ hội Gióng trong mối quan hệ với các lễ hội khác
Giống như các miền quê khác, mỗi dịp xuân về, đất Kinh kỳ Thăng
Long-Hà Nội diễn ra rất nhiều lễ hội Với bề dày nghìn năm lịch sử và một không gianvăn hóa đậm đặc, lễ hội ở Thăng Long xưa, Hà Nội ngày nay rất phong phú và
có nét độc đáo riêng cần được giữ gìn, phát huy
Hiện ở Hà Nội có hơn 2.000 đình, miếu, chùa, trong đó có hơn 500 di tích
đã được Nhà nước xếp hạng Hàng năm vào dịp Tết đến Xuân về, ở các di tíchnày đều diễn ra lễ và hội Theo Sở VH - TT và DL Hà Nội, hiện ở Thủ đô có
425 lễ hội diễn ra với quy mô khác nhau Những sinh hoạt cộng đồng này mang
ý nghĩa tâm linh gắn bó người Hà Nội với nhau cùng hướng tới tâm tu, tích đức
để sống chung thủy, chọn nghĩa, chọn tình
Giống như các lễ hội ở mọi vùng quê khác trong cả nước, mỗi hội làng HàNội là dịp để những người lớp trước nhắc lại phong tục đẹp của làng quê để thế
hệ con cháu duy trì, phát huy Việc tổ chức hội làng góp phần cố kết cộng đồng,tăng cường tình đoàn kết trong các thôn xóm
Nhưng do Hà Nội là đất Kinh kỳ, nên tuy có nguồn gốc từ các lễ hội nôngnghiệp, nhưng lại có nét độc đáo riêng Tính chất đô thị đầu não thể hiện rất rõtrong lễ hội Hà Nội và vì diễn ra ở Thủ đô nên có tính chất đa dạng rất cao và kết
Trang 22tinh nhiều giá trị, 36 phố phường là gắn với thị, người dân các nơi tụ về đây buônbán làm nghề thủ công, từ đó hình thành nên các phường nghề Lễ hội của thị gắnvới nghề buôn và tổ nghề Tính chất buôn bán thủ công thể hiện rõ trong các lễ hội
Hà Nội Nhưng các lễ hội của Hà Nội vẫn có nguồn gốc là lễ hội nông thôn HàNội khác với những đô thị khác ở chỗ mối quan hệ giữa làng và thị khá chặt chẽ;tính chất của một lễ hội nông nghiệp, lễ hội mang tính chất kinh đô và tổ nghề hòalẫn vào với nhau, tạo nên sắc thái đa dạng, nhưng lại có nét độc đáo riêng
Trong số các lễ hội ở Hà Nội, có một số hội mang tính chất tiêu biểu cho
cả nước như hội Đống Đa, Cổ Loa, Đền Sóc, Đền Hai Bà Trưng.v.v Nhưngnhiều lễ hội thể hiện nét riêng của vùng đất kinh kỳ Chẳng hạn, chỉ ThăngLong- Hà Nội mới có "tứ trấn" Đó là: đền Bạch Mã (thờ thần Long Đỗ, trấnphương Đông); đền Voi Phục (thờ thần Linh Lang, trấn phương Tây); quán Trấn
Vũ (thờ Huyền Thiên Trấn Vũ, trấn phương Bắc) và đền Kim Liên (thờ Cao SơnĐại vương, trấn phương Nam) Mở hội tứ trấn là một phương thức sáng tạokhông gian thiêng, phủ lên 4 phương trời, từ đó sinh ra sức mạnh huyền diệu,thần quyền hỗ trợ thế quyền để uy lực triều đình ngày càng vững mạnh, đất nướcngày càng yên vui
Một lễ hội khác cũng mang đặc trưng của Thăng Long là lễ hội "Thập tamtrại" (tức là lễ hội của 13 trại dân nhằm biểu dương tinh thần kết chạ, kết nghĩa);Hội "tứ bất tử" tôn vinh 4 vị thần linh là các hội: Tầm Xá (huyện Đông Anh),thờ thần Tản Viên; hội làng Phù Đổng (huyện Gia Lâm) thờ Thánh Gióng; hộiChử Đồng Tử (huyện Gia Lâm) tưởng nhớ công lao một vị anh hùng có cônglao khai phá, chinh phục đầm lầy, mở mang nông nghiệp và hội Phủ Tây Hồ(thờ bà Chúa Liễu với tục hát chầu văn) Đặc biệt, các hội làng khoa bảng ở HàNội cho thấy truyền thống văn hoá, sự coi trọng học vấn, trí thức của người HàNội
Thành phố Hà Nội những năm qua đã khôi phục nhiều lễ hội, trong đó cóhội Gióng- lễ hội đã được thành phố hoàn thiện hồ sơ gửi UNESCO xem xét côngnhận là Di sản đại diện của nhân loại Phó Giám đốc Sở VH-TT và DL Hà Nộicho biết: Ngoài lễ hội Gióng, Thành phố cũng đầu tư khôi phục một số lễ hội dângian khác như: Lễ hội làng nghề tò he, lễ hội chạy lợn Hội Gióng là lễ hội quan
Trang 23trọng trong hệ thống lễ hội Việt Nam, có thể nói đây là một trong những số ít lễhội còn tồn tại thể hiện tinh thần yêu nước, mang tính nhân văn cao của dân tộcViệt Điều độc đáo là hội Gióng là hội trận, như một bảo tàng sống về tín ngưỡngdân gian và nghệ thuật trình diễn được gìn giữ nguyên trạng qua nhiều thế hệ Ởhội Gióng, những phong tục, những nghi thức trong lễ hội ẩn chứa cả hệ tư tưởngđạo lý và triết học, thể hiện khát vọng hòa bình, độc lập dân tộc lưu truyền từ thế
hệ này qua thế hệ sau với ngàn năm lịch sử Căn cứ vào nhiều thư tịch cổ, ngay từthời Lý, lễ hội Gióng đã được đặc biệt quan tâm Các vương triều sau đó như Trần– Lê cho tới thời Nguyễn… Hội Gióng vẫn luôn được gìn giữ và phát triển Quanhững lễ hội này, chúng ta đã khôi phục được những vốn văn hóa- nghệ thuật dângian cổ quý giá Việc xã hội hóa được thực hiện tương đối rộng rãi, giúp ngườidân ở địa phương có điều kiện tham gia đóng góp trực tiếp và càng ngày việctham gia đóng góp trực tiếp cho lễ hội ngày càng nhiều
Lễ hội Hà Nội thể hiện nét đặc sắc và giá trị nguồn văn hoá phi vật thểcủa Thăng Long- Hà Nội nghìn năm văn hiến Đây là hình thức sinh hoạt vănhoá cộng đồng truyền thống mà ngày nay vẫn phát huy tác dụng trong công cuộcxây dựng Thủ đô văn minh, hiện đại Việc khôi phục các lễ hội truyền thống ở
Hà Nội cần có sự nghiên cứu kỹ lưỡng, thể hiện được nét thanh lịch của ngườiTràng An, phù hợp với nhịp sống hiện đại Hội Gióng cũng là “hạt nhân” trong
hệ thống lễ hội Việt Nam, hội Gióng là lễ hội được cộng đồng bảo tồn, truyền từthế hệ này qua thế hệ khác, trở thành một phần bản sắc văn hoá, chứa đựngnhững sáng tạo mang tầm nhân loại, thể hiện khát vọng về một cuộc sống thịnhvượng cho mỗi gia đình, về một nền hòa bình cho đất nước
Trang 24
CHƯƠNG II: KHẢO SÁT VỀ THỰC TRẠNG LỄ HỘI GIÓNG
TẠI ĐỊA BÀN HÀ NỘI
2.1 Lễ hội thờ thánh Gióng ở Gia Lâm
2.1.1 Mô tả khái quát lễ hội
Hội Gióng là một trong những lễ hội lớn của vùng châu thổ sông Hồng làkhúc tráng ca huy hoàng về chiến thắng lẫy lừng của người anh hùng nhỏ tuổilàng Phù Đổng, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội có công tiêu diệt giặc Ânhung hãn, mở đầu trang sử vàng son chống ngoại xâm từ thời tiền sử đời vuaHùng Vương thứ VI Vì thế, dân gian có câu:
“ Làng Phù Đổng có một người Sinh ra chẳng nói chẳng cười trơ trơ Những ngờ oan trái bao giờ
Ai hay Thần tướng đợi chờ Phong Vân.”
Thánh Gióng - Phù Đổng Thiên Vương một trong bốn vị thánh bất tửtrong tâm tưởng người Việt Bác Hồ kính yêu đã dành nhiều mĩ từ khi nhắc tớingười anh hùng dân tộc này: "Đảng ta vĩ đại thật Một ví dụ trong lịch sử ta cóghi chuyện vị anh hùng dân tộc là Thánh Gióng đã dùng gốc tre đánh đuổi giặcngoại xâm Trong những ngày đầu kháng chiến Đảng ta đã lãnh đạo hàng nghìn,hàng vạn anh hùng noi gương Thánh Gióng dùng gậy tầm vông đánh thực dânPháp" Hồ Chí Minh (lời khai mạc lễ kỉ niệm 30 năm ngày thành lập Đảng -5/1/1960) Không chỉ lưu truyền trong dân gian Việt Nam, từ lâu hội Gióng đã
có sức lan toả thu hút nhiều học giả quốc tế nổi tiếng Đuy-mu-chi-ê, một nhànghiên cứu người Pháp cuối thế kỷ XIX đã mô tả hội Gióng: “Điều đập ngayvào nhận thức của người quan sát phương Tây, giữa các nghi thức thành tínhoàn toàn có tinh chất dân sự là vẻ cao cả của cuộc hành lễ”
Sự hấp dẫn của hội Gióng trước hết phải kể đến ý nghĩa giáo dục lòngyêu nước, truyền thống võ công, ý chí quật cường và khát vọng độc lập, tự docủa dân tộc mà Ông Gióng là biểu tượng đã được Cao Bá Quát diễn tả tronghai vế đối:
Trang 25“Đánh giặc lên ba hiềm đã muộn Cưỡi chín tầng mây giận chưa cao”
Quả thật, hội Gióng đã mô phỏng một cách sinh động và khoa học diễnbiến các trận đấu của Ông Gióng và nhân dân ta với giặc Ân Thông qua đó cóthể nhận thức được nhiều điều, không chỉ về các hình thức chiến tranh bộ lạcthời cổ xưa mà còn gợi liên tưởng thú vị tới bản chất tất thắng của cuộc chiếntranh nhân dân, toàn dân, toàn diện trong sự nghiệp giải phóng và bảo vệ Tổquốc ngày nay
Câu chuyện truyền thuyết về Thánh Gióng:
Vào đời Hùng Vương thứ VI, ở làng Gióng có hai vợ chồng ông lão làm
ăn có tiếng là phúc đức Hai ông bà ao ước có một đứa con Một hôm bà ra đồngthấy một vết chân rất to, liền đặt bàn chân mình lên ướm thử Không ngờ về nhà
bà mang thai Sau 12 tháng bà sinh một đứa bé mặt mũi khôi ngô Nhưng đứa trẻ
3 tuổi vẫn không biết nói cười, cứ đặt đâu nằm đấy Khi giặc Ân sang xâm lượcnước ta, nhà Vua sai sứ giả đi khắp nơi tìm người tài giỏi cứu nước Đứa trẻnghe tiếng sứ giả bỗng dưng cất tiếng nói với mẹ mời sứ giả vào nhà Đứa trẻthưa với sứ giả: Ông về tâu Vua sắm cho ta một con ngựa sắt, một cái roi sắt,một cái nón sắt, một áo giáp sắt ta sẽ đánh tan giặc Sứ giả về tâu với Vua, nhàVua truyền cho thợ ngày đêm rèn ngựa sắt, nón sắt, roi và áo giáp sắt Điều lạ là
từ hôm gặp sứ giả, cậu bé lớn nhanh như thổi Cơm ăn mấy cũng không no, áovừa mặc xong đã căng đứt chỉ Bà con hàng xóm đều góp gạo nuôi chú bé vì aicũng mong có người giết giặc cứu nước
Khi sứ giả đem ngựa sắt, roi sắt, nón sắt, áo giáp sắt đến, chú bé vươn vaiđứng dậy thành một tráng sĩ oai phong Tráng sĩ mặc áo giáp, đội nón và cầm roisắt, nhảy lên lưng ngựa Ngựa phun lửa xông thẳng đến nơi có giặc, dùng roigiết hết lớp giặc này đến lớp giặc khác Khi roi sắt bị gẫy, tráng sĩ nhổ nhữngcụm tre bên đường quật vào giặc Giặc tan, tráng sĩ đuổi đến chân núi Sóc, tráng
sĩ lên đỉnh núi, cởi áo giáp sắt và cùng ngựa bay lên trời Vua nhớ công ơnphong tráng sĩ là Phù Đổng Thiên Vương và lập đền thờ ngay ở quê nhà Hiệnnay vẫn còn đền thờ ở làng Phù Đổng, tục gọi là làng Gióng Hàng năm đến
Trang 26tháng 4 Âm lịch làng đều mở hội Thánh Gióng hay Phù Đổng Thiên Vương hayXung Thiên Thần Vương đã trở thành một trong bốn vị Thánh bất tử trong tínngưỡng dân gian Việt Nam (Tứ bất tử) Hội Gióng gắn với hệ thống di tích thờPhù Đổng Thiên Vương
Kiến trúc di tích ở Phù Đổng mang đậm nghệ thuật dân gian, có liên quanchặt chẽ đến truyền thuyết Thánh Gióng, gồm đền Thượng, đền Hạ, miếu Ban
và chùa Kiến Sơ
Đền Thượng là nơi thờ Thánh Gióng - Phù Đổng Thiên Vương có từ thờiHùng Vương Đền Thượng là một phức hợp kiến trúc, đến cuối thế kỷ XI, LýThái Tổ cho tu bổ thêm và ra lệnh tổ chức hội Gióng Đền nằm sát đê, được bốcục theo hình chữ "Công" rộng rãi Trước sân là ao rộng (ao Rối) - nơi tổ chứcmúa rối nước vào ngày hội Trong ao là ngôi thủy đình dựng theo kiểu máichồng từ thời Lê Trung Hưng (thế kỷ XVII) với nhiều bức chạm tinh vi trên gỗ
về những cảnh sinh hoạt dân gian: người chăn dê, người thổi ống xì đồng Thủy đình mang nhiều yếu tố dịch học nói lên những ước vọng của nhân dân.Hình ảnh đó nói lên người quân tử lấy trí thức làm đầu Miếu Ban thuộc thônPhù Dực, thờ Thánh Mẫu ở phía Tây đền Thượng (tên chữ là Dục Linh Từ, tên
cũ là rừng Trại Nòn) Tương truyền đây là nơi Gióng ra đời Miếu lợp ngói cổhình mũi hài Sau Miếu là giếng Bát Nhũ trì , giữa giếng nổi lên một gò đất con,trên gò có một bể con bằng đá tượng trưng cho bồn tắm và một chiếc liềm bằng
đá là dụng cụ cắt rốn người anh hùng Truyền rằng, Thánh Gióng ra đời trên sậpđặt ở đảo này, sau đó được tắm trong chậu đá
Theo truyền thuyết, cố viên (vườn xưa) là nơi mẹ Gióng đến hái rau rồiướm chân mình vào vết chân người khổng lồ, hiện còn một tấm bia mang dòngchữ “nhà xưa của Thánh Mẫu trong vườn Đổng” Ở đây có một nhà nhỏ gọi là
"cây hương", bên cạnh là hòn đá lớn hình thù đặc biệt với nhiều vết lồi lõmđược xem là dấu chân của người khổng lồ
Theo UBND thành phố Hà Nội, lúc 18h20 ngày 16/11 (tức 22h20 giờViệt Nam), tại thành phố Nairobi, thủ đô của Kenya, Tổ chức Giáo dục, Khoahọc và Văn hóa của Liên hiệp quốc (UNESCO) đã công nhận lễ hội Gióng ở đền
Trang 27Phù Đổng (Gia Lâm) và đền Sóc (huyện Sóc Sơn) là di sản văn hóa phi vật thểđại diện của nhân loại Hội Gióng cũng là di sản thứ ba của Hà Nội đượcUNESCO vinh danh trong năm 2010
Hội Gióng Sóc Sơn đã được tổ chức vào mồng 6 tháng Giêng âm lịch HộiGióng phù đổng chính thống hàng năm diễn ra vào mồng 8 - 9 tháng 4 Âm lịch
Ðến Hội Gióng, chúng ta sẽ có dịp cảm nhận mối quan hệ hai chiều giữalàng và nước - giữa nghĩa vụ cá nhân và cộng đồng, cảm nhận được những triết
lý sâu xa về bài học làm người, lòng tự hào dân tộc và tình yêu Tổ quốc
Hội Gióng là một kịch trường dân gian rộng lớn với số lượng vai diễn hếtsức phong phú, độc đáo và trình diễn theo một kịch bản đã được chuẩn hóa cao.Mỗi chương mục, vai diễn, đạo cụ hành lễ… đều mang ý nghĩa biểu đạt vànhững triết lý dân gian sâu sắc
Lễ hội Gióng được cử hành trên một diễn trường dài khoảng 3 km, gồmđền Thượng, đền Mẫu và chùa Kiến Sơ Thường 5 năm một lần, vào năm chẵnthì tổ chức hội chính (từ 6 -12/4); còn các năm lẻ thì tổ chức hội lễ vào ngày 9/4,sau nghi thức hành lễ, chiến sự chỉ xảy ra một trận kết thúc ở Soi Bia Sự phâncông đã hình thành từ lâu đời: Phù Dực, Phù Đổng thay nhau làm giáp kéo hội(đăng cai) được cử các tướng Văn Lang, các đội cận vệ binh Đổng Viên, ĐổngXuyên cử đội quân báo, quân lương Còn Hội Xá đến với phường múa hát ẢiLao, Tùng Choặc và diễn trò bắt hổ.Số người trực tiếp tham gia trong ngày hộitới vài trăm, gồm: các ông hiệu, nữ tướng giặc Ân, quân phù giá nội, ngoại, làng
áo đỏ, làng áo đen, quân báo, quân lương… Sự nghiêm ngặt, linh thiêng cao độđối với người tham gia lễ hội từ trẻ mục đồng, quân phù giá đến phường Ải Lao,đặc biệt các ông hiệu như hiệu cờ, hiệu trống, hiệu chiêng, hiệu trung quân, hiệutiểu cổ Tướng nữ đóng giặc Ân (từ 9 - 12 tuổi) và các ông hiệu được chọn lọcrất kỹ và phải phải tập dượt nghiêm túc và chịu những điều kiêng kỵ nghiêmngặt Riêng ông hiệu cờ sống chay tịnh riêng biệt trong một tháng theo tục traigiới trong nhà cầu của đền, có người phục vụ
Ông Hiệu Cờ - tượng trưng ông Gióng - người chỉ huy tối cao của trận đánh Dân gian gọi nghi lễ của ông gọi là Ðánh Cờ Ông hành lễ bằng việc đá
Trang 28chiếc bát và gạt tờ giấy - biểu tượng của sự vượt núi rẽ mây và sau đó múa cờtượng trưng sức mạnh của ông Gióng.
Nghi lễ này trong tâm linh dân gian là vô cùng thiêng liêng, có liên can
đến Quốc thái Dân an, mưa thuận gió hòa Ông Hiệu Cờ hành lễ uyển chuyển tôn nghiêm, không vấp khuyết là điềm lành báo hiệu Dân thịnh Nước cường.
Sau ông là các Hiệu Trống, Hiệu Chiêng, Hiệu Trung Quân, Hiệu Tiểu
Cổ Mỗi ông Hiệu tượng trưng là một tướng chỉ huy.
Phụ giá là đội quân cận vệ trực tiếp chiến đấu Họ đóng khố cởi trần, vai
đeo túi bán nguyệt thêu kim tuyến, đầu đội mũ đen hình quả dưa, trên đính cáccon rồng nhỏ, tay cầm quạt tượng trưng một loại vũ khí biến ảo
Xướng - Xuất là các đội trưởng của quân Phù Giá, mặc áo thụng xanh, cầm trống khẩu, hoặc thanh la để ra hiệu lệnh chỉ huy Bát tiên là tám người lính
chính quy của Hùng Vương phối hợp tác chiến, y phục đúng như người lính thời
Phường Ải Lao là đội quân tổng hợp: có người đi câu, đập đất, đi săn, trẻ
mục đồng, và đặc biệt là ông Hổ Họ có những màn múa hát dân gian kỳ thú, đặcbiệt là điệu múa săn Hổ và giúp Hổ hóa thân Ngoài ý nghĩa "Thiện"- giúp Hổ hóakiếp theo thuyết luân hồi Phật giáo, nó còn nhắn gửi một thông điệp đến muôn
đời: Con người ta phải làm chủ được mình để rút khỏi vị thế cho đúng lúc!
Vai phản diện là 28 Cô tướng - tượng trưng 28 đạo quân xâm lược nhà
Ân Chọn "phái đẹp" đóng vai tướng giặc, Hội Gióng muốn nhắn nhủ: Phải thận trọng khi nhìn nhận bộ mặt thật của kẻ thù!
Ngoài ra còn có mục Kén Tướng và Kén Phù giá - thể hiện quan điểmthẩm mỹ của ông bà ta: người con trai tốt phải biểu lộ tiềm năng sức mạnh,
người con gái đẹp phải hội đủ Công, Dung, Ngôn, Hạnh…
Thời gian chuẩn bị lễ hội được tiến hành từ đầu tháng 3 âm lịch hàng
Trang 29năm, hội bắt đầu từ ngày 6/4 Ngày 5/ 4 âm lịch là ngày tổng diễn tập múa, hát ởđền Thượng Ngày 6/4 người tổ chức lễ rước nước lễ rước nước từ đền Hạ vềđền Thượng, rồi dùng nước ấy cọ rửa binh khí, tượng trưng cho việc tôi luyện
vũ khí trước khi đánh giặc Ngày 7/4 âm lịch rước cỗ chay (cơm cà - thức ănGióng thích) lên đền Thượng Buổi trưa có múa rối ở nhà Thủy Đình trước đền.Buổi chiều rước khám đường (thăm dò đường đến trận địa), cờ lệnh được mangđến Đền Ngày 8 tháng 4 âm lịch các giáp duyệt lại vai đóng tướng nữ Ngày 9/4
- chính hội có múa hát thờ, có hội trận và lễ khao quân Hát thờ diễn ra trướcthủy đình phía trước đền Thượng do phường hát Ải Lao - một tục rất cổ và hộiTùng Choặc biểu diễn (chủ yếu là hát dân ca) Hội trận mô phỏng lại cảnhThánh Gióng đánh giặc tại cánh đồng rộng (khoảng 3km) gọi là Soi Bia 28 côgái mặc tướng phục thật đẹp tượng trưng cho 28 đạo quân của giặc 80 phù giálưng đeo túi dết, chân quấn xà cạp là quân ta Đi đầu đám rước là dăm ba bé traicầm roi rồng, mặc áo đỏ đi dọn đường tượng trưng cho đạo quân mục đồng.Theo sau là ông Hổ từng giúp Thánh phá giặc Trong đám rước còn có cả ôngTrống, ông Chiêng và 3 viên tiểu Cổ mặc áo xanh lĩnh xướng Trong khi ônghiệu cờ đang say sưa múa cờ, thì dân chúng xem hội đã tranh nhau những đồ tế
lễ Đám rước đi đến tận Đổng Viên, đi đến đâu cờ quạt tưng bừng đến đấy.Ngày 10/4, vãn hội có lễ duyệt quân tạ ơn Thánh Ngày 11/4 làm lễ rửa khí giới
và ngày 12/4 lễ rước cờ báo tin thắng trận với trời đất và cuối cùng là lễ khaoquân
Trước ngày hội, dân làng đã tổ chức nhiều trò chơi: Vật, chọi gà, đánh cờ,hát, hát ải lao Tại Soi Bia còn có cả đánh cờ người Đặc biệt những động tác(múa) hành lễ trong hội Gióng: Múa cờ lệnh, múa đánh trống, múa đánh chiêng,hành lễ của ổng hiệu trống, hiệu chiêng, múa quạt hầu, hành lễ của ông hổ, hành
lễ của 12 người phường Ải lao trong âm thanh náo động đầy quyền uy tạo nênmột bài ca hùng tráng chứa chan niềm tin thắng lợi và lòng tự hào dân tộc.Trong ngày lễ lớn, trò diễn trận, rước kiệu, múa cờ, chia phe diễn lại sự tíchThánh Gióng đánh giặc Ân là những màn diễn xướng độc đáo thể hiện tinh thầnđoàn kết toàn dân, ý chí quật cường của dân tộc, tôn vinh vị anh hùng dân tộc
Trang 30Thánh Gióng Đây là cuộc tổng diễn xướng anh hùng ca Thánh Gióng tích tụnhững giá trị tinh thần cao đẹp của một dân tộc chống ngoại xâm liên tục để tựkhẳng định nền độc lập tự do sau hàng ngàn năm Bắc thuộc.
Độc đáo nhất trong lễ hội Gióng là ngựa trắng và ông hiệu cờ 28 thiếu nữđóng tướng giặc, thực chất tượng trưng cho tinh tú (chọn những cô bé còn ngâythơ là biểu hiện hồn nhiên như bầu trời, người Việt lấy thờ Mẫu làm trọng) Lễrước Bạch Mã (ngựa trắng) vào giữa trưa, ngựa trắng tượng trưng sức mạnh linhkhí của trời và tượng trưng phương Đông, mặt trời Khi rước, người ta cầu mong
có được sinh khí tràn trề, muôn loài sinh sôi nảy nở Theo tục lệ, khi rước ngựatrắng trời thường nổi gió, có nghĩa là trời ứng vận vào người "Thiên nhân hợpkhí" mà tạo cho khí thiêng của trời tràn về trần gian Khi rước về, sinh khí đóhội tụ vào lá cờ đỏ của ông hiệu cờ Màu đỏ là màu của sinh khí, màu của sứcsống, gắn với thần linh Chỉ có thể thì sức sống mới được phát triển và cái ướcvọng qua ngày hội mới trở thành ước vọng được mùa, ước vọng của phồn thực,ước vọng của sự no đủ Và, chính qua nhận thức đối với Phù Đổng Thiên Vương
- một uy lực siêu phàm như vậy, nên người xưa đã quan tâm đến nơi thờ củaThánh Gióng và tổ chức lễ hội tưởng niệm
Ngoài tính biểu tượng của ý chí chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam,
lễ hội Thánh Gióng còn có lớp biểu tượng khác, lớp giá trị cổ sơ hơn là nghi lễnông nghiệp Hội Gióng mở vào ngày 9/4, là thời điểm bắt đầu vào mùa mưa,mùa gieo trồng lúa, thời điểm vũ trụ chuyển từ “âm suy” sang “dương thịnh”.Ông Gióng được mô tả trong truyền thuyết hiển hiện hình trạng của vị thần sấmchớp mưa dông Cuộc giao tranh của Gióng trước khi trở thành giao tranh giữa
“ta” và “giặc”, giữa người bị xâm lược và kẻ xâm lược vốn đã là cuộc giao tranhgiữa “âm” và “dương” Trong thời điểm giao thời của vũ trụ, “dương” tất thắng
“âm”, mưa phải thắng hạn Trong Hội Gióng, quân của Gióng là các chàng traikhỏe mạnh, còn quân của giặc Ân là 28 cô gái trẻ mềm yếu Cây tre được Gióngdùng làm vũ khí đánh giặc, trước đó vốn là “hoa tre”, thường dùng để tranhcướp trong ngày hội mang hình sinh thực khí dương Theo quan niệm dân gian,
ai cướp được “hoa tre” thì sẽ gặp nhiều may mắn Đám rước nước từ đền Gióng
Trang 31sang đền Mẹ với ý nghĩa lấy nước của giếng Mẹ rửa khí giới của Gióng trướckhi xung trận đã là lễ rước nước cầu đảo (cầu mưa)
Hình tượng Thánh Gióng đã trở thành một “Tứ bất tử” trong đời sống tâmlinh người Việt Lễ hội Thánh Gióng là một di sản văn hóa phi vật thể thuộc lĩnhvực tín ngưỡng và sự kiện lễ hội, được nhà nước phong kiến chú trọng phát triển
từ thời Lý và cộng đồng giữ vai trò rất lớn trong việc bảo tồn qua hàng ngànnăm lịch sử
2.1.2 Những giá trị văn hóa đặc sắc của lễ hội
Hội Gióng là một lễ hội văn hóa cổ truyền mô phỏng một cách sinh động vàkhoa học diễn biến các trận đấu của thánh Gióng và nhân dân Văn Lang với giặc
Ân Thông qua đó có thể nâng cao nhận thức cộng đồng về các hình thức chiếntranh bộ lạc thời cổ xưa và liên tưởng tới bản chất tất thắng của cuộc chiến tranhnhân dân, toàn dân, toàn diện trong sự nghiệp giải phóng và bảo vệ Tổ quốc
Theo truyền thuyết, cố viên (vườn xưa) là nơi mẹ Gióng đến hái rau rồiướm chân mình vào vết chân người khổng lồ, hiện còn một tấm bia mang dòngchữ " nhà xưa của Thánh Mẫu” trong vườn Đổng Ở đây có một nhà nhỏ gọi là
"cây hương", bên cạnh là hòn đá lớn hình thù đặc biệt với nhiều vết lồi lõmđược xem là dấu chân của người khổng lồ
Giá Ngự: Ở đây có hai cột trụ và một bệ xây vào đầu thế kỷ XX Vàongày hội đền, dân làng kéo ngựa thờ, gọi là ông giá, từ đến Thượng đến đâytrông ra khu Soi Bia cạnh Đền Hạ nơi điệu múa cờ được biểu diễn
Mộ Trần Đô Thống ở xóm Vận Hang ở trước đền Thượng Tục truyền ĐôThống là một tướng của Thánh Gióng, người Phù Dực cầm đạo tiên phong trong đoànquân chống giặc Ân Mộ được xây bằng gạch giữa một khu rộng ngoài bãi sông
Cùng với hàng trăm dấu tích thánh Gióng ở các tỉnh Bắc Ninh, Hà Nội,các di tích tưởng niệm Gióng ở Phù Đổng còn để lại rất nhiều dấu ấn đáng trântrọng, giúp chúng ta có nhiều tài liệu quý để nghiên cứu và ghi nhớ sự tíchngười anh hùng văn hóa đã trở thành huyền thoại bất tử
Lễ hội Thánh Gióng - hội trận thể hiện tinh thần chống giặc ngoại xâmcủa người Việt cổ Mang đặc điểm chung của lễ hội dân gian, lễ hội Thánh
Trang 32Gióng lắng đọng khá nhiều lớp phù sa lịch sử - văn hóa, vẫn lưu giữ những nétriêng ít lễ hội dân gian nào có được Yếu tố “gốc” của lễ hội Thánh Gióng tồntại chủ yếu trong tiềm thức con người qua các thế hệ, gắn bó với mỗi người vàluôn được tiếp nhận cái tinh túy, bồi đắp thêm những lớp phù sa văn hóa - tínngưỡng, đồng thời cũng sàng lọc những yếu tố không còn thích hợp để sự sángtạo ấy luôn mang tầm nhân loại
Đây là một lễ hội khá ổn định dẫu thời gian, sự tiếp biến văn hóa của cuộcsống đương đại đã tác động rất lớn Việc sưu tầm nghiên cứu lễ hội ThánhGióng có từ rất sớm và kỹ lưỡng Những công trình sớm nhất đã được ghi lạitrong văn bia, thần tích ở các di tích đền Phù Đổng, đền Sóc Sơn…của các nhàNho Hội Thánh Gióng là lễ hội mà cộng đồng có vai trò to lớn trong việc bảotồn và phát triển cả ngàn năm qua Thời quân chủ, các vương triều rất chú ý đến
lễ hội này Vương triều nhà Lý (1009-1225) coi trọng di tích và lễ hội Gióng.Đánh dấu một thời kỳ mới của Đại Việt, nhà Lý, tiêu biểu là Lý Công Uẩn đãcho xây đền thờ Phủ Đổng Thiên Vương, tổ chức lại Hội Gióng với một quy môlớn Đến thời Lê (thế kỷ XV-XVI), hội Gióng đã nổi tiếng và được triều đình cửquan đại thần về chủ tế đức Thánh Gióng Tiếp nối truyền thống, các vươngtriều sau cũng như vậy
Ngoài tính biểu tượng của ý chí chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam,
lễ hội Thánh Gióng còn có lớp biểu tượng khác, lớp giá trị cổ sơ hơn là nghi lễnông nghiệp Hội Gióng mở vào ngày 9/4, là thời điểm bắt đầu vào mùa mưa,mùa gieo trồng lúa, thời điểm vũ trụ chuyển từ “âm suy” sang “dương thịnh”.Ông Gióng được mô tả trong truyền thuyết hiển hiện hình trạng của vị thần sấmchớp mưa dông Cuộc giao tranh của Gióng trước khi trở thành giao tranh giữa
“ta” và “giặc”, giữa người bị xâm lược và kẻ xâm lược vốn đã là cuộc giao tranhgiữa “âm” và “dương” Trong thời điểm giao thời của vũ trụ, “dương” tất thắng
“âm”, mưa phải thắng hạn Trong Hội Gióng, quân của Gióng là các chàng traikhỏe mạnh, còn quân của giặc Ân là 28 cô gái trẻ mềm yếu Cây tre được Gióngdùng làm vũ khí đánh giặc, trước đó vốn là “hoa tre”, thường dùng để tranhcướp trong ngày hội mang hình sinh thực khí dương Theo quan niệm dân gian,