Đề tài các phương pháp phân loại giai đoạn của ung thư trực tràng
Trang 1MỞ ĐẦU
Ung thư trực tràng là một bệnh ung thư phổ biến trên Thế Giới cũng như ở nước ta Hàng năm, ước tính khoảng 600.000 trường hợp ung thư đại tràng được phát hiện trên thế Giới, trong đó hơn 50%[7] là ung thư trực trang Tại Pháp, hàng năm gặp khoảng 26000 ca ung thư [25] Tại Anh, hàng năm gặp khoảng 19.000 ca chết vì ung thư đại trực trang, là nguyên nhân thứ hai gây tử vong do ung thư [15, 20] Tại Việt Nam, theo ghi nhận ung thư Hà Nội, tỷ lệ mắc bệnh chuẩn theo đuổi của ung thư trực tràng là 7.5/100.000 dân [1], đứng vị trí thứ 5 trong các bệnh ung thư
Ngày nay, tiên lượng của bệnh đã sáng sủa hơn nhờ những tiến bộ lớn trong lĩnh vực chuẩn đoán cũng như điều trị Có nhiều phương pháp được ứng dụng để chuẩn đoán bệnh ưng thư trực tràng như thăm khám lấm ang, nội soi, chuẩn đoán hình ảnh, xét nghiệm, tìm chất chỉ điểm ung thư, giải quẫu bệnh học trong đó mô bệnh học có ý nghĩa quyết định Nó còn giúp chuẩn đoán giai đoạn bệnh đánh giá tiên lượng bệnh cũng như xây dựng phác đồ điều trị
từ những năm trước đây, đã có nhiều tác giả nghiên cứu và đề xuất ra các phương pháp phân loại giai đoạn ưng thư tràng Nhìn chung, các phương pháp phân loại giai đoạn ưng thư trực tràng đều dựa trên giải phẫu bệnh học, theo mức độ xâm lấn của ung thư và mỗi phương pháp đều có nhưng ưu điểm riêng
Trong chuyên đề này, chúng tôi sẽ trình bầy những nội dung cơ bản sau:
- Nhắn lại giải phẫu và sinh bệnh học của ung thư trực tràng
- Đặc điểm mô bệnh học của ung thư trực tràng
- Các phương pháp phân loại giai đoạn của ung thư trực tràng
Trang 2CHƯƠNG IGIẢI PHẪU TRỰC TRÀNGTrực tràng là đoạn cuối cùng của đại tràng nối tiếp với tràng xích ma
từ đốt sống cùng 3 tới hậu môn, gồm 2 phần:
Bóng trực tràng nằm trong chậu hông bé, dài từ 12-15 cm [28] có chức năng chứa phân ống hậu môn nằm ở tầng sinh môn, hẹp và ngắn" 2-3cm [28] có chức năng giữ phân và tháo quân
hướng đi của trực tràng: trực tràng không chạy theo hướng thẳng từ cao xuống thấp, mà chạy theo đường cong hước ra trước thưo đường cong của xương cùng,xương cụt, tới đỉnh xương cụt, trực tràng gấp khuỷ xiên chéo xuống dước và ra sau Hướng giải phẫu của trực tràng có một ứng dụng quan trọng để tiến hành đặt ống nội soi cũng như đầu dò siêu âm nội trực tràng
Thành trực tràng dày trung bình 2mm bao gồm 4 lớp [6]
- Lớp niêm mạc
- Lớp dưới niêm
- Lớp cơ: nông là lớp cơ dọc và sâu là lớp cơ vòng
- Lớp thanh mạc: Phần trực tràng giữa và cao là phúc mạc, phần dưới trực tràng ngoài phúc mạc là bao thớ tổ chức liên kết
Khác với ruột non, mặt trong của trực tràng mịn, không có nếp gấp hoặc nhung mao, Nghiên cứu về mô học cho thấy niêm mạc của trực tràng gồm các tuyến Liberkuhn, các ống tuyến này thẳng, dài, trải khắp bề dày của niêm mạc Biểu mô gồm các tế bào hình trụ, cao, có viền khía Các tế bào ở đấy tuyến thường ít biện hoá, phân bào nhanh, đẩy những tế bào mới lên trên bề mặt để thay thế những tế bào bong ra ở niêm mạc Mô đệm (Lamina propria) mỏng ken chặt giữa các tuyến Lớp cơ niêm mỏng tạo thành chỗ dựa cho các tuyến Liberkuhn
Lớp dưới niêm là lớp tổ chức liên kết lỏng lẻo, có các nang limphô
Trang 3Lớp cơ thành trực tràng gồm 2 lớp cơ: cơ vòng bên trong và cơ dọc bên ngoài, đây là lớp bền vững nhất của thành ruột.
Có hai cơ thặt hậu môn: cơ thắt trong là cơ tròn(Sphinter) và cơ thắt ngoài nằm bao quanh cơ thắt trong là cơ vân (Sphincter Strie) do dây thần kinh thẹn chi phối nên kiểm soát có ý thức
trực tràng có chức năng chứa phân và tháo phân Khi trực tràng chứ đầy phân , thành trực tràng bị căng ra, các tín hiệu kích thích truyền vào đám rối Auerbach, các sóng nhu động đi đến ức chế cơ thắt trong hậu môn làm cơ giãn ra nếu cơ thắt ngoài cũng giãn có ý thức sẽ xẩy ra động tác đại tiện, Đây là cơ chế tháo phân do phản xạ ngoại sinh là phản xạ tống phân phó giao cảm: Các tín hiệu kích thích được truyền vào đoạn cùng tuỷ sống, theo các sợi phó giao cảm trong dây thần kinh mu đến đại tràng, trực tràng
và hậu môn để làm tăng các sống nhu động, làm giãn cơ thắt trong hậu môn Các tín hiệu từ tuỷ sống còn gây ra các động tác như hít sâu, đóng thanh môn, co cơ thành bụng để đẩy phân xuống và làm đáy chậu mở xuống dưới, kéo cơ vòng hậu môn ra ngoài để tống phân ra ngoài
Liên quan định khu
- Mặt trước:
+ Năm: phần phúc mạc liên quan tới túi Douglas và mặt sau bàng quang Phần dưới phúc mạc liên quan với mặt dưới của bàng quang, túi tinh, ống dẫn tinh và tuyến tiền liệt
+ Nữ: phần phúc mạc qua túi cùng Douglas với tử cung, túi cùng âm đạo sau, phần dưới phúc mạc liên quan với thành sau âm đạo
- Mặc sau: Liên quan với xương cùng và các thành phần ở trước xương
- Mặt bên: Liên quan với thành chậu hông, các mạch máu, niệu quản, thần kinh bịt
Trang 4Trực tràng năm trong một khoang được bao bọc xung quang là tổ chức
mỡ quang trực tràng Ung thư thường xâm lấn qua trực tràng vào tổ chức
mỡ xung quang [12]
Mạch máu, bạch huyết
Trực tràng được nuôi dưỡng bằng 3 bó mạch:
- Bó mạch trực tràng trên, là bó mạch chính nuôi dưỡng trực tràng, xuất phát từ động mạch mạc treo tràng dưới, tưới máu cho phần trực tràng cao và trung bình
- Bó mạch trực tràng giữa ở hai cách trực tràng, xuất phát từ động mạch hạ vị
- Bó mạch trực tràng duới xuất phát từ động mạch thẹn trong tưới máu cho ống hậu môn và các cơ tròn hậu môn
Phần lớn bạch mạhc ở đoạn giữa trực tràng đổ về nhóm hạch thưo dọc theo động mạnh trực tràng giữa về hạch chậu Đoạn trực tràng thấp và ống hậu môn, bạch mạch đổ thưo nhóm hạch động mạnh cùng, vùng đáy chậu
đổ vào hạch bẹn nông Nghiên cứu về đi căn hạch trong ung thư trực tràng cho thấy nhóm hạch cạnh trực tràng gần sát khối u hay bị đi căn (64.29%) [12] trong khi nhóm hạch dọc cuống trực tràng trên ít bị hơn (23.8%) [12]
Do đặc điểm giải phẫu nên việc thăm khám lâm sàng tìm hạch đi căn của ung thư trực tràng rất khó khăn, Hiện này, phương pháp siêu âm nội trực tràng đang được nghiên cứu để phát hiện tổn thương hạch trong ung thư trực tràng
Trang 5CHƯƠNG II.
SINH BỆNH HỌC UNG THU TRỰC TRANG
I CÁC YẾU TỐ SINH UNG THU
Cho đến nay , người ta thấy có 3 vấn đề: Dinh dưỡng, các thương tổn tiền ung thu và yếu tố di truyền có liên quan đến sinh bệnh học ung thư trực tràng
1 Yếu tố dinh dưỡng
Ung thư đại trực tràng liên quan chặt với chế độ ăn nhiều thịt, mỡ động vật, thực phẩm có nhiều mỡ, thịt động vật làm tăng lượng axit mật, làm thay đổi và thúc đẩy sự phát triển của các vi khuẩn trong ruột nhất kà những vi khuẩn yếm khí như: Clostridia Các vi khuẩn này có thể biến đổi các axit mật thành các chất chuyển hoá có khả năng tác động tới sự sinh sản của các tế bào biểu mô ruột
Những thực phẩm có nhiễm các hoá chất gây ung thư như Benzopyren, Nitrosamin…., cũng có khả năng gây ung thư
Chế độ ăn ít chất xơ, làm giảm độ lớn của phân, làm kéo dài thời gian phân ở lại trong ruột, tạo cơ hội cho sự sản xuất các chất sinh ung thư nội sinh, và làm niêm mạc ruột phải tiếp xúc lâu hơn với các chất gây ung thư.Chế độ ăn thiếu các Vitamin, A,B, C,E thiếu canxi làm tăng nguy cơ ung thư, vì những chất này được coi là những chất làm giảm nguy cơ mắc ung thư
Uống nhiều rượu, nghiện thuốc lá là những nguyên nhân thuận lợi gây ung thư
2 Các thương tổn tìên ung thư.
2.1 Viên đại trực tràng chảy máu và bệnh Crohn
Đây là những bệnh lý của đại trực tràng có liên quan đến sinh bệnh ung thư Nhiều nghiên cứu cho thấy nguy cơ bị ung thư ở những bệnh nhân viêm đại trực tràng chảy mái (20-25% ung thư hoá sau thời gian khoảng trên 10 năm) [24]
Trang 6Các Polyp tuyến lại được chia làm 3 loại theo đặc tính mô học:
+ Polyop ống tuyến (Adenome tubuleux) thường là những Polyp có cuống vi khuẩn có cấu trúc nhưng mao>50%
+ Polyp tuyến ống nhung mao (Adenome tubolo - villeux) 25-50% cấu trúc nhung mao
Nguy cơ ung thư hoá của polyp tuỳ theo kích thước và loại mô học Loại polyp tăng sản ít ác tính hoá hơn trong khi polyp nhung mao có nguy
cơ ung thư hoá 25-40% [11] Những polyp có kích thước >2cm, nguy cơ ung thư cao [24]
3.1 Các hội chứng di truyền trong ung thư đại trực tràng
* Hội chứng ung thư đại trự tràng di truyền không polup: (hội chứng Lynch): Về tiền sử gia đình có nhiều thế hệ mắc ung thư đại trực tràng Có thể phối hợp những ung thư khác như ung thư dạ dày, ruột non, thận, buồng chứng
* Bệnh đa polyp đại trực tràng mang tính gia đình gồm hàng trăm, hàng ngàn polyp, các polyp thường nhỏ đường kính khoảng 1cm, có cuống, gặp ở lứa tuổi trước 30 [24] tỷ lệ ung thư hoá cao
Trang 7* Hội chứng Peutz Jeghrs: bệnh di truyền gen trội nhiễm sắc thể thường.
Bệnh nhân có rất nhiều polyp trong toàn bộ ống tiêu hoá, đặc biệt là ruột non kèm thưo các vết sắc tố ở da, niêm mạc miệng
*Hội chứng Gardner: gồm đa polyp kèm theo các u bó sợi (desmoid tumor)
* Hội chứng Turcot: Gồm các đa polyp ở đại trực tràng và u náo bệnh
di truyền gen lặn trên nhiễm sắc thể thường
3.2 Gen sinh ung thư
Trong những năm gần đây, những nghiên cứu về gen và ung thư đã có tiến bộ lớn, mở ra một hướng chẩn đoán và điều trị mới đầy hứa hẹn
Quá trình sinh bệnh ung thư liên quan chặt chẽ đến tổn thương 2 nhóm gen: gen sinh ung thư (Ôncgène) và gen kháng ung thư (gène supresseur) Hai loại den này bình thường trong tế bào đóng vai trò quan trọng trong kiểm soát quá trình sinh sản tế bào, sự biết hoá tế bào và quá trình chết theo chương trình tế bào (Apôptse), giúp cho sự ổn định sinh học của cơ thể Gen sinh ung thư, kiểm soát theo hướng tích cực, mã hoá những protein di truyền nhưng tín hiệu phân bào Khi các gan này bị tổn thương như bị đột biến sẽ truyền tín hiệu phân bào sai kạc mà cơ thể không kiểm soát được, dẫn đến sinh ung thư Trái với các gen sinh ung thư, các gen kháng sinh ung thư mã hoá cho những protein kiểm soát phân bào thưo hướng ức chế, làm chu kỳ phân bào bị dừng ở một pha, thường ở pha G1, các gen kháng ung thư còn có chức năng làm biệt hoá tế bào hoặc mã hoá tế bào chết theo chương, khi các gen kháng ung thư bị bất hoạt do đột biến sẽ làm biết đổi
Trang 8Gen apc là 1 loại gen kháng ung thư nằm trên cách tay ngắn của nhiễm sắc thế số 5 (5q21) Gen apc mã hoá 1 loại Protein có chức năng làm kết đính giữa các tế nào, đột biến gan apc, gặp trong bệnh đa polip đại trực tràng tính chất gia đình (trên 70%), trong các u tuyến và ung thư đại trực tràng không di truyền [24].
Ngày nay, xét nghiệm di truyền tìm gen apc đột biến được chỉ định cho các thành viên trong gia đình của bệnh nhân bị bệnh đa polip đại trực tràng mang tính chất gia đình để phát hiện sớm bệnh
*Gen K -Ras
Gen ras là một loại tiền gan ung thư nằm ở nhiễm sắc thể 12, mã hoá cho một loại protein gắn với GTP để truyền tín hiệu phân bào Nhiều nghiên cứu cho thấy khoảng 40-70% [24] các u tuyến kích thước hơn 1cm
và những ung thư biểu mô sớm có đột biết gen ras khi xét nghiệm Với sự tiến bộ nhanh chống của sinh vật học phân tử, xét nghiệm tìm gen ras đột biến trở thành một xét nghiệm sàng lọc mới cho ung thư đại trực tràng
*Gen DCC (Đelêt in Colorectal carcinomas)
Gen DCC là một loại gen kháng ung thư nằm ở cánh tay dài của nhiễm sắc thể 18
Gen DCC mã hoá cho một loại protein kết dính tế báo N - CAM tổn thương đột biến gen DCC thấy ở 50% các y tuyến và hơn 70% ung thư đại trực trảng [24]
* Gen P53 là Gen kháng ung thư nằm ở cách tay ngắn của nhiễm sắc thể 17 Các nghiên cứu cho thấy hầu hết ung thư đại trực tràng giai đoạn đi căn có đột biến gen P53 Sự bất hoạt của gen P53 là một yếu tố tiên lượng xấu của bệnh
* Gen H MSH2 hoặc H MLH1.
Là những gen nằm ở nhiễm sắc thể 2 (2p 22 - 21) và nhiễm sắc thể 3(3p 21), những gen này mã hoá cho một số enzym đóng vai trò quan trọng giữ sự ổn định AND , kiểm soát việc sửa chữa AND Khi các gen này bị
Trang 9đột biến làm kém bền vững cấu trúc AND, chúng thúc đẩy đột biến tiền gen sinh ung thư và gen kháng ung thư Nếu như gen apc là một loại gen liên quan đến bệnh đa polip đại trực tràng gia đình thì gen h MSH2 và h MLH1 là những gen liên quan với lợi ung thư đại trực tràng di truyền không polip (Hội chứng Lynch).
Ở nhóm người có nguy cơ cao được xét nghiệm tìm tổn thương gen h MSH2 và h MLH1 sẽ chuẩn đoan sớm được ung thư
II CƠ CHẾ SINH UNG THƯ ĐẠI TRỰC TRÀNG
Cơ chế sinh ung thư đại trực tràng hiện nay đã được sáng tỏ qua cơ chế gen sinh ung thư Quá trình sinh bệnh của ung thư đại trực tràng trải qua nhiều giai đoạn liên quan đến tổn thương nhiều gen sinh ung thư do tác động của các yếu tố gây ung thư Những nghiên cứu còn cho thấy, gen MSH2 và HMLH1 là những gen kiểm soát sửa chữa AND khi đột biến đã làm các gen sinh ung thư bị mất bền vững, trở nên dễ bị đột biến khu có tác động của các yếu tố gây ung thư:
Trang 10Sơ đồ: Cơ chế sinh ung thư đại tràng theo (Fearon và VogeIstein)
APC: gen kháng ung thư
K-RAS: Gen sinh ung thư (Oncogen)
DCC: gen kháng ung thư
H MSG2, h MLH1: Gen kiểm soat sửa chữa ADN
Yếu tố gây ung thư (tác nhân nhiễm trùng)
Biểu mô tuyến
Ung thư
Di căn
Trang 11CHƯƠNG IIIĐẶC ĐIỂM GIẢI PHẪU BỆNH UNG THƯ TRỰC TRÀNG
I PHÂN LOẠI MÔ BỆNH HỌC
Tổ chức y tế Thế Giới (WHo) năm 1989 đã đề xuất hệ thống phân loại cho cả khối u lành và áctính của trực tràng [11.15]
U lành:
+ Polyp tăng sản (Hyperlasic polyp)
+U tuyến ống (Tubular adenoma)
+ U tuyến nhung mao (Villous adenoma)
+ U tuyến ống - nhung mao (Tubulo -villous adenoma)
+ Bệnh đa polyp gia đình (Familial polyppsis)
+ Hội chứng Deutz - Jeghers (peutz Jegher' s syndrom)
+ Hooij chuwngs Gardner' (gardenr's syndrom)
+ Polyp trẻ em (Huveile poylp)
+ Polyp dạng limpho (Limphoid polyp)
Ung thư:
Các khối u biểu mô:
+ Ung thư biểu mô tuyến
+ Ung thư biển mô tuyến nhày
+ Ung thư biểu mô tuyến tế bào nhẫn
+ Ung thư biểu mô tế bào vẩy
+ Ung thư biển mô tuyến - vẩy
+ Ung thư biểu mô không biệt hoá
+ Ung thư biểu mô không xếp loại
Trang 12Các khối u Carcinoid
+ Các khối u ưa muối bạc (Argentaffin)
+ Các khối u không ưa muối bạc (Nonarfentaffin)
+ Các khối u hỗn hợp
Các khối u không phải biểu mô:
+ Sarcôm cơ trơn
+ U lymphô ác tính
+ Các khối u khác
+ Các khối u không xếp loại
II UNG THƯ BIỂU MÔ TUYẾN
Ung thư biểu mô tuyến (Adenocarcinoma) là thể mô bệnh học chủ yếu của ung thư trực tràng, chiếm khoảng 90-95% các thể bệnh [3.4.7.10.11.15.20]
1 Tổi thương đại thể.
Hình thể u bao gồm: Thể sùi (có cuống hoặc không có cuống), thể loét, thể loét sùi và thể thâm nhiễm Thể loét sùi chiếm khoảng 2/3 các trường hợp [27] Thể thâm nhiễm hiếm gặp, thường gây chít hẹp trực tràng Mặc dù ung thư trực tràng có nhiều thể nhưng các tổn thương ung thư thường có những đặc tính
+ Tổ chức u mủn, bở (Friable)
+ Đáy cứng
+ Bờ không đều
+ Dễ chảy máu khi tiếp xúc, đụng chạm
Hầu hết các ung thư trực tràng đều bắt đầu phát triển dưới dang một tổn thương dạng polyp nhở Những tổn thương này có thể phát triển vào trong lòng ruột hoặc vào bản thân thành ruột Khối u phát triển vào trong lòng ruột gây tác ruộc hoặc hoại tư, loét và thủng
2 Tổn thương vi khuẩn:
Trang 13Ung thư biểu mô tuyến được tạo thành bởi các biểu mô dạng trụ hoặc dạng cột với sự biến hoá bình thường ở các mức độ khác nhau, Đây là loại
mô bệnh học được phân loại thêm về độ biệt hoá (Grading)
Các tế bào ung thư bị biến dạng, sẫm màu hơn, kích thước thay đổi, Nhân tế bào tăng sắc, nhiều phân bào và có những phân bào bất thường, Nhiều hạt nhân, hạt không đều Thay đổi hình thái, số lượng của nhiễm sắc thể Bào tương ưa Bazơ Các tế bào ung thư xâm lấn màng đáy, mô đệm, xâm lấn vào thành trực tràng, lan tràn xâm lấn vào hạch bạch tuyết, đôi khi vào mạch máu
3 Cách xâm lấn của ung thư biểu mô trực tràng.
3.1 Xâm lấn trong thành trực tràng
- Xâm lấn theo chiều dày trực tràng: Ung thư vượt qua cơ niêm xâm lấn vào lớp cơ ruột theo đám rối bạch mạch trong cơ Nhiều nghiên cứu cho thấy để xâm lấn hết thành trực tràng cần phải mất một thời gian khoảng 9-
12 tháng [27]
- Xâm lấn theo chiều rộng: Ung thư phát triển theo chu vi của ruột với thời gian khoảng 6 tháng xâm lấn được 1/4 chu vi, xâm lấn toàn bộ chu vi ruột mất từ 12-24 tháng[11]
- Xâm lấn theo chiều dọc của ruột: Nhiều nghiên cứu về mức xâm lấn theo chiều dọc từ giới hạn của tổn thương cho thấy ung thư trực tràng thường ít lan rộng: Theo Westhues, diện cắt từ 1-1.5cm không còn tế bào ung thư [27]
Theo Willam, diện cắt dưới u 2cm cho thẩy 97.5% không cón tế bào ung thư [12.27]
3.2 Xâm lấn tiếp cận:
Nghiên cứu xâm lấn tiếp cận cho thấy tổ chức mỡ quang trực tràng hay bị xâm lấn Sau đó là các cơ quan lân cận như âm đạo, tuyến tiền liệt, phúc mạc, bàng quang, tử cung Xâm lấn xương thường chậm vì xương cùng được bảo vệ boẻi dải cân trước xương cùng khá bền vững Mặc trước,
Trang 14ung thư dễ xâm lấn lớp cân trực tràng âm đao hơn là lớp cân trực tràng - tuyến tiền diệt Nhiều tác giả cho rằng có sự viên dính giữa các tổ chức ung thư với các cơ quan khác, trên cơ sở đó, tế bào ung thư mới xâm nhập vào
cơ quan kết dính
3.3 Xâm lấn theo đường bạch mạch
Xâm lấn theo bạch mạch là quan trọng nhất Theo P Gilchrist (1940)
tế bào ung thư xâm lấn lớp bạch mạch dưới niêm, rồi đến lớp cơ, hạch bạch huyết cạnh trực tràng, sau đó đến các hạch dọc thân mạch Nhà giải phẫu bệnh học Dukes (1950) cho rằng khi tất cả các loép thành ruột xâm lấn Lúc đó ung thư mới đến các hạch
Một số tác giả khác lại chứng minh rằng tế bào ung thư có thể đến hạch mạc treo trước khu toàn bộ thành ruột bị tổn thương Theo Bazluova (1969): 20,7% hạch bị xâm lấn trên những bệnh nhân ung thư chưa bị phá huỷ hết thành trực tràng, trong khi ở các bệnh nhân ung thư đã xâm lấn hết thành trực tràng, có 43.4% xâm lấn hạch huyết [12]
Theo Bacon: Kính thước khối u có liên quan đếm xâm lấn hạch: 28.5% xâm lấn hạch khi u chưa quá 1/4 chu vi trong khi 64% xâm lấn hạch khi u đã chiếm toàn bộ chu vi trực tràng [27]
Theo Coller: Xâm lấn hạch thay đổi tuỳ theo thể bệnh: 33% cho ung thư thể loét, 53% cho ung thư có cuống, 81% với ung thư không có cuống [27]
Thể giải phẫu bệnh học cũng liên quan đến xâm lấn hạch: Ung thư không biệt hoá hay di căn hạch hoen thể biệt hoá
3.4 Di căn theo đường máu:
Tế bào ung thư xâm nhập vào lòng mạch theo dòng máu đến các cơ quan khac, tế bào ung thư xuyên qua mao mạch gây di căn xa Ung thư trực tràng hay di căn gan (25%) [19], phúc mạc, phổi, não, xương
4 Các thể giải phẫu bệnh học đặc biệt của ung thư biêt mô tuyến
Trang 15Ung thư biểu mô tuyến nhày chiếm khoảng 10% các khối u trực tràng [15] Loại ung thư này được xác định do chúng chứa một khối lượng lới chất mucin ngoại bào có mặt trong u Phân loại của tổ chức y tế Thế giới còn tách riêng một thể hiến gặp khách là ung thư biểu mô tế bào nhẫn chiếm 4% tổng số ung thư biểu mô tuyến ngày [15] Ung thư biểu mô tế bào nhẫn có chứa chất mucin nội bào đẩy nhân tế bào lệnh về một phía Một số ung thư tế bào nhẫn tạo ra u thể mo cau (Linitis) trên đaịi thể, u lan tràn trong thành ruột nhưng thường không làm tổn thương niêm mạc.
Ung thư không phân biệt hoá không còn các cấu trúc tuyến hoặc các đặc điểm khác như chế tiết nhày Một cách phân loại khác cho ung thư biểu
mô không biệt hoá là ung thư biểu mô đơn thuần (Carcinoma) và ung thư biểu mô thể bè (Trbecular carcinoma) Gibbs đã nhấn mạnh rằng ung thư biểu mô không phân biệt hoá không nhất thiết là bất thục sản (Anaplastic) Tác giả này đã mô tả ung thư biểu mô không phân biệt hoá là các u biểu mô
ác tính không phân biệt hoá thành dạng tuyến, tuy nhiên, chúng có thể chỉ
có rất ít tính đa hình thái nhân và rất ít các gian phân bất thường
III CÁC THỂ UNG THƯ KHÁC CỦA TRỰC TRÀNG.
1.Ung thư biểu mô tế bào vẩy
Năm 1947, Moulonguet công bố một ca ung thư biểu mô tế bào vẩy, tiếp theo, Thaly và cộng sự tìm được 18 ca Đây là thể bệnh giải phẫu hiếm gặp, thường khu trú ở ống hậu môn Tổng thương ban đầu là những mảnh dày, phát triển thành u sùi và loét Bệnh có tính chất xâm lấn tại chỗ, di căn đến hạch bẹn rồi di căn xa Vi thể: đa số là carcinom tế bào vẩy biệt hoá cao Ung thư biểu mô tế bào vẩy nhạy cảm với xạ trị hơn ung thư biểu mô tuyến
2 Các khối u carcinoid:
Năm 1912, Saltykow công bố ca đầu tiên
Năm 1971, Jouanneau và Malafoss công bố 944 trường hợp