1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

NGỮ CẢNH XÃ HỘI THỜI ĐẠI CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

37 282 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 67,53 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hơn 30 văn bản quyphạm pháp luật về CNTT và truyền thông CNTT&TT đã được xây dựng vàphê duyệt như: Luật giao dịch điện tử, Luật CNTT, Pháp lệnh Bưu chính, Viễnthông, Nghị quyết của Chính

Trang 1

MỤC LỤC

Phần mở đầu 2

I Lịch sử của máy tính ……….……… ……….3

II Ứng dụng công nghệ thông tin……….… …… 4

1 Các lĩnh vực nghề nghiệp trong CNT… ………… ……… 5

2 Mặt trái của ứng dụng CNTT' ……….……….…7

3 Ứng dung CNTT ở địa phương……… ………….… …20

4 Chỉ thị ứng dụng CNTT trong giáo dục……… ….……29

III Vai trò của Tin học và máy tính trong xã hội hiện tại …… ……31

IV Xu hướng phát triển CNTT … ……… ………35

Trang 2

Lời mở đầu

CNTT được Chính phủ chọn là một trong bốn ngành kinh tế mũi nhọn củađất nước Mặc dù, lĩnh vực CNTT đã có những thành tựu đáng kể trong nhữngnăm gần đây, nhưng chúng ta chỉ mới ở giai đoạn ban đầu xây dựng ngành kinh

tế công nghiệp này

Bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế thế giới tiếp tục phát triển cả về chiều rộng

và chiều sâu Việt Nam sẽ tiếp tục tham gia sâu vào các chương trình củaASEAN, hướng tới việc thiết lập một cộng đồng ASEAN vững mạnh tiếp tụcphát triển quan hệ đối tác chặt chẽ với các nền kinh tế thành viên của APEC Tất

cả đều là những vận hội mới cho phát triển kinh tế và mở rộng hợp tác kinh tếquốc tế, là cơ hội lớn cho ngành CNTT-TT Việt Nam

CNTT-TT, mạng Internet đã làm cho khoảng cách trên thế giới ngày càngtrở nên nhỏ bé Tri thức và thông tin không biên giới sẽ đưa hoạt động kinh tếvượt ra khỏi phạm vi quốc gia và trở thành hoạt động mang tính toàn cầu Sự hội

tụ công nghệ viễn thông - tin học - truyền thông quảng bá đang diễn ra mạnh mẽtrên phạm vi toàn cầu và dẫn đến sự hình thành những loại hình dịch vụ mới, tạo

ra khả năng mới và cách tiếp cận mới đối với phát triển kinh tế xã hội

Cuộc cách mạng thông tin cùng với quá trình toàn cầu hóa đang ảnh hưởngsâu sắc đến mọi lĩnh vực trong đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội, đưa xã hội loàingười chuyển mạnh từ xã hội công nghiệp sang xã hội thông tin, từ kinh tế côngnghiệp sang kinh tế tri thức, ở đó năng lực cạnh tranh phụ thuộc chủ yếu vàonăng lực sáng tạo, thu thập, lưu trữ, xử lý và trao đổi thông tin

Xu thế biến đổi to lớn đó đang đặt ra cho mọi quốc gia những cơ hội vàthách thức hết sức to lớn Nắm bắt cơ hội, với ý chí và quyết tâm cao, có sự chỉđạo trực tiếp của Đảng và Chính phủ chúng ta có thể tận dụng tiềm năng CNTT-

TT để chuyển dịch nhanh cơ cấu nhân lực và cơ cấu kinh tế xã hội theo hướngxây dựng một xã hội thông tin, kinh tế dựa trên tri thức, góp phần quan trọng rútngắn quá trình CNH, HĐH đất nước

CNTT-TT phải được hiểu như một cơ sở hạ tầng của tất cả các công nghệtrong thế kỷ 2l cũng như máy móc có vai trò như vậy trong thế kỷ 20 Trong thế

kỷ 21, điều tất yếu là tất cả các ngành phải chấp nhận CNTT-TT như là phươngtiện chính để đảm bảo hiệu quả, năng suất và tính cạnh tranh Do đó, ứng dụngCNTT vào các ngành là điều cốt yếu và là vấn đề cấp bách phải làm càng sớmcàng tốt

Trang 3

CNTT phải trở thành nhân tố chủ chốt góp phần giải phóng tiềm năng củamỗi cá nhân, mỗi tổ chức tạo ra năng suất và hiệu quả trong các doanh nghiệp,làm giầu những ý tưởng mới và phát triển ngày càng nhiều các giá trị mới.

1 Lịch sử của máy tính

Ngày nay, CNTT có những bước phát triển như vũ bão và đã đem lạinhững thay đổi lớn lao cho cuộc sống, đưa nhân loại vào một thời đại mới - thờiđại công nghệ thông tin Điển hình và đặc biệt quan trọng của thời đại CNTT là

sự xuất hiện của máy tính – một lĩnh vực CNTT không thể thiếu của thời đại

Chúng ta cùng tìm hiểu về lịch sử hình thành mạng máy tính:

Máy tính của thập niên 1940 là các thiết bị cơ-điện tử lớn và rất dễ hỏng

Sự phát minh ra transitor bán dẫn vào năm 1947 tạo ra cơ hội để làm ra chiếcmáy tính nhỏ và đáng tin cậy hơn

Năm 1950, các máy tính mainframe chạy bởi các chương trình phiếu đục

lỗ bắt đầu được dùng trong các học viện lớn Điều này tuy tạo nhiều thuận lợivới máy tính có khả năng được lập trình nhưng cũng có rất nhiều khó khăn trongviệc tạo ra các chương trình dựa trên phiếu đục lỗ này

Vào cuối thập niên 1950, mạch tích hợp (IC) chứa nhiều transitor trên mộtmẫu bán dẫn nhỏ được phát minh, tạo ra một bước nhảy vọt trong việc tạo ra cácmáy tính mạnh hơn, nhanh hơn và nhỏ hơn Đến nay, IC có thể chứa hàng triệutransistor trên một mạch

Vào cuối thập niên 1960, đầu thập niên 1970, các máy tính nhỏ được gọi

là minicomputer bắt đầu xuất hiện.

Năm 1977, công ty máy tính Apple Computer giới thiệu máy vi tính cũng

được gọi là máy tính cá nhân (personal computer - PC).

Năm 1981, IBM đưa ra máy tính cá nhân đầu tiên Sự thu nhỏ ngày càngtinh vi hơn của các IC đưa đến việc sử dụng rộng rãi máy tính cá nhân tại nhà vàtrong kinh doanh

Vào giữa thập niên 1980, người sử dụng dùng các máy tính độc lập bắtđầu chia sẻ các tập tin bằng cách dùng modem kết nối với các máy tính khác.Cách thức này được gọi là điểm nối điểm, hay truyền theo kiểu quay số Kháiniệm này được mở rộng bằng cách dùng các máy tinh là trung tâm truyền tin

trong một kết nối quay số Các máy tính này được gọi là sàn thông báo (bulletin board) Các người dùng kết nối đến sàn thông báo này, để lại đó hay lấy đi các

thông điệp, cũng như gửi lên hay tải về các tập tin Hạn chế của hệ thống là có

Trang 4

rất ít hướng truyền tin, và chỉ với những ai biết về sàn thông báo đó Ngoài ra,các máy tính tại sàn thông báo cần một modem cho mỗi kết nối, khi số lượng kếtnối tăng lên, hệ thống không thề đáp ứng được nhu cầu.

Qua các thập niên 1950, 1970, 1980 và 1990, Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ đãphát triển các mạng diện rộng WAN tin cậy nhằm mục đích quân sự và khoahọc Công nghệ này khác truyền tin điểm nối điểm Nó cho phép nhiều máy tínhkết nối lại với nhau bằng các đường dẫn khác nhau Bản thân mạng sẽ xách định

dữ liệu di chuyển từ máy tính này đến máy tính khác như thế nào Thay vì chỉ cóthể thông tin với một máy tính tại một thời điểm, nó có thể thông tin với nhiềumáy tính cùng lúc bằng cùng một kết nối WAN của Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ vềsau trở thành Internet

Sự phát triển và tiến bộ của CNTT đã ảnh hưởng sâu rộng đến từng giađình, từng người dân, và đặc biệt là trong từng hành động, cử chỉ việc làm củamọi người trên toàn thế giới

Trong năm 2002, Bộ Bưu chính, Viễn thông được thành lập và được giaothống nhất quản lý nhà nước về về viễn thông và CNTT Hiện tại, 63/64 tỉnh,thành phố trực thuộc Trung ương đã có sở bưu chính, viễn thông chịu tráchnhiệm quản lý nhà nước về bưu chính, viễn thông và CNTT tại địa phương Các

Bộ, ngành, cơ quan Trung ương, UBND các tỉnh và thành phố trực thuộcTrungương, các tổng công ty 91 đều đã cử cán bộ lãnh đạo phụ trách CNTT theo tinhthần của Chỉ thị 58

2 2 Môi trường pháp lý cho ứng dụng và phát triển CNTT được cải thiện

Chỉ thị 58 là nền tảng cho sự ra đời của nhiều cơ chế, chính sách thuận lợi,thúc đẩy việc ứng dụng và phát triển CNTT ở nước ta Hơn 30 văn bản quyphạm pháp luật về CNTT và truyền thông (CNTT&TT) đã được xây dựng vàphê duyệt như: Luật giao dịch điện tử, Luật CNTT, Pháp lệnh Bưu chính, Viễnthông, Nghị quyết của Chính phủ về phát triển công nghiệp phần mềm, các nghị

Trang 5

định của Chính phủ về quản lý cung cấp và sử dụng dịch vụ Internet, ứng dụngCNTT trong hoạt động của các cơ quan nhà nước, quy định chi tiết thi hành luậtgiao dịch điện tử về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số, quy định chi tiết

và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật CNTT về công nghiệp CNTT, quyđịnh xử phạt hành chính trong lĩnh vực CNTT, các quyết định của Thủ tướngChính phủ về một số chính sách và biện pháp khuyến khích đầu tư và phát triểncông nghiệp phần mềm, bổ sung sản phẩm máy tính vào danh mục các sản phẩmcông nghiệp trọng điểm, thống nhất dùng bộ mã các ký tự chữ Việt theo theotiêu chuẩn TCVN 6909:2001 trong trao đổi thông tin điện tử giữa các tổ chứccủa Đảng và Nhà nước1 Nhiều Bộ, ngành cũng đã ban hành các văn bản thúcđẩy ứng dụng và phát triển CNTT của đơn vị mình, hoặc trong lĩnh vực quản lýcủa đơn vị Từ năm 2006, trong mục lục ngân sách nhà nước đã có dòng chiriêng cho CNTT (Danh mục các văn bản quy phạm pháp luật về CNTT đượcban hành từ năm 2001 đến nay trong Phụ lục 1 Báo cáo Tổng kết 5 năm 2001 -

2005 thực hiện Chỉ thị 58 của Bộ chính trị)

Pháp lệnh bưu chính, viễn thông với tinh thần xóa bỏ độc quyền doanhnghiệp (DN) trong kinh doanh dịch vụ viễn thông là một giải pháp đột phá tạođiều kiện cho việc phát triển nhanh, mạnh các loại hình dịch vụ viễn thông đadạng, với chất lượng ngày một cao, giá ngày một rẻ, đáp ứng ngày càng tốt hơnnhu cầu của xã hội Các chính sách khuyến khích phát triển công nghiệp phầnmềm với các ưu đãi cao đã có sức thu hút mạnh các DN đăng ký kinh doanh vàđầu tư trong lĩnh vực này

3 Ứng dụng và các lĩnh vực nghề nghiệp trong CNTT

CNTT có vai trò rất lớn đối với cuộc sống Ứng dụng rộng rãi công nghệ thông tin (CNTT) trong các ngành, lĩnh vực trọng điểm của nền kinh tế Hình thành, xây dựng và phát triển Việt Nam điện tử với công dân điện tử, CPĐT, DN điện

tử, giao dịch và TMĐT để Việt Nam đạt trình độ trung bình trong ASEAN Để đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa.

CNTT có ảnh hưởng rất lớn đối với các ngành nghề trong nước ta hiện nay như:

3.1 Về mặt chính trị, an ninh_quốc phòng:

CNTT ra đời trong bối cảnh toàn xã hội đang diễn ra quá trình hội nhập,toàn cầu hoá mạnh mẽ như một quá trình phát triển tất yếu của lịch sử CNTTảnh hưởng mạnh đến tất cả các lĩnh vực của đời sống, chính trị cũng không nằmngoài sự ảnh hưởng đó Đó chính là sự ra đời của chính phủ điện tử, các diễn

Trang 6

đàn chính trị online, ứng dụng CNTT trong lĩnh vực quản lý nhà nước, ứng dụngcủa CNTT trong các cơ quan Đảng và Nhà Nước… có bước thay đổi lớn Hệthống tổ chức chỉ đạo và quản lý Nhà nước đối với CNTT được tăng cường.Trước năm 2000, số bộ, ngành có trang tin điện tử rất ít Hiện nay có 22/26 bộ,56/64 tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương đã có website chính thức, gópphần hiện đại hoá nền hành chính và tạo tiền đề cho việc phát triển chính phủđiện tử Theo thông tin từ Bộ Thông tin_truyền thông cho biết: Việt Nam đã đạtđược bước tiến vượt bậc trong việc ứng dụng CNTT tại các cơ quan chính phủ

để quan hệ và cung cấp các dịch vụ của Chính phủ cho công dân, khi từ vị tríthứ 126 năm 2006 lên vị trí 90 trong năm 2007 Trong 10 nước Asean Việt Namđứng thứ 5 Tại Việt Nam, 89% website được công khai và 100% website đãcung cấp cơ sở dữ liệu Việt Nam cũng là quốc gia có 22% website của cơ quanchính phủ đã cung cấp dịch vụ trực tuyến cho người dân 56% website cơ quanchính phủ có mục ý kiến phản hồi của người dân và 11% website cho phépngười dùng cập nhật thông tin và 100% website cung cấp giao diện tiếng nướcngoài Điểm yếu nhất đối với các website của Chính phủ Việt Nam là chưa cóchính sách bảo mật và an ninh, trong khi trên thế giới có 23% website có chínhsách bảo mật, 21% website có chính sách an ninh

Đề án 112 tin học hoá quản lý hành chính nhà nước được Thủ tướngchính phủ ban hành ngày 5.2.2002 nhằm cải cách nền hành chính nhiều thủ tục

để hình thành phương thức làm việc mới Nhiều cơ quan hành chính nhà nước từtrung ương đến địa phương đã chuyển từ điều hành thủ công truyền thống sangđiều hành qua mạng máy tính Qua đó cho phép chuyển giao, lưu trữ, kiểm tra,tìm kiếm nhanh chóng giảm thiểu thời gian truy tìm thông tin khi cần đến Đẩymạnh tin học hoá hành chính công, tiến tới giao dịch trực tuyến tất cả các dịch

vụ công Lần đầu tiên thiết lập được hệ thống thông tin điện tử trong cả nước,hình thành hệ thống thông tin điện tử của Chính phủ, bao gồm trung tâm tíchhợp dữ liệu của các bộ, tỉnh, mạng cục bộ (Lan) của mỗi cơ quan thuộc cơ cấubên trong của của bộ, tỉnh, mạng diện rộng liên kết các hệ thống tin học của bộ,tỉnh Điểm hội tụ của toàn hệ thống thông tin điện tử của Chính phủ là cổngthông tin điện tử Chính phủ được khai trương và đưa vào vận hành ngày9.9.2005 Hơn 25 nghìn văn bản quy phạm pháp luật được cập nhật và công bốtrên Cổng thông tin điện tử Chính phủ Hơn 300 hệ thống thông tin điện tử đượccài đặt tại các bộ, tỉnh, trong đó 35% hệ thống thông tin đã được vận hành trong

bộ máy hành chính Hơn 60% số cán bộ công chức biết sử dụng thư điện tử hành

Trang 7

chính và khai thác Internet Trong thời gian gần đây, gần 60 nghìn công chứchành chính đã được đào tạo ứng dụng tin học để vận hành hệ thống thông tinđiện tử đang triển khai tại các bộ, tỉnh Thời gian vừa qua, thông qua việc xâydựng môi trường pháp lý, hàng loạt các luật đã được ban hành như: Luật côngnghệ thông tin, Luật giao dịch điện tử…

Theo ban điều hành 112 của TP.Hồ Chí Minh, trong năm 2005 việc triểnkhai 3 hệ thống thông tin điện tử của Văn phòng Chính phủ đến các sở, ngành,quận, huyện đã giúp cải cách nhiều thủ tục hành chính giảm phiền hà dân Hệquản lý văn bản và hồ sơ công việc đã được triển khai tại 35 đơn vị qua đó đãgiảm được số lượng giấy tờ, quản lý công tác xử lý công văn đi_đến và công táclưu trữ thông tin, đáp ứng nhu cầu công việc Hệ thống thông tin kinh tế_xã hộiphục vụ điều hành và trang thông tin điện tử phục vụ điều hành đã triển khaiđược ở 38 đơn vị cung cấp nhiều thông tin hữu ích cho công việc chung Cácphần mềm dùng chung cũng đã được triển khai như “ Hệ thống thông tin phục

vụ y tế ”, “ Hệ thống thông tin phục vụ cấp phép xây dựng ” và “ Cơ sở dữ liệuphục vụ quản lý khu chế xuất và khu công nghiệp thành phố” Hiện trang thôngtin thành phố có 54 đơn vị thành viên, 20 dịch vụ công trên mạng và 360 thủ tụchành chính của các sở, ban ngành liên quan, quận, huyện đã phát huy tốt tácdụng TP.HCM còn ứng dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000 vào hoạtđộng tại các cơ quan hành chính

Trong lĩnh vực an ninh_quốc phòng, CNTT cũng nhanh chóng được phổcập, ứng dụng và phát triển; tạo tiền đề quan trọng góp phần xây dựng lực lượngchính quy, tinh nhuệ, hiện đại Từng bước xây dựng hệ thống tự động hoá chỉhuy, kiểm soát, làm chủ, cải tiến vũ khí, khí tài và phương tiện chiến đấu; đảmbảo an ninh quốc gia; sẵn sàng, chủ động đối phó với chiến tranh thông tin hiệnđại

3.2 Về mặt kinh tế:

Trong những năm qua, nước ta đã triển khai đồng bộ các chương trình,các giải pháp để phát triển hạ tầng CNTT; nâng cao chất lượng và ứng dụngCNTT trong các cơ quan, doanh nghiệp; tăng cường đào tạo nguồn nhân lực vàphát triển công nghiệp CNTT Trong đó tập trung một số giải pháp có tính chấtđột phá như: Triển khai đề án xây dựng Khu phát triển phần mềm, đào tạo vàchuyển giao ứng dụng CNTT, thành lập các khoa kỹ thuật_công nghệ tại cáctrường đại học…

Trang 8

Đảng và Nhà nước tập trung phát triển các dịch vụ điện tử trong lĩnh vựctài chính (thuế, kho bạc, kiểm toán…), ngân hàng, hải quan, hàng không, thươngmại, thương mại điện tử và các dịch vụ công cộng (y tế, du lịch…) đảm bảo cácđiều kiện cần thiết phù hợp với tiến độ hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế.

a, Đối với doanh nghiệp:

Để chủ động hội nhập kinh tế thế giới khi gia nhập tổ chức thương mạithế giới(WTO), giải pháp hiệu quả để tự hoàn thiện doanh nghiệp là ứng dụngkinh doanh điện tử vào hoạt động sản xuất, kinh doanh Trước đây, kinh doanhđiện tử chủ yếu được ứng dụng trong quá trình mua sắm Theo kết quả điều tramới đây của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về thựctrạng ứng dụng CNTT trong 2.233 doanh nghiệp thuộc 5 thành phố lớn là HàNội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ và TP Hồ Chí Minh, các thiết bị phục vụCNTT được sử dụng trong các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay chủ yếu là máytính để bàn và máy in, các thiết bị khác như máy scan, máy tính xách tay vẫnchiếm tỷ lệ thấp Các doanh nghiệp đã ứng dụng một số phần mềm chuyên dụngphục vụ cho công tác quản trị nhân sự, quản trị quan hệ khách hàng, kế toán.Điều đáng nói là có tới 91% doanh nghiệp đã kết nối internet, trong khi lại có tới70% chưa xây dựng website riêng cho mình, có nghĩa chưa sử dụng hết sứcmạnh của internet vào hoạt động kinh doanh Trong quá trình ứng dụng CNTT,

có tới 24% doanh nghiệp không sử dụng bất kỳ một dịch vụ hỗ trợ nào khác như

tư vấn, bảo trì, sửa chữa, thiết kế web… Phần lớn các doanh nghiệp chưa có thóiquen sử dụng các dịch vụ bên ngoài, đặc biệt có tới 96,4% không sử dụng dịch

vụ tư vấn, và 97,3% không ứng dụng thương mại điện tử Thêm vào đó, tỷ trọngđầu tư của doanh nghiệp vào CNTT có sự mất cân đối nghiêm trọng, 59,9% quỹđầu tư dành cho phần cứng, 10,9% dành cho phần mềm và chỉ có 4,8% cho đàotạo nhân lực trong khi đây là yếu tố rất quan trọng để ứng dụng CNTT có hiệuquả

Hiện nay CNTT đã được mở rộng sang lĩnh vực bán hàng và dịch vụkhách hàng Có 91% doanh nghiệp sử dụng và kết nối Internet, gần 60% kết nốiADSL, 75% kết nối mạng Lan, nhưng chủ yếu chỉ dừng ở mức sử dụng Internet,Email, Website và một số ứng dụng đơn giản như quản lý nhân sự, đào tạo trựctuyến Mức độ tham gia kinh doanh trực tuyến còn thấp, chỉ 4% doanh nghiệptham gia sàn giao dịch, 2,7% bán hàng qua mạng, 9% doanh nghiệp xây dựngđược hệ thống chăm sóc khách hàng qua mạng Hầu hết các doanh nghiệp chưaxây dựng được chiến lược kinh doanh điện tử một cách cụ thể Nhà nước cũng

Trang 9

rất quan tâm đến việc ứng dụng CNTT trong doanh nghiệp với việc ra đời củacổng thương mại điện tử quốc gia (ECVN) đã giúp doanh nghiệp nâng tầm nhậnthức và năng lực ứng dụng thương mại điện tử trong hoạt động sản xuất kinhdoanh Tính đến đầu tháng 8/2007, ECVN đã có gần 3000 thành viên, số lượng

cơ hội kinh doanh đạt gần 10.000, số lượng doanh nghiệp nước ngoài tăngnhanh, đạt gần 600 thành viên TMĐT đã trở thành một công cụ quan trọngtrong chiến lược phát triển kinh doanh của nhiều doanh nghiệp Một cuộc khảosát đựơc thực hiện vào tháng 8/2007 cho thấy hiệu quả kinh doanh bằng phươngthức TMĐT của các DN thông qua ECVN ngày càng tăng cao, thể hiện bởi cáchợp đồng giá trị lớn được ký kết, nhiều đối tác mới tìm đến với DN Cụ thể, quakết quả khảo sát từ hơn 200DN thành viên thì đã có 236 hợp đồng đựơc ký kếtvới tổng trị gía lên đến trên 50 tỷ đồng

Mới đây, Đề án 191 (Hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng CNTT trong quátrình hội nhập) đã được Chính phủ phê duyệt Trong năm tới, khối lượng cáchoạt động của Đề án 191 phải thực hiện là rất lớn Dự kiến có 210 hoạt độngđược diễn ra trong khuôn khổ Đề án trong đó bao gồm các chương trình điều tra,khảo sát, nghiên cứu thực trạng ứng dụng CNTT trong các doanh nghiệp; tư vấncho doanh nghiệp lựa chọn giải pháp; triển khai các chương trình đào tạo kỹnăng cần thiết về ứng dụng CNTT cho đội ngũ cán bộ của doanh nghiệp

Ngày nay, CNTT đang phát triển theo xu hướng tích hợp, sử dụng cácgiao diện mở và ngày càng bớt lệ thuộc vào các nhà sản xuất công nghệ lớn.Phần mềm được xây dựng dưới dạng các đối tượng có chức năng thông qua cácgiao diện mở, thuận tiện cho việc tích hợp và tiếp tục phát triển Các nhà hoạchđịnh chính sách và các chuyên gia CNTT cho rằng, phát triển phần mềm nguồn

mở sẽ giúp giảm sự lệ thuộc vào các hãng phần mềm lớn, tạo thêm sự lựa chọncho người sử dụng cũng như cơ hội kinh doanh mới và nâng cao khả năng pháttriển cho các DN Bên cạnh đó, xu hướng hội tụ của CNTT - viễn thông – phátthanh và truyền hình đang tạo ra một thị trường rộng lớn cho công nghiệp nộidung thông tin Rõ ràng, dựa vào tính mở của thị trường, các DN có điều kiện đểlựa chọn nhiều đối tác, các sản phẩm, giải pháp thuận lợi cho đặc điểm củamình

b, Đối với Công nghiệp:

CNTT tạo ra một ngành công nghiệp mới đó là công nghiệp CNTT, tácđộng đến những ngành công nghiệp công nghệ cao, giúp mang lại năng suất,chất lượng cao cho sản phẩm, tạo ra nhiều sản phẩm mới đa dạng; đồng thời

Trang 10

giúp tự động hoá trong các khâu sản xuất, tin học hoá các hoạt động tiếp thị,kinh doanh quảng cáo…CNTT còn mang lại hiệu quả ngay cả đối với các ngànhthủ công nghiệp hoặc công nghiệp có công nghệ thấp (may, thêu, dệt…) quaviệc tự động hoá thiết kế, chế tạo sản phẩm Theo kết luận của hội thảo toàncảnh CNTT Việt Nam 2007, diễn ra trong 2 ngày 11&12/7/2007 tại TP.HCMkim ngạch nhập_xuất khẩu CNTT Việt Nam đều giữ được ngưỡng trên 1 tỉ USDnhưng tốc độ tăng trưởng lại giảm sút một cách đáng kể

Chính Phủ đã phê duyệt “Chiến lược quốc gia về CNTT-TT đến 2010 vàđịnh hướng đến 2020” do Viện Chiến Lược BCVT&CNTT (Bộ BCVT) xâydựng với quá trình thực hiện từ giữa năm 2003 Một trong các mục tiêu đặt ra làđến năm 2010, công nghiệp CNTT-TT phải trở thành ngành công nghiệp mũinhọn có tốc độ tăng trưởng 20 - 25%/năm và đạt tổng doanh thu 6 - 7 tỷ USD

Về định hướng hoạt động ngành phần mềm (PM), Hiệp Hội DN PM Việt Nam(VINASA) đặt ưu tiên cho hoạt động xuất khẩu, gia công PM cho thị trườngNhật Bản, và Hiệp Hội Điện Tử & CNTT TPHCM cũng chỉ ra 3 hướng: giacông PM cho nước ngoài; xuất khẩu nguồn nhân lực; và tự phát triển PM theoyêu cầu của thị trường

Công nghiệp PM Việt Nam đang được mùa gia công, nhưng tương lai nhưthế nào thì rất khó dự báo Theo ý kiến của một số chuyên gia, 2 hướng đi đầu

có ưu điểm là vốn đầu tư không nhiều và thời gian thu hồi vốn nhanh Tuynhiên, nhược điểm là phụ thuộc hoàn toàn vào đối tác nước ngoài; không manglại nền tảng cơ bản để xây dựng nền CNPM cho đất nước Riêng về hướng thứ

ba, ngay từ đầu các DN có thể chủ động định hướng phát triển CNPM theophương châm từ thấp lên cao, từ nhỏ đến lớn, từ đơn giản đến phức tạp, đồngthời có khả năng chiếm lĩnh thị trường trong nước Thế nhưng, hướng đi này lạithiếu nguồn vốn đầu tư vào những dự án chiến lược dài hạn, thiếu nguồn nhânlực nòng cốt để có thể triển khai các dự án lớn và mất nhiều thời gian xác lập uytín trên thị trường

Phát triển nhanh công nghiệp phần cứng trong lĩnh vực máy tính vàtruyền thông Đảm bảo máy tính, thiết bị truyền thông sản xuất, lắp ráp trongnước chất lượng cao, đáp ứng khoảng 80% nhu cầu nội địa; có sức cạnh tranh vềgiá trên thị trường thế giới và khu vực để tham gia xuất khẩu Đẩy mạnh việcsản xuất các thiết bị thông tin và xử lý thông tin, đặc biệt là các thiết bị có kếtnối với mạng máy tính Có chính sách đặc biệt để thu hút đầu tư nước ngoài vàhuy động các nguồn vốn đầu tư trong nước cho phát triển công nghiệp phần

Trang 11

cứng, đặc biệt là thu hút các công ty đa quốc gia hàng đầu trong lĩnh vực CNTTđầu tư và chuyển giao công nghệ ở Việt Nam

Công nghệ thông tin và đang trở thành công cụ không thể thiếu và phục

vụ cho mọi nghành nghề, lĩnh vực Trong lĩnh vực cơ khí, CNTT được ứng dụngtrong 3 giai đoạn chính của quá trình sản xuất_ gia công gồm: Thiết kế, Tínhtoán mô phỏng và điều khiển gia công CNTT đã thực sự thúc đẩy nghành côngnghiệp cơ khí có những bước tiến vượt bậc: Nâng cao hiệu suất và chất lượng,gia tăng sự chính xác, giảm thiểu chi phí Và đặc biệt, nhờ có CNTT, khối lượng

và chất lượng của các phát minh về cơ khí phục vụ cho mọi lĩnh vực sản xuất vàđời sống cũng đã tăng đáng kể, điều này thực sự khiến nghành cơ khí có nhữngđóng góp to lớn và thiết thực hơn cho sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế xãhội

Đối với nghành công nghiệp dệt may đã chú trọng ứng dụng CNTT chocác doanh nghiệp trong nước để có thể cạnh tranh tốt hơn tại thị trường trongnước và quốc tế Gói giải pháp bao gồm phần cứng và phần mềm đánh dấu sựchuyển biến quan trọng trong việc nhìn nhận về hiệu quả của hệ thống máy tínhcho doanh nghiệp, khả năng tiết kiệm chi phí vận hành lên tới 40%; chi phí bảotrì máy và thuê nhân công dự kiến giảm từ 7% đến 95% CNTT còn nhiều ứngdụng trong nhiều ngành công nghiệp khác nhau góp phần làm nền kinh tế ViệtNam thay đổi và phát triển

c, Đối với Nông nghiệp:

Mặc dù Việt Nam đứng thứ 3 thế giới về tình hình xuất khẩu lúa gạo,nhưng nhiều nơi trên đất nước chúng ta tình trạng đói nghèo, kém phát triển vẫncòn tồn tại Một trong rất nhiều nguyên nhân của tình trạng đó là sự thiếu hiểubiết, thiếu kiến thức do không được tiếp cận với nguồn thông tin kinh tế, khoahọc_kỹ thuật, thiếu kiến thức về tổ chức sản xuất và tổ chức cuộc sống CNTTmang lại cơ hội tiếp cận kiến thức và điều kiện hội nhập CNTT mang đến cơhội cho mọi người kể cả người nghèo và nông dân; đó là việc tạo điều kiện tiếpxúc thị trường, giảm thiểu chi phí giao dịch cho cả người mua và người bán

CNTT cũng có thể cung cấp kiến thức, thông tin hữu ích cho người nôngdân về cây trồng, vật nuôi, cách thức chăm sóc, phòng trừ hạn hán, sâu bệnhthông qua các website Tuy nhiên với tình hình thực tế hiện nay vấn đề này cònnhiều nan giải do: Hệ thống Internet chưa phổ biến với nông dân, đa số nôngdân có trình độ văn hoá thấp, chưa được phổ cập tin học, thông tin về nôngnghiệp bằng tiếng Việt còn ít, thay đổi kinh nghiệm sản xuất truyền thống bằng

Trang 12

kiến thức khoa học trên Internet còn hạn chế Trước tình hình đó, Bộ BCVT vàHội Nông dân Việt Nam đã ký kết Chương trình phối hợp hoạt động đưa CNTTvào phục vụ nông nghiệp, nông thôn, nông dân giai đoạn 2007 – 2013 với nhữngnội dung cơ bản sau:

- Phối hợp tổ chức tuyên truyền, vận động, cung cấp thông tin, tài liệu đểcho cán bộ, hội viên, nông dân hiểu rõ về vị trí, vai trò của CNTT đối sự nghiệpcông nghiệp hoá, hiện đại hoá và gia nhập nền kinh tế toàn cầu của đất nước nóichung cũng như trong sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, cơ sở;

- Phối hợp tổ chức đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng kiến thức tin học cho cán

bộ, hội viên, nông dân Phấn đấu đến hết nhiệm kỳ Đại hội V Hội Nông dân ViệtNam (2008-2013) đào tạo phổ cập tin học cho trên 50% (khoảng 15.000 cán bộchủ chốt của Hội Nông dân cấp cơ sở; tập huấn truy cập mạng và tìm kiếmthông tin trên Internet cho 50% (khoảng 500.000 người) số cán bộ chi, tổ hội vàhội viên nông dân tình nguyện là “hạt nhân tin học ở thôn, xóm”;

- Phối hợp xây dựng, tổng kết, đánh giá các mô hình ứng dụng CNTTtrong nông nghiệp nông thôn, nông dân; tổ chức tư vấn, chuyển giao công nghệ

và các hoạt động hỗ trợ khác nhằm thúc đẩy ứng dụng có hiệu quả CNTT vàocác lĩnh vực nông nghiệp nông thôn, nông dân;

- Phối hợp cùng các ngành chức năng, địa phương và các đơn vị liên quan

tổ chức xây dựng và bảo vệ cơ sở hạ tầng thông tin nông thôn;

- Phối hợp với đơn vị chủ quản tăng cường nội dung thông tin phù hợpvới đối tượng hội viên, nông dân tại các điểm Bưu điện - Văn hóa xã để sử dụng

và khai thác có hiệu quả hơn mạng lưới này;

- Phối hợp nghiên cứu, đề xuất với Đảng, Nhà nước có các chính sách ưutiên về CNTT đối với nông nghiệp, nông thôn, nông dân;

- Phối hợp trong hoạt động hợp tác quốc tế nhằm học hỏi kinh nghiệm,nhận được nguồn lực hỗ trợ từ các nước có ứng dụng CNTT thành công phục vụnông nghiệp, nông thôn và nông dân

d, Lĩnh vực Tài chính_Ngân hàng:

Ông Tạ Quang Tiến, Cục trưởng Cục Công nghệ tin học ngân hàng, Ngânhàng Nhà nước Việt Nam, cho biết năm 2004 mới chỉ có ba ngân hàng tham giaInternet Banking với lượng giao dịch trực tuyến mỗi ngày chỉ khoảng 2 triệucuộc Hiện nay, có 17 ngân hàng tham gia hoạt động này với 4,5 triệu giao dịchmỗi ngày Với việc giới thiệu F@st i-Bank vào ngày 28.5.2007 vừa qua,Techcombank trở thành một trong những ngân hàng đầu tiên của Việt Nam cung

Trang 13

cấp khá đầy đủ dịch vụ thanh toán qua Internet ra thị trường, đặc biệc cho cáckhách hàng cá nhân.

Một số ngân hàng tại Việt Nam đã cung cấp dịch vụ ngân hàng điện tửthực sự (Citibank, HSBC, Deutsche Bank, ANZ Bank) nhưng chỉ dừng lại ở đốitượng khách hàng doanh nghiệp Một số ngân hàng Việt Nam cũng triển khaiInternet Banking nhưng chủ yếu ở dịch vụ hỏi đáp thông tin tài khoản Với dịch

vụ này, chỉ cần qua Internet khách hàng có thể thực hiện một số giao dịch màkhông cần trực tiếp đến các phòng giao dịch của Techcombank: quản lý các giaodịch tài khoản và tra cứu thông tin về tài khoản; thực hiện thanh toán chuyểnkhoản trực tuyến; tra cứu các khoản vay và khoản tiết kiệm với ngân hàng; liên

hệ trực tuyến với ngân hàng và đăng ký sử dụng sản phẩm, dịch vụ trực tuyến…

Ông Tạ Quang Tiến nói: “Công nghệ ngân hàng đang trở thành một vũ khí lợi hại trong cuộc cạnh tranh ngày càng khốc liệt giữa các ngân hàng.” Sự

phát triển ứng dụng CNTT trong ngành ngân hàng còn tụt hậu so với nền kinh tếViệt Nam nói chung và nhiều lĩnh vực khác nói riêng Ngành ngân hàng ViệtNam còn rất nhiều việc cần phải làm trong ứng dụng CNTT Hiện nhận thức củangười Việt về vấn đề đầu tư CNTT cho ngân hàng đã được nâng cao nhưng mứcđầu tư vẫn chưa nhiều và thỏa đáng

Theo Ngân hàng Nhà nước, Việt Nam là nước đi sau về công nghệ thanhtoán so với các nước phát triển Chính phủ đã đưa ra mục tiêu là đến cuối năm

2010, hoạt động thanh toán trong nền kinh tế đạt mức phát hành 15 triệu thẻ,70% các trung tâm thương mại, siêu thị, nhà hàng, khách sạn, cửa hàng tựchọn… lắp đặt các thiết bị chấp nhận thanh toán thẻ Phấn đấu đến năm 2020con số này đạt gần 30 triệu thẻ và 95% các điểm chấp nhận thanh toán thẻ Đếnnăm 2010 tỷ lệ tiền mặt trên tổng phương tiện thanh toán không quá 18 %, vànăm 2020 giảm xuống còn 15%

e, Lĩnh vực hàng không

Cục Hàng không dân dụng đánh giá thị trường hàng không Việt Nam sẽphát triển nhanh nhất trong khu vực Dự kiến từ nay đến năm 2020 sẽ tăngtrưởng mỗi năm khoảng 10-15 % Tốc độ tăng trưởng này đòi hỏi ngành hàngkhông phải ứng dụng CNTT hiện đại, do đó thị trường cung cấp các giải phápCNTT cho ngành hàng không sẽ rất sôi động

Theo yêu cầu của Liên minh Hàng không quốc tế, ngày 1/1/2008 là thờiđiểm các hãng hàng không Việt Nam phải tham gia hoạt động thương mại điện

Trang 14

tử Nhu cầu về giải pháp CNTT cho ngành hàng không nước ta vì vậy sẽ tăngmạnh.

Mặc dù không có tiềm lực tài chính mạnh như VNA nhưng Công ty hàngkhông cổ phần Pacific Airlines (PA) cũng đã đầu tư mạnh cho hệ thống CNTT

PA là hãng hàng không đầu tiên tại Việt Nam bán vé và thanh toán trực tiếp quaInternet từ tháng 2 vừa qua cùng với việc đưa dịch vụ thương mại điện tử vàohoạt động Khi chuyển sang vé điện tử, chi phí cho vé của hãng hàng không nàychỉ bằng 1/10 so với trước do giảm chi phí in ấn, chi phí nhân công, chi phí thuêđịa điểm bán vé

Công ty Sabre Airline Solutions (SAS) vừa có mặt tại thị trường VN cuốitháng 7 vừa qua SAS cung cấp khoảng 100 giải pháp CNTT khác nhau cho cáchãng hàng không, giúp quản lý khách hàng, điều hành hoạt động, vận hành hệthống đặt chỗ, khai thác thương mại điện tử, xử lý giao dịch, quản lý doanh thu,phân phối sản phẩm, hoạch định chiến lược

Ngoài SAS, Oracle cũng là nhà cung cung cấp các giải pháp CNTT chongành hàng không có tên tuổi Gần 50 sân bay lớn nhất thế giới sử dụng sảnphẩm, giải pháp của Oracle

3.3 Về mặt văn hoá_giáo dục:

a Về mặt Giáo dục:

Công nghệ thông tin là một trong những mũi nhọn trong chiến lược giáodục và đào tạo của nhà nước ta…“Việc ứng dụng CNTT trong giáo dục phổthông hiện nay có hai nội dung: ứng dụng phục vụ công tác quản lý từ cấp sởđến cấp trường; ứng dụng phục vụ dạy và học, đổi mới phương pháp” Việc đổimới phương pháp giảng dạy theo hướng tích cực chủ động sáng tạo của học sinhlại càng nâng cao vai trò của CNTT trong giảng dạy Giảng dạy bằng CNTT cóthể vận dụng được trong hầu hết các bậc học và môn học như: Tiếng Anh, NgữVăn, Toán, Vật Lý, Hoá Học, Sinh Học, Địa Lý … Với CNTT giáo viên có thểgiới thiệu ngữ liệu mới bằng những tình huống sinh động với tranh ảnh minhhọa phong phú, cùng với sự hỗ trợ công nghệ Multimedia sẽ tạo thành một giáo

án hoàn hảo giúp học sinh say mê học tập, phát huy tính chủ động tìm hiểu vàkhắc sâu kiến thức bài học

Do sự phát triển của công nghệ thông tin và truyền thông mà mọi ngườiđều có trong tay nhiều công cụ hỗ trợ cho quá trình dạy học nói chung và phầnmềm dạy học nói riêng Nhờ có sử dụng các phần mềm dạy học này mà họcsinh trung bình, thậm chí học sinh trung bình yếu cũng có thể hoạt động tốt

Trang 15

trong môi trường học tập Phần mềm dạy học được sử dụng ở nhà cũng sẽ nốidài cánh tay của giáo viên tới từng gia đình học sinh thông qua hệ thống mạng Nhờ có máy tính điện tử mà việc thiết kế giáo án và giảng dạy trên máy tính trở nên sinh động hơn, tiết kiệm được nhiều thời gian hơn so với cách dạy theo phương pháp truyền thống, chỉ cần “bấm chuột”, vài giây sau trên màn hình hiện ra ngay nội dung của bài giảng với những hình ảnh, âm thanh sống độngthu hút được sự chú ý và tạo hứng thú nơi học sinh Thông qua giáo án điện tử,giáo viên cũng có nhiều thời gian đặt các câu hỏi gợi mở tạo điều kiện cho họcsinh hoạt động nhiều hơn trong giờ học Ưu điểm nổi bật của phương pháp dạyhọc bằng công nghệ thông tin so với phương pháp giảng dạy truyền thống lànhững thí nghiệm, tài liệu được cung cấp bằng nhiều kênh: kênh hình, kênhchữ, âm thanh sống động làm cho học sinh dễ thấy, dễ tiếp thu và bằng suy luận

có lý, học sinh có thể có những dự đoán về các tính chất, những quy luật mới.Đây là một công dụng lớn của công nghệ thông tin và truyền thông trong quátrình đổi mới phương pháp dạy học Có thể khẳng định rằng, môi trường côngnghệ thông tin và truyền thông chắc chắn sẽ có tác động tích cực tới sự pháttriển trí tuệ của học sinh và điều này làm nảy sinh những lý thuyết học tập mới

Theo nhận định của một số chuyên gia, việc đưa công nghệ thông tin vàtruyền thông ứng dụng vào lĩnh vực giáo dục và đào tạo ở nước ta bước đầu đãđạt được những kết quả khả quan Tuy nhiên, những gì đã đạt được vẫn còn hếtsức khiêm tốn, việc ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông nhằm đổimới nội dung, phương pháp dạy học là một công việc lâu dài, khó khăn đòi hỏirất nhiều điều kiện về cơ sở vật chất, tài chính và năng lực của đội ngũ giáoviên Nhà nước cần tăng dần mức đầu tư để không ngừng nâng cao, hoàn thiện

và hiện đại hoá thiết bị, công nghệ dạy học; đồng thời hoàn thiện hạ tầng côngnghệ thông tin và truyền thông để mọi trường học đều có thể kết nối vào mạngInternet

Nhiều phần mềm để hỗ trợ học tập như: hệ thống trò chơi trên máy vitính dành cho trẻ em có tên gọi "Nhà khám phá trẻ" Kích thích sự tập trung chú

ý cũng như hứng thú khám phá của trẻ Khi chơi trên máy tính, trẻ có nhiều cơhội phát triển về nhận thức, tình cảm, ngôn ngữ và vận động Các khái niệm vềchữ cái, từ, số đếm, phân loại, không gian, thời gian, hình dạng được trẻ họcmột cách ngẫu nhiên trong các tình huống trò chơi Các phần mềm từ điển điện

tử và đa ngôn ngữ trên nền tiếng Việt, các bách khoa toàn thư điện tử, các phầnmềm hỗ trợ dạy và học các môn học trọng điểm…

Trang 16

b Về văn hoá:

Internet là phát minh vĩ đại của nhân loại Song, nó cũng tác động khôngnhỏ đến văn hóa đọc truyền thống Mọi người có thể vào Internet để học hỏikiến thức, thu thập thông tin ở tất cả mọi lĩnh vực, đọc nhiều cuốn sách, nhiều tờbáo cùng lúc mà không phải trả tiền Tuy nhiên, Internet cũng có những bất lợi

Nó giới hạn về thời gian và không gian Người ta không thể đọc sách, báo trênlnternet khi đi tàu, xe Tuy nhiên, không thể phủ nhận được văn hoá đọc truyềnthống qua việc đọc trực tiếp qua sách báo được, vì nó đóng vai trò quan trọngtrong cuộc sống: không ai cũng có điều kiện đọc thông tin thông qua Internet,những quyển sách dày nếu đọc qua Internet sẽ tốn nhiều thời gian… Hiện nay ởViệt Nam Internet tác động không nhỏ đến giới trẻ, đặc biệt là các trò gameonline qua mạng, game có hai mặt lợi và hại Game là một loại hình giải trí lànhmạnh nếu xác định chơi để giải trí Game không chỉ nâng cao khả năng tư duy

mà còn giữ cho giới trẻ nói riêng và mọi người nói chung tránh xa những tệ nạn

xã hội Một bộ phận không nhỏ các bạn trẻ nghiện game mà bị chi phối thờigian, sức khoẻ, tiền bạc, học hành sa sút, nhiều trường hợp sinh viên, học sinh bịdừng học, xuống lớp…đánh mất chính bản thân mình

Thông qua Internet, đất nước Việt Nam xinh đẹp ngày càng được nhiềungười biết đến và mỗi năm thu hút nhiều khách du lịch từ khắp mọi nơi trên thếgiới, góp một phần không nhỏ vào tổng thu nhập quốc dân Ngoài những danhlam thắng cảnh nổi tiếng, du khách có thể truy cập và biết được phong tục tậpquán của các dân tộc Những món ăn ngon nổi tiếng, những loại hình văn họcnghệ thuật dân gian truyền thống khắp mọi miền trên đất nước Việt Nam

Không thể phủ nhận những tiện ích mà Internet mang lại nhưng có một bộphận không nhỏ những người truy cập vào những trang web “đen”, có không íttrang web truyện khiêu dâm bằng tiếng Việt, với hàng nghìn truyện khác nhau.Không phải là hình ảnh cụ thể như phim, nhưng những câu chuyện trên đó cóthể làm người đọc phải choáng váng Nó nguy hiểm ở chỗ không chỉ kích thíchdục vọng mà còn đưa ra những mối quan hệ bất chấp mọi luân thường, đạo lý,như loạn luân trong gia đình, giữa bố mẹ và con cái, anh chị em ruột, họ hàngthân thích, thầy trò, cô trò, với trẻ em Làm thế nào để ngăn chặn làn sóng phimảnh sex tràn ngập trên mạng? Câu trả lời không thể chỉ giành cho nhà chứctrách Trường học, là nơi nắm giữ chìa khoá để giải quyết vấn đề Nếu như cácgiờ tin học vẫn tẻ nhạt như hiện nay, khi kiến thức về internet của thanh thiếuniên vẫn chỉ dừng lại ở chat, thì chẳng thể làm được gì Các trường học cần phải

Trang 17

có chương trình giảng dạy về internet, về tin học phong phú hơn, hướng dẫn các

em cách sử dụng mạng như thế nào, mở ra trước mắt các em những nguồn thôngtin phong phú, ứng dụng thiết thực hơn, và qua đó cũng giúp các em hiểu đượcthực chất của các trang web đen

3.4 Về lĩnh vực y tế:

Trong lĩnh vực y tế, việc sử dụng công nghệ cao phục vụ chuyên môn đang phát triển rất tốt nhưng việc ứng dụng CNTT trong việc chẩn đoán, khám

chữa bệnh lại đang chậm chạp, cần thiết phải đầu tư nhiều hơn nữa'' Trong số

các bệnh viện tự triển khai ứng dụng CNTT, bệnh viện Bạch Mai là bệnh viện

đầu tiên đã áp dụng mã vạch - ''số hóa'' bệnh nhân cho toàn bộ bệnh nhân nội

trú nhập viện (từ tháng 4/2004) Đây là mã ID cung cấp những thông tin liên

quan đến tháng, năm nhập viện, họ tên, bệnh án, khoa điều trị giúp cho việcquản lý bệnh nhân thuận tiện, chính xác hơn ''ngoài chức năng thống kê, tronglĩnh vực tài chính kế toán, qua mấy tháng ứng dụng hệ thống mã vạch này, bệnhviện đã quản lý chặt chẽ hơn về mặt tài chính (tiền xét nghiệm, khám chữa bệnh,cấp phát thuốc đều được lưu trong bệnh án của bệnh nhân)'' Bệnh viện đã triểnkhai hệ thống phân loại thuốc theo hệ thống Giải phẫu - Điều trị - Hóa học (haycòn gọi là phân loại theo mã ATC), giúp giảm chi phí phân loại thuốc

Có một số ứng dụng CNTT điển hình như Viện Pasteur TP HCM ứngdụng CNTT giải mã gen virus cúm gà H5N1; Bệnh viện phụ sản Hà Nội quản lýviệc sử dụng thuốc qua mạng máy tính, sử dụng phần mềm quản lý bệnh án điệntử; Trung tâm Y khoa TP HCM (Medic) sử dụng máy phân tích gen để điều trịbệnh; ứng dụng hệ thống máy tính vào công tác quản lý khám chữa bệnh tạiBệnh viện Quân y 5 (Quân khu 3) đã làm giảm phiền hà cho người bệnh và hạnchế tiêu cực có thể xảy ra; trang web www.bacsigiadinh.com thường xuyên cậpnhật các thông tin về bệnh và cách phòng ngừa nhiều loại bệnh khác nhau cũngnhư các dịch vụ y tế và địa chỉ y tế ở nhiều nơi trong nước

Việc ứng dụng CNTT trong bệnh viện, theo nhận xét từ phía lãnh đạo Bộ

Y tế, tính đến thời điểm này, hoàn toàn ''tự phát'', do các bệnh viện ''mạnh ai nấy

làm'', làm theo nhu cầu, mục đích cần thiết của bệnh viện mình Trước mắt,

Trung tâm tin học (Bộ Y tế) phối hợp với văn phòng Bộ sẽ triển khai đào tạoCNTT tại các cơ sở y tế, bệnh viện trên cả nước, và tiến hành khảo sát tại tất cảcác địa phương trên phạm vi toàn quốc Đồng thời, hợp tác với Bộ Bưu chínhViễn thông lập đường truyền Internet xuống xã Với tư cách một ngành khoa

Trang 18

học độc lập và có những ứng dụng mạnh mẽ, công nghệ thông tin y học đòi hỏi

một đội ngũ cán bộ chuyên ngành được đào tạo cǎn bản, hệ thống

3.5 Về lĩnh vực tài nguyên_môi trường:

Hiện nay tại các cơ quan của Bộ môi trường , chỉ có Cục bảo vệ Môitrường là đơn vị được chú ý đầu tư hạ tầng cơ sở CNTT và kết nối mạng Internet

từ rất sớm Còn lại các đơn vị khác đều mới chỉ có một số máy tính cá nhânđược nối mạng máy tính, Internet thông qua mạng Văn phòng Bộ Tại các SởTài nguyên và Môi trường ở địa phương, trang thiết bị máy tính dành cho PhòngQuản lý Môi trường còn rất sơ sài và thiếu do chưa được đầu tư đúng mức, kinhphí lại có hạn Đặc biệt là các cấp lãnh đạo, đặc biệt là lãnh đạo các địa phươngvẫn chưa nhận thức một cách đầy đủ tầm quan trọng của ứng dụng CNTT và cơhội do CNTT mạng lại cho quản lý môi trường; chưa coi thông tin môi trường làtài sản chung của xã hội

Với quan điểm coi CNTT là chìa khoá để nâng cao hiệu quả quản lý môitrường, đồng thời sẽ ứng dụng CNTT gắn chặt với bảo vệ môi trường và pháttriển bền vững, bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường đã có tờ trình số106/TTr-BTNMT về Chiến lược ứng dụng và phát triển CNTT tài nguyên vàmôi trường đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020 Thủ tướng Chính phủ

đã phê duyệt Chiến lược này tại Quyết định 179/2004/QĐ-TTg, ký ngày6/10/2004 Theo đó sẽ nâng cao chất lượng hiệu quả quản lý tài nguyên và môitrường; cải cách thủ tục hành chính đối với hệ thống đăng ký, cấp phép về khaithác, sử dụng tài nguyên và chất lượng môi trường; tạo điều kiện để tổ chức vàngười dân tiếp cận thuận lợi các thông tin về tài nguyên và môi trường…

Có sáu nhiệm vụ trọng tâm của Chiến lược: Tin học hoá việc thu nhận, cậpnhật dữ liệu tài nguyên và môi trường thông qua quá trình thực hiện điều tra,khảo sát, đo đạc, quan trắc trong các lĩnh vực thuộc ngành Tài nguyên và môitrường Xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về tài nguyên và môi trường Tổ chức

hệ thống mạng truyền dữ liệu phục vụ chuyên ngành và phục vụ cung cấp dữliệu tài nguyên và môi trường cho nhu cầu quản lý nhà nước, phát triển kinh tế-

xã hội, quốc phòng, an ninh, nghiên cứu khoa học, đào tạo, hợp tác quốc tế vàcác nhu cầu khác của xã hội và của cộng đồng

4 Mặt trái của việc ứng dụng CNTT

Bên cạnh những lợi ích to lớn mà công nghệ thông tin mang lại, côngnghệ thông tin cũng có mặt trái của nó:

Ngày đăng: 28/09/2016, 19:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo, chỉ thị số 55/2008/CT-BGDĐT ngày 30/9/2008 về tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng CNTT trong ngành giáo dục giai đoạn 2008 – 2012 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, năm 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: chỉ thị số 55/2008/CT-BGDĐT ngày 30/9/2008 về tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng CNTT trong ngành giáo dục giai đoạn 2008 – 2012
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2008
5. Bộ Bưu chính, viễn thông, Chỉ thị số 07/CT-BBCVT ngày 07 tháng 7 năm 2007 về Định hướng Chiến lược phát triển Công nghệ thông tin và truyền thông Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020 (Gọi tắt là “Chiến lược cất cánh”) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược cất cánh
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Văn bản số 9772/BGDĐT-CNTT ngày 20 tháng 10 năm 2008 về việc Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ CNTT năm học 2008 – 2009, năm 2008 Khác
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Giáo dục và Đào tạo Văn bản số 4960/BGDĐT-CNTT ngày 27 tháng 7 năm 2011 về việc Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ CNTT năm học 2011 – 2012, năm 2012 Khác
4. Ban Chấp hành Trung ương, chỉ thị số 58-CT/TW ngày 17 tháng 10 năm 2000 về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w