1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nguyên tắc đánh thuế, thu thuế của Nhà nước

29 284 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 143 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1/ Thuế xuất nhập khẩu: 1.1/Phạm vi điều chỉnh: Theo điều 1 Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 45/2005/QH11ngày 14/6/2005, quy định về thuế xuất nhập khẩu đối với hàng hóa xuấtkhẩu,

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Thuế là một khoản nộp bắt buộc mà các thể nhân và pháp nhân cónghĩa vụ phải thực hiện đối với Nhà nước, phát sinh trên cơ sở các văn bảnpháp luật do Nhà nước ban hành, không mang tính chất đối giá và hoàn trảtrực tiếp cho đối tượng nộp thuế Thuế không phải là một hiện tượng tựnhiên mà là một hiện tượng xã hội do chính con người định ra và nó gắn liềnvới phạm trù Nhà nước và pháp luật

Sự ra đời và tồn tại của thuế gắn liền với sự phân chia xã hội thànhcác giai cấp đối kháng và sự xuất hiện của Nhà nước – pháp luật Thuế làmột thực thể pháp lý nhân định nhưng sự ra đời và tồn tại của nó không chỉphụ thuộc vào ý chí con người mà còn phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế –

xã hội của từng thời kỳ lịch sử nhất định

Sự xuất hiện của Nhà nước đòi hỏi cần phải có của cải vật chất cầnthiết chi tiêu cho hoạt động thường xuyên của bộ máy Nhà nước nhằm đảmbảo cho Nhà nước tồn tại, duy trì quyền lực và thực hiện chức năng quản lý

xã hội của mình Trong điều kiện có các giai cấp, tồn tại chế độ tư hữu cùngvới phạm vi hoạt động của Nhà nước ngày càng mở rộng thì chế độ đónggóp theo phương thức tự nguyện của dân cư trong chế độ cộng sản nguyênthủy không còn phù hợp nữa Để có được lượng của cải cần thiết, Nhà nước

đã sử dụng quyền lực của mình để ban hành pháp luật, ấn định bắt buộc cácthể nhân và pháp nhân phải đóng góp cho Nhà nước một phần của cải mà họlàm ra và hình thành quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước Ban đầu những củacải vật chất này được thu nộp dưới hình thức hiện vật, dần dần thuế đượcchuyển sang hình thức tiền tệ Đồng thời việc ấn định nghĩa vụ thu nộp củacải vật chất đối với dân cư, Nhà nước đảm bảo việc thực hiện các nghĩa vụ

đó bằng bộ máy cưỡng chế của Nhà nước

Trang 2

Sự xuất hiện sản phẩm thặng dư trong xã hội là cơ sở chủ yếu để thuếtồn tại và phát triển Như vậy, thuế là phạm trù có tính lịch sử và là một tấtyếu khách quan, thuế ra đời xuất phát từ nhu cầu đáp ứng chức năng củaNhà nước và sự tồn tại của thuế không tách rời quyền lực của Nhà nước.

Ở các quốc gia khác, do vai trò quan trọng của thuế đối với việc hìnhthành quỹ ngân sách Nhà nước và những ảnh hưởng của nó đối với đời sốngkinh tế – xã hội nên thẩm quyền quy định, sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ các Luậtthuế đều thuộc cơ quan lập pháp Đây là nguyên tắc sớm được ghi nhậntrong pháp luật của các nước Chẳng hạn như ở nước Anh, đạo Luật về dânquyền năm 1688 có quy định: “Cấm mọi sự thu thuế để dùng vào việc chitiêu của Nhà nước nếu không được Quốc hội chấp thuận” Hay như ở Pháp,Quốc hội Pháp cũng quy định: “Bất cứ một khoản thuế nào nếu không đượcQuốc hội chấp thuận thì không được áp dụng”

Ở Việt Nam, trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam có quy định: “Quốc hội có nhiệm vụ và quyền hạn quy định, sửa đổihoặc bãi bỏ các Luật thuế Tuy vậy, do yêu cầu điều chỉnh các quan hệ phápluật về thuế, Quốc hội có thể giao cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyđịnh, sửa đổi hoặc bãi bỏ một số loại thuế thông qua hình thức ban hànhPháp lệnh hoặc Nghị quyết về thuế

Mặc dù Nhà nước, cụ thể là Quốc hội có quyền ban hành các loại thuếnhưng không phải vì lý do đó mà Nhà nước có thể thực hiện việc thu thuếmột cách bừa bãi Nhà nước phải đặt ra các nguyên tắc về thuế và cácnguyên tắc đó phải được thể chế hóa trong các văn bản pháp luật được quyđịnh về thuế Sau đây, nội dung bài viết sẽ đi sâu nghiên cứu về lý do, cũngnhư các cơ sở để nhà nước đề ra các nguyên tắc về thuế đó; đồng thời đi sâuvào phân tích về mức độ thể chế hóa của các nguyên tắc này trong các vănbản pháp luật về thuế hiện hành

Trang 3

- Thứ nhất, đánh thuế phải đảm bảo công bằng.

Điều này có nghĩa là mọi đối tượng có năng lực chịu thuế đều phảinộp thuế và mọi người có điều kiện liên quan đến thuế như nhau thì phảiđược đối xử về thuế như nhau Trường hợp có sự khác nhau về điều kiện,tính công bằng vẫn được đảm bảo Nguyên tắc này được thể hiện xuyên suốt

hệ thống pháp luật thuế vì đây không chỉ là nguyên tắc của thuế nói chung

mà còn là nguyên tắc cơ bản để xây dựng hệ thống pháp luật về thuế

- Thứ hai, đánh thuế phải đảm bảo cân bằng lợi ích giữa Nhà nước và người

nộp thuế

Nội dung của nguyên tắc này là thuế phải đảm bảo nguồn thu chongân sách nhà nước nhưng không được để cho người nộp thuế lâm vào tìnhtrạng khốn cùng Đây là yêu cầu quan trọng để đảm bảo tính “trung lập” củathuế Thực hiện nguyên tắc này, Nhà nước sẽ không tạo những đòn giángnặng nề cho xã hội, cho người lao động Nguyên tắc này có ý nghĩa pháp lýquan trọng khi xác định những nội dung cụ thể của đạo luật thuế, xác định

cơ cấu hệ thống pháp luật thuế

- Thứ ba, đánh thuế phải đảm bảo dễ hiểu, đạt hiệu quả.

Nguyên tắc này thể hiện là các loại thuế phải đảm bảo rõ ràng, dễ hiểucho mọi đối tượng và có tính ổn định, cần phải được thực hiện trong một

Trang 4

khoảng thời gian dài; đồng thời hệ thống thuế phải được tổ chức sao cho chiphí quản lý thu thuế không cao hơn mức mà mục tiêu đề ra cho phép, cầnxem xét kỹ lưỡng về mối tương quan giữa tổng thu dự tính đạt được và chiphí dự tính phải trả cho việc thu và quản lý thuế Nguyên tắc này có tầmquan trọng rất lớn trong khi ban hành một văn bản pháp luật về thuế, vănbản giải thích, hướng dẫn cho các đối tượng có liên quan

- Thứ tư, đánh thuế phải đảm bảo không xảy ra tình trạng một đối tượng tính

thuế phải chịu một loại thuế nhiều lần

Nguyên tắc này đặt ra yêu cầu hệ thống pháp luật thuế của mỗi quốcgia phải “bóc tách” những phần của đối tượng tính thuế đã nằm trong diệnchịu loại thuế đó ở giai đoạn trước Bên cạnh đó, hệ thống pháp luật thuếgiữa các quốc gia cũng phải tính tới khả năng các nhà đầu tư, công dân củaquốc gia này nhưng có đối tượng tính thuế ở một quốc gia khác Đây là mộtnguyên tắc gặp nhiều khó khăn trong quá trình áp dụng trong thực tế

Trong những năm vừa qua, Nhà nước Việt Nam xác định nhữngnguyên tắc pháp lý cơ bản nêu trên như những yêu cầu xuyên suốt trong việcban hành pháp luật, tổ chức và quản lý thu thuế Thực hiện các nguyên tắcnêu trên, đã có nhiều luật thuế được ban hành mới nhưng cũng có những quyđịnh hoặc loại thuế phải thay thế do không đảm bảo được những nguyên tắcđánh thuế

II/ Lý do và cơ sở để đề ra các nguyên tắc về thuế:

1/ Cơ sở lý luận:

Những cơ sở lý luận mà Nhà nước dùng để đề ra các nguyên tắc vềthuế chính là vai trò của thuế trong nền kinh tế thị trường ở nước ta, cụ thể:

- Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước

Một nền tài chính quốc gia lành mạnh phải dựa chủ yếu vào nguồn thu

từ nội bộ nền kinh tế quốc dân Và thuế chính là công cụ quan trọng nhất để

Trang 5

phân phối lại các thu nhập theo đường lối xây dựng xã hội chủ nghĩa ở nước

ta Đặc biệt trong tình hình hiện nay, nguồn thu từ nước ngoài đã giảmnhiều, kinh tế đối ngoại chịu sức ép của quan hệ “mua bán sòng phẳng”, “cóvay có trả” Do vậy, thuế phải là công cụ quan trọng góp phần tích cực giảmbội chi ngân sách, giảm lạm phát, ổn định kinh tế – xã hội, chuẩn bị điềukiện và tiền đề cho việc phát triển đất nước lâu dài Thuế phải trở thànhnguồn thu chủ yếu, bộ phận cơ bản của nền tài chính quốc gia lành mạnh

Với nền kinh tế nhiều thành phần, hệ thống thuế được áp dụng thốngnhất giữa các thành phần kinh tế Thuế phải bao quát được hầu hết các hoạtđộng kinh doanh, các nguồn thu nhập trong xã hội

Mục tiêu của Quốc hội đề ra trong những năm tới là động viên về thuếchiếm khoảng 20 đến 25% GDP và ổn định mức đóng góp về thuế Mứcđộng viên trên đây là phù hợp với khả năng kinh tế, phù hợp với sức đónggóp của nhân dân, đảm bảo phần lớn các nhu cầu chi tiêu của ngân sách nhànước, nguồn vốn để xây dựng cơ sở hạ tầng và phát triển kinh tế theo hướng

có lợi cho quốc kế dân sinh vì Nhà nước ta luôn coi thuế là nguồn thu chủyếu và quan trọng nhất của ngân sách nhà nước

- Thuế là công cụ quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế của Nhà nước

Thông qua việc xây dựng đúng đắn cơ cấu và mối quan hệ giữa cácsắc thuế, việc xác định hợp lý người nộp thuế, đối tượng đánh thuế, thuếsuất, chế độ miễn giảm, phương pháp quản lý thu thuế dựa trên cơ sở hạchtoán kế toán đầy đủ, chính xác Ngoài ra, thuế là công cụ điều tiết đối với thunhập của các tầng lớp xã hội, thể hiện ở hai mặt: khuyến khích, nâng đỡnhững hoạt động kinh doanh cần thiết để làm ăn có hiệu quả; đồng thời thuhẹp, kìm hãm những ngành nghề, mặt hàng cần hạn chế sản xuất, hạn chếtiêu dùng theo hướng tiết kiệm, chống lãng phí

Trang 6

Vai trò của thuế còn thể hiện ở chỗ, nó khuyến khích việc bỏ vốn đầu

tư phát triển sản xuất, khuyến khích các cơ sở kinh doanh thuộc mọi thànhphần kinh tế cạnh tranh bình đẳng trước pháp luật Thuế còn góp phầnkhuyến khích khai thác nguyên liệu, vật tư trong việc tranh thủ vốn hợp táccủa nước ngoài để phát triển kinh tế hàng hóa, không ngừng nâng cao khảnăng tích lũy, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu, bảo vệ sản xuất trongnước Bên cạnh đó, thuế thúc đẩy mở rộng thị trường một cách lành mạnh,vừa khuyến khích giao lưu hàng hóa, vừa đấu tranh hạn chế mua bán lòngvòng qua nhiều khâu trung gian, tránh đầu cơ tích trữ để hưởng chênh lệchgiá

- Thuế góp phần bảo đảm bình đẳng giữa các thành phần kinh tế

Thật vậy, hệ thống thuế được áp dụng thống nhất giữa các ngànhnghề, các thành phần kinh tế, các tầng lớp dân cư theo nguyên tắc đảm bảocông bằng và bình đẳng trong làm nghĩa vụ và quyền lợi Sự bình đẳng vàcông bằng được thể hiện thông qua chính sách động viên giống nhau (thuếsuất) giữa các tổ chức và cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế cùng hoạtđộng trong một lĩnh vực, bảo đảm sự công bằng và bình đẳng về quyền lợi

và nghĩa vụ với mọi công dân, không có những đặc quyền, đặc lợi cho bất cứđối tượng nào Thuế kích thích mọi công dân, doanh nghiệp cải tiến kỹthuật, đầu tư vốn, đầu tư chất xám, làm ăn giỏi và có thu nhập cao một cáchchính đáng

Để đảm bảo được bình đẳng, công bằng phải có biện pháp chống thấtthuế có hiệu quả về số đối tượng kê khai nộp thuế, về căn cứ tính thuế, vềchế độ miễn giảm thuế, về kiểm tra, xử lý nghiêm minh đối với các trườnghợp vi phạm Nhận thức đúng đắn, tự nguyện, tự giác chấp hành các nghĩa

vụ khai báo, chế độ giữ sổ sách kế toán, chứng từ hóa đơn nộp thuế của các

Trang 7

chủ thể, nộp thuế theo đúng pháp luật cũng là yếu tố quan trọng bảo đảmbình đẳng và công bằng về thuế.

- Ngoài ra, thực tế đã chứng minh: chính sách thuế còn góp phần khuyếnkhích đầu tư, thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh Luật thuế thu nhậpdoanh nghiệp, thuế chuyển quyền sử dụng đất đã có những quy địnhkhuyến khích đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh

Chẳng hạn, luật thuế thu nhập doanh nghiệp quy định cơ sở sản xuấtmới thành lập được miễn thuế 2 năm đầu, được giảm 50% trong 2 năm tiếptheo Luật thuế giá trị gia tăng tạo điều kiện giảm giá thành các công trìnhđầu tư xây dựng cơ bản khoảng 10% so với trước đây vì số thuế này đượchạch toán riêng không tính vào giá công trình như thuế doanh thu Thuế giátrị gia tăng còn thúc đẩy sản xuất kinh doanh và lưu thông hàng hóa vì chỉtính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ nhờ đó khắc phục đượcnhược điểm đánh thuế trùng của thuế doanh thu trước đây

- Chính sách thuế đã bắt đầu phát huy được tác dụng quản lý, điều tiết vĩ mônền kinh tế Hệ thống thuế được áp dụng thống nhất đã tạo ra môi trườngbình đẳng về luật pháp cho sự cạnh tranh lành mạnh giữa các thành phầnkinh tế, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển Chính sách thuế từng bướctạo ra sự công bằng về nghĩa vụ nộp thuế giữa các đối tượng khác nhau, góp

Trang 8

phần thúc đẩy đầu tư vốn, cải tiến công nghệ, tăng năng suất lao động, giảmgiá thành

- Chính sách thuế đã góp phần khuyến khích xuất khẩu Hàng hóa xuất khẩukhông phải chịu thuế giá trị gia tăng, đồng thời được hoàn lại toàn bộ số thuếgiá trị gia tăng đã phải nộp ở đầu vào Luật thuế thu nhập doanh nghiệp cũng

có quy định khuyến khích đối với doanh nghiệp xuất khẩu lớn: nếu dự ánđầu tư có giá trị hàng hóa xuất khẩu trên 30% tổng giá trị thì được hưởngthuế suất ưu đãi là 25%, nếu giá trị hàng hóa xuất khẩu trển 50% thì đượcmiễn thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung

III/ Mức độ thể chế hóa các nguyên tắc về thuế trong quy định pháp luật về thuế:

Các nguyên tắc cơ bản về thuế như đã phân tích ở trên đều được thểchế hóa trong các văn bản pháp luật thông qua các quy phạm pháp luật trongcác đạo luật thuế khác nhau Đặc biệt, các nguyên tắc này được thể hiệnthông qua các quy phạm pháp luật quy định về: phạm vi áp dụng, đối tượngnộp thuế, đối tượng chịu thuế và nguyên tắc tính thuế của từng loại thuế Sauđây, chúng ta sẽ cùng xem xét những vấn đề này lần lượt trong từng đạo luậtthuế để thấy được sự thể chế hóa của các nguyên tắc về thuế trong các quyphạm pháp luật này

1/ Thuế xuất nhập khẩu:

1.1/Phạm vi điều chỉnh:

Theo điều 1 Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 45/2005/QH11ngày 14/6/2005, quy định về thuế xuất nhập khẩu đối với hàng hóa xuấtkhẩu, nhập khẩu qua cửa khẩu, biên giới Việt Nam; hàng hóa mua bán, traođổi của dân cư biên giới và hàng hóa mua bán, trao đổi khác được coi làhàng hóa xuất nhập khẩu

Trang 9

1.2/ Đối tượng chịu thuế:

Theo quy định tại điều 2 Luật này thì trừ các hàng hóa quy định tạiđiều 3, hàng hóa trong các trường hợp sau đây là đối tượng chịu thuế xuấtkhẩu, thuế nhập khẩu:

- Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu qua cửa khẩu, biên giới Việt Nam

- Hàng hóa được đưa từ thị trường trong nước vào khu phi thuế quan và

từ khu phi thuế quan đưa vào thị trường trong nước

Việc quy định phạm vi và đối tượng chịu thuế một cách cụ thể, bao trùm nhưvậy là nhằm đảm bảo nguyên tắc công bằng và cần bằng lợi ích giữa Nhànước với người nộp thuế, cụ thể là đảm bảo lợi ích của Nhà nước trong việcthu thuế, tránh bỏ sót những khoản thu chính đáng

1.3/ Đối tượng không chịu thuế:

Căn cứ vào điều 3 Luật này, hàng hóa trong các trường hợp sau đây làđối tượng không chịu thuế xuất nhập khẩu:

- Hàng hóa vận chuyển quá cảnh hoặc mượn đường qua cửa khẩu, biêngiới Việt Nam, hàng hóa chuyển khẩu theo quy định của Chính phủ

- Hàng hóa viện trợ nhân đạo, hàng hóa viện trợ không hoàn lại

- Hàng hóa từ khu phi thuế quan xuất khẩu ra nước ngoài, hàng hóanhập khẩu từ nước ngoài vào khu phi thuế quan và chỉ sử dụng trongkhu phi thuế quan, hàng hóa đưa từ khu phi thuế quan này sang khuphi thuế quan khác

- Hàng hóa là phần dầu khí thuộc thuế tài nguyên của Nhà nước khixuất khẩu

Điều luật này cũng nhằm thể chế hóa nguyên tắc đảm bảo công bằng vànguyên tắc cần bằng lợi ích giữa Nhà nước và của người nộp thuế, cụ thể lànhằm đảm bảo cho người nộp thuế không bị khốn cùng vì thuế

Trang 10

1.4/ Đối tượng nộp thuế:

Theo quy định tại điều 4 Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu năm

2005, người nộp thuế là tổ chức, cá nhân có hàng hóa xuất khẩu hoặc nhậpkhẩu thuộc đối tượng chịu thuế xuất nhập khẩu theo quy định của Luật này.Trong thực tiễn pháp lý, người nộp thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu thươngbao gồm:

- Người nhận ủy thác xuất hoặc nhập khẩu hàng hóa cho chủ thể khác

- Người trực tiếp đứng tên làm thủ tục xuất hoặc nhập khẩu hàng hóacho chính mình (kể cả trường hợp tổ chức, cá nhân Việt Nam nhậpkhẩu hàng hóa từ nước ngoài về để bán tại Việt Nam với tư cách làbên đại lý tiêu thụ sản phẩm cho tổ chức, cá nhân nước ngoài theo hợpđồng đại lý tiêu thụ sản phẩm)

Việc quy định này cũng dựa trên các nguyên tắc đánh thuế cơ bản của ViệtNam ta hiện nay và phù hợp với thực tiễn pháp lý

1.5/ Nguyên tắc tính thuế:

Theo khoản 2 điều 8 Luật này, phương pháp tính thuế được quy địnhnhư sau:

- Số thuế xuất, nhập khẩu phải nộp bằng số lượng đơn vị từng mặt hàng thực

tế xuất, nhập khẩu ghi trong tờ khai hải quan nhân với giá tính thuế và thuếsuất từng mặt hàng ghi trong Biểu thuế tại thời điểm tính thuế

- Trong trường hợp mặt hàng áp dụng thuế tuyệt đối thì số thuế xuất, nhậpkhẩu phải nộp bằng số lượng đơn vị từng mặt hàng thực tế xuất, nhập khẩughi trong tờ khai hải quan nhân với mức thuế suất tuyệt đối quy định trênmột đơn vị hàng hóa tại thời điểm tính thuế

Hiện nay, Việt Nam ta có 4 loại Biểu thuế xuất, nhập khẩu, đó là:

- Biểu thuế ưu đãi theo Hiệp định Thương mại Việt Mỹ

- Biểu thuế ưu đãi đối với hàng hóa có xuất xứ từ EU

Trang 11

- Biểu thuế thu hoạch sớm ASEAN – Trung Quốc.

- Biểu thuế CEPT – AFTA

Việc quy định cụ thể về phương pháp tính thuế như trên là nhằm đảm bảo cả

4 nguyên tắc cơ bản về đánh thuế theo hệ thống pháp luật thuế ở Việt Nam

2/ Thuế tiêu thụ đặc biệt:

2.1/ Đối tượng nộp thuế:

Theo quy định tại điều 2 Luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 1992, sửa đổi

bổ sung năm 2003, đối tượng nộp thuế tiêu thụ đặc biệt là tổ chức, cá nhân(gọi chung là cơ sở kinh doanh) có sản xuất, nhập khẩu hàng hóa và kinhdoanh dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt Trong đó:

- Tổ chức sản xuất, nhập khẩu hàng hóa, kinh doanh dịch vụ bao gồm:doanh nghiệp dưới mọi hình thức, thuộc mọi thành phần kinh tế như:doanh nghiệp Nhà nước, các loại hình công ty được thành lập theoluật định, tổ chức kinh tế của tổ chức chính trị, hợp tác xã

- Cá nhân sản xuất, nhập khẩu hàng hóa, kinh doanh dịch vụ bao gồmnhững cá nhân nhập khẩu, người sản xuất, kinh doanh độc lập, hộ giađình, các cá nhân hợp tác với nhau để cùng sản xuất, kinh doanhkhông hình thành pháp nhân

- Cá nhân không sản xuất, kinh doanh nhưng có mang theo hàng hóathuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt khi nhập cảnh vào Việt Namcũng là đối tượng nộp thuế trong trường hợp hàng mang theo ngườivượt quá tiêu chuẩn miễn thuế

Quy định này nhằm khoanh vùng rõ đối tượng nộp thuế, từ đó đảm bảonguyên tắc cân bằng lợi ích giữa Nhà nước và người nộp thuế

Trang 12

2.2/ Đối tượng chịu thuế:

Theo điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế tiêu thụđặc biệt năm 2003, các hàng hóa thuộc diện chịu thuế bao gồm 8 nhóm vàcác dịch vụ thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt bao gồm 5 nhóm

Việc liệt kê cụ thể từng loại hàng hóa, dịch vụ thuộc diện chịu thuếtiêu thụ đặc biệt như trên nhằm đảm bảo nguyên tắc đánh thuế dễ hiểu, côngbằng

2.3/ Đối tượng không thuộc diện chịu thuế:

Căn cứ vào điều 3 Luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 1992, hàng hóa quyđịnh tại khoản 1 Điều 1 của Luật này không thuộc diện chịu thuế tiêu thụđặc biệt trong các trường hợp sau:

- Hàng hóa do các cơ sở sản xuất, gia công trực tiếp xuất khẩu hoặc bán, ủythác cho các cơ sở kinh doanh xuất khẩu để xuất khẩu

- Hàng hóa nhập khẩu trong các trường hợp sau:

+ Hàng viện trợ nhân đạo, viện trợ không hoàn lại; quà tặng cho các

cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xãhội – nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân; đồ dùng của các tổ chức, cánhân nước ngoài theo tiêu chuẩn miễn trừ ngoại giao; hàng mang theo ngườitrong tiêu chuẩn hành lý miễn thuế

+ Hàng hóa chuyển khẩu, quá cảnh, mượn đường qua Việt Nam.+ Hàng tạm nhập khẩu, tái xuất khẩu và tạm xuất khẩu, tái nhập khẩutrong thời hạn chưa phải nộp thuế

+ Hàng nhập khẩu để bán miễn thuế theo chế độ quy định

Trang 13

2.4/ Nguyên tắc tính thuế:

a/ Căn cứ tính:

Thuế tiêu thụ đặc biệt được tính dựa vào các căn cứ là giá tính thuếcủa hàng hóa, dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế suất tiêu thụ đặcbiệt Công thức được xác định như sau:

Thuế tiêu thụ đặc = Giá tính thuế tiêu x Thuế suất tiêu

biệt phải nộp thụ đặc biệt thụ đặc biệt

Quy định về giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt đối với những trường hợp cụ thể:

- Giá tính thuế đối với hàng sản xuất trong nước là giá bán của cơ sở sảnxuất chưa có thuế giá trị gia tăng và chưa có thuế tiêu thụ đặc biệt

- Giá tính thuế đối với hàng nhập khẩu thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệtđược tính bằng: Giá tính thuế nhập khẩu + Thuế nhập khẩu Giá tính thuếnhập khẩu được xác định theo các quy định của Luật thuế xuất, nhập khẩu.Trường hợp hàng hóa nhập khẩu được miễn hoặc giảm thuế thì thuế nhậpkhẩu được xác định trong giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt theo số thuế nhậpkhẩu còn phải nộp

- Giá tính thuế đối với rượu chai, bia chai, khi tính thuế tiêu thụ đặc biệtkhông được trừ giá trị vỏ chai

- Giá tính thuế đối với hàng hóa gia công là giá bán chưa có thuế giá trị giatăng và chưa có thuế tiêu thụ đặc biệt của cơ sở đưa gia công

- Giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt đối với hàng hóa bán theo phương thức trảgóp là giá bán chưa có thuế giá trị gia tăng và chưa có thuế tiêu thụ đặc biệtcủa hàng hóa đó khi bán theo phương thức trả tiền một lần, không bao gồmkhoản lãi trả góp

- Giá tính thuế đối với dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt là giá cung ứngdịch vụ của cơ sở kinh doanh chưa có thuế giá trị gia tăng và chưa có thuếtiêu thụ đặc biệt

Trang 14

- Giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt đối với hàng hóa, dịch vụ chịu thuế tiêu thụđặc biệt dùng để khuyến mại, trao đổi, tiêu dùng nội bộ, biếu, tặng là giá tínhthuế tiêu thụ đặc biệt của hàng hóa, dịch vụ cùng loại hoặc tương đương tạithời điểm phát sinh các hoạt động này.

Ngoài ra, pháp luật còn quy định, giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt đốivới hàng hóa sản xuất trong nước, dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt baogồm cả khoản thu thêm tính ngoài giá bán hàng hóa, dịch vụ (nếu có) mà cơ

sở được hưởng

b/ Thuế suất:

Thuế suất của thuế tiêu thụ đặc biệt có phân biệt theo từng loại hànghóa, dịch vụ, tùy thuộc vào mức độ cần điều tiết hoặc hạn chế sản xuất, tiêudùng đối với các hàng hóa, dịch vụ đó của Nhà nước Thuế suất thuế tiêu thụđặc biệt đối với hàng hóa, dịch vụ được quy định theo biểu thuế tiêu thụ đặcbiệt tại điều 3 Luật sửa đổi, bổ sung Luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 2003

c/ Phương pháp tính thuế:

Thuế tiêu thụ đặc biệt phải nộp được xác định như sau:

Thuế tiêu thụ đặc = Số lượng hàng hóa x Giá tính thuế x Thuế suất biệt phải nộp dịch vụ tiêu thụ (%)

Tất cả những quy định về phương pháp tính thuế tiêu thụ đặc biệt theo quyđịnh của pháp luật hiện hành đều nhằm đảm bảo nguyên tắc công bằng, cânbằng lợi ích giữa Nhà nước và người nộp thuế, đồng thời thể chế hóa đượcnguyên tắc tránh đánh thuế hai lần với cùng một loại thuế Nhìn chung cácquy định này đều phù hợp với các nguyên tắc cơ bản về đánh thuế

3/ Thuế giá trị gia tăng:

3.1/ Đối tượng chịu thuế:

Theo điều 3 Luật thuế giá trị gia tăng năm 2008, hàng hóa, dịch vụ sửdụng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam đều là đối tượng

Ngày đăng: 28/09/2016, 14:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w