1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về các biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam

66 463 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 421,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dướigóc độ pháp lý, các biện pháp bảo đảm và khuyến khích FDI có thể được hiểu làtổng thể các quy định pháp luật của mỗi quốc gia nhằm bảo đảm quyền lợi thiếtthực, chính đáng cho các nhà

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Đầu tư là một lĩnh vực quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế củamỗi quốc gia Nhất là trong giai đoạn hiện nay, khi mà mục tiêu phát triển kinh

tế là trọng tâm, xây dựng Đảng là then chốt được đặt lên hàng đầu, cùng với sựcạnh tranh gay gắt giữa các quốc gia, vấn đề là làm sao để thu hút đầu tư, đặcbiệt là FDI và phát huy mọi tiềm lực trong và ngoài nước là vấn đề sống còn.Nhận thức rõ vai trò của FDI, tất cả các nước trên thế giới đều nghiên cứu để đề

ra một chế độ pháp lý về FDI cho phù hợp Nhà nước với vai trò thiết kế vàquản lý mọi mặt của đời sống xã hội đã sử dụng pháp luật - một công cụ rất hữuhiệu để thống nhất và định hướng cho hoạt động FDI Một môi trường đầu tưhấp dẫn ngoài các yếu tố kinh tế còn có các yếu tố chính trị, pháp luật phải ổnđịnh và đồng bộ Vì thế, pháp luật đóng một vai trò rất quan trọng trong các hoạtđộng FDI, là công cụ thiết yếu và tiên quyết cho hoạt động này diễn ra có hiệuquả

Việt Nam sau thời kỳ cải cách và mở cửa, cùng những đổi mới căn bảntrong nhận thức và đường lối chính sách ĐTNN và nhất là FDI đã đạt đượcnhiều thành tích Luật Đầu tư năm 2005 ra đời đúng lúc với những quy định vềFDI hấp dẫn cùng một thị trường đầu tư giàu tiềm năng đã đẩy nhanh tốc độphát triển đất nước Đồng thời với đường lối đối ngoại của Nhà nước ta là đaphương hóa, đa dạng hóa trong các quan hệ, hội nhập với cộng đồng quốc tế trên

cơ sở giữ vững độc lập chủ quyền, ý chí tự lực tự cường, nhờ một phần ngoạilực để hỗ trợ cho nội lực phát huy Vì thế, ngoài việc phải có các biện pháp bảođảm FDI, nhà nước cũng phải dành cho FDI những ưu đãi, khuyến khích nhằmtận dụng mọi nguồn lực bên ngoài, góp phần phát triển kinh tế xã hội, vì sựnghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh…

Tuy vậy trên thực tế, nguồn FDI ở nước ta hiện nay vẫn chưa đáp ứngđược nhu cầu xây dựng đất nước và hội nhập quốc tế cũng như chưa tương xứngvới tiềm lực về thu hút FDI của Việt Nam Phải chăng những biện pháp bảo đảm

và khuyến khích FDI của nhà nước ta vẫn chưa thực sự hấp dẫn, chưa lôi kéo

Trang 2

các nhà ĐTNN, chưa tạo ra được một sân chơi bình đẳng và vẫn còn phân biệtđối xử đầu tư trong nước và ĐTNN, mà đặc biệt là FDI? Đây cũng chính là lý

do em chọn đề tài “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về các biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam” nhằm đánh

giá sự phát triển của pháp luật Việt Nam trong các quy định về những biện phápbảo đảm và khuyến khích FDI tại Việt Nam, qua đó đề xuất những giải pháp,kiến nghị nhằm làm cho hoạt động này đạt được hiệu quả cao hơn

Trong khóa luận này, tác giả hướng tới nghiên cứu một cách cơ bản về sự

hình thành, phát triển của các biện pháp bảo đảm và khuyến khích FDI và thựctrạng FDI tại Việt Nam.Phân tích cơ sở khách quan: bao gồm cơ sở lý luận và cơ

sở thực tiễn của các hoạt động FDI trong những năm qua Nhận thức rõ thựctrạng và giải pháp cần thiết thúc đẩy sự phát triển kinh tế đất nước

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Khóa luận là:

- Nghiên cứu cơ sở pháp lý của các biện pháp bảo đảm và khuyến khíchFDI trong khuôn khổ các quy định của Việt Nam và các cam kết quốc tế màViệt Nam là thành viên

- Nghiên cứu thực trạng và giải pháp về các biện pháp nhằm thu hút FDI tạiViệt Nam

Với đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu như vậy, phương phápnghiên cứu chủ đạo được tác giả sử dụng trong Khóa luận là các phương pháptổng hợp, phân tích, so sánh dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biệnchứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Trong quá trình nghiên cứu, còn sử dụngcác số liệu về phát triển kinh tế và số liệu về phát triển FDI cũng như các sự kiệnmang tính lịch sử cho bước ngoặt phát triển kinh tế của Việt Nam

Về ý nghĩa khoa học và thực tiễn, Khóa luận sẽ làm rõ hơn một số vấn đề

lý luận và thực tiễn của các biện pháp bảo đảm và khuyến khích FDI Giúpchúng ta hiểu hơn nữa về bảo đảm và khuyến khích FDI tại Việt Nam, thấy đuợcthực trạng thu hút và sử dụng FDI của nước nhà, qua đó sẽ cho một cái nhìn

Trang 3

đúng đắn, tổng thể về tình hình kinh tế và đề ra chiến lược thích hợp về FDItrong thời gian tới.

Khóa luận còn nêu lên một số vấn đề đặt ra, chỉ ra mối liên hệ và tác độngqua lại của các biện pháp bảo đảm và khuyến khích FDI với thực trạng FDI ởViệt Nam, từ đó đưa ra ý kiến đề xuất là những việc cần thiết phải làm trongthời gian tới nhằm đẩy mạnh việc thu hút FDI, đưa đất nước phát triển

Trên cơ sở đó, ngoài phần Mục lục, Lời nói đầu, Kết luận, Danh mục tàiliệu tham khảo, nội dung chính của Khóa luận gồm có 3 chương

Chương I: Những vấn đề lý luận chung về các biện pháp bảo đảm và

khuyến khích FDI

Chương II: Thực trạng của pháp luật Việt Nam về các biện pháp bảo

đảm và khuyến khích FDI

Chương III: Tình hình đầu tư FDI tại Việt Nam trong những năm gần

đây, phương hướng giải pháp và kiến nghị nhằm thu hút FDI tại Việt Nam trongthời gian tới

Trang 4

CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM VÀ KHUYẾN KHÍCH ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC

NGOÀI

1.1 KHÁI NIỆM ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI, CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM

VÀ KHUYẾN KHÍCH ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI

1.1.1 Khái niệm đầu tư

Đầu tư là một trong những yếu tố quyết định cho sự phát triển kinh tế củamỗi quốc gia Thông qua hoạt động đầu tư, quốc gia có thể huy động được rấtnhiều nguồn lực trong và ngoài nước về vốn, về công nghệ, kỹ thuật… để đẩymạnh tốc độ phát triển đất nước

Như vậy, có thể hiểu đầu tư chính là việc bỏ vốn dưới mọi hình thức vào sản xuất kinh doanh trên cơ sở tính toán lợi ích kinh tế - xã hội.

Cơ sở đầu tiên để một hoạt động đầu tư diễn ra chính là vốn Nhà đầu tư

có thể sử dụng các loại vốn sau để đầu tư:

- Tiền, vàng, chứng khoán chuyển nhượng được;

- Nhà xưởng công trình xây dựng, thiết bị máy móc, các phương tiện sảnxuất kinh doanh khác;

- Giá trị quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật;

- Giá trị quyền sở hữu trí tuệ, bí quyết kỹ thuật, quy trình công nghệ;

Trang 5

lạm phát… Đối với các quốc gia kém phát triển và các quốc gia đang phát triển,đầu tư càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc khắc phục tình trạng thiếuvốn kéo dài, giúp các nước này tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế,giải quyết các vấn đề xã hội, đồng thời tăng thu ngân sách nhà nước.

Trên tinh thần đó, khoản 1 Điều 3 Luật Đầu tư năm 2005 cũng quy định:

“Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình

để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan”.

1.1.2 Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài

FDI là một hoạt động quốc tế, vì bản chất của nó là việc di chuyển vốn từnước này sang nước khác và do các chủ đầu tư trực tiếp thực hiện Thị trườngcủa FDI không chỉ bó hẹp trong phạm vi của một quốc gia mà còn có tính quốc

tế, thị trường của mỗi quốc gia là một bộ phận trong toàn bộ thị trường thế giới

Để mở rộng và đa dạng hoá các quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế, phục vụ sựnghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển kinh tế quốc dân trên cơ sở khaithác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của đất nước, chúng ta cần phải đẩymạnh hơn nữa hoạt động thu hút đầu tư Hoạt động FDI đã trở thành một bộphận quan trọng trong toàn bộ chính sách kinh tế đối ngoại của Nhà nước ta

Trong những năm qua, FDI ngày càng được thừa nhận là kênh đầu tư quantrọng và chủ yếu nhất trong đầu tư nước ngoài, là giải pháp quan trọng góp phầnthúc đẩy sự phát triển nội sinh của nền kinh tế nước nhà Cho đến nay, có nhiềucách hiểu khác nhau về FDI

Theo Luật giúp nước ngoài 1961 của Hoa Kỳ thì: “Đầu tư là mọi hình

thức đầu tư trên lãnh thổ của một bên do các công dân hoặc công ty bên kia sở hữu hoặc kiểm soát trực tiếp hay gián tiếp”.

Theo Quỹ Tiền tệ quốc tế (International Monetary Fund - IMF), FDI là

“hoạt động đầu tư nhằm đạt lợi ích lâu dài của nhà đầu tư tại một DN ở một

nước khác với nước của nhà đầu tư, trong đó nhà đầu tư phải có vai trò, có ý nghĩa quyết định trong quản lý DN” [22, tr.156].

Trang 6

Theo Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (Organisation for EconomicCooperation and Development - OECD), FDI được hiểu theo nghĩa rộng hơn:

“FDI là các hoạt động kinh tế của các cá nhân và pháp nhân kể cả việc cho vay

dài hạn hoặc sử dụng nguồn lợi nhuận tại nước sở tại nhằm tạo dựng các quan hệ kinh tế lâu dài và mang lại khả năng gây ảnh hưởng thực sự về quản lý” [22,

tr.157]

Khái niệm FDI đã trở thành một khái niệm phổ biến trong các đạo luật củacác quốc gia như: Luật khuyến khích đầu tư Thái Lan, Luật đầu tư Indonexia,Luật đầu tư Việt Nam… Tuy nhiên, tuỳ theo mỗi cách hiểu và từng góc độ tiếpcận mà có các quy định khác nhau về FDI

Trên cơ sở nắm bắt được những bản chất cơ bản của FDI, Luật Đầu tư

năm 2005 của Việt Nam quy định tại khoản 2 Điều 3: “Đầu tư trực tiếp là hình

thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư”.

Từ những định nghĩa trên, chúng ta có thể định nghĩa khát quát về FDI

như sau: FDI là việc nhà ĐTNN bỏ vốn và các nguồn tài chính nhằm thiết lập

cơ sở sản xuất kinh doanh ở nước tiếp nhận đầu tư và trực tiếp tham gia quản lý

để thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm thu được lợi nhuận.

1.1.3 Khái niệm các biện pháp bảo đảm và khuyến khích FDI

FDI có ảnh hưởng rất lớn trong việc phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốcgia trên thế giới, trong đó có Việt Nam Điều đó đã thôi thúc nhiều nhà khoa học

và nhiều ngành khoa học như: Kinh tế học, luật học tiếp cận đa chiều với cácgóc độ khác nhau về FDI và các biện pháp bảo đảm và khuyến khích FDI Dướigóc độ pháp lý, các biện pháp bảo đảm và khuyến khích FDI có thể được hiểu làtổng thể các quy định pháp luật của mỗi quốc gia nhằm bảo đảm quyền lợi thiếtthực, chính đáng cho các nhà ĐTNN trong quá trình đầu tư ở nước sở tại, đồngthời nhằm tạo mọi điều kiện cho hoạt động thu hút FDI phát triển, trong đó:

- Bảo đảm FDI: là những cam kết của nước tiếp nhận đầu tư nhằm đảm

bảo an toàn về mặt pháp lý cũng như về mặt thực tiễn đối với tài sản, vốn, các

Trang 7

quyền và lợi ích hợp pháp của nhà ĐTNN khi tiến hành các hoạt động đầu tư tạinước tiếp nhận.

- Khuyến khích FDI: là việc nước tiếp nhận đầu tư quy định dành ưu đãi

nhất định về kinh tế theo hướng có lợi cho nhà đầu tư nhằm tạo động lực thúcđẩy họ vào những nước này Biện pháp khuyến khích đầu tư là các biện phápcủa Chính phủ được đặt ra để tác động tới quy mô, địa điểm hay ngành nghề đầu

tư thông qua việc tác động tới chi phí tương đối hay lợi nhuận tiềm năng hoặcbằng cách giảm bớt những rủi ro đi kèm dự án đó Chính sách đầu tư thực sự làmột đòn bẩy kinh tế và vai trò của nó ở chỗ nó quyết định trực tiếp đến mức lợinhuận mà DN thu được

Thực chất các biện pháp bảo đảm và khuyến khích FDI có quan hệ mậtthiết với nhau, là hai mặt của một vấn đề Bảo đảm đầu tư là điều kiện tiên quyếtdẫn đến quyết định nhà đầu tư có quyết định đầu tư vào nước đó hay không bởi

lẽ không một nhà đầu tư nào muốn đầu tư vào một đất nước không có các quyđịnh về bảo đảm đầu tư hoặc có các quy định song còn thiếu chặt chẽ và không

đủ độ tin cậy, không bảo đảm an toàn khi khả năng rủi ro xảy ra Bảo đảm đầu

tư là tiền đề để các biện pháp khuyến khích đầu tư có tính khả thi trên thực tếtrong việc tạo ra môi trường đầu tư hấp dẫn, thông thoáng, song chúng có mụctiêu thống nhất là thu hút hiệu quả nguồn vốn FDI, đồng thời là cơ sở pháp lýhết sức quan trọng thúc đẩy khả năng thu hút nguồn vốn FDI và làm tăng sứccạnh tranh của môi trường đầu tư

1.2 TẦM QUAN TRỌNG CỦA CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM VÀKHUYẾN KHÍCH ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu sắc và toàn diện,hoạt động FDI ngày càng trở nên có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân.Việc nhận thức rõ vị trí, vai trò của FDI đối với nền kinh tế trong bối cảnh hộinhập là yêu cầu hết sức cần thiết Hơn nữa, môi trường đầu tư ở Việt Nam tuy

đã có nhiều cải thiện, nhưng trên thực tế hiện nay vẫn còn một số điểm bất cậpnhư: Thủ tục hành chính rườm rà, pháp luật lỏng lẻo, nguồn nhân lực thừa và rẻ

Trang 8

nhưng trình độ còn thấp Trong đó, yêu cầu thiết yếu hàng đầu là phải tạo rađược một môi trường pháp lý hoàn hảo, ngoài việc quy định những biện phápbảo đảm và khuyến khích đầu tư hấp dẫn thì pháp luật cần phải thật ổn định,đồng bộ và chặt chẽ vì các biện pháp bảo đảm và khuyến khích FDI có vai trò tolớn trong việc:

- Thúc đẩy nền sản xuất hàng hoá, đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế đấtnước;

- Bổ sung nguồn vốn quan trọng cho tăng trưởng kinh tế;

- Nguồn vốn FDI góp phần tích cực vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế theohướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa, phát triển lực lượng sản xuất;

- Góp phần giải quyết việc làm cho người lao động, nâng cao thu nhập vàmức sống của người lao động, tham gia phát triển nguồn nhân lực;

- Định hướng đầu tư vào các lĩnh vực tạo cơ sở cho phát triển toàn bộ nềnkinh tế;

- Định hướng đầu tư vào phát triển các vùng dân tộc, miền núi và hải đảo,các vùng nông thôn và duyên hải gặp khó khăn để thực hiện chuyển dịch cơ cấuvùng lãnh thổ, giảm dần sự chênh lệch về trình độ phát triển giữa thành thị vànông thôn, giữa các vùng miền khác nhau của tổ quốc;

- Làm tăng thêm sự tin tưởng của các nhà đầu tư trong nước vào chính sáchkinh tế của Nhà nước ta, góp phần gián tiếp thúc đẩy thu hút vốn đầu tư trongnước

- Mở rộng hợp tác đầu tư với nước ngoài theo hướng đa phương hóa, đadạng hóa góp phần đẩy nhanh tiến trình hội nhập của Việt Nam vào nền kinh tếkhu vực và thế giới

Việc quy định các biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư có vai trò và

ý nghĩa vô cùng quan trọng vì nó mang lại hiệu quả cao nhất, có ý nghĩa nhấtđối với sự phát triển của quốc gia, tác động trực tiếp đến việc thu hút FDI, giúpnhà đầu tư yên tâm khi bỏ vốn sản xuất kinh doanh tại nước tiếp nhận đầu tư vàbởi họ không những được bảo đảm về mọi quyền lợi hợp pháp mà còn được tạo

Trang 9

mọi điều kiện, ưu đãi cần thiết trong quá trình đầu tư Chính các quy định này đãtạo ra sự tin tưởng và an tâm của nhà đầu tư đối với chính sách đầu tư của nước

sở tại, đồng thời kích thích họ đầu tư vốn, công nghệ và kỹ thuật hiện đại chocác dự án đầu tư

Do pháp luật về đầu tư nước ngoài của nước ta ra đời muộn hơn các nước,nên việc xây dựng và hoàn thiện chế định về các biện pháp bảo đảm và khuyếnkhích FDI có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với việc thu hút FDI ở nước ta Cácquy định của pháp luật về bảo đảm và khuyến khích đầu tư không những phải tạo

ra một môi trường đầu tư thông thoáng và hấp dẫn mà còn phải thực sự đi trướcmột bước để đẩy nhanh tốc độ thu hút nguồn lực bên ngoài

Nói tóm lại, các quy định pháp luật về các biện pháp bảo đảm và khuyếnkhích FDI là những quy định không thể thiếu được trong hệ thống pháp luật củamỗi quốc gia Bởi nếu không có quy định này thì sẽ làm cho hoạt động ĐTNN,đặc biệt là các hoạt động FDI không thể tồn tại được Do đó mà pháp luật vềĐTNN của mỗi nước đều cần phải tiếp tục có sự điều chỉnh nhằm hoàn thiệnhơn, nâng cao khả năng cạnh tranh thu hút FDI đối với các quốc gia khác

1.3 CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM VÀ KHUYẾN KHÍCH ĐẦU TƯ TRỰCTIẾP NƯỚC NGOÀI TRONG KHUÔN KHỔ CÁC ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾĐIỂN HÌNH MÀ VIỆT NAM ĐÃ KÝ KẾT HOẶC THAM GIA

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam, hơn hai mươi năm đổimới là hơn hai mươi năm của những kỳ tích về phát triển kinh tế Công cuộc đổimới của nước ta đã đạt được những thành tựu đáng kể Đó là tốc độ tăng trưởngkinh tế luôn ở mức cao trong nhiều năm liên tục, nâng cao năng lực sản xuất,đẩy mạnh xuất khẩu, cân bằng cán cân thương mại, không ngừng cải thiện đờisống nhân dân…

Đầu tư nước ngoài đã góp phần phá thế bao vây cấm vận, mở rộng quan

hệ kinh tế đối ngoại theo hướng hội nhập hoàn toàn và đầy đủ vào nền kinh tếthế giới, tạo thuận lợi cho Việt Nam hòa vào dòng chảy của nền kinh tế thế giới

Trang 10

Bước vào năm 2008, việc thực hiện các cam kết quốc tế đa phương và songphương, nhất là các cam kết trong khuôn khổ hợp tác ASEAN - AFTA, Hiệpđịnh thương mại Việt – Hoa Kỳ, các cam kết trong khuôn khổ WTO đã tới thờiđiểm khẩn trương Một năm sau ngày gia nhập WTO, việc thực hiện các cam kếttrong khuôn khổ của tổ chức này cũng được xúc tiến tích cực và đã đi vào giaiđoạn thực chất Một số cam kết nổi bật sau đây mà Việt Nam đã ký kết hoặctham gia có liên quan đến đầu tư cho chúng ta thấy rõ hơn thời cơ và thách thứcđối với nước ta trong việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật về đầu tư.

1.3.1 Các biện pháp bảo đảm và khuyến khích FDI trong khuôn khổ các cam kết của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN)

Việt Nam đã tham gia trong các chương trình hợp tác kinh tế của ASEANtrong các lĩnh vực thương mại, đầu tư, công nghiệp… Tại các kỳ Hội nghịthượng đỉnh của ASEAN trong những năm vừa qua, các nước thành viên đã camkết thúc đẩy cải cách kinh tế tài chính, tăng cường sự liên kết kinh tế, tích cực tự

do hoá và tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại đầu tư ở cấp độ khu vực và đaphương Trong các cam kết đó, vấn đề có liên quan nhiều nhất tới FDI là Hiệpđịnh khung khu vực đầu tư ASEAN (ASEAN Free Trade Area - AIA) đã đượccác Bộ trưởng kinh tế các nước ASEAN ký kết ngày 08/10/1998 tại thủ đôMalina - Philipin Đây là một bước tiến quan trọng thể hiện tiến trình hội nhậpĐTNN của các nước ASEAN, là bước tiếp tục của Hiệp định khuyến khích vàbảo hộ đầu tư năm 1987, Nghị định thư năm 1996, nhằm tạo ra khung pháp lýhoàn thiện hơn cho môi trường đầu tư của khu vực ASEAN, mở ra một cơ hội

và triển vọng tốt đẹp nhằm xây dựng ASEAN thành một khu vực tự do thươngmại và đầu tư hấp dẫn, thông thoáng có sức cuốn hút lớn đối với các nhà ĐTNNtrong và ngoài ASEAN, giảm dần và tiến tới loại bỏ những quy định về điềukiện đầu tư có thể cản trở các dòng đầu tư và sự hoạt động của các dự dán đầu tưtrong phạm vi ASEAN và bảo đảm việc thực hiện các mục tiêu trên sẽ góp phầnhướng tới tự do lưu chuyển đầu tư

Nội dung cơ bản của thoả thuận về khu vực đầu tư ASEAN gồm:

Trang 11

- Các nước tham gia Hiệp định cam kết thực hiện các chương trình hợp tácnhằm tạo ra đầu tư lớn hơn từ các nước trong và ngoài ASEAN, đó là ba chươngtrình: Chương trình Hợp tác và hỗ trợ; Chương trình Xúc tiến và tăng cườnghiểu biết và Chương trình tự do hoá.

- Các nước tham gia Hiệp định cam kết dành chế độ đối xử quốc gia và

mở cửa đầu tư tất cả các ngành nghề cho các nhà đầu tư ASEAN vào năm 2010

và cho tất cả các nhà đầu tư vào năm 2020 Ngoại trừ các ngoại lệ được quyđịnh trong Hiệp định này

- Xác định khu vực đầu tư ASEAN là khu vực hợp tác đầu tư và hoạt động

có liên quan trong ASEAN; mục đích của AIA là tạo lưu chuyển tự do hơn vềvốn, lao động lành nghề, chuyên gia và công nghệ giữa các nước thành viên

Những nguyên tắc của khu vực đầu tư ASEAN ghi trong Hiệp định AIA,gồm: Nguyên tắc bình đẳng và cùng có lợi, nguyên tắc có đi có lại, nguyên tắcđối xử tối huệ quốc và nguyên tắc đối xử quốc gia Điều 7 của Hiệp định đã ghi:

“Các nước ASEAN cam kết dành ngay lập tức cho các nhà đầu tư ASEAN sự đối xử không kém thuận lợi hơn sự đối xử dành cho các nhà đầu tư và đầu tư tương tự của nước mình” Khoản 2 Điều 7 của Hiệp định cho phép các quốc gia

thành viên đưa ra một danh mục loại trừ tạm thời và một danh mục nhạy cảmđối với bất kỳ ngành nghề hoặc biện pháp nào có tác động đến đầu tư mà quốcgia đó không thể mở cửa hoặc đối xử quốc gia

Hiệp định khung khu vực ASEAN là cơ sở pháp lý quan trọng cho việcthúc đẩy mạnh mẽ hoạt động đầu tư nội bộ và ngoài ASEAN, làm gia tăng dòngvốn, công nghệ, chuyên gia, công nhân kỹ thuật giữa các nước trong Hiệp hội.Với việc triển khai hiệp định khung về khu vực đầu tư ASEAN, nhất định luồngđầu tư vào ASEAN sẽ được tăng cường, môi trường đầu tư sẽ trở nên thông

thoáng hơn, hấp dẫn hơn, đồng thời cũng đòi hỏi sự nỗ lực của mỗi quốc gia

trong cải cách để có thể thực hiện đầy đủ và đúng đắn Hiệp định Đây là nhiệm

vụ quan trọng đối với Việt Nam trong việc tiếp tục hoàn thiện hệ thống phápluật về đầu tư trong giai đoạn hiện nay

Trang 12

1.3.2 Các biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài trong Hiệp định thương mại Việt nam – Hoa Kỳ 2000

Hiệp định giữa nước CHXHCN Việt Nam với Hợp chủng quốc Hoa Kỳ

về quan hệ thương mại (gọi tắt là Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ,viết tắt theo tiếng Anh là: BTA) là hiệp định có mức độ cam kết cao nhất màViệt Nam đã ký kết trên trường quốc tế bởi vì nó được đàm phán và ký kết trên

cơ sở các nguyên tắc cơ bản của WTO và những đòi hỏi khắt khe nhất của mộtcường quốc kinh tế hàng đầu thế giới Phát triển quan hệ đầu tư là một trongnhững nội dung quan trọng của Hiệp định này, được thể hiện trong toàn bộchương IV cùng một số phụ lục và điều khoản khác của Hiệp định

Thông qua Hiệp định này, Việt Nam cam kết từng bước dành quy chế đối

xử quốc gia cho các nhà đầu tư Hoa Kỳ trong một số lĩnh vực; loại bỏ một sốquy định của pháp luật hiện hành không còn phù hợp với hiệp định; bỏ ngay quyđịnh về cân đối xuất nhập khẩu và quy định về quản lý ngoại hối đối với hàngnhập khẩu; cho phép các nhà đầu tư Hoa Kỳ thành lập DN liên doanh hoặc DN100% vốn của mình để kinh doanh xuất nhập khẩu tất cả các hàng hoá; xoá bỏdần hạn chế tiếp cận thị trường của nhà đầu tư trong 7 ngành dịch vụ: Dịch vụchuyên ngành (pháp lý, kiểm toán, kế toán, kiến trúc tư vấn kỹ thuật, vi tính,quảng cáo, thăm dò thị trường), dịch vụ thông tin liên lạc (viễn thông giá trị giatăng, viễn thông cơ bản, điện thoại cố định, dịch vụ nghe nhìn), dịch vụ xâydựng, dịch vụ phân phối (bán buôn, bán lẻ), dịch vụ giáo dục, dịch vụ tài chính(bảo hiểm ngân hàng) và dịch vụ y tế Các nhà đầu tư Mỹ được góp vốn hoặctăng vốn tái đầu tư bằng tiền Việt Nam thu được từ hoạt động kinh doanh hợppháp

Về phía Hoa Kỳ, Hoa Kỳ cũng cam kết dành cho các nhà đầu tư Việt Nam

sự đối xử không kém thuận lợi hơn so với nước thứ ba về đầu tư Hoa Kỳ cũng

sẽ dành cho các nhà đầu tư Việt Nam bất kỳ sự ưu đãi nào cao hơn các nguyêntắc đối xử nói trên được quy định trong hệ thống pháp luật hiện hành, các hiệpđịnh quốc tế hoặc thoả thuận cụ thể với nhà đầu tư

Trang 13

Theo nhận định của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, việc phêchuẩn và thực hiện Hiệp định BTA là một yếu tố quan trọng trong cải thiện môitrường đầu tư Các DN Việt Nam sẽ có cơ hội thuận lợi trong việc xâm nhập thịthường Mỹ, một thị trường lớn nhất thế giới về nhu cầu đa dạng các chủng loạihàng hoá Chính vì vậy, đây có thể coi là nhân tố làm gia tăng luồng FDI vàoViệt Nam trong thời gian tới Tuy nhiên, nhân tố này cũng đòi hỏi phải có sựtương thích của cải cách trong hệ thống pháp luật của Việt Nam.

1.3.3 Các biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài trong khuôn khổ các quy định của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)

Việt Nam đã trở thành thành viên thứ 150 của WTO - một tổ chức kinh tếquốc tế có quy mô toàn cầu, điều chỉnh hơn 90% các hoạt động thương mại thếgiới Trở thành thành viên của tổ chức này giúp Việt Nam đánh dấu một bướcngoặt lịch sử, lịch sử của sự hội nhập thực sự, toàn diện và đầy đủ vào nền kinh

tế thế giới, tránh được những bất bình đẳng trong quan hệ thương mại, đầu tưquốc tế và có cơ hội tạo lập được thị trường xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ rộnglớn, tranh thủ được vốn và công nghệ cao, trình độ quản lý tiên tiến nhằm thựchiện mục tiêu phát triển kinh tế nhanh chóng và bền vững… Tổ chức này có một

số yêu cầu có liên quan đến FDI là:

1 Các nước muốn gia nhập WTO phải đảm bảo trong tương lai mức thuếnhập khẩu không cao hơn mức thuế đã cam kết;

2 Chỉ được bảo hộ bằng thuế, không được bảo hộ bằng các biện pháp phithuế quan;

3 Phải áp dụng quy chế tối huệ quốc cho tất cả các nước;

4 Bảo đảm thiết lập môi trường đầu tư kinh doanh bình đẳng cho các DN,không phân biệt hàng trong nước sản xuất với hàng nhập khẩu…

Trên cơ sở Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX, Bộ Chính trị Ban chấphành Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết số 07/NQ-TW, ngày 27 tháng

11 năm 2001 về hội nhập kinh tế quốc tế, khẳng định một nhiệm vụ quan trọng

Trang 14

của nước ta trong giai đoạn hiện nay là: “Đổi mới mọi mặt hoạt động kinh tế ở

trong nước ” và tăng cường hợp tác quốc tế.

Trong xu thế chung của khu vực hoá, toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới thìViệt Nam đang ở trong thế yếu so với nhiều nước Muốn tránh “tụt hậu” ngàycàng xa thì phải có bước đi thích hợp để vươn lên, phải “đi tắt, đón đầu”, giànhthế chủ động trong hợp tác kinh tế quốc tế, hợp tác đầu tư, tránh bị động, phụthuộc một chiều Chính sách, cơ chế về ĐTNN phải vừa thu hút mạnh mẽ cácnguồn vốn nước ngoài vừa phải bảo hộ đúng mức sản xuất trong nước Phải sửdụng ĐTNN như là một đòn bẩy kích thích nội lực, bảo đảm sự phát triển lâubền của nền kinh tế Tuy nhiên, trong mọi hoàn cảnh, cần quán triệt chủ trương

của Đảng ta trong đầu tư phát triển đất nước là: “Nội lực là quyết định, ngoại

lực là quan trọng”.

1.3.4 Các biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài trong khuôn khổ các cam kết của Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC)

Đại hội Đảng lần thứ IX nhận định: Châu Á - Thái Bình Dương vẫn là khuvực phát triển năng động, Trung Quốc có vai trò ngày càng lớn Sau khủnghoảng tài chính - kinh tế, nhiều nước ASEAN và Đông Á đang khôi phục đàphát triển với khả năng cạnh tranh mới Trung Quốc đã thực sự trở thành nềnkinh tế lớn trên thế giới Tình hình đó tạo thuận lợi cho chúng ta trong hợp tácphát triển kinh tế, đồng thời cũng gia tăng sức ép cạnh tranh cả trong và ngoàikhu vực Từ tháng 11 năm 1998, Việt Nam đã gia nhập Diễn đàn hợp tác khuvực Châu Á - Thái Bình Dương (Asian Pacific Economic Cooperation - APEC)gồm các nước và lãnh thổ thuộc Châu Á, Châu Mỹ, Châu Âu và Châu Đại

Dương ở ven bờ Thái Bình Dương “APEC là một diễn đàn đối thoại, không

phải là một tổ chức Do vậy, xét về tổng thể những cam kết trong khuôn khổ APEC không có tính ràng buộc cao như trong ASEAN và WTO” Các cam kết

trong APEC không bị ràng buộc như đối với các cam kết trong ASEAN vàWTO bởi vì Chương trình hành động quốc gia là mang tính tự nguyện, đơn

Trang 15

phương Tuy nhiên, chương trình này vẫn chịu sự rà soát của APEC nhằm thúcđẩy tự do hoá Các chương trình hành động đó được đề ra theo 9 nguyên tắc cơbản là: 1) Toàn diện; 2) Nhất quán; 3) Đối thoại và bình đẳng; 4) Không phânbiệt đối xử; 5) Minh bạch; 6) Giảm bảo hộ; 7) Cùng bắt đầu và liên tục hội nhập;8) Linh hoạt; 9) Hợp tác.

Hiện nay chúng ta đang cùng với các nước APEC thực hiện chương trìnhhành động quốc gia, trong đó hình thành các cam kết trên 15 lĩnh vực về thuế,phi thuế, dịch vụ, đầu tư… Đối với nước ta, thời hạn thực hiện đầy đủ các camkết về tự do hoá thương mại, đầu tư trong APEC là năm 2020

Ngoài ra, Việt Nam cũng là thành viên sáng lập Diễn đàn hợp tác Á - Âu(Asia Europe Meeting – ASEM) gồm 10 nước Châu Á và 15 nước Châu Âu (từtháng 03 năm 1996) với nhiều thoả thuận nhằm hướng tới viễn cảnh ASEM

2020, trong đó có một nội dung quan trọng là tự do hoá thương mại và đầu tưliên châu lục Theo dự kiến, rất có thể diễn đàn này sẽ phát triển thành một tổchức liên châu lục nhằm hợp tác phát triển hai khu vực giàu tiềm năng này củathế giới

Việt Nam là thành viên của tổ chức bảo đảm đầu tư đa biên MIGA(Multilateral Investment Guarantee Agency - MIGA) MIGA là một tổ chứcthuộc Ngân hàng Thế giới (World Bank - WB) Tổ chức MIGA là cơ quan bảođảm đầu tư của các nhà ĐTNN về rủi ro phi thương mại, rủi ro chiến tranh, quốchữu hoá… do các nước tiếp nhận đầu tư gây ra bằng việc bán sở hữu, thu phí đốivới nhà đầu tư Tổ chức MIGA giúp các thành viên trong việc hình thành vàhoàn thiện chính sách, pháp luật về đầu tư, đồng thời giới thiệu tiềm năng củacác quốc gia thành viên Tổ chức này cũng thực hiện các chương trình trợ giúp

kĩ thuật, tư vấn đào tạo tại chỗ về đầu tư Nhờ việc tham gia tổ chức MIGA, ViệtNam có thêm khả năng thực hiện các dự án tại vùng đang có tranh chấp về lãnhhải Bởi vậy, các nhà đầu tư được MIGA chấp nhận bảo hiểm sẽ yên tâm đầu tưvào vùng đang tranh chấp như xung quanh quần đảo Trường Sa … Việt Namcũng là thành viên của các Điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham

Trang 16

gia như: Công ước Paris năm 1883 về quyền sở hữu công nghiệp, Thoả ướcMadrid 1881 về nhãn hiệu hàng hoá …

Rõ ràng, những điểm mốc quan trọng về mở cửa của kinh tế và tự do hoáthương mại, đầu tư đối với nước ta đã và đang mở ra trước mắt với các cam kết

về sửa đổi hệ thống pháp luật nhằm thực hiện Hiệp định Thương mại Việt Nam Hoa Kỳ 2000, và với các cam kết thực hiện đầy đủ AFTA vào năm 2006, hoànthành lộ trình cắt giảm thuế quan CEPT, 2010, 2013, 2020 với cam kết thực hiệnHiệp định về khu vực đầu tư ASEAN và những cam kết khác đối với nhiều mặt,đặc biệt nhất và quan trọng nhất là cam kết sửa đổi hệ thống nội luật để phù hợpvới các quy định và yêu cầu của WTO Trong đó, phải coi việc hoàn thiện hệthống pháp luật nói chung và pháp luật về đầu tư nói riêng là nhiệm vụ bức xúcthì mới có thể thực hiện được đầy đủ các cam kết quốc tế

-Một kết quả nghiên cứu của Bộ Tư pháp cho thấy, nếu lấy tiêu chí là cáccam kết trong Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ để rà soát các văn bản

quy phạm pháp luật của Việt Nam thì: “Có gần 150 văn bản quy phạm pháp

luật đã bị các cam kết song phương đó tác động đến một cách mạnh mẽ” Trong

đó, Bộ Tư pháp đó đề nghị sửa đổi, bổ sung cho hoàn thiện là 24 văn bản (8Luật, 3 Pháp lệnh, 12 Nghị định, 1 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ) Ngoài

ra, Bộ Tư pháp cũng kiến nghị ban hành mới 39 văn bản (8 Luật, 11 Pháp lệnh,

20 Nghị định) để thi hành Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ Đó là chưa

kể đến một số lượng không nhỏ các Điều ước quốc tế cần phải tham gia trongquá trình hội nhập quốc tế Theo ý kiến của một số chuyên gia quốc tế, những gì

ta phải làm để thực thi Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ… mới chỉ đápứng được ở mức độ tương đối số công việc mà Việt Nam cần làm để thực thinghĩa vụ của một thành viên Tổ chức thương mại thế giới (WTO)

Như vậy, rõ ràng đất nước ta đang có thời cơ và vận hội mới để thu hútFDI với quy mô lớn hơn, chất lượng cao hơn, phục vụ cho mục tiêu công nghiệphoá, hiện đại hoá đất nước Trong bối cảnh đó, với sự tác động của các chế địnhpháp lý quốc tế, với những đòi hỏi của các thoả thuận song phương và đa

Trang 17

phương đã cam kết, pháp luật về đầu tư nói chung và pháp luật về FDI nói riêngcủa Việt Nam cần phải được tiếp tục sửa đổi, bổ sung những điểm còn thiết sótbất cập để hoàn thiện hơn nữa mới có thể đáp ứng được những đòi hỏi của thựctiễn hoạt động hợp tác và đầu tư, đồng thời đảm bảo tính đồng bộ và đáp ứng

yêu cầu của giai đoạn phát triển mới là: “Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế” để

phát triển nền kinh tế đất nước

1.3.5 Các biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài trong một số Hiệp định về khuyến khích và bảo hộ đầu tư giữa Chính phủ Việt Nam và nước ngoài

Mặc dù không thể hiện trực tiếp nội dung hội nhập kinh tế quốc tế nhưng

hệ thống các Hiệp định khuyến khích và Bảo hộ đầu tư được ký kết giữa Chínhphủ Việt Nam và Chính phủ các nước là một bộ phận quan trọng cấu thành hệthống pháp luật về FDI tại Việt Nam Nhằm khuyến khích hơn đầu tư nướcngoài vào Việt Nam cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình hội nhập đầu

tư, tận dụng được các ưu thế về đầu tư nước ngoài, Việt Nam đã tích cực đàmphán, ký kết các Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư song phương vớinhiều nước trên thế giới, đặc biệt kể từ sau khi Nhà nước ban hành Luật đầu tưnước ngoài tại Việt Nam lần đầu tiên năm 1987 và mạnh mẽ hơn từ năm 1995

và những năm gần đây Cho đến nay, Việt Nam đã ký kết trên dưới 50 Hiệp địnhkhuyến khích và bảo hộ đầu tư song phương với các quốc gia và vùng lãnh thổ.Việc ký kết các Hiệp định này không những khai thông quan hệ hợp tác đầu tưvới các nước ký kết mà còn khẳng định sự phát triển của quan hệ hợp tác kinh tếgiữa Việt Nam và các nước lên một tầm cao mới, cũng như tạo tiền đề chonhững quan hệ hợp tác kinh tế khác trong các khuôn khổ hợp tác đa phươngngày một phát triển thuận lợi Các Hiệp định song phương về khuyến khích vàbảo hộ đầu tư mà ta đã ký kết thường có các nội dung, cam kết chủ yếu như sau:

(1) Định nghĩa: Các khái niệm về đầu tư, công dân, công ty của nước ký

kết;

Trang 18

(2) Chế độ đối xử: Phần này tập trung chủ yếu thể hiện cam kết của hai

bên sẽ đối xử với đầu tư của công dân hoặc công ty của bên ký kết kia theonguyên tắc đối xử tối huệ quốc hay đối xử quốc gia Trong số các Hiệp định đã

ký kết, Việt Nam chỉ cam kết dành MFN cho đầu tư của công dân, công ty củanước đối tác - một nguyên tắc đã được quy định từ trước khi ban hành Luật Đầu

tư năm 2005 (Điều 20 Luật đầu tư nước ngoài) Mặt khác, phù hợp với thông lệquốc tế, Việt Nam bảo lưu các ưu đãi dành cho nhà đầu tư của nước thứ ba trongkhuôn khổ Liên minh thuế quan, Hiệp định kinh tế khu vực…Về đối xử quốcgia, trong tất cả các Hiệp định đã ký kết, Việt Nam không thừa nhận nguyên tắc

đối xử này hoặc chỉ cam kết thực hiện trên cơ sở “phù hợp với pháp luật của

mình”;

(3) Các đảm bảo về việc được phép chuyển vốn đầu tư và thu nhập hợp pháp

có được từ đầu tư tại Việt Nam về nước Các quy định này xác định quyền của nhà

đầu tư của các bên ký kết được tự do chuyển vốn đầu tư và thu nhập hợp pháp thuđược từ đầu tư về nước Mọi biện pháp tiến hành nhằm hạn chế quyền này đều bịcoi là vi phạm Hiệp định Các quy định này thường tập trung vào cơ chế đảm bảothực hiện quyền nói trên và đồng tiền được sử dụng trong quá trình chuyển vốn vàlãi đầu tư ra khỏi nước ký kết Các cam kết của Hiệp định cũng không hạn chếquyền của nước tiếp nhận đầu tư trong việc đánh một khoản thuế trên số lợi nhuậnchuyển ra nước ngoài, nếu không có quy định nào khác trong Hiệp định về tránhđánh thuế hai lần giữa Việt Nam và nước ký kết kia;

(4) Các quy định về quốc hữu hóa, trưng thu trưng dụng và bồi thường:

Việt Nam cam kết trong các Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư songphương việc không quốc hữu hóa đầu tư và các tài sản của nhà đầu tư của bên

ký kết kia trên lãnh thổ Việt Nam Trong trường hợp buộc phải trưng thu, trưngdụng một phần hoặc toàn bộ những tài sản này là vì lợi ích công cộng, vì lý do

an ninh quốc phòng Nhà nước CHXHCN Việt Nam sẽ bồi thường một cách thỏađáng cho nhà đầu tư nước ngoài Trong một số Hiệp định đã ký kết, Nhà nước tacòn cụ thể hóa một số những trường hợp, các biện pháp cản trở hoặc làm ảnh

Trang 19

hưởng đến quyền tài sản của nhà đầu tư nước ngoài cũng bị coi là quốc hữu hóa

và cũng phải bồi thường Ví dụ: Việc thay đổi chính sách dẫn đến tổn hại về tàisản hoặc ảnh hưởng đến quyền định đoạt đối với đầu tư của nhà đầu tư nướcngoài thì Nhà nước ta cũng phải có biện pháp bồi thường thỏa đáng;

(5) Các biện pháp bảo đảm đầu tư khác: Các bên đưa vào mục này những

biện pháp bảo đảm đầu tư khác tùy theo thỏa thuận và khả năng của các bên;

(6) Các quy định về Luật áp dụng và giải quyết tranh chấp: Đối với tranh

chấp giữa các bên ký kết, ta thường thỏa thuận biện pháp sử dụng trọng tàiAdhoc Đối với tranh chấp giữa Nhà nước với nhà đầu tư thì tùy theo tính chấtcủa tranh chấp mà lựa chọn hình thức giải quyết phù hợp Nhà đầu tư có quyềnđưa vụ tranh chấp với cơ quan Nhà nước ra giải quyết tại Tòa hành chính, trọngtài UNCITRAL, ICSID hoặc bất kỳ cơ chế giải quyết tranh chấp nào đã thỏathuận trước đó

Trang 20

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM

VỀ CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM VÀ KHUYẾN KHÍCH ĐẦU

TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI

2.1 THỰC TRẠNG CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ CÁC BIỆN PHÁPBẢO ĐẢM ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM

2.1.1 Bảo đảm quyền sở hữu tài sản hợp pháp

Bảo đảm quyền sở hữu về tài sản hợp pháp khác của nhà ĐTNN là đảmbảo an toàn về tài sản cho nhà đầu tư khi tiến hành hoạt động đầu tư tại ViệtNam Đây là một trong những nội dung quan trọng trong chính sách bảo đảmđầu tư của Việt Nam, là điều kiện tiền đề để nhà đầu tư tiến hành hoạt động đầu

tư Đảm bảo này thông thường được quy định ở những điều khoản đầu tiên củacác đạo Luật về ĐTNN cũng như trong các Hiệp định đầu tư song phương haycác hiệp định đa phương mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia Ở Việt Nam,việc bảo đảm về tài sản cho các nhà đầu tư đã trở thành một nguyên tắc Hiến

định được ghi nhận tại Điều 25 Hiến pháp 1992: "Nhà nước Cộng hoà xã hội

Chủ nghĩa Việt Nam đảm bảo quyền sở hữu hợp pháp đối với vốn, tài sản và các quyền lợi khác của các tổ chức, cá nhân nước ngoài DN có vốn đầu tư nước ngoài không bị quốc hữu hóa" Tiếp đó, khoản 1 Điều 6 Luật Đầu tư năm

2005 cũng khẳng định lại điều này: “Vốn đầu tư và tài sản hợp pháp của nhà

đầu tư không bị quốc hữu hóa, không bị tịch thu bằng biện pháp hành chính”.

Với quy định này, Nhà nước Việt Nam bảo đảm cho các nhà đầu tư có quyền sởhữu đối với phần vốn và tài sản mà họ đã vào đầu tư, có quyền quyết định sửdụng như thế nào để đạt hiệu quả kinh doanh cao nhất Điều 9 Luật Đầu tư năm

2005 còn quy định:

"Sau khi thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước Việt Nam,

nhà ĐTNN được chuyển ra nước ngoài các khoản sau đây:

a) Lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh;

Trang 21

b) Những khoản tiền trả cho việc cung cấp kỹ thuật, dịch vụ, sở hữu trớ tuệ;

c) Tiền gốc và lói cỏc khoản vay nước ngoài;

d) Vốn đầu tư, cỏc khoản thanh lý đầu tư;

đ) Cỏc khoản tiền và tài sản khỏc thuộc sở hữu hợp phỏp của nhà đầu tư”

Và Khoản 2 Điều này cũng quy định: “Người nước ngoài làm việc tại Việt

Nam cho cỏc dự ỏn đầu tư được chuyển ra nước ngoài thu nhập hợp phỏp của mỡnh sau khi thực hiện đầy đủ cỏc nghĩa vụ tài chớnh đối với Nhà nước Việt Nam.

Những quy định đó gúp phần giỏn tiếp thể hiện việc bảo đảm quyền sởhữu tài sản hợp phỏp của cỏc nhà đầu tư, điều đú sẽ góp phần hoàn thiện hơn chế

định bảo đảm quyền sở hữu đối với vốn và tài sản của nhà ĐTNN tại Việt Nam

Như vậy, những quy định phỏp luật núi trờn đó thể hiện tư tưởng nhấtquỏn của Nhà nước Việt Nam trong việc bảo đảm cho cỏc nhà ĐTNN về sở hữuhợp phỏp cho cỏc nhà đầu tư và cỏc quyền và lợi ớch cỏ nhõn khỏc Điều này làcần thiết và hoàn toàn phự hợp với thụng lệ quốc tế, phự hợp với xu thế bảo đảmđầu tư chung của cỏc nước

2.1.2 Bảo đảm đối xử bỡnh đẳng giữa cỏc nhà đầu tư

Đõy là một biện phỏp bảo đảm hết sức quan trọng, mang tớnh nguyờn tắc,bao trựm lờn cỏc biện phỏp khỏc Thực tiễn cũng cho thấy, cỏc nhà đầu tư đến từcỏc quốc gia với cỏc nền kinh tế khỏc nhau nờn họ rất quan tõm đến việc Chớnhphủ Việt Nam cú bảo đảm đối xử cụng bằng và thỏa đỏng với họ khụng, sự đối

xử đú sẽ tạo ra niềm tin và sự an tõm đối với nhà đầu tư và ngược lại

Vấn đề dối xử cụng bằng và thỏa đỏng đối với nhà ĐTNN tại Việt Nam đótrở thành một chớnh sỏch nhất quỏn, xuyờn suốt trong cỏc đạo luật, cụ thể: Điều

22 Hiến phỏp 1992 quy định về nguyờn tắc bỡnh đẳng trong kinh doanh: "Cỏc cơ

sở sản xuất thuộc mọi thành phần kinh tế phải thực hiện đầy đủ cỏc nghĩa vụ đối với Nhà nước, đều bỡnh đẳng trước phỏp luật, vốn và tài sản hợp phỏ được Nhà nước bảo hộ ".

Trang 22

Cụ thể hóa Hiến pháp 1992, Luật Đầu tư năm 2005 đó quy định tại khoản

2 Điều 4: “Nhà nước đối xử bình đẳng trước pháp luật đối với các nhà đầu tư

thuộc mọi thành phần kinh tế, giữa đầu tư trong nước và ĐTNN; khuyến khích

và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tư” Hay cụ thể hơn tại Điều 10

cũng quy định: “Trong quá trình đầu tư tại Việt Nam, nhà đầu tư được áp dụng

thống nhất giá, phí, lệ phí đối với hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước kiểm soát”.

Chính sách này cũng được gián tiếp qua các quy định của Nghị định108/2006/NĐ-CP Theo Điều 3 của Nghị định 108, “trong trường hợp Điều ướcquốc tế mà nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia cóquy định khác với quy định tại Nghị định này và các văn bản quy phạm pháp luậtkhác thì áp dụng theo quy định của Điều ước quốc tế đó " Qua đó, ta có thể hiểu:Bảo đảm đối xử công bằng và thỏa đáng nghĩa là mọi nhà ĐTNN khi tiến hànhhoạt động đầu tư tại Việt Nam đều được đối xử một cách bình đẳng trước pháp luậtViệt Nam Họ đều được hưởng các quyền lợi và phải gánh chịu các nghĩa vụ pháp

lý mà không có sự phân biệt bởi lý do chính trị, kinh tế, văn hóa… hay bất kỳ một

lý do nào khác (trừ trường hợp Điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc thamgia có quy định khác thì sẽ thực hiện theo các cam kết được ghi nhận trong các hiệpđịnh đó Đây là một nguyên tắc quốc tế được hầu hết các quốc gia tuân thủ) Cácnhà đầu tư còn có cơ hội ngang nhau trong việc lựa chọn các phương thức, hìnhthức đầu tư, lĩnh vực dự án, cách thức tổ chức sản xuất kinh doanh, được chuyển

lợi nhuận ra nước ngoài… Bên cạnh đó xuất phát từ lý do độc lập chủ quyền, an

ninh quốc phòng, lợi ích quốc gia, phát triển kinh tế bền vững… nên vẫn có nhữngngoại lệ riêng trong đối xử với nhà đầu tư trong và ngoài nước Tuy nhiên, về cơbản, pháp luật đầu tư của Việt Nam đó hoàn thiện theo hướng nhất thể hóa tạo ramột khung pháp lý thống nhất cho cả đầu tư trong nước và ngoài nước nhằm xâydựng một sân chơi bình đẳng cho các nhà đầu tư

Tóm lại, đây là một trong những biện pháp bảo đảm cơ bản và cần thiếtcho hoạt động đầu tư Nếu thực hiện tốt các nguyên tắc cạnh tranh lành mạnh,không phân biệt đối xử trong nội dung của biện pháp này sẽ làm cho các nhà

Trang 23

đầu tư tin tưởng vào chính sách pháp luật của Việt Nam, đồng thời phát huy tối

đa hiệu quả sản xuất kinh doanh của các nhà đầu tư tại Việt Nam, góp phần thúcđẩy sự nghiệp CNH - HĐH đất nước

2.1.3 Bảo đảm cơ chế giải quyết tranh chấp phát sinh từ hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài

Tranh chấp phát sinh trong kinh doanh là do nhiều nguyên nhân chủ quan

và khách quan Đối với các nước tiếp nhận đầu tư cần phải có những biện phápbảo đảm giải quyết tranh chấp trong đầu tư một cách thỏa đáng, sao cho vừa bảo

vệ quyền lợi chính đáng của các bên đồng thời tạo điều kiện cho các nhà đầu tưyên tâm thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh Để thực hiện điều này, cầnphải có một cơ chế giải quyết tranh chấp linh hoạt, đảm bảo lợi ích các bên chủthể sẽ là yếu tố thúc đẩy việc thu hút FDI trên cơ sở pháp lý là các văn bản phápluật và các tài liệu pháp lý khác như: Giấy phép đầu tư, hợp đồng, điều lệ DN…

Điều 12 Luật Đầu tư năm 2005 quy định rõ: “Tranh chấp liên quan đến

hoạt động đầu tư tại Việt Nam được giải quyết thông qua thương lượng, hoà giải, Trọng tài hoặc Tòa án theo quy định của pháp luật” Theo quy định này

các nhà đầu tư có thể lựa chọn những cách thức khác nhau, tạo ra sự chủ động

và công bằng cho nhà đầu tư khi có tranh chấp xảy ra Đây là cách thức giảiquyết tranh chấp luôn được đặt ra trước tiên do tính linh hoạt, mềm dẻo và phổbiến của nó, vừa đỡ mất thời gian và tiền bạc, vừa đảm bảo được bí mật trongkinh doanh Sự khác biệt của chủ thể tranh chấp cũng dẫn đến sự khác biệt về cơquan giải quyết tranh chấp Cụ thể khoản 2, 3, 4 Điều 12 quy định:

“Tranh chấp mà một bên là nhà ĐTNN hoặc DN có vốn ĐTNN hoặc tranh chấp giữa các nhà ĐTNN với nhau được giải quyết thông qua một trong những cơ quan, tổ chức sau đây:

- Toà án Việt Nam;

- Trọng tài Việt Nam;

- Trọng tài nước ngoài;

- Trọng tài quốc tế;

Trang 24

- Trọng tài do cỏc bờn tranh chấp thoả thuận thành lập”.

Ngoài ra, “tranh chấp giữa nhà ĐTNN với cơ quan quản lý nhà nước Việt Nam liờn quan đến hoạt động đầu tư trờn lónh thổ Việt Nam được giải quyết thụng qua Trọng tài hoặc Toà ỏn Việt Nam, trừ trường hợp cú thỏa thuận khỏc trong hợp đồng được ký giữa đại diện cơ quan nhà nước cú thẩm quyền với nhà ĐTNN hoặc trong Điều ước quốc tế mà Cộng hũa xó hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viờn”.

Những quy định trờn đó tạo nờn một cơ chế giải quyết khỏ hợp lý và thốngnhất trong đầu tư, tạo sự tin tưởng cho cỏc bờn đương sự về một cơ chế giảiquyết tranh chấp thỏa đỏng của phỏp luật Việt Nam khi xảy ra tranh chấp

2.1.4 Bảo đảm việc chuyển lợi nhuận và thu nhập hợp phỏp khỏc của nhà đầu tư ra nước ngoài

Bất kỳ một nhà đầu tư nào khi thực hiện đầu tư vào một nền kinh tế khỏcđều đặt ra yờu cầu là phải được chuyển vốn, lợi nhuận và cỏc tài sản hợp phỏpkhỏc của mỡnh ra nước ngoài một cỏch thuận tiện Đõy là nhu cầu tất yếu nhằmđảm bảo cho việc chu chuyển vốn vỡ mục đớch tỏi đầu tư hoặc mục đớch khỏccủa nhà đầu tư nước ngoài Ở Việt Nam, biện phỏp bảo đảm này đó xuất hiện từLuật ĐTNN 1987, được hoàn thiện ở Luật ĐTNN 1996 và được kế thừa tại LuậtĐTNN 2000 và được hoàn thiện ở Luật đầu tư năm 2005 Cụ thể, khoản 1 Điều

9 Luật Đầu tư năm 2005 quy định cỏc nhà ĐTNN đầu tư vào Việt Nam đượcchuyển ra nước ngoài:

- Lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh;

- Những khoản tiền trả cho việc cung cấp kỹ thuật, dịch vụ, sở hữu trớ tuệ;

- Tiền gốc và lói cỏc khoản vay nước ngoài;

- Vốn đầu tư, cỏc khoản thanh lý đầu tư;

- Cỏc khoản tiền và tài sản khỏc thuộc sở hữu hợp phỏp của nhà đầu tư

Ngoài ra, khoản 2 Điều 9 Luật Đầu tư năm 2005 cũng quy định: "Người

nước ngoài làm việc tại Việt Nam cho cỏc dự ỏn đầu tư được chuyển ra nước ngoài thu nhập hợp phỏp của mỡnh sau khi thực hiện đầy đủ cỏc nghĩa vụ tài

Trang 25

chính đối với Nhà nước Việt Nam” Quy định như vậy là hoàn toàn phù hợp với

tinh thần chung của pháp luật đầu tư Việt Nam, tạo sự thông thoáng thu hút đầu

tư, đồng thời thu hút lao động nước ngoài làm những công việc đòi hỏi trình độ

kĩ thuật, công nghệ, quản lý cao mà Việt Nam chưa đáp ứng được

Tóm lại, với các quy định pháp luật về bảo đảm cho nhà ĐTNN chuyểnvốn, lợi nhuận và các tài sản hợp pháp khác ra nước ngoài không những tạo điềukiện cho nhà ĐTNN linh hoạt trong việc chu chuyển vốn mà còn là một bảo đảmpháp lý quan trọng để nhà đầu tư quyết định đầu tư vào Việt Nam

2.1.5 Bảo đảm quyền lợi của nhà đầu tư khi có những thay đổi về chính sách pháp luật

Có thể khẳng định rằng, Luật Đầu tư năm 2005 và Nghị Định108/2006/NĐ-CP của Chính phủ đã thể hiện một bước tiến bộ trong chính sách

thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài Luật sử dụng nguyên tắc không hồi tố để

đảm bảo quyền lợi cho nhà đầu tư Điều 11 Luật Đầu tư năm 2005 quy định:

“Bảo đảm đầu tư trong trường hợp thay đổi pháp luật, chính sách” như sa:;

1 Trường hợp pháp luật, chính sách mới được ban hành có các quyền lợi

và ưu đãi cao hơn so với quyền lợi, ưu đãi mà nhà đầu tư đã được hưởng trước

đó thì nhà đầu tư được hưởng các quyền lợi, ưu đãi theo quy định mới kể từ ngày pháp luật, chính sách mới đó có hiệu lực

2 Trường hợp pháp luật, chính sách mới ban hành làm ảnh hưởng bất lợi đến lợi ích hợp pháp mà nhà đầu tư đã được hưởng trước khi quy định của pháp luật, chính sách đó có hiệu lực thì nhà đầu tư được bảo đảm hưởng các ưu đãi như quy định tại Giấy chứng nhận đầu tư hoặc được giải quyết bằng một, một số hoặc các biện pháp sau đây:

- Tiếp tục hưởng các quyền lợi, ưu đãi;

- Được trừ thiệt hại vào thu nhập chịu thuế;

- Được điều chỉnh mục tiêu hoạt động của dự án;

- Được xem xét bồi thường trong một số trường hợp cần thiết.”

Trang 26

Những quy định mang tính nguyên tắc này đã thực sự tạo ra cho nhà đầu

tư sự tin tưởng, an tâm hơn về quyền lợi của họ được bảo đảm khi có sự thay đổicủa pháp luật, nhất là khi ở Việt Nam, chưa xây dựng được một khung pháp lýthật sự đồng bộ và ổn định và lâu dài

2.1.6 Những biện pháp bảo đảm đầu tư trực tiếp nước ngoài khác

Bên cạnh những biện pháp bảo đảm đầu tư trực tiếp nói trên, pháp luậtViệt Nam cũng có những quy định nhằm bảo đảm quyền sở hữu của nhà ĐTNNđối với các quyền lợi khác như:

- Nhà nước b¶o hộ quyền sở hữu trí tuệ, trong hoạt động đầu tư; bảo đảm

lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư và “ bảo đảm lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư

trong việc chuyển giao công nghệ tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về

sở hữu trí tuệ và các quy định khác của pháp luật có liên quan” (Điều7- Luật Đầu tư năm 2005) và đã được cụ thể hóa hơn trong Luật Chuyển giao công nghệ

năm 2006 và Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 Các quy định này đã tạo ra các điềukiện mở mà ở đó các nhà đầu tư nước ngoài hoàn toàn tin tưởng an tâm đối vớimọi vấn đề có liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp (SHCN) và hoạt độngchuyển giao công nghệ (CGCN) tại Việt Nam Pháp luật Việt Nam bảo đảmkhông để có sự xâm phạm nào đến các quyền này nếu như DN thực hiện việcđăng kí kinh doanh với cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam QuyềnSHCN và CGCN này không chỉ được ghi nhận trong các đạo luật trong nước màcòn được bảo hộ bởi các Điều ước quốc tế mà Việt Nam đã kí kết hoặc tham gianhư: Công ước Paris 1883 về quyền SHCN; Thỏa ước Madrid năm 1881 vềnhãn hiệu hàng hóa…

- Để phù hợp với các quy định trong các Điều ước quốc tế mà Cộng hòa xãhội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, Nhà nước bảo đảm thực hiện đối với nhàđầu tư nước ngoài lộ trình mở cửa thị trường đầu tư, đồng thời không hạn chế,bắt buộc các nhà đầu tư phải thực hiện một số hành vi như quy định tại Điều 8Luật Đầu tư năm 2005:

“1 Mở cửa thị trường đầu tư phù hợp với lộ trình đã cam kết;

Trang 27

2 Không bắt buộc nhà đầu tư phải thực hiện các yêu cầu sau đây:

“a) Ưu tiên mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ trong nước hoặc phải mua hàng hóa, dịch vụ từ nhà sản xuất hoặc cung ứng dịch vụ nhất định trong nước;

b) Xuất khẩu hàng hóa hoặc xuất khẩu dịch vụ đạt một tỷ lệ nhất định; hạn chế số lượng, giá trị, loại hàng hóa và dịch vụ xuất khẩu hoặc sản xuất, cung ứng trong nước;

c) Nhập khẩu hàng hóa với số lượng và giá trị tương ứng với số lượng và giá trị hàng hóa xuất khẩu hoặc phải tự cân đối ngoại tệ từ nguồn xuất khẩu để đáp ứng nhu cầu nhập khẩu;

d) Đạt được tỷ lệ nội địa hóa nhất định trong hàng hóa sản xuất;

đ) Đạt được một mức độ nhất định hoặc giá trị nhất định trong hoạt động nghiên cứu và phát triển ở trong nước;

e) Cung cấp hàng hóa, dịch vụ tại một địa điểm cụ thể ở trong nước hoặc nước ngoài;

g) Đặt trụ sở chính tại một địa điểm cụ thể” (Điều 8 Luật Đầu tư năm 2005).

Như vậy, bên cạnh các cam kết không xâm phạm đến các quyền và lợi íchhợp pháp khác của các nhà ĐTNN, Nhà nước Việt Nam còn cam kết thực hiệnđúng trách nhiệm, nghĩa vụ trong các thỏa thuận của mình về việc tiến hành mởcửa thị trường nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho các nhà đầu tư trongquá trình đầu tư tại Việt Nam Bên cạnh đó, Nhà nước cũng cam kết hỗ trợ nhàĐTNN một số hoạt động khi tiến hành đầu tư như hỗ trợ cân đối ngoại tệ đểthực hiện nhập khẩu hàng hóa

Ngoài ra, với những biện pháp bảo đảm đầu tư cụ thể, Nhà nước Việt Nam

đã dành cho các nhà ĐTNN một quyền rất quan trọng trong kinh doanh, đóchính là quyền tự do kinh doanh Đây là tiêu chí quan trọng để nhà ĐTNN lựachọn có đầu tư hay không Tuy nhiên, để thực hiện đuợc quyền tự do kinh doanhnày, các nhà ĐTNN cần một sự bảo đảm từ phía nước tiếp nhận đầu tư về việckhông can thiệp sâu vào quá trình triển khai dự án của các nhà ĐTNN Cụ thể

Trang 28

hóa tinh thần này, Điều 8 Luật Đầu tư năm 2005 đã thể hiện được rõ nét sự đảmbảo này từ phía nhà nước Việt Nam

- Bảo đảm được tự do trong việc lựa chọn lĩnh vực sản xuất kinh doanh Pháp luật Việt Nam bảo đảm cho nhà ĐTNN được tự do lựa chọn lĩnh vựcsản xuất kinh doanh Điều này đã trở thành một nguyên tắc Hiến định được ghinhận tại Điều 21 Hiến pháp 1992 và được cụ thể hóa tại khoản 1 Điều 13 Luật

Đầu tư năm 2005 như sau: các nhà đầu tư được “lựa chọn lĩnh vực đầu tư, hình

thức đầu tư, phương thức huy động vốn, địa bàn, quy mô đầu tư, đối tác đầu tư” Quy định này đã tạo điều kiện đảm bảo cho các nhà ĐTNN có quyền tự

quyết định lựa chọn ngành nghề và lĩnh vực đầu tư cũng như phương thức vàhình thức đầu tư phù hợp nhất với mình Bên cạnh đó, Luật Đầu tư năm 2005còn quy định những lĩnh vực và địa bàn đầu tư được Nhà nước khuyến khích vớicác chính sách pháp luật ưu đãi nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho cácnhà đầu tư khi tiến hành hoạt động đầu tư

Như vậy, với các quy định trên, pháp luật về đầu tư tại Việt Nam đã mởrộng lĩnh vực đầu tư, làm tăng tối đa khả năng lựa chọn của nhà đầu tư trước khiquyết định đầu tư vào lĩnh vực cụ thể của nền kinh tế

2.2 THỰC TRẠNG CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ CÁC BIỆN PHÁP

KHUYẾN KHÍCH ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM

Các biện pháp khuyến khích đầu tư có tác động trực tiếp và mạnh mẽ đếnhoạt động thu hút đầu tư vào trong nước Mục đích của việc quy định các biệnpháp này là nhằm tăng tính hấp dẫn của pháp luật đầu tư, đồng thời nâng cao sứccạnh tranh trong thu hút đầu tư của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới

Điều 25 Hiến pháp 1992 quy định: "Nhà nước khuyến khích các tổ chức,

cá nhân đầu tư vốn, công nghệ vào Việt Nam phù hợp với pháp luật Việt Nam, pháp luật và thông lệ quốc tế Như vậy, khuyến khích ĐTNN có định hướng là

một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta nhằm mang lại hiệu quả lâu dài vàtích cực đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Các biện phápkhuyến khích đầu tư được xây dựng để thu hút, định hướng cho các nhà ĐTNN

Trang 29

đầu tư vào những vùng, ngành nghề nhất định và những dự án lớn phù hợp

với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và phù hợp với định hướngphát triển kinh tế của các ngành, các địa phương Các biện pháp khuyến khích

cơ bản trong chính sách pháp luật hiện hành của nước ta gồm:

2.2.1.Ưu đãi về tài chính

a Thuế thu nhập DN.

Đối với thuế thu nhập DN, theo các quy định về thuế trước đây, giữa DN

có vốn đầu tư nước ngoài và DN trong nước có sự phân biệt về thuế suất Trừnhững trường hợp được khuyến khích đầu tư, các DN có vốn đầu tư nước ngoàiđược hưởng mức thuế suất thuế thu nhập DN là 25%, trong khi đó, các DNtrong nước luôn phải chịu mức thuế này với thuế suất là 32% Tuy nhiên, để đẩymạnh khuyến khích đầu tư trong nước và xoá bỏ dần dần khoảng cách giữa các

DN thuộc mọi thành phần kinh tế, Nghị định số 164/2003/NĐ_CP của Chínhphủ quy định chi tiết thi hành Luật thuế thu nhập DN đã khẳng định việc ápdụng chung một mức thuế suất thu nhập DN là 28%, không phân biệt DN cóvốn đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài Việc áp dụng mức thuế này bắt đầuthực hiện từ ngày 01/01/2004

Một số địa bàn, lĩnh vực đầu tư được gọi là địa bàn, lĩnh vực khuyếnkhích đầu tư (Điều 27, 28 Luật đầu tư năm 2005), nếu các nhà ĐTNN tiến hànhđầu tư vào đó thì sẽ được hưởng những ưu đãi về thuế theo quy định của Luậtthuế thu nhập DN (Điều 17) Cụ thể, việc miễn thuế, giảm thuế cho dự án đầu tưthành lập cơ sở kinh doanh, hợp tác xã, cơ sở kinh doanh di chuyển địa điểmđược thực hiện như sau:

- Dự án đầu tư thành lập cơ sở kinh doanh mới thuộc ngành nghề, lĩnhvực , địa bàn khuyến khích đầu tư và cơ sở kinh doanh di chuyển địa điểm theoquy hoạch, cơ sở kinh doanh di chuyển đến địa bàn khuyến khích đầu tư đượcmiễn thuế tối đa là bốn năm, kể từ khi có thu nhập chịu thuế và giảm 50% sốthuế phải nộp tối đa là chín năm tiếp theo

Trang 30

Ngoài ra đối với các dự án đầu tư thành lập cơ sở kinh doanh đầu tư xâydựng dây chuyền sản xuất mới, mở rộng quy mô, đổi mới công nghệ, cải thiệnmôi trường sinh thái, nâng cao năng lực sản xuất được miễn thuế thu nhập DNcho phần thu nhập tăng thêm do đầu tư mang lại tối đa là bốn năm và giảm 50%

số thuế phải nộp tối đa là bảy năm tiếp theo.Luật thuế thu nhập DN còn quy địnhmiễn thuế thu nhập DN cho nhà đầu tư góp vốn bằng bằng sáng chế, bí quyết kĩthuật, quy trình công nghệ, dịch vụ kĩ thuật; giảm thuế thu nhập DN cho phầnthu nhập từ hoạt động chuyển nhượng giá trị phần vốn của nhà đầu tư nướcngoài cho DN Việt Nam theo quy định của Chính phủ

Nghị định số 164/2003/NĐ-CP quy định chi tiết Luật thuế thu nhập DN

và Nghị định số 152/2004/NĐ-CP sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số

164, quy định một số ưu đãi cụ thể về thuế thu nhập DN như sau:

- Đối với các khu kinh tế, các dự án đặc biệt khuyến khích đầu tư do Thủtướng Chính phủ quyết định mức thuế suất ưu đãi và thời gian miễn thuế, giảmthuế thu nhập DN nhưng tối đa không quá 04 năm miễn thuế, kể từ khi có thunhập chịu thuế và giảm 50% số thuế phải nộp cho 09 năm tiếp theo

- Cơ sở kinh doanh mới thành lập từ dự án đặc biệt khuyến khích đầu tư;

cơ sở khám chữa bệnh, giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học có vốn đầu tưnước ngoài mới thành lập được áp dụng thuế suất ưu đãi là 10% trong 15 năm,

kể từ khi bắt đầu hoạt động kinh doanh, được miễn thuế trong 4 năm, kể từ khi

có thu nhập chịu thuế và giảm 50% số thuế phải nộp trong 9 năm tiếp theo.Trường hợp cần đặc biệt khuyến khích cao hơn Bộ tài chính trình Thủ tướngChính phủ quyết định áp dụng thuế suất ưu đãi 10% trong suốt thời gian thựchiện dự án

- Miễn giảm thuế đối với các cơ sở kinh doanh đầu tư xây dựng dâychuyền sản xuất mới, mở rộng quy mô, đổi mới công nghệ, cải thiện môi trườngsinh thái, nâng cao năng lực sản xuất được miễn, giảm thuế cho phần thu nhậptăng thêm do đầu tư này mang lại

- Miễn, giảm thuế đối với các dự án kinh doanh hàng xuất khẩu

Trang 31

- Cơ sở kinh doanh mới thành lập từ dự án đầu tư thực hiện tại KCN,KCX được miễn giảm thuế như sau:

+ Được miễn thuế 02 năm, kể từ khi có thu nhập chịu thuế và giảm 50%

số thuế phải nộp cho 06 năm tiếp theo đối với cơ sở dịch vụ mới thành lập từ dự

án đầu tư thực hiện trong khu công nghiệp

+ Được miễn thuế 03 năm, kể từ khi có thu nhập chịu thuế và giảm 50%

số thuế phải nộp cho 07 năm tiếp theo đối với cơ sở dịch vụ mới thành lập từ dự

án đầu tư thực hiện trong khu chế xuất, cơ sở sản xuất mới thành lập từ dự ánđầu tư thực hiện trong khu công nghiệp;

+ Được miễn thuế 04 năm, kể từ khi có thu nhập chịu thuế và giảm 50%

số thuế phải nộp cho 07 năm tiếp theo đối với cơ sở kinh doanh phát triển hạtầng mới thành lập từ dự án đầu tư phát triển hạ tầng khu công nghiệp, khu chếxuất; DN chế xuất trong lĩnh vực sản xuất không phân biệt trong hay ngoài khuchế xuất

b Thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài

Trước đây, theo quy định của Luật khuyến khích đầu tư trong nước, ngườinước ngoài thường trú tại Việt Nam khi chuyển thu nhập ra nước ngoài phải nộpmột khoản thuế bằng 5% lợi nhuận chuyển ra nước ngoài Đối với cácdự án đầu

tư với nguồn vốn nước ngoài, các nhà đầu tư khi tiến hành chuyển lợi nhuận ranước ngoài cũng có nghĩa vụ nộp thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài với cácmức thuế suất khác nhau Tuy nhiên, theo Thông tư số 26/2004/TT-BTC của Bộtài chính hướng dẫn thực hiện quy định bỏ thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài,

từ 01/01/2004, thu nhập (Bao gồm cả số thuế thu nhập DN đã được hoàn trả cho

số lợi nhuận dùng để tái đầu tư và thu nhập do chuyển nhượng vốn, mua cổphần) của nhà đầu tư nước ngoài và người nước ngoài thường trú ở Việt Namđầu tư theo Luật khuyến khích đầu tư trong nước khi chuyển ra nước ngoàikhông phải nộp thuế Thậm chí, ngay cả lợi nhuận phát sinh trước ngày31/12/2003 chuyển ra nước ngoài sau ngày 01/01/2004 cũng không bị đánhthuế

Trang 32

c Thuế xuất nhập khẩu

Trước đây, theo quy định của Luật thuế xuất nhập khẩu ngày 26/12/1991(sửa đổi, bổ sung ngày 20/5/1998) và các văn bản hướng dẫn thi hành (Nghịđịnh số 54/1993/NĐ-CP ngày 28/8/1993 hướng dẫn chi tiết luật thuế xuất nhậpkhẩu năm 1993; Nghị định số 94/1998/NĐ-CP ngày 17/11/1998 sửa đổi, bổsung Nghị định số 54/CP; Thông tư của Bộ tài chính số 87/2004/TT-BTC ngày31/8/2004 hướng dẫn thi hành thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu) thì hầu hết cáchàng hoá, máy móc phục vụ cho các dự án ĐTNN đều nằm trong diện được xétmiễn, giảm thuế xuất nhập khẩu

Hiện nay, theo quy định của Luật đầu tư năm 2005, nhà ĐTNN đượcmiễn giảm thuế nhập khẩu đối với hàng hoá bao gồm các thiết bị, máy móc, vật

tư, phương tiện vận tải và hàng hoá khác để thực hiện dự án đầu tư tại Việt Nam(khoản 3 Điều 33)

d Thuế giá trị gia tăng

Những ưu đãi về thuế giá trị gia tăng cũng đã được quy định thành hệthống trong các văn bản về thuế giá trị gia tăng (Luật thuế Giá trị gia tăng ngày10/5/1997 (sửa đổi, bổ sung ngày 17/6/2003); Nghị định số 158/2003/NĐ-CPngày 10/12/2003 quy định chi tiết thi hành Luật thuế giá trị gia tăng (sửa đổi);Nghị định số 148/2004/NĐ-CP ngày 23/7/2004 sửa đổi, bổ sung Nghị định số158/2003/NĐ-CP) Nhìn chung, Nhà nước Việt Nam chủ trương miễn giảm thuếgiá trị gia tăng đối với một số hàng hoá, hoạt động phục vụ đầu tư nhất định,như máy móc, thiết bị chuyên dùng trong nước chưa sản xuất được; hoạt độngchuyển giao công nghệ Bên cạnh đó, đối với một số hàng hoá liên quan trựctiếp đến đầu tư như hàng hoá xuất khẩu cũng được xem xét miễn thuế hoặc chỉ

áp dụng mức thuế xuất bằng 0%

e Một số ưu đãi tài chính khác

Ngoài những ưu đãi trong nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước Việt Nam

kể trên, dự án có vốn đầu tư nước ngoài còn nhận được một số ưu đãi khác liênquan đến vấn đề về chuyển lỗ kinh doanh, khấu hao tài sản

Trang 33

Trong quá trình hoạt động, nhà đầu tư sau khi đã quyết toán thuế đối với

có quan thuế mà bị lỗ thì được chuyển lỗ sang những năm sau; lỗ này được trừvào thu nhập chịu thuế thu nhập DN Tuy nhiên, việc chuyển lỗ này không đượcthực hiện quá 5 năm (Điều 34 Luật đầu tư năm 2005) Các nhà đầu tư có thểthực hiện chuyển lỗ theo các phương pháp chuyển lỗ dàn đều (tỉ lệu 20%/năm)hoặc chuyển lỗ liên tục

Đối với vấn đề trích khấu hao tài sản cố định, Nhà nước Việt Nam chophép các nhà ĐTNN được chủ động quy định tỉ lệ khấu hao tài sản cố định (là tỉ

lệ phần trăm giữa số tiền khấu hao hàng năm so với nguyên giá tài sản cố định)nhưng không vượt khung tỉ lệ tối đa theo quy định của Bộ tài chính Trong quátrình trích khấu hao tài sản cố định, do những yếu tố khách quan cần thực hiện tỉ

lệ khấu hao vượt khung tối đa nêu trên, các nhà ĐTNN cần báo cáo Bộ tài chính,nếu xem xét thấy hợp lý Bộ tài chính sẽ chấp nhận tỉ lệ trích khấu hao này Nhưvậy, trong vấn đề trích khấu hao tài sản cố định, Nhà nước Việt Nam cũng đãdành những ưu đãi nhất định cho các dự án có vốn đầu tư nước ngoài nhằmmang lại lợi ích cho các nhà đầu tư trong quá trình thực hiện dự án đầu tư tạiViệt Nam Về vấn đề khấu hao tài sản cố định, Luật đầu tư năm 2005 quy định

tại Điều 35: “Dự án đầu tư trong lĩnh vực, địa bàn ưu đãi đầu tư và dự án kinh

doanh có hiệu quả được áp dụng khấu hao nhanh đối với tài sản cố định, mức khấu hao tối đa là hai lần mức khấu hao theo chế độ khấu hao tài sản cố định”.

2.2.2 Các ưu đãi liên quan đến chính sách sử dụng đất, mặt nước, mặt biển

Những ưu đãi liên quan đến chính sách sử dụng đất, mặt nước, mặt biển

có thể nói là vấn đề mà các nhà ĐTNN đặc biệt quan tâm Nhất là ưu đãi tàichính về tiền thuê đất, mặt nước là, mặt biển một trong những quan tâm hàngđầu của nhà đầu tư vì đây là bộ phận cấu thành đáng kể của chi phí sản xuất, do

đó ảnh hưởng đến việc mở rộng hay thu hẹp quy mô và mặt bằng sản xuất của

DN có vốn ĐTNN và ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận thu được của nhà đầu

tư Nhận thức được điều này, Nhà nước ta đã có những ưu đãi đáng kể về tiềnthuê đất, mặt nước, mặt biển đối với các dự án ĐTNN nhằm tạo điều kiện và

Ngày đăng: 28/09/2016, 14:05

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w