1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hợp đồng bảo hiểm trùng Một số vấn đề lý luận và thực tiễn

63 369 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 482 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hợp đồng bảo hiểm trùng Một số vấn đề lý luận và thực tiễn Hợp đồng bảo hiểm trùng Một số vấn đề lý luận và thực tiễn Hợp đồng bảo hiểm trùng Một số vấn đề lý luận và thực tiễn Hợp đồng bảo hiểm trùng Một số vấn đề lý luận và thực tiễn Hợp đồng bảo hiểm trùng Một số vấn đề lý luận và thực tiễn Hợp đồng bảo hiểm trùng Một số vấn đề lý luận và thực tiễn Hợp đồng bảo hiểm trùng Một số vấn đề lý luận và thực tiễn Hợp đồng bảo hiểm trùng Một số vấn đề lý luận và thực tiễn

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Hoạt động kinh doanh bảo hiểm giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với

sự phát triển kinh tế xã hội đối với mỗi quốc gia Kinh doanh bảo hiểm đượccoi là một lá chắn kinh tế để bảo vệ cho các tổ chức cá nhân, đồng thời nócũng góp phần huy động vốn cho đầu tư phát triển kinh tế của đất nước Hiệnnay hoạt động kinh doanh bảo hiểm chịu sự điều chỉnh của Bộ luật dân sựnăm 2005, Luật Kinh Doanh bảo hiểm năm 2000 và văn bản hướng dẫn thihành Việc nghiên cứu các quy định của pháp luật về bảo hiểm một cách kỹlưỡng thông qua đó lý giải, phân tích, đánh giá và đề nghị hướng hoàn thiệnpháp luật về vấn đề này là thực sự cần thiết Trong lĩnh vực này đã có nhiều

đề tài khoa học của sinh viên cũng như của cán bộ nghiên cứu, giảng dạy thựchiện nhưng vấn đề bảo hiểm trùng vẫn chưa có một đề tài nào nghiên cứu độclập khai thác Để góp phần làm rõ hơn về vấn đề này em đã chọn đề tài ''hợpđồng bảo hiểm trùng - một số vấn đề lý luận và thực tiễn" làm đề tài khoáluận tốt nghiệp cho mình

Với phạm vi của một khoá luận tốt nghiệp em chỉ nghiên cứu hợp đồngbảo hiểm trùng dưới các khía cạnh dân sự qua đó làm sáng tỏ các vấn đề về lýluận và thực tiễn về hợp đồng bảo hiểm trùng, đưa ra các nhận xét, kiến nghịnhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này

Trong quá trình nghiên cứu, khoá luận đã sử dụng các phương pháp củachủ nghĩa duy vật biện chứng, phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp

so sánh và dựa vào các quy định của pháp luật Dân sự, pháp luật KinhDoanh bảo hiểm để xem xét, mổ xẻ vấn đề qua đó đưa ra cái nhìn tổng thể vềhợp đồng bảo hiểm trùng

Với phạm vi và mục đích nghiên cứu như trên khoá luận được kết cấu:Lời nói đầu

Chương 1 Lý luận chung về hợp đồng bảo hiểm dân sự

Chương 2 Hợp đồng bảo hiểm trùng

Trang 2

Chương 3 Thực trạng pháp luật về hợp đồng bảo hiểm trùng và hướnghoàn thiện pháp luật về vấn đề này.

Để hoàn thành khoá luận tốt nghiệp của mình em đã nhận được sự giúp

đỡ động viên, hướng dẫn nhiệt tình của thầy cô, cha mẹ, và bạn bè Qua đâycho em được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo - TS Phạm Văn Tuyết,người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ em hoàn thành khoá luận tốtnghiệp này

Em cũng xin chân thành cảm ơn toàn thể các thầy giáo, cô giáo, cán bộcủa nhà trường nói chung và các thầy giáo, cô giáo khoa dân sự nói riêng đãdạy dỗ dìu dắt em trong suốt 4 năm qua Em cũng xin cảm ơn gia đình, ngườithân, bạn bè đã động viên, giúp đỡ em hoàn thành khoá luận này

Cuối cùng em rất mong nhận được sự góp ý của các thầy giáo, cô giáo

để khoá luận của em được hoàn thiện hơn

Trang 3

CHƯƠNG 1.

LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM DÂN SỰ

1.1 KHÁI NIỆM CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG DÂN SỰ.

Bảo hiểm dân sự là một loại hình bảo hiểm mà hoạt động của nó nhưmột ngành kinh doanh dịch vụ và đã xuất hiện lâu đời trên thế giới nhưng chođến nay vẫn chưa có một tên gọi thống nhất Trong phạm vi khoá luận nàychúng tôi sử dụng thuật ngữ bảo hiểm dân sự bởi lẽ: Đa phần các quan hệ củaloại hình bảo hiểm này đều được hình thành từ ý chí tự nguyện, tự do cam kếtcủa các bên chủ thể tham gia hợp đồng (trừ một số trường hợp pháp luật quyđịnh khác) Khi hợp đồng bảo hiểm được xác lập nó làm xuất hiện các quyền

và nghĩa vụ thuộc về đời sống dân sự của các chủ thể tham gia Quan hệ nàythực chất là hệ quả của một hợp đồng dân sự Hay nói cách khác hợp đồngdân sự về bảo hiểm là phương tiện pháp lý để từ đó các chủ thể thiết lập vớinhau một quan hệ bảo hiểm Mặt khác theo quy định của pháp luật dân sựViệt Nam thì hợp đồng bảo hiểm là một hợp đồng dân sự thông dụng 1 Chính

vì lẽ đó hợp đồng bảo hiểm được gọi là hợp đồng bảo hiểm dân sự

Các nước trên thế giới khi quy định về loại hợp đồng bảo hiểm này đã

sử dụng các tên gọi khác nhau Trong loại hình bảo hiểm này bên nhận bảohiểm chỉ phải thực hiện nghĩa vụ chi trả bảo hiểm khi người được bảo hiểmgặp rủi ro bất thường, nên một số nước gọi nó là bảo hiểm rủi ro Mặt khác vìbản chất của loại hình bảo hiểm này như một ngành kinh doanh và đối tượngbảo hiểm của nó đa phần là những rủi ro xảy ra trong quá trình sản xuất kinhdoanh, nên có nước gọi là bảo hiểm thương mại

Xét về bản chất đa phần các loại bảo hiểm này được hình thành mộtcách tự nguyện, chỉ bảo hiểm các tổn thất bất thường, mang đậm tính kinhdoanh, chủ yếu là bảo hiểm các rủi ro trong hoạt động sản xuất, kinh doanh

Trang 4

thương mại nên việc sử dụng thuật ngữ bảo hiểm dân sự, bảo hiểm rủi ro, bảohiểm kinh doanh hay bảo hiểm thương mại đều là một

Sản phẩm bảo hiểm là một loại sản phẩm vô hình Doanh nghiệp bảohiểm bán bảo hiểm cho khách hàng thông qua hợp đồng bảo hiểm Hợp đồngbảo hiểm là một trong những hợp đồng thông dụng nên chịu sự điều chỉnh của

Bộ luật dân sự, đồng thời nó còn chịu sự điều chỉnh của Luật Kinh doanh bảohiểm Chính vì vậy khái niệm hợp đồng dân sự được nhìn nhận theo quy địnhcủa Bộ luật dân sự và Luật Kinh doanh bảo hiểm

Theo quy định tại điều 567 Bộ luật dân sự năm 2005 thì " hợp đồng bảohiểm là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phíbảo hiểm còn bên bảo hiểm phải trả một khoản tiền bảo hiểm cho bên đượcbảo hiểm khi xẩy ra sự kiện bảo hiểm "

Còn điều 12 luật kinh doanh bảo hiểm quy định cụ thể hơn "hợp đồngbảo hiểm là sự thoả thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm,theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểmphải trả tiền cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểmkhi xảy ra sự kiện bảo hiểm"

Qua quy định trên của pháp luật ta thấy rằng hợp đồng bảo hiểm dân sựchứa đựng các yếu tố sau:

- Thứ nhất: hợp đồng bảo hiểm dân sự được hình thành thông qua hành

vi của các bên chủ thể

Hợp đồng bảo hiểm dân sự được hình thành thông qua hành vi đề nghịgiao kết và hành vi chấp nhận đề nghị giao kết Đây cũng là đặc điểm hìnhthành của bất kỳ hợp đồng dân sự nào khác Trong hoạt động kinh doanh bảohiểm thông thường doanh nghiệp bảo hiểm là chủ thể đưa ra đề nghị giao kết,còn khách hàng là bên chấp nhận đề nghị giao kết Nếu xét thấy việc tham giabảo hiểm phù hợp với nhu cầu của mình thì khách hàng sẽ tham gia hợp đồng

và đóng phí bảo hiểm Trong trường hợp này bên tham gia bảo hiểm đã chấpnhận toàn bộ nội dung đề nghị của bên doanh nghiệp bảo hiểm Nếu sau khi

Trang 5

nắm được toàn bộ nội dung đề nghị của bên bảo hiểm và muốn tham gia loạihợp đồng bảo hiểm đó nhưng khách hàng lại không đồng ý với một phần nộidung của đề nghị đó thì họ sẽ đưa ra kiến về việc thay đổi phần nội dung đó.Trong trường hợp này bên đã đề nghị giao kết (doanh nghiệp bảo hiểm ), trởthành bên được đề nghị giao kết và nếu họ chấp nhận thay đổi phần nội dungtheo đề nghị của bên tham gia thì hợp đồng được ký kết Nếu họ không chấpnhận thì hợp đồng không được ký kết

- Thứ hai : hợp đồng bảo hiểm dân sự là sự thống nhất ý chí của cácbên

Hành vi là phương tiện để thể hiện ý chí của chủ thể ra bên ngoài thếgiới khách quan dưới một hình thức nhất định như hành động, lời nói Hành

vi của bên đề nghị giao kết hợp đồng chính là phương tiện để thể hiện nộidung của đề nghị Hành vi của bên được đề nghị giao kết là phương tiện thểhiện ý chí có chấp nhận đề nghị của bên kia hay không, hoặc chấp nhận phầnnội dung nào, sửa đổi phần nội dung nào Khi các bên chấp nhận ý chí củanhau nghĩa là các bên đã đạt được sự thống nhất ý chí và khi đó hợp đồngđược giao kết, hình thành Theo nguyên tắc chung thì sự thoả thuận thốngnhất ý chí giữa các bên trong một hợp đồng là không thể thiếu Tuy nhiêntrong hợp đồng bảo hiểm dân sự có loại hợp đồng mà quyền lợi được bảohiểm là của người thứ ba, khi người tham gia bảo hiểm có trách nhiệm dân sựđối với người này nên pháp luật đã quy định nó là hợp đồng bảo hiểm bắtbuộc Vì thế riêng đối với loại hợp đồng này không chứa đựng yếu tố tự dothoả thuận, tự nguyện ý chí của các bên chủ thể tham gia

- Thứ ba: Mục đích của hợp đồng bảo hiểm dân sự là thiết lập một quan

hệ bảo hiểm

Trong hợp đồng bảo hiểm, bên tham gia bảo hiểm chấp nhận đóng chobên nhận bảo hiểm một khoản tiền giọi là phí bảo hiểm, bên nhận bảo hiểmchấp nhận các rủi ro mà bên tham gia bảo hiểm (có thể là người thứ ba) gặpphải trong thời hạn còn hiệu lực của hợp đồng Vì thế khi giao kết hợp đồng

Trang 6

bảo hiểm, tiến tới một quan hệ bảo hiểm sẽ hình thành giữa bên nhận bảohiểm với bên tham gia bảo hiểm, trong đó bên tham gia bảo hiểm có tráchnhiệm đóng phí bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm, còn bên nhận bảo hiểm

có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ chi trả tiền bảo hiểm cho người được bảohiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm

Như vậy giống như một hợp đồng dân sự bất kỳ, hợp đồng bảo hiểmcũng bao gồm ba yếu tố đó là: đề nghị giao kết hợp đồng, chấp nhận đề nghịgiao kết hợp đồng và thực hiện nghĩa vụ

Từ những khía cạnh trên chúng ta thấy rằng khái niệm về hợp đồng bảohiểm dân sự được xem xét theo các phương diện sau:

- Về phương diện khách quan: Hợp đồng bảo hiểm dân sự là sự quyđịnh bằng pháp luật của Nhà nước để xác định các yếu tố liên quan đến quátrình hoạt động bảo hiểm nhằm qua đó ghi nhận và bảo đảm quyền và nghĩa

vụ của các bên chủ thể trong quan hệ về bảo hiểm dân sự

- Về phương diện chủ quan: Hợp đồng bảo hiểm dân sự là một quan hệdân sự trong đó các bên thoả thuận để đi đến việc cam kết cùng nhau thựchiện các quyền và nghĩa vụ đối với nhau trong các lĩnh vực bảo hiểm

Qua trên ta thấy rằng hợp đồng bảo hiểm dân sự là một dạng của hợpđồng dân sự, là cơ sở pháp lý để qua đó bên mua bảo hiểm chuyển dịch rủi ro

từ mình sang bên nhận bảo hiểm theo thoả thuận của các bên hoặc theo quyđịnh của pháp luật nhằm khắc phục khó khăn, ổn định sản xuất kinh doanh vàđời sống khi gặp những tai nạn bất thường xảy ra

Với những bản chất trên hợp đồng bảo hiểm dân sự là cơ sở pháp lý đểcác doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện quá trình hoạt động kinh doanh củamình về lĩnh vực bảo hiểm Đối với bên mua bảo hiểm, thì hợp đồng bảohiểm được coi là một biện pháp dự phòng hiệu quả trong việc khắc phụcnhững khó khăn đột xuất có thể xảy ra đối với mình

Trang 7

1.2 ĐẶC ĐIỂM CỦA HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM DÂN SỰ.

Hợp đồng bảo hiểm dân sự là một dạng của hợp đồng dân sự nên nó cóđầy đủ đặc điểm của một hợp đồng dân sự ngoài ra nó còn mang trong mìnhnhững đặc điểm riêng có của nó đó là:

1.2.1 Hợp đồng bảo hiểm dân sự là hợp đồng có đền bù.

Hợp đồng có đền bù là loại hợp đồng mà trong đó mỗi bên chủ thể saukhi đã thực hiện cho bên kia một lợi ích sẽ nhận được một lợi ích tương ứng

từ họ Hợp đồng bảo hiểm là hợp đồng có đền bù bởi lẽ: Sau khi bên tham giabảo hiểm đóng phí bảo hiểm thì sẽ được doanh nghiệp bảo hiểm nhận bảohiểm rủi ro cho mình Ngược lại khi bên nhận bảo hiểm cam kết bảo hiểm chomột đối tượng bảo hiểm thì sẽ được bên tham gia bảo hiểm đóng cho mìnhmột khoản phí bảo hiểm nhất định

1.2.2 Hợp đồng bảo hiểm dân sự là hợp đồng song vụ.

Hợp đồng song vụ là hợp đồng mà các bên chủ thể đều hưởng quyền vàđều thực hiện nghĩa vụ Quyền của bên này là nghĩa vụ của bên kia và ngượclại

Trường hợp hợp đồng bảo hiểm dân sự là hợp đồng song vụ bởi: Bênbảo hiểm có quyền thu phí bảo hiểm theo thoả thuận trong hợp đồng bảohiểm; Yêu cầu bên mua bảo hiểm cung cấp đầy đủ các thông tin liên quan đếnviệc giao kết hợp đồng bảo hiểm Bên bảo hiểm có nghĩa vụ cung cấp chobên mua bảo hiểm giấy chứng nhận bảo hiểm, đơn bảo hiểm ngay sau khigiao kết hợp đồng bảo hiểm; trả tiền bảo hiểm kịp thời cho người thụ hưởnghoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm

Còn bên mua bảo hiểm có nghĩa vụ: đóng phí bảo hiểm đầy đủ và đúnghạn; Kê khai đầy đủ trung thực mọi chi tiết có liên quan đến hợp đồng bảohiểm theo yêu cầu của doanh nghiệp bảo hiểm Bên mua bảo hiểm có quyềnyêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người được bảo hiểm

Trang 8

hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm theo thoả thuận trong hợp đồngbảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm 2

1.2.3 Hợp đồng bảo hiểm dân sự là hợp đồng làm phát sinh nghĩa

vụ dân sự có điều kiện.

Hợp đồng là một trong những căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ dân sự.Một hợp đồng hợp pháp khi có hiệu lực pháp luật nó sẽ làm phát sinh mộtquan hệ nghĩa vụ giữa các chủ thể tham gia và các chủ thể trong quan hệnghĩa vụ đó phải thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo phương thức

và thời hạn đã thoả thuận trong hợp đồng Thế nhưng trong hợp đồng bảohiểm dân sự khi hợp đồng có hiệu lực thì chỉ bên mua bảo hiểm có nghĩa vụnộp phí bảo hiểm đầy đủ và đúng hạn còn bên doanh nghiệp bảo hiểm chỉphải thực hiện nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồithường thiệt hại cho người được bảo hiểm khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra.Nếu như sự kiện bảo hiểm không xảy ra thì chỉ có bên mua bảo hiểm phảithực hiện nghĩa vụ còn bên doanh nghiệp bảo hiểm sẽ không phải thực hiệnnghĩa vụ bảo hiểm của mình Như vậy hợp đồng bảo hiểm dân sự không phải

là một hợp đồng có điều kiện mà chỉ là một hợp đồng làm phát sinh nghĩa vụdân sự có điều kiện bởi vì: Hợp đồng có điều kiện là hợp đồng mà khi giaokết các bên có thoả thuận về một điều kiện khi xảy ra thì làm phát sinh hoặchuỷ bỏ hợp đồng Trong hợp đồng bảo hiểm, điều kiện mà các bên thoả thuậnchỉ là điều kiện để bên doanh nghiệp bảo hiểm có phải thực hiện nghĩa vụ bảohiểm hay không mà thôi, chứ nó không phải là điều kiện để làm phát sinhhoặc huỷ bỏ hợp đồng Tóm lại ta có thể kết luận hợp đồng bảo hiểm là hợpđồng làm phát sinh nghĩa vụ có điều kiện

1.2.4 Hợp đồng bảo hiểm dân sự là một hợp đồng chuyển dịch rủi ro.

Như chúng ta đã biết hợp đồng bảo hiểm là phương tiện để các bênthiết lập với nhau một quan hệ mà nội dung chủ yếu là chuyển dịch rủi ro từ

Trang 9

bên mua bảo hiểm sang bên nhận bảo hiểm Mục đích của các bên tham giatrong đa số các hợp đồng dân sự là đều nhằm mục đích thiết lập một quan hệdân sự để để thông qua đó thực hiện quá trình trao đổi lợi ích vật chất Nhưngtrong hợp đồng bảo hiểm, bên mua bảo hiểm nhằm thông qua quan hệ bảohiểm để đạt được sự an toàn, bình ổn về tình trạng kinh tế của mình trongnhững trường hợp xuất hiện rủi ro gây ra tổn thất, thiệt hại về tính mạng, sứckhoẻ, tài sản của chính mình cũng như của người khác mà mình phải chịutrách nhiệm bồi thường thiệt hại Mặt khác hợp đồng bảo hiểm dân sự còn làphương tiện pháp lý của quá trình hoạt động kinh doanh bảo hiểm Thông quaviệc ký kết hợp đồng bảo hiểm và nhiều người tham gia bảo hiểm, doanhnghiệp bảo hiểm áp dụng nguyên tắc lấy số đông bù số ít để thực hiện việcchia nhỏ tổn thất Bằng cách này tổn thất được chia nhỏ cho nhiều người gánh

đỡ, hay nói cách khác giữ được sự bình ổn về mặt kinh tế của người gặp rủi ro

là do cộng đồng những người tham gia bảo hiểm vì họ là những người đónggóp tài chính thông qua việc đóng phí bảo hiểm Tuy nhiên trong đó doanhnghiệp bảo hiểm đóng vai trò là người tập trung nguồn tài chính từ cộng độngđồng người tham gia bảo hiểm thông qua quá trình hoạt động kinh doanh bảohiểm của mình

Như vậy với đặc điểm trên hợp đồng bảo hiểm mang tính cộng đồng,mang tính xã hội cao hơn nhiều so với các loại hợp đồng bảo hiểm khác

1.2.5 Hợp đồng bảo hiểm dân sự là hợp đồng dịch vụ

"Hợp đồng dịch vụ là sự thoả thuận giữa các bên theo đó bên cung ứngdịch vụ thực hiện công việc cho bên thuê dịch vụ còn bên thuê dịch vụ phảitrả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ"3 Người ta vẫn gọi bên tham giabảo hiểm là bên mua bảo hiểm còn bên nhận bảo hiểm là bên bán bảo hiểmthế nhưng hợp đồng bảo hiểm không phải là hợp đồng mua bán để dịchchuyển tài sản, quyền sở hữu và cũng không phải là một hợp đồng mua bánquyền sử dụng mà hợp đồng bảo hiểm là một hợp đồng dịch vụ Theo đó bên

3 Xem Điều 518 Bộ luật dân sự năm 2005

Trang 10

thuê dịch vụ (người tham gia bảo hiểm) phải trả tiền cho bên cung ứng dịch

vụ (doanh nghiệp bảo hiểm) một khoản phí nhất định còn bên bảo hiểm camkết thực hiện việc bảo hiểm cho một đối tượng xác định trong hợp đồng Thếnhưng khác với hành vi dịch vụ trong các hợp đồng gia công, hợp đồng tư vấnpháp luật, hợp đồng vận chuyển kết quả luôn mang tính vật thể rõ ràng như:Trong hợp đồng gia công kết quả là một sản phẩm hữu hình, trong hợp đồng

tư vấn pháp luật kết quả là một đơn kiện hay một bản hợp đồng trong hợpđồng vận chuyển kết quả là khối lượng hành hoá, hành khách từ điểm này đếnđiểm khác, còn kết quả của hành vi bảo hiểm chỉ mang tính vô hình Bởi hành

vi bảo hiểm chỉ mang lại sự an toàn, bình ổn cho người được bảo hiểm mà nókhông thể hiện thành một kết quả hữu hình có thể nhìn thấy rõ ràng hay cầmnắm được

1.3 PHÂN LOẠI HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM.

Như đã trình bày ở trên hợp đồng bảo hiểm dân sự là một dạng cụ thểcủa hợp đồng dân sự nên theo khoa học pháp lý dân sự thì có thể dựa vàonhiều tiêu chí để phân loại, như hợp đồng đơn vụ, hợp đồng song vụ, hợpđồng có đền bù, hợp đồng không có đền bù Nhưng trong phạm vi khoá luậnnày chúng tôi chỉ dựa vào hai tiêu chí để phân loại hợp đồng bảo hiểm dân sựnhằm đạt được mục đích nghiên cứu của mình đó là:

1.3.1 Phân loại theo ý chí của các bên tham gia hợp đồng bảo hiểm:

Do hợp đồng bảo hiểm dân sự là một dạng cụ thể của hợp đồng dân sựnên nó mang trong mình bản chất đặc trưng của hợp đồng dân sự là yếu tốthoả thuận thống nhất ý chí, chính vì vậy đa phần các hợp đồng bảo hiểm đềuđược giao kết một cách tự nguyện Thế nhưng bên cạnh tính tự nguyện, đểđảm bảo lợi ích cho người thứ ba, pháp luật còn quy định một số chủ thể nhấtđịnh buộc phải tham gia hợp đồng bảo hiểm bắt buộc Trong trường hợp nàyhợp đồng bảo hiểm được giao kết không còn là sự tự nguyện của người tham

Trang 11

gia nữa mà là sự bắt buộc của nhà nước thông qua quy định của pháp luật Vìthế dựa vào tiêu chí này thì hợp đồng được chia làm hai loại sau:

- Một là hợp đồng bảo hiểm tự nguyện :

Hợp đồng bảo hiểm tự nguyện là sự thoả thuận giữa các bên về cácđiều kiện bảo hiểm và mức phí bảo hiểm Đây là loại hợp đồng bảo hiểmđược giao kết theo ý nguyện của các bên và hoàn toàn dựa trên nguyên tắcthoả thuận Trong thực tiễn hoạt động kinh doanh bảo hiểm hiện nay đây làloại hợp đồng bảo hiểm phổ biến và đa dạng Tính tự nguyện của hợp đồngbảo hiểm này thể hiện ở chỗ ý muốn cũng như sự đòi hỏi của các bên chủ thểtrong hợp đồng bảo hiểm là như nhau Hay nói cách khác nó thể hiện ở chỗcác bên được quyền bình đẳng trong việc bày tỏ ý chí của mình Trong quátrình xác lập hợp đồng bảo hiểm các bên không được dựa vào ưu thế kinh tếhoặc ý chí riêng của mình để áp đặt cho chủ thể bên kia, bắt ép chủ thể kiagiao kết hợp đồng bảo hiểm trái ý chí của họ Các chủ thể khác cũng khôngđược phép can thiệp một cách bất hợp pháp vào việc xác lập hợp đồng này.Trong hợp đồng bảo hiểm tự nguyện hai bên chủ thể được tự do quyết địnhviệc có tham gia hợp đồng bảo hiểm hay không, khi tham gia các bên cóquyền thoả thuận nội dung của hợp đồng trên nguyên tắc bình đẳng hai bêncùng có lợi Chính từ sự bình đẳng về địa vị chủ thể và sự chia sẻ về lợi ích(hai bên cùng có lợi) đã dẫn các bên đi đến quyết định giao kết hợp đồng bảohiểm

Trong thực tiễn hiện nay các doanh nghiệp bảo hiểm thường đưa ratrước các vấn đề thuộc về nội dung của hợp đồng như mức phí bảo hiểm, sốtiền bảo hiểm, sự kiện bảo hiểm, điều kiện bảo hiểm nhưng việc làm nàycũng không ảnh hưởng đến tính tự nguyện ý chí của bên tham gia bảo hiểm.Bởi lẽ quyền quyết định việc tham gia bảo hiểm hay không và tham gia vớidoanh nghiệp bảo hiểm nào vẫn do bên tham gia bảo hiểm quyết định Trongmôi trường cạnh tranh hiện nay thì người tham gia bảo hiểm có quyền thamgia bảo hiểm với doanh nghiệp bảo hiểm nào mà cảm thấy có lợi cho mình

Trang 12

nhất Việc người tham gia bảo hiểm chấp nhận các điều kiện tiêu chuẩn trongcác điều khoản hợp đồng mà bên doanh nghiệp bảo hiểm đưa ra trước chính

là sự tự do ý chí của họ, họ đã tự do lưạ chọn là chấp nhận hoặc không chấpnhận Họ cũng hoàn toàn có quyền thoả thuận lại các điều khoản đã nêu tronghợp đồng do phía doanh nghiệp bảo hiểm nêu ra và họ cũng có quyền thoảthuận thêm các vấn đề khác ngoài các điều khoản đã có miễn là sự thoả thuận

đó không xâm phạm đến lợi ích hợp pháp của người khác và không trái vớiđạo đức xã hội

Hiện nay do sự giao lưu hợp tác làm ăn với các nước trên thế giới, nhất

là khi Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO thì ngày càng cónhiều chủ thể nước ngoài tham gia vào các quan hệ pháp luật, trong đó có cácquan hệ pháp luật bảo hiểm Có nhiều chủ thể là cá nhân, tổ chức nước ngoàitham gia bảo hiểm với doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam, họ có thể muốnđược bảo hiểm theo điều kiện bảo hiểm của nước họ, hoặc các điều kiện khácngoài phạm vi và điều kiện bảo hiểm của các doanh nghiệp bảo hiểm ViệtNam thì các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam cũng có thể xem xét đối chiếucác quy định hiện hành để giải quyết cho họ

Tính tự nguyện tự do ý chí trong hợp đồng bảo hiểm này còn thể hiệntrong chính đơn bảo hiểm Ở phần yêu cầu bảo hiểm có chữ ký của đại diệnbên bảo hiểm, có chữ ký của bên tham gia bảo hiểm và phần yêu cầu bảohiểm có sự cam kết của khách hàng nên được coi là một hình thức mà qua đóhai bên biểu hiện ý chí của mình và thống nhất ý chí với nhau về hợp đồngbảo hiểm đó

- Hai là: hợp đồng bảo hiểm bắt buộc

Hợp đồng bảo hiểm bắt buộc là loại hợp đồng do pháp luật quy định vềđiều kiện bảo hiểm, mức phí bảo hiểm, số tiền bảo hiểm tối thiểu mà tổ chức,

cá nhân tham gia bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm có nghĩa vụ thực hiện.Loại hợp đồng bảo hiểm này khác với hợp đồng bảo hiểm tự nguyện ở chỗloại hợp đồng bảo hiểm này các chủ thể buộc phải tham gia trong những

Trang 13

trường hợp nhằm bảo vệ lợi ích công cộng, trật tự an toàn xã hội Tính bắtbuộc trong việc tham gia các hợp đồng bảo hiểm loại này xuất phát từ cơ sở:Những rủi ro được bảo hiểm xét trên phạm vi toàn xã hội thì nó có tần suấtxuất hện nhiều và mức độ nguy hiểm lớn Việc bảo hiểm cho các đối tượngnhất định trước những rủi ro này không chỉ có ý nghĩa đối với từng cá nhân

mà còn có ý nghĩa đối với lợi ích của cả cộng đồng mà nhà nước có nhiệm vụbảo đảm Theo quy định của Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 thì bảohiểm bắt buộc bao gồm:

+ Bảo hiểm trách nhiệm của chủ xe cơ giới bảo hiểm trách nhiệm dân

sự của người vận chuyển hàng không đối với hành khách

Theo quy định tại Điều 623 Bộ luật dân sự năm 2005 thì phương tiệngiao thông vận tải cơ giới là một trong những nguồn nguy hiểm cao độ Trongquá trình sử dụng vận hành loại xe này thường chứa đựng nhiều khả năng gâytai nạn làm thiệt hại về tài sản, sức khoẻ tính mạng của các chủ thể khác.Theo quy định của pháp luật dân sự thì chủ sở hữu, người được chủ sở hữugiao chiếm hữu sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại

Để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của những người bị thiệt hại

do xe cơ giới gây ra đồng thời giúp chủ xe khắc phục hậu quả tài chính gópphần ổn định kinh tế - xã hội, pháp luật đã quy định về chế độ bảo hiểm tráchnhiệm dân sự của chủ xe cơ giới Hiện nay chế độ bảo hiểm trách nhiệm dân

sự của chủ xe cơ giới được áp dụng với tất cả các chủ thể đang sử dụng xe cơgiới trên lãnh thổ Việt Nam Biểu phí và mức trách nhiệm dân sự của chủ xe

cơ giới do pháp luật quy định Bên tham gia bảo hiểm và doanh nghiệp bảohiểm có quyền thoả thuận về mức phí và mức trách nhiệm nhưng không đượcthấp hơn mức tối thiểu mà pháp luật quy định.4

Dịch vụ vận chuyển đường hàng không cũng là một loại dịch vụ chứađựng nguy cơ rủi ro cao, thiệt hại do nó gây ra là rất lớn ảnh hưởng không chỉ

việc ban hành quy tắc, biểu phí, và mức trách nhiệm bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới.

Trang 14

đến hành khách và thân nhân của họ mà còn ảnh hưởng đến toàn xã hội Dovậy pháp luật đã quy định bảo hiểm trách nhiệm dân sự bắt buộc của ngườivận chuyển hàng không đối với hành khách nhằm khắc phục phần nào tổnthất cho các hành khách và thân nhân của họ cũng như khắc phục tổn thất tàichính cho người vận chuyển hàng không.

+ Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp đối với hoạt động tư vấn phápluật

Hoạt động tư vấn pháp luật cũng là một loại hình dịch vụ chứa đựngnhững rủi ro có thể gây ra thiệt hại cho người được tư vấn do sự sai sót từphía người tư vấn Theo nguyên tắc chung thì một chủ thể có lỗi gây ra thiệthại cho chủ thể khác thì phải có trách nhiệm bồi thường cho họ Hiện nay hoạtđộng tư vấn pháp luật được tiến hành bởi nhiều chủ thể, nhưng Luật Kinhdoanh bảo hiểm năm 2000 mới chỉ quy định bảo hiểm trách nhiệm nghềnghiệp đối với hoạt động tư vấn pháp luật mà chưa xác định cụ thể chủ thểnào buộc phải tham gia Vấn đề này cũng chưa được quy định trong văn bảnhướng dẫn thi hành Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 Qua xem xét cácquy định của pháp luật liên quan ta sẽ thấy: Công ty luật là chủ thể đượcthành lập và hoạt động theo luật doanh nghiệp nó có vốn điều lệ, có tài sảnriêng để bảo đảm cho trách nhiệm của mình, còn trung tâm tư vấn pháp luậtthì luôn trực thuộc một tổ chức xã hội - nghề nghề nghiệp hoặc một tổ chứcchính trị - xã hội nghề nghiệp nhất định và tổ chức chủ quản này sẽ chịu tráchnhiệm về hoạt động của các trung tâm tư vấn pháp luật Như vậy ta thấy bảohiểm trách nhiệm nghề nghiệp không đặt ra đối với hai loại chủ thể này bởitrách nhiệm của nó đã được bảo đảm thực hiện Còn văn phòng luật sư dothành lập không cần vồn pháp định, trách nhiệm đối với hoạt động tư vấnpháp luật của nó do một cá nhân đảm trách do vậy để bảo đảm cho việc bảo

vệ người được tư vấn pháp luật khi có thiệt hại xảy ra do trách nhiệm củangười tư vấn thì pháp luật phải bắt buộc chủ thể của hoạt động tư vấn pháp

Trang 15

luật này mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho hoạt động tư vấn củamình.

+ Bảo hiểm trách nhiệm của chủ thể là doanh nghiệp môi giới bảohiểm:

Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm là cầu nối trung gian giữa doanhnghiệp bảo hiểm và người mua bảo hiểm Hoạt động môi gới bảo hiểm củadoanh nghiệp này bao gồm các hoạt động cung cấp thông tin và tư vấn về loạihình bảo hiểm, điều khoản bảo hiểm, phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểmcho bên mua bảo hiểm Đàm phán thu xếp giao kết hợp đồng bảo hiểm giữadoanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm, thực hiện các công việc kháctheo yêu cầu của bên mua bảo hiểm Hoạt động môi giới bảo hiểm được xemnhư là chất xúc tác để hoạt động giao kết, thực hiện hợp đồng bảo hiểm đượcdiễn ra một cách tốt hơn Tuy nhiên hoạt động môi giới bảo hiểm cũng tiềm

ẩn những rủi ro có khả năng gây thiệt hại cho người tham gia bảo hiểm Cũngnhư chủ thể khác khi gây thiệt hại doanh nghiệp môi giới bảo hiểm cũng phảibồi thường thiệt hại do hoạt động môi giới của mình gây ra cho người thamgia bảo hiểm Trong lúc đó doanh nghiệp môi giới bảo hiểm là doanh nghiệptrung gian giữa doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm, hoạt động môigiới của doanh nghiệp này nhằm mục đích hưởng hoa hồng theo phí bảohiểm Vốn pháp định của doanh nghiệp môi giới bảo hiểm cũng thấp hơnnhiều so với doanh nghiệp bảo hiểm (doanh nghiệp môi giới bảo hiểm có vốnpháp định là 4 tỷ đồng trong lúc đó vốn pháp định của doanh nghiệp bảo hiểmphi nhân thọ là 70 tỷ đồng, doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ là 140 tỷ đồng)với mức vốn pháp định thấp như vậy thì nó chỉ đủ trang trải cho hoạt độngcủa doanh nghiệp môi giới bảo hiểm mà không có nguồn tài chính dự trữ banđầu để thực hiện bồi thường khi có thiệt hại xảy ra do hoạt động môi giới củamình gây ra cho người tham gia bảo hiểm Để đảm bảo quyền lợi chính đángcho người tham giam bảo hiểm và để bảm bảo cho những thiệt hại do lỗi củadoanh nghiệp môi giới bảo hiểm gây ra được khắc phục kịp thời thì pháp luật

Trang 16

quy định doanh nghiệp môi giới bảo hiểm phải mua bảo hiểm trách nhiệmnghề nghiệp cho hoạt động môi giới của mình.

+ Bảo hiểm cháy nổ:

Bảo hiểm cháy nổ là nghiệp vụ bảo hiểm cho rủi ro cháy và nổ Nó cóthể là bảo hiểm tự nguyện nhưng cũng có thể là bảo hiểm bắt buộc Bảo hiểmcháy nổ mang tính bắt buộc trong trường hợp cháy nổ được xem là nguồnnguy hiểm cao độ, mức độ thiệt hại và hậu quả của nó gây ra là rất lớn Dovậy các trường hợp kinh doanh có liên quan đến tài sản dễ cháy nổ hoặc tínhchất của việc kinh doanh cần được bảo hiểm cháy nổ, để khắc phục kịp thờithì bắt buộc chủ thể của các hoạt động đó phải mua bảo hiểm cháy nổ.Ví dụnhư hoạt động kinh doanh khách sạn lớn, hoạt động kinh doanh nhiên liệu,kho chứa xăng dầu, điểm bán xăng dầu là các hoạt động bắt buộc phải muabảo hiểm cháy nổ

1.3.2 Phân loại theo đối tượng bảo hiểm

Theo quy định tại Điều 659 Bộ luật dân sự năm 2005 thì "đối tượngbảo hiểm bảo gồm: con người, tài sản, trách nhiệm dân sự và các đối tượngkhác theo quy định của pháp luật" Tương ứng với một đối tượng bảo hiểm thì

sẽ có một nghiệp vụ bảo hiểm Xét theo đối tượng bảo hiểm thì hợp đồng bảohiểm được chia thành các loại sau:

-Hợp đồng bảo hiểm tài sản

Hợp đồng bảo hiểm tài sản là là hợp đồng có đối tượng được bảo hiểmbao gồm: vật có thực, tiền giấy tờ có giá và các quyền tài sản Theo quy địnhcủa pháp luật kinh doanh bảo hiểm hiện nay thì đa số các hợp đồng bảo hiểmtài sản đều thuộc loại bảo hiểm tự nguyện, do đó các chủ thể tham gia hợpđồng bảo hiểm này được tự do, tự nguyện thoả thuận về nội dung của hợpđồng Đối tượng của hợp đồng bảo hiểm tài sản phải có mối liên hệ nhất địnhvới người mua bảo hiểm hay nói cách khác người tham gia bảo hiểm phải làngười có lợi ích được bảo hiểm như lợi ích về quyền sở hữu, sử dụng, chiếmhữu, thu nhập Do giá trị của tài sản là đối tượng bảo hiểm luôn xác định

Trang 17

được do vậy pháp luật bằng những quy định đã giới hạn mức bồi thường màngười được bảo hiểm có thể được doanh nghiệp bảo hiểm chi trả Theo đótrong mọi trường hợp mức bồi thường cho người được bảo hiểm trong loạibảo hiểm này không được vượt quá giá trị của tài sản được tính theo giá thịtrường tại thời điểm hợp đồng bảo hiểm được giao kết Hợp đồng bảo hiểm cóđối tượng là tài sản rất phong phú đa dạng và chiếm một tỉ lệ lớn trong thịtrường bảo hiểm nói chung Theo quy định của pháp luật kinh doanh bảohiểm thì ở nước ta hiện nay bảo hiểm tài sản bao gồm các loại sau đây:

+ Bảo hiểm tài sản và bảo hiểm thiệt hại

+ Bảo hiểm vận chuyển đường bộ, đường biển, đường sông, đường sắt

và đường hàng không

+ Bảo hiểm vật chất đối với xe cơ giới

+ Bảo hiểm cháy nổ

+ Bảo hiểm thân tàu đường sông, đường biển

- Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự

Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự là sự thoả thuận giữa doanhnghiệp bảo hiểm và người mua bảo hiểm theo đó người mua bảo hiểm phảiđóng cho doanh nghiệp bảo hiểm một khoản phí bảo hiểm còn doanh nghiệpbảo hiểm cam kết bồi thường phần trách nhiệm dân sự của người được bảohiểm theo cách thức và định mức đã được hai bên thoả thuận trong hợp đồng

Theo quy định tại Điều 52 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 thì

"đối tượng của hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự là trách nhiệm dân sựcủa người được bảo hiểm đối với người thứ ba theo quy định của pháp luật".Hiện nay các chủ thể thường chỉ tham gia bảo hiểm trách nhiệm dân sự trongnhững trường hợp pháp luật bắt buộc phải tham gia nên khi nói đến bảo hiểmtrách nhiệm dân sự thường được hiểu là bảo hiểm bắt buộc là vì vậy Bảohiểm trách nhiệm dân sự thường được áp dụng với:

+ Bảo hiểm trách nhiệm đối với người thứ ba, chủ yếu chấp nhận bảohiểm các loại trách nhiệm bồi thường kinh tế thuộc về người tham gia bảo

Trang 18

hiểm phải chịu trách nhiệm trước pháp luật đối với những rủi ro có hại chosức khoẻ hoặc tổn thất tài sản của người thứ ba vì rủi ro bất ngờ trong sảnxuất kinh doanh hoặc trong các hoạt động khác

+ Bảo hiểm trách nhiệm đối với sản phẩm chấp nhận bảo hiểm tráchnhiệm bồi thường kinh tế thuộc về người chế tạo người tiêu thụ hoặc ngườisửa chữa phải chịu trước pháp luật vì những người này đã có thiếu sót trongnhững sản phẩm do họ chế tạo tiêu thụ, sửa chữa làm cho người sử dụng hoặcngười tiêu dùng bị ảnh hưởng có hại cho sức khoẻ hoặc bị tổn thất về tài sản

+ Bảo hiểm trách nhiệm đối với người lao động, chủ yếu chấp nhận bảohiểm trách nhiệm bồi thường kinh tế của người sử dụng lao động phải chịutrách nhiệm theo luật lao động hoặc hợp đồng lao động đối với những rủi rolàm tổn hại đến sức khoẻ của người lao động trong thời gian lao động

+ Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp, chủ yếu chấp nhận bảo hiểmtrách nhiệm bồi thường kinh tế về những sơ suất hoặc sai sót chuyên môn củanhững người hành nghề bác sỹ, luật sư, kế toán gây thiệt hại cho ngườikhác

- Hợp đồng bảo hiểm con người:

Hợp đồng bảo hiểm con người là sự thoả thuận theo đó người tham giabảo hiểm có nghĩa vụ phải đóng cho doanh nghiệp bảo hiểm một khoản phíbảo hiểm còn doanh nghiệp bảo hiểm cam kết sẽ thanh toán cho người đượcbảo hiểm hoặc người thụ hưởng những khoản trợ cấp hoặc những số tiền ấnđịnh trong trường hợp xảy ra sự kiện bảo hiểm tác động đến bản thân ngườiđược bảo hiểm về sức khoẻ, bệnh tật, tai nạn và sinh mạng con người

Trong hợp đồng bảo hiểm con người do đặc trưng của đối tượng bảohiểm là các yếu tố gắn liền với con người không thể tính thành tiền và các rủi

ro dẫn đến thiệt hại cho con người nhiều khi không thể khắc phục được.Chẳng hạn như khi người tham gia bảo hiểm gặp rủi ro và dẫn đến tử vong thìkhông thể khắc phục được những tổn thất này Doanh nghiệp bảo hiểm khôngthể làm cho người chết sống lại được mà doanh nghiệp bảo hiểm chỉ có thể

Trang 19

khắc phục được phần nào tổn thất thông qua việc chi trả bảo hiểm theo mộtmức bảo hiểm đã được các bên thoả thuận trước trong hợp đồng Theo quyđịnh tại Khoản 2 Điều 31 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 thì bên muabảo hiểm chỉ có thể mua bảo hiểm cho bản thân mình, cho vợ, chồng, con,anh, chị, em ruột của mình, người có quan hệ nuôi dưỡng, cấp dưỡng vớimình hoặc là những người khác mà mình có quyền lợi có thể được bảo hiểm.Trong hợp đồng bảo hiểm con người các hợp đồng có đối tượng bảo hiểm làtính mạng và tuổi thọ con người được gọi là hợp đồng bảo hiểm nhân thọ; cáchợp đồng bảo hiểm có đối tượng bảo hiểm là sức khoẻ, tai nạn con ngườiđược gọi là hợp đồng bảo hiểm phi nhân thọ Trong các hợp đồng bảo hiểmphi nhân thọ nếu khi đáo hạn hợp đồng mà sự kiện bảo hiểm không xảy ra(không có rủi ro về tính mạng) thì khoản tiền mà người mua bảo hiểm đóngcho doanh nghiệp bảo hiểm có tính chất như một khoản gửi tiết kiệm Bởi lúcnày người tham giam bảo hiểm sẽ được nhận khoản tiền đã đóng và mộtkhoản bảo tức từ doanh nghiệp bảo hiểm

- Hợp đồng bảo hiểm kết hợp:

Hợp đồng bảo hiểm kết hợp là sự thỏa thuận giữa bên mua bảo hiểmvới doanh nghiệp bảo hiểm theo đó bên mua bảo hiểm sẽ đóng cho doanhnghiệp bảo hiểm một khoản phí nhất định và bên doanh nghiệp bảo hiểmnhận bồi thường cho tổn thất thuộc đối tượng được bảo hiểm và trách nhiệmdân sự của chủ sở hữu tài sản đó gây ra cho người thứ ba khi xảy ra sự kiệnbảo hiểm

Như vậy ta thấy hợp đồng này chính là sự kết hợp giữa hợp đồng bảohiểm tài sản và hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự Theo quy định củapháp luật trong một số trường hợp các chủ thể chiếm hữu, sử dụng tài sản cókhả năng gây ra thiệt hại cho các chủ thể khác với một tần suất lớn thì phápluật buộc họ phải tham gia bảo hiểm trách nhiệm dân sự Việc tham gia loạihợp đồng bảo hiểm này là do pháp luật bắt buộc để đảm bảo quyền lợi chochủ thể bị thiệt hại, để ổn định trật tự an toàn xã hội và cũng để bảo đảm cho

Trang 20

trách nhiệm dân sự của chủ tài sản được thực hiện do đó bên tham gia bảohiểm không có quyền thoả thuận lựa chọn tham gia hay không tham gia Khitham gia bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự nếu chủ sử hữu tài sản có ýđịnh tham gia bảo hiểm cho chính tài sản đó thì họ thường kí một hợp đồngkết hợp vừa bảo hiểm cho trách nhiệm dân sự vừa bảo hiểm cho tài sản củamình Khi sự kiện bảo hiểm xảy ra nếu có thiệt hại cho người thứ ba và thiệthại cho tài sản thì doanh nghiệp bảo hiểm đồng thời có trách nhiệm bồithường cho người thứ ba và bồi thường cho chủ sở hữu tài sản Trong thực tếhoạt động của mình doanh nghiệp bảo hiểm áp dụng loại hợp đồng bảo hiểmkết hợp trong các nghiêp vụ bảo hiểm như: Bảo hiểm kết hợp xe cơ giới, bảohiểm mọi rủi ro về lắp đặt, xây dựng, bảo hiểm thăm dò và khai thác dầu khí,bảo hiểm kết hợp vận chuyển đường hàng không, bảo hiểm thân tàu và tráchnhiệm dân sự của chủ tầu

CHƯƠNG 2.

HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM TRÙNG

Trang 21

2.1 KHÁI NIỆM CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM TRÙNG 2.1.1 Định nghĩa.

Trong thực tế hoạt động của nhiều doanh nghiệp bảo hiểm do nhiềunguyên nhân mà một khách hàng (người tham gia bảo hiểm) giao kết nhiềuhợp đồng bảo hiểm với nhiều doanh nghiệp bảo hiểm khác nhau để bảo hiểmcho cho cùng một đối tượng với cùng một điều kiện và sự kiện bảo hiểm Khi

đó các hợp đồng bảo hiểm được gọi là hợp đồng bảo hiểm trùng hay còn gọi

là hợp đồng bảo hiểm trùng lặp Hợp đồng bảo hiểm trùng chỉ áp dụng vớibảo hiểm tài sản và bảo hiểm trách nhiệm dân sự mà không áp dụng với hợpđồng bảo hiểm có đối tượng là con người Bởi lẽ: Đối tượng hợp đồng bảohiểm là tài sản hay trách nhiệm dân sự có thể tính toán thành tiền còn đốitượng bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm con người thì không thể nào tínhđược giá trị Trong lúc đó theo lẽ thường một người chỉ được bù đắp một lợiích tối đa bằng đúng lợi ích mà họ đang có, nên mức bảo hiểm trong các hợpđồng bảo hiểm tài sản và hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự không đượcvượt quá giá thị trường của tài sản được bảo hiểm tại thời điểm giao kết hợpđồng Chính trong trường hợp này nguyên tắc cấm thu nhập không chính đáng

đã được áp dụng để bên tham gia bảo hiểm không thể lợi dụng hợp đồng bảohiểm để trục lợi

Qua trên ta thấy việc nghiên cứu, tìm hiểu một cách cặn kẽ về hợp đồngbảo hiểm trùng là một điều hết sức cần thiết Nó không chỉ cần thiết đối vớidoanh nghiệp bảo hiểm mà nó còn cần thiết đối với cả khách hàng tham giabảo hiểm Thế nhưng cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất vềhợp đồng bảo hiểm trùng

Theo giáo trình bảo hiểm của trường Đại học kinh tế Quốc dân xuấtbản năm 2005 thì "trong bảo hiểm tài sản nếu một đối tượng bảo hiểm đồngthời được bảo hiểm bằng nhiều hợp đồng bảo hiểm cho cùng một rủi ro vớinhững công ty bảo hiểm khác nhau, những hợp đồng bảo hiểm này có điều

Trang 22

kiện bảo hiểm giống nhau thời hạn bảo hiểm trùng nhau và tổng số tiền bảohiểm từ tất cả những hợp đồng bảo hiểm này lớn hơn giá trị của đối tượng bảohiểm thì gọi là hợp đồng bảo hiểm trùng "

Hay theo DvitBlad trong cuốn "Bảo hiểm Nguyên tắc và Thực hành"thì bảo hiểm trùng (bảo hiểm bội) trong bảo hiểm phi nhân thọ khi ngườiđược bảo hiểm ký hai hợp đồng bảo hiểm trở lên cho cùng một rủi ro Theonguyên tắc bồi thường tổng giá trị thanh toán trong trường hợp bồi thườngbảo hiểm không được vượt quá giá trị tổn thất của tài sản được bảo hiểm"

Qua hai quan điểm trên ta thấy chưa có một khái niệm đầy đủ và tổngquát về hợp đồng bảo hiểm trùng được nêu ra

Còn theo pháp luật Việt Nam thì "hợp đồng bảo hiểm trùng là trườnghợp bên mua bảo hiểm giao kết hợp đồng bảo hiểm với hai doanh nghiệp bảohiểm trở lên để bảo hiểm cho cùng một đối tượng với cùng điều kiện và sựkiện bảo hiểm"5

Qua các định nghĩa trên ta thấy bảo hiểm trùng có các dấu hiệu sau:

- Có ít nhất hai hợp đồng bảo hiểm cùng tồn tại được giao kết với cácdoanh nghiệp bảo hiểm khác nhau

- Các hợp đồng bảo hiểm này cùng bảo hiểm cho một quyền lợi chung

- Các hợp đồng bảo hiểm cùng bảo hiểm cho một rủi ro chung

- Các hợp đồng bảo hiểm cùng bảo hiểm cho một đối tượng bảo hiểmchung

- Mỗi hợp đồng bảo hiểm đều chịu trách nhiệm đối với tổn thất chung

Trang 23

2.1.2 Đặc điểm của hợp đồng bảo hiểm trùng.

Ngoài những đặc điểm chung của hợp đồng bảo hiểm, hợp đồng bảohiểm trùng còn có các đặc điểm sau:

- Đối tượng được bảo hiểm trong các hợp đồng bảo hiểm trùng đượcbảo hiểm bằng nhiều hợp đồng bảo hiểm khác nhau

Đối tượng được bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm trùng là tài sản vàtrách nhiệm dân sự Các loại đối tượng được bảo hiểm này nếu người thamgia bảo hiểm chỉ giao kết một hợp đồng bảo hiểm với một doanh nghiệp bảohiểm thì sẽ không xảy ra hiện tượng bảo hiểm trùng Khi đó doanh nghiệp bảohiểm đã nhận phí bảo hiểm phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tài sảncho người tham gia hoặc bồi thường thiệt hại cho người thứ ba do trách nhiệmdân sự của người tham gia bảo hiểm gây ra khi có sự kiện bảo hiểm và cũngchỉ trong phạm vi bảo hiểm và tương ứng với mức phí bảo hiểm mà ngườimua bảo hiểm đã đóng cho doanh nghiệp bảo hiểm Thế nhưng cùng một đốitượng bảo hiểm là tài sản hay trách nhiệm dân sự mà người tham gia bảohiểm lại giao kết hợp đồng bảo hiểm với nhiều doanh nghiệp bảo hiểm và cócùng điều kiện bảo hiểm, có cùng sự kiện bảo hiểm thì khi này sẽ dẫn đếnhiện tượng bảo hiểm trùng Khi sự kiện bảo hiểm xảy ra thì các doanh nghiệpbảo hiểm đều có nghĩa vụ bồi thường cho người tham gia bảo hiểm Trườnghợp này giữa các hợp đồng bảo hiểm có sự chồng lấn trách nhiệm bảo hiểm

- Rủi ro gây nên tổn thất đều thuộc rủi ro được bảo hiểm từ tất cả cáchợp đồng bảo hiểm giao kết với từng doanh nghiệp bảo hiểm

Một trong những đặc trưng của hợp đồng bảo hiểm là sự chuyển dịchrủi ro từ người tham gia bảo hiểm sang doanh nghiệp nhận bảo hiểm thôngqua hợp đồng bảo hiểm Rủi ro là khả năng xảy ra một sự cố không may, là sựkhông chắc chắn về một tổn thất Khi giao kết hợp đồng bảo hiểm bên thamgia bảo hiểm cũng như bên doanh nghiệp bảo hiểm không thể nào biết chắcđược có gặp rủi ro đến với đối tượng bảo hiểm hay không, có tổn thất xảy rahay không Hay nói cách khác rủi ro luôn mang tính khách quan nó không

Trang 24

phụ thuộc vào ý chí chủ quan của các bên Trong hợp đồng bảo hiểm bìnhthường thì doanh nghiệp bảo hiểm đã thu phí bảo hiểm và đã đứng ra nhậntrách nhiệm bảo hiểm cho khách hàng thì khi tổn thất xảy ra do rủi ro thuộc

sự kiện bảo hiểm, điều kiện bảo hiểm thì họ phải bồi thường thiệt hại chongười được bảo hiểm Thế nhưng trong hợp đồng bảo hiểm trùng thì khi rủi rogây nên tổn thất cho đối tượng được bảo hiểm thì rủi ro đó đều thuộc rủi rođược bảo hiểm từ các hợp đồng bảo hiểm trùng Tức là lúc này các doanhnghiệp bảo hiểm đã giao kết hợp đồng bảo hiểm với khách hàng đều có tráchnhiệm bồi thường cho họ Ví dụ: A mua bảo hiểm tài sản cho chiếc dâychuyền vàng của mình và sau đó A lại được mua bảo hiểm tư trang cho mộtchuyến du lịch (trong số tư trang đó có chiếc dây chuyền trên) Khi sự kiệnbảo hiểm xảy ra (dây chuyền bị mất trong chuyến du lịch), gây tổn thất cho Athì cả hai doanh nghiệp bảo hiểm đều phải bồi thường cho A, tức là rủi ro đềuđược bảo hiểm từ hai hợp đồng bảo hiểm trên

-Tổn thất xảy ra khi các hợp đồng bảo hiểm đều đang còn hiệu lực.Một trong những dấu hiệu để nhận biết hợp đồng bảo hiểm trùng đó làtồn tại hai hợp đồng bảo hiểm trở lên cùng bảo hiểm cho một đối tượng bảohiểm với cùng một điều kiện và sự kiện bảo hiểm, thế nhưng đòi hỏi các hợpđồng bảo hiểm này đều đang còn hiệu lực khi tổn thất xảy ra Nếu như cónhiều hợp đồng bảo hiểm cùng bảo hiểm cho cùng một đối tượng bảo hiểm,với cùng sự kiện, điều kiện bảo hiểm nhưng chỉ còn một hợp đồng có hiệu lựckhi sự kiện bảo hiểm xảy ra thì trường hợp này cũng không phải là hợp đồngbảo hiểm trùng Bởi lẽ trách nhiệm bảo hiểm trong trường hợp này chỉ thuộc

về doanh nghiệp bảo hiểm có hợp đồng đang còn hiệu lực, rõ ràng lúc nàytrách nhiệm bảo hiểm chỉ thuộc về một doanh nghiệp chứ không còn tìnhtrạng chồng lấn trách nhiệm bảo hiểm như trong bảo hiểm trùng Hợp đồngbảo hiểm là hợp đồng làm phát sinh một nghĩa vụ có điều kiện, theo đó bêntham gia bảo hiểm có trách nhiệm nộp phí bảo hiểm đầy đủ và đúng hạn, cungcấp các thông tin cần thiết cho bên bảo hiểm, còn bên bảo hiểm có nghĩa vụ

Trang 25

bồi thường thiệt hại cho bên tham gia bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm,trong phạm vi, điều kiện bảo hiểm và trong thời gian hợp đồng bảo hiểm cònhiệu lực Như vậy một rủi ro dẫn đến tổn thất mà các hợp đồng bảo hiểm nóitrên đều còn hiệu lực thì tất cả các hợp đồng bảo hiểm đó đều phát sinh nghĩa

vụ bồi thường Trong trường hợp này có sự chồng lấn trùng lặp trách nhiệmbảo hiểm giữa các doanh nghiệp bảo hiểm hay nói cách khác đây chính làtrường hợp bảo hiểm trùng Ví dụ: một công ty thương mại A giao kết mộthợp đồng bảo hiểm với công ty bảo hiểm B cho kho hàng M của mình, sau đócông ty A lại giao kết một hợp đồng bảo hiểm với công ty bảo hiểm C để bảohiểm cho tất cả các kho hàng để đề phòng khi hàng nhập về, xuất ra có nhữnggiao động đột biến Chúng ta thấy nếu sự kiện bảo hiểm xảy ra mà hợp đồngbảo hiểm giữa công ty thương mại A và doanh nghiệp bảo hiểm B hết hiệulực còn hợp đồng bảo hiểm giữa công ty A với doanh nghiệp bảo hiểm C vẫncòn hiệu lực, thì chỉ một mình doanh nghiệp bảo hiểm C bồi thường thiệt hạicho A Nhưng nếu cả hai hợp đồng bảo hiểm đều còn hiệu lực thì trách nhiệmbảo hiểm cho kho hàng M sẽ có phần trách nhiệm của cả hai doanh nghiệp,tình huống này chính là hợp đồng bảo hiểm trùng

2.2 CÁC TRƯỜNG HỢP BẢO HIỂM TRÙNG

Trong thực tế hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm có rất nhiềunguyên nhân dẫn đến trường hợp bảo hiểm trùng Nhưng tựu trung lại có cáctrường hợp bảo hiểm trùng sau:

2.2.1 Hợp đồng bảo hiểm trùng trên giá trị.

Hợp đồng bảo hiểm trùng trên giá trị là trường hợp bên mua bảo hiểmgiao kết hợp đồng bảo hiểm với hai doanh nghiệp bảo hiểm trở lên để bảohiểm cho cùng một đối tượng bảo hiểm, với cùng điều kiện và sự kiện bảohiểm trong đó mức bảo hiểm của tất cả các hợp đồng bảo hiểm nói trên lớnhơn giá thị trường của tài sản bảo hiểm tại thời điểm giao kết hợp đồng

Trong thực tế do nhầm lẫn hoặc thiếu hiểu biết về quy định của phápluật bảo hiểm nên người tham gia bảo hiểm đã mua bảo hiểm với mức phí của

Trang 26

số tiền bảo hiểm cao hơn giá thị trường của tài sản tại thời điểm giao kết hợpđồng Trong trường hợp bảo hiểm trùng trên giá trị thì có thể trong từng hợpđồng bảo hiểm với từng doanh nghiệp bảo hiểm giá trị bảo hiểm có thể bằnghoặc thấp hơn giá thị trường của tài sản tại thời điểm hợp đồng được giao kếtnhưng tổng giá trị được bảo hiểm trong tất cả các hợp đồng bảo hiểm nói trênluôn luôn lớn hơn giá trị của tài sản được bảo hiểm theo giá thị trường tại thờiđiểm hợp đồng được giao kết Theo nguyên tắc chung thì một người chỉ được

bù đắp một lợi ích tối đa bằng lợi ích mà mình đang có nên mức bảo hiểmtrong các hợp đồng bảo hiểm trùng không được vượt quá giá thị trường củatài sản tại thời điểm hợp đồng được giao kết Theo quy định tại khoản 2 Điều

42 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 thì "trong trường hợp bảo hiểm trêngiá trị được giao kết do lỗi vô ý của bên mua bảo hiểm thì doanh nghiệp bảohiểm phải hoàn lại cho bên mua bảo hiểm số phí bảo hiểm đã đóng tương ứngvới số tiền bảo hiểm vượt quá giá thị trường của tài sản được bảo hiểm saukhi trừ các chi phí có liên quan Trong trường hợp xảy ra sự kiện bảo hiểm,doanh nghiệp bảo hiểm chỉ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại khôngvượt quá giá thị trường của tài sản được bảo hiểm" Đồng thời pháp luật cũngcấm "doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm không được giao kết hợpđồng bảo hiểm trên giá trị" Pháp luật quy định như vậy là để đề phòng hạnchế người tham gia bảo hiểm lợi dụng hợp đồng bảo hiểm để trục lợi Ví dụmột người tham gia bảo hiểm trộm cắp cho một chiếc xe ô tô của mình Giáthị trường của chiếc xe tại thời điểm hợp đồng được giao kết là 300 triệu đồngnhưng anh ta lại mua bảo hiểm ở mức 400 triệu đồng Sau khi giao kết hợpđồng bảo hiểm anh ta đã cố ý huỷ hoại tài sản tạo hiện trường giả để được bồithường

Trong hợp đồng bảo hiểm trùng trên giá trị khi sự kiện bảo hiểm xảy racác doanh nghiệp bảo hiệp đều có trách nhiệm bồi thường cho người đượcbảo hiểm Nhưng mỗi doanh nghiệp bảo hiểm chỉ phải bồi thường số tiền bảohiểm được tính theo tỷ lệ giữa mức phí bảo hiểm mà doanh nghiệp bảo hiểm

Trang 27

đó đảm nhận nhưng nằm trong phạm vi thiệt hại thực tế của tài sản và tổngmức bảo hiểm của các doanh nghiệp bảo hiểm không vượt quá giá trị của tàisản tại thời điểm hợp đồng được giao kết Các doanh nghiệp bảo hiểm phảihoàn lại số phí bảo hiểm vượt quá cho người tham gia bảo hiểm Nhưng hiệnnay do pháp luật chưa quy định là mỗi doanh nghiệp đã ký hợp đồng bảohiểm trùng và trên giá trị phải hoàn trả cho bên tham gia bảo hiểm một số tiềnbằng nhau trong phần phí vượt quá, hay chỉ doanh nghiệp bảo hiểm nhận bảohiểm sau khi các doanh nghiệp bảo hiểm khác đã nhận bảo hiểm bằng giá trịcủa tài sản mới phải hoàn trả số tiền phí bảo hiểm vượt quá Theo chúng tôinếu khi sự kiện bảo hiểm chưa xảy ra thì doanh nghiệp bảo hiểm nhận bảohiểm sau khi các doanh nghiệp bảo hiểm khác đã nhận bảo hiểm bằng giá trịcủa tài sản thì phải hoàn lại phí bảo hiểm cho người tham gia bảo hiểm Nếukhi sự kiện bảo hiểm đã xảy ra thì các doanh nghiệp bảo hiểm đều phải hoànlại phí bảo hiểm cho người tham gia bảo hiểm trong phần vượt quá.

Như vậy giải quyết vấn đề mức phí bảo hiểm, trách nhiệm bảo hiểmtrong hợp đồng bảo hiểm trùng đã khó, nay giải quyết vấn đề này trong hợpđồng bảo hiểm trùng trên giá trị lại còn khó hơn Cái khó ở đây là khó cótiếng nói chung, khó thống nhất ý chí giữa các doanh nghiệp bảo hiểm cùngtham gia hợp đồng bảo hiểm trùng với nhau và khó thống nhất ý chí vớikhách hàng tham gia bảo hiểm Bởi lẽ trường hợp này pháp luật chưa quyđịnh cụ thể nên không có một quy tắc xử sự chung cho các chủ thể tuân theo,

từ đó dễ dẫn đến tranh chấp

2.2.2 Hợp đồng bảo hiểm trùng dưới giá trị:

Hợp đồng bảo hiểm trùng dưới giá trị là trường hợp bên mua bảo hiểmgiao kết hợp đồng bảo hiểm với hai doanh nghiệp bảo hiểm trở lên để bảohiểm cho cùng một đối tượng với cùng điều kiện và sự kiện bảo hiểm trong

đó tổng mức bảo hiểm của các hợp đồng bảo hiểm trên thấp hơn giá trị của tàisản theo giá thị trường tại thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm

Trang 28

Khác với hợp đồng bảo hiểm trùng trên giá trị, trách nhiệm của cácdoanh nghiệp bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm trùng dưới giá trị chỉ giớihạn trong phạm vi mức bảo hiểm mà mỗi doanh nghiệp đã thoả thuận tronghợp đồng bảo hiểm và trong mức phạm vi thiệt hại thực tế khi xảy ra Khi cómột rủi ro dẫn đến thiệt hại xảy ra thuộc sự kiện bảo hiểm, điều kiện bảo hiểmthì các doanh nghiệp bảo hiểm tham gia hợp đồng bảo hiểm trùng dưới giá trịđều có trách nhiệm bảo hiểm Mức bồi thường của từng doanh nghiệp sẽ làthiệt hại thực tế nhân với mức bảo hiểm của mỗi doanh nghiệp chia cho tổngmức bảo hểm của tất cả các doanh nghiệp tham gia bảo hiểm Phụ thuộc vàomức phí bảo hiểm mà từng doanh nghiệp đã thu dẫn đến mức bồi thường giữacác doanh nghiệp là bằng nhau hay khác nhau

2.2.3 Hợp đồng bảo hiểm trùng bằng giá trị:

Hợp đồng bảo hiểm trùng bằng giá trị là trường hợp bên mua bảo hiểmgiao kết hợp đồng bảo hiểm với hai doanh nghiệp bảo hiểm trở lên để bảohiểm cho cùng một đối tượng với cùng điều kiện và sự kiện bảo hiểm trong

đó tổng mức bảo hiểm của tất cả các hợp đồng bảo hiểm trên bằng với giá trịcủa tài sản theo giá thị trường tại thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm

Trong hợp đồng bảo hiểm trùng bằng giá trị thì mức phí bảo hiểm trongmỗi hợp đồng bảo hiểm luôn luôn nhỏ hơn giá trị của tài sản được bảo hiểmtheo giá thị trường tại thời điểm hợp đồng bảo hiểm được giao kết, nhưngtổng mức bảo hiểm của tất cả các hợp đồng bảo hiểm lại đúng bằng giá trị củatài sản bảo hiểm Có thể trong các hợp đồng bảo hiểm mức phí bảo hiểm bằngnhau nhưng cũng có thể là mức phí bảo hiểm khác nhau Khi sự kiện bảohiểm xảy ra thì tuỳ theo mức phí và mức bảo hiểm mà trách nhiệm bồi thườngcủa các doanh nghiệp bảo hiểm có thể bằng nhau hoặc khác nhau

Từ các trường hợp bảo hiểm trùng trên ta thấy: Cách tính bồi thườngthiệt của các doanh nghiệp trong hợp đồng bảo hiểm trùng có thể áp dụngtheo công thức sau:

Trang 29

Số tiền bảo hiểm của mỗi doanh nghiệp bảo hiểm Tổn thất thực tế x

Tổng số tiền bảo hiểm của tất cả các hợp đồng bảo hiểm

Trường hợp bảo hiểm trùng trên giá trị thì các doanh nghiệp bảo hiểmphải hoàn trả số tiền phí bảo hiểm vượt quá phần giá trị của tài sản sau đó mới

áp dụng công thức này

2.3 NỘI DUNG CỦA HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM TRÙNG.

Nội dung của hợp đồng bảo hiểm trùng là tổng hợp quyền và nghĩa vụcủa các bên tham gia bảo hiểm và các bên trong quan hệ bảo hiểm phát sinh

từ hợp đồng bảo hiểm đó được xác định thông qua các vấn đề sau:

2.3.1 Đối tượng được bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm trùng.

Bên tham gia bảo hiểm bao giờ cũng nhằm tới mục đích là được bênbảo hiểm khắc phục tổn thất tài chính khi xảy ra rủi ro đối với đối tượng bảohiểm của mình Như phần đầu đã phân tích đối tượng được bảo hiểm tronghợp đồng bảo hiểm trùng chỉ có thể là tài sản và/hoặc trách nhiệm dân sự, ta

sẽ xem xét từng loại đối tượng cụ thể sau:

- Thứ nhất: Đối tượng được bảo hiểm trong các hợp đồng bảo hiểmtrùng là tài sản

Theo pháp luật thì tài sản được bảo hiểm bao gồm "vật có thực, tiền,giấy tờ trị giá được bằng tiền và các quyền tài sản".6 Thế nhưng với nguyêntắc người mua bảo hiểm cho một tài sản phải là người có quyền lợi có thểđược bảo hiểm đối với tài sản đó, đồng thời tính chất giá trị của tài sản đượcbảo hiểm là căn cứ để xác định phí bảo hiểm, điều kiện bảo hiểm, sự kiện bảohiểm, mức trách nhiệm bồi thường Chính vì thế tài sản là đối tượng bảo hiểmtrong hợp đồng bảo hiểm trùng phải đáp ứng được các yêu cầu sau:

+ Nếu tài sản là một vật thì vật đó phải thuộc sở hữu của người thamgia bảo hiểm, đồng thời phải là vật có thực, tức là nó phải hiện có tại thời

Trang 30

điểm hợp đồng bảo hiểm được giao kết Bởi vì chỉ xác định được mức phí bảohiểm, điều kiện bảo hiểm, điều khoản loại trừ trong hợp đồng bảo hiểm trùngkhi căn cứ vào tính chất, đặc tính và giá trị của vật được bảo hiểm.

+ Nếu tài sản là tiền thì tiền đó phải đang có giá trị lưu hành và đượcphép lưu hành theo quy định của pháp luật, nếu là giấy tờ có giá thì giấy tờ đóphải trị giá được thành tiền nó phải do một cơ quan phát hành theo một trình

tự thủ tục luật định và phải được phép tiến hành lưu thông dân sự

+ Nếu tài sản là một quyền về tài sản thì quyền đó phải được trị giáthành tiền và phải được phép lưu thông dân sự

Từng loại tài sản là đối tượng của hợp bảo hiểm trùng phải được lặp lạitrong các hợp đồng bảo hiểm, tức là trong hợp đồng bảo hiểm với doanhnghiệp bảo hiểm này anh tham gia mua bảo hiểm cho tài sản là một kho hàngthì trong hợp đồng bảo hiểm với doanh nghiệp bảo hiểm kia anh cũng thamgia mua bảo hiểm cho kho hàng đó, với cùng điều kiện, sự kiện bảo hiểm

-Thứ hai: Đối tượng bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm trùng là tráchnhiệm dân sự

Trách nhiệm dân sự là một khái niệm có nội hàm rộng lớn nó bao gồmtrách nhiệm công khai xin lỗi, đăng bài cải chính, bồi thường thiệt hại chongười đã bị hành vi trái pháp luật của chủ thể vi phạm gây ra, xâm hại tới uytín, danh dự, nhân phẩm, sức khoẻ, tính mạng, tài sản của họ Mỗi một khi cácchủ thể thực hiện các hành vi xử sự của mình phải tuân theo các quy tắcchung của ngành luật dân sự là: bảo đảm các quyền và lợi ích của các chủ thểkhác Chính vì thế khi xử sự của một chủ thể làm ảnh hưởng tới quyền, lợi íchhợp pháp của chủ thể khác thì xử sự đó bị coi là trái pháp luật dân sự Và khi

đó người có quyền lợi ích hợp pháp bị xâm phạm có quyền yêu cầu toà ánhoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác áp dụng trách nhiệm dân sự đểbảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của mình và khi trách nhiệm dân sự được ápdụng thì người có hành vi xử sự trái với pháp luật dân sự phải gánh chịu một

số hậu quả pháp lý bất lợi

Trang 31

Có thể hiểu trách nhiệm dân sự là sự quy định của pháp luật dân sự vềhậu quả pháp lý bất lợi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền lựa chọn ápdụng buộc người có hành vi vi phạm pháp luật dân sự phải gánh chịu nhằmbảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bên có quyền dân sự bị vi phạm.

Trách nhiệm dân sự có hai loại là trách nhiệm dân sự mang tính tài sản(bồi thường thiệt hại) và trách nhiệm dân sự không mang tính tài sản (côngkhai xin lỗi, đăng bài cải chính) Thế nhưng trong hợp đồng bảo hiểm trùngđối tượng được bảo hiểm là trách nhiệm dân sự chỉ áp dụng với trách nhiệmbồi thường mà thôi Trách nhiệm bồi thường thiệt hại là việc một người phảibằng tài sản của mình để gánh chịu việc bù đắp tổn thất vật chất và tổn thấttinh thần do hành vi của mình gây ra đối với người khác Khi một chủ thể cóhành vi gây hại cho chủ thể khác thì họ phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại.Hành vi gây thiệt hại có thể là do không thực hiện hoặc thực hiện không đúngcác nghĩa vụ từ một hợp đồng mà người đó đang tham gia, có thể là hành vi viphạm pháp luật mà hoàn toàn không liên quan đến hợp đồng Vì thế pháp luậtdân sự chia trách nhiệm bồi thường thiệt hại thành hai loại sau:

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ: đây là loại tráchnhiệm bồi thường thiệt hại được hình thành giữa các bên đang có một quan hệnghĩa vụ đối với nhau, trong đó bên vi phạm nghĩa vụ phải bồi thường thiệthại cho bên bị vi phạm nếu hành vi vi phạm nghĩa vụ đã gây ra thiệt hại

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng: Đây là loại tráchnhiệm bồi thường thiệt hại được hình thành giữa các chủ thể bất kỳ, trong đóngười có hành vi trái với quy định của pháp luật mà gây thiệt hại cho ngườikhác thì phải bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại Theo quy định củaluật dân sự thì "người nào do lỗi cố ý hoặc vô ý xâm phạm tính mạng, sứckhoẻ, uy tín danh dự, nhân phẩm, tài sản của người khác mà gây thiệt hại thìphải bồi thường thiệt hại"7

7 Xem Điều 604 Bộ luật dân sự năm 2005

Ngày đăng: 28/09/2016, 08:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. GS-TSKH Trương mộc Lâm, Lưu nguyên Khánh- Một số điều cần biết về pháp lý trong kinh doanh bảo hiểm. Nxb Thống Kê năm 2000 Khác
2. Giáo trình bảo hiểm - Trường Đại học Kinh tế Quốc dân. Nxb Thống Kê năm 2003 Khác
3. Giáo trình bảo hiểm - Trường đại học tài chính kế toán. NxbTài chính năm 1999 Khác
4. Giáo trình đào tạo đại lý bảo hiểm phi nhân thọ - Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam.Nxb Thống Kê năm 2005 Khác
5. Giáo trình luật dân sự - Trường đại học Luật Hà nội. Nxb Công an nhân dân năm 2005 Khác
7. Bộ luật dân sự năm 2005.Nxb Chính trị quốc gia năm 2006 8. Luật Kinh doanh bảo hiểm. Nxb Chính trị quốc gia năm 2005 Khác
9. Nghị định số 42/2001/NĐ-CP ngày 01 tháng 08 năm 2001 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm Khác
10. Nghị định số 43/2001/NĐ-CP ngày 01 tháng 08 của Chính phủ quy định chế độ tài chính đối với doanh nghiệp môi giới bảo hiểm Khác
11. Quyết định số 23/2003/QĐ-BTC ngày 25 tháng 02 năm 2003 về việc ban hành biểu phí và mức trách nhiệm bảo hiểm bắt buộc tách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w