Khóa luận Những khía cạnh tâm lý trong hoạt động đối chất Khóa luận Những khía cạnh tâm lý trong hoạt động đối chất Khóa luận Những khía cạnh tâm lý trong hoạt động đối chất Khóa luận Những khía cạnh tâm lý trong hoạt động đối chất Khóa luận Những khía cạnh tâm lý trong hoạt động đối chất
Trang 1
Lời mở đầu
1 Lý do chọn đề tài.
Hoạt động đối chất là một dạng hoạt động do điều tra viên tiến hành
hướng tới việc giải quyết mâu thuẫn trong lời khai của những người tham giađối chất, nhằm xác định sự thật khách quan của vụ án Về phương diện nghiêncứu, hoạt động đối chất chủ yếu được xem xét dưới góc độ của pháp luật tốtụng hình sự và khoa học điều tra hình sự Trong đó, những đặc điểm củangười tham gia đối chất luôn là cơ sở để xây dựng những quy định của luật tốtụng hình sự và chiến thuật đối chất Dưới góc độ tâm lý, thì chưa có tác giảnào nghiên cứu về hoạt động đối chất một cách thấu đáo và toàn diện Vì vậy,trong thực tế nhiều điều tra viên chỉ coi người tham gia đối chất là nhữngngười đang nắm giữ các thông tin liên quan đến vụ án mà không quan tâm đếnyếu tố tâm lý của họ Bằng mọi cách, kể cả những biện pháp vi phạm phápluật, điều tra viên áp dụng để thu thập những tin tức về vụ án, mà không hiểu,những người tham gia đối chất trước hết là một chủ thể tâm lý Hành động khaibáo hay không khai báo, khai báo như thế nào đều do tâm lý của họ chi phối
Với mong muốn nghiên cứu một cách có hệ thống về lý luận và thựctiễn hoạt động đối chất dưới góc độ tâm lý học để đưa ra được nhiều đặc điểmcủa nó là cách thức tác động trong quá trình đối chất, chúng tôi đã chọn đề tài
“Những khía cạnh tâm lý trong hoạt động đối chất” làm đề tài cho bản khóaluận tốt nghiệp khoá học của mình
2 Mục đích nghiên cứu.
Mục đích nghiên cứu của bản khoá luận này là làm sáng tỏ những khíacạnh tâm lý của hoạt động đối chất trong điều tra vụ án hình sự, chỉ ra nhữngyếu tố tâm lý ảnh hưởng đến thái độ khai báo của đối tượng Từ đó đưa ranhững cách thức tác động phù hợp đối với những người tham gia hoạt động đốichất Ngoài ra, nó còn tìm hiểu thực trạng của việc sử dụng hoạt động đối chất
Trang 2trong thực tiễn hoạt động điều tra và đề xuất một số biện pháp nhằm đảm bảohiệu quả của hoạt động đối chất
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Khoá luận tập trung nghiên cưú những nội dung sau:
Về yêu cầu lý luận: Làm sáng tỏ khái niệm đối chất trong hoạt độngđiều tra vụ án hình sự, các khía cạnh tâm lý của hoạt động đối chất như đặcđiểm,các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động đối chất
Về yêu cầu thực tiễn: Tìm hiểu thực trạng việc áp dụng các kiến thứctâm lý và phương pháp tác động tâm lý trong hoạt động đối chất trong quátrình điều tra hình sự hiện nay,phát hiện hạn chế trong việc sử dụng tác độngtâm lý trong đối chất Đưa ra kiến nghị để đảm bảo cho điều tra viên đượctrang bị về nghiệp vụ,kiến thức tâm lý và đặc điểm nghề nghiệp nhằm đảm bảocho hoạt động đối chất
4 Phạm vi nghiên cứu.
Bản khoá luận chủ yếu đi sâu nghiên cứu các vấn đề cơ bản về tâm lýhọc của hoạt động đối chất trong điều tra vụ án hình sự như: Khái niệm, đặcđiểm tâm lý, những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động đối chất, phương pháp vàcác thủ thuật tác động tâm lý được sử dụng trong hoạt động đối chất Đồngthời, cũng chỉ ra một số thực trạng còn tồn tại trong hoạt động đối chất mà khiđối chất không xuất phát từ cơ sở tâm lý, từ đó đưa ra một số ý kiến
Bản khóa luận này không nghiên cứu, phân tích các đặc điểm đặc trưngcủa đối chất trong từng loại vụ án hình sự, cũng như không xem xét cácphương pháp và chiến thuật đối chất mang tính nghiệp vụ của ngành khoa họcđiều tra hình sự
5 Phương pháp nghiên cứu.
Khóa luận chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu lý luận, phươngpháp so sánh, phương pháp phân tích và tổng hợp để hệ thống hóa, khái quáthóa những lý thuyết, những nghiên cứu của tác giả trong và ngoài nước về các
Trang 3vấn đề có liên quan đến hoạt động đối chất trong điều tra vụ án hình sự như:Khái niệm, đặc điểm, những yếu tố ảnh hưởng của hoạt động đối chất.
Việc nghiên cứu đề tài còn dựa trên cơ sở lý luận về duy vật biệnchứng và duy vật lịch sử của triết học Mac – Lênin
Ngoài ra để nghiên cứu đề tài, chúng tôi còn dựa trên cơ sở của tâm lýhọc hiện đại, trên cơ sở các nguyên tắc phương pháp luận cơ bản của tâm lýhọc sau: Nguyên tắc về hoạt động và giao tiếp, nguyên tắc tiếp cận hệ thống,nguyên tắc quyết định luận xã hội
Để thực hiện được các nhiệm vụ và đạt được mục đích của đề tài,chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau
Phương pháp nghiên cứu văn bản, tài liệu, hồ sơ Phương pháp nàychúng tôi sử dụng để nhằm thu thập tổng hợp và phân tích các lý luận cơ bản
có liên quan đến khái niệm hoạt động đối chất trong điều tra vụ án hình sự.Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng phương pháp này để nghiên cứu một số hồ sơ
vụ án, biên bản đối chất để nhằm có được những thông tin về thực trạng củahoạt động đối chất trong thực tiễn của hoạt động điều tra hiện nay (Chúng tôinghiên cứu hồ sơ khoảng 10 biên bản đối chất của phòng cảnh sát điều tra tỉnhNam Định)
Phương pháp chuyên gia: Phương pháp này được sử dụng để nhằmtham khảo ý kiến của các chuyên gia về các khái niệm hoạt động đối chất, đặcthù của nó trong hoạt động điều tra, các yếu tố để đảm bảo hoạt động này được
sử dụng có hiệu quả
Phương pháp quan sát: Phương pháp này được sử dụng để quan sátbiểu hiện tâm lý của các chủ thể trong hoạt động đối chất Chúng tôi đã sửdụng phương pháp này để quan sát cuộc đối chất giữa anh Phạm Văn Đạt và
Vũ Văn Tài tại trại tạm giam công an tỉnh Nam Định, và cuộc đối chất giữa bịcan Trần Văn Thường cùng những người liên quan
Trang 4Phương pháp phỏng vấn sâu: Sử dụng phương pháp này chúng tôi tiếnhành phỏng vấn sâu một số điều tra viên để làm rõ một số yếu tố về khía cạnhtâm lý của hoạt động đối chất.
6 Bố cục của khóa luận.
Gồm phần mở đầu, ba chương, phần kết luận, danh mục tham khảo, vàphụ lục
Chương 1 khái niệm chung
1.1 Khái niệm
Cuộc sống con người là một dòng các hoạt động nối tiếp nhau ở đómỗi hoạt động có một vị trí và tầm quan trọng khác nhau đối với sự tồn tại vàphát triển của con người
Đối với hoạt động điều tra tội phạm, đối chất là một biện pháp nghiệp
vụ quan trọng Vì vậy, hoạt động đối chất được sự quan tâm nghiên cứu củanhiều ngành khoa học Có rất nhiều định nghĩa về đối chất Qua các tài liệuđược nghiên cứu , chúng tôi thấy có nhiều cách hiểu khác nhau về đối chất Cóthể kể đến một số nhóm quan điểm như sau về đối chất
Quan điểm thứ nhất xem đối chất như một biện pháp để giải quyết mâu
thuẫn
Theo giáo trình luật tố tụng hình sự - Trường Đại học Luật Hà Nội
“Đối chất là hoạt động điều tra được áp dụng trong trường hợp có mâu thuẫntrong lời khai giữa hai hay nhiều người để xác định sự thật” [17, tr.232]
Theo thuật ngữ pháp lý thì “Đối chất là một biện pháp điều tra trong tốtụng hình sự Trong trường hợp có sự mâu thuẫn trong lời khai giữa hai haynhiều người thì điều tra viên cho đối chất giữa những người đó” [15, tr.11]
Trang 5Theo từ điển giải thích thuật ngữ luật học “Đối chất là hoạt động điềutra được áp dụng trong trường hợp có sự mâu thuẫn trong lời khai giữa hai haynhiều người” [16, tr.166].
Quan điểm thứ hai cho rằng, đối chất là một hình thức đặc biệt của giao tiếp
Các tác giả theo quan điểm này cho rằng đối chất là “Quá trình tươngtác tâm lý ba chiều (hai bên đối chất và người chủ trì cuộc đối chất)” [26,tr.163], hoặc là “Sự tác động lẫn nhau giữa các bên tham gia đối chất dưới sựchỉ đạo, điều khiển của điều tra viên để xác định sự thật” [18, tr.127] Có tác giả
mô tả hoạt động đối chất là “Một hình thức đặc biệt của quan hệ giao tiếp tâm
lý được đồng thời nảy sinh và phát triển giữa ba người: Điều tra viên - người bịđối chất - người đối chất” [1, tr.160] Hoặc có thể hiểu một cách ngắn gọn vềhoạt động đối chất là “Sử dụng phương pháp tác động bằng quan hệ tâm lý điềuchỉnh” [26, tr.163]
Có ý kiến còn cho rằng “Đối chất là một loại hình giao tiếp đặc biệt”[1, tr.160]
Quan điểm thứ ba, một số tác giả lại cho rằng, đối chất là quan hệ giao tiếp mà ở đó có sự tác động tới các chủ thể để giải quyết mâu thuẫn về
lời khai Có thể kể đến các định nghĩa sau.
Có tác giả cho rằng “Đối chất là một dạng hoạt động điều tra, tiến hành xéthỏi cùng một lúc hai đương sự trước đây đã được xét hỏi về cùng một vụ ánhay tình tiết của vụ án, nhằm giải quyết các mâu thuẫn trong các thông tin do
họ cung cấp” [3, tr.268]
Ngoài ra, đối chất còn được hiểu là “Sự đối thoại, chất vấn trực tiếp giữahai người tham gia đối chất dưới sự điều khiển của điều tra viên nhằm giảiquyết những mâu thuẫn trong lời khai của họ trước đây để chứng minh về vụ
án đang tiến hành điều tra” [18, tr.126]
Cũng có thể hiểu “Đối chất chính là sự tác động đến tâm lý của người
bị đưa ra đối chất bằng những người tham gia đối chất - là một phương tiện
Trang 6đặc trưng của hoạt động tác động tâm lý, trong đó sự tác động tích cực của họvào người bị đối chất là một điều kiện tất yếu của đối chất” [1, tr.165].
Từ các phân tích trên, chúng tôi đồng tình với khái niệm sau về hoạt
động đối chất trong điều tra vụ án hình sự “Đối chất là giao tiếp tâm lý đặc trưng được diễn ra cùng một lúc giữa hai hay nhiều người trong trường hợp
có mẫu thuẫn trong lời khai của họ để xác định sự thật của vụ án”.
Xem xét khái niệm hoạt động đối chất theo quan điểm trên, trước hếtchúng ta thấy: Hoạt động đối chất nhằm giải quyết mâu thuẫn trong lời khaicủa những người tham gia đối chất, xác định sự thật khách quan của vụ án đểnhanh chóng kết thúc vụ án Để đạt được mục đích này, khi tiến hành đối chất,điều tra viên sử dụng các phương pháp khác nhau để tác động tâm lý đếnnhững người tham gia đối chất thông qua các giao tiếp bằng ngôn ngữ hoặc phingôn ngữ (cử chỉ, thái độ, nét mặt )
Hoạt động đối chất là hình thức giao tiếp trực tiếp và nhiều chiều giữa
ba chủ thể: Điều tra viên, người đối chất và người bị đối chất Trong đó điềutra viên đóng vai trò chủ đạo, trực tiếp điều khiển cuộc tiếp xúc giữa nhữngngười tham gia đối chất và từ đó áp dụng các biện pháp tác động tâm lý khácnhau để xác định sự thật của vụ án
1.2 Mục đích của hoạt động đối chất.
Hoạt động đối chất là một hoạt động nghiệp vụ điều tra, nó được thựchiện một cách linh hoạt, sáng tạo nhằm thực hiện nhiều mục đích khác nhau
1.2.1 Loại bỏ mâu thuẫn, xác định tính đứng đắn trong lời khai giữa hai hay nhiều người để tìm ra sự thật của vụ án.
Trong quá trình điều tra các vụ án hình sự, điều tra viên có thể gặpnhiều trường hợp bị can, người làm chứng hay người bị hại do nhiều nguyênnhân khác nhau họ có những mâu thuẫn về lời khai ở các trường hợp này, điềutra viên có thể cho tiến hành đối chất bằng cách hỏi hai người về cùng một vấn
đề trong cùng thời gian và địa điểm, cùng với đó là việc sử dụng các biện pháptác động khác nhau để tác động đến họ Điều tra viên giữ vai trò tổ chức, phối
Trang 7hợp mọi tác động cần thiết đến người bị đối chất Còn người đối chất tham giavào quá trình tác động tâm lý với tư cách vừa là chủ thể phối hợp, vừa làphương tiện trực tiếp tác động đến người bị đối chất dưới sự hướng dẫn củađiều tra viên
Từ đó, điều tra viên có thể làm rõ nguyên nhân, nội dung cụ thể củamâu thuẫn, tính đúng đắn và sự tin cậy của những căn cứ mà mỗi người đưa ra
để chứng minh cho lời khai của mình và các vấn đề khác có liên quan “Trongquá trình đối chất tính khách quan của các mâu thuẫn luôn luôn thay đổi Cónghĩa là mâu thuẫn của những lời khai dần dần bị loại trừ” [21, tr.166] Khi đó
sẽ hình thành sự thống nhất ở lời khai của những người tham gia đối chất, sựthật khác quan nhanh chóng được làm sáng tỏ
1.2.2 Giáo dục ý thức pháp luật của công dân khi tham gia đối chất
Thông qua hoạt động đối chất, điều tra viên giáo dục những ngườitham gia đối chất về ý thức pháp luật, hình thành ở họ thái độ nghiêm túc, tôntrọng cơ quan bảo vệ pháp luật Trong nhiều trường hợp, người đối chất cónhững xung đột về tâm lý, không sẵn sàng hợp tác với cơ quam điều tra đểđứng ra đối chất Hoặc có thể xảy ra các hiện tượng tiêu cực làm ảnh hưởngđến quá trình đối chất Chẳng hạn chủ thể ra dấu hiệu ngầm để thông cung, đedoạ hay cầu xin người đối chất, hoặc có các hành vi khác không có lợi chocuộc điều tra Trước hoàn cảnh đó đòi hỏi điều tra viên trong quá trình đối chấtphải giáo dục để họ hiểu về trách nhiệm công dân của mình Thực hiện đượcmục đích này, điều tra viên có thể vận dụng các phương pháp tác động tâm lý
để thay đổi tâm lý tiêu cực, khơi dậy yếu tố tâm lý tích cực ở từng người thamgia đối chất Từ đó giúp họ hiểu được ý nghĩa của việc khai báo thành thật,cũng như phải chịu trách nhiệm khi cố tình khai báo gian dối
1.2.3 Mục đích cải tạo, cảm hoá người phạm tội.
Khi người bị đối chất cố tình khai báo sai sự thật để chối tội hoặc đểche giấu tội phạm, điều tra viên vừa phải lấy lời khai vừa phải cảm hoá, cải tạođối tượng, làm cho họ thay đổi thái độ và hành vi Để làm được điều này điều
Trang 8tra viên phải có trình độ chuyên môn vững vàng, am hiểu về tâm lý, nắm vữngtâm lý của người bị tác động, có khả năng phân tích thuyết phục, giải thích vớithái độ chân tình, cùng với việc sử dụng linh hoạt các phương pháp tác độngtâm lý Tất cả những điều đó sẽ giúp cho điều tra viên khuyên nhủ, thuyết phụccảm hoá và cải tạo đối tượng, làm cho người phạm tội thực sự tin vào đườnglối cũng như chính sách khoan hồng của nhà nước ta để họ nhận ra lẽ phải, ănnăn hối cải
Việc cải tạo cảm hoá người phạm tội chủ yếu được thực hiện bởi điềutra viên, nhưng cũng có thể sử dụng các chủ thể khác - những người có quan
hệ về tình cảm với đối tượng Cách thức này mang lại hiệu quả cao, nó làmcho người phạm tội phải suy nghĩ về người thân của họ mà có thể dẫn tới việcthay đổi thái độ khai báo Nếu người thân tích cực phân tích, khuyên nhủ,động viên, an ủi người phạm tội thì họ sẽ phải suy nghĩ “dũng cảm” vuợtqua những vướng mắc trong tư tưởng của mình, tiến tới khai báo thành khẩn
Ví dụ: “Bị can H trong tổ chức mặt trận dân tộc cứu quốc đã được tác độngthông qua vợ và con nhỏ của y Biết H rất rất thương vợ, nhớ con, ta cho vợ Hgặp y để kể về hoàn cảnh hiện tại, về nỗi đau, vất vả khi nuôi con nhỏ, con rấtnhớ bố, kết hợp với việc điều tra viên phân tích khuyên nhủ bằng nhữngchứng cứ thực tế sinh động Từ đó đã cảm hoá được đối tượng dẫn tới việcthay đổi thái độ khai báo của H” [1, tr.227]
Trên đây là ba mục đích chính của hoạt động đối chất Những mục đíchnày góp phần làm sáng tỏ vụ án, phục vụ công tác đấu tranh và phòng ngừa tộiphạm Để thực hiện được mục đích này điều tra viên phải tính toán chuẩn bị kỹlưỡng mọi mặt trước khi bắt đầu đối chất
1.3 Nhiệm vụ của hoạt động đối chất.
Căn cứ vào yêu cầu của pháp luật và thực tiễn của hoạt động điều tra,
để đạt được mục đích của hoạt động đối chất, trong quá trình đối chất cần phảigiải quyết những nhiệm vụ sau
Trang 91.3.1 Làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án mà ở hoạt động xét hỏi chưa làm được.
Trong quá trình lấy lời khai, vì nhiều lý do khác nhau mà có sự mâuthuẫn trong lời khai giữa các chủ thể Vì thế, tình tiết của vụ án không thể đượclàm sáng tỏ nếu chỉ thông qua hoạt động xét hỏi Trong những trường hợp này,điều tra viên sử dụng biện pháp đối chất Trong đối chất, các bên tham gia đốichất tác động lẫn nhau dưới sự điều khiển của điều tra viên để xác định sự thật
Do vậy nhiệm vụ của hoạt động đối chất là loại bỏ được những mâu thuẫn đểlời khai được thống nhất, góp phần làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án.Thực hiện được nhiệm vụ này, điều tra viên phải tổ chức thành công việc xéthỏi hai người cùng một lúc để làm rõ hoặc loại bỏ mâu thuẫn đó ở đây tácđộng của người thứ hai tham gia đối chất và hành vi của họ có ảnh hưởng rấtlớn đến người bị đối chất Do vậy, trước khi đối chất điều tra viên phải giúp họ
có tâm lý sẵn sàng bước vào cuộc đối chất
Đối với những vụ án do một bên cố ý khai báo gian dối Điều tra viêncho đối chất, để họ trực tiếp tranh luận về những vấn đề có liên quan đến vụ
án Điều này góp phần làm sáng tỏ những tình tiết của vụ án
Đối với vụ án do người bị đối chất do nhầm lẫn hoặc quên các tình tiếtcủa vụ án, điều tra viên cũng có thể tiến hành đối chất Trước khi tiến hành đốichất, điều tra viên cần có sự chuẩn bị kỹ lưỡng mọi vấn đề: Chuẩn bị tâm lýcho những người tham gia đối chất, cho chính mình để có tâm lý thoải mái, tựtin điều khiển cuộc đối chất, xác định những mâu thuẫn và các tài liệu chứng
cứ cần thiết sẽ đưa ra đối chất Chẳng hạn có trường hợp: A và B cùng là ngườilàm chứng trong một vụ tai nạn giao thông làm chết người, kẻ gây ra tai nạn đãchạy trốn Nhưng khi lấy lời khai của A và B về anh ta: Hình dáng, quần áo,biển số xe, loại xe lại có sự mâu thuẫn Như vậy, khi xét hỏi, điều tra viênkhông thể làm sáng tỏ sự thật khách quan Điều tra viên cho tiến hành đối chấtgiữa A và B để loại bỏ sự mâu thuẫn để có một lời khai thống nhất, giúp choviệc truy tìm thủ phạm được thuận lợi hơn
Trang 101.3.2 Làm sáng tỏ nguyên nhân của sự mâu thuẫn trong lời khai của những người tham gia đối chất.
Để đối chất đạt hiệu quả cao điều tra viên phải xác định rõ nguyên nhâncủa sự mâu thuẫn trong lời khai của những người tham gia đối chất Nguyênnhân có thể do một bên đối chất cố tình khai báo sai sự thật
Trường hợp này điều tra viên phải tìm hiểu các động cơ tiêu cực ảnhhưởng đến sự khai báo, để có phương thức tác động phù hợp làm thay đổi động
cơ đó Nếu họ sợ phải chịu tội nặng, điều tra viên phải thuyết phục họ khai báothành thật để hưởng sự khoan hồng của nhà nước Nếu họ sợ bị trả thù, điều traviên phải thuyết phục họ thấy được các biện pháp bảo đảm an toàn với họ
Ngoài ra nguyên nhân của sự mâu thuẫn còn có thể do sự nhầm lẫn.Trường hợp này cho đối chất giữa những người có lời khai nhầm lẫn để họ cóthể nhớ lại chính xác các tình tiết trong lời khai của mình Điều tra viên tácđộng tâm lý để người tham gia đối chất có trạng thái tâm lý thoải mái, dễ nhớlại và trình bày một cách đúng nhất về các sự kiện liên quan đến vụ án
Nguyên nhân có thể là do sự khác nhau về vị trí tố tụng dẫn tới sựkhác nhau trong lập trường và quan điểm giữa những người tham gia đối chất
Sự khác nhau này tạo nên những mâu thuẫn trong động cơ khai báo, cung cấpthông tin cho cơ quan điều tra Để giúp họ có thái độ hợp tác tích cực và khaibáo trung thực, đầy đủ, đảm bảo loại trừ ý đồ lừa dối, đánh lạc hướng cơ quanđiều tra, điều tra viên phải lựa chọn các phương pháp tác động thích hợp Việc
sử dụng các phương pháp này như thế nào còn phải được tuân theo các quyền
và nghĩa vụ của họ được pháp luật quy định
Trong trường hợp nguyên nhân của sự mâu thuẫn là do thái độ, quan hệxấu đối với nhau ở đây tính chất của xung đột tăng lên khi các bên tham giađối chất luôn cố gắng bảo vệ lời khai của mình Điều tra viên sử dụng các bịênpháp tác động tâm lý để có căn cứ nhận định về thái độ khai báo, cũng nhưmức độ chính xác trong lời khai của họ Từ đó điều tra viên sẽ có cơ sở để xácđịnh lời khai của ai là đúng, loại bỏ mâu thuẫn ở các lời khai đó
Trang 11Qua đó, có thể thấy để khám phá vụ án được triệt để, các điều tra viênkhi thực hiện đối chất phải làm sáng tỏ nguyên nhân mâu thuẫn trong lời khai.
Có như thế điều tra viên mới đưa ra được các phương pháp tác động thích hợptrước từng nguyên nhân khác nhau
1.3.3 Làm sáng tỏ đặc điểm nhân cách, mối quan hệ của những người tham gia đối chất
Thái độ khai báo thành khẩn hay gian dối, ngoan cố không chịu khaibáo của người bị đối chất phụ thuộc nhiều vào đặc điểm tâm lý của họ Đó là
hệ thống các quan điểm, mục tiêu, lý tưởng, tính cách, xúc cảm, tình cảm, khíchất Người bị đối chất khai báo gian dối có thể sợ khai ra sẽ bị xử nặng, sợ bịđồng bọn trả thù, sợ liên lụy đến gia đình Động cơ kìm hãm sự khai báo củanhững người bị đối chất còn có thể do chủ quan coi thường, tin rằng cơ quanđiều tra không có đủ tài liệu chứng cứ về hành vi phạm tội của mình, hoặc tinrằng với sự khai báo giẩ dối thì sẽ dẫn tới hoạt động điều tra đi chệch hướng và
sẽ được giảm nhẹ Hoặc có người tin vào lý lẽ của mình để chối tội Đặc điểmnhân cách của những người đối chất cũng có ảnh hưởng rất lớn đến kết quảđiều tra Họ thường có tâm lý e ngại khi đứng ra đối chất, sợ bị trả thù, bịkhống chế đe doạ, có mặc cảm về sự phản bội, hoặc có sự ràng buộc bởi quan
hệ tình cảm ruột thịt Điều đó làm cản trở sự khai báo thành khẩn của họ Qua
đó cho thấy, mỗi người tham gia đối chất có đặc điểm nhân cách khác nhau.Tính đa dạng của nhân cách những người tham gia đối chất tạo nên tính phứctạp trong thái độ khai báo của họ Việc làm sáng tỏ đặc điểm nhân cách ngườitham gia đối chất không những tạo điều kiện lựa chọn phương pháp và thủthuật tác động thích hợp mà còn là cơ sở đánh giá mức độ chính xác và độ tincậy của lời khai của họ Ví dụ: Đối với trường hợp người bị đối chất có tâm lýchủ quan thì điều tra viên cần tận dụng hiệu ứng “ấn tượng có mặt” cùng vớicác chứng cứ thuyết phục, đánh mạnh vào tâm lý chủ quan của họ Trường hợpngười bị đối chất không dám khai báo do sợ bị xử nặng, điều tra viên cầnthuyết phục họ tin tưởng vào chính sách khoan hồng của Đảng và nhà nước ta
Trang 12Trong quá trình đối chất, điều tra viên cũng phải làm rõ mối quan hệtình cảm của những người tham gia đối chất, vì điều này có tác động mạnh mẽtới thái độ khai báo của họ Tình cảm giữa họ có thể là sự tôn trọng, nể phục,yêu thương, căm ghét Những xúc cảm, tình cảm này làm cho người khai báogian dối trở nên e ngại, hối hận Điều đó ảnh hưởng đến thái độ tiêu cực của
họ Điều tra viên cần tìm hiểu kỹ vấn đề này để có những biện pháp tác độngphù hợp làm tăng hiệu quả của việc đối chất
1.3.4 Xác định được các phương pháp và chiến thuật tác động thích hợp
Tác động tâm lý trong hoạt động đối chất được thực hiện bằng hệ thốngcác phương pháp xác định Các phương pháp tác động tâm lý được sử dụngkhông chỉ nhằm xoá bỏ hay thay đổi những hiện tượng tâm lý nào đó mà cònphát huy mặt tốt, mặt tích cực trong nhân cách của người bị tác động, khơi dậylương tâm, đạo lý làm người Vì thế, điều tra viên phải xác định và áp dụngcác phương pháp và thủ thuật tác động một cách linh hoạt nhằm đạt mục đích
đã đề ra Để sử dụng các phương pháp tác động tâm lý có hiệu quả, điều traviên cần nắm vững nội dung, cách thức sử dụng, cũng như phải xác định cácđiều kiện cần thiết áp dụng của từng phương pháp Tuỳ thuộc vào đối tượngtác động, mục đích tác động, nguyên nhân của sự mâu thuẫn điều tra viên ápdụng các biện pháp khác nhau để tác động tâm lý tới họ Mặt khác, điều traviên khi sử dụng các phương pháp này cũng phải nắm vững nội dung, điềukiện, hoàn cảnh sử dụng cũng như giới hạn cho phép của mỗi phương pháp.Tránh việc sử dụng tuỳ tiện các phương pháp vi phạm nguyên tắc tố tụng vànguyên tắc đạo đức, gây hậu quả xấu trong quá trình điều tra vụ án Trong cáctình huống tác động tâm lý làm thay đổi động cơ tiêu cực của người bị đốichất, cần nhấn mạnh phương pháp: Phân tích thuyết phục, truyền đạt thông tin,
và hướng dẫn tư duy Còn ở các tình huống tác động tâm lý nhằm tạo ra trạngthái thuận lợi, kích thích hoạt động tâm lý tích cực của người bị đối chất thìchủ yếu sử dụng phương pháp phân tích thuyết phục, gợi nhớ Ví dụ: Trongmật vụ án giết người ở Lý Nhân – Hà Nam, người chồng đã giết vợ ninh 49
Trang 13ngày rồi đổ ra vườn Sau một thời gian không thấy con gái mình, gia đình nhà
vợ hắn ta đã tố cáo với cơ quan công an Mọi nghi vấn đều tập trung ở ngườichồng Nhưng khi lấy lời khai hắn liắn, cùng với việc phân tích thuyết phụckhiến hắn đã không thể tiếp tục ngoan cố được mãi, cuối cùng phải cúi đầunhận tội
chương2
cơ sở tâm lý của hoạt động đối chất
2.1 Đặc điểm tâm lý của hoạt động đối chất trong vụ án hình sự.
Đối chất là hình thức giao tiếp đặc biệt Trong đối chất, nảy sinh sự tiếpxúc tâm lý giữa điều tra viên và những người tham gia đối chất được biểu hiện
ở quá trình trao đổi thông tin có liên quan đến vụ án, ảnh hưởng tác động qualại lẫn nhau về mặt tâm lý Tính đặc thù của giao tiếp trong đối chất được biểuhiện ở những đặc điểm sau
Trang 142.1.1 Giao tiếp trong đối chất là giao tiếp chính thức.
Giao tiếp trong đối chất là giao tiếp chính thức (hay còn gọi là giaotiếp công vụ) gồm nhiều vấn đề khác nhau Sự hình thành giao tiếp trong đốichất dựa trên cơ sở quy định của pháp luật tố tụng hình sự (Điều 138 Bộ luật tốtụng hình sự năm 2003) Đó là, chỉ trong trường hợp có sự mâu thuẫn trong lờikhai giữa hai hay nhiều người thì điều tra viên mới tiến hành đối chất Hành vi
xử sự của các chủ thể được điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật Điều traviên có quyền tiến hành các biện pháp điều tra do bộ luật tố tụng hình sự quyđịnh, được quyền áp dụng mọi phương pháp chiến thuật trong đối chất Vì thếđiều tra viên với vai trò là người tổ chức, điều khiển cuộc đối chất Trình tựtiến hành đối chất tuân thủ theo các quy định của pháp luật Khi bắt đầu đốichất, điều tra viên phải hỏi về mối quan hệ giữa những người tham gia đốichất, sau đó mới hỏi họ về những tình tiết cần làm sáng tỏ của vụ án Chỉ saukhi những người tham gia đối chất đã khai xong mới được nhắc lại những lờikhai lần trước của họ Những lời khai này phải được điều tra viên ghi đầy đủvào biên bản đối chất, có chữ ký của từng người
Những vấn đề trên trong quá trình đối chất được điều chỉnh bởi các quyphạm pháp luật Qua đó, đảm bảo cho các bên có thể thực hiện tốt quyền vànghĩa vụ của mình Đồng thời tính chất chính thức cũng làm tăng ý thức phápluật của các chủ thể Trong mọi trường hợp, tác động tâm lý đối với nhữngngười tham gia đối chất luôn phải đảm bảo sự phù hợp với các nguyên tắc cơbản của pháp luật Các chiến thuật, phương pháp tác động tâm lý được xâydựng dựa trên sự tuân thủ các nguyên tắc tố tụng hình sự Theo điều 3 của bộluật tố tụng hình sự : “Khi tiến hành tố tụng, điều tra viên phải thường xuyênkiểm tra tính hợp pháp và sự cần thiết của những biện pháp đã áp dụng, kịpthời huỷ bỏ hoặc thay đổi những biện pháp đó nếu xét thấy có vi phạm phápluật”
Trang 152.1.2 Giao tiếp trong đối chất là giao tiếp nhiều chiều
Đặc điểm thứ hai của giao tiếp trong đối chất là giao tiếp nhiều chiều
-có ba chủ thể tham gia Đó là quá trình tương tác ba chiều giữa hai thành viêntham gia đối chất và điều tra viên Biện pháp tác động tâm lý đối với người bịđối chất là dùng người thứ hai (người đối chất) cùng với các thông tin của họ,kết hợp với việc điều tra viên sử dụng các phương pháp khác nhau để tác độngtâm lý Sự trực tiếp tranh luận với người đối chất sẽ có tác động mạnh mẽ đếnngười bị đối chất, nhằm điều chỉnh sự nhận thức, xúc cảm, ý chí cũng nhưhành vi của họ Bởi vì nếu ở giai đoạn xét hỏi, chủ thể có hành vi khai man vớiđiều tra viên là người không biết gì về sự việc, thì ở đối chất anh ta lại khai báotrong sự có mặt của thành viên thứ hai tham gia đối chất - là người biết rõ vềcác sự kiện của vụ án Điều đó sẽ gây ra những ức chế nhất định đối với đốitượng có hành vi khai man Nhưng bên cạnh đó, nó cũng có thể gây ra nhữngtác động tiêu cực tới thành viên thứ hai, đặc biệt giữa hai người có mối quan hệtình cảm từ trước, dẫn đến việc đối tượng ra dấu hiệu ngầm cầu xin người thâncủa mình điều này làm cho người đối chất bị hoang mang và ảnh hưởng đếnthái độ khai báo của họ Vì vậy điều tra viên phải có sự chuẩn bị về mọi mặt đểkhắc phục tình trạng này
2.1.3 Ngôn ngữ được sử dụng trong đối chất là ngôn ngữ nói, đối thoại, trực tiếp.
Ngôn ngữ nói là việc điều tra viên sử dụng ngữ điệu, ngữ âm, nhấnmạnh các câu từ một cách chính xác, đúng thời điểm để tác động Ngôn ngữđối thoại là trao đổi thông tin ngắn Vai trò của các bên thay đổi, lúc này họ làngười truyền đạt, lúc sau họ lại là người tiếp nhận thông tin Quá trình tranhluận, trao đổi thông tin là phương tiện rất hiệu quả để giải quyết mâu thuẫntrong lời khai, làm sáng tỏ những tình tiết của vụ án Ngôn ngữ trực tiếp làmcho những người tham gia đối chất được tiếp xúc trao đổi trực diện, mặt đốimặt Khi đó, điều tra viên có thể sử dụng phương pháp biểu cảm phi ngôn ngữ,
để tăng cường cảm xúc đối với người bị đối chất ở đây, điều tra viên cần phảitận dụng hiệu ứng “ấn tượng có mặt”,để làm cho đối tượng bị đối chất lúng
Trang 16túng Lúc này, người tham gia thứ hai với thông tin, thái độ, cách cư xử của họ
sẽ là phương tiện tác động mạnh mẽ vào người bị đối chất “Việc tổ chức xéthỏi đồng thời hai người trong cùng một bối cảnh về không gian, thời gian sẽtạo ra các điều kiện để họ trực tiếp tri giác nội dung lời khai và thái độ củanhau, đồng thời là thúc đẩy tâm lý nhiều chiều đối với những người được đưa
ra đối chất” [1, tr.162] Để hiệu ứng “ấn tượng có mặt” đạt hiệu quả, điều traviên phải đảm bảo sự bí mật ,bất ngờ về sự xuất hiện của người đối chất, cũngnhư phải bình tĩnh, kìm chế trước những lời lẽ của bên bị đối chất
2.1.4 Trong quá trình đối chất điều tra viên có vai trò rất quan trọng.
Vai trò của điều tra viên trong quá trình đối chất được thể hiện qua việcchủ trì, điều khiển và điều chỉnh giao tiếp của các thành viên trong quá trìnhđối chất Có nghĩa, điều tra viên là người điều khiển hành vi và giao tiếp củacác thành viên tham gia đối chất Để thu nhận được những thông tin cần thiếtđiều tra viên phải áp dụng các tác động tâm lý đúng thời điểm, phù hợp tìnhhuống, đúng đối tượng để phát triển hay chấm dứt các hành vi hoặc xung đột
có thể xảy ra giữa các bên tham gia đối chất Bên cạnh đó điều tra viên cũngphải đưa ra những câu hỏi buộc những người tham gia đối chất phải giải đáp,phân tích và chỉ ra các mâu thuẫn trong lời khai của họ Trong quá trình đốichất, điều tra viên phải theo dõi hành vi, thái độ, cách cư xử của những ngườitham gia đối chất để nắm bắt phản ứng của từng người trước mọi tác động Khi
có tình huống tiêu cực xảy ra, điều tra viên phải kịp thời xử lý, bình tĩnh ngănchặn không để hậu quả xấu xảy ra Qua đó, điều tra viên có thể rút ra nhữngkết luận nhất định về các thông tin đã thu thập được, giải quyết mâu thuẫn, xácđịnh sự thật của vụ án
2.2 các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình đối chất
Kết quả của hoạt động đối chất phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau.Hiệu quả của đối chất không chỉ phụ thuộc vào điều tra viên, mà còn phụ thuộcvào thành viên thứ hai tham gia đối chất (người đối chất) Có một số yếu tố sauảnh hưởng đến quá trình đối chất
Trang 172.2.1 Sự chuẩn bị cho cuộc đối chất của điều tra viên.
Trước khi tiến hành đối chất, điều tra viên phải có sự chuẩn bị chu đáo
cho bản thân về mặt tâm lý Điều tra viên phải có tâm trạng thoải mái, tự tin đểđiều khiển hoạt động đối chất, xử lý tốt các tình huống phức tạp xảy ra Trongquá trình đối chất, có thể xảy ra nhiều khó khăn phức tạp không thể lườngtrước được Vì vậy điều tra viên phải tự chuẩn bị cho mình một tâm lý vữngvàng để sẵn sàng chịu đựng trạng thái căng thẳng, và phải trang bị kiến thức tốt
để có phương pháp làm việc khoa học
Đối với người đối chất, điều tra viên phải tạo cho họ tâm thế sẵn sàngtham gia đối chất Không ai khai báo thành khẩn cũng sẵn sàng chấp nhậnđứng ra đối chất Vì nhiều lý do khác nhau, họ không dám đối chất điều traviên cần tìm hiểu nguyên nhân, giải thích cho họ về nghĩa vụ công dân trongviệc vạch trần tội phạm Đối chất luôn chứa đựng những tình huống căng thẳng
về tâm lý, vì vậy điều tra viên phải có sự chuẩn bị chu đáo về tâm lý cho ngườiđối chất, để họ có thể làm tốt vai trò là phương tiện tác động tâm lý làm thayđổi thái độ khai báo của người bị đối chất
Cùng với sự chuẩn bị về tâm lý cho bản thân và cho người tham giađối chât, điều tra viên còn phải có sự chuẩn bị về nhiều vấn đề quan trọngkhác Trước khi đối chất, điều tra viên phải xác định được mâu thuẫn cần giảiquyết, dự đoán các tình huống có thể xảy ra và các phương pháp tác động,chuẩn bị trước các tài liệu, chứng cứ cần thiết sẽ đưa ra khi đối chất, tìm hiểu
rõ nhân thân, các đặc điểm tâm lý của mỗi chủ thể tham gia đối chất, xác địnhcác câu hỏi để bổ sung cho các câu hỏi mà những người tham gia đối chất đặt
ra cho nhau Tất cả sự chuẩn bị này giúp cho điều tra viên có thể chủ động điềukhiển cuộc đối chất
2.2.2 Thái độ, phong cách, năng lực tổ chức và điều khiển cuộc đối chất của điều tra viên.
Ngoài những yếu tố ảnh hưởng trên, sự thành công của đối chất cònphụ thuộc rất nhiều vào thái độ, năng lực cũng như phong cách của điều tra
Trang 18viên Trong quá trình đối chất, điều tra viên là chủ thể trực tiếp tiến hành tổchức và điều khiển cuộc đối chất, vì thế điều tra viên có ảnh hưởng khá lớnđến hoạt động này Đối với trường hợp người bị đối chất khai báo gian dối,ngoan cố không chịu nhận tội, điều tra viên có thái độ bình tĩnh, ý chí vữngvàng, có trình độ chuyên môn, am hiểu về tâm lý, phong cách đĩnh đạc, đànghoàng Những điều tra viên như vậy thường đạt được sự thành công khi đốichất, làm cho người bị đối chất phải khai báo thành khẩn, cuối cùng phải cúiđầu nhận tội Ngược lại, cũng có nhiều trường hợp đối chất không đem lại kếtquả thể hiện qua việc điều tra viên tỏ ra không vô tư, khách quan, hoặc có thái
độ nóng nảy, lăng mạ, thuyết giáo người bị đối chất, làm cho họ càng có thái
độ bất hợp tác, trở nên ngoan cố hơn Vì vậy, để người bị đối chất có thái độkhai báo tốt thì “Cơ quan điều tra phải căn cứ vào tính chất vụ án, vai trò, vịtrí, thái độ, tuổi tác của từng đối tượng mà phân công cán bộ xét hỏi cho thíchhợp” [24, tr.60]
2.2.3 Tính bất ngờ của đối chất.
Sự thành công của đối chất phụ thuộc rất nhiều vào tính bất ngờ đốivới đối tượng khai man Hoạt động đối chất được tổ chức càng bất ngờ baonhiêu thì sự tác động tâm lý của nó đối với người khai sai sự thật sẽ càngmạnh mẽ bấy nhiêu Tính bất ngờ đối với đối tượng khai man đưa họ vào tìnhthế bị động Việc đối thoại trực tiếp với người đã biết rõ sự thật, cùng với việc
sử dụng các phưong pháp tác động tâm lý, làm họ rơi vào trạng thái hoangmang, dao động, lo sợ Từ đó sẽ dẫn tới sự thay đổi thái độ và hành vi khaibáo của họ Để đảm bảo tính bất ngờ, điều tra viên phải tính toán đến thứ tựcủa những người tham gia đối chất để họ không có điều kiện tiếp xúc màthống nhất lời khai Điều tra viên nên bố trí người đối chất vào trước để saukhi ổn định tâm lý cho họ, sẽ cho người bị đối chất vào, bởi sự hiện diện củangười đối chất sẽ gây tâm lý hoang mang cho người bị đối chất Họ không kịpchuẩn bị lời khai để đối phó lại Ví dụ: Trong vụ án tham ô tài sản, mà bị can
là Trần Văn Thường đã có hành vi buôn bán cây bồ đề trong khuôn viên nhà
Trang 19bảo tàng công ty dệt Nam Định Sau khi hỏi cung, bị can Trần Văn Thườngcương quyết không thú nhận hành vi phạm tội của mình Trong vụ án náy có
ba người khác liên quan, đó là Trần Đình Lưu, Vũ Quốc Huy, và Trần MinhThành Họ đều là người làm cùng nhà máy với Trần Văn Thường Khi bị bắtanh ta rất ngoan cố không chịu thú nhận về hành vi của mình Do tâm lý chủquan, bị can Thường tin rằng họ sẽ không khai báo về hành vi của mình, cơquan công an vì thế cũng sẽ không thể biết được những hành vi phạm tội đó.Nhưng khi cơ quan điều tra cho đối chất giữa bị can Thường với từng ngườiliên quan, bị can Thường đã rất bất ngờ trước sự có mặt của họ Sau đó bị canThường không thể tiếp tục quanh co chối tội được nữa vì bị can hoàn toàn bấtngờ và không thể phản ứng lại được trước những chứng cứ có thật của vụ án
2.2.4 Tính thuyết phục của những chứng cứ được nêu ra trong đối chất.
Những vấn đề được sử dụng để thuyết phục trong quá trình đối chất
càng được trình bày rõ ràng, cụ thể, logic và chặt chẽ bao nhiêu thì sự tác độngcủa đối chất đối với người bị đối chất sẽ càng mạnh mẽ bấy nhiêu Theo Luật
Tố tụng hình sự, chứng cứ là phương tiện để chứng minh nó gồm những sựkiện, tài liệu có thật, phù hợp với các tình tiết của vụ án Những chứng cứ cótính thuyết phục sẽ làm cho đối tượng cố tình khai báo sai trở nên lúng túng,không thể tiếp tục quanh co chối tội, và buộc phải nhanh chóng nhận tội
Khi bị can có sự chủ động về tâm lý, hành vi, ngoan cố che dấu tộiphạm, và có ý thức chống đối cơ quan điều tra, thì điều tra viên cho tiến hànhđối chất một cách bất ngờ kết hợp với việc đưa ra những chứng cứ, tài liệuquan trọng, xác thực sẽ tác động mạnh mẽ đến tâm lý của họ Những chứng cứphải liên quan đến những vấn đề mà họ đang quan tâm, buộc họ phải suy nghĩ
mà thay đổi nhận thức, quan điểm, trạng thái tâm lý Mặt khác những thông tin
từ các chứng cứ đó được sử dụng phải đúng mức, và phải được sử dụng đúngthời điểm, chính xác và có giá trị chứng minh cao sẽ có tác dụng đẩy bị canvào tình thế bị động, mất bình tĩnh, và không thể tiếp tục khai báo gian dối,
Trang 20quanh co chối tội được nữa Chẳng hạn, ở vụ án cướp tài sản công dân xảy ra ởNam Định: Ba học sinh của một trường phổ thông trung học ở tỉnh Nam Định,
do ăn chơi đua đòi đã đi cướp xe máy của một người lái xe ôm Sau khi cướpđược xe, bọn chúng đã trói nạn nhân lại, đổ dầu hoả lên người nạn nhân rồi đốtcháy nhằm phi tang Khi cơ quan công an lấy lời khai của đối tượng, nhưngmột tên trong số đó luôn quanh co chối tội Các điều tra viên đã cho tiến hànhđối chất giữa đối tượng này với hai đối tượng còn lại, và đưa ra một bằngchứng hết sức thuyết phục đó là chiếc phù hiệu học sinh của hắn đã thu đượctại hiện trường vụ án Khi đứng trước hai đồng phạm với mình và đặc biệt làvới chứng cứ quá rõ ràng làm cho đối tượng này thay đổi hoàn toàn thái độ vànhanh chóng nhận tội
2.2.5 Cách xử sự của thành viên thứ hai tham gia đối chất.
Ngoài sự kiện, chứng cứ có tính chất thuyết phục, cách cư xử củathành viên thứ hai tham gia đối chất cũng góp phần quan trọng vào thành côngcủa đối chất Người đối chất thường có tâm lý e ngại, khó khăn khi phải khaibáo vạch mặt kẻ phạm tội trước mặt chúng, nhất là khi họ có quan hệ ràngbuộc lẫn nhau Người đối chất trong tình thế này xảy ra trạng thái tâm lý hoangmang, nhất là khi giữa họ và người bị đối chất có mối quan hệ thân thiết gắn
bó Có trường hợp người đối chất do sợ bị trả thù nên không dám khai báothành thực để vạch trần sự giả dối của người bị đối chất Vì thế khi cho đốichất thành viên thứ hai thường có những ức chế nhất định trong tâm lý Có thểthấy, cách xử sự của thành viên thứ hai trong đối chất có tầm quan trọng nhấtđịnh Họ luôn phải chủ động khéo léo bình tĩnh, và có tâm lý thoải mái Đểgiúp họ hoàn thành vai trò vừa là chủ thể phối hợp, vừa là phương tiện tácđộng của người đối chất, điều tra viên phải chuẩn bị tâm lý sẵn sàng cho họ, và
dự kiến các tình huống có thể xảy ra khi đối chất để tạo cho họ tâm lý tintưởng vào bản thân Mặt khác trong quá trình đối chất điều tra viên phải chú ýquan sát, theo dõi chặt chẽ diễn biến tâm lý của từng người tham gia đối chất
để có các biện pháp tác động thích hợp Tất cả những điều đó tạo cho người
Trang 21đối chất tâm lý thoải mái, lập trường vững chắc, cách xử sử tích cực tạo thuânlợi cho cuộc đối chất Khi đó, người đối chất sẽ “Có ý nghĩa như một tác độngtâm lý đặc biệt đánh mạnh vào sự chủ quan, thái độ giả dối của đối tượng,buộc đối tượng phải điều chỉnh hành vi khai báo của mình” [1, tr.66]
ý thức về nghĩa vụ công dân của thành viên thứ hai cũng ảnh hưởngđến thái độ hợp tác với cơ quan điều tra Qua đó nó cũng ảnh hưởng tới họtrong đối chất, tạo nên những hiệu quả nhất định Nếu người đối chất xác địnhđược tầm quan trọng của việc thực hiện nghĩa vụ công dân, có ý thức vạch trầntội phạm, thì họ sẽ có một tâm lý vững vàng góp phần vào sự thành công củađối chất
2.2.6 Tính chất của mối quan hệ đã có giữa các thành viên.
Có thể nói, quan hệ đã có giữa những người tham gia đối chất cũng cónhững ảnh hưởng nhất định tới kết quả đối chất Tính chất của mối quan hệnày có thể gây ra những ảnh hưởng tiêu cực hay tích cực Các điều tra viênphải nắm bắt được các trạng thái tâm lý, thái độ, những diễn biến tình cảm của
họ với nhau trong đối chất, mà có những biện pháp tác động hợp lý đến họ Sựràng buộc trong mối quan hệ giữa các thành viên tham gia đối chất có tác độngđến tình cảm, xúc cảm của họ, có thể gây ra những căng thẳng mạnh mẽ vềtâm lý như lo lắng, sợ hãi, nhưng cũng có thể là hi vọng Ngược lại, ở họ cũng
có thể xuất hiện sự hối hận mà thay đổi suy nghĩ, khai báo thành khẩn Hoặc
do sự kính trọng, nể nang, khâm phục và tin cậy của người bị đối chất đối vớingười đối chất, mà người bị đối chất trở nên e ngại và không dám khai báogian dối nữa
Như vậy, tuỳ thuộc vào tính chất của từng mối quan hệ khác nhau giữanhững người tham gia đối chất, điều tra viên cần lên kế hoạch cụ thể và cónhững phương pháp tác động phù hợp với mỗi quan hệ đó, để hoạt động đốichất đạt hiệu quả cao
Tóm lại, có thể thấy những yếu tố trên có ảnh hưởng ở từng khía cạnh,góc độ khác nhau đối với hoạt động đối chất Hiểu được những yếu tố đó giúp
Trang 22điều tra viên có điều kiện tận dụng lợi thế của từng yếu tố trong các tình huốngkhác nhau làm cho đối chất có hiệu quả.
2.3 Những phương pháp và thủ thuật tác động tâm lý trong hoạt động đối chất.
2.3.1 Các nguyên tắc cơ bản khi sử dụng phương pháp và thủ thuật tác động tâm lý.
Khi sử dụng các phương pháp tác động tâm lý phải tuân thủ các nguyêntắc sau đây:
Tác động phải tuân thủ chặt chẽ các quy định của pháp luật Các quy
định của Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự luôn xác định quyền hạn,trách nhiệm của những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tốtụng
Chủ thể tác động cần phải có tri thức, hiểu biết về quy luật hình thành
và phát triển tâm lý của con người Phải xác định rõ mục đích, lập kế hoạch
quá trình tác động, cũng như phải tính đến các phản ứng của người bị tác động.Phải chú ý tới những điều kiện, hoàn cảnh tiến hành tác động làm cho các bêntham gia đối chất cảm thấy yên tâm, tự tin, không bị phân tán tư tưởng Phảiđảm bảo tính tích cực tâm lý ở người bị tác động Tính tích cực của người bịtác động luôn được coi là một trong các yếu tố cần thiết đảm bảo cho quá trìnhtác động tâm lý đạt hiệu quả Nội dung và phương pháp tác động tâm lý phảiphù hợp với từng người bị tác động Những thông tin đưa ra phải liên quan đếnnhững vấn đề mà người bị tác động đang quan tâm, phải tạo nên sự rung động,buộc họ phải suy nghĩ và đi đến thay đổi nhận thức, trạng thái tâm lý trongviệc khai báo, trình bày với chủ thể tác động Chủ thể tác động phải là ngườinắm vững chuyên môn nghiệp vụ, có đạo đức nghề nghiệp, có kiến thức sâurộng về xã hội và có kỹ năng giao tiếp
2.3.2 Các phương pháp tác động tâm lý.
Theo L.V Petrenco thì: “Tác động tâm lý trước hết là một quá trình,một hoạt động, chứ không đơn thuần chỉ là một vài cử chỉ, tác động đơn điệu
Trang 23Hoạt động ấy thể hiện bằng hành động và cách thức tác động với mục đích cụthể khác nhau ” [19, tr.89] Trong hoạt động đối chất, điều tra viên có thể sửdụng nhiều phương pháp khác nhau nhằm tác động tâm lý đến người tham giađối chất để xác định tính đúng đắn, loại bỏ mâu thuẫn trong lời khai của họ.Các phương pháp tác động tâm lý sau đây thường được sử dụng hơn cả.
2.3.2.1 Phương pháp giao tiếp tâm lý có điều khiển.
Phương pháp giao tiếp tâm lý có điều khiển là chủ thể tác động thiếtlập, sử dụng các giao tiếp tâm lý trong hoạt động đối chất để đạt được mụcđích Đây là phương pháp được sử dụng nhiều hơn cả trong hoạt động đối chất
Mục đích khi sử dụng phương pháp này là điều khiển giao tiếp giữa cácchủ thể để loại bỏ mâu thuẫn trong lời khai của các đương sự Điều tra viênphải thiết lập giao tiếp giữa các chủ thể, định hướng và điều khiển các giao tiếpnày diễn ra theo hướng cần thiết và đạt được mục đích giao tiếp “Giao tiếp là
sự tiếp xúc giữa con người với con nguời nhằm thực hiện những mục đích nhấtđịnh” [3, tr.150] Trong giao tiếp của hoạt động đối chất luôn diễn ra sự tácđộng qua lại giữa những người tham gia đối chất và điều tra viên Điều đóđược biểu hiện ở những thay đổi về xúc cảm và hành vi, ở sự đồng tình, hậuthuẫn hay mâu thuẫn, chống đối của họ với nhau.Trong trường hợp này, cácquan hệ giao tiếp này đều được điều tra viên điều khiển nhằm hướng và tăngcường sự tác động lên tâm lý của những người tham gia đối chất để đạt đượcmục đích mong muốn Ví dụ: Điều tra viên thông qua người thân của bị can đểđộng viên, thuyết phục bị can khai báo thành thật
Để đạt được mục đích này điều tra viên phải quan sát nhạy bén nhữngbiểu hiện bên ngoài để nhận định được diễn biến tâm lý bên trong của đốitượng Từ đó mà có sự tác động tiếp theo cho phù hợp Phương pháp này chỉđạt hiệu quả cao khi cùng phối hợp với các phương pháp tác động tâm lý khác.Chẳng hạn, trong quá trình đối chất giữa các đương sự xảy ra sự xung đột tâm
lý gay gắt khi mỗi người đều giữ lập trường, quan điểm của mình Để đối phóvới tình huống này, điều tra viên kết hợp sử dụng phương pháp mệnh lệnh,
Trang 24truyền đạt thông tin để chấm dứt hành vi quá khích của họ, điều khiển giao tiếptheo hướng điều tra viên mong muốn
2.3.2.2 Phương pháp truyền đạt thông tin
Là phương pháp mà điều tra viên sử dụng những thông tin liên quanđến sự việc và các vấn đề mà người bị tác động đang quan tâm, làm xuất hiện
ở họ những cảm xúc nhất định, từ đó thay đổi thái độ thần khẩn khai báo ởnhững người khai man, và khôi phục lại trí nhớ về vấn đề liên quan đến vụ án
do nhầm lẫn
Trong đối chất, người bị đối chất thường là những người khai báokhông thành khẩn, có thái độ tiêu cực, không chịu hợp tác với cơ quan điều tra.Trong trường hợp này điều tra viên có thể sử dụng phương pháp truyền đạtthông tin Những thông tin mà điều tra viên sử dụng để truyền đạt đến đốitượng này là những tài liệu thu thập được trong vụ án, về đối tượng điều tra,hoặc về những người khác có liên quan Đó là các dấu vết, tang chứng, vậtchứng, tài liệu, tin tức, sự việc của vụ án Các thông tin này được đưa ra mộtcách bất ngờ, thường đạt vào những thời điểm mang tính đột phá, kết hợp vớinhững thông tin do người thứ hai tham gia đối chất sẽ gây nên những thay đổicảm xúc mạnh mẽ ở đối tượng bị đối chất, tạo ra ở họ trạng thái hoang mangkhông tin vào khả năng che dấu của mình nữa Ví dụ:Trong vụ án giết ngườicướp của tại chợ Móng Cái – Quảng Ninh“Sau khi bị bắt và qua nhiều ngàyđấu tranh xét hỏi, bị can Quách Đồng luôn ngạo mạn che dấu tội lỗi, mặc dùđiều tra viên đã đưa ra trước mặt hắn những tang vật gây án đã tìm được Nắmđược động cơ kìm hãm sự khai báo của bị can là y tin rằng: Nạn nhân của vụ
án đã chết Do đó, khi nạn nhân (Tài) bình phục, điều tra viên đã cho nạn nhânđối chất với Quách Đồng Hắn toát mồ hôi “thì ra anh vẫn còn sống ư?” và cúiđầu thú tội là thủ phạm chính trong vụ án giét người, cướp của tại khu vực chợMóng Cái – Quảng Ninh” [30, tr.11]
Trong trường hợp người bị đối chất do một số lý do khác nhau đãquên hoặc do nhầm lẫn các tình tiết trong vụ án, điều tra viên cũng có thể sử
Trang 25dụng phương pháp truyền đạt thông tin để họ nhớ lại những sự kiện đó và loại
sự nhầm lẫn trong lời khai Trước khi đối chất điều tra viên cần nói rõ mụcđích của cuộc đối chất để họ không bị bất ngờ, kết hợp với những thông tinđược đưa ra trong quá trình đối chất có liên quan đến vụ án sẽ giúp họ nhanhchóng hồi tưởng lại các sự kiện đã quên Khi được nhìn thấy các vật chứng cóliên quan, nó sẽ tác động mạnh đến trí nhớ làm cho họ nhớ lại đươc chính xáccác vấn đề liên quan đến vụ án
Thực tế, phương pháp này được sử dụng khi điều tra viên đã thu đượcchứng cứ có giá trị chứng minh cao và đã được xác minh thẩm tra Vì thế để sửdụng phương pháp truyền đạt thông tin có hiệu quả cần đảm bảo các yêu cầusau
Các thông tin để tác động phải được kiểm tra kỹ lưỡng đảm bảo độchính xác cao, có liên quan đến sự việc phạm tội Tuyệt đối không được sử
dụng thông tin giả để tác động A.V Đu lôp cũng đã xác nhận rằng “Đặc điểm
có tính nguyên tắc của việc sử dụng các phương pháp tác động tâm lý là tuyệt đối không được truyền đạt thông tin giả Tất cả những phương pháp tác động tâm lý xây dựng trên việc sử dụng thông tin giả đều sai lầm” [2, tr.79] Việc sử
dụng những thông tin chính xác không chỉ có tác dụng buộc người bị đối chấtphải chấp nhận các vấn đề đưa ra, mà còn loại bỏ tư tưởng ngoan cố của bịcan
Việc truyền đạt thông tin phải đảm bảo tính bất ngờ cả về nội dung vàthời điểm tác động mới mạng lại hiệu quả cao, làm thay đổi trạng thái và cảmxúc của người bị tác động Từ những phản ứng cảm xúc của người bị đối chấtcho phép điều tra viên rút ra kết luận về thái độ thực của họ đối với hành viphạm tội
Khi truyền đạt thông tin cần phải đảm bảo sự tập trung chú ý củangười bị tác động Vì vậy việc truyền đạt thông tin tốt nhất nên thực hiện khiđối tượng đang có sự xung đột tâm lý mạnh mẽ, đang băn khoăn suy nghĩ vềhành vi của mình nhưng do nhiều nguyên nhân khác nhau mà chưa dám khai
Trang 26báo Những thông tin được đưa ra đúng lúc sẽ có tác động rất mạnh, gây ranhững cảm xúc mạnh mẽ ở đối tượng.
Tóm lại, việc sử dụng phương pháp truyền đạt thông tin đúng lúc, bấtngờ sẽ làm cho đối tượng bị đối chất phải thay đổi tư duy, thành thật khai báo.Phương pháp này kết hợp với các phương pháp tác động khác sẽ làm cho đốichất được thành công
2.3.2.3 Phương pháp thuyết phục.
Phương pháp thuyết phục là phương pháp được sử dụng rất phổ biến,
và mang lại hiệu quả cao “Đây là phương pháp dùng những lời lẽ để phântích, giải thích cho người bị tác động để họ nhận rõ đúng, sai, phải, trái về vấn
đề liên quan đến họ” [21, tr.32] Đó là sự giải thích khuyên nhủ bằng lý lẽ, lậpluận bằng logic một cách chân thành, tình cảm giúp đối tượng có cách nhìnmới, thái độ phù hợp với yêu cầu của chủ thể tác động
Tác dụng của phương pháp này là phục vụ việc chất vấn xét hỏi khitiến hành đối chất Đồng thời nó cũng có tác dụng lâu dài là cảm hoá tư tưởng,giáo dục người phạm tội, ngăn ngừa tội phạm Vì thế phương pháp này đượcxác định là cơ bản và sử dụng khá rộng rãi trong mọi trường hợp, và mọi đốitượng Đây là một trong số các phương pháp được điều tra viên đánh giá cao
và thường xuyên sử dụng trong tác động tâm lý người đối chất Phương phápnày được áp dụng vào việc chuẩn bị tâm lý cho người đối chất, giúp họ nhậnthức rõ ý nghĩa quan trọng của cuộc đối chất, đồng thời thông qua đó bồidưỡng cho người đối chất cả về nội dung và phương pháp tác động tâm lý, làmcho họ thực hiện đối với người bị đối chất có kết quả tốt hơn Phương phápnày còn có tác dụng thuyết phục, cảm hoá, động viên người bị đối chất để họthấy không thể ngoan cố được mãi, phải khai báo trung thực
Nội dung mà điều tra viên sử dụng khi thuyết phục, cảm hoá thường
có căn cứ lập luận logic, chặt chẽ Đó cũng là những vấn đề được thể hiệntrong chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước, phải gắn với tình hìnhthực tế của mỗi địa phương, nên sẽ rất hiệu quả khi tác động vào thái độ khai
Trang 27báo của những người tham gia đối chất Khi giải thích chính sách, pháp luậtphải chính xác, có sức thuyết phục, đồng thời phải nhất quán với thực tiễn,không mâu thuẫn với thái độ xử sự của điều tra viên, phê phán vạch trần sự giảdối của người bị đối chất, điều tra viên phải lấy đường lối chính sách của Đảng
và pháp luật của nhà nước làm kim chỉ nam cho mọi hành động của mình
“Nội dung giáo dục, thuyết phục phải đúng đường lối của Đảng, pháp luật củanhà nước ” [16, tr.55]
Phương pháp thuyết phục chủ yếu được sử dụng qua ngôn ngữ củađiều tra viên Tuy nhiên trong thực tế cơ quan điều tra đã sử dụng thành côngthông qua một số các chủ thể khác Qua sự khuyên nhủ chân tình, tình cảm củacha, mẹ, vợ, con, đặc tình trại giam hay sự phân tích của những người có uytín đều có tác dụng rất lớn đến tâm lý, thái độ khai báo của những người thamgia đối chất Ví dụ: “Bị can VVP trong vụ án S191 cũng được nghiên cứu tácđộng bởi mối quan hệ gia đình Trước khi đối chất, bố trí cho người thân của Pvào thăm và nói chuyện biết đứa con gái út của y vẫn được chính quyền cho đihọc, chứ không như y nghĩ, nhưng nó rất buồn vì thiếu vắng đi tình cảm củangười cha P hiểu ra sự thật, thương con, thấy được trách nhiệm của mình vớigia đình, nên đã chuyển biến thái độ khai báo, mong muốn sớm được tha thứ
để sau này dành nhiều thời gian chăm sóc con cái” [1, tr.228]
Để phương pháp thuyết phục cảm hoá được sử dụng có hiệu quả cầnchú ý đến các vấn đề sau:
Phải căn cứ vào đặc điểm tâm lý riêng của đối tượng (giới tính,lứatuổi, dân tộc, tính cách, khí chất ) để lựa chọn cách thuyết phục phù hợp.Nội dung thuyết phục phải đầy đủ và phải xuất phát từ đường lối chính sáchcủa Đảng và pháp luật của nhà nước Mặt khác nó cũng phải được áp dụng mộtcách linh hoạt phù hợp với từng đối tượng khác nhau Ngoài ra nội dung thuyếtphục cũng phải có căn cứ, là những vấn đề có tính hiện thực và có sức thuyếtphục cao, không quá xa vời thực tế Đối với những bị can là quần chúng laođộng bất mãn, là giáo dân cuồng tín, mù quáng, hay là người thuộc dân tộc
Trang 28thiểu số lạc hậu… khi phân tích thuyết phục phải làm cho họ thấy rõ chủtrương, đường lối của đảng, pháp luật của nhà nước, để trên cơ sở đó giúp họ
tự liên hệ đến sai lầm, tội lỗi của mình mà quyết tâm ăn năn hối cải Phải tìmhiểu cụ thể xem đó là những bất mãn, lạc hậu về vấn đề gì , vì lý do gì, để tínhtoán việc giải thích, thuyết phục cho sát thực Đặc biệt trong quá trình đối chất,điều tra viên phân tích thuyết phục phải cụ thể trước sau như một, không hứahẹn những điều không thiết thực làm mất lòng tin của người bị đối chất Cònđối với bị can cầm đầu các tổ chức phản động, những đối tượng có quan điểmphản động, có ý thức chống đối sâu sắc Khi phân tích thuyết phục phải vạch
rõ ý đồ và hoạt động của chúng, đồng thời cũng cần kết hợp nêu ra những dẫnchứng thực tế, cụ thể về việc làm của chúng để đánh gục tư tưởng hão huyền,những quan điểm lệch lạc của bị can…
Khi sử dụng phương pháp này cần chú ý tới tư duy của đối tượng bịtác động Thuyết phục cảm hoá phải làm cho đối tượng có được những suynghĩ mới tích cực mà đi đến quyết định đúng đắn Tuy nhiên khi thuyết phục
họ, điều tra viên không được hứa hẹn, lừa dối hay làm cho đối tượng hiểu rằng
cứ khai nhận sẽ được tha bổng hoặc được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Điềutra viên chỉ nên tác động dể đối tượng thấy được cái lợi của việc khai báo
Điều tra viên phải thực sự có uy tín, có ảnh hưởng đến những người
bị đối chất Họ thường là người có trình độ vững vàng, am hiểu tâm lý, có khảnăng phân tích lý giải các vấn đề, đặc biệt là trong trường hợp người bị đốichất có học vấn cao Phải có thái độ nhẹ nhàng, chân tình, phong thái đànghoàng để người bị tác động không cảm thấy bị lên lớp, xúc phạm
Thuyết phục cảm hoá một con người, thay đổi được suy nghĩ của họkhông thể trong một thời gian ngắn Vì thế điều tra viên phải biết kiên trìthuyết phục, uốn nắn nhận thức để đối tượng thực sự tin vào đường lối chínhsách của nhà nước ta Như vậy phương pháp thuyết phục mới đạt được hiệuquả
Trang 292.3.2.4 Phương pháp đặt và thay đổi vấn đề tư duy.
Phương pháp đặt và thay đổi vấn đề tư duy là chủ thể đặt ra một loạtcâu hỏi chi tiết để khám phá sự thiếu rõ ràng về một khối lượng lớn nhữngthông tin của đối tượng đã đưa ra lời khai man về sự kiện Phương pháp nàyquy tụ ở việc đặt ra nhiệm vụ định hướng, phát triển các quá trình tư duy ởngười bị tác động
Cách thức của phương pháp này là bằng việc đưa ra các câu hỏi vàcách đặt câu hỏi buộc đối tượng khai man khi trả lời phải liên hệ với sự kiệnthực tế đã xảy ra, tư duy của họ luôn phải định hướng về những sự kiện đó Nódẫn dắt người bị tác động đến chỗ phải thừa nhận sự vô lý trong lời khai củamình, giúp họ lựa chọn thái độ khai báo tích cực Phương pháp này cũng nhằmgiúp người bị đối chất nhớ lại những tình tiết trong vụ án được tốt hơn bằngcách đặt ra hàng loạt câu hỏi liên quan làm “sống lại” những mối liên hệ thầnkinh tạm thời và phục hồi lại trong ký ức những sự kiện tương tự mà các câuhỏi đã đề cập đến
Phương pháp đặt và thay đổi vấn đề tư duy có thể thực hiện dưới haidạng cơ bản sau đây
Dạng thứ nhất: Đặt câu hỏi để hình thành tư duy dẫn dắt sự liên tưởng.
Đưa ra một loạt các câu hỏi chi tiết, cụ thể xung quanh những vấn đề mà người
bị đối chất khai báo không đúng sự thật Điều tra viên đưa ra những câu hỏi chitiết, cụ thể căn cứ vào những điểm mà người bị đối chất cố tình bịa đặt khaibáo sai buộc người bị đối chất khi trả lời phải liên tưởng tới hành vi phạm tộihoặc che dấu tội phạm Qua một loạt các câu hỏi đầy đủ chi tiết và logic củađiều tra viên làm cho đối tượng phải có sự liên tưởng và tự hiểu rằng sự khaibáo giả dối không thể qua mắt được điều tra viên Ví dụ: “ Nếu người làmchứng đã khai man rằng suốt buổi tối anh ta đi chơi cùng với can phạm ởphòng riêng của can phạm, thì chủ thể tác động bằng một loạt câu hỏi có thểđưa ra đối với người làm chứng Kết quả cuối cùng là người làm chứng không
có những thông tin cần thiết để trả lời những câu hỏi đó, bởi vì thực tế sự kiện
Trang 30đó không diễn ra (Còn ai ở trong phòng nữa, ai ngồi, ai làm gì, kể lại chi tiếtcủa câu chuyện, các chi tiết của hành động, ai gọi điện thoại, ai đi ra đầu tiên,
họ mặc quần áo gì ) Thông qua phương pháp này mà người làm chứng sẽ từ
bỏ thái độ khai man” [21, tr.134] Mục đích của việc đưa các câu hỏi này buộc
họ phải liên tục giải quyết các nhiệm vụ của tư duy được đặt ra một cách căngthẳng, dẫn đến xung đột tâm lý mạnh mẽ và đến một mức độ nhất định sẽkhông thể giải quyết được các nhiệm vụ tư duy bằng cách bịa đặt nữa Bởi vìtâm lý của đối tượng khai man thường lo lắng, hoang mang Vì vậy khi bị hỏidồn dập, chi tiết đến các vấn đề liên quan, đến hành vi của mình khiến họ sẽxuất hiện tâm lý bị “cuống” không trả lời được các câu hỏi hoặc trả lời được lại
có sự mâu thuẫn nên cuối cùng phải khai đúng sự thật
Dạng thứ hai: Đặt câu hỏi làm biến đổi hướng tư duy của người bị đối
chất Là việc điều tra viên đặt câu hỏi khác với sự chuẩn bị trước của họ, buộcđối tượng không thể sử dụng phương án trả lời đã chuẩn bị sẵn để đối phó màthường phải trả lời đúng hoặc sát sự thật Khi điều tra viên đặt ra câu hỏi tráivới dự kiến đã có sẵn đối tượng sẽ bị bất ngờ, lúng túng không kịp đối phóbằng các câu trả lời giả tạo hợp lý, bộc lộ sự mâu thuẫn trong lời khai củamình, từ đó làm thay đổi hướng tư duy theo chiều hướng tích cực, phá vỡ logictrình bày thông tin giả tạo
Khi sử dụng phương pháp này cần chú ý tới một số vấn đề sau: Chú ýphân biệt trường hợp người bị tác động cố ý khai báo gian dối với trường hợp
do trình độ, khả năng diễn đạt kém, do trạng thái tâm lý không bình tĩnh, hay
do có sự nhầm lẫn mà lời khai có sự mâu thuẫn, để từ đó có các phương phápkhác nhau để tác động Bên cạnh đó, điều tra viên cũng cần chú ý phát hiệnchính xác những mâu thuẫn, những điều bịa đặt mà người bị đối chất khai Vìnếu hỏi ngay những vấn đề đó làm cho họ sợ hãi cho rằng đó là điều mà điềutra viên cần biết nhất để kết tội nặng, do đó sẽ sợ và không dám khai báo nữa.Khi đã xác định được lời khai giả dối, điều tra viên cần có sự chuẩn bị chu đáocác câu hỏi chi tiết Những câu hỏi đó phải có sự tính toán logic để có thể vạch
Trang 31trần được thái độ khai báo ngoan cố của đối tượng Phải tính toán kỹ cáctrường hợp người bị tác động sẽ bác bỏ hay có lập luận ngụy biện, điều tra viênphải bình tĩnh, nhưng nếu cần vẫn có thể tỏ ra gay gắt trước sự thách đố vòng
vo của đối tượng
2.3.2.5 Phương pháp tác động tâm lý bằng gợi nhớ.
Gợi nhớ là phương pháp làm sống lại, xuất hiện lại trong trí nhớ người
bị tác động những sự kiện, tình tiết của vụ án mà họ đã quên, bằng cách đưa ranhững thông tin có liên quan đến vấn đề đó Phương pháp này dựa trên quyluật của sự nhớ lại Khi nhớ lại, là lúc các đường dây liên hệ thần kinh tạm thờiđược khôi phục và nhớ lại những sự việc đã xảy ra Khi ghi nhớ, những thôngtin đã tri giác được không tách rời nhau mà nằm trong mối liên hệ chung Bởivậy, qua việc nhớ lại, người tham gia đối chất cũng bắt đầu từ các mối liên hệchung ấy mà hồi tưởng được trọn vẹn sự việc Nếu một thông tin được tácđộng nó sẽ lan truyền tới các thông tin khác theo mối liên hệ vốn có của nó,làm họ nhớ lại được toàn bộ sự việc
Phương pháp tác động tâm lý bằng gợi nhớ là phương pháp được sửdụng khá nhiều trong hoạt động đối chất, áp dụng trong trường hợp người đốichất quên hoặc nhầm lẫn các tình tiết liên quan đến vụ án Phương pháp nàyđược sử dụng khá nhiều trong hoạt động đối chất Theo kết quả điều tra
“Phương pháp gợi nhớ chiếm 19,6% trong hoạt động đối chất để nhớ lại đầy
đủ các tình tiết của sự việc phạm tội” [1, tr.249] Những tình tiết, sự kiện này
có ý nghĩa quan trọng cần có sự khẳng định chắc chắn cuả họ, ảnh hưởng tớikết quả của cuộc điều tra Đặc điểm của phương pháp này là được áp dụng đốivới ngưòi có thái độ khai báo tích cực, hợp tác với cơ quan điều tra nhưng docác lý do khác nhau họ đã quên hoặc nhầm lẫn các vấn đề liên quan đến vụ án.Cách thức sử dụng của phương pháp này là dựa vào hệ thống các quy luật vềmối liên hệ lẫn nhau giữa các sự vật hiện tượng: Khi có thông tin về sự vậthiện tượng này, người bị tác động sẽ liên hệ đến sự vật hiện tượng cần nhớ Cócác quy luật về mối liên tưởng sau: Quy luật liên tưởng giống nhau về nội