1 MỤC LỤC 2 Ngô Minh Oanh Đào tạo hệ vừa làm vừa học: thành công, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng …………6 3 Lê Thị Nam An Sử dụng phương pháp trình bày trực quan trong
Trang 11
MỤC LỤC
2 Ngô Minh Oanh Đào tạo hệ vừa làm vừa học: thành
công, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng
…………6
3 Lê Thị Nam An Sử dụng phương pháp trình bày trực
quan trong giảng dạy học phần Những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác-Lênin cho hệ vừa làm vừa học ở các trường cao đẳng, đại học hiện nay
……… 16
5 Lê Hữu Bình Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo
hệ vừa làm vừa học tại trường Đại học Đồng Tháp
…………22
6 Nguyễn Thanh Bình Giải pháp đảm bảo chất lượng đào tạo
hệ vừa làm vừa học tại trường Đại học Kinh tế Công nghiệp Long An
………….26
7 Nguyễn Thị Thu Ba Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng
đào tạo hệ vừa làm vừa học
…………36
9 Nguyễn Quyết Chiến Đào tạo hệ vừa làm vừa học: thực
trạng và những đề xuất
………….39
10 Nguyễn Thị Cầm Góp phần nâng cao chất lượng dạy –
học hệ vừa làm vừa học tại trường Đại học Hà Tĩnh
……… 46
11 Trương Thị Mỹ Dung Góp phần nâng cao chất lượng đào tạo
hệ vừa làm vừa học trong các trường đại học, cao đẳng Việt Nam hiện nay
và đổi mới giáo dục ở nước ta
Trang 2Nguyễn Thái Hà
Nguyễn Đắc Thành
làm vừa học tại một số trường đại học khối ngành kinh tế ở Hà Nội
15 Lê Văn Hùng Thực trạng và giải pháp nâng cao chất
lượng đào tạo hệ vừa làm vừa học hiện nay ở trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội
………….80
16 Trần Thị Kim Huệ Động cơ học tập – Yếu tố cơ bản tác
động đến hoạt động học của học viên
hệ vừa làm vừa học
……… 88
17 Nguyễn Thị Hoàn Chất lượng đào tạo hệ vừa làm vừa
học tại trường Đại học Kinh tế Quốc dân: hạn chế, nguyên nhân và một số
…………118
21 Nguyễn Hoàng Mai Cần lắm một cách làm mới ………….123
22 Biền Văn Minh Một số biện pháp nâng cao chất lượng
đào tạo theo hình thức vừa làm vừa học trình độ đại học, cao đẳng đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục sau năm 2015
…… 126
23 Đào Hoàng Nam Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu
quả đào tạo hệ vừa làm vừa học tại trường Đại học Bạc Liêu
…………134
24 Nguyễn Thị Hồng Nga Các nhân tố ảnh hưởng đến chất
lượng đào tạo theo hình thức vừa làm vừa học ở Việt Nam hiện nay
………….144
25 Trần Văn Phúc
Nguyễn Kim Chuyên
Đào tạo hệ vừa làm vừa học: thực trạng và giải pháp
……… 158
26 Phạm Thị Phượng Nâng cao chất lượng đào tạo hệ vừa
làm vừa học chuyên ngành Quản trị Kinh doanh tại trường Đại học Thương mại
…………162
27 Phạm Thị Lan Phượng Đại học tinh hoa và đào tạo theo hình
thức vừa làm vừa học: thực tế tại trường Đại học Sư phạm TP HCM
………….168
Trang 33
28 Nguyễn Phước Tài Các loại hình đào tạo ở các trường đại
học, cao đẳng hiện nay và một số đề xuất nâng cao chất lượng đào tạo
……… 178
29 Phạm Thị Tâm Phẩm chất người thầy – yếu tố quan
trọng đánh giá chất lượng giảng dạy
hệ vừa làm vừa học
…………183
30 Nguyễn Văn Thắng Định kiến xã hội và giải pháp nâng
cao chất lượng đào tạo hệ vừa làm vừa học tại các trường cao đẳng, đại học Việt Nam hiện nay
………….188
31 Huỳnh Thị Kim Tuyến Giải pháp nâng cao hiệu quả làm việc
nhóm trong hoạt động tự học đối với
hệ vừa làm vừa học
……… 195
32 Nguyễn Hoàng Thiện Xác định vị trí của hệ đào tạo vừa làm
vừa học – Một khâu quan trọng trong việc nâng cao chất lượng đào tạo
…………202
33 Trần Thanh Trúc Một số giải pháp nâng cao hiệu quả
quản lý các lớp đại học hệ vừa học vừa làm ở trường Cao đẳng Bến Tre
……… 213
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
Theo tinh thần Nghị quyết 14/2005/NQ-CP ngày 2 tháng 11 năm 2005 của Chính phủ, mục tiêu đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục đại học là, tạo chuyển biến cơ bản về chất lượng, hiệu quả và qui mô, đáp ứng yêu cầu (bỏ của) sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế và nhu cầu học tập của nhân dân Đến năm 2020, giáo dục đại học Việt Nam sẽ đạt trình độ tiên tiến trong khu vực và tiếp cận trình độ tiên tiến trên thế giới, có năng lực cạnh tranh cao, thích ứng với cơ chế thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa Thực hiện chủ trương
đa dạng hóa các loại hình đào tạo, trong những năm qua, đào tạo theo hình thức vừa làm vừa học (VLVH) trình độ đại học, cao đẳng trong các trường đại học, cao đẳng được xem là phương thức đào tạo quan trọng và cần thiết Phương thức đào tạo này đã góp phần giảm tải cho hệ thống đào tạo chính quy, đồng thời, bồi dưỡng, cải thiện chất lượng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp xây dựng, phát triển kinh tế xã hội của
đất nước
Hiện nay, chất lượng đào tạo theo hình thức VLVH trình độ đại học, cao đẳng vẫn còn nhiều bất cập Đây không chỉ là nỗi trăn trở của riêng ngành giáo dục mà còn của cả xã hội, Viê ̣n Nghiên cứu Giáo du ̣c , Trường Đa ̣i ho ̣c Sư phạm Thành phố Hồ
Chí Minh tổ chức Hội Thảo “Giải pháp đảm bảo chất lượng cho việc đào tạo hệ vừa làm vừa học tại các trường cao đẳng, đại học Việt Nam ” nhằm nhìn nhâ ̣n về
thực tế việc đào ta ̣o hệ VLVH hiện nay và đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo hệ VLVH
Hô ̣i thảo đã nhận hơn 35 bài viết của những nhà giáo ưu tú , những nhà quản lý giáo dục, những giảng viên ở các trường đa ̣i ho ̣c , cao đẳng trong toàn quốc Điều đó
chứng tỏ sự quan tâm sâu sắc , sự trăn trở của quý vi ̣ đối với “Giải pháp đảm bảo chất lượng cho việc đào tạo hệ vừa làm vừa học tại các trường cao đẳng, đại học Việt Nam”.
Nô ̣i dung của Hô ̣i thảo được chia làm ba phần:
1 Phần thư ́ nhất : thực tra ̣ng đào ta ̣o hệ vừa làm vừa học tại các trường đa ̣i ho ̣c , cao đẳng Viê ̣t Nam
Ở phần này, Hô ̣i thảo nhận đươ ̣c sự quan tâm của nhiều tác giả, (bỏ dấu.) nổi bâ ̣t
là những nhà giáo , như: PGS.TS Ngô Minh Oanh , PGS.TS Pha ̣m Xuân Hâ ̣u , ThS Phạm Thị Phương, ThS Nguyễn Hoàng Mai , Nguyễn Thùy Vân , Mai thị Phương , Trần Ngọc Hồng , Lê Thị Nam An , Phan Thị Diễm Hằng , Nguyễn Thái Hà , Nguyễn Đắc Thành, TS Nguyễn Thị Hoàn, TS Đào Hoàng Nam , Nguyễn Thị Cầm , ThS Lê Văn Hùng, Nguyễn Thị Minh Hằng , PGS.TS Biện Văn Minh… Các tác gi ả đã nhận
Trang 55
định thực trạng hệ đào tạo VLVH tại đơn vị của mình với những ưu , khuyết điểm cũng như các vấn đề còn tồn tại và đưa ra những hướng đi riêng của đơn vi ̣ mình nhằm (bỏ để) nâng cao chất lượng đào tạo cho hệ VLVH tại địa phương
2 Phần thƣ ́ hai: nhƣ̃ng kinh nghiê ̣m đào ta ̣o hệ vừa làm vừa học
Ở phần này , chúng tôi nhận được rất nhiều những chia sẻ , những đóng góp quý báu từ những tác giả , như: TS Nguyễn Đình Cả, TS Phạm Thị Lan Phượng, ThS Lê Hữu Bình, ThS Nguyễn Phước Tài ,TS Nguyễn Thị Hồng Nga, Nguyễn Hoàn Thiện, Huỳnh Thị Kim Tuyến, ThS Trương Thị Mỹ Dung, ThS.Nguyễn Thanh Bình, TS.Nguyễn Ngọc Tài, ThS.Trịnh Văn Anh, ThS.Nguyễn Thị Thu Ba,ThS.Nguyễn Hoàng Mai, Nguyễn Lê Kiều Oanh, Nguyễn Quyết Chiến,
Các tác giả đã vạch ra các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo theo hình thức VLVH như quan điểm đào tạo, thực trạng đào tạo về quy mô và chất lượng, phương pháp và mô hình nghiên cứu cũng như đưa ra các kết quả khảo sát với số liệu đáng tin cậy
3 Phần thƣ ́ ba : nhƣ̃ng giải pháp nâng cao chất lƣợng đào tạo hệ vừa làm (bỏ dấu,) vừa học
Từ thực tế đào ta ̣o hệ VLVH ở các trường cao đẳng , đa ̣i ho ̣c Viê ̣t Nam hiê ̣n nay , những kinh nghiê ̣m quý báu của bản thân , của các cơ sở đạo, các nhà giáo, những nhà quản lý đã tìm và đưa ra những hướng đi mới , tích cực, hiê ̣u quả cho viê ̣c đào ta ̣o hệ VLVH ở các trường đa ̣i ho ̣c Ở đây, chúng tôi bắt gặp sự (thay từ những) trăn trở, suy
tư về đào ta ̣o VLVH của những nhà giáo như: PGS.TS Ngô Minh Oanh, TS Nguyễn Đình Cả, TS Phạm Thị Lan Phượng, PGS.TS Phạm Xuân Hậu, TS Nguyễn Thị Hoàn, TS Đào Hoàng Nam, Nguyễn Thị Minh Hằng, PGS.TS Biện Văn Minh… Các tác giả đã mang đến cho Hội thảo bức tranh đa sắc màu về th ực trạng đào tạo cùng những ý tưởng mới mẻ , những đề xuất đột phá , những giải pháp hữu hiê ̣u cho hệ VLVH Chúng tôi hy vọng, Hô ̣i thảo sẽ tạo được sự chuyển biến lớn về nhận thức và hành động đối với các trường cao đẳng , đa ̣i ho ̣c Viê ̣t Nam nhằm đạt được thành công trong đào tạo
Chúng tôi xin trân trọng cám ơn các tác giả , những nhà giáo, những nhà quản lý giáo dục đã quan tâm viết bài và tham gia Hội thảo Kính chú c quý vi ̣ sức khỏe và luôn gắn bó với sự nghiê ̣p giáo dục, đào tạo
TP Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 12 năm 2013
BAN TỔ CHỨC
Trang 6ĐÀO TẠO HỆ VỪA LÀM VỪA HỌC: THÀNH CÔNG, HẠN CHẾ
VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG
Ngô Minh Oanh 1
Đào tạo hệ vừa làm vừa học là một hoạt động được hầu hết các trường đại học, cao đẳng tiến hành song song với đào tạo hệ chính quy, thể hiện sự đa dạng các loại hình đào tạo nguồn nhân lực Hoạt động đào tạo hệ vừa làm vừa học của các trường
đã có những đóng góp không nhỏ vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, góp phần nâng cao trình độ của đội ngũ công chức, viên chức, tạo cơ hội học tập cho nhiều người không có điều kiện học tập ở hệ chính quy Tuy nhiên việc tổ chức đào tạo hệ vừa làm vừa học với những bất cập, hạn chế cũng đã gây bức xúc trong dư luận, mất lòng tin vào hệ đào tạo này và cũng gây nên những tốn kém cho xã hội Nhận diện thực trạng việc đào tạo, tìm ra nguyên nhân hạn chế và đề xuất những giải pháp để nâng cao hiệu quả đào tạo là một công việc hết sức cần thiết
1 Những thành công
Việc duy trì hệ vừa làm vừa học là một chủ trương đúng đắn mang lại những lợi ích thiết thực cho xã hội, địa phương, các trường đại học, cao đẳng và người học
Đối với xã hội và các địa phương, với quy mô đào tạo ngày càng tăng, hệ vừa
làm vừa học đã đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực của sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, là hình thức để chính quyền quản lý chặt chẽ nguồn đào tạo, đảm bảo sau khi tốt nghiệp người học sẽ ở lại phục vụ tại chỗ, cải thiện nguồn nhân lực cho địa phương Hệ vừa làm vừa học còn góp phần khuyến khích học tập, hình thành “ xã hội học tập” tại địa phương
Đối với người học, hệ đào tạo vừa làm vừa học tạo cơ hội học tập suốt đời cho
tất cả mọi người trong xã hội, góp phần nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ, viên chức trong bộ máy nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội; tạo cơ hội cho những người không có điều kiện theo học hệ chính quy được học tập theo nguyện vọng của mình Đây là hình thức học tập phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của từng người, vừa thực hiện nguyện vọng nâng cao trình độ vừa có thể công tác, tiết kiệm thời gian và tiền bạc cho quá trình học tập khi các lớp đào tạo hệ vừa làm vừa học được mở tại các địa phương hay địa bàn công tác
Đối với các trường đại học, cao đẳng, bên cạnh giảm được áp lực về cơ sở vật
chất vốn còn thiếu thốn hiện nay, đào tạo hệ vừa làm vừa học là một dịp để các trường gắn đào tạo với nhu cầu xã hội, trường học gần hơn với thực tiễn địa phương, đáp ứng
1
PGS.TS – Viện trưởng Viện Nghiên cứu Giáo dục, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 77
nhu cầu nghề nghiệp và nhu cầu nâng cao trình độ của nhân dân Các trường đại học, cao đẳng đã nhờ vào nguồn kinh phí đào tại tại chức mà cải thiện được thu nhập cho cán bộ, giảng viên trong điều kiện ngân sách nhà nước còn eo hẹp như hiện nay
- Chất lượng đầu vào thấp
Thực tế cho thấy đối tượng tham gia thi tuyển đầu vào hệ vừa làm vừa học là những người đã từng không đậu đại học họ phải đi học ở các trường trung cấp, cao đẳng, nay có nhu cầu về bằng cấp và nâng cao trình độ, họ tham gia thi tuyển vào hệ này Bộ phận này thường là những người đã có kinh nghiệm công tác nên khi đi học thường rất có knh nghiệm thực tiễn, nhưng có khó khăn là do lớn tuổi nên tiếp thu bài
có hạn chế Một bộ phận không nhỏ là những học sinh phổ thông không thi đậu vào
hệ chính quy nên phải học hệ vừa làm vừa học để có cơ hội tìm việc làm Các cơ sở đào tạo do cần người học nên vẫn tuyển sinh, vì vậy làm cho hệ vừa làm vừa học không đúng nghĩa của nó Với đầu vào như vậy, chắc chắn không thể bằng hệ chính quy được Phải công bằng mà nói, các trường tuyển sinh và đào tạo hệ này không phải không biết điều đó, nhưng nếu nâng cao điểm chuẩn, tức là nâng cao chất lượng đầu vào thì sẽ không có người học, trong bối cảnh cạnh tranh tuyển sinh giữa các trường cũng rất lớn Do yêu cầu tăng thêm nguồn thu nên các trường vẫn cần phải đào tạo hệ này, vì thế hạ chuẩn đầu vào là một lựa chọn không thể khác của các trường
- Điều kiện đào tạo không đảm bảo
Trước hết chương trình đào tạo được rút gọn cho phù hợp với thời gian và trình
độ học viên Phần lớn các lớp đào tạo hệ vừa làm vừa học đều được đặt tại địa phương, học viên không có điều kiện thụ hưởng thư viện, phòng thí nghiệm và cơ sở vật chất của trường đào tạo Trong lúc giảng viên đến dạy môn học thường chỉ gói gọn trong chưa đầy một tuần/môn học, với tâm lý là đối tượng học sinh có mặt bằng thấp, giảng dạy phải phù hợp với đối tượng nên không tránh khỏi việc giảng viên
Trang 8giảng dạy đối phó với thời gian, không chú trọng phát huy tính cực của người học Nếu giảng viên không có tinh thần trách nhiệm thì hiện tượng cắt xén thời gian, chương trình là chuyện có thể xảy ra, bỏi người học cũng mong muốn được học ít, nghĩ nhiều cho đỡ căng thảng Những điều này đã làm cho chất lượng đào tạo bị ảnh hưởng rất lớn
- Động cơ học tập của người học có vấn đề
Có thể nói việc đào tạo hệ vừa làm vừa học đã tạo điều kiện cho một bộ phận những người có mong muốn học tập nâng cao trình độ tham gia, hình thành một xã hội học tập và học tập suốt đời Tuy nhiên cũng có một thực trạng là một bộ phận không nhỏ tham gia học tập không phải vì mục tiêu kiến thức, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ mà vì mục tiêu có được một tấm bằng để có thể được nâng lương, được đề bạt hay để cho “bằng chị, bằng em” Một khảo sát của nhóm nghiên cứu cho thấy, khi được hỏi lý do theo học hệ vừa làm vừa học trên 443 sinh viên thì
có 171 sinh viên trả lời là đi học để nâng cao trình độ chiếm 57,4%, đi học để kiếm việc làm chiếm 32,6%, có đến 29,9% đi học để có bằng cấp, có 17,7% đi học là để được thăng chức và lý do khác2 Từ động cơ như thế, việc quan niệm lên lớp nghe giảng bài cũng được thu được kết quả đáng lo lắng Khảo sát về sự cần thiết phải lên lớp để nghe giảng viên giảng bài, có 57,7% cho rằng là cần thiết, 38% cho rằng không cần thiết, còn lại 4,3 % không có ý kiến Chưa kể từ thực tiễn giảng dạy cho thấy, đa
số học viên hệ vừa làm vừa học đều thích giáo viên cho đề mở trong kỳ thi kết thúc môn học Từ thực trạng đó, nếu trong quá trình giảng dạy mà giảng viên không thực
sự nghiêm khắc, chiều chuộng sinh viên với những đề nghị hạ thấp yêu cầu học tập và thi cử thì chất lượng của hệ này sẽ rất thấp
3 Từ thực trạng nói trên, cần phải có những giải pháp đồng bộ của các ngành, các cấp thì hệ đào tạo vừa làm vừa học mới thực sự đáp ứng những yêu cầu của công tác đào tạo
3.1 Cần phải có sự thay đổi trong quy chế về hình thức và thời gian đào tạo
Hiện nay hệ vừa làm vừa học chủ yếu học vào thời gian hè hoặc chỉ học vào các ngày thứ bảy và chủ nhật, còn lại thì học viên lại bị cuốn vào các công việc nên việc học tập bị phân tâm và không có thời gian để chuyên chú cho việc học tập Có thể phải quy định thời gian học tập trung nhiều hơn nữa, hay thời gian đào tạo dài hơn, hoặc
2
Tìm hiểu đánh giá của sinh viên về việc dạy và học hệ vừa làm vừa học tại TP Hồ Chí Minh, do nhóm nghiên cứu sinh viên ngành Xã hội học, Trường Đại học Mở thành phố Hồ Chí Minh thực hiện, năm 2013, trang 49
Trang 99
học viên phải dứt hẳn công việc trong một thời gian để đi học thì hy vọng chất lượng học tập của hệ này mới được nâng lên
3.2 Ngoài việc nâng cao chất lượng đầu vào, đối tượng người học cũng cần phải
sàng lọc, cho đúng nghĩa là hệ vừa làm vừa học Những đối tượng còn trẻ, chưa có việc làm, chưa qua thực tế cần phải khuyến khích học vào các trường cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp hoặc các trường nghề Sau khi tốt nghiệp họ mới có thể tham gia học tập ở hệ vừa làm vừa học Làm được diều này vừa đảm bảo chủ trương lớn của ngành là phân luồng sau phổ thông vừa không làm biến tướng hệ đào tạo vừa làm vừa học
3.3 Cơ quan quản lý đã ý thức được chất lượng hệ này có vấn đề, nên hiện nay
Bộ Giáo dục – Đào tạo đã xiết lại chỉ tiêu và tăng cường kiểm soát chất lượng đào tạo Tuy nhiên, khi hiện tượng “thầy tìm trò”, tuyển sinh hệ vừa làm vừa học là “dạ dày” của các trường thì việc hạ thấp đầu vào là không thể tránh khỏi Bộ cần có quy định
và thực hiện các biện pháp cụ thể để nâng cao chất lượng đầu vào, tạo được một mặt bằng chung trong tuyển sinh hệ này thì mới có thể cải thiện được chất lượng đào tạo Nội dung và chương trình đào tạo cũng cần phải xem xét lại, không nên cắt xén quá nhiều nội dung, tạo nên sự khác biệt về dung lượng kiến thức giữa các hệ đào tạo dẫn đến chất lượng có sự khác biệt, đây là nguyên nhân làm cho học viên có sự chủ quan trong học tập và xã hội coi thường hệ này
3.4 Cần chú trọng đầu tư hơn nữa các điều kiện cho dạy và học hệ vừa làm vừa
học, chú trọng các điều kiện thực tập, thực tế, thực hành
Có thể tổ chức đào tạo tại địa phương nhưng hình thành các cụm đào tạo của một khu vực bằng việc liên kết giữa các tỉnh có điều kiện địa lý gần nhau, hay có sự liên kết nhiều trường tại một khu vực để có thể đầu thư thư viện, phòng thí nghiệm sử dụng chung, các địa bàn thực tập, thực tế một cách đầy đủ và đáp ứng được cơ bản yêu cầu đào tạo
Tóm lại, việc tiếp tục duy trì hệ vừa làm vừa học là một chủ trương đúng đắn để
đáp ứng nhu cầu học tập của xã hội, góp phần đào tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Nhưng muốn nâng cao chất lượng đào tạo thì phải có sự nỗ lực cao từ phía các cơ quan quản lý và cả từ phía người học Các cơ quan quản lý phải có những quy định chặt chẽ hơn trong quy chế đào tạo, tiến hành đào tạo theo những quy trình hợp lý, đảm bảo chất lượng đào tạo từ tuyển sinh đầu vào, tổ chức quá trình dạy học, kiểm tra đánh giá quá trình học tập và đảm bảo chất lượng đầu ra Về phía người học cũng phải xác định lại động cơ học tập đúng đắn, thực học, không chạy theo bằng cấp thì mới thực sự đạt được yêu cầu nâng cao trình
Trang 10độ, đáp ứng yêu cầu công việc sau khi tốt nghiệp, mới xóa được các nhìn nhận và đánh giá thấp của xã hội về hệ đào tạo này
Tài liệu tham khảo
1 Nguyễn Quế Anh, Nâng cao chất lượng hệ vừa làm vừa học tại trường đại học văn hóa Hà Nội – hướng tới hội nhập và phát triển, Tạp chí Nghiên cứu văn hóa, Trường Đại học văn hóa Hà Nội, số 1
2 Bộ Giáo dục – Đào tạo (2012), Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo hình thức vừa làm vừa học trình độ đại học, cao đẳng, Tọa đàm khoa học tại Đà Nẳng ngày 30 tháng 8 năm 2012
3 Bộ Giáo dục – Đào tạo (2007), Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hình thức vừa làm vừa học theo Quyết định 36/2007/QĐ- BGDĐT ngày 28 tháng 6 năm
2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo
4 Bộ Giáo dục – Đào tạo (2008), Quy chế tuyển sinh đại học và cao đẳng hình thức vừa làm vừa học theo Quyết định 62/2008/QĐ- BGDĐT ngày 25 tháng 11 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo
5 Đoàn Cường (2012), Siết chặt hệ tại chức, Báo Tuổi trẻ online ngày 31/8/2012
6 Tìm hiểu đáng giá của sinh viên về việc dạy và học hệ vừa làm vừa học tại TP
Hồ Chí Minh, do nhóm nghiên cứu sinh viên ngành Xã hội học, Trường Đại học Mở thành phố Hồ Chí Minh thực hiện, năm 2013
Trang 1111
SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP TRỰC QUAN TRONG GIẢNG DẠY HỌC PHẦN NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN CHO HỆ VỪA LÀM VỪA HỌC Ở CÁC TRƯỜNG
CAO ĐẲNG, ĐẠI HỌC HIỆN NAY
Lê Thị Nam An 1
Học phần Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin là một trong những học phần đầu tiên trong chương trình đào tạo cho hệ VLVH bất kể chuyên ngành nào của khối xã hội hay tự nhiên Từ năm học 2009 – 2010, Bộ Giáo dục chủ trương gộp ba môn triết học, kinh tế chính trị và chủ nghĩa xã hội khoa học thành một môn là Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin Theo đó, việc giảng dạy học phần Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin cho hệ đào tạo đại học VLVH được giảm nhiều về thời lượng Cụ thể hiện nay thời lượng học phần này là
105 tiết
Từ thực tế giảng dạy, tôi cho rằng việc sử dụng phương pháp chính là thuyết trình cho hệ VLVH học học phần này rất khó khăn Sở dĩ trước đây có thể sử dụng phương pháp thuyết trình là chính kết hợp đàm thoại và liên hệ thực tiễn vì thời lượng của môn học nhiều Còn hiện nay khi chuyển sang đào tạo theo tín chỉ gần như lượng kiến thức không thay đổi nhưng thời gian lại giảm rõ rệt Do đó, lượng kiến thức cần truyền tải lớn hơn so với thời gian được bố trí Còn nếu không giảng dạy hết mà giao cho sinh viên đọc một số phần thì việc giảng dạy sẽ khó khăn bởi thời gian học của hệ VLVH là liên tục chứ không có thời gian ngắn một tuần vài tiết như sinh viên hệ chính quy Đối với phương pháp đàm thoại thì áp dụng cho hệ VLVH rất thú vị nhưng nếu lấy nó là phương pháp chủ đạo thì sẽ không đủ thời gian đảm bảo hệ thống chương trình
Vì vậy, tôi xin trình bày một vài suy nghĩ về việc vận dụng phương pháp trình bày trực quan trong giảng dạy học phần Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin cho sinh viên hệ VLVH
1 Phương pháp trình bày trực quan – những ưu điểm và hạn chế
Trình bày trực quan là phương pháp sử dụng những phương tiện trực quan, phương tiện, kỹ thuật dạy học để sinh viên lĩnh hội kiến thức Phương pháp trình bày trực quan thể hiện dưới hai hình thức minh họa và trình bày Minh hoạ thường trưng bày những đồ dung trực quan có tính chất minh họa như bản mẫu biểu đồ, bức tranh, tranh chân dung các nhà khoa học, biểu đồ, hình vẽ trên bảng…Trình bày thường gắn
1
Giảng viên khoa Giáo dục Chính trị, trường Đại học Vinh
Trang 12liền với việc trình bày những thí nghiệm, những thiết bị kỹ thuật, chiếu phim đèn chiếu, phim điện ảnh, băng video
- Về ưu điểm
Thứ nhất, đặc thù của môn học những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác –
Lênin là kiến thức trừu tượng, khó nhớ, khó học Do đó, khi giảng dạy trong thời gian ngắn và ít có thời gian xem lại bài học như vậy sẽ khiến cho sinh viên dễ quên kiến thức và không hứng thú với môn học Nếu sử dụng phương pháp đàm thoại có hệ thống thì khó đảm bảo thời gian cho chương trình, còn nếu chỉ sử dụng phương pháp thuyết trình thì dễ gây mệt mỏi cho sinh viên Do đó, theo tôi, đối với môn học này nếu giảng dạy cho hệ VLVH thì nên sử dụng phương pháp thuyết trình kết hợp phương pháp trực quan sẽ gây hứng thú cho người học
Thứ hai, kiến thức quá nhiều cộng với việc học tập liên tục môn học trong thời
gian ngắn khiến cho sinh viên khó có thể tiếp thu một cách trọn vẹn tất cả những phần
đã học Do đó, việc họ ghi nhớ bằng sơ đồ, bằng hình vẽ sẽ khiến ấn tượng về bài học trở nên dễ dàng hơn
Với thời lượng đã được giảm nhiều so với việc tách thành ba môn như trước đây dẫn giáo viên đến hai thái cực: một là, dạy với tốc độ vừa phải, chỉ dạy kỹ một số nội dung còn lại giới thiệu lướt qua để sinh viên về đọc sách giáo khoa Nhưng thường thì tâm lý người dạy thường không yên tâm khi thực hiện cách này vì như vậy sinh viên
sẽ khó nhớ được logic bài học, đặc biệt là khi ôn bài Hai là, dạy với tốc độ nhanh, nội dung nào cũng dạy nhưng chỉ có thể giới thiệu những ý chính Với cách này thì giáo viên yên tâm về nội dung môn học nhưng sinh viên sẽ không có thời gian để hiểu sâu kiến thức Nhưng dù với cách nào, việc sử dụng phương pháp trực quan sẽ khiến cho sinh viên dễ học hơn
Thứ ba, việc sử dụng phương pháp trực quan sẽ tạo thuận lợi cho sinh viên trong
quá trình ôn tập và ôn thi
Đối với hệ đào tạo VLVH, thông thường người học sẽ phải học liên tục nhiều môn trong thời gian ngắn Sau đó, họ sẽ được thi cùng một lúc các môn vừa học Do
đó, việc ôn thi đòi hỏi người học phải nắm được nội dung kiến thức của nhiều môn trong thời gian ngắn Do đó, nếu giáo viên sử dụng phương pháp trực quan trong quá trình giảng dạy sẽ giúp sinh viên nhớ lại được kiến thức nhanh hơn dưới dạng sơ đồ, hình vẽ…Sơ đồ có cho môn học những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa mác – Lênin
có thể được chia thành hai loại: sơ đồ cho cả chương và sơ đồ cho từng bài Trước mỗi chương giáo viên sẽ tóm tắt nội dung chương bằng sơ đồ trực quan, giúp người học nắm được những nội dung chính trong chương đó Sau đó, trong mỗi bài lại có
Trang 1313
một sơ đồ, hình vẽ riêng Làm được điều này sẽ tạo điều kiện cho sinh viên trong quá trình ôn tập và ôn thi có được những thông tin cô đọng về bài học
- Về hạn chế
Thứ nhất, việc sử dụng phương pháp trực quan nếu không khéo sẽ khiến sinh
viên dễ phân tán tư tưởng, chỉ chú ý đến những mảng màu sắc, hình khối, đường nét trên bảng hoặc màn chiếu mà không tập trung vào kiến thức
Thứ hai, bằng các sơ đồ trực quan dễ làm cho người học có tư duy siêu hình,
máy móc Sở dĩ như vậy vì các sơ đồ chỉ đơn giản chỉ là sự tóm tắt, khái quát kiến thức để người học dễ hiểu, ngoài ra cần giải thích, làm rõ thêm Chính vì vậy, cần phải kết hợp phương pháp trực quan và phương pháp giảng giải trong quá trình dạy
- Về người học
Sinh viên khá thích thú với những sơ đồ minh họa hơn là việc phải chép rất nhiều chữ vào vở mỗi buổi học Tất nhiên, cần phải kết hợp phương pháp trực quan
Trang 14với các phương pháp dạy học khác như phương pháp đàm thoại ngắn, phương pháp giảng giải, chứng minh…để làm rõ nội dung môn học
3 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả khi sử dụng phương pháp trình bày trực quan trong việc giảng dạy môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin
Để khắc phục những hạn chế và phát huy những ưu điểm của phương pháp trình bày trực quan trong quá trình giảng dạy học phần Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin cần tập trung vào một số giải pháp sau đây:
- Về khâu chuẩn bị
Giáo viên cần chuẩn bị giáo án điện tử mà nội dung được trình bày theo các sơ
đồ, hình ảnh minh họa Tránh việc biến trình chiếu sinh động thành tái hiện sách giáo khoa với những dòng chữ dày đặc Tuy nhiên, không phải ở cơ sở liên kết giảng dạy nào cũng có đầy đủ cơ sở vật chất để thực hiện việc giảng dạy theo phương pháp trình chiếu trực quan Do đó, nếu không thể trình bày trực quan bằng máy chiếu, giáo viên cần chuẩn bị bài giảng để giảng dạy theo phương pháp trình bày trực quan bằng việc trình bày sơ đồ nội dung môn học lên bảng
- Về khâu thực hiện
Thứ nhất, giáo viên cần phân bố chương trình phù hợp với thời gian giảng dạy
Đối với môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, trong Phần thứ nhất – triết học được bố trí trong 30 tiết, do đó cần bố trí hợp lý để giảng dạy chương
mở đầu và ba chương tiếp theo
Thứ hai, trong qúa trình giảng dạy, sơ đồ được vẽ lên bảng hay được trình chiếu
phải đảm bảo tính chặt chẽ, ngắn gọn, đủ ý Nếu trình chiếu thì sơ đồ không quá nhiều màu, nên sử dụng một số màu đơn giản, không quá đậm màu làm cho người học khó tập trung vào phần chữ Nếu giảng dạy bằng bảng thì giáo viên cần có thao tác nhanh nhẹn, vẽ sơ đồ trực trên bảng phải rõ ràng, đường nét gãy gọn, đảm bảo tính sư phạm
và tạo hứng thú cho người học
Thứ ba, khi trình bày trực quan cần kết hợp với các phương pháp giảng giải
nhằm giúp người học khắc sâu kiến thức và phân tích, giải thích thêm các ý liên quan đến sơ đồ Điều này giúp người học ngoài việc chép sơ đồ vào vở sẽ hiểu thêm những nội dung khác và các ý triển khai từ sơ đồ
Thứ tư, sau mỗi bài học cần có những câu hỏi, bài tập cho sinh viên gắn với sơ
đồ, hình vẽ trực quan Những câu hỏi gắn với sơ đồ trực quan sẽ giúp người học nhớ bài lâu hơn
Trang 1515
- Về khâu kiểm tra, đánh giá
Trong bài kiểm tra giữa kỳ để xét điều kiện dự thi cho sinh viên hệ VLVH, theo tôi nên dùng phương pháp kiểm tra trắc nghiệm để đánh giá tổng quát những kiến thức sinh viên được học Từ kinh nghiệm giảng dạy của bản thân, tôi nhận thấy việc kết hợp giữa phương pháp giảng dạy trực quan kết hợp kiểm tra, đánh giá bằng phương pháp trắc nghiệm sẽ giúp cho giáo viên đánh giá và phân loại được sinh viên rất chính xác Bởi nếu những người vắng học nhiều hoặc không chú ý trong giờ học sẽ không thể nắm được bài học và khó có điểm tốt Còn những người tập trung chú ý học điểm của họ sẽ cao bởi chính những sơ đồ, hình vẽ đã giúp họ nắm được kiến thức rất nhanh
Tóm lại, hệ đào tạo VLVH bao giờ cũng đòi hỏi nỗ lực của người học lẫn người
dạy gấp nhiều lần so với hệ chính quy Bởi bản chất của giáo dục là đào tạo con người, “trồng người” nhưng trong phạm vi này ý nghĩa đào tạo con người lại lớn hơn:
đó là đào tạo những con người đã và đang làm việc để họ làm việc tốt hơn, cống hiến
nhiều hơn cho xã hội
Trang 16
NHỮNG BẤT CẬP TRONG ĐÀO TẠO HỆ VỪA LÀM VỪA HỌC
HIỆN NAY VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC
Trịnh Văn Anh 1
Nguyễn Ngọc Tài 2
Từ lâu, hệ đào tạo không chính quy chiếm một vai trò nhất định trong hệ thống giáo dục và đào tạo quốc dân, đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời cho mọi đối tượng, công cuộc phát triển kinh tế xã hội Việt Nam Tuy nhiên, trước sự phát triển kinh tế
xã hội, hiện nay hệ đào tạo VLVH đang bị thử thách gay gắt về chất lượng sản phẩm đào tạo, thậm chí, một vài địa phương đã “quay lưng” và “nói không” với việc tuyển dụng viên chức đối với các hồ sơ có liên quan đến tầm bằng VLVH Bài viết này, trên
cơ sở phân tích những bất cập, chúng tôi đưa ra một số đề xuất góp phần nâng cao chất lượng đào tạo hệ vừa học hiện nay
1 Những bất cập trong công tác đào tạo hệ VLVH hiện nay
Lịch sử đào tạo hệ tại chức (hiện nay gọi là hệ VLVH) của Việt Nam đã có thâm niên gần 50 năm Đúng như tên gọi của nó, thành tích đào tạo của bậc không chính quy này đã góp phần giúp đất nước có thêm nhiều cán bộ nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn trong quá trình công tác Trong điều kiện kinh tế, xã hội Việt Nam những năm chiến tranh và sau khi thống nhất đất nước thì đây là giải pháp tốt cho việc nâng cao trình độ nguồn nhân lực phục vụ cho việc kiến thiết đất nước Cũng từ đó đến nay, hệ đào tạo này ngày càng phát huy khả năng vốn có của nó, mà ưu thế lớn nhất là tạo điều kiện cho mọi người được tham gia học tập suốt đời, hình thành xã hội học tập Tuy nhiên, cũng như hai mặt của đồng tiền, vấn đề nào cũng có mặt trái, bên cạnh tích cực thì hệ đào tạo này ngày càng bộc lộ những tiêu cực đến nỗi một số địa phương loại bỏ phủ phàng hồ sơ có liên quan đến tấm bằng tại chức trong việc tuyển viên chức Vì đâu nên nỗi như thế, chúng tôi xin điểm qua một vài bất cập của hệ đào tạo này
Trước hết đó là, chất lượng đầu vào rất thấp Dẫu còn nhiều điều bàn cãi về việc tuyển và không tuyển bằng tại chức, nhưng chúng ta phải thừa nhận là đầu vào của hệ này chưa cao Trước đây, đối tượng tuyển sinh chỉ dành cho những người đi làm, có kinh nghiệm 2 năm công tác, nhưng hiện nay thì phục vụ đáp ứng mọi đối tượng, ngành nghề, trình độ, chỉ cần yêu cầu là tốt nghiệp lớp 12 Như chúng ta biết, thời đại kinh tế tri thức, phần lớn thanh niên thời @ quan niệm “đại học là con đường duy nhất
để vào đời” do đó, sau khi rời ghế phổ thông ai cũng tìm cho mình một chỗ đứng
Trang 1717
trong giảng đường đại học Thế nhưng, cánh cửa giảng đường chỉ đủ rộng cho phép 1/3 hồ sơ (trong tổng số 1,2 triệu thí sinh tham gia thi tuyển sinh đại học hàng năm) đi qua, số còn lại phải chờ mùa thi đại học kế tiếp nếu không muốn vào hệ trung cấp, trường nghề, đào tạo từ xa, tại chức Như vậy, bước “cùng đường” nhiều thí sinh trượt đại học chính quy chọn hệ VLVH bởi cửa ngõ rộng, yêu cầu đề thi không quá cao Thậm chí, nhiều cơ sở “mời” thí sinh vào học theo kiểu “cho không biếu không”, chỉ cần đóng tiền, các tù tài trượt giấc mộng cử nhân có thể ung dung ngồi học hệ tại chức sau kì thi tuyển chiếu lệ Tất nhiên, nói như vậy không phải là tất cả mọi người học hệ này đều như thế mà tỷ lệ số đông chiếm áp đảo loại hình đào tạo này Theo nhiều giảng viên thì đây được xem là nhân tố hàng đầu ảnh hưởng trực tiếp nhất đến chất lượng đào tạo Chất lượng đầu vào thấp, từ đó trượt đến kết quả đầu ra cũng không cao là điều dễ hiểu
Thứ đến là, do tính chất đặc thù của đối tượng học Như trên, chúng tôi đã phân tích, bên cạnh đối tượng là những học sinh vừa tốt nghiệp cấp 3 thì còn có những người đã đi làm, thậm chí đã có bằng đại học chính quy Đối tượng đi làm thường bận bịu, có nhiều kinh nghiệm, song khả năng tiếp thu lại hạn chế hơn lớp trẻ, nhiều khi,
họ tới lớp vào buổi tối (hoặc cuối tuần) với tâm trạng mệt mỏi do áp lực công việc, gia đình, điều này phần nào ảnh hưởng đến khả năng tiếp thu kiến thức (một số không trụ nổi bỏ học giữa chừng) Với thành phần đa dạng như thế, nên ít nhiều ảnh hưởng đến việc tổ chức lớp học, chất lượng đào tạo
Cũng không thể không bỏ qua yếu tố tổ chức đào tạo Có nhiều ý kiến cho rằng,
tổ chức giảng dạy cho hệ VLVH là tận dụng thời gian rảnh của giảng viên, và hoàn toàn phụ thuộc vào họ Một môn học của hệ này chỉ diễn ra vài ba hôm là hết chương trình, vì thế để thức hiện việc “đánh nhanh rút gọn” buộc phải cắt xén chương trình, đổi giờ, bớt giờ, người học chưa kịp ngẫm, thậm chí chưa kịp biết tên môn học, tên giảng viên là đã “hết phim” và bắt tay vào thi tuyển kết thúc học phần Đa phần giảng viên chưa quan tâm đến ý thức, thái độ học tập của học viên, chỉ lo hoàn thành bài giảng của mình một cách thụ động Tiết học mang tính chất lý thuyết, hàn lâm xa vời thực tiễn không hữu ích cho học viên nhất là những người đã đi làm Với kiểu học cỡi ngựa xem hoa như thế thì chắc chắn không thể so sánh với hệ chính quy Tất nhiên, không phải tất cả sinh viên của hệ này đều có chất lượng thấp hơn so với sinh viên hệ đào tạo chính quy mà phần lớn là như thế Chuẩn đầu ra thấp hơn rất nhiều so với chính quy, thậm chí nhiều cơ sở đào tạo còn xem như một lợi thế trong việc bao tiêu đầu ra để dễ dàng thu hút sinh viên trong tuyển sinh Mới đây, trong một bài viết của một tác giả nào đó có nhắc đến khái niệm “mất mùa người”, có phải vì ta trồng người
Trang 18theo kiểu này không? Kết quả cuối cùng là xã hội gánh chịu hậu quả không thể giải quyết một sớm một chiều
Hệ thống cơ sở vật chất, tư liệu học tập hệ chính quy vốn đã thiếu thốn, hệ tại chức còn thiếu thốn hơn Nhiều khi phòng học chỉ được gọi là lớp cho nó sang, chứ kì thực nó giống như lò luyện thi đại học “chui”, có lẽ lớp học kiểu như thế không có trong thuật ngữ giáo dục nên đành gọi nó là lớp học tại chức Học viên lên thư viện được coi như điều xa xỉ, tài liệu bài giảng thầy phát chưa hẳn đọc hết lấy gì mà coi thêm nguồn tư liệu Với sự hỗ trợ công nghệ thông tin thì việc lên mạng tải để rồi sở hữu một cuốn tài liệu làm tiểu luận là điều không quá khó, vì vậy, các bài tiểu luận khi chúng tôi chấm thường na ná như nhau Quả thực, tình trạng học viên “chôm” ý tưởng hiện nay thì “trúc Nam Sơn” muôn đời không ghi hết
Về việc thanh tra quản lý hệ này giường như bỏ ngõ, thanh tra là then chốt chất lượng giáo dục Công tác quản lý thời gian biểu của giảng viên còn nhiều điều đáng bàn, một bộ phận giảng viên thường vào muộn hơn quy định và kết thúc sớm hơn thời gian dự kiến, sự quản lý không chặt chẽ như các cơ sở chính Tình trạng thi hộ, thi thuê, học hộ, điểm danh hộ không còn là hiếm, nếu người thầy dễ dãi thì đầu buổi học
có thể thấy sinh viên đông đủ, cuối buổi chỉ còn là bàn ghế với vài học viên có ý thức học Tất cả, gây bức xúc nhức nhối dư luận, ảnh hưởng đến cả những người có ý thức học hành tốt
Cuối cùng, bên cạnh các nguyên nhân tác động đến chất lượng hệ VLVH này thì không thể bỏ qua nguyên nhân đó là động cơ học tập của học viên Hiện nay, đa phần học viên hệ này có động cơ học tập mang tính chất đối phó, học vì tấm bằng, chứng chỉ, vì hợp thức hóa chức vụ… chứ không phải vì kiến thức Truyền thống vốn dĩ của người Việt là hiếu học, nhưng do xã hội hiện nay chuộng bằng cấp, chưa thực sự coi trọng nhân tài, tạo điều kiện để những người có năng lực có đất dụng võ, vì thế, mọi người đua nhau sắm bằng và coi như đó là “bảo bối” phòng thân Nhiều người không
có năng lực nhưng cứ yên vị ngồi và bám chắc lấy chiếc ghế cho đến khi về hưu thì làm sao thế hệ trẻ có điều kiện phát triển, đất nước đi lên được? Trong các thông tin tuyển dụng của các công ty, cơ quan, trường học, chúng tôi rất ít khi thấy thông tin không cần bằng cấp, kinh nghiệm mà hoàn toàn ngược lại Tư tưởng sùng bái bằng cấp đã ngấm vào máu thịt lớp trẻ cho nên hiện nay mới có tình trạng rất nhiều cử nhân, kĩ sư, thạc sĩ đi làm gia sư, phục vụ quán ăn, chăn vịt, cắt cỏ, phát tờ rơi… Có một câu chuyện hài hước xen lẫn chua xót, đắng cay là, một bà chủ nhà hàng nhận xét
về nhân viên của mình trước phóng viên báo chí “Tôi tuyển cậu ấy vì có bằng kĩ sư điện nên rửa chén nhanh như điện (?)”
Trang 1919
2 Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lƣợng hệ VLVH hiện nay
Chấn chỉnh lại động cơ học tập của người học Mọi hành động đều xuất phát từ động cơ, theo chúng tôi điều đầu tiên là cần phải chấn chỉnh lại động cơ học tập thiếu tích cực của người học Nhà trường cần giáo dục cho học viên để họ thấy là học trước hết để làm người, để lấy kiến thức phục vụ cho công việc, trở thành người có ích cho gia đình và xã hội chứ không phải vì bằng cấp Muốn có động cơ học tốt thì học viên phải có kiến thức phổ thông tốt (ít nhất là 3 năm cấp III), có nghĩa là đầu vào phải tốt mới có khả năng theo kịp chương trình đại học, tạo hứng thú trong học tập Muốn vậy, phải thắt chặt khâu tuyển sinh đầu vào, thi hết học phần, thực hiện học nghiêm túc, thi nghiêm túc, tự học là chính, lý thuyết phải được ứng dụng, dạy học theo lối sáng tạo
tư duy sáng tạo không thể là đọc chép Thà chấp nhận số lượng ít, nhưng chất lượng cao còn hơn học viên đông nhưng lại không biết làm việc Tất cả nhằm lập lại chính danh - thực học: trường ra trường, lớp ra lớp, thầy ra thầy, trò ra trò là việc phải làm ngay Nhà trường cần có trách nhiệm trong việc này, đào tạo cốt ở chất lượng, không phải số lượng Tuy nhiên, muốn thay đổi thái độ học tập của người học thì xã hội cần
có cái nhìn đúng hơn về tấm bằng đại học trong tuyển dụng nhân sự, tuyển trên cơ sở năng lực không nên đánh giá quá nặng về mặt bằng cấp Người học chỉ có động cơ học tập đúng đắn khi xã hội thực sự trọng dụng tài năng của họ
Dân tộc VN là một dân tộc hiếu học, coi trọng nhân tài, truyền thống này đã có
từ ngàn đời nay Sở dĩ người ta hiếu học, có động cơ học tập đúng đắn là vì nhân tài được trọng dụng Theo chúng tôi lý do để thu hút, giữ chân người tài là có điều kiện cho sáng tạo: tiền lương phải cao và điều kiện làm việc phải tốt Tuyển chọn người tài phải lấy khả năng, năng lực thực chất là tiêu chí hàng đầu chứ không phải bằng cấp Chính tư duy bằng cấp trong phân bổ tuyển dụng nên nhiều người mới phải bỏ ra 3, 4 năm học hệ VLVH để hợp thức hóa, điều này gây lãng phí, mất thời gian cho người học, xã hội khi danh không đi với thực Đây cũng là một trong những nguyên nhân nảy sinh nhiều tiêu cực gây nhức nhối trong xã hội như học giả, bằng thật, chạy việc… tốn không ít giấy mực của báo chí Xét cho đến cùng, nguyên nhân sâu xa của động cơ học tập, của vấn nạn học giả bằng thật là do xã hội, vì vậy giải quyết vấn đề phải bắt đầu từ đây
Về đội ngũ cán bộ giảng viên, phương pháp, chương trình đào tạo Giảng viên đóng vai trò then chốt đối với chất lượng giáo dục, để đảm bảo yêu cầu đào tạo, theo chúng tôi thì cơ sở đào tạo cần chủ động về đội ngũ giảng viên, đảm bảo về số lượng cũng như chất lượng giảng viên cơ hữu Đối tượng học viên phần nhiều là những người đã đi làm, có kinh nghiệm thực tiễn, vì vậy, cần phải phân bổ giảng viên là người có kinh nghiệm lâu năm đứng lớp, chuyên sâu về lĩnh vực đào tạo, có khả năng
Trang 20cung cấp kinh nghiệm thực tiễn cho học viên chứ không phải đơn thuần về mặt lý thuyết Nhà trường cũng phải có trách nhiệm trong việc theo dõi sát sao lịch dạy của giảng viên, không để giảng viên cắt xén giờ dạy, vào trễ, về sớm như hiện đang xảy ra
ở một số cơ sở đào tạo Bên cạnh đó, cần khuyến khích giảng viên đổi mới phương pháp dạy học theo hướng người học là trung tâm, nói không với học chay, dạy chay, đọc chép, gắn lý thuyết với thực hành, dạy cho học viên có lối học tư duy sáng tạo, tự học, tự nghiên cứu Dạy học phải liên hệ với thực tiễn công việc của học viên làm sao những buổi học thực sự là cơ hội nâng cao tri thức cũng như ứng dụng vào công việc hàng ngày họ đang làm Tất cả đưa đến mục tiêu cuối cùng là công ty, doanh nghiệp,
xã hội cần cái gì thì nhà trường sẽ dạy cái đó
Đổi mới chương trình là cấp thiết, chúng ta không thể đổi mới phương pháp trong khi đó chương trình giảng dạy lại thuộc thập niên 80, 90 Chương trình giảng dạy phải hiện đại, cập nhật, nguồn tài liệu dồi dào, dễ kiếm phù hợp với xu hướng phát triển của thế giới nhưng trước hết là VN Xây dựng chương trình phải khoa học, nghiêm túc, không thể là cắt xén chương trình chính quy rồi bằng vài thao tác vi tính
là thành chương trình đào tạo hệ tại chức Chương trình phải phát huy được tác dụng, điều này có nghĩa là kiến thức thu thập trên giảng đường phải hữu ích ngay cho học viên trong việc áp dụng vào công việc hiện tại của họ Việc tăng cường liên kết với công ty, doanh nghiệp, các trường đại học uy tín trong và ngoài nước trong việc xây dựng chương trình, xây dựng các khu thực nghiệm, địa điểm thực hành thực tập cho học viên, cũng như tham gia giảng dạy, trao đổi, đào tạo cán bộ giảng viên là cần thiết trong giai đoạn hiện nay
Chúng ta cần thay đổi cách học, cách thi Nếu trong điều kiện có thể nên thi vấn đáp, học đâu thi đấy, không giới hạn chương trình, tất cả nhằm lập lại chính danh - thực học: trường ra trường, lớp ra lớp, thầy ra thầy, trò ra trò Tổ chức thi theo hình thức này, đòi hỏi người thầy phải giỏi chuyên môn và thù lao cho họ phải cao (thi vấn đáp thường rất mất thời gian, công sức của giảng viên) Cần tăng cường thanh tra, kiểm tra công tác giảng dạy, thi cử, hoạt động chuyên môn của các khoa như khuyến khích thầy/cô mỗi tháng tổ chức sinh hoạt chuyên môn 1, 2 lần, thắt chặt khâu thi cử kết thúc học phần, đình chỉ, buộc thôi học những SV có ý thức thái độ kém, gian lận trong thi cử và có kết quả học tập không tốt,
Cuối cùng, chúng ta cần phải nâng cao công tác thanh tra giáo dục Tất cả những điều nêu trên nếu thiếu công tác thanh tra thì cũng trở thành “cải lương”, vì vậy, thanh tra là then chốt, quan trọng số một quyết định sự thành bại của nền giáo dục đại học nói chung và giáo dục VLVH nói riêng Thanh tra về tất cả cả mảng đầu
Trang 21Tài liệu tham khảo
1 Trịnh Văn Anh (2009), Ba vấn đề bức thiết của nền giáo dục đại học VN hiện nay, Niên Giám Viện Nghiên cứu Giáo dục
2 Trịnh Văn Anh (2012), Động cơ học tập của sinh viên hệ cử nhân ngoài sư phạm trường Đại học Sư phạm TP HCM hiện nay, đề tài khoa học cấp trường
3 Trịnh Vũ (2013), Hệ tại chức: học giả, bằng thật, tuc/thoi-su/he-tai-chuc-hoc-gia-bang-that-2060844.html
http://vnexpress.net/tin-4 Đối thoại trực tuyến: giải pháp nào cho hệ tại chức, http://tv.tuoitre.vn/tin/2476/doi-thoai-truc-tuyen-giai-phap-nao-cho-he-tai-chuc-phan-2
5 Đào Tuấn (2013), Từ chối bằng tại chức là làm sai quy định, http://laodong.com.vn/giao-duc/tu-choi-bang-tai-chuc-la-lam-sai-quy-dinh-122723.bld
Trang 22GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO
HỆ VỪA LÀM VỪA HỌC TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG THÁP
Lê Hữu Bình 1
1 Đặt vấn đề
Hệ đào tạo VLVH là hình thức đào tạo có lịch sử ra đời khá lâu ở Việt Nam cũng như trên thế giới Hình thức đào tạo này vừa đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời, nâng cao chuyên môn, tay nghề của người học vừa đáp ứng nhu cầu của các ngành nghề trong xã hội, góp phần nâng cao dân trí Không thể phủ nhận thành tựu, hiệu quả của hệ đào tạo này trong thời gian qua của nhiều trường đại học các vùng miền ở Việt Nam Thế nhưng thời gian gần đây dư luận đánh giá không tốt về hệ đào tạo này, thậm chí nhiều cơ quan, xí nghiệp, trường học đã “tẩy chay”, “quay lưng”, “nói không” với tấm bằng tốt nghiệp hệ VLVH Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã kịp thời đưa ra những quy định, quy chế, giải pháp nhằm chấn chỉnh tổ chức đào tạo, cải thiện chất lượng đào tạo và bước đầu đã có sự chuyển biến theo chiều hướng tích cực, có sự thay đổi đáng kể Dưới góc độ của người trực tiếp tham gia giảng dạy hệ đào tạo này, tôi xin chia sẻ một số ưu điểm, tồn tại và đề một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng đào tạo hệ VLVH
2 Nội dung
2.1 Đôi nét về hệ đào tạo VLVH ở trường Đại học Đồng Tháp
Năm 2003, Trường Đại học Đồng Tháp được nâng cấp từ trường Cao đẳng Sư phạm Đồng Tháp, thành lập 1978 (hợp nhất với trường Trung học Sư phạm Đồng Tháp, thành lập năm 1975) Vì vậy bề dầy đào tạo ngành Sư phạm đem lại cho Đại học Đồng Tháp một ưu thế trong việc đào tạo hệ VLVH Nghĩa là sinh viên Sư phạm sau khi tốt nghiệp Cao đẳng hoặc Trung học Sư phạm ra trường đáp ứng nhu cầu dạy học các cấp tiểu học, trung học cơ sở cho địa phương hoặc một số tỉnh khác, do nhu cầu của bản thân, của nhà trường và yêu cầu của ngành Giáo dục, phần lớn các cựu sinh viên ấy đã trở lại tham gia học tập nâng cao trình độ của hệ VLVH
Tính đến nay (2013), Đại học Đồng Tháp với gần 10 năm đào tạo hệ VLVH, con
số người được đào tạo ước tính trên hàng chục ngàn Ngoài đào tạo hệ VLVH tại trường, quy tụ giáo viên trong tỉnh, Đại học Đồng Tháp đã và đang liên kết đào tạo với trên mười tỉnh thành khác như Hậu Giang, Kiên Giang, An Giang, Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng,Trà Vinh, Vĩnh Long, Bến Tre, Đà Lạt, Nha Trang, Bình Thuận
1
ThS – Giảng viên trường Đại học Đồng Tháp
Trang 2323
Gần đây, ngoài thế mạnh Ngành Sư Phạm, theo xu thế đào tạo chính quy đa ngành, Đại học Đồng Tháp cũng đã mở nhiều mã ngành hệ VLVH tại trường Đại học Đồng Tháp cũng như ở các tỉnh thành khác như Ngành Công tác xã hội, Việt Nam học, Ngôn ngữ Anh, Quản lý văn hoá, Khoa học Thư viện, Tài chính Ngân hàng, Kế toán, Khoa học Môi trường, Khoa học Máy tính, Nuôi trồng Thuỷ sản, Quản lý đất đai
2.2 Thực trạng đào tạo Hệ VLVH của trường Đại học Đồng Tháp
Quá trình đào tạo Hệ VLVH mà thế mạnh là Ngành Sư phạm của trường Đại học Đồng Tháp, theo tôi có những ưu điểm và tồn tại như sau:
2.2.1 Những ưu điểm
- Chương trình giảng dạy phù hợp, đáp ứng nhu cầu học tập của người học, kết hợp lý thuyết và thực hành, phát huy tính chủ động, tích cực của người học (qua các bài thực hành, hình thức học nhóm, xêmina ) Chương trình được tổ bộ môn soạn thảo thông qua hội đồng xét duyệt của Khoa, Phòng đào tạo và Ban Giám hiệu
-Việc tổ chức giảng dạy khá bài bản và nghiêm túc thông qua các kế hoạch đã được trường xét duyệt từ đầu khoá học, từ đầu mỗi năm học Có thể tổ chức học theo thời gian dàn trải vào thứ bảy, chủ nhật mỗi tuần hoặc học tập trung vào thời gian nghỉ hè của giáo viên phổ thông Việc đưa đón giáo viên đi dạy, bố trí chỗ ở hoặc thanh toán chế độ tàu xe ( nếu không có xe đưa đón), chế độ ăn, ở khá kịp thời và chu đáo Cơ sở vật chất, phương tiện giảng dạy nhìn chung được đáp ứng khá đầy đủ
- Giảng viên được phân công đi dạy các tỉnh, thành liên kết đào tạo phần lớn là những người nhiệt tình, trách nhiệm có thâm niên công tác, có uy tín khoa học, nhiều kinh nghiệm chuyên môn và nghiệp vụ
- Người học (Học viên) do không chịu áp lực về đầu ra (đa số đã có công ăn việc làm, được cơ quan cử đi học hoặc tự túc đi học) nên có ý thức, nhiệt tình học tập nâng cao trình độ hoặc đạt được tấm bằng tốt nghiệp Đại học để an tâm công tác, đáp ứng điều kiện bắt buộc của Ngành Giáo dục
- Mối quan hệ giữa trường Đại học Đồng Tháp và cơ sở liên kết đào tạo Hệ VLVH khá tốt, đồng bộ và thống nhất trong kế hoạch đào tạo, quản lý giảng dạy và học tập, thi cử của các lớp
2.2.2 Những hạn chế
- Điều kiên, cơ sở vật chất một số tỉnh liên kết ( Phòng học, bàn ghế, chỗ ăn, ở của giảng viên ) chưa được quan tâm đúng mức
Trang 24- Một số nơi liên kết phương tiện xe cộ, đi lại khó khăn, việc bố trí xe đưa đón còn hạn chế (từ 03 người trở lên dạy cùng thời điểm mới có xe đưa đón, hoặc cơ sở liên kết quá xa như Nha Trang, Đà Lạt giảng viên phải tự đi) Điều này ảnh hưởng không ít đến sức khoẻ, thời gian của người đi dạy
- Một số ít giáo viên chưa thực sự tâm huyết, nhiệt tình với việc giảng dạy do vậy có ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo
- Một số học viên cũng chưa có tinh thần, thái độ học tập tốt Việc tự giác học tập để nâng cao trình độ chưa thực sự là động lực, mục tiêu học tập mà học cốt để thi cho qua và lấy được bằng cấp Điều này dẫn đến chất lượng học tập chưa cao
- Việc kiểm tra, đánh giá qua bài kiểm tra thường kỳ và bài thi kết thúc môn học cũng chưa thực sự hiệu quả, chưa đánh giá được thực lực học tập của học viên (do chưa có ngân hàng đề thi và một số cán bộ coi thi đôi khi còn nễ nang, dễ dãi )
3.3 Một số giải pháp
Từ thực trạng trên cũng như thực trạng chung cũa hệ đào tạo hệ VLVH hiện
nay, tôi xin kiến nghị một số giải pháp như sau:
Một là, cần nâng cao ý thức trách nhiệm, sự tận tâm, tận lực của người dạy, sự tự giác, chủ động tích cực của người học hơn nữa để nâng cao chất lượng đào tạo Đối với những giảng viên trẻ mới ra trường được vài năm, kinh nghiệm ít không nên bố trí dạy ở các lớp VLVH
Hai là, việc kiểm tra, đánh giá cần có sự cải tiến nhằm đạt đến hiệu quả học thật, thi thật, chất lương thật: tăng số bài kiểm tra thường kỳ (có thể một tín chỉ một bài) để tạo động lực học tập tích cực và giảng viên kịp thời điều chỉnh phương pháp giảng dạy phù hợp hoặc bổ sung kiến thức hoàn chỉnh hơn; nhất thiết thành lập ngân hàng
đề thi như hệ đào tạo chính quy theo học chế tín chỉ để tránh hiện tượng khoanh vùng kiến thức, phạm vi ra đề, tạo sự ỷ lại trong học tập và một số hiện tượng tiêu cực không đáng có khác Ngoài hình thức thi có thể cho học viên làm các tiểu luận, bài tập lớn thay thế cho thi kết thúc học phần
Ba là, cần chú trọng cơ sở vật chất ở các đơn vị liên kết đào tạo, tạo điều kiện giảng dạy và học tập tốt hơn
Bốn là, cần có sự thống nhất, kết hợp nhịp nhàng hơn giữa trường Đại học và cơ
sở liên kết đào tạo trong hoạt động dạy học, trong kế hoạch và quản lý học tập của học viên Đối với giảng viên, cơ sở liên kết cần có sự theo dõi, giám sát thực hiện giờ giấc lên lớp, tránh tình trạng bỏ giờ, bỏ buổi không ai biết Đối với học viên, giảng
Trang 25Sáu là, cơ sơ đào tạo cũng cần có sự liên kết, chỉ đạo, điều hành chặt chẽ hơn giừa cơ quan, trường học của học viên , tránh trường hợp chồng chéo trong kế hoạch học tập và công tác tại cơ quan, trường học của học viên để học viên không phải bỏ các buổi học
Bảy là, cần có Hội nghi đánh giá, tổng kết giữa trường Đại học và cơ sở liên kết
để rút ra được những mặt ưu điểm và hạn chế, qua đó đề ra các giải pháp cụ thể nâng cao chất lượng đào tạo
3 Kết luận
Nền giáo dục Việt Nam không ngừng được cải cách, đổi mới với mục tiêu theo kịp sự phát triển của các nước tiên tiến trên thế giới, đáp ứng nhu cầu, đòi hỏi bức thiết của xã hội, của các cấp các ngành Hệ đào tạo VLVH cũng nằm trong guồng máy không ngừng đổi mới, cải cách ấy Làm sao để hệ đào tạo VLVH đóng góp tích cực nhu cầu phát triển của xã hội; làm sao để trình độ chuyên môn, tay nghề của người học hệ đào tạo VLVH được nâng cao; làm sao để tấm bằng tốt nghiệp hệ VLVH được các cơ quan xí nghiệp hân hoan đón nhận?Đó là những câu hỏi lớn chưa có lời đáp mang tính chất hoàn thiện
Với ước mong được đóng góp một tiếng nói nhỏ trong việc đảm bảo chất lượng cho việc đào tạo hệ VLVH tại trường Đại học Đồng Tháp cũng như của các trường Đại học trong cả nước, trên đây là một số ý kiến đôi khi chưa tránh khỏi sự chủ quan của người viết, mong nhận được sự trao đổi trong Hội thảo để các giải pháp trên có tính khả thi hơn
Trang 26GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO HỆ VỪA LÀM VỪA HỌC TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ CÔNG NGHIỆP LONG AN
1 Thực trạng tổ chức đào tạo hệ VLVH tại trường Đại học Kinh tế Công nghiệp Long An
- Thời gian đào tạo linh động: các buổi tối trong tuần hoặc ngày thứ 7, chủ nhật
- Cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ giảng dạy đáp ứng cho việc cập nhật thông tin, đổi mới nội dung, hình thức đào tạo
- Chương trình, thời gian và nội dung thi tuyển, kiểm tra đánh giá có nhiều thay đổi phù hợp với người học
- Đến nay trường đã tuyển được 6 khóa hệ VLVH với tổng sinh viên: 698 sinh viên
hệ đào tạo chính quy Trong khi đó theo nghị định của Chính phủ và Thông tư hướng dẫn Nghị định của Bộ Giáo dục và Đào tạo không có sự phân biệt hai hình thức đào tạo này (Nghị định số 90/CP và Thông tư hướng dẫn Nghị định 90/CP của Bộ Giáo dục và Đào tạo)
1
ThS – Giảng viên trường Đại học Kinh tế Công nghiệp Long An
Trang 2727
- Việc áp dụng các phương pháp dạy học mới đối với hình thức đào tạo VLVH cần phải được phát huy và duy trì vì sinh viên ở hệ này có kinh nghiệm và đã trải qua thực tiễn Trong thực tế người dạy chưa tận dụng được thế mạnh vốn có này
- Sinh viên bỏ tiết quá nhiều dẫn đến không đủ tri thức khi kiểm tra và thi, kết quả học tập không cao nợ quá nhiều môn chán nản rồi nghỉ học
- Tuyển sinh: hệ này sinh viên vào dự tuyển còn thấp
- Tỷ lệ nghỉ học quá nhiều: thống kê từ khóa 1 đến khóa 5
THỐNG KÊ ĐỘ TUỔI SINH VIÊN HỆ VLVH KHÓA 1,2,3
TUỔI NHỎ NHẤT : 21 TUỔI; LỚN NHẤT 49 TUỔI
Trang 28- Chương trình học còn phụ thuộc vào khung chương trình của chính quy
- Chương trình và nội dung đào tạo hệ VLVH không thể dàn trải quá nhiều học phần như hệ chính quy hiện nay, số học phần có thể ít hơn, nên tăng học phần chuyên ngành, giảm học phần đại cương; đề thi phải giảm bớt lý thuyết, tăng phần kiến thức thực tiễn
- Hệ thống chương trình đào tạo phải có sự cập nhật học hỏi kinh nghiệm các doanh nghiệp để đào tạo đáp ứng được nhu cầu của xã hội
- Chương trình học theo hệ tín chỉ để thuận lợi cho người học
- Bên cạnh sử dụng chương trình, giáo trình cần biên soạn thêm hệ thống tài liệu hướng dẫn tự học, tự đọc để giảm giờ lên lớp hướng dẫn, tạo điều kiện cho sinh viên
có thể học mọi nơi mọi lúc
- Phải tăng cường các biện pháp cho sinh viên học trong thực tiễn và bằng thực tiễn để soi sáng cho lý luận, có như vậy mới tận dụng tối đa kinh nghiệm của sinh viên hệ này
- Hướng dẫn sinh viên làm nghiên cứu khoa học để giúp các em có kiến thức kỹ năng vững vàng sau khi ra trường
2.2 Công tác tuyển sinh
Ban tuyển sinh và các phòng ban khoa cần phối hợp trung tâm Đào Tạo Thường Xuyên nhiều hơn nữa, tạo điều kiện để trung tâm hoàn thành nhiệm vụ
2.3 Tăng cường công tác phối hợp giữa các cơ quan, phòng ban
Kết hợp phòng QLĐT&CTHSSV, phòng ban khoa về chương trình học, lịch thi, lịch học, kế hoạch mời giảng…
Để hội nhập thành công, nâng cao được chất lượng cuộc sống đòi hỏi giáo dục đào tạo Trường Đại học Kinh tế Công nghiệp Long An cần có cách nhìn biện chứng
để phân tích thực trạng, đánh giá đúng thực trạng, trên cơ sở đó mới tìm được biện pháp góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ tri thức hiện nay mà không tính tới đào tạo bởi hình thức nào chính quy hay VLVH
Trang 2929
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO
HỆ VỪA LÀM VỪA HỌC
Nguyễn Thi ̣ Thu Ba 1
Hê ̣ đào ta ̣o vừa làm vừa ho ̣c có tiền thân là hê ̣ đào ta ̣o ta ̣i chức , ra đờ i từ năm
1960 của thế kỷ 20 Đến năm 1998, Luật giáo du ̣c đổi thuâ ̣t ngữ “ta ̣i chức” thành “vừa học vừa làm” [1] và đến năm 2005, đươ ̣c đổi thành “vừa làm vừa ho ̣c” [2] Hình thức đào ta ̣o này ra đời là một chủ trương của Đảng nhằm nhanh chóng đào tạo được đội ngũ cán bộ có trình độ đáp ứng nhu cầu của xã hội Trong những năm vừa qua , hê ̣ đào tạo vừa làm vừa học đã khẳng định được vị trí , vai trò của mình trong hê ̣ thống giáo dục quốc dân nói chung và giá o du ̣c đa ̣i ho ̣c nói riêng và đa ̣t được những thành công nhất đi ̣nh với sự mở rô ̣ng quy mô và đối tượng đào ta ̣o , phù hợp với nhu cầu xã hội hóa giáo dục, đáp ứng nhu cầu ho ̣c và nâng cao trình đô ̣ ngày càng cao của người ho ̣c Tuy nhiên, chất lượng đào ta ̣o của loa ̣i hình này vẫn còn thấp so với hê ̣ chính quy gây khó khăn cho việc tuyển dụng sinh viên sau khi ra trường Bài viết này xin nêu ra một vài yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo của hê ̣ vừa làm vừa ho ̣c ở nước ta hiê ̣n nay và mô ̣t số biê ̣n pháp nhằm nâng cao chất lượng của hê ̣ đào ta ̣o này
1 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng của hệ vừa làm vừa học hiện nay
Chất lươ ̣ng của hê ̣ đào ta ̣o được đánh g iá qua các yếu tố : chất lượng đầu vào , chất lươ ̣ng quá trình da ̣y – học, chất lượng đầu ra, chất lượng sản phẩm đào ta ̣o [3] Đào ta ̣o vừa làm vừa ho ̣c trước đây đã cung ứng cho xã hô ̣i mô ̣t đô ̣i ngũ tri thức lớn, đáp ứng kịp thời cho sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước Nhưng những năm gần đây, hình thức này về bản chất đã bị thay đổi và biến tướng , làm cho chất lượng đào ta ̣o giảm sút rõ rê ̣t Vâ ̣y nguyên nhân là do đâu?
Thứ nhất: Buông lỏng đầu vào
Các trường đại học hiện nay chỉ chú trọng mở rộng quy mô đào tạo vừa làm vừa học mà chưa chú trọng đến việc đảm bảo chất lượng đào tạo Ở nhiều cơ sở giáo dục
đa ̣i ho ̣c, quy mô đào ta ̣o của hê ̣ này b ằng khoảng 60 – 70% quy mô đào ta ̣o hê ̣ chính quy [3] Đối tượng tuyển sinh của hệ đào tạo này rất đa dạng , từ ho ̣c sinh tốt nghiê ̣p THPT (phần lớ n là do rớt đa ̣i ho ̣c hê ̣ chính quy), tốt nghiê ̣p trung cấp, đến sinh viên đã tốt nghiê ̣p cao đẳng hoă ̣c đã tốt nghiê ̣p đa ̣i ho ̣c có nguyê ̣n vo ̣ng ho ̣c ngành ho ̣c khác theo hình thức vừa làm vừa ho ̣c Hình thức tuyển đầu vào gồm xét tuyển hoặc thi tuyển Nếu trường đa ̣i ho ̣c tổ chức thi tuyển thì theo đề riêng của trường, do đó khó đánh giá được chất lượng tuyển sinh Nếu xét tuyển thì đối tượng đã có bằng đa ̣i ho ̣c
1
ThS – Viện Nghiên cứu Giáo dục, trường Đại học Sư phạm TP HCM
Trang 30sẽ được tuyển thẳng , đối tươ ̣ng ho ̣c sinh phổ thông xét tuyển bằng điểm thi đa ̣i ho ̣c Đơn cử như ở trường Đa ̣i ho ̣c Sư pha ̣m Kỹ thuâ ̣t Tp.HCM, cùng một ngành công nghệ
kỹ thuật công trình xây dựng, cùng xét tuyển điểm thi đại học 2013, ở hệ chính quy có điểm chuẩn là 18 điểm nhưng mức điểm chuẩn đầu vào hê ̣ vừa ho ̣c vừa làm mở ở cơ sở trường Trung cấp nghề Bến Tre là 13 điểm [8] Có một sự chênh lệch rất lớn giữa chuẩn đầu vào của 2 hê ̣ đào ta ̣o trên Do đầu vào bi ̣ buông lỏng như thế , chất lượng đào ta ̣o không đa ̣t hiê ̣u quả như mong đợi cũng là điều hiển nhiên
Thứ hai: thả trôi đầu ra
Trong những năm gần đây , hê ̣ vừa làm vừa ho ̣c đã có những thành tựu đáng kể như số lươ ̣ng lớp ngày càng tăng, các trường đại học lần lượt mở hệ đào tạo theo hình thức này Tuy nhiên dường n hư đầu ra đang bi ̣ “thả nổi” , không có mô ̣t chuẩn đầu ra phù hợp với yêu cầu của xã hội Chuẩn đánh giá hê ̣ đào ta ̣o vừa làm vừa ho ̣c chưa đươ ̣c quan tâm chú ý đến , nên chất lượng của các ngành ho ̣c không giống nhau , của từng môn ho ̣c cũng khác nhau
Thứ ba: Chương trình đào tạo
Chúng tôi lấy điển hình chương trình đào tạo của trường Đại học kinh tế
Tp.HCM ở hai loa ̣i hình chính quy và vừa làm vừa ho ̣c [5], chuyên ngành ngân hàng
để có cái nhìn khách quan về chương trình đào tạo của hai loại hình này
Bảng 1: So sánh khối lươ ̣ng đơn vi ̣ ho ̣c trình ngành ngân hàng trường
ĐH Kinh tế TPHCM ở 2 hê ̣ đào ta ̣o
Chính quy VLVH
2 Lý thuyết tài chính tiền tê ̣ 3 5
6 Nghiê ̣p vu ̣ ngân hàng thương ma ̣i 5 6
Trang 31Bảng 2: So sánh khối lươ ̣ng đơn vi ̣ ho ̣c trình ở hai hê ̣ đào ta ̣o
ở các trường đại học
Số tín chỉ
Hê ̣ chính quy Hê ̣ vừa làm
vừa ho ̣c
Đa ̣i ho ̣c KT Tp.HCM Ngân hàng 122 157[5]
Đa ̣i ho ̣c KHXHNV Ngữ văn anh 143 159[7]
Đa ̣i ho ̣c Bách Khoa
Thứ tư: Quá trình dạy và học
- Về phía người thầy:
Đối với chương trình giáo dục đại học , người thầy đóng vai trò là người hỗ trợ ,
đi ̣nh hướng cho sinh viên tự ho ̣c Tuy nhiên người thầy ở đây chưa phát huy được vai trò của mình trong quá trình đào tạo , từ đi ̣nh hướng cho sinh viên cách ho ̣c , chuyển
Trang 32sang đi ̣nh lươ ̣ng cho sinh viên phải ho ̣c những gì , học bao nhiêu là đủ để thi qua Bởi
lẽ, quy mô đào ta ̣o gia tăng, nhưng số lượng giảng viên không tăng tương ứng , tỉ lệ sinh viên/giảng viên còn quá lớn , vượt xa chuẩn của Bô ̣ (25 SV/GV) (Tỉ lệ SV/GV ở Trường Đa ̣i ho ̣c Văn Hiến là 87, ở trường Cao đẳng Công nghệ Thông tin là 84,5)[4]
Do đó, dẫn đến tình tra ̣ng quá tải , GV không còn thời gian đầu tư nghiên cứu , chỉ tập trung giảng da ̣y cho “ki ̣p và đủ” nên chất lượng giảng da ̣y không đảm bảo , thời gian giảng dạy rút ngắn lại, từ truyền đa ̣t thành đo ̣c chép, chiếu chép …
- Về phía người ho ̣c:
Đối tượng tuyển sinh của hệ đào tạo vừa làm vừa học rất đa dạng từ những cán
bô ̣ đã công tác lâu năm với nhiều kinh nghiê ̣m , đến những học sinh mới tốt nghiệp trung ho ̣c phổ thông nhưng kết quả học lực rất thấp , nên trình đô ̣ của người ho ̣c cũng rất khác nhau dẫn đến viê ̣c đào ta ̣o khó đa ̣t kết quả như mong muốn Bản thân người học cũng không thực sự cố gắng , đi ho ̣c chỉ với mu ̣c đích lấy được tấm bằng mà không phải là để nâng cao trình đô ̣, tình trạng thuê đi học hộ , “mua điểm” vẫn diễn ra tràn lan, vô hình chung làm cho chất lượng đào ta ̣o giảm sút , ảnh hưởng đến uy tín của loại hình đào tạo này
- Về phía cơ sở đào ta ̣o:
Quy mô tuyển sinh gia tăng , nên cơ sở vâ ̣t chất của các cơ sở đào ta ̣o không đáp ứng đủ nhu cầu Phần lớn đào ta ̣o vừa làm vừa ho ̣c được triển khai chủ yếu ngoài trường, thông qua các cơ sở giáo du ̣c đi ̣a phương mà nòng cốt là c ác trung tâm Giáo dục thường xuyên cấp tỉnh Do vâ ̣y, quá trình đào tạo vừa làm vừa học không được quản lý một cách chặt chẽ , chưa đươ ̣c các cơ sở đào ta ̣o đầu tư thích đáng về công nghê ̣ và nguồn ho ̣c liê ̣u Hình thức đào tạo này chủ yếu tập trung vào các ngành dễ dạy, dễ ho ̣c và ít phải đầu tư cơ sở vâ ̣t chất và trang thiết bi ̣ da ̣y ho ̣c như : các ngành khối kinh tế , khối quản lý , khối sư pha ̣m , khối xã hô ̣i và nhân văn còn các ngành kỹ thuật và công nghệ ít được quan tâm Việc đánh giá kết quả ho ̣c tâ ̣p của sinh viên , học viên còn dễ dãi nên người ho ̣c sau khi tốt nghiê ̣p chưa đáp ứng được yêu cầu chất lươ ̣ng nguồn nhân lực của thi ̣ trường lao đô ̣ng, dẫn đến tình tra ̣ng mô ̣t số tỉnh đã quyết
đi ̣nh không tuyển du ̣ng người có bằng ta ̣i chức Điều này gióng lên mô ̣t hồi chuông cảnh báo cho các trường đại học rằng sản phẩm họ đào tạo ra có thể sẽ không được sử dụng Vâ ̣y chúng ta phải làm gì để nâng cao chất lượng của hệ đào tạo vừa làm vừa học, để đưa nó đi đúng quỹ đạo ban đầu và đúng mục tiêu đặt ra là hướng đến xã hội học tập và phục vụ sự phát triển của đất nước
Trang 3333
2 Giải pháp nâng cao chấ t lươ ̣ng đào ta ̣o hê ̣ vừa làm vừa ho ̣c
- Kiểm soa ́ t đầu vào:
Nâng cao chất lươ ̣ng đầu vào là mô ̣t khâu then chốt để cải thiê ̣n chất lượng giáo dục đại học vừa làm vừa học đang trên đà xuống dốc Vì các trường hiện nay hầu hết đều tự tuyển sinh nên rất khó đánh giá đúng được kết quả Do đó cần phải có mô ̣t kỳ thi chung tuyển đầu vào , hoă ̣c quy đi ̣nh mức điểm sàn tuyển sinh cho hê ̣ ta ̣i chức và phải siết chặt chỉ tiêu căn cứ vào khả năng cơ sở vâ ̣t chất của cơ sở đào ta ̣o , không để diễn ra tình tra ̣ng tuyển sinh ồ a ̣t như hiê ̣n nay
Mô ̣t điều quan tro ̣ng là đối với hê ̣ đào ta ̣o vừa làm vừa ho ̣c , chỉ nên tăng cường tuyển sinh những cán bô ̣ đang công tác muốn nâng cao trì nh đô ̣, và nên tách đối tượng học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông có điểm thi đại học rất thấp thành một loại hình đào tạo khác Nếu đối tươ ̣ng này cũng được tuyển sinh ho ̣c đa ̣i ho ̣c sẽ ta ̣o ra sự mất công bằng trong xã hội
- Siết chă ̣t đầu ra:
Cần xây dựng và ban hành công khai mô ̣t chuẩn đầu ra chung cho các ngành học Viê ̣c kiểm tra đánh giá cần được quản lý mô ̣t cách chă ̣t chẽ hơn nữa , tránh tình trạng “trò không muốn học , thầy không m uốn da ̣y” và buông xuôi , dễ dãi Cần thực hiê ̣n đánh giá chă ̣t chẽ đầu ra đối với từng học phần như của đa ̣i ho ̣c chính quy sẽ loa ̣i đươ ̣c những ho ̣c viên, sinh viên không đa ̣t chuẩn Đối với kỳ thi hay bảo vệ khóa luận tốt nghiệp cần triển khai hệ thống công cụ đánh giá khách quan , nghiêm túc cùng với
Đa ̣i ho ̣c chính quy thì chất lượng bằng cấp của hê ̣ đào ta ̣o vừa làm vừa ho ̣c sẽ được cải thiện
- Đa ̉ m bảo chất lươ ̣ng quá trình da ̣y và ho ̣c : Tức là cần đảm bảo các y ếu tố sau:
+ cải thiện nội dung chương trình phù hợp để đáp ứng nhu cầu sử dụng của người ho ̣c và nhu cầu của thi ̣ trường lao đô ̣ng Nếu vẫn duy trì chương trình giảng da ̣y như hiê ̣n nay , thiếu tính câ ̣p nhâ ̣t , nă ̣ng về lý thuy ết, không gắn với thi ̣ trường lao
đô ̣ng thì tất yếu chất lượng đào ta ̣o sẽ bi ̣ tu ̣t dốc
+ tuyển sinh đú ng, sát hơn các đối tượng vào học Vì quá trình đào tạo chính là quá trình tự đào tạo , sinh viên không còn thu ̣ đô ̣ng t iếp nhâ ̣n tri thức nữa , mà phải có năng lực và khả năng tự ho ̣c dưới sự đi ̣nh hướng của giảng viên , do đó đầu vào của hê ̣ đào ta ̣o vừa làm vừa ho ̣c cần phải là những đối tượng có nhu cầu ho ̣c thâ ̣t và cần có khả năng tự học Chất lươ ̣ng đào ta ̣o có hiê ̣u quả hay không phu ̣ thuô ̣c phần lớn vào sự chủ đô ̣ng của sinh viên, học viên
Trang 34+ tuyển chọn và bồi dưỡng đô ̣i ngũ cán bô ̣ quản lý và giảng viên tham gia hê ̣ đào tạo vừa làm vừa học Tổ chức các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ giảng dạy người lớn tuổi cho các giảng viên trẻ Tránh để tình trạng giảng viên quá tải dẫn đến hiện tượng cắt xén giờ dạy , dạy kiểu “cuốn chiếu” và “bán cuốn chiếu” làm ảnh hưởng đến chấ t lươ ̣ng đào ta ̣o
+ xây dựng nguồn ho ̣c liê ̣u phong phú cho hê ̣ đào ta ̣o này , để người học có khả năng đo ̣c, so sánh và tham khảo khi cần thiết bởi hiê ̣n nay có mô ̣t số môn ho ̣c vẫn còn học chay không có giáo trình hay tài liệu tham khảo Đồng thời đầu tư cơ sở vật chất cho hê ̣ đào ta ̣o vừa làm vừa ho ̣c
+ giám sát và kiểm tra các cơ sở đào tạo liên kết một cách chặt chẽ Thực hiê ̣n kiểm đi ̣nh chất lươ ̣ng giáo du ̣c về các mă ̣t : nô ̣i dung chương trình, phương pháp giảng dạy, mức đô ̣ hài lòng của sinh viên , khả năng tìm kiếm việc làm và cơ hội thăng tiến của những sinh viên đã tốt nghiệp Đẩy mạnh công tác thanh tra việc đảm bảo các điều kiê ̣n hoa ̣t đô ̣ng của cơ sở giáo dục, xử lý nghiêm các cơ sở đào ta ̣o không đủ điều kiê ̣n theo quy đi ̣nh
Tóm lại chất lượng hệ đào tạo vừa làm vừa học còn thấp so với hệ chính quy , và chưa đươ ̣c xã hô ̣i nhìn nhâ ̣n và đánh giá cao Tuy nhiên chúng ta không thể xóa bỏ
nó, bởi lẽ nó đáp ứng nhu cầu nâng cao trình đô ̣ ngày càng cao của con người , hướng tới xã hô ̣i hóa giáo du ̣c Do đó , các nhà quản lý cần quan tâm hơn nữa , có những chính sách quyết liệt hơn nữa để đưa hệ đà o ta ̣o vừa ho ̣c vừa làm về đúng bản chất của nó nhằm cải thiện chất lượng của hệ đào tạo này
Tài liệu tham khảo
1 Luật Giáo du ̣c 1998, Khoản d điều 44
2 Luật Giáo du ̣c 2005, Khoản 2a điều 45
3 Vũ Duy Hiền, Quản lý quá trình đa ̀ o tạo đại học vừa làm vừa học theo tiếp cận đảm bảo chất lượng, Tóm tắt luận án tiến sĩ, Trường Đa ̣i ho ̣c Giáo du ̣c, 2013
4 Báo Dân trí - dai-hoc-vua-mong-vua-yeu-187825.aspx
http://giaoduc.edu.vn/news/nhip-cau-su-pham-758/giang-vien-5 Khung chương trình cử nhân kinh tế hình thức vừa làm vừa ho ̣c chuyên ngành
http://taichuc.ueh.edu.vn/DOC/CTKHUNG/VB1/CTKTCNH.PDF
6 Chương trình đào ta ̣o Đa ̣i ho ̣c Bách khoa Tp.HCM
http://www.aao.hcmut.edu.vn/docs/ctdt_2013/dd/dd_vthong.html
Trang 358 Thông báo xét tuyển hê ̣ vừa ho ̣c vừa làm trường Đa ̣i ho ̣c Sư pha ̣m kỹ thuâ ̣t Tp.HCM
http://www.hcmute.edu.vn/Resources/Docs/Phong%20DTKCQ/TUYEN%20SINH/T10%202013/TB%20XET%20TUYEN%20DH%20VLVH%20HOC%20TAI%20CAC%20CSLK%20THANG%2011-2013.pdf
Trang 36MỘT SỐ LỆCH LẠC CỦA HỆ VỪA LÀM VỪA HỌC
CẦN KHẮC PHỤC ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO
Nguyễn Đình Cả 1
Dương Hoài An 2
Trong lịch sử đào tạo nguồn nhân lực của Việt Nam, hệ vừa học, vừa làm có một
vị trí đặc biệt Từ thời bao cấp tới thời kinh tế thị trường, đã có rất nhiều người được đào tạo từ hệ này mà trưởng thành, có vị trí và vị thế trong xã hội Thế nhưng, cũng từ trong quá khứ cho đến hôm nay, hệ VLVH luôn phải gánh chịu những lời nguyền, những sự đối xử không công bằng Đã có một thời, câu nói: “Dốt như chuyên tu, ngu như tại chức” ám ảnh biết bao học viên theo học hệ này Rồi gần đây, khi tuyển dụng cán bộ, viên chức, một số địa phương, ngành chỉ tuyển sinh viên hệ chính quy Vì sao
có thực trạng này? Nếu vẫn duy trì và phát triển hệ vừa học, vừa làm thì các cơ sở giáo dục và đào tạo phải làm gì để khẳng định một giá trị, một thương hiệu trong thị trường đào tạo nguồn nhân lực hiện nay của đất nước
Từ thực tế của việc giảng dạy và quản lý hệ vừa học, vừa làm ở một số cơ sở giáo dục và đào tạo như các trường đại học, cao đẳng, trường nghề, trung tâm giáo dục ở các tỉnh thành trong cả nước, chúng tôi nêu lên một số biểu hiện lệch lạc về hệ VLVH hiện nay như sau:
Cho đến nay, hầu hết các cơ sở giáo dục và đào tạo cũng như lãnh đạo các cấp đều quan niệm về hệ vừa học, vừa làm là một sản phẩm hạng hai, đứng sau hệ chính quy tập trung Từ quan niệm như vậy nên thực tế, hệ vừa học, vừa làm phải gánh chịu rất nhiều thiệt thòi ở hầu hết các phương diện Từ cơ sở vật chất giảng dạy cho đến con người, thời gian đều được quan niệm và thực hiện một cách nửa vời, đến đâu cũng được Trên thực tế cũng đã có nhiều ý kiến đóng góp từ các cơ sở, các thầy giáo,
cô giáo và có cả ý kiến một số cán bộ lãnh đạo, quản lý về hệ đào tạo này Nhưng rồi cuối cùng, một người tặc lưỡi: hệ vừa học, vừa làm mà Hệ này phải đứng sau hệ chính quy chứ! Hoặc: hệ vừa học, vừa làm như vậy là tốt rồi, cứ thế mà tiến hành Chính từ lối tư duy này mà đã làm cho cả xã hội và người học nhận thức không đúng
về hệ vừa học, vừa làm Từ đó, dù chưa đến độ coi thường, nhưng hầu hết đều không coi trọng, chú ý và tập trung vào hệ đào tạo này
Một thực tế phổ biến là có không ít cơ sở đào tạo cho rằng hệ vừa học, vừa làm
là “cần câu cơm”, là tạo việc làm thêm, tăng thu nhập cho các thầy, cô giáo Cách tư duy và thực hiện theo kiểu “chính sách xã hội” đã góp phần vào việc làm giảm chất
Trang 37Về quản lý, tổ chức, vì hệ vừa học, vừa làm nên có tình trạng thiếu kiểm tra, giám sát, trách nhiệm không rõ ràng của các cơ sở đào tạo, các cấp quản lý Đây cũng
là một lệch lạc khá phổ biến của nhiều cơ sở đào tạo Hệ nào thì cũng phải trường ra trường, lớp ra lớp, thầy ra thầy, trò ra trò Rất tiếc, trên thực tế, có nhiều lớp học hệ vừa học, vừa làm thiếu các điều kiện cần thiết của một lớp học như giáo trình, tài liệu, nội quy, kỷ luật học tập Chính sự buông lỏng quản lý của các cơ sở đào tạo và trách nhiệm không rõ ràng đã làm cho quá trình học tập diễn ra thiếu kiểm soát, theo dõi
Hệ quả là chất lượng bị thả nổi cuối cùng, người học cũng được tấm bằng nhưng kiến thức thì thiếu hụt Đây là một nguyên nhân dẫn đến sự nhìn nhận thiên lệch của xã hội
về hệ đào tạo này
Để khắc phục những lệch lạc này, cần tập trung vào một số vấn đề sau đây:
Trước hết, các cơ sở đào tạo phải xác định hệ vừa học, vừa làm là một hình thức
học tập, một thương hiệu đào tạo có vị trí bình đẳng với các loại hình đào tạo khác trong hệ thống giáo dục đại học ở Việt Nam Đây là biện pháp đầu tiên cần thực hiện
ở các cơ sở giáo dục đào tạo Tư tưởng có thông thì công việc mới bảo đảm chất lượng
Hai là, tiếp tục hoàn thiện chương trình đào tạo và các môn học theo quy định
hiện hành của Bộ Giáo dục và Đào tạo và theo Luật Giáo dục đào tạo mới ban hành Trong đó, phải có chương trình học tập rõ ràng, cơ cấu các môn học, thời gian và số lượng tiết học phù hợp với hệ vừa học, vừa làm Phải loại bỏ kiểu đào tạo lấy giáo trình hệ chính quy rồi cắt xén để giảng dạy cho hệ vừa học, vừa làm Hoặc là cắt bớt thời lượng giảng dạy, số lượng các môn học một cách tùy tiện theo ý muốn chủ quan của các cơ sở giáo dục, đào tạo
Ba là, phải đặc biệt coi trọng đội ngũ giảng viên tham gia giảng dạy hệ VLVH
Đây phải được coi là khâu đột phá để nâng cao chất lượng hệ vừa học, vừa làm Phải
sử dụng những giáo viên giỏi nhất, có bằng cấp để dạy hệ vừa học, vừa làm Thầy giỏi
sẽ có trò giỏi
Trang 38Trong cơ chế thị trường và đặc biệt trong triết lý giáo dục cho mọi người và học tập suốt đời thì hệ vừa học, vừa làm càng có một vị trí xứng đáng và cần phải khẳng định Cùng với việc khắc phục những nhận thức lệch lạc về hệ đào tạo này là phải đầu
tư một cách toàn diện vào hệ đào tạo này để góp phần vào quá trình đào tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa Việc phát triển hệ vừa học, vừa làm còn là để xã hội hóa nền giáo dục và đào tạo của đất nước và góp phần giải tỏa áp lực vào đại học cho toàn xã hội Có rất nhiều con đường để học tập, chiếm lĩnh và làm chủ tri thức, rèn luyện và khẳng định mình Con đường VLVH là một hướng đi tích cực, phát huy tác dụng tốt trong thực tế cuộc sống
Trang 3939
ĐÀO TẠO HỆ VỪA LÀM VỪA HỌC: THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG ĐỀ XUẤT
Nguyễn Quyết Chiến 1
1 Thực trạng đào tạo hệ VLVH tại các trường cao đẳng, đại học Việt Nam
Việt Nam đã chính thức công bố: tiến tới một xã hội học tập Nói cho dễ hiểu, đó
là một xã hội mà người dân có cơ hội học tập suốt đời Trong bất cứ giai đoạn nào của cuộc đời, người dân cũng có điều kiện học tập, để nâng cao trình độ nghề nghiệp theo kịp với đà tiến như vũ bão của công nghệ thông tin hiện đại Hệ đào tạo tại chức các cấp học trở thành cái xương sống cho xã hội học tập phát triển, và chính hệ đào tạo này ở Việt Nam lại bị xã hội xem nhẹ, rẻ rúng trong đời sống đương đại.Tại nhiều quốc gia, hệ tại chức được xem như một hệ đào tạo thực hành độc lập, tách bạch khỏi
hệ chính quy Hệ đào tạo này đi từ bậc sơ cấp, trung cấp đến đại học (ĐH) và cả sau
ĐH, với một nội dung chương trình đào tạo nặng về thực hành, phục vụ trực tiếp cho chuyên môn, nghề nghiệp, khác hẳn hệ đào tạo chính quy, nặng về nội dung nghiên cứu Mục tiêu của hệ tại chức phục vụ cho những người đang đi làm muốn nâng cao trình độ nghề nghiệp (chứ không phải trình độ nghiên cứu), hay muốn đổi nghề mới cho phù hợp hơn hoặc không có khả năng về thời gian và kinh tế để theo đuổi học hệ chính quy Và khi đang ở hệ đào tạo thực hành muốn chuyển sang hệ nghiên cứu chính quy thì dù ở bậc học nào cũng phải trải qua một kỳ học lấy chứng chỉ hoặc văn bằng bổ túc kiến thức Nhìn lại hệ VLVH - hệ tại chức ở Việt Nam thời gian qua, chúng ta thấy gì? Bậc thấp nhất là Bổ túc văn hóa trong khối kiến thức phổ thông Trước đây bậc học này chỉ dạy bốn môn và “đỉnh cao” một thời là học 2 năm 3 lớp Tức chỉ cần 2 năm sẽ kết thúc bậc trung học bổ túc! Gần như 100 người vào học thì trên 90% tốt nghiệp Dư luận kêu ca rất nhiều về lỗ hổng kiến thức của những tú tài
bổ túc kiểu này Bộ Giáo dục Đào tạo vội sửa bằng cách gần như bê nguyên si chương trình của hệ phổ thông và rút ngắn bớt một số kiến thức, thế là thành chương trình bổ túc! Với bằng tú tài bổ túc như vậy, học sinh thoải mái đi vào các trường ĐH chính quy với một lỗ hổng kiến thức phổ thông khá lớn Mục tiêu của ĐH tại chức là nhắm tới một bộ phận người lao động đang đi làm muốn nâng cấp trình độ, nhưng lại có một bộ phận sinh viên không có khả năng theo bậc học chính quy lại theo học hệ này? Tuy nhiên, với tư duy “đơn giản”, nội dung chương trình dạy ở hệ tại chức bậc ĐH-CĐ-THCN cũng chỉ là sự rút ngắn bớt chương trình mang nặng màu sắc nghiên cứu của hệ chính quy, không đáp ứng cho những người đang đi làm Chúng ta thử hình dung một nguồn nhân lực mà có kiến thức ở bậc phổ thông thiếu một chút, lên ĐH lại bớt một ít, thì chất lượng sẽ như thế nào? Rõ ràng, chúng ta đã sai từ quan điểm khi
1
Hội Khoa học Lịch sử tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
Trang 40hình thành hệ đào tạo này Với hệ “vừa học, vừa làm”, nhất thiết nội dung chương trình đào tạo phải hướng kiến thức người học đến gần với thế giới nghề nghiệp chuyên môn mà họ đang làm hoặc sẽ chọn sau này Họ không thể và càng không phải
là cái “bóng mờ”của hệ đào tạo chính quy Với yêu cầu của thời đại, ĐH hôm nay không thể chỉ dừng lại ở mô hình đào tạo tinh hoa nữa, yêu cầu phổ cập ĐH là chuyện không thể tránh được trong bối cảnh của nền kinh tế tri thức, hội nhập toàn cầu Do
đó, đất nước nào dù giàu có đến đâu cũng không đủ sức phát triển chỉ một loại hình
ĐH tinh hoa (nghiên cứu), vừa lãng phí về đầu tư, vừa không thể đáp ứng được khả năng học tập của người dân Bởi năng lực học tập và hoàn cảnh học tập cũng như định hướng tương lai nghề nghiệp của mỗi người mỗi khác
Thay đổi tên gọi từ hệ “tại chức” sang hệ “VLVH” từ thực trạng biến tướng Đào tạo ĐH tại chức nở rộ từ năm đầu thập niên 90 của thế kỷ trước, và bị biến tướng khi đối tượng đi học không chỉ còn là những người đang đi làm, được cơ quan cử đi học để nâng cao trình độ chuyên môn và hoàn thiện bằng cấp Để phù hợp với thực tế,
khái niệm "hệ tại chức" được chuyển thành "hệ VLVH" với đối tượng học cho cả
những người chưa đi làm Đã có thời kỳ, các trường ĐH ồ ạt mở rộng quy mô đào tạo
ĐH tại chức, đến mức có những trường có cơ sở trên tất cả các tỉnh thành trong cả nước Khi nhìn nhận thực tế về chất lượng đào tạo, đã có những ý kiến đề nghị xiết
chặt hoặc xóa bỏ hệ này, nhưng vì là "nồi cơm" của các trường ĐH nên không thể bỏ
như câu nói của Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân[1] Bên cạnh đó, vấn nạn học để lấy bằng cấp với mục đích không trong sáng, vô hình trung tiếp tay cho hiện tượng tiêu cực trong giáo dục Hiện tượng thuê người đi thi, mua điểm, bán điểm, theo
kiểu "bỏ tiền để mua bằng" Chất lượng giảng dạy bị buông lỏng và hầu hết những người đứng lớp là những "thợ dạy" theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng Không còn
nhiều những người đi học theo đúng nghĩa tại chức, nghĩa là (những người đang làm việc và được cơ quan, tổ chức cử đi học) Chưa có cuộc điều tra xã hội học về những người học tại chức trong một lớp, một trường có bao nhiêu cán bộ, người lao động được cơ quan, tổ chức cử đi học, số còn lại là những học sinh thi trượt ĐH, cho dù chỉ 5 điểm cũng có thể đi học ĐH Thế mới thấy, đầu vào của hệ ĐH tại chức thấp như thế nào Hoặc có Bộ, Ngành, địa phương đề nghị nhà trường đào tạo riêng cho cán bộ công nhân viên của họ một lớp học tại chức theo yêu cầu Khi vào lớp VLVH, người dạy rất ngạc nhiên vì các sinh viên còn rất trẻ, như các sinh viên hệ chính quy Tìm hiểu thì được biết, đây là con cháu của các cán bộ công nhân viên trong cơ quan do thi trượt đại học nên đi học tại chức, để sau này vào làm việc trong các đơn vị của Bộ, Ban, nghành địa phương, khi bố mẹ các sinh viên này nghỉ chế độ theo suất ưu tiên Với đầu vào như thế, với sự buông lỏng quản lý như thế, với những