1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chương trình, sách giáo khoa và vấn đề kiểm tra đánh giá ở lớp 10 phân ban sau 1 năm thực hiện

181 312 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 181
Dung lượng 1,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kế thừa các chương trình THPT hiện hành chương trình cải cách giáo dục và trung học chuyên ban trước đây, đồng thời trên cơ sở góp phần thực hiện mục tiêu của giáo dục phổ thông mới chươ

Trang 1

Kế thừa các chương trình THPT hiện hành (chương trình cải cách giáo dục) và trung học chuyên ban trước đây, đồng thời trên cơ sở góp phần thực hiện mục tiêu của giáo dục phổ thông mới chương trình phân ban mới được xây dựng theo các định hướng đã nêu trong Luật Giáo dục, Nghị quyết 40 của Quốc hội về đổi mới giáo dục phổ thông, Chỉ thị số 30 của Thủ tướng chính phủ về chủ trương và phương án phân ban, Chương trình phân ban mới được thực hiện trên tinh thần thể hiện tính liên tục đối với chương trình tiểu học và trung học cơ sở mới, đồng thời kế thừa các ưu điểm cũng như khắc phục các nhược điểm của chương trình THPT hiện hành và của chương trình phân ban cũ, có chú trọng giữa thực hành thí nghiệm, ứng dụng vào thực tiễn

Tuy nhiên, sau một năm triển khai đại trà ở lớp 10, Chương trình phân ban mới đã bộc lộ một số hạn chế Nhằm có sự đánh giá ban đầu về những mặt được và chưa được so với mục tiêu của Chương trình, đề xuất hướng khắc phục mặt chưa được, cũng như hướng giải quyết những vấn đề mới xuất hiện, Viện Nghiên cứu Giáo dục (Trường Đại học Sư phạm TPHCM) tổ chức hội thảo khoa

học với chủ đề: “CHƯƠNG TRÌNH, SGK VÀ VẤN ĐỀ KIỂM TRA ĐÁNH

GIÁ Ở LỚP 10 PHÂN BAN SAU MỘT NĂM THỰC HIỆN”

Kỷ yếu hội thảo được trình bày theo hai phần:

PHẦN 1 : Những nhận định chung về vấn đề phân ban sau một năm thực hiện

PHẦN 2 : Chương trình phân ban ở các môn học cụ thể

Mọi ý kiến đóng góp xây dựng về nội dung chương trình cũng như hình thức cho kỷ yếu xin được gởi về theo địa chỉ sau đây:

Viện Nghiên cứu Giáo dục, 115 Hai Bà Trưng - Quận 1 - TP.HCM

Điện thoại: (08) 8232317 hoặc 8224813 (21); Fax: 08 8273833;

Email: viengiaoduc@hcm.vnn.vn

Trang 5

ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN PHÂN BAN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRONG NĂM ĐẦU TRIỂN KHAI ĐẠI TRÀ

Viện Chiến lược và Chương trình Giáo dục

I GIỚI THIỆU CHUNG

Để có cơ sở đánh giá sự phù hợp của mô hình trường Trung học phổ thông (THPT) ba ban trong giai đoạn hiện nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã giao cho Viện Chiến lược và Chương trình giáo dục nghiên cứu khảo sát, đánh giá tình hình thực hiện phân ban THPT trong năm đầu triển khai đại trà

1 Mục đích khảo sát:

Đánh giá thực trạng tình hình dạy học phân ban THPT trong năm đầu triển khai đại trà Trên cơ sở đó, xác định một số vấn đề cần giải quyết để nâng cao chất lượng và hiệu quả của dạy học ở trường THPT trong những năm tới

2 Nội dung khảo sát:

Nội dung khảo sát được tập trung vào ba vấn đề chính sau:

a/ Tình hình tổ chức các ban trong trường THPT

b/ Tình hình thực hiện dạy học phân hóa trong trường THPT

c/ Thực trạng các điều kiện thực hiện dạy học theo chương trình, sách giáo khoa (SGK) phân ban

3 Đối tượng khảo sát:

Đối tượng khảo sát bao gồm: hiệu trưởng, giáo viên (GV), học sinh (HS)

và phụ huynh học sinh (PHHS) của 12 tỉnh, thành phố trên toàn quốc (Hòa Bình,

Hà Nội, Yên Bái, Quảng Ninh, Thái Bình, Quảng Bình, Gia Lai, Đắc Lắc, T.P

Hồ Chí Minh, Long An, Đồng Nai và Cần Thơ)

4 Thời gian và phương pháp khảo sát:

Quá trình khảo sát được chia thành hai đợt:

- Đợt I được tiến hành vào tháng 10-11/2006 tại 6 tỉnh Hòa Bình, Hà Nội, Quảng Bình, Gia Lai, T.P Hồ Chí Minh và Long An

- Đợt II được tiến hành vào tháng 4-5/2007 tại 7 tỉnh Yên Bái, Quảng

Trang 6

- Xử lý dữ liệu bằng phương pháp thống kê

Ngoài ra, nhóm nghiên cứu còn tiến hành phỏng vấn một số HS, đồng thời

dự nhiều giờ dạy của GV ở cả ba ban

II KẾT QUẢ KHẢO SÁT

1 Tình hình tổ chức các ban trong trường THPT

a) Kết quả khảo sát cho thấy, HS THPT đã phân thành ba nhóm (Hình 1):

- Nhóm HS phân hoá theo một trong hai hướng: KHTN (gồm những HS học

ban KHTN; những HS học ban Cơ bản và học tự chọn nâng cao ba môn Toán, Vật

lý, Hóa học hoặc Toán, Hoá học, Sinh học); KHXH-NV (gồm những HS học ban KHXH-NV; những HS học ban Cơ bản và học tự chọn nâng cao ba môn Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý hoặc Toán, Ngữ văn, Ngoại ngữ)

- Nhóm HS phân hoá chưa rõ rệt theo hướng nào trong hai hướng KHTN

hoặc KHXH-NV (gồm những HS học ban Cơ bản và học tự chọn nâng cao từ 1 đến 2 môn trong 8 môn có nội dung nâng cao)

- Nhóm HS không phân hoá theo hai hướng trên (gồm những HS học ban

Cơ bản và không học môn nâng cao nào)

Trang 7

PH theo KHTN & NV

KHXH-Chua ro ret theo 1 trong 2 huong

Khong theo 2 huong tren KHTN KHXH-NV

Hình 1 Các hướng phân hoá của học sinh khảo sát

Sự phân chia HS theo ba nhóm trên cho thấy một bộ phận lớn HS có nhu cầu phân hoá theo các hướng KHTN, KHXH-NV và không theo hai hướng đó

b) Chủ trương phân ban và phương án phân ban THPT được hiệu trưởng,

GV đánh giá là tương đối phù hợp với thực tiễn nhà trường và năng lực, nguyện

vọng của HS Điều này được thể hiện bằng chỉ số Likelihood 0.57 (Từ 0 ¸ 0.33:

không phù hợp; 0.34 ¸ 0.66: tương đối phù hợp; 0.67 ¸ 1: phù hợp)

c) Đa số PHHS và HS đều hài lòng với ban học do nhà trường sắp xếp,

đặc biệt là ban KHTN và ban Cơ bản Điều này được thể hiện bằng chỉ số đo

Likelihood ở bảng 1 (Từ 0 ¸ 0.33: không hài lòng; 0.34 ¸ 0.66: tương đối hài

Như vậy, kết quả khảo sát trong năm đầu thực hiện chủ trương phân ban

tại các trường THPT cho thấy: Một bộ phận lớn HS thực sự có nhu cầu phân

hoá; mô hình trường THPT ba ban tương đối phù hợp với nguyện vọng, năng lực của HS và đã nhận được sự hài lòng của đa số hiệu trưởng, GV, HS và PHHS

Trang 8

2 Tình hình thực hiện dạy học phân hoá ở trường THPT

Việc đánh giá tình hình thực hiện dạy học phân hóa ở trường THPT tập trung vào các nội dung sau: tình hình dạy học theo chương trình, SGK phân ban

và dạy học tự chọn

a) Tình hình dạy học theo CT và SGK phân ban:

* Tình hình dạy của giáo viên:

- Kết quả tọa đàm với hiệu trưởng, GV, phỏng vấn HS và dự giờ cho thấy:

GV đã có nhiều cố gắng trong việc tìm hiểu để nắm bắt và thực hiện các yêu cầu đổi mới của chương trình, sách giáo khoa về phương pháp dạy học, phương pháp kiểm tra, đánh giá, sử dụng thiết bị dạy học,

+ Mặc dù đã có chuẩn kiến thức, kĩ năng của chương trình các môn học, nhưng do chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của chuẩn và chưa được hướng dẫn cụ thể nên quá trình sử dụng còn lúng túng, dẫn đến tình trạng có một

bộ phận GV dạy không bám sát chuẩn kiến thức, kĩ năng đã quy định trong giảng dạy, cũng như trong đánh giá kết quả học tập

+ Nhìn chung, GV đã có ý thức đổi mới phương pháp dạy học Tuy nhiên, việc thực hiện ở một bộ phận GV còn hình thức, chưa hiệu quả, vẫn thiên về thuyết trình kết hợp với vấn đáp, khiến giờ dạy nặng nề, chưa hấp dẫn; HS chưa thực sự được phát hiện, khám phá tri thức; việc hướng dẫn phương pháp tự học cho HS vẫn chưa được nhiều GV quan tâm đúng mức; GV vẫn còn lúng túng trong việc thực hiện đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS

Đó là do năm đầu tiên thực hiện đại trà, những yêu cầu của chương trình

và SGK phân ban còn tương đối mới mẻ với GV; nội dung chương trình một số phần của một vài môn học còn nặng so với trình độ nhận thức của HS; dung lượng kiến thức của một số chương, bài trong một số môn học chưa phù hợp với thời lượng dành cho dạy chương, bài học đó;

- Theo nhận xét của HS: Nhìn chung, các thầy/cô đều có cách dạy dễ hiểu

Điều này được thể hiện bằng chỉ số Likelihood trên hình 2 dưới đây (Từ 0 ¸ 0.25:

khó hiểu; 0.26 ¸ 0.5: tương đối khó hiểu; 0.51 ¸ 0.75: dễ hiểu; 0.76 ¸ 1: rất dễ

hiểu)

Trang 9

0.58 0.65

0.7 0.75 0.77 0.78

0.62

0.79 0.74

0.83 0.79

Toan Ly Hoa Sinh Van Su Dia Nngu CN Tin TD GDCD

Hình 2 Học sinh nhận xét về cách dạy của thầy/cô giáo bộ môn

- Về khả năng đáp ứng chương trình và SGK phân ban qua tự đánh giá

của GV cho thấy: Nhìn chung trình độ chuyên môn của GV có thể đáp ứng được

yêu cầu của chương trình, SGK, đặc biệt là những GV được phân công dạy

chương trình, SGK nâng cao Điều này được thể hiện bằng thang đo Likelihood

0.79 0.68 0.71

0.77 0.78

0.85 0.75 0.76

0.88 0.8 0.93

0

0.33

0.66

0.99

Toan Ly Hoa Sinh Van Su Dia N,ngu

GV day CT chuan GV day CT NC

Hình 3 Khả năng đáp ứng của GV dạy chương trình chuẩn và chương trình nâng cao

Trang 10

* Tình hình học tập của học sinh:

Việc đánh giá tình hình học tập của HS được tiến hành thông qua phiếu hỏi

hiệu trưởng, GV và HS; kết quả kiểm tra trắc nghiệm 4 môn Toán, Hoá học, Ngữ văn,

Lịch sử (tháng 10/2006)

- Kết quả đánh giá của hiệu trưởng cho thấy: HS cả ba ban đều đáp ứng được yêu

cầu về chuẩn kiến thức và kĩ năng của chương trình, SGK mỗi ban Trong đó, HS ban

KHTN có khả năng đáp ứng tốt nhất Điều này được thể hiện bằng chỉ số Likelihood:

ban KHTN là 0,58; ban KHXH-NV là 0,55 và ban Cơ bản là 0,56 (Từ 0 ¸ 0,33:

không đáp ứng; 0,34 ¸ 0,66: đáp ứng một cách tương đối ; 0,67 ¸ 1: hoàn toàn

đáp ứng)

- Kết quả đánh giá của GV cho thấy:

+ Về yêu cầu nắm vững kiến thức, HS đạt mức khá ở cả hai chương trình

chuẩn và nâng cao của hầu hết các môn; giỏi ở chương trình chuẩn hai môn Lịch sử

và Địa lý; đạt yêu cầu ở chương trình Ngoại ngữ HS học theo chương trình chuẩn đạt

yêu cầu về kiến thức hơn HS học theo chương trình nâng cao ở hầu hết các môn, trừ

môn Toán và Ngoại ngữ Điều này được đo bằng thang Likelihood: từ 0 ¸0.2: kém;

Hình 4 GV đánh giá mức độ đạt yêu cầu về nội dung kiến thức của HS

+ Về yêu cầu phát triển kĩ năng, HS đạt yêu cầu đối với chương trình chuẩn

của các môn Toán, Vật lý, Hoá học, Ngữ văn và Ngoại ngữ; khá đối với chương trình

chuẩn và chương trình nâng cao của các môn còn lại HS học theo chương trình nâng

Trang 11

cao đạt yêu cầu về phát triển kĩ năng ở mức cao hơn so với học sinh học theo chương

trình chuẩn ở hầu hết các môn, trừ môn Địa lý Điều này được đo bằng thang

Likelihood: từ 0 ¸0.2: kém; 0.21 ¸ 0.4: yếu; 0.41 ¸ 0.6: đạt; 0.61 ¸ 0.8: khá; 0.81

¸ 1: tốt (Hình 5)

0.63 0.54

0.63

0.75 0.63

0.71 0.68

0.56

0.63

0.6

0.67 0.7 0.65 0.68

0.52

0.72 0.72

0.56 0.61 0.55

Toan Ly Hoa Sinh Van Su Dia N.ngu CN Tin TD GDCD Tong

HS hoc CT NC HS hoc CT chuan

Hình 5 GV đánh giá mức độ đạt yêu cầu về phát triển kĩ năng của HS

+ Kết quả khảo sát còn cho thấy, HS học theo chương trình nâng cao có

phương pháp tự học và khả năng trình bày, diễn tả ý tưởng tốt hơn so với HS học

theo chương trình chuẩn Tuy nhiên theo GV, nhìn chung HS còn lúng túng chưa

quen với phương pháp học tập chủ động, tích cực

- Kết quả tự đánh giá của HS cho thấy:

+ Nhìn chung HS cả ba ban đều cho rằng, chương trình và SGK của 8

môn học (Sinh học, Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý, Công nghệ, Tin học, Thể dục và

GDCD) vừa sức với các em; chương trình và SGK của 4 môn (Toán, Vật lý, Hoá

học và Ngoại ngữ) tương đối khó, nhất là môn Vật lý Đặc biệt, HS ban

KHXH-NV đánh giá chương trình môn Ngoại ngữ là khó nhất

Điều này được thể hiện trên hình 6, đơn vị đo là Likelihood (Từ 0 ¸ 0,25: dễ; 0,26 ¸ 0,5: vừa sức; 0,51 ¸ 0,75: tương đối khó; 0,76 ¸ 1: rất khó)

Trang 12

Toan Ly Hoa Sinh Van Su Dia N.ngu CN Tin TD GDCD

Ban KHTN Ban KHXH-NV Ban Cơ b?n

Hình 6 Học sinh tự đánh giá khả năng học tập so với nội dung SGK mỗi ban

+ Đối với HS học SGK theo chương trình chuẩn: nội dung của hầu hết các

môn học vừa sức với các em; trừ 4 môn Hoá học, Toán, Ngoại ngữ và Vật lý có

một số nội dung còn tương đối khó, nhất là Vật lý

Điều này được thể hiện bằng thang đo Likelihood : từ 0 ¸ 0,25: dễ; 0,26 ¸

0,5: vừa sức; 0,51 ¸ 0,75: tương đối khó; 0,76 ¸ 1: rất khó (Hình 7)

Hình 7 Năng lực của học sinh học SGK theo chương trình chuẩn

+ Đối với HS học SGK theo chương trình nâng cao: nội dung của 4 môn

Lịch sử, Địa lý, Ngữ văn và Sinh học vừa sức với các em; các môn còn lại tương

đối khó, nhất là Vật lý và Ngoại ngữ

Điều này được thể hiện bằng thang đo Likelihood : từ 0 ¸ 0,25: dễ; 0,26 ¸

0,5: vừa sức; 0,51 ¸ 0,75: tương đối khó; 0,76 ¸ 1: rất khó (Hình 8)

Trang 13

Su Dia Van Sinh Hoa Toan Ly N.ngu

Vua suc Tuong doi kho

Hình 8 Học sinh tự đánh giá năng lực so với nội dung SGK nâng cao

Như vậy theo HS, các em có thể đáp ứng được nội dung SGK của hầu hết

các môn theo cả hai chương trình chuẩn và nâng cao, trừ một số nội dung tương

đối khó ở SGK Toán, Vật lý, Hoá học và Ngoại ngữ

Qua trao đổi, dự giờ trực tiếp tại các trường khảo sát, nguyên nhân của

vấn đề nội dung SGK các môn Toán, Vật lý, Hoá học và Ngoại ngữ tương đối

khó với HS có thể là: bản thân chương trình các môn học đó, đặc biệt là hai môn

Vật lý và Ngoại ngữ, có một số nội dung tương đối khó so với trình độ nhận thức

của học sinh nói chung; phân phối chương trình dạy ở một số chủ đề chưa được

hợp lý (thời lượng ít, nội dung dài); nhiều GV chưa thực sự bám sát chuẩn kiến

thức, kĩ năng đã qui định trong chương trình để dạy học, điều này gây hiện tượng

quá tải với HS, nhất là với những HS ở các vùng, miền có điều kiện kinh tế - xã

hội khó khăn

- Kết quả học tập qua bài Test bốn môn Toán, Hoá học, Ngữ văn và Lịch sử (Hình

9):

+ Đa số HS đạt yêu cầu của cả hai chương trình chuẩn và nâng cao, trong

đó tỉ lệ HS đạt yêu cầu chương trình nâng cao nhiều hơn HS đạt yêu cầu chương

trình chuẩn ở ba môn Toán, Hoá học và Lịch sử

Trang 14

72.22 68.98

59.00 71.90

Hình 9 Tỉ lệ học sinh đạt chuẩn chương trình của 4 môn học

+ Yêu cầu của chương trình chuẩn môn Toán và chương trình nâng cao

môn Ngữ văn tương đối khó so với khả năng học tập của HS.

+ Điểm trung bình các bài Test hầu hết từ 5 điểm trở lên; có 50% HS đạt

kết quả khá, giỏi ở bài Test Toán và Hoá học theo chương trình nâng cao

+ Mức độ vận dụng kiến thức của HS tương đối thấp hơn các mức nhận

biết và thông hiểu

Từ kết quả trên, nhìn chung HS học theo chương trình và SGK nâng cao

đáp ứng được chuẩn kiến thức, kĩ năng của hầu hết các môn học tốt hơn so với

HS học chương trình và SGK chuẩn Điều này có thể được lý giải như sau: HS

học theo chương trình nâng cao có kết quả học tập ở lớp 9 cao hơn HS học theo chương trình chuẩn; chương trình nâng cao của các môn học chú trọng đến việc phát triển kĩ năng, rèn luyện phương pháp tự học và khả năng trình bày, diễn tả ý tưởng cho HS hơn chương trình chuẩn

Tóm lại, trong năm đầu triển khai dạy học phân ban, mặc dù còn nhiều khó khăn, nhưng việc dạy học đã dần đi vào ổn định, giáo viên có thể dạy được chương trình và SGK mới HS có khả năng đáp ứng được chuẩn kiến thức, kĩ năng quy định trong chương trình của hầu hết các môn học, nhất là những HS học chương trình nâng cao

Trang 15

b) Tình hình dạy học tự chọn

* Cách tổ chức dạy học tự chọn

- Để thuận lợi cho việc quản lí và phù hợp với điều kiện thực tế của nhà trường

về GV và cơ sở vật chất, nên hầu hết các trường được khảo sát đều tổ chức dạy học tự chọn theo lớp đã cơ cấu từ đầu năm học

- Các trường đã tổ chức dạy học tự chọn cho HS rất đa dạng, theo nhiều hướng :

Đối với HS ban KHTN (thời lượng học tự chọn là 1.5 tiết/tuần)

+ Đa số HS được sắp xếp học chủ đề bám sát theo chương trình nâng cao

của các môn Toán, Vật lí, Hoá học và Sinh học

+ Một số HS được sắp xếp học chủ đề bám sát theo chương trình chuẩn

của môn Ngữ văn (3.26%), Ngoại ngữ (3.26%); có 15.05% HS được sắp xếp học

chủ đề đáp ứng môn Tin học

Đối với HS ban KHXH-NV (thời lượng học tự chọn là 1.5 tiết/tuần)

+ Một bộ phận HS được sắp xếp học chủ đề bám sát theo chương trình

nâng cao của các môn Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý và Ngoại ngữ, trong đó số HS chọn học môn Ngoại ngữ là nhiều nhất (59.87%)

+ Một bộ phận HS khác (28.83%) được sắp xếp học chủ đề bám sát theo

chương trình chuẩn của môn Toán

Đối với HS ban Cơ bản(thời lượng học tự chọn là 4 tiết/tuần) được sắp xếp theo

3 hướng chủ yếu sau:

+ Hướng 1 gồm 53,63% HS: học 3 trong 8 môn nâng cao (Toán, Vật lý,

Hóa học; Toán, Hóa học, Sinh học; Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí và Toán, Ngữ văn, Ngoại ngữ); học các chủ đề bám sát các môn nâng cao đã chọn hoặc chủ đề đáp ứng của một số môn như Tin học, Công nghệ,

+ Hướng 2 gồm 4,39% HS: học một hoặc hai môn nâng cao (Toán và

Ngoại ngữ; Toán và Ngữ văn; Hóa học và Sinh học; ); học chủ đề bám sát của các môn nâng cao đã chọn, chủ đề bám sát hoặc đáp ứng của một số môn khác

+ Hướng 3 gồm 41,98% HS - tự chọn của nhóm này thực hiện rất đa

đạng:

· Dành một vài tuần đầu của năm học để phụ đạo, củng cố những kiến

Trang 16

· Học kỳ I, học chủ đề bám sát theo chương trình chuẩn của một số môn; sang học kì II hoặc vẫn tiếp tục như học kì I, hoặc học chủ đề nâng cao theo chương trình chuẩn của một số môn đối với những lớp

có khả năng

· Ngay từ đầu và duy trì cho hết năm học, sắp xếp cho HS học chủ đề nâng cao theo chương trình chuẩn của bốn nhóm môn: a) Toán, Vật

Lý, Hóa học; b) Toán, Hoá học, Sinh học; c) Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý;

d) Toán, Ngữ văn, Ngoại ngữ

Ngoài cách sắp xếp ở từng ban như trên, sự đa dạng và phong phú của dạy học tự chọn còn được thể hiện ở chỗ :

· Một số trường dành thời lượng dạy học tự chọn để tăng thời lượng cho việc dạy học một số chương, bài trong chương trình chính khóa của một số môn học như : Toán, Vật lý, Ngữ văn, Ngoại ngữ,

· Một số trường của các tỉnh đã tham gia thí điểm (Quảng Bình, Yên Bái, Đồng Nai) đã sắp xếp cho một bộ phận học sinh khá, giỏi học các chủ đề nâng cao theo chương trình nâng cao của các môn Toán, Vật lý, Hoá học, Lịch sử và Địa lý (nhà trường tự biên soạn hoặc chỉnh sửa theo tài liệu nâng cao của ban KHTN và ban KHXH-NX thí điểm)

Tóm lại, việc tổ chức dạy học tự chọn ở các trường THPT đa dạng, phong phú theo nhiều hướng khác nhau Cách tổ chức như vậy phù hợp với điều kiện thực tế của các trường và phần nào đã đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng của

HS

* Khả năng học tự chọn của học sinh

- Qua ý kiến đánh giá của GV, nhìn chung HS đều có khả năng học các chủ đề, môn học tự chọn mà các em đang học HS có thể đáp ứng được ở mức khá, giỏi

các chủ đề bám sát theo chương trình chuẩn của tất cả các môn học; các chủ đề bám sát theo chương trình nâng cao của môn Sinh học và môn Lịch sử; chủ đề nâng cao theo chương trình chuẩn của môn Sinh học Điều này được thể hiện

Trang 17

bằng thang đo Likelihood : từ 0 ¸0.2: kém; 0.21 ¸ 0.4: yếu; 0.41 ¸ 0.6: đạt; 0.61

¸ 0.8: khá; 0.81 ¸ 1: giỏirõ (Hình 11)

0.54 0.5

Hình 11 Đánh giá của GV về mức độ HS đáp ứng yêu cầu học tự chọn

- Kết quả tự đánh giá của HS cho thấy: Các môn tự chọn nâng cao Ngữ văn, Lịch

sử, Địa lý và chủ đề tự chọn các môn Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý, Công nghệ, Tin

học, Thể dục và GDCD là vừa sức với học sinh Còn các môn Toán, Vật lý, Hoá

học, Sinh học, Ngoại ngữ và chủ đề tự chọn của các môn này thì tương đối khó

với các em Điều này được thể hiện thang đo Likelihood : từ 0 ¸ 0.25: dễ; từ 0,26

¸ 0.5: vừa sức; từ 0.51 ¸ 0.75: tương đối khó; từ 0.76 ¸ 1: rất khó (Bảng 2)

Bảng 2 HS tự đánh giá về mức độ phù hợp với nội dung môn hoặc chủ đề tự chọn

* Những khó khăn khi tổ chức dạy học tự chọn

Những khó khăn chủ yếu trong việc dạy học tự chọn ở các trường THPT

hiện nay được thể hiện qua đánh giá của hiệu trưởng, GV, HS và đo bằng trọng

số - trọng số càng nhỏ thì khó khăn càng lớn như sau:

Trang 18

+ HS không có đủ tài liệu tự chọn (2.21);

+ Trình độ chuyên môn của một số GV chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu của dạy học tự chọn (2.44);

+ Nội dung của một số chủ đề tự chọn chưa hấp dẫn HS (2.92)

Đồng thời, qua phỏng vấn hiệu trưởng, việc phải đảm bảo số HS/lớp theo đúng qui định trong Điều lệ trường THPT là cứng nhắc, không tạo điều kiện thuận lợi cho nhà trường khi muốn đáp ứng nguyện vọng học tự chọn đa dạng của HS

- Theo đánh giá của GV, những khó khăn chủ yếu là:

+ HS không có đủ tài liệu tự chọn (2.78);

+ Nội dung của một số chủ đề tự chọn còn cao so với HS (3.66);

+ Chất lượng các chủ đề tự chọn chưa thực sự đáp ứng yêu cầu đặt ra (3.67);

+ GV còn lúng túng trong dạy học tự chọn (3.86)

- Còn đối với HS, những khó khăn chủ yếu các em gặp phải trong khi học tự chọn

là:

+ Không đủ tài liệu học tự chọn (38.63%)

+ Nội dung một số chủ đề còn cao so với khả năng (26.49%)

+ Không được học các chủ đề hoặc môn tự chọn theo sở thích (23.63%) Tóm lại, dạy học tự chọn ở trường THPT đã gặp những khó khăn chủ yếu là:

+ HS không có đủ tài liệu tự chọn

+ Nội dung một số chủ đề tự chọn chưa thực sự phù hợp với nhu cầu và khả năng học tập của HS, chưa gây được hứng thú học tập cho HS

+ Trình độ chuyên môn và kĩ năng dạy học của một số GV chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu của dạy học tự chọn

Ngoài ra, thiếu phòng học, phòng bộ môn, phòng thí nghiệm, thiếu các trang thiết bị cần thiết cũng là những thách thức đối với việc thực hiện dạy học tự chọn ở trường THPT hiện nay

Chính những khó khăn đó đã làm cho việc dạy học tự chọn trong năm đầu tiên thực hiện còn lúng túng, chưa đạt hiệu quả

Trang 19

3 Các điều kiện thực hiện dạy học phân hoá

Sử dụng phương pháp phân tích tương quan song biến cho thấy một số yếu tố sau có ảnh hưởng rõ rệt tới chất lượng dạy học phân hoá ở trường THPT:

- Nhận thức của cộng đồng về chủ trương phân ban;

- Đội ngũ GV;

- Bồi dưỡng và tập huấn GV;

- Điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường;

- Chế độ, chính sách;

Sau đây là kết quả tìm hiểu thực trạng về các điều kiện trên tại các trường THPT được khảo sát

a) Về công tác tuyên truyền trong cộng đồng

Hầu hết các trường đều đã tiến hành tuyên truyền chủ trương phân ban tới chính quyền địa phương (53.8%), PHHS (98.7%), HS (98.1%) và GV (96.2%) Hình thức tuyên truyền khá phong phú, chẳng hạn như: tổ chức tọa đàm, hội thảo; phát tài liệu, tờ rơi; tuyên truyền qua các phương tiện thông tin đại chúng ở địa phương

b) Về đội ngũ giáo viên

Kết quả tìm hiểu về số lượng GV của 158 trường được khảo sát cho thấy:

So với 10.990 GV cần có thì hiện nay, tỉ lệ GV còn thiếu là 4.13%; tỉ lệ GV hợp đồng, thỉnh giảng là 11.46%; tỉ lệ trường chưa có cán bộ phụ tá thí nghiệm, thực hành là 54.43% và chưa có cán bộ thư viện là 13.29%

Tình trạng phải mời nhiều GV hợp đồng, thỉnh giảng và thiếu GV ở một

số môn học trên đã dẫn đến khó khăn trong việc sắp xếp thời khoá biểu, tổ chức dạy học tự chọn; một số giáo viên phải dạy quá nhiều tiết, không còn thời gian đầu tư nhiều cho việc chuẩn bị bài giảng

c) Về chất lượng bồi dưỡng GV

Kết quả khảo sát cho thấy: 100% cán bộ quản lý và GV được tham gia tập huấn về chương trình, SGK phân ban Trong đó:

+ Chất lượng của đợt tập huấn cho cán bộ quản lí được đánh giá là tốt hơn

so với các đợt tập huấn cho GV Điều này được thể hiện ở thang đo Likelihood:

Trang 20

Bảng 3 Nhận xét của CBQl và GV về chất lượng bồi dưỡng CT, SGK phân ban

d) Về cơ sở vật chất

Kết quả trả lời của 158 hiệu trưởng trường THPT cho thấy hầu hết các trường đều có tình trạng thiếu phòng học, phòng bộ môn, phòng thực hành thí nghiệm để tổ chức dạy học Cụ thể là: Phòng học: còn thiếu 498 phòng; Phòng thí nghiệm, thực hành: còn thiếu 78 phòng; Thư viện: còn thiếu 21 phòng; Phòng máy vi tính: còn thiếu 80 phòng; Phòng học bộ môn: còn thiếu 197 phòng

Các hiệu trưởng còn cho biết, do thiết bị dạy học về chậm, gần hết học kì

I, thậm chí có tỉnh gần kết thúc năm học mới có thiết bị Điều đó đã làm ảnh hưởng đến chất lượng dạy và học của GV và HS

e) Về chế độ, chính sách

- Về định biên GV: vấn đề định biên có ảnh hưởng đến hiệu quả triển khai dạy

học phân hoá bởi trường THPT phân ban có một số đặc điểm mới (thêm môn Tin

học, thêm hình thức dạy học tự chọn; thêm hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, giáo dục nghề phổ thông, giáo dục hướng nghiệp) nên mức định biên cũ không

còn phù hợp nữa

- Về chế độ ngân sách, tài chính: trường THPT phân ban có kế hoạch giáo dục đa dạng hơn, hoạt động dạy học có thêm nhiều yêu cầu mới nên cần phải có những qui định, điều chỉnh mới cho việc thực hiện vốn ngân sách, chế độ thu, chi… để đảm bảo cho nhà trường hoàn thành nhiệm vụ

- Về chế độ chính sách đối với GV: thực tiễn triển khai chương trình, SGK phân ban đã đặt ra một số vấn đề có ảnh hưởng thiết thực đến hoạt động dạy và học như:

Trang 21

+ Chế độ thỉnh giảng đối với giáo viên môn Công nghệ và giáo viên thực hiện hoạt động giáo dục hướng nghiệp, giáo dục nghề phổ thông…

+ Chế độ làm việc trong môi trường độc hại cho cán bộ phụ trách phòng thí nghiệm, giáo viên dạy các môn khoa học thực nghiệm (Vật lí, Hoá học, Sinh học) phải tiếp xúc nhiều với hoá chất

Những vấn đề trên cần nghiên cứu, đề xuất điều chỉnh để có những điều kiện đồng bộ đảm bảo cho mô hình trường THPT phân ban thực hiện có hiệu quả

Tóm lại, các trường đã có chuẩn bị tích cực các điều kiện cho việc triển khai chương trình mới như: tuyên truyền chủ trương phân ban; tư vấn cho PHHS,

HS để có lựa chọn đúng đắn; chuẩn bị cơ sở vật chất, xây mới và sửa chữa phòng học, phòng thực hành thí nghiệm ; bổ sung đội ngũ cán bộ, GV; tăng cường các hoạt động bồi dưỡng, hỗ trợ về mặt chuyên môn cho cán bộ quản lý và GV Tuy nhiên trong năm đầu triển khai phân ban, các điều kiện thực hiện cũng còn nhiều hạn chế: thiếu GV, cán bộ phụ tá thí nghiệm, cán bộ thư viện; công tác bồi dưỡng thay sách cũng còn nhiều hạn chế; trình độ đầu vào của một bộ phận HS còn thấp; thiết bị dạy học về chậm; nhiều trường còn thiếu phòng học, phòng thực hành thí nghiệm ; việc ban hành các văn bản chỉ đạo, tài liệu dạy học có chỗ chưa hợp lí; một số quy định về chế độ chính sách đối với nhà trường, giáo viên chưa đồng bộ với yêu cầu của việc triển khai chương trình mới

III KẾT LUẬN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA

1 Kết luận

Kết quả nghiên cứu, khảo sát tình hình dạy học phân hóa trong năm đầu thực hiện cho thấy:

a) Về chủ trương phân hóa

- Chủ trương phân hóa là đúng đắn và đã nhận được sự đồng tình, ủng hộ

của HS, PHHS, GV và cán bộ quản lí

- Nhu cầu phân hóa của HS là có thật, theo ba nhóm:

+ Nhóm HS phân hoá theo một trong hai hướng KHTN và KHXH-NV;

Trang 22

+ Nhóm HS phân hoá không theo hai hướng trên

- Phương án xếp ban của các trường THPT đáp ứng được đa số nguyện vọng của HS, PHHS, đồng thời cũng phù hợp với kết quả học tập của các em ở

cấp THCS, nhất là HS học ban KHTN

- Phương thức tổ chức dạy học “phân ban kết hợp với tự chọn” là mềm

dẻo, linh hoạt, phù hợp với nhu cầu đa dạng của HS và điều kiện thực tế của các trường THPT hiện nay, nên được hiệu trưởng, GV, HS và PHHS đồng tình, ủng

hộ

b) Về tình hình thực hiện dạy học phân hóa trong trường THPT

- Nhìn chung, HS có khả năng đáp ứng được yêu cầu của CT và SGK phân ban nhưng bước đầu các em chưa quen được với phương pháp học tập chủ động, tích cực

- Đa số GV có thể dạy được chương trình, SGK phân ban Tuy nhiên, còn một bộ phận GV dạy học chưa bám sát chuẩn kiến thức, kỹ năng quy định trong chương trình môn học và chưa đáp ứng được yêu cầu về đổi mới phương pháp dạy học, về đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS

- Việc tổ chức dạy học tự chọn ở trường THPT diễn ra rất đa dạng, theo nhiều hướng, phù hợp với thực tế của nhà trường và đáp ứng được phần nào nhu cầu của học sinh Tuy nhiên, do còn gặp nhiều khó khăn nên chất lượng và hiêu quả dạy học tự chọn chưa cao

Tóm lại, năm đầu tiên thực hiện dạy học theo chương trình và SGK phân ban, mặc dù còn một vài bất cập, nhưng bước đầu đã ổn định; đi vào được thực tiễn và cơ bản được thực tiễn chấp nhận

c) Về các điều kiện dạy học phân hóa

Các trường đã có chuẩn bị tích cực các điều kiện cho việc triển khai chương trình và SGK phân ban Tuy nhiên, trong năm đầu triển khai, các điều kiện thực hiện cũng còn nhiều hạn chế như: thiếu GV, cán bộ phụ tá thí nghiệm, cán bộ thư viện; chất lượng bồi dưỡng GV còn chưa cao; thiết bị dạy học về chậm; nhiều trường còn thiếu phòng học, phòng thực hành, thí nghiệm ; việc ban hành một số văn bản chỉ đạo còn chưa kịp thời, phân phối chương trình tự

Trang 23

chọn còn chưa hợp lí .; một số quy định về chế độ, chính sách đối với nhà trường, GV chưa đồng bộ với yêu cầu của việc triển khai chương trình mới

2 Những vấn đề đặt ra

a) Trước mắt (trong 2 năm học tới 2007 - 2008 và 2008 – 2009)

+ Cần biên soạn tài liệu dạy học tự chọn, có hướng dẫn thực hiện dạy học theo chuẩn kiến thức, kĩ năng đã quy định trong chương trình cho toàn quốc và việc vận dụng đối với các vùng, miền khó khăn; cho phép và hướng dẫn nhà tr-ường chủ động điều chỉnh phân phối chương trình đảm bảo phù hợp với đối tượng giáo dục; hướng dẫn đầy đủ, kịp thời về thi tốt nghiệp, thi đại học và vấn

đề học sinh lớp 11 bị lưu ban của năm học 2006-2007

+ Cần nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác bồi dưỡng giáo viên, đặc biệt là thay đổi phương thức tập huấn, bồi dưỡng

+ Điều chỉnh những nội dung chưa phù hợp trong chương trình và sách giáo khoa của một số môn học

+ Điều chỉnh quy định về hệ thống sổ sách trong trường THPT phân ban (sổ điểm, sổ chủ nhiệm, sổ dự giờ, sổ báo giảng, )

+ Nâng cao nhận thức cho giáo viên, tăng cường công tác tuyên truyền chủ trương phân ban và dạy học tự chọn cho chính quyền và các tổ chức xã hội ở địa phương

+ Tăng cường công tác tư vấn về lựa chọn ban và môn học tự chọn, chủ đề

tự chọn cho PHHS, HS (ngay từ lớp 9), đặc biệt là ở các vùng, miền có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn

+ Từng bước sửa chữa, bổ sung phòng học, phòng bộ môn, phòng thí nghiệm, thực hành; bổ sung và cung cấp thiết bị dạy học đồng bộ, có chất lượng,

đủ số lượng ngay từ đầu năm học

b) Cho sau năm 2015

- Từng bước chuẩn hóa các điều kiện để đảm bảo cho việc thực hiện dạy học phân hóa trong nhà trường phổ thông như: chuẩn hóa cơ sở vật chất và thiết bị; chuẩn đội ngũ và nghề nghiệp giáo viên; chuẩn đánh giá giờ dạy

Trang 24

KẾT QUẢ KHẢO SÁT VỀ SỰ LỰA CHỌN HÌNH THỨC HỌC TẬP SAU THCS

TRONG VẤN ĐỀ PHÂN BAN

Trung tâm Đánh giá và Kiểm định Chất lượng Giáo dục

Viện Nghiên cứu Giáo dục

Khảo sát về vấn đề phân ban là một trong những vấn đề nằm trong đề tài cấp Bộ trọng điểm của GS.TSKH Lê Ngọc Trà, đã được nghiệm thu tháng

03/2007: “Nghiên cứu sự lựa chọn các hình thức học tập và hướng nghiệp sau THCS” Bài viết sử dụng dữ liệu thu được từ đề tài cấp Bộ trọng điểm này do

Trung tâm Đánh giá và Kiểm định chất lượng cùng phối hợp thực hiện về vấn đề phân ban để phân tích một số kết quả khảo sát thực trạng tập trung vào vấn đề phân ban Phần đầu của bài viết giới thiệu những thông tin liên quan đến mẫu khảo sát; phần tiếp theo tập trung phân tích thực trạng về vấn đề phân ban và một

số kết luận

GIỚI THIỆU MẪU KHẢO SÁT

Có 23 trường nằm trong phạm vi của đề tài tham gia khảo sát trong đó

có 02 trường thuộc địa bàn tỉnh Bình Phước; 04 trường thuộc tỉnh Tiền Giang; 02 trường thuộc tỉnh Khánh Hoà và số còn lại là các trường trên địa bàn Thành phố

Hồ Chí Minh Số lượng mẫu khảo sát cho 23 trường phân chia cho các đối tượng gồm học sinh (HS), giáo viên (GV), phụ huynh (PH) và cán bộ quản lý (CBQL) được trình bày chi tiết ở bảng sau:

Bảng 1: Số lượng và tỉ lệ các mẫu của các trường tham gia khảo sát (N=2525)

Trang 25

TRƯỜNG HỌC SINH GIÁO VIÊN PHỤ HUYNH QUẢN LÝ TỔNG/ TỈ LỆ

1 Đoàn Thị Điểm – Quận 3 195 44 69 6 314/ 12.44

2 Sương Nguyệt Ánh – Quận 10 118 39 60 2 219/ 8.67

11 Nguyễn Văn Trỗi – Khánh Hoà 81 27 108/ 4.28

12 Nguyễn Huệ - Bình Phước 87 31 15 9 142/ 5.62

13 Thanh Bình - Bình Phước 62 16 48 5 131/ 5.19

14 THCS An Lộc – Tiền Giang 11 11/ 0.44

15 Học Lạc – Tiền Giang 110 13 59 27 209/ 8.28

16 Trần Hưng Đạo – Tiền Giang 91 1 92/ 3.64

17 Tân Xuân – Tiền Giang 3 6 9/ 0.36

18 Lê Thị Hồng Gấm 1 1/ 0.04

19 Nguyễn Tường Tộ 33 33/ 1.31

20 Lê Lợi 2 2/ 0.08

21 Nguyễn Tri Phương – Quận 10 2 2/ 0.08

22 Nguyễn Hiền – Quận 10 1 1/ 0.04

23 Hùng Vương – Quận 5 2 2/ 0.08 Tổng số chọn 459 524

Số lượng mẫu tham khảo sát theo giáo viên, học sinh, cán bộ quản lý

và phụ huynh được tổng quát ở bảng sau:

Bảng 2: Tần số và tỉ lệ phần trăm các đối tượng được khảo sát (N=2525)

Tỉ lệ phần trăm

Trang 26

Như vậy đối tượng học sinh là đối tượng có tỉ lệ được khảo sát cao nhất (58.1%); giáo viên (18.3%); phụ huynh (20.9%) và cán bộ quản lý (2.7%) Điều này có thể giải thích được vì học sinh là đối tượng chính để nghiên cứu về

sự lựa chọn hình thức học tập và hướng nghiệp sau trung học cơ sở của đề tài Đối tượng giáo viên, phụ huynh và cán bộ quản lý là những đối tượng được khảo sát để cung cấp những dữ kiện đối chiếu với học sinh để có thể đưa ra một số lý giải nguyên nhân của các lựa chọn hình thức học tập và hướng nghiệp của học sinh Tỉ lệ cán bộ quản lý chỉ chiếm 2.7% có thể chấp nhận được do số lượng thực tế cán bộ quản lý so với số lượng học sinh là rất ít

Giới tính cũng là một trong những yếu tố được xét đến để quan sát xem các số liệu thu được là đáng tin cậy do được cung cấp đồng đều về mặt giới tính Số lượng thông tin phản hồi được thu về phân chia theo giới tính được trình bày ở bảng sau:

Bảng 3: Số lượng đối tượng được khảo sát phân chia theo giới tính

Học sinh Giáo viên Phụ huynh Quản lý Nam 720 170 217 28

Nu 698 271 294 39 Đối tượng

Tổng 1418 441 511 67 Không trả

Có thể quan sát được sự cân bằng về giới tính của các đối tượng trả lời khảo sát bằng đồ thị sau:

Trang 27

Nu

Nam

Hình 1: So sánh tỉ lệ đối tượng cung cấp thông tin theo giới tính

Ngoài ra, các thông tin cá nhân của các mẫu đối tượng được khảo sát được trình bày chi tiết trong phần phụ lục của đề tài có thể cho thấy những thông

tin sau đây mà các đối tượng được khảo sát cung cấp là đáng tin cậy

KẾT QUẢ KHẢO SÁT VỀ VẤN ĐỀ PHÂN BAN

Đề tài khảo sát thực trạng về vấn đề phân ban ngay tại thời điểm năm

2006 là thời điểm mà vấn đề phân ban còn rất mới và vẫn còn nhiều tranh cãi Có thể nói rằng, ở bối cảnh lúc bấy giờ nhiều phụ huynh và học sinh cũng chưa nắm

rõ về hình thức phân ban mà nhà trường buộc họ phải lựa chọn Để đánh giá chính xác hơn vấn đề này, bảng số liệu sau đây có thể rút ra được nhiều vấn đề

Bảng 4: Đánh giá về hình thức phân ban

Hình thức phân ban Mẫu Có (1) (%) Không (2) (%) chọn (%) Không (1) Có thích hình thức dạy học phân ban

không? Học sinh Giáo viên

Phụ huynh Quản lý

60.0 62.8 70.5 65.2

33.6 32.3 18.2 31.9

6.4 4.9 11.3 2.9

(2) Có tiếp tục thực hiện chương trình phân

ban không nếu nhà trường bắt buộc?

Học sinh Giáo viên Phụ huynh Quản lý

85.4 90.0 83.3 92.8

8.9 5.0 5.1 2.9

5.7 5.0 11.6 4.3

(3) Việc phân ban hiện nay có tạo điều kiện

cho học sinh dễ chọn hướng đi cho mình

không?

Học sinh Giáo viên Phụ huynh Quản lý

74.6 68.6 74.2 71.0

18.6 26.4 11.9 24.6

6.9 5.0 86.2 4.4

(4) Việc phân ban hiện nay có giúp cho học

sinh dễ chọn lựa ban học không?

Học sinh Giáo viên Phụ huynh

64.1 57.6 68.4

28.0 37.0 17.0

7.9 5.4 14.6

Trang 28

Hình thức phân ban Mẫu Có (1)

(%)

Không (2) (%)

Không chọn (%) (5) Học sinh có hiểu thế nào là chọn nghề

cho tương lai không ?

Học sinh Giáo viên Phụ huynh Quản lý

78.9 70.6 74.6 63.8

15.7 24.5 13.1 33.3

5.4 5.0 12.3 2.9

(6) Nhà trường có giúp học sinh trong việc

chọn nghề nghiệp trong tương lai không? Học sinh Giáo viên

Phụ huynh Quản lý

70.3 86.1 74.6 91.3

23.7 8.9 12.1 5.8

6.0 5.0 13.3 2.9

(7) Trường có tổ chức các lớp học hướng

nghiệp không?

Học sinh Giáo viên Phụ huynh Quản lý

69.7 84.4 72.2 85.5

22.4 11.0 14.6 8.7

7.9 4.6 13.2 5.8

(8) Các lớp học hướng nghiệp do nhà

trường tổ chức có bổ ích cho hay không? Học sinh Giáo viên

Phụ huynh Quản lý

83.8 84.8 84.8 94.2

9.8 8.7 3.2 1.4

6.3 6.5 11.9 4.4

(9) Gia đình có giúp học sinh trong việc

chọn nghề trong tương lai không?

Học sinh Giáo viên Phụ huynh Quản lý

83.8 83.1 83.9 68.1

10.7 8.7 3.0 14.5

5.5 8.2 13.1 17.4

Khi được hỏi ‘có thích hình thức dạy học phân ban không?’, học sinh

có tỉ lệ trả lời ‘có’ ít nhất (60%) sau đó đến giáo viên (62.8%), cán bộ quản lý (65.2%) và phụ huynh (70.5%) Như vậy số lượng người trả lời ‘có thích’ ở mức hơn 60% là một kết quả khảo sát khả quan Tuy nhiên, điều đáng quan tâm ở đây

là đối tượng học sinh và giáo viên là những đối tượng trực tiếp chịu ảnh hưởng từ chương trình phân ban, người học và người dạy lại có tỉ lệ trả lời ‘thích’ ít nhất

Khi được hỏi rằng: “Có tiếp tục thực hiện chương trình phân ban không nếu nhà trường bắt buộc?” thì tỉ lệ trả lời ‘có’ rất cao: học sinh (85.4%), giáo viên (90.0%), phụ huynh (83.3%) và cán bộ quản lý (92.8%) Điều này chứng tỏ nếu hình thức phân ban trở thành quy định của nhà nước thì việc chấp nhận thực thi của các đối tượng liên quan là đương nhiên Và hầu hết đối tượng quản lý (92.8%) trả lời có thực hiện nếu cấp trên bắt buộc, trong đó tỉ lệ 7.2% cán

bộ quản lý còn lại đã có 4.3% không chọn ‘có’ hoặc ‘không’ mà bỏ trống chứng

tỏ sự phân vân trong việc lựa chọn của mình Nếu tính hiệu số giữa tỉ lệ người phải thực thi khi bị bắt buộc với tỉ lệ người thích thực hiện hình thức phân ban để

ra tỉ lệ người miễn cưỡng đồng ý thực hiện thì thu được kết quả: học sinh (25.4%), giáo viên (27.2%), phụ huynh (12.8%) và cán bộ quản lý (27.6%) (không tính tỉ lệ người phân vân không chọn có hoặc không

Trang 29

Một trong những mục tiêu của chương trình phân ban là định hướng phân luồng học sinh, do vậy nhóm đề tài đã khảo sát ý kiến của các mẫu đối tượng để kiểm chứng xem liệu mục tiêu phân luồng học sinh có đạt được hay không? Trả lời cho câu hỏi: ‘Việc phân ban hiện nay có tạo điều kiện cho học sinh dễ chọn hướng đi cho mình không?’, tỉ lệ trả lời ‘có’ tương ứng của học sinh, giáo viên, phụ huynh và cán bộ quản lý là 74.6%, 68.6%, 74.2% và 71.0% Kết quả này cho thấy tính khả quan trong việc đạt được mục tiêu mà chương trình phân ban đã đề ra Tuy nhiên tỉ lệ trả lời ‘có’ đã giảm xuống khi được hỏi:

‘Việc phân ban hiện nay có giúp cho học sinh dễ chọn lựa ban học không?’; học sinh (64.1%), giáo viên (50.6%), phụ huynh (68.4%) và cán bộ quản lý (63.8%) Như vậy, có vẻ như các đối tượng được khảo sát hiểu được việc định hướng của hình thức phân ban cho tương lai nhưng không được tư vấn kỹ lưỡng về việc chọn ban Điều này có thể giải thích tại sao trong phần ý kiến khác có nhiều học sinh đã trình bày ý kiến chỉ hiểu mơ hồ chứ chưa hiểu rõ hình thức phân ban Điều cần chú ý hơn ở đây là bản thân giáo viên và cán bộ quản lý là những đối tượng trực tiếp tư vấn cho học sinh, phụ huynh chọn ban lại có tỉ lệ trả lời thấp hơn phụ huynh và học sinh Nếu xếp theo thứ bậc trả lời ‘có’ ở câu hỏi này từ thấp đến cao thì kết quả là ‘giáo viên’, ‘cán bộ quản lý’, ‘học sinh’ và ‘phụ huynh’

Từ câu hỏi số 5 đến câu số 9, nhóm nghiên cứu chủ yếu tập trung vào các vấn đề liên quan đến tổ chức hướng nghiệp và việc chọn nghề tương lai của học sinh Kết quả khảo sát cho thấy đa số các đối tượng đều trả lời ‘có’, tỉ lệ xấp

xỉ 70% trở lên Nếu xem xét kết quả trả lời cho câu 6, 7 và 8 (‘Nhà trường có giúp học sinh trong việc chọn nghề nghiệp trong tương lai không? ‘Trường có tổ chức các lớp học hướng nghiệp không?’ ‘Các lớp học hướng nghiệp do nhà trường tổ chức có bổ ích cho hay không?’) thì rõ ràng công tác hướng nghiệp của nhà trường hiện đang thực hiện khá tốt Như vậy, nếu nhìn vấn đề phân ban ở góc

độ hướng nghiệp cho học sinh trong việc lựa chọn hướng đi cho tương lai thì hình thức phân ban hiện nay có thể nhận định là thành công

Tuy nhiên, nếu nhìn nhận vấn đề phân ban theo mục tiêu là nhằm đa

Trang 30

đáp ứng tốt hơn với tính đa dạng về nhu cầu và năng lực của người học và đồng thời có định hướng nghề nghiệp tương lai thì nên có nhiều ban hơn nữa để học sinh lựa chọn sẽ tốt hơn là chỉ có 2 hay 3 ban Chính vì có mục tiêu khác nhau và

có định hướng khác nhau mà chương trình học của các ban cần có sự phân hóa rõ nét chứ không thể chỉ khác nhau về thời lượng Sự phân hóa này cần được đảm bảo nhất quán trong yêu cầu của các kỳ thi Bên cạnh đó, các kỹ năng quan trọng

và cần thiết cần được xác định ngay từ đầu và cần được đảm bảo trong chương trình học của tất cả các ban Các ý kiến của học sinh trong phần câu hỏi mở cho thấy sự đảm bảo mối quan hệ giữa người thiết kế chương trình và người học là chìa khóa thành công của chương trình phân ban Quy trình khảo sát nhu cầu của người học trước khi thiết kế chương trình phân ban cần được quan tâm Một khi học sinh cho rằng trong các chương trình phân ban không có các môn học mà

mình thích “Em chưa hiểu được thế nào là phân ban? Mục đích phân ban là gì

Tại sao các môn học trong phân ban nhiều khi lại đi ngược lại với khả năng của nhiều người Khi em chưa có quyết định về nghề nghiệp và tương lai của mình thì làm sao em chọn ban nào là tốt nhất và có nên hay không Em chỉ có năng khiếu một số môn nhất định chứ không như yêu cầu của các ban vậy thì làm sao

em có thể học tốt khi không yêu thích và không thật sự hứng thú đối với môn học đó” (208) thì cần đặt vấn đề quy trình khảo sát nói trên đã được thực hiện như

thế nào? Sau khi đã khảo sát nhu cầu về thiết kế, các chương trình phân ban là các sản phẩm cần được tiếp thị với khách hàng là người học Người học cần được

tư vấn thật rõ ràng để có thể chọn lựa dạng "sản phẩm" phù hợp với nhu cầu về khả năng của chính mình Công việc tư vấn này không chỉ giới thiệu về các chương trình phân ban mà còn phải bao gồm cả việc đánh giá nhu cầu về năng lực của bản thân từ học sinh (một công việc phức tạp khác nữa trong khi không thể dựa vào bảng điểm của học sinh để quyết định) Trong khi đó, khả năng ra quyết định lựa chọn một cách tự tin của người học là một yếu tố quan trọng không thể bỏ qua để đánh giá chủ trương phân ban được thực hiện đạt yêu cầu hay chưa Trên thực tế, chủ trương phân ban đưa người học sinh từ chỗ không cần phải chọn lựa (vì chỉ có một chương trình học thống nhất) đến chỗ phải lựa chọn một chương trình học mà mình không thích hoặc không chắn có thích hợp hay không (do việc thiết kế nhiều chương trình đa dạng vừa mang tính phổ thông

Trang 31

vừa định hướng nghề nghiệp là một công việc không dễ dàng, do việc tổ chức thực hiện chương trình này trong các trường PTTH có quy mô vừa phải dựa theo các địa bàn dân cư là điều không khả thi) Học sinh hoặc là không được học ban

mà mình thích vì nhà trường không mở được, hoặc là chẳng thấy mình thích học ban nào cả nhưng cũng đành chọn "đại" một ban Như vậy, trong những trường hợp này chủ trương phân ban đã thất bại

Một mục tiêu cũng thường được nhắc tới trong vấn đề phân ban là vấn

đề giảm dạy thêm, học thêm nếu học sinh đã được định hướng tốt ở trường Phân ban THPT ở nước ta là một chương trình học tập mới, được xây dựng và thử nghiệm lâu dài nhưng hầu như không có cải tiến đáng kể về hình thức học tập của học sinh Kết quả khảo sát cho thấy học sinh và phụ huynh thích phân ban, nhưng lại khẳng định là không thể không đi học thêm Chỉ có 2,2 % học sinh không trả lời và 25,6 % học sinh cho biết là “không học thêm”, số còn lại học thêm ít nhất một môn Hơn nữa, như phần trả lời phỏng vấn đã cho thấy, học sinh thích phân ban chủ yếu là vì sự thuận lợi cho việc chuẩn bị thi đại học, và điều này không có ảnh hưởng tích cực đối với chủ trương phân luồng học sinh Chương trình phân ban không giúp kéo giảm được áp lực thi cử, chỉ tập trung vào việc tăng cường một số môn học chính, thuộc khoa học tự nhiên và khoa học xã hội nhân văn, chưa quan tâm thích đáng đến các mảng giáo dục kỹ thuật tổng hợp và giáo dục nghệ thuật Hơn nữa, các số liệu khảo sát đã cho thấy ngoại ngữ và tin học được xem là lựa chọn của phần lớn học sinh Tuy nhiên, sau khi phân tích các ý kiến phỏng vấn, nhóm nghiên cứu đề tài cho rằng chương trình phân ban hiện nay chưa tính đến khả năng là học sinh của tất cả các ban đều có nhu cầu học ngoại ngữ và tin học Do đó, nếu các ban được thiết kế theo hướng

để thi vào đại học và chỉ có một ban được thiết kế cho ngoại ngữ hay tin học thì

sẽ không đáp ứng được nhu cầu của người học Vì những lý do đã nêu, khó có thể nói chương trình phân ban hiện nay có tác dụng tốt trong việc định hướng nghề nghiệp cho học sinh Với những kết quả nghiên cứu lý thuyết và khảo sát thực tiễn, nhóm nghiên cứu đề tài cho rằng chương trình phân ban THPT hiện nay tuy có phần đáp ứng nhu cầu của người học nhưng không phải là cải tiến

Trang 32

KẾT LUẬN

Khảo sát thu được nhiều ý kiến về vấn đề phân ban trong đó tập trung vào việc cần thiết phải thiết kế một chương trình học theo xu hướng chủ đạo trong một thế giới đòi hỏi sự liên thông, kết hợp và mềm dẻo Việc xây dựng chương trình học phân ban cũng như các hình thức học tập hiện tại còn bị phê phán là có tính chắp vá, ‘sai đâu sửa đấy’ mà chưa có các định hướng lâu dài và khoa học Ngoài ra, chính vì có mục tiêu khác nhau và có định hướng khác nhau

mà chương trình học của các ban cần có sự phân hóa rõ nét chứ không thể chỉ khác nhau về thời lượng Sự phân hóa này cần được đảm bảo nhất quán trong yêu cầu của các kỳ thi Bên cạnh đó, các kỹ năng quan trọng và cần thiết cần được xác định ngay từ đầu và cần được đảm bảo trong chương trình học của tất cả các ban Các ý kiến trả lời phỏng vấn của học sinh cho thấy sự đảm bảo mối quan hệ giữa người thiết kế chương trình và người học là chìa khóa thành công của chương trình phân ban Có thể thấy rằng quy trình khảo sát nhu cầu của người học trước khi thiết kế chương trình phân ban là chưa được quan tâm thỏa đáng Một khi học sinh cho rằng trong các chương trình phân ban không có các môn học mà mình thích thì cần đặt vấn đề quy trình khảo sát nói trên đã được thực hiện như thế nào?

Trang 33

ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN ĐỔI MỚI

PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC CỦA

GIÁO VIÊN THEO CHƯƠNG TRÌNH PHÂN BAN LỚP 10 THPT TẠI THỪA THIÊN HUẾ

ThS Lê Xuân Bân Trưởng phòng GD Trung học, Sở GD&ĐT Thừa Thiên Huế

1.Đặt vấn đề

Thực hiện Chỉ thị số 25/2006/CT-TTg ngày 01.08.2006 của Thủ tướng Chính phủ, từ năm học 2006-2007 ngành giáo dục đã triển khai thực hiện phân ban từ lớp 10 của cấp THPT Đây là sự tiếp nối quá trình đổi mới chương trình giáo dục phổ thông đã được thực hiện một số năm qua của bậc tiểu học và cấp THCS theo những định hướng cơ bản được nêu trong Nghị quyết 40/2000/ QH

10 của Quốc Hội

Để đáp ứng mục tiêu của việc đổi mới chương trình, sách giáo khoa cấp THPT, việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực là một yêu cầu cấp thiết nhằm phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học của học sinh , phù hợp với đối tượng, bồi dưỡng học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn… tạo điều kiện cho học sinh có được những năng lực cần thiết của người lao động ở thế kỷ 21 :

- Phân tích, chuyển đổi và tạo ra thông tin

- Cộng tác với đồng nghịêp để giải quyết vấn đề và ra quyết định

- Thực hiện các nhiệm vụ đa dạng, sử dụng công nghệ tiên tiến

Để đảm bảo các điều kiện thực hiện đổi mới phương pháp dạy học, việc biên soạn sách giáo khoa đã có những thay đổi quan trọng về nội dung: sách giáo khoa được biên soạn như những tài liệu tự học thông qua các gợi ý dưới dạng lệnh, câu hỏi, cấu trúc sách thay đổi với sự bổ sung những nội dung thực hành, thí nghiệm, những tình huống thực tiễn; tăng cường kênh hình, hệ thống sơ đồ, bản đồ….Thiết bị dạy học cũng đã được quy định với hệ thống danh mục các

Trang 34

phương pháp dạy học ở cấp THPT là một quá trình cam go và lâu dài, đòi hỏi sự đầu tư và nỗ lực của bản thân các giáo viên, sự chỉ đạo của các cấp quản lý mà những đánh giá sau một năm thực hiện chỉ là những ghi nhận ban đầu trong quá trình thực hiện đổi mới phương pháp dạy học ở cấp THPT theo chương trình, sách giáo khoa lớp 10 mới

2 Đánh giá việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy học ở lớp 10 THPT tỉnh Thừa Thiên Huế

tư để thực hiện được những tiết dạy tốt, tiếp cận nhanh với các phương pháp dạy học theo hướng lấy học sinh làm trung tâm Những thay đổi quan điểm trong việc biên soạn chương trình, nội dung sách giáo khoa lớp 10 kèm theo sự bổ sung những nội dung thực hành, thí nghiệm, những tình huống thực tiễn; các kênh hình, hệ thống sơ đồ, bản đồ….đã tạo điều kiện thuận lợi hơn cho giáo viên thay đổi hình thức, phương pháp dạy học

- Sự phong phú về các phần mềm dạy học (Toán: Geometer‘s Sketchpad, Geospac W, Cabri 3D; Lý, Hoá, Sinh: Solid Word, Flash, Chemic 3D…) đã hỗ trợ nhiều trường, nhiều giáo viên thực hiện thành công việc ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học, thay thế một số thiết bị dạy học chưa có; nhiều giáo án điện tử đã được soạn công phu và thực hiện có hiệu quả trên lớp, nhiều hình ảnh,

Trang 35

tư liệu sinh động đã được bổ sung trong nội dung bài giảng Các môn học đã thực hiện tốt là Toán, Lí, Hóa, Tiếng Anh, Địa lý, Sinh học Số lượng các bài dạy có ứng dụng CNTT trung bình tại một trường THPT tại thành phố Huế là 400 tiết/ năm học; số giáo án đã nộp dự thi năm 2006 là 700

- Việc chỉ đạo mua sắm trang thiết bị dạy học, sự tăng cường cơ sở vật chất (thay thế bàn ghế, xây mới kho thiết bị, phòng thực hành…), tổ chức tập huấn sử dụng thiết bị, tăng cường công tác kiểm tra việc sử dụng… đã tạo những tác động tích cực đến việc thực hiện đổi mới phương pháp

- Trang thiết bị dạy học cung ứng không kịp thời, thiếu, chất lượng không cao (Vật lí, Hoá học); do chưa quen sử dụng nên nhiều giáo viên đã lúng túng trong quá trình hướng dẫn học sinh thực hành (môn Hoá học)

- Bài soạn có nội dung mới, nhưng giáo viên chưa nghiên cứu kỹ, hoặc tham khảo nhiều sách hướng dẫn song thiếu kinh nghiệm, năng lực nên đã không xác định được trong tâm để hướng dẫn học sinh thực hiện các hoạt động học tập hiệu quả

Có thể xác định một số nguyên nhân của những hạn chế trên như sau:

1 Trong nhiều năm qua, các hoạt động chỉ đạo, nghiên cứu, bồi dưỡng giáo viên còn nặng về tìm hiểu, khai thác chương trình, nội dung sách giáo khoa; thiếu sự chuẩn bị và tác động đồng bộ của những thành tố có mối quan hệ hữu cơ: mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện dạy học, kiểm tra, đánh giá…; việc nghiên cứu phương pháp dạy học chỉ dừng lại ở mức độ lí thuyết, chưa được

cụ thể hóa, quy trình hóa với những hướng dẫn, tập huấn khoa học đã hạn chế việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu về đổi mới phương pháp

Trang 36

khuyến khích, tổ chức nhóm, đánh giá, lập kế hoạch tư tưởng trông chờ cung ứng thiết bị; năng lực học tập, tính tích cực, tự giác trong học tập của phần lớn học sinh còn thấp, nhất là vùng nông thôn và miền núi

3 Nhận thức của cán bộ quản lí, cơ chế đánh giá thi đua, thiết kế phòng học, áp lực của tuyển sinh, các trang thiết bị dạy học cũng đã tác động không nhỏ đến việc thực hiện các phương pháp dạy học tích cực

4 Chương trình và sách giáo khoa: Chương trình và sách giáo khoa lớp 10

đã được biên soạn khá tốt, tạo điều kiện cho giáo viên thực hiện các phương pháp dạy học tích cực, tuy nhiên ở một số bài của một số môn vẫn chưa phù hợp

- Phân bố tiết dạy :

+ Môn Vật lý: Bài 15, 18, 19, 20, 21; môn Văn (Thơ Hai cư Nhật Bản, tiết

123, 126 cần liền nhau…); môn Lịch sử: Các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm thế kỷ X-XV; môn Tiếng Anh: các tiết ngữ pháp của Unit 1, 4, 5… đã tạo khó khăn trong việc tổ chức dạy học trên lớp

- Nội dung SGK: sắp xếp nội dung của một số bài giảng chưa có được sự liên thông trong nội dung kiến thức của các môn học: Vật lý, Hoá học, Toán học , Sinh học, Công nghệ

+ Sinh học: Chương Thành phần hoá học của tế bào

+ Hoá học: Một số bài thực hành cần được xem lại: số 2, 3, 4

5 Thiết bị dạy học: Chất lượng, nguồn gốc sản xuất, hướng dẫn sử dụng của một số môn học chưa đạt yêu cầu:

+ Môn Hoá học: ống kẹp, ống hút, một số hoá chất, compte goute, ống dẫn khí, ống nghiệm không đủ, hoá chất không phù hợp, dây magnê không có… + Môn Vật lý: Khảo sát chuyển động thẳng đều, bộ thí nghiệm biểu diễn định luật Bole Mariote đồng hồ hiện số, khảo sát hiện tượng mao dẫn, bộ đo hệ

số ma sát…

+ Môn Sinh: mô hình nhiễm sắc thể thiếu giá đỡ…

Trang 37

3 Kết luận và kiến nghị

Thực trạng trên đang đặt ra cho các nhà quản lí giáo dục một yêu cầu cấp bách là phải có những giải pháp mang tính khả thi để thực hiện mạnh hơn việc đổi mới phương pháp dạy học song song với việc đổi mới chương trình và nội dung sách giáo khoa cấp trung học phổ thông

Về nguyên tắc, để đạt được hiệu quả cao việc đổi mới phương pháp dạy học phải có một chiến lược đổi mới đồng bộ từ những vấn đề ở tầm vĩ mô từ hệ thống các quan điểm chung đến những vấn đề cụ thể như mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện cùng các điều kiện khác để đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục, tiền đề của sự phát triển xã hội Tuy nhiên trong bối cảnh hiện nay, phải chấp nhận những giải pháp mang tính chất cải tiến về phương pháp bởi những lý do:

1.Việc đổi mới chương trình, nội dung sách giáo khoa THCS mới hoàn tất năm 2006, năm học 2006-2007 là năm học đầu tiên cấp THPT thực hiện chương trình và SGK phân ban, giáo viên đang làm quen với những yêu cầu và nội dung mới

2 Chưa thể khắc phục ngay những nhận thức, thói quen dạy và học cũ (ham giảng bài, sợ cháy giáo án, không trung thành SGK, sợ sự im lặng khi học sinh nghiên cứu hay sự ồn ào trong hoạt động, sợ tỷ lệ thi tốt nghiệp không đạt

do dạy học theo phưương pháp mới, sợ nhà trường đánh giá thi đua ) cũng như chưa thể nhanh chóng nâng cao năng lực nghiệp vụ của toàn bộ giáo viên lên một bước thực sự rõ rệt

3 Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học đang được bổ sung, đa dạng, hiện đại và nhiều tính năng hơn nhưng vẫn còn khá lâu mới đáp ứng được yêu cầu Áp lực của tuyển sinh lớp 10, phổ cập bậc trung học khiến cho sĩ số học sinh trên lớp vẫn vượt quá chuẩn Hệ thống phòng học bộ môn, các phòng chức năng còn quá thiếu

4 Thiết bị dạy học: chưa đảm bảo cung ứng kịp thời, đồng bộ và có chất lượng

Với những lý do đã nêu trên, việc đổi mới phương pháp dạy học trong giai

Trang 38

viên với phương châm làm cho "học sinh được nghỉ nhiều hơn, làm nhiều hơn, thảo luận nhiều hơn" theo một số giải pháp đề nghị như sau:

+ Đối với Giáo viên:

- Giáo viên cần linh hoạt trong việc bám sát SGK, nghiên cứu và xác định đúng trọng tâm để hình thành kế hoạch, tổ chức các hoạt động để hướng dẫn, giúp học sinh sử dụng sách giáo khoa và các tài liệu khác một cách có ý thức và chủ động theo cá nhân, nhóm

- Tăng cường tổ chức các hoạt động tìm tòi, quan sát, thí nghiệm, thực hành, làm báo cáo, dự án, điều tra

- Thay đổi các hình thức hoạt động trong điều kiện cho phép: cá nhân, nhóm tham quan, sinh hoạt ngoài trời tạo điều kiện cho học sinh được thảo luận, tranh luận, đánh giá

- Thực hiện các phiếu học tập, phiếu hoạt động trong một số hoạt động

- Tích cực ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học, sử dụng tối đa các phương tiện, thiết bị dạy học với tư cách là phương tiện nhận thức

- Phấn đấu rèn luyện các kĩ năng sư phạm, khai thác thông tin, phần mềm dạy học trên Internet

+ Đối với các cấp quản lí (Trường và Sở)

- Tổ chức các lớp tập huấn để bồi dưỡng giáo viên về phương pháp, bổ sung các tư liệu, những phần mềm dạy học có tính ứng dụng cao, phần mềm thi trắc nghiệm khách quan cho Tổ trưởng các môn

- Tổ chức các lớp tập huấn kỹ năng sư phạm, kỹ năng sử dụng máy tính cho giáo viên (theo Intel, Microsoft, IBM )

- Tổ chức thi Giáo viên dạy giỏi theo định kỳ, thi giáo án điện tử, sử dụng

và ứng dụng công nghệ thông tin giỏi; thi học sinh thực hành thí nghiệm giỏi

- Tổ chức sinh hoạt Hội đồng tổ trưởng bộ môn theo khu vực địa lí để cùng tham gia dự giờ, thảo luận các chuyên đề, chia sẽ những thông tin về dạy học theo chương trình phân ban

- Thường xuyên tiến hành các hoạt động kiểm tra, thanh tra chuyên môn

- Khuyến khích tổ chuyên môn, giáo viên lập kế hoạch chi tiết các hoạt động dạy học, xây dựng quỹ đề kiểm tra theo hình thức trắc nghiệm khách quan

Trang 39

- Đề nghị lãnh đạo các trường có phương thức đánh giá thi đua hợp lý, tạo điều kiện cho giáo viên thực hiện, tổ chức các hoạt động dạy học theo phương pháp mới, làm thêm dụng cụ dạy học, mua sắm thêm các trang thiết bị hiện đại

- Khuyến khích giáo viên trao đổi thông tin chuyên môn qua hệ thống thư điện tử của Phòng Giáo dục Trung học

4.Đề nghị

4.1.Bộ Giáo dục - Đào tạo nên nghiên cứu, xem xét những đề nghị của các giáo viên, cán bộ quản lí có liên quan đến chương trình và nội dung SGK phân ban để điều chỉnh một số nội dung phù hợp Sự thay đổi trong việc thực hiện phân phối chương trình từ năm học 2007-2008 đã thể hiện quan điểm tiến bộ; những cải tiến về phương thức tổ chức, cách ra đề thi tốt nghiệp, tuyển sinh đại học sẽ tạo những điều kiện tốt hơn cho việc đổi mới phương pháp

4.2 Trường Đại học sư phạm cần tăng cường những nội dung mới về phương pháp, chú trọng rèn luyện nhiều hơn các kỹ năng sư phạm, kết hợp chặt chẽ với Sở Giáo dục-Đào tạo trong các sinh hoạt chuyên môn, kiểm tra, tập huấn giáo viên trung học

4.3 Sở Giáo dục-Đào tạo có kế hoạch, lộ trình xây dựng hệ thống trường chuẩn, trang bị các thiết bị dạy học; tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá theo những định hướng về đổi mới phương pháp

4.4 Lãnh đạo các trường Trung học phải chủ động, sáng tạo hơn trong việc thu hút các nguồn lực để tăng cường cơ sở vật chất, tạo điều kiện cho giáo viên được tiếp cận và thực hiện việc ứng dụng công nghệ thông tin, các phương pháp dạy học tích cực

Trang 40

KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU VỀ TRIỂN KHAI

THỰC HIỆN PHÂN BAN THPT

Ở TỈNH HÀ NAM

Bùi Văn Hoè Trưởng phòng THPT, Sở GD&ĐT Hà Nam

I/ THUÂN LỢI VÀ KHÓ KHĂN:

Nhận thức của Đảng, chính quyền, nhân dân, nhất là giáo viên, học sinh ở

Hà Nam về phân ban khá đầy đủ và sâu sắc

Các điều kiện về đội ngũ và cơ sở vật chất trường học được Đảng bộ, chính quyền và nhân dân quan tâm đầu tư xây dựng theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá Các trường THPT ở Hà Nam chủ yếu được xây cao tầng kiên cố, với phòng học đủ diện tích, ánh sáng, bàn ghế theo qui chuẩn của Bộ Giáo dục và Đào tạo

Số phòng học đảm bảo được 90 % theo yêu cầu để học một ca

Đội ngũ giáo viên tính theo chuẩn cũ đảm bảo tỷ lệ 2,11 giáo viên/lớp Theo tính toán để đảm bảo đủ số lượng giáo viên dạy chương trình phân ban thì năm học mới toàn ngành sẽ thiếu 246 giáo viên, nhất là giáo viên dạy các môn tự nhiên như Toán, Tin học, Vật lý Để khắc phục tình trạng thiếu giáo viên, ngành giáo dục đã có các giải pháp:

- Liên hệ với các trường sư phạm điều tra số sinh viên Hà Nam đang học tại các trường, thông báo tới các trường về chỉ tiêu tuyển giáo viên của ngành Xây dựng đề án tuyển dụng viên chức giáo dục, mở rộng nguồn tuyển cả sinh viên học ở các trường ĐH Quốc gia, ĐH Nông nghiệp… đã được đào tạo nghiệp vụ sư phạm, có ngành đào tạo tương ứng đồng thời

có chính sách thu hút giáo viên tỉnh ngoài

- Chuyển số giáo viên đã tốt nghiệp ĐH Sư phạm chính qui đang dạy ở các trường THCS lên dạy THPT

Ngày đăng: 27/09/2016, 16:12

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Các hướng phân hoá của học sinh khảo sát - Chương trình, sách giáo khoa và vấn đề kiểm tra đánh giá ở lớp 10 phân ban sau 1 năm thực hiện
Hình 1. Các hướng phân hoá của học sinh khảo sát (Trang 7)
Hình 2. Học sinh nhận xét về cách dạy của thầy/cô giáo bộ môn - Chương trình, sách giáo khoa và vấn đề kiểm tra đánh giá ở lớp 10 phân ban sau 1 năm thực hiện
Hình 2. Học sinh nhận xét về cách dạy của thầy/cô giáo bộ môn (Trang 9)
Hình 3. Khả năng đáp ứng của GV dạy chương trình chuẩn và chương trình nâng cao - Chương trình, sách giáo khoa và vấn đề kiểm tra đánh giá ở lớp 10 phân ban sau 1 năm thực hiện
Hình 3. Khả năng đáp ứng của GV dạy chương trình chuẩn và chương trình nâng cao (Trang 9)
Hình 4. GV đánh giá mức độ đạt yêu cầu về nội dung kiến thức của HS - Chương trình, sách giáo khoa và vấn đề kiểm tra đánh giá ở lớp 10 phân ban sau 1 năm thực hiện
Hình 4. GV đánh giá mức độ đạt yêu cầu về nội dung kiến thức của HS (Trang 10)
Hình 5. GV đánh giá mức độ đạt yêu cầu về phát triển kĩ năng của HS - Chương trình, sách giáo khoa và vấn đề kiểm tra đánh giá ở lớp 10 phân ban sau 1 năm thực hiện
Hình 5. GV đánh giá mức độ đạt yêu cầu về phát triển kĩ năng của HS (Trang 11)
Hình 6. Học sinh tự đánh giá khả năng học tập so với nội dung SGK mỗi ban - Chương trình, sách giáo khoa và vấn đề kiểm tra đánh giá ở lớp 10 phân ban sau 1 năm thực hiện
Hình 6. Học sinh tự đánh giá khả năng học tập so với nội dung SGK mỗi ban (Trang 12)
Hình 7. Năng lực của học sinh học SGK theo chương trình chuẩn - Chương trình, sách giáo khoa và vấn đề kiểm tra đánh giá ở lớp 10 phân ban sau 1 năm thực hiện
Hình 7. Năng lực của học sinh học SGK theo chương trình chuẩn (Trang 12)
Hình 8. Học sinh tự đánh giá năng lực so với nội dung SGK nâng cao - Chương trình, sách giáo khoa và vấn đề kiểm tra đánh giá ở lớp 10 phân ban sau 1 năm thực hiện
Hình 8. Học sinh tự đánh giá năng lực so với nội dung SGK nâng cao (Trang 13)
Hình 9. Tỉ lệ học sinh đạt chuẩn chương trình của 4 môn học - Chương trình, sách giáo khoa và vấn đề kiểm tra đánh giá ở lớp 10 phân ban sau 1 năm thực hiện
Hình 9. Tỉ lệ học sinh đạt chuẩn chương trình của 4 môn học (Trang 14)
Hình 11. Đánh giá của GV về mức độ HS đáp ứng yêu cầu học tự chọn - Chương trình, sách giáo khoa và vấn đề kiểm tra đánh giá ở lớp 10 phân ban sau 1 năm thực hiện
Hình 11. Đánh giá của GV về mức độ HS đáp ứng yêu cầu học tự chọn (Trang 17)
Bảng 2: Tần số và tỉ lệ phần trăm các đối tượng được khảo sát (N=2525) - Chương trình, sách giáo khoa và vấn đề kiểm tra đánh giá ở lớp 10 phân ban sau 1 năm thực hiện
Bảng 2 Tần số và tỉ lệ phần trăm các đối tượng được khảo sát (N=2525) (Trang 25)
Hình 1: So sánh tỉ lệ đối tượng cung cấp thông tin theo giới tính - Chương trình, sách giáo khoa và vấn đề kiểm tra đánh giá ở lớp 10 phân ban sau 1 năm thực hiện
Hình 1 So sánh tỉ lệ đối tượng cung cấp thông tin theo giới tính (Trang 27)
Hình thức phân ban  Mẫu  Có (1) - Chương trình, sách giáo khoa và vấn đề kiểm tra đánh giá ở lớp 10 phân ban sau 1 năm thực hiện
Hình th ức phân ban Mẫu Có (1) (Trang 28)
Hình ảnh hoặc phim minh hoạ. - Chương trình, sách giáo khoa và vấn đề kiểm tra đánh giá ở lớp 10 phân ban sau 1 năm thực hiện
nh ảnh hoặc phim minh hoạ (Trang 91)
Hình ảnh của virut cúm gia cầm.  5 - Chương trình, sách giáo khoa và vấn đề kiểm tra đánh giá ở lớp 10 phân ban sau 1 năm thực hiện
nh ảnh của virut cúm gia cầm. 5 (Trang 93)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w