Cơ sở lý luận về nợ công. Kinh nghiệm quản lý nợ công ở các nước phát triển, các nước đang phát triển tương đồng với Việt Nam Thực trạng nợ công, bài học quản lý nợ công ở Việt Nam và định hướng cho tương lai.
Trang 1Mục Lục
Mục Lục 1
Chương II: Lý Thuyết 2
1.1 Khái niệm nợ, nợ công 2
1.2 Quan điểm về nợ công và cách tính nợ công ở Việt Nam so với thế giới 2
1.2.1 Đối tượng 2
1.2.2 Phương thức xác định 2
1.3 Nguyên nhân và các nhân tố ảnh hưởng 3
1.3.1 Nguyên nhân gây nợ công 3
1.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến nợ công 4
1.4 Hậu quả của nợ công 4
1.4.1 Nợ công làm giảm GDP 4
1.4.2 Nợ công làm cho sự tăng trưởng của sản phẩm tiềm năng chậm lại 5
1.4.3 Nợ công ảnh hưởng đến xếp hạng tín nhiệm của quốc gia 5
1.4.4 Các hậu quả khác 5
Chương II: Thực trạng nợ công 6
2.1 Thực trạng nợ công trên thế giới 6
2.1.1 Thực trạng nợ công của Mỹ 6
2.1.2 Thực trạng nợ công khu vực EU: 6
2.1.3 Thực trạng nợ công của Trung Quốc: 7
2.1.4 Thực trạng nợ công của Thái Lan: 7
2.2 Thực trạng nợ công ở Việt Nam 8
2.2.1 Quy mô nợ công Việt Nam gia tăng nhanh 8
2.2.2 Việc sử dụng nợ công còn nhiều bất cập 10
2.2.3 Rủi ro liên quan đến nợ công hiện nay 11
2.3 Dự báo tình hình nợ công của Việt Nam trong thời gian tới 11
Chương III: Kết luận 13
Trang 2Chương II: Lý Thuyết 1.1 Khái niệm nợ, nợ công
* Khái niệm nợ: Nợ là một thuật ngữ thường được sử dụng trong trường hợp phải thực hiện một nghĩa vụ hoàn trả hay đền bù về tài sản, vật chất Tuy nhiên, nợ cũng có thể được sử dụng để chỉ các nghĩa vụ khác Trong trường hợp nợ tài sản thì nợ là một cách sử dụng sức mua trước khi kiếm đủ tổng số tiền để trả cho sức mua đó
* Khái niệm nợ công: Nợ chính phủ, còn gọi là Nợ công hoặc Nợ quốc gia, là tổng giá trị các khoản tiền mà chính phủ thuộc mọi cấp từ trung ương đến địa phương đi vay Việc đi vay này là nhằm tài trợ cho các khoản thâm hụt ngân sách nên nói cách khác, nợ chính phủ là thâm hụt ngân sách luỹ kế đến một thời điểm nào đó Để dễ hình dung quy mô của nợ chính phủ, người ta thường
đo xem khoản nợ này bằng bao nhiêu phần trăm so với Tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
Nợ chính phủ thường được phân loại như sau:
- Nợ trong nước và nợ nước ngoài
- Nợ ngắn hạn, nợ trung hạn và nợ dài hạn
1.2 Quan điểm về nợ công và cách tính nợ công ở Việt Nam so với thế giới 1.2.1 Đối tượng
Theo Luật Quản lý nợ cộng 2009, chủ thể nợ công ở Việt Nam bao gồm các chính quyền trung ương, chính quyền địa phương và các tổ chức khác trong trường hợp các khoản nợ được Chính phủ bảo lãnh
Theo các tổ chức quốc tế, ngoài thành phần chủ chốt của khu vực công là Chính phủ và chính quyền địa phương, khu vực này còn bao gồm các công ty công (theo IMF) hoặc các tổ chức tự chủ (theo WB) và cả cơ quan quản lý tiền tệ trung ương Như vậy, khu vực công của các
tổ chức quốc tế (IMF, WB) có sự có mặt của Cơ quan quản lý tiền tệ (Ngân hàng Trung ương -NHTW) trong khi ở Việt Nam không được tính đến trong khu vực công
1.2.2 Phương thức xác định
Nợ công theo tiêu chuẩn Việt Nam dựa trên nguyên tắc: trách nhiệm thanh toán thuộc về chủ thể đi vay; còn nợ công theo tiêu chuẩn quốc tế được xác định trên cơ sở: chủ sở hữu thực sự hay pháp nhân đứng sau chủ thể đi vay phải có trách nhiệm thanh toán Theo đó, nợ công theo tiêu chuẩn quốc tế sẽ bằng nợ công theo tiêu chuẩn Việt Nam cộng với nợ của: Ngân hàng Nhà nước (NHNN), các doanh nghiệp nhà nước (DNNN), tổ chức bảo hiểm xã hội và an sinh xã hội (ASXH) và một số địa phương Điều này góp phần giải thích cho những con số nợ công được đưa ra bởi các tổ chức quốc tế và Việt Nam rất khác nhau
Trang 3Thực tiễn các nước cho thấy, ngoài nợ chính phủ và nợ được chính phủ bảo lãnh (hầu hết các quốc gia đều cho vào nợ công) một số nước xác định nợ công còn gồm nợ của DNNN phi tài chính (Thái Lan, Macedonia) Tuy nhiên, cần lưu ý ít nước có khu vực DNNN lớn như Việt Nam
Ngoài ra, các tổ chức quốc tế có tính đến nợ lương hưu trong khoản nợ Chính phủ (UNCTAD) còn Việt Nam thì dường như quên mất Theo nguyên tắc tính nợ của một số tổ chức quốc tế, khi một công chức nhận lương họ phải đóng vào quỹ về hưu, còn một phần khác, có thể bằng hoặc gấp đôi Chính phủ phải đóng vào quỹ này Phần Nhà nước đóng góp phải tính vào chi tiêu Dựa vào hợp đồng đã ký về hưu trí, nếu đóng góp không đủ để chi trả trong tương lai thì phải tính vào nợ Khoản mục này trên thực tế là không nhỏ
Tại các quốc gia phát triển như Mỹ, Canada, Úc, Nhật và các nước trong khối EU đã tính nợ theo đúng tiêu chuẩn của Liên hiệp quốc nên đều có tỷ lệ nợ/GDP cao hơn 50% nhiều Tỷ lệ trên 100% đối với các nước này là bắt đầu vượt ngưỡng an toàn Còn đối với các nước đang phát triển khi không tính nợ lương hưu thì có lẽ 50% là ngưỡng phù hợp Tại Việt Nam mức ngưỡng
nợ công/GDP được Quốc hội đề ra là 65% là phù hợp với thông lệ quốc tế; và việc vượt ngưỡng tối ưu có thể tiềm ẩn rủi ro
1.3 Nguyên nhân và các nhân tố ảnh hưởng.
1.3.1 Nguyên nhân gây nợ công
Ở mỗi nước và tùy từng thời kỳ lại có các nguyên nhân khác nhau, song tình trạng nợ công hiện nay ở nước ta do những nguyên nhân cơ bản sau:
•Thứ nhất, gia tăng mạnh chi tiêu từ ngân sách nhà nước, đặc biệt là hậu quả to lớn của cuộc khủng hoảng tài chính- kinh tế toàn cầu đã buộc nhiều nước phải chi rất nhiều để khắc phục
•Thứ hai, sự kiểm soát chi tiêu và quản lý nợ của Nhà nước kém, không chặt chẽ, thậm chí
bị buông lỏng, cộng thêm với tình trạng thất thoát, lãng phí trong đầu tư và chi tiêu, cùng với tệ tham nhũng phát triển
•Thứ ba, các nguồn thu tăng không kịp với nhu cầu chi, thậm chí một số loại thuế chịu áp lực phải cắt giảm do nhiều nguyên nhân khác nhau, đặc biệt như thuế quan và phí hải quan của nước ta phải cắt giảm hoặc loại bỏ phù hợp với các quy định của WTO và các thỏa thuận thương mại khác mà ta tham gia Trong khi đó, vấn đề quản lý nguồn thu, nhất là từ thuế gặp không ít khó khăn do tình trạng trốn thuế, tệ tham nhũng, hối lộ, kiểm soát không chặt và xử lý không nghiêm của các cơ quan chức năng
•Thứ tư, do bội chi ngân sách lớn và kéo dài khiến vay nợ trở thành nguồn lực chính bổ sung thâm hụt là nguyên nhân khiến tình hình nợ công ngày càng trở thành gánh nặng cho nền kinh tế Nguồn thu ngân sách từ thuế sụt giảm, chi phí phúc lợi gia tăng, dân số già hóa dẫn đến thâm hụt ngân sách
Trang 41.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến nợ công
Một yêu cầu tối quan trọng đối với các Chính phủ là đảm bảo tỷ lệ nợ công so với GDP là
ổn định, qua đó tăng hiệu quả quản lý nợ, quản lý thâm hụt ngân sách và làm tốt công tác dự báo, lập kế hoạch Ngân sách Nhà nước, góp phần ổn định nền kinh tế vĩ mô Để làm được điều đó, ta cần phải nắm rõ các nhân tố ảnh hưởng đến nợ công, nhận biết các tác động, ngăn chặn từ đầu, phòng tránh và giải quyết kịp thời các tác động có khả năng gây bất ổn tới tỉ lệ này
Thứ nhất, nợ công phụ thuộc chặt chẽ vào cân bằng ngân sách cơ bản Từ bản chất nợ công
ta có thể nhận thấy mức thâm hụt ngân sách phản ánh giá trị tuyệt đối của nợ công chính phủ Điều đó đồng nghĩa với việc, khi khoảng cách thâm hụt nhỏ, nhưng khoản vay bù đắp giảm đi, làm cho nợ công được hạn chế
Thứ hai, lãi suất thực tế có tác động đến các khoản nợ vay của chính phủ, quyết định xem
các khoản nợ này sẽ đắt hơn hay rẻ đi Mặt khác, việc lãi xuất tăng sẽ làm cho các khoản vay của chính phủ khó khăn hơn, không đảm bảo được cho vay nợ đúng hạn
Thứ ba, tốc độ tăng trưởng thực tế ảnh hưởng đến nợ công theo hai cơ chế Một là, nền kinh
tế phát triển hơn thì chính phủ dễ dàng vay tiền hơn, dẫn đến khả năng nợ công tăng lên Hai là, tăng trưởng nhanh thường đi kèm với lạm phát, dẫn đến việc cấp bù lạm phát cho các khoản nợ
đã đến hạn thanh toán
Thứ tư, lãi suất ngoại tệ có liên quan đến các khoản vay nước ngoài của chính phủ Cơ chế
tác động của nhân tố này tương tự như lãi suất thực tế, chỉ khác nhau về đối tượng hưởng lãi
Thứ năm, tỷ giá cũng có tác động tới việc vay nợ nước ngoài Sự biến động của tỷ giá ảnh
hưởng đến chi phí của khoản nợ công
1.4 Hậu quả của nợ công.
1.4.1 Nợ công làm giảm GDP
Có hai quan điểm chính về việc nợ công tác động đến nền kinh tế:
Quan điểm truyền thống cho rằng biện pháp cắt giảm thuế được bù đắp bằng nợ công kích
thích tiêu dùng và làm giảm tiết kiệm quốc dân Sự gia tăng tiêu dùng làm tăng tổng cầu và thu nhập quốc dân trong ngắn hạn nhưng dẫn đến khối lượng tư bản ít hơn (do đầu tư giảm) và thu nhập quốc dân thấp hơn trong dài hạn
Quan điểm Barro-Ricardo lại cho rằng biện pháp cắt giảm thuế được bù đắp bằng nợ chính
phủ không kích thích chi tiêu ngay cả trong ngắn hạn vì không làm tăng thu nhập thường xuyên của các cá nhân mà nó chỉ làm dịch chuyển thuế từ hiện tại sang tương lai Các cá nhân dự tính rằng, hiện giờ chính phủ giảm thuế và phát hành trái phiếu bù đắp thâm hụt thì đến một thời điểm trong tương lai chính phủ sẽ lại tăng thuế để có tiền trả nợ hoặc in tiền để trả nợ (mà hậu
Trang 5quả là lạm phát tăng tốc) Do đó, người ta tiết kiệm hiện tại để có tiền đóng thuế trong tương lai hoặc mua hàng hóa và dịch vụ sẽ lên giá
1.4.2 Nợ công làm cho sự tăng trưởng của sản phẩm tiềm năng chậm lại
Trong những năm gần đây, hầu hết các nhà kinh tế đều cho rằng trong dài hạn một khoản nợ công lớn (tỷ lệ của nó so với GDP cao) làm cho sự tăng trưởng của sản lượng tiềm năng chậm lại
vì những lý do sau:
Thứ nhất, nếu một quốc gia có nợ nước ngoài lớn thì quốc gia đó buộc phải tăng cường xuất
khẩu để trả nợ nước ngoài và do đó khả năng tiêu dùng giảm sút
Thứ hai, Một khoản nợ công lớn gây ra hiệu ứng thế chỗ cho vốn tư nhân: thay vì sở hữu cổ
phiếu, trái phiếu công ty, dân chúng sở hữu nợ chính phủ (trái phiếu chính phủ) Điều này làm cho cung về vồn cạn kiệt vì tiết kiệm của dân cư đã chuyển thành nợ chính phủ dẫn đến lãi suất tăng và các doanh nghiệp hạn chế đầu tư
Thứ ba, Nợ trong nước tuy được coi là ít tác động hơn vì trên góc độ nền kinh tế là một tổng
thể thì chính phủ chỉ nợ công dân của chính nước mình, tuy vậy nếu nợ trong nước lớn thì chính phủ buộc phải tăng thuế để trả lãi nợ vay Thuế làm méo mó nền kinh tế, gây ra tổn thất vô ích
về phúc lợi xã hội
1.4.3 Nợ công ảnh hưởng đến xếp hạng tín nhiệm của quốc gia
Nợ công liên tục tăng cao, nền kinh tế bị hạ bậc tín nhiệm theo báo cáo của các tổ chức chuyên đi đánh giá tín nhiệm các công ty và quốc gia khác, niềm tin của người dân và giới đầu tư
bị lung lay, khi đó nền kinh tế dễ trở thành mục tiêu tấn công của các thế lực đầu cơ quốc tế Việc đưa ra xếp hạng tín nhiệm trong thời điểm nhạy cảm, dễ tổn thương của nền kinh tế có nguy cơ làm cho cuộc khủng hoảng thêm trầm trọng, có tác dụng như một “cú huých”, đẩy nền kinh tế lún sâu thêm vào khó khăn, bế tắc
1.4.4 Các hậu quả khác
Một quốc gia lâm vào khủng hoảng nợ công trầm trọng rất dễ bị cuốn vào tâm xoáy của vòng luẩn quẩn: khủng hoảng - nợ cắt giảm, siết chặt chi tiêu ngân sách - giảm tăng trưởng - thất nghiệp - giảm phát - gia tăng nợ công - vỡ nợ
Trang 6Chương II: Thực trạng nợ công 2.1 Thực trạng nợ công trên thế giới
2.1.1 Thực trạng nợ công của Mỹ
Nợ công Hoa Kỳ là tổng số nợ của chính phủ liên bang Hoa Kỳ Số nợ này từ thập niên 1980, ngoại trừ một thời gian ngắn, gia tăng đều đặn, đặc biệt là vào thập niên 2000, phần lớn vì chiến tranh ở Afghanistanvà Iraq cũng như vì ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chánh từ năm 2007 Tính tới ngày 29 tháng 11 2011 số nợ công tổng cộng là 14,46 ngàn tỷ USD tương đương với 98,6 % Tổng sản phẩm nội địa Tính tới ngày 2 tháng 12 2013 là 17,226 ngàn tỷ USD hay trên 100% GDP 47% số tiền cho vay là từ các nhà đầu tư ngoại quốc, từ Nhật Bản và Trung Quốc mỗi nước trên 1,1 ngàn tỷ
Nợ công của Mỹ hiện tại là $17 ngàn tỷ USD Đó là một con số nằm ngoài sức tưởng tượng
Đa số người sẽ không bao giờ kiếm tới $1 triệu USD trong một năm
2.1.2 Thực trạng nợ công khu vực EU:
Vấn đề nợ không chỉ của riêng Hy Lạp
Hy Lạp không phải nước duy nhất đương đầu với khủng hoảng tín dụng và nợ Liên minh châu Âu bao gồm 27 nước, liên minh đặt mục tiêu lón để tạo ra một thị trường chung
và tích hợp các nền kinh tế thông qua thể chế chung Ủy ban châu Âu có trụ sở tại Brussels chịu trách nhiệm giám sát Liên minh châu Âu Trong Liên minh châu Âu có 17 nước sử dụng đồng euro làm đồng tiền chung
14/27 nước thuộc Liên minh châu Âu có tỷ lệ nợ tương đương hơn 60% GDP, mức giới hạn
mà Liên minh châu Âu đưa ra Trong nhóm này có cả một số nền kinh tế lớn của khu vực như Anh hay Pháp Chi tiêu vào phúc lợi xã hội và một số chương trình khác của chính phủ đã tăng nhanh trong thập kỷ qua, đẩy tỷ lệ nợ công của khắp các nước trong khu vực lên cao
Vấn đề nợ của Hy Lạp cũng không phải mới Từ khi chuẩn bị gia nhập khu vực đồng tiền chung châu Âu vào năm 2000, Hy Lạp đã có tỷ lệ nợ cao Ý và Bỉ cũng khốn khổ với các khoản nợ lớn
Quy mô các nền kinh tế được thể hiện qua mức độ to nhỏ của hình Trong bảng là so sánh GDP năm 2010 của các nền kinh tế thuộc Liên minh châu Âu Kinh tế Hy Lạp có quy mô nhỏ thế nhưng nỗi sợ của khả năng Hy Lạp vỡ nợ đã làm xói mòn niềm tin vào đồng euro và khiến nhà đầu tư khắp thế giới sợ hãi
Dù các nước quanh Hy Lạp nợ không ít, tuy nhiên vấn đề của Hy Lạp nổi cộm lên Hy Lap có
tỷ lệ ngân sách cao nhất tại châu Âu, lên tới 15,4% GDP năm 2009, cao hơn rất nhiều so với mức trần 3% theo giới hạn của Liên minh châu Âu
Trang 7Khủng hoảng nợ công châu Âu ngày một xấu hơn.
Giới đầu tư trong khu vực đồng tiền chung euro ngày càng hoang mang về cuộc khủng hoảng
nợ công sẽ lan rộng hơn nữa tại các thị trường tài chính từ Ireland cho đến Tây Ban Nha
Họ lo ngại rằng trong trường hợp tồi tệ nhất, khủng hoảng nợ tại Hy Lạp sẽ gây ra thiệt hại lớn cho các ngân hàng châu Âu và từ đó sẽ lan ra toàn cầu, tái diễn kịch bản của cuộc khủng hoảng tài chính hồi tháng 9/2008
2.1.3 Thực trạng nợ công của Trung Quốc:
Theo Financial Times, nợ công Trung Quốc đã tăng lên mức kỷ lục là 237% GDP trong quý I năm nay, vượt xa tỷ lệ nợ của các nước đang phát triển khác Các chuyên gia cảnh báo điều này
có thể dẫn đến khủng hoảng tài chính hoặc tăng trưởng trì trệ kéo dài ở Trung Quốc
Trước đó, Bắc Kinh đã phải bơm tiền vào hệ thống tín dụng để duy trì tăng trưởng kinh tế, nâng tổng số nợ công lên 163 nghìn tỷ nhân dân tệ (25 nghìn tỷ USD)
Tỷ lệ nợ trên GDP của Trung Quốc đang cao hơn nhiều so với các nước đang phát triển khác,
và tương đương với ở Mỹ và khu vực eurozone Mặc dù quy mô nợ công Trung Quốc là một nguy cơ lớn, điều đáng lo hơn là tốc độ phình to của khối nợ này Nợ công Trung Quốc mới chỉ chiếm 148% GDP tính đến cuối năm 2007
“Những nước lớn có tốc độ nợ công gia tăng nhanh đều gặp phải khủng hoảng tài chính hoặc nền kinh tế trong thời gian kéo dài”, Ha Jiming, trưởng bộ phận chiến lược đầu tư của Goldman Sachs nhận định
Theo dữ liệu năm ngoái của Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS), các nước mới nổi có tỷ lệ
nợ công trên GDP trung bình là 175% Trong khi đó, tỷ lệ này ở Trung Quốc là 249%, tương đương với mức 270% ở eurozone và 248% ở Mỹ
Bắc Kinh đã cố xoay xở để thúc đẩy tăng trưởng trong ngắn hạn và giảm nợ nhằm ngăn chặn các rủi ro tài chính trong dài hạn Tuy nhiên, trước nguy cơ hạ cánh cứng, nước này đã buộc phải
bổ sung các gói kích thích kinh tế mới
Các khoản tín dụng mới đã tăng thêm 6,2 tỷ nhân dân tệ trong ba tháng đầu năm 2016, tăng hơn 50% so với cùng kỳ năm ngoái Đây là mức tăng theo quý cao nhất từ trước đến nay
Nền kinh tế Trung Quốc khó mà hấp thụ số tín dụng lớn như vậy trong một thời gian ngắn Với việc khả năng sinh lời của các dự án mới ngày càng giảm, số vụ vỡ nợ ở Trung Quốc sẽ ngày càng tăng trong thời gian tới
2.1.4 Thực trạng nợ công của Thái Lan:
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Thái Lan không nói quá: nợ nước ngoài của Thái Lan tính đến cuối năm ngoái, theo Ngân hàng Nhà nước Thái, là hơn 129 tỉ USD, tương đương 32% GDP (thấp
Trang 8hơn nhiều so với Việt Nam), trong đó nợ ngắn hạn là 51,3 tỉ USD, còn nợ dài hạn 78,1 tỉ USD.
Dò trên cơ sở dữ liệu của Ngân hàng Thế giới sẽ thấy phần nợ của Chính phủ Thái cộng các khoản vay được nhà nước bảo lãnh cũng chỉ mới 33,4 tỉ USD trên tổng số hơn 129 tỉ USD nợ nước ngoài, tức chưa đầy 1/4
Mặt khác, Thái Lan không còn thói quen vay viện trợ phát triển chính thức (ODA) để chi tiêu ngân sách: năm 2014 chỉ nhận ODA có 351 triệu USD, trong khi Việt Nam nhận 4,2 tỉ USD Tất nhiên, ở Thái cũng có một số tập đoàn nhà nước như điện, hàng không, thuốc lá, rượu, cảng hàng không và hàng hải, ngân hàng nhưng không tràn lan đến tận từng bộ cũng như đã được cổ phần hóa, nên ít rơi vào tình trạng “con thuyền không đáy”
Kết quả là việc kiểm soát ngân sách ở Thái Lan được đánh giá là “tuyệt vời”: nợ công của Thái Lan là thấp so với các chuẩn của thế giới Mặt khác, ngân sách ở Thái Lan không phải gánh vác những chi tiêu đoàn thể, hội đoàn, cũng như những khoản chi lễ lạt địa phương, cục bộ vô
bổ, ngoại trừ các lễ lạt hoàng gia
Việc xây dựng kế hoạch thu chi ngân sách hằng năm được tính toán bởi bốn cơ quan là Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính, Hội đồng Kinh tế và phát triển xã hội quốc gia cùng Tổng cục Ngân sách, dựa trên Kế hoạch phát triển quốc gia, sau đó khung ngân sách phải được quốc hội phê duyệt, rồi được dùng làm văn kiện hướng dẫn việc chi tiêu của chính phủ
Các bộ trưởng không những không thể chi vượt trần đã được thỏa thuận, mà còn phải thương thuyết với các đảng cùng liên minh cầm quyền xem chi ngân sách đã được quốc hội duyệt như thế nào
Đó chính là lý do Thái Lan không sợ vỡ nợ nước ngoài Và đó cũng là lý do tại sao thống đốc Ngân hàng Nhà nước, vốn có chân trong bộ máy thiết kế ngân sách, đứng ra trấn an thị trường tài chính
2.2 Thực trạng nợ công ở Việt Nam
2.2.1 Quy mô nợ công Việt Nam gia tăng nhanh
Nợ công của Việt Nam bắt đầu tham gia vào bảng xếp hạng tín nhiệm quốc gia từ năm
2005 Chỉ số xếp hạng quốc gia đánh giá thực trạng khả năng trả nợ quốc gia và đánh giá mức
độ uy tín quốc gia Nếu được xếp hạng cao, chúng ta sẽ đi vay trên thị trường quốc tế với lãi suất
và chi phí thấp hơn
Nợ công có vị trí quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam Đây là nguồn tài trợ hàng đầu cho đầu tư phát triển trong nền kinh tế thông quan ngân sách nhà nước và là nguồn cung cấp vốn lớn thứ hai trong nền kinh tế với tỷ trọng 16-17%/ tổng vốn đầu tư toàn xã hội Đa phần vốn vay nợ công
Trang 9chiếm một tỷ lệ rất quan trọng trong vốn vay đầu tư phát triển.Về phân bổ, sử dụng vốn vay: Thứ nhất, chúng ta vay để bù đắp bội chi ngân sách; Thứ hai, vay để đầu tư từ TPCP cho y tế, giáo dục, giao thông, thủy lợi ; Thứ ba, vay để cho vay lại, chủ yếu đối với các công trình trọng điểm quốc gia đang cần huy động vốn; trong đó nguồn vay này chủ yếu từ nguồn vốn ODA
CÁC CHỈ TIÊU NỢ CÔNG VÀ NỢ NƯỚC NGOÀI CỦA QUỐC GIA
(Giai đoạn 2008-2014)
Nợ công so với tổng sản phẩm quốc
Nợ nước ngoài của quốc gia so với
Nghĩa vụ trả nợ nước ngoài trung,
dài hạn của quốc gia so với tổng kim
ngạch xuất khẩu hàng hóa và dịch
vụ (%)
Dư nợ của chính phủ so với GDP 44,6 43,2 39,4 42,6 46,4
Dư nợ của chính phủ so với thu
Nghĩa vụ trả nợ của chính phủ so
Nghĩa vụ nợ dự phòng so với thu
Hạn mức vay thương mại nước
ngoài và bảo lãnh nước ngoài của
chính phủ (Triệu USD)
2.000 3.500 3.500 1.800 2.800
(Nguồn: Bộ tài chính)
Quy mô nợ công hiện nay đang áp sát ngưỡng kiểm soát do quốc hội đề ra Nợ công tăng nhanh như vậy là do tác động của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu làm kinh
tế Việt Nam tăng trưởng chậm lại, thu ngân sách bị ảnh hưởng lớn trong khi nhu cầu chi tăng mạnh Thu NSNN gặp nhiều khó khăn nhưng vẫn phải giảm thu để hỗ trợ doanh nghiệp; đầu tư phát triển, xây dựng kết cấu hạ tầng; thực hiện các chính sách xã hội và tiền lương Vì vậy, giai đoạn 2011 - 2015, Việt Nam đã phát hành 335 nghìn tỷ đồng trái phiếu chính phủ (TPCP), gấp hơn 2,5 lần giai đoạn 2006 - 2010 (giai đoạn 2011 - 2014 đã phát hành 250 nghìn tỷ đồng, năm
2015 theo kế hoạch phát hành thêm 85 nghìn tỷ đồng), đồng thời đã đẩy mạnh giải ngân vốn
Trang 10ODA, vay ưu đãi và bảo lãnh vay để đầu tư các dự án hạ tầng giao thông, thủy lợi, năng lượng, y
tế, giáo dục, xây dựng nông thôn mới… theo nghị quyết của Đảng, Quốc hội
Trong giai đoạn 2011-2015, nợ công gia tăng nhanh chóng với mức 16,7%/năm Cuối năm
2015, về số tuyệt đối, dư nợ công lên đến 2.608 nghìn tỷ đồng, gấp 1,9 lần so với cuối năm 2011 (1.393 nghìn tỷ đồng) Về số tương đối, cuối năm 2015, nợ công/GDP ở mức 62,2%, áp sát ngưỡng kiểm soát 65% của quốc hội
Trước đây nợ công hầu hết là nợ nước ngoài hay vốn vay ODA với lãi suất từ 1% đến dưới 3% Từ năm 2010, Việt Nam gia nhập nhóm nước có thu nhập trung bình nên nợ nước ngoài có mức ưu đãi giảm dần Vì vậy nợ công dịch chuyển sang nguồn vay trong nước, tăng từ 40% năm
2011 lên 57% năm 2015.Cụ thể:
Về nợ nước ngoài: Đạt bình quân 3 tỷ USD/năm, tương đương 11% tổng vốn đầu tư toàn xã hội hiện nay 17% tổng vốn từ đầu tư NSNN
Về nợ công trong nước: Thực hiên chủ yếu qua phát hành trái phiếu chính phủ Về quy mô,
số lượng phát hành giai đoanh 2011-2015 đã tăng gấp 2,5 lần giai đoạn 2006-2010 Về kỳ hạn từ năm 2011-2013 TPCP ngắn hạn (1-3 năm) chiếm khoảng 77% khối lượng phát hành hàng năm (năm 2012, kỳ hạn phát hành bình quân là 2,9 năm, lãi suất bình quân 10%/năm; năm 2013 là 3,4 năm và 7,96%/năm; 10 tháng đầu năm 2014 là 4,84 năm và 6,81%/năm) dẫn đến nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ tăng nhanh trong ngắn hạn Hệ quả năm 2014 một lượng lớn TPCP đến hạn thanh toán và chính phủ phải liên tục phát hành TPCP do không thể đáp ứng Vì vậy để tránh rủi ro, Quốc hội đưa ra quy định về kỳ hạn TPCP là trên 5 năm vào năm 2015, theo đó tỷ trọng TPCP kỳ hạn dài đã tăng lên 46%
2.2.2 Việc sử dụng nợ công còn nhiều bất cập
Hiệu quả sử dụng không cao: Nền kinh tế có mô hình tăng trưởng theo chiều rộng, việc đầu tư dàn trải dẫn đến hiệu quả không cao, nhất là đầu tư công và DNNN Theo WB, ICOR của Việt Nam trong giai đoạn 2001-2005 là 4,88; giai đoạn 2006-2010 lên đến 6,96, giai đoạn 2011-2014 là 6,92
Một phần đáng kể nợ công được dùng để trả nợ thay cho việc đầy tư phát triển: Tỷ lệ trả nợ trong kỳ/dư nợ vay của Chính phủ và khoản vay được chính phủ bảo lãnh ở mức 14,2% năm
2014 và lên đến 16% vào năm 2015 Việc dùng 14%- 16% dư nợ công trong kỳ để trả nợ gây hạn chế đến đầu tư phát triển và chi để tăng năng suất lao động, giáo dục, y tế và các lĩnh vực thiết yếu khác
Cơ cấu chi ngân sách không bền vững ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng nợ công Trong giai đoạn 2011-2015 chi ngân sách chủ yếu là chi thường xuyên và mức tăng trưởng là 18,44%, chi đầu tư có xu hướng giảm, nhất là từ 2013 đến nay chỉ ở mức 4,8% năm