o số GVDN được đào tạo về nghiệp vụ sư phạm và kỹ năng nghề theo tiêu chuẩn quốc tế.,Số GVDN có trình độ thạc sĩ, tiến sĩ ngày càng tăng.. o Khả năng sử dụng tin học, ngoại ngữ cũng như
Trang 1 7 trường SP trọng điểm đã thành lập câu lạc bộ hiệu trưởng, có nhiều sinh hoạt, hội thảo xung quanh công tác nâng cao năng lực đội ngũ giảng viên
SP, xây dựng, phát triển chương trình đào tạo bồi dưỡng GV
- Về thực trạng đội ngũ giáo viên dạy nghề:
o Đội ngũ GVDN tăng nhanh về số lượng, năm 2013 có khoảng 39.500 GVDN, tăng gần 5 lần so với 2001, trong đó GVDN ở các trường cao đẳng nghề là 14.350, các trường trung cấp nghề 10.950, các trung tâm dạy nghề là 14.200
o Tỷ lệ giáo viên dạy tích hợp chỉ chiếm khoảng 51%
o số GVDN được đào tạo về nghiệp vụ sư phạm và kỹ năng nghề theo tiêu chuẩn quốc tế.,Số GVDN có trình độ thạc sĩ, tiến sĩ ngày càng tăng
o Nhiều GVDN chưa đạt chuẩn về kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm và kỹ năng nghề
o Khả năng sử dụng tin học, ngoại ngữ cũng như cập nhật công nghệ mới, ứng dụng tin học và các phương pháp dạy học hiện đại, phát triển chương trình, biên soạn giáo trình, tài liệu dạy nghề hạn chế
- Về thực trạng đào tạo đội ngũ GVDN:
Về mô hình đào tạo GVDN
2 mô hình là mô hình song song (kết hợp giữa đào tạo kiến thức chuyên môn, kỹ năng nghề với nghiệp vụ sư phạm trong suốt khóa học) và mô hình nối tiếp (đào tạo kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề trước sau đó sẽ đào tạo nghiệp vụ sư phạm)
Mô hình nối tiếp:
o Ưu điểm:tăng nhanh quy mô để đáp ứng nhu cầu về số lượng và cơ cấu ngành nghề của GVDN
o Hạn chế: bất cập về năng lực sư phạm của sinh viên do thời gian đào tạo phần này ngắn
Mô hình song song:
o Ưu điểm: nâng cao được chất lượng đào tạo
o Hạn chế: Không tăng được quy mô và chuyển dịch cơ cấu đào tạo GVDN theo cơ cấu đào tạo nghề
Trang 2Về cơ cấu ngành nghề đào tạo GVDN
o Có khoảng 450 danh mục nghề đào tạo ở trình độ trung cấp nghề và trên 400 danh mục nghề đào tạo ở trình độ cao đẳng nghề, tuy nhiên, các ngành đào tạo GVDN ở các trường ĐHSPKT chỉ mới đáp ứng được khoảng 10% so với cơ cấu đào tạo nghề
Về chương trình và tổ chức đào tạo GVDN
o Quan điểm xây dựng chương trình là tiếp cận mục tiêu (tiếp cận đầu ra), tuy nhiên, trong thực tế triển khai hầu hết các chương trình được xây dựng theo tiếp cận nội dung và chưa dựa trên kết quả phân tích nghề hoặc tiêu chuẩn năng lực thực hiện Các chương trình chi tiết vẫn được cấu trúc theo hệ thống môn học với hệ thống các phần, chương, bài diễn tả nội dung học vấn Các khối kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp được cấu trúc theo các môn lý thuyết và thực hành tách rời riêng biệt Mục tiêu chương trình không cụ thể và thiếu khả năng
đo lường, đánh giá Mặt khác nội dung chương trình chưa thể hiện rõ các NLTH mà SV phải đạt được sau quá trình đào tạo, các bài học trong chương trình chủ yếu trình bày hệ thống kiến thức của môn học hơn là việc hướng đến hình thành các NLTH cho sinh viên
Về tổ chức đào tạo
o Hiện nay việc đào tạo lý thuyết và thực hành được tổ chức tách rời nhau về cả thời gian và địa điểm, thông thường các bài học lý thuyết được dạy trước và các bài học thực hành được dạy sau và ít gắn với các công việc cụ thể của nghề