1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Y Học Cổ Truyền Bênh Học Nội Chương Bệnh Gan

61 406 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 1,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân loại viêm gan mạn ứng dụng trong thực hành lâm sàng : Căn cứ vào tổn thương mô học và tiến triển của bệnh, ngýời ta chia viêm gan mạn ra các loại sau từ nhẹ đến nặng : Viêm gan mạ

Trang 1

1

CHƯƠNG 3 CÁC BỆNH VỀ GAN

Y HỌC CỔ TRUYỀN

Khởi biên : TP.HCM THÁNG 10-2012

Biên soạn : Nguyễn Khắc Bảo

Trang 2

CHƯƠNG 3

CÁC BỆNH VỀ GAN

- Phương tây có câu “người Việt Nam chết trên đống thuốc” Nền y học cổ

truyền dân tộc có nhiều bài thuốc rất huyền diệu, tuy nhiên nhưng phương thuốc hay này đang bị chìm dần vào quên lãng và dần dần mất đi niềm tin từ chúng ta

- Người nghèo ở Việt Nam có rất ích điều kiện chăm sóc bởi nền y học hiện đại,

một khi họ mắc các bệnh hiểm nghèo thì chỉ có thể chờ chết, hoặc nếu có điều kiện thì đôi khi tây y cũng bó tay với nhiều trường hợp

- Với mục đích sưu tầm các bài thuốc hay dân gian để điều trị hầu hết các loại

bệnh, cũng như cung cấp những bài thuốc cổ truyền hay cho những ai thật sự đang rất cần và tin tưởng vào nó, một cứu cánh cho người nghèo mắc bệnh Người dùng trước khi sự dụng các bài thuốc này cần nghiên cứu thật kỉ các thông tin trong sách này, những vấn đề còn thắc mắc thì nên hỏi thầy thuốc đông y để tránh những việc đáng tiếc Mọi thắc mắc xin liên lạc tác giả qua Email : nkbao80@gmail.com

Lời tác giả

Trang 3

3

MỤC LỤC

CHƯƠNG 3 2

VẤN ĐỀ 1 : VIÊM GAN MẠN 4

1 Cây chó đẻ răng cưa……… 8

2 Một số bài thuốc từ lương y Trần Hoàng Bảo……… 10

VẤN ĐỀ 2 : XƠ GAN 13

1.Theo y hoc cổ truyền……… 17

2 Theo lương y Trần Hoàng Bảo……… 18

3.Theo bài giảng của ĐHYD Hà Nội……… 19

VẤN ĐỀ 3 : BỆNH CỔ TRƯỚNG 24

VẤN ĐỀ 4 : GAN NHIỄM MỞ 35

Lương y Trần Hoàng Bảo có đề cập về một bài thuốc gan nhiễm mở như sau………35

VẤN ĐỀ 5 : UNG THƯ GAN 38

1 Toa thuốc trị dứt bệnh ung thư gan……….……… 38

2 Một số bài thuốc từ lương y Trần Hoàng Bảo.……… 41

3 Bạch hoa xà……… 43

4 Chữa viêm gan vàng da……….43

VẤN ĐỀ 6 : XƠ GAN 44

VẤN ĐỀ 7 : TRỊ CÁC CHỨNG PHÙ THỦNG DO GAN MẬT 49

VẤN ĐỀ 8 : PHƯƠNG PHÁP OHSAWA LỌC GAN 54

VẤN ĐỀ 9 : BÀI THUỐC HAY TRỊ GAN HIỆU NGHIỆM 55

VẤN ĐỀ 10 : XÃ VÀ ĐU ĐỦ TRỊ HIỆU NGHIỆM UNG THƯ GAN VÀ NHIỀU LOẠI UNG THƯ KHÁC 58

Giải pháp tối ưu là đu đủ và lá xả……….58

Trang 4

CHƯƠNG 3 : GAN

VẤN ĐỀ 1 : VIÊM GAN MẠN

Viêm gan mạn là một trong những hình thái bệnh lý thường gặp ở gan do nhiều nguyên nhân gây ra với biểu hiện viêm và hoại tử ở gan kéo dài ít nhất 6 tháng Viêm gan mạn thường là hậu quả của viêm gan cấp, tuy nhiên ở nhiều trýờng hợp bệnh tiến triển âm

thầm và chỉ thể hiện ở giai đoạn mạn tính mà thôi Tiến triển của viêm gan mạn có thể khỏi

nhýng những trường hợp nặng thường dẫn tới xơ gan và ung thư tế bào gan ( đặc biệt là viêm gan mạn hoạt động do các virut viêm gan B, C )

Nguyên nhân gây ra viêm gan mạn có nhiều nhưng 3 loại chính được công nhận là : viêm gan mạn do virut, viêm gan mạn do thuốc và viêm gan mạn do tự miễn

Phân loại viêm gan mạn

1 Phân loại theo nguyên nhân:

- Viêm gan mạn do virut : Một số đặc điểm lâm sàng, đặc biệt là huyết thanh học cho phép chẩn đoán viêm gan do virut B, C và B + D ( không loại trừ còn có virut khác nữa )

- Viêm gan mạn tự miễn : Dựa vào chẩn đoán huyết thanh, ngýời ta phân ra các typ 1,2,3

- Viêm gan mạn do thuốc

- Viêm gan mạn không rõ nguyên nhân hay viêm gan mạn có nguồn gốc ẩn

2 Phân loại viêm gan mạn ứng dụng trong thực hành lâm sàng :

Căn cứ vào tổn thương mô học và tiến triển của bệnh, ngýời ta chia viêm gan mạn ra các loại sau ( từ nhẹ đến nặng ) : Viêm gan mạn tồn tại, viêm gan mạn tiểu thùy và viêm gan mạn hoạt động

a Viêm gan mạn tồn tại ( chronic persistent hepatitis ):

Trang 5

5

Thâm nhiễm tế bào viêm chỉ khu trú trong khoảng cửa, không xâm lấn vào tiểu thùy gan Không có hoại tử mối gặm hoặc hoại tử cầu nối, nhýng có thể có xõ hoá nhẹ quanh khoảng cửa Hình ảnh tái tạo các tế bào gan là thýờng thấy

- Biểu hiện lâm sàng của viêm gan mạn tồn tại : Rất mờ nhạt, ít triệu chứng và triệu chứng thýờng nhẹ ( mệt mỏi, chán ăn, buồn nôn ) Thể trạng bệnh nhân viêm gan mạn tồn tại hầu nhý bình thýờng Khám chỉ thấy gan to mà ít thấy các triệu chứng của viêm gan mạn khác Men transaminase tăng nhẹ

- Tiến triển của viêm gan mạn tồn tại : thýờng diễn biến chậm, giảm dần và có thể khỏi ít khi viêm gan mạn tồn tại tiến triển nặng lên thành viêm gan mạn hoạt động hoặc xơ gan ( ngoại trừ viêm gan mạn do virut viêm gan )

b Viêm gan mạn tiểu thùy ( chronic lobular hepatitis )

Cũng có thể nói viêm gan mạn tiểu thùy là một dạng của viêm gan mạn tồn tại Trýớc đây các tác giả chỉ phân chia viêm gan mạn làm 2 thể ( viêm gan mạn tồn tại và viêm gan mạn tấn công ), có nghĩa là viêm gan mạn tiểu thùy xếp vào viêm gạn mạn tồn tại.

- Về tổn thýõng mô học : ngoài thâm nhiễm viêm ở khoảng cửa còn thấy viêm lan cả vào trong tiểu thùy gan Trong tiểu thùy gan, có thể thấy ổ hoại tử gần nhý viêm gan cấp mức

độ nhẹ Giới hạn các tiểu thùy còn nguyên vẹn Có thể có xõ hoá nhẹ quanh khoảng cửa

- Về lâm sàng : viêm gạn mạn tiểu thùy biểu hiện các triệu chứng rõ hõn viêm gan mạn tồn tại, đôi khi có đợt bột phát giống nhý viêm gan cấp Men transaminase tăng vừa

- Tiến triển của viêm gan mạn tiểu thùy : giống nhý viêm gan mạn tồn tại, tức là chuyển thành viêm gạn mạn hoạt động và xơ gan là hiếm ( trừ do nguyên nhân virut )

c Viêm gan mạn hoạt động ( chronic active hepatitis )

Đặc điểm tổn thýõng mô học của viêm gan mạn hoạt động là sự thâm nhiễm dày đặc của các tế bào đõn nhân ở khoảng cửa và xâm lấn vào tiểu thùy gan ( ở viêm gan mạn do tự miễn có nhiều plasmocyt xâm nhập ) Hoại tử mối gặm và hoại tử cầu nối là hiện týợng tái tạo các đám tế bào tạo nên các tiểu thùy giả hoặc đảo lộn tiểu thùy khi tổ chức xõ phát triển mạnh Về tiêu chuẩn mô học của viêm gan mạn hoạt động ít nhất phải có là hoại tử mối gặm Hoại tử cầu nối có thể thấy ở viêm gan cấp nhýng ở viêm gan mạn hoạt động có

Trang 6

hoại tử cầu nối là biểu hiện tiến triển đến xơ gan bởi vì những vùng hoại tử cầu nối sẽ phát triển thành cầu xõ chia cắt các tiểu thùy gan hình thành các cục tân tạo ( nodules ) và phát triển tới xơ gan

II Viêm gan mạn do virut

Hầu nhý chỉ có virut viêm gan B, C và D mới gây viêm gan mạn

1.Viêm gan mạn B

Khả năng xuất hiện viêm gạn mạn B sau khi nhiễm virut viêm gan B thay đổi theo lứa tuổi Trẻ nhiễm virut viêm gan B sau đẻ thýờng không có biểu hiện triệu chứng nhýng 90% sẽ trở thành ngýời mang virut mạn tính Trẻ lớn và những ngýời lớn khi nhiễm virut viêm gan B lại thýờng có biểu hiện lâm sàng rõ rệt của viêm gan cấp nhýng nguy cõ thành mạn chỉ khoảng 1% Tuy vậy, viêm gan mạn B có thể xuất hiện ở bệnh nhân chýa có viêm gan B cấp

- Mức độ của viêm gan mạn B : rât khác nhau từ nhẹ đến nặng Đánh giá mức độ của viêm gan mạn B ngýời ta cũng căn cứ vào mô bệnh học, nhýng quan trọng hõn

là dựa vào mức độ nhân lên của virut viêm gan B ( HBV ) Trong giai đoạn nhân lên mạnh của HBV ( HBeAg + , HBV – DNA +, HBcAg+

trong tế bào gan ) thì mức độ nặng hõn Ngýợc lại trong giai đoạn không nhân lên của HBV ( HBeAg - , anti – HBe + , HBcAg – trong tế bào gan ) thì viêm gan mạn

B nhẹ hoặc chỉ là mang HBV không triệu chứng

- Tiến triển : nhiễm HBV mạn, đặc biệt là mắc từ khi sinh sẽ tăng nguy cõ dẫn đến ung thý tế bào gan Viêm gan mạn B hoạt động thì nhiều khả năng tiến triển đến xơ gan và k tế bào gan

2 Viêm gan mạn D ( viêm gan mạn do virut Delta )

Kể cả đồng nhiễm virut viêm gan D ( HDV ) với virut viêm gan B ( HBV ) hoặc bội nhiễm HDV trên bệnh nhân HBV đều có thể dẫn tới viêm gan mạn Nhýng khi đồng nhiễm thýờng làm nặng thêm viêm gan cấp và dể thành viêm gan ác tính, bội nhiễm HDV trên ngýời mang HBsAg mạn tính làm tăng khả năng tiến triển thành viêm gan mạn

- Biểu hiện lâm sàng của viêm gan mạn D hay viêm gan mạn B không phân biệt đýợc hay nói khác đi là viêm gan mạn D cũng có biểu hiện lâm sàng nhý viêm gan mạn B

Trang 7

7

- Đặc điểm huyết thanh học của viêm gan mạn D là có sự hiện diện của kháng thể anti – LKM ( Liver Kidney Microsomes – kháng thể kháng Microsome của gan, thận ) lýu hành trong máu ở bệnh nhân viêm gan mạn D có anti – LKM-3, khác với anti – LKM-1 có ở bệnh nhân viêm gan mạn tự miễn và viêm gan mạn C

3 Viêm gan mạn C

Là viêm gan mạn tiến triển thầm lặng, nhiều trýờng hợp không hề có triệu chứng và ngay cả men Transaminase cũng bình thýờng Chẩn đoán những trýờng hợp này chủ yếu dựa vào sinh thiết gan

- Biểu hiện lâm sàng : viêm gan mạn C cũng giống nhý viêm gan mạn B nhýng nói chung triệu chứng mờ nhạt hõn, hiếm gặp vàng da, tổn thýờng ngoài gan ít hõn, men Transaminase dao động và thấp hõn Triệu chứng thýờng thấy là mệt mỏi, xét nghiệm huyết thanh học một số trýờng hợp có thể thấy sự có mặt của kháng thể anti – LKM-1 nhý ở bệnh nhân viêm gan tự miễn Typ 2

- Về tiến triển : Có 50 – 70% số ca viêm gan mạn C tiến triển sau viêm gan C cấp, tiến triển tới xơ gan sau 10 năm là 20% Khoảng 50% bệnh nhân viêm gan mạn C sẽ thành xơ gan kể cả những bệnh nhân viêm gan mạn C không có triệu chứng và không có men Transminase tăng Nhýng đáng chú ý là những bệnh nhân nhiễm HCV – RNA với nồng độ cao và thời gian nhiễm lâu Viêm gan mạn C tiến triển tới

xơ gan và ung thý tế bào gan nhýng thýờng là rất chậm sau vài năm

III Viêm gan mạn tự miễn

- Là viêm gan mạn tiến triển do tự miễn có đặc điểm tiến triển liên tục tới xơ gan và suy gan, tỷ lệ tử vong cao tới 40% sau 6 tháng nếu không đýợc điều trị

- Về biểu hiện lâm sàng : khởi phát có thể âm thầm hoặc đột ngột ở những phụ nữ trẻ tuổi hoặc trung niên Những triệu chứng của viêm gan týõng tự nhý viêm gan mạn do virut nhýng thýờng thấy những biểu hiện tổn thýõng ngoài gan nặng nề hõn nhý : đau khớp, cýờng lách, viêm động, tĩnh mạch, viêm cầu thận, rối loạn đông máu

- Những trýờng hợp nặng thýờng dẫn tới xơ gan, suy gan và hôn mê gan Xơ gan và ung thý gan là những triệu chứng muộn của viêm gan mạn tự miễn

- Xét nghiệm máu ngoài men Transaminase và bilirubin tăng còn tháy Globulin tăng Kháng thể kháng nhân ( ANA ) và kháng thể cõ trõn thýờng thấy nhýng ít đặc hiệu

Trang 8

Viêm gan mạn tự miễn đýợc chia làm 3 Typ :

* Viêm gan mạn tự miễn typ 1 : Globulin máu cao, ANA ( + ) , hay gặp ở phụ nữ trẻ

* Viêm gan mạn tự miễn typ 2 : ANA ( - ) nhýng anti – LKM ( + ) giống nhý viêm gan mạn C

* Typ 2a : có anti – LKM 1 cao và đáp ứng với điều trị cocticoid ( thýờng gặp ở phụ

nữ trẻ Tây Âu

* Typ 2b : là viêm gan mạn tự miễn kết hợp với viêm gan mạn C có Globulin máu bình thýờng, anti – LKM 1 thấp đáp ứng või điều trị Interferon (thýờng ở ngýời lớn tuổi vùng Địa Trung Hải )

* Viêm gan mạn tự miễn typ 3 : không có ANA và anti – LKM 1 nhýng có kháng thể với kháng nguyên gan hoà tan ( đa số là nữ )

- Về tiến triển : những bệnh nhân ở mức độ vừa và nhẹ, tổn thýõng mô học ở mức hạn chế ( chỉ có hoại tử mối gặm, chýa có hoại tử cầu nối ) thì tiến triển đến xơ gan

là hạn chế Trong viêm gan mạn tự miễn nặng, men gan Aminotransferase tăng > 10 lần, Globulin máu cao, Marker cao, tổn thýõng mô học nặng ( hoại tử cầu nối hoặc tổn thýõng đa tiểu thùy), tiến triển đến suy gan và tử vong tới 40% trong vòng 6 tháng nếu không đýợc điều trị Những trýờng hợp khác có thể có biến chứng muộn :

xơ gan và ung thý gan

IV.Viêm gan mạn do thuốc và nhiễm độc

ĐIỀU TRỊ

1 Cây chó đẻ răng cưa có tên khoa học là Phyllanthus urinaria L., Họ Thầu dầu

– Euphorbiaceae hay nhiều người gọi cây chó đẻ răng cưa là Chó đẻ thân xanh; Diệp

hạ châu trắng

Hình ảnh cây chó đẻ (Diệp hạ châu)

Trang 9

9

Đặc điểm thực vật, phân bố của cây chó đẻ răng cưa: Cây chó đẻ răng cưa là cây

thảo, cao 40cm, lá mỏng màu lục, mốc mặt dưới, mọc so le như một lá kép với nhiều lá chét Hoa đơn, xanh nhạt, nhỏ Quả nang hình cầu, đường kính khoảng 2mm, mọc thành hàng dọc cành nên có tên “Diệp hạ châu”, mọc dưới lá, mỗi quả có

3 mảnh vỏ, trong mỗi mảnh chứa 2 hạt nhỏ hình tam giác Chó đẻ răng cưa mọc hoang dại khắp nơi trong các vùng, ven bờ ruộng, nương rẫy, chưa được gieo trồng

Bộ phận dùng, thu hái, chế biến của cây chó đẻ răng cưa: Dùng toàn cây chó đẻ

răng cưa, thu hái vào mùa hè, lúc quả xanh chắc, rửa sạch, dùng tươi giã nát vắt lấy nước cốt để uống, bã đắp vết thương hoặc phơi trong râm cho khô để dùng dần

Công dụng, chủ trị cây chó đẻ răng cưa: Vị đắng, ngọt, mát, có tác dụng sát trùng,

tiêu viêm mụn nhọt, vết sưng do côn trùng đốt; lợi tiểu tiện, bảo vệ gan, điều hòa kinh nguyệt, lợi sữa, chữa ỉa chảy, viêm ruột

Liều dùng cây chó đẻ răng cưa: Dạng tươi 40 – 80g/ lần, dùng nhiều ngày đến khi

khỏi hẳn bệnh mà không sợ bị độc

Trang 10

Dùng khô 40g, sắc uống ngày 3 lần

Bài thuốc có cây chó đẻ răng cưa:

Chữa viêm gan cấp hoặc mãn mức độ vừa và nhẹ , xét nghiệm HbsAg (+): cây chó

đẻ răng cưa 40g, chua ngút 15g, cỏ nhọ nồi 15g, nước 3 bát (600ml) sắc lấy 1 bát (200ml), chia làm 3 lần uống trong ngày, điều trị nhiều đợt đến khi khỏi bệnh

Chữa xơ gan cổ trướng thể nặng : cây chó đẻ răng cưa đắng sao khô 100g sắc

nước 3 lần Trộn chung nước sắc, thêm 150g đường, đun sôi cho tan đường, chia nhiều lần uống trong ngày (thuốc rất đắng), liệu trình 30-40 ngày Khẩu phần hàng ngày phải hạn chế muối, tăng đạm (thịt, cá, trứng, đậu phụ)

Thị trường đang lưu hành thuốc Liv – 94 là chế phẩm từ bài thuốc trên, phù hợp với điều kiện Việt Nam, có thể nghiên cứu ứng dụng tại tuyến cơ sở

Người bệnh quan tâm có thể tìm đọc cách chữa bênh thoát vị hiệu quả từ thuốc nam

lành tính

2 Một số bài thuốc từ lương y Trần Hoàng Bảo

+Phương 1 : Cam lộ tiêu độc đơn

- Thành phần: Bạch khấu 9g, Thạch xương bồ 9g, Bạc hà 9g, Hoắc hương 12g, Hoàng cầm 12g, Xạ can 12g, Liên kiều 12g, Nhân trần 30g, Hoạt thạch 30g, Mộc thông 10g, Xuyên bối mẩu 10g

- Cách dùng : Sắc uống, 1 ngày 1 thang, phân 2 lần uống

- Chứng thích ứng: Viêm gan vàng da

- Hiệu quả điều trị: Phương này điều trị 182 ca, hiệu quả điều trị tốt

+ Phương 2 : Kim Nhân Lục Nhất Tán

- Thành phần: Kim tiền thảo 10~20g, Nhân trần 30~60g, Hoạt thạch 20~30g, Cam thảo 5 ~ 10g, Chỉ xác 3~6g

- Cách dùng: Sắc uống, 1 ngày 1 thang, phân 3 lần uống

Thấp nhiệt nặng gia Hoàng bá; Táo bón gia Đại hoàng; Thực trệ gia Sơn tra, La bặc

tử

- Chứng thích ứng: Trẻ con viêm gan cấp vàng da

- Hiệu quả điều trị: Phương này điều trị 100 ca, đều điều trị khỏi (Triệu chứng lâm sàng tiêu mất, công năng gan khôi phục bình thường).Liệu trình điều trị ngắn nhất

10 ngày, dài nhất 16 ngày

Trang 11

11

- Chủ trị: Viêm gan truyền nhiễm cấp tính

- Thành phần: Linh chi 10g, Nhân trần 30g

- Cách dùng: Sắc nước uống, mỗi ngày 1 thang, uống liền 10 ~ 15 ngày

+ Phương 4:

- Chủ trị: Hòang đản

- Thành phần: Bạch hoa xà thiệt thảo 60g, Bạch mao căn 30g

- Cách dùng: Sắc nước, phân 2 lần uống, mỗi ngày 1 thang

+ Phương 6: Kiện Tỳ Sơ Can Ẩm

- Thành phần: Thương truật 9g, Bạch truật 9g, Quế chi 3g, Phục linh 9g, Hậu phác 6g, Uất kim 6g, Mộc qua 6g; Cốc, Mạch nha đều 12g, Bán hạ 9g, Cam thảo 3g, Thanh bì 6g,Trần bì 6g

- Công năng: Kiện Tỳ táo thấp, sơ can lý khí

- Cách dùng: Sắc uống, mỗi ngày 1 thang

- Chủ trị: Viêm gan mạn tính, xơ gan (thời kỳ đầu)

- Gia giảm:

*Hoàng đản gia Nhân trần 30g, Chi tử 12g

*Sườn phải chướng đau gia Khương hoàng 5g, Bạch thược 9g

*Tiểu ít gia Trư linh, Phục linh đều 15g, phòng ngừa viêm gan tái phát, mỗi tháng uống 7 thang hoặc chế viên hoàn thường uống

Trang 12

- Chủ trị: Viêm gan thể hoàng đản

- Thành phần: Nhân trần 30g, Chi tử 9g, Hổ trượng 20g, Bạch mao căn 30g

- Cách dùng: Sắc nước uống, mỗi ngày 1 thang

(Lương y Trần Hoàng Bảo)

Trang 13

13

CHƯƠNG 3 : GAN

VẤN ĐỀ 2 : XƠ GAN

Xơ gan :

Trang 14

Bệnh gan do rượu và xơ gan :

Xơ gan sau khi nhiễm virus (xơ gan sau hoại tử)

Xơ gan do tim

Trang 15

15

Trang 16

Xơ gan do mật nguyên phát

Xơ gan do wilson

Hemochromatosis

Porphyria cutanea tarda (PCT)

Trang 17

17

1.Theo y hoc cổ truyền

Trang 18

2 Theo lương y Trần Hoàng Bảo

+ Phương 1:

- Thành phần: Hoàng kỳ, Đảng sâm, Sơn dược mỗi vị 30 ~60g; Toàn đương qui, Thục địa, Phục linh mỗi vị 20 ~ 25g; Bạch truật, Nhân trần mỗi vị 15~20g; Miết giáp, Địa miết trùng mỗi vị 10~ 15g; Hoàng tinh, Trần bì mỗi vị 8 ~ 12g

- Cách dùng: Thuốc trên sau khi sắc 3 lần, hợp các dịch thuốc lại, phân 2~3 lần uống, mỗi ngày 1 thang, 1 tháng là 1 liệu trình

- Thành phần: Tiên bạch mao căn 100~150g, Hoàng kỳ 40~50g; Trạch tả, Đại phúc

bì, Phục linh, Bạch truật mỗi vị 25~30g; Sa sâm, Ích trí nhân, Kê nội kim, Lô căn, Sinh cam thảo mỗi vị 10~15g

- Cách dùng: Mỗi ngày 1 thang, phân 2 ~ 3 lần uống, 1 tháng là 1 liệu trình

- Cách dùng: Mỗi ngày 1 thang, sắc phân 3 lần uống

- Chứng thích ứng: Xơ gan bụng nước (Can ngạnh hóa phúc thủy)

- Hiệu quả trị liệu: Dùng phương này điều trị bệnh nhân xơ gan bụng nước 66 ca, trong đó trị khỏi 49 ca, hiệu quả rõ 10 ca, hữu hiệu 3 ca, vô hiệu 4 ca

+ Phương 4:

- Thành phần: Đảng sâm, Hoàng kỳ, Xa tiền tử, Đình lịch tử mỗi vị 30 ~40g; Tam lăng, Nga truật, Đan sâm, Đại phúc bì, Tiêu sơn tra mỗi vị 20 ~30g; Bạch thược, Toàn đương qui, Uất kim, Phục linh mỗi vị 15 ~20g; Hoa tiêu, Sinh cam thảo mỗi vị 6~10g; Hổ trượng, Bạch hoa xà thiệt thảo mỗi vị 25g ~35g

- Cách dùng: Thuốc trên sắc uống, mỗi ngày 1 thang, phân 2 ~3 lần uống, 1 tháng là

1 liệu trình

- Chứng thích ứng: Xơ gan bụng nước

Trang 19

19

- Hiệu quả trị liệu: Dùng phương này điều trị bệnh nhân xơ gan bụng nước 89 ca, sau khi dùng thuốc 1~3 liệu trình, trong đó trị khỏi 55 ca, hiệu quả rõ 12 ca, hữu hiệu 15 ca, vô hiệu 7 ca

+ Phương 5: Thương truật Bạch truật trị xơ gan bụng nước

- Thành phần: Thương truật, Bạch truật mỗi vị 10g; Thanh bì, Trần bì mỗi vị 9g; Hậu phác 9g, Chỉ thực 9g, Hương phụ 6g, Đinh hương 6g, Sa nhân 10g, Phục linh 10g, Phúc bì 15g, Trư linh 15g, Trạch tả 15g, Đăng tâm 6g, Sanh khương 3 lát

- Cách dùng: Sắc nước uống

- Công hiệu: Chủ trị Xơ gan bụng nước (Can ngạnh hóa phúc thủy)

+ Phương 6: Kiện Tỳ phân tiêu thang trị xơ gan bụng nước

- Thành phần: Hoàng kỳ, Sơn dược, Đan sâm mỗi vị 20g; Ý dĩ nhân, Xa tiền tử, Đại phúc bì mỗi vị 30g; Đảng sâm, Phục linh, Bạch truật, Tiên linh tỳ, Miết cốt mỗi vị 15g; Trạch tả, Uất kim, Thanh bì, Trần bì mỗi vị 12g; Phụ tử, Cam thảo mỗi vị 6g

- Cách dùng: Sắc nước uống, mỗi ngày 1 thang, 10 ngày là 1 liệu trình

- Công hiệu: Trị Xơ gan bụng nước (Can ngạnh hóa phúc thủy)

(Lương y Trần Hoàng Bảo)

3.Theo bài giảng của ĐHYD Hà Nội

Trang 21

21

Trang 23

23

Trang 24

CHƯƠNG 3

VẤN ĐỀ 3 : BỆNH CỔ TRƯỚNG

Bệnh cổ trướng thuộc vào loại “TỨ CHỨNG NAN Y” (Phong – Lao – Cồ - Nại), trước đây ai đã mắc vào một trong 4 chứng bệnh này hầu như vô phương chữa chạy,

chỉ còn đợi chết Tuy ngày nay khoa học đã chặn được chứng phong cùi và ho lao,

còn chứng cồ trướng hầu như các bệnh viện đều bó tay

Bệnh cổ trướng nguyên nhân do tì vị hư, không vận hóa được các vật thực, nên nó thành nước, tích chứa trong tạng phủ, làm cho bụng căng như cái trống, hay như bọng cóc Có rút nước ra bao nhiêu, nó lại căng lên ngay Rất may, chúng tôi đã học được cách chữa trị bệnh này rất đơn giản do L.M Paul A.B khi còn là các Thầy đi giúp xứ, đã chứng kiến 1 thầy bị chứng bệnh trên được chữa lành như một ơn lạ Chúng tôi đã áp dụng cách chữa trị đó cho 2 trường hợp sau: LM Phêrô TR.Đ bị bệnh này, được chở tới bệnh viện St John, Joplin, MO Từ khi vô bệnh viện thì bụng mỗi ngày mỗi căng lớn, dù đã rút nước ra nhiều lần, rồi tới mặt và chân cũng sưng phù Bệnh viện cho về nhà đợi chết Tất cả những bà con thân thuộc, tới thăm

từ giã lần sau hết, ai cũng nghĩ rằng Ngài chỉ còn sống thêm được vài ngày là cùng

Chúng tôi tìm được 1 ký hành đỏ , giã một nắm to, nấu sôi kỹ, gạn nước cho Ngài uống, uống được một lúc Ngài đòi đi tiểu, kể từ đó Ngài đi tiểu rất nhiều lần, cả đêm cả ngày Sau khi uống được 2,3 lần, bụng và chân xẹp xuống bình thường Hiện nay Ngài đã 92 tuổi mà vẫn còn tỉnh táo, không lẫn Cách đây gần 2 năm, anh

Nguyễn H cũng mắc chứng bệnh cồ trướng, được chở tới bệnh viện cấp cứu,

nhưng bệnh viện cũng bó tay, không làm được gì cho anh, nhưng lại không cho về nhà; chị H., vợ anh, gọi điện thoại xin nhà Dòng cầu nguyện, chị kể cho tôi tình trạng bệnh của anh, tôi bảo chị nấu hành ta rồi rót vào chai đem vô nhà thương cho anh uống, vì là đồ ăn không sợ công thuốc Tây Chị cấp tốc làm theo tôi chỉ, anh cũng đi tiểu cả ngày cả đêm và được khỏi, trước sự bỡ ngỡ của mọi người, nhưng chị không dám nói ra

Theo Từ Điển Tra Cứu Đông Y Dược thì bệnh này được mô tả

BỆNH HỌC:

Trang 25

25

ĐẠI CƯƠNG

Bình thường ở màng bụng chỉ là một khoảng trống giữa lá Tạng và lá thành Trong trường hợp

bị bệnh hoặc khi có rối loạn điều hòa động và thủy tĩnh học của cơ thể, dịch thể xuất hiện trong

ổ màng bụng, gọi là Cổ Trướng

Dịch đó có thể lưu thông trong khắp ổ màng bụng, gọi là Cổ trướng tự do Cũng có trường

hợp dịch đó khu trú trong một vùng của ổ màng bụng bởi các màng dính tạo thành vách ngăn,

và đau lưng, không tiểu tiện được”

Sách Chư Bệnh Nguyên Hậu Luận – Thủy Cổ Hậu viết: “ðây là do Thủy độc khí kết tụ ở trong khiến cho bụng to dần, có tiếng nước óc ách, muốn uống nước, da đen sạm giống như bị phù, gọi là chứng Thủy cổ”

Sách Y Môn Pháp Luật viết: “Phàm có các chứng Trưng Hà, tích khối, bỉ khối, tức là có gốc rễ của bệnh Trướng, tích lũy ngày tháng, bụng to như cái chum, gọi là chứng ðơn phúc trướng” Sách Đan Khê Tâm Pháp viết: “Trong đục lẫn lộn, toại đạo bị ủng tắc, thấp và nhiệt cùng phát sinh sẽ thành trướng đầy”

Sách Trương Thị Y Thông viết: “Người nghiện rượu bị bệnh trướng bụng như cái đấu, đó là thấp nhiệt làm hại Tỳ Vị tuy ăn vào được nhưng Tỳ không vận hóa, cho nên thành chứng Bỉ chướng”

Cổ trướng là một trong tứ chứng nan y: Phong (chứng kinh phong, động kinh), Lao

(bệnh lao), Cổ (cổ trướng), Lại (phong cùi)

Người xưa, tùy thể bệnh còn gọi các tên Thủy cổ, Trùng cổ, Tri thù cổ (có mạch sao), ðơn phúc trướng Các học giả đời sau theo nguyên nhân bệnh chia làm 4 loại: Khí cổ,

Trang 26

Huyết cổ, Thủy cổ, Trùng cổ

Nhưng khắ huyết, thủy cổ có liên quan mật thiết chứ không xuất hiện riêng lẻ mà chỉ có cái nào

là chắnh mà thôi

Chứng cổ trướng trên lâm sàng gặp trong nhiều loại bệnh như Xơ Gan Cổ Trướng, Hội

Chứng Gan Lách To, Thận Hư Nhiễm Mỡ, Lao Màng Bụng, Ung Thư Ổ Bụng Xem

thêm bài Xơ Gan

NGUYÊN NHÂN

Theo Y Học Hiện đại:

Trong cổ trướng tự do, dịch thâm nhập vào ổ màng bụng có thể có hai nguồn gốc:

Ớ Từ màng bụng tiết ra, do màng bụng bị nhiễm khuẩn, bị kắch thắch: đó là Cổ trướng xuất tiết (biểu hiện trong xét nghiệm sinh hóa qua phản ứng Rivalta dương tắnh và đậm độ protein cao) Gặp trong Lao màng bụng, Ung thư màng bụng tiên phát hoặc hậu phát

Ớ Từ các tổ chức chung quanh màng bụng thẩm thấu vào ổ bụng đó là Cổ trướng thẩm thấu (Biểu hiện qua Rivalta âm tắnh có đậm độ protein thấp) Các trường hợp bệnh lý gây ứ trệ tuần hoàn hồi quy hoặc ứ trệ hệ thống tĩnh mạch cửa và các trường hợp gây phù nề nhiều do thay đổi áp lực keo trong máu, do ứ NaCl hoặc do cường aldosteron thứ phát đều có thể gây cổ trướng thẩm thấu Thường gặp trong

Xơ Gan, Ung Thư Gan, Viêm Tắc Tĩnh Mạch Cửa, Viêm Thận Mạn, Thận Hư Nhiễm Mỡ, Suy Tim Kéo Dài, Suy Dinh Dưỡng

Theo các sách đông y, qui nạp lại có mấy nguyên nhân sau:

Rối loạn tình chắ (thất tình): Sự rối loạn tình chắ con người sinh chứng cổ

trướng, thắ dụ như hay tức giận hại can, can khắ uất làm tổn thương tỳ khắ (can khắc tỳ), chức năng vận hóa của tỳ rối loạn gây nên bệnh Mặt khác, ưu tư lo lắng nhiều làm hại tỳ (đây là yếu tố tinh thần ảnh hưởng xấu đến bệnh tật)

Ăn uống thiếu điều độ: Ăn quá no, nhiều chất béo, mỡ, uống nhiều rượu bia

cũng hại tỳ khiến cho chức năng vận hóa của Tỳ bị rối loạn sinh bệnh

Bệnh tật lâu ngày (nhất là bệnh gan thận) làm cho cơ thể, tạng phủ mà chủ yếu

là tỳ thận hư nhược, vận hóa rối loạn sinh cổ trướng

Lao lực, phòng dục quá độ, tinh, khắ huyết suy giảm cũng gây tổn thương can, tỳ,

thận

Một số nguyên nhân khác như trùng tắch (chủ yếu là hấp huyết trùng

(schistospmiasis), hàn tắch (do ăn nhiều chất sống lạnh), hàn nội sinh tắch tụ ở trung tiêu làm tổn thương tỳ vị

Trang 27

27

Bệnh lý chủ yếu là do 3 tạng Can, Tỳ, Thận bị tổn thương: Can khí uất kết, mạch lạc không thông đạt, khí huyết tích tụ gây bỉ mãn Tỳ vị hư yếu thủy cốc đình trệ, bệnh lâu ngày thận khí suy không chủ được thủy gây ra cổ trướng Ở mức độ nhất định, bệnh của tâm và phế (tâm chủ huyết, phế chủ khí) cũng ảnh hưởng đến sự hình thành cổ trướng

Chuẩn đoán

Biểu Hiện Của Cổ Trướng

Tùy theo số lượng dịch nhiều hoặc ít trong ổ màng bụng mà cổ trướng thuộc loại nhiều, trung bình hoặc ít Cổ trướng càng to, càng dễ chẩn đoán

Nhìn: Bụng to, xệ xuống khi đứng và bè sang hai bên khi nằm ngửa, rốn lồi

thường lồi nhiều hoặc ít

Sờ: Bụng mềm hoặc căng nhiều hoặc ít tùy số lượng nước trong ổ màng bụng Gõ: Là dấu hiệu quan trọng nhất Bảo người bệnh nằm nghiêng sang bên phải rồi bên

trái, thầy thuốc gõ ở vùng thấp của bụng trong mỗi tư thế đó Bình thường các vùng đó

dù ở tư thế nào cũng vẫn trong Khi có cổ trướng, do dịch tập trung vào các vùng thấp,

gõ sẽ thấy các vùng đó bị đục và giới hạn trên của vùng đục là một đường cong ngửa lên trên (một yếu tố cần chú ý để phân biệt với nang nước) Gõ đục vùng thấp không những

có giá trị xác định cổ trướng mà còn xác định cổ trướng đó là loại cổ trướng tự do

Điều Trị

BIỆN CHỨNG LUẬN TRỊ

Biện chứng luận trị cổ trướng thường chia làm 2 thể bệnh chính:

Thực Trướng là bệnh mới mắc, cơ thể người bệnh còn khỏe, phép trị chủ yếu là

khu tà bao gồm hành khí, tiêu tích, trục thủy, phá ứ

Hư Trướng là bệnh đã lâu ngày, cơ thể người bệnh yếu, phép trị chủ yếu là bổ

hư, tư dưỡng can, kiện tỳ, ích thận là chính

Tuy nhiên chứng cổ trướng đa số là bản hư tiêu thực, cho nên phép trị chính vẫn là phù

chính công tà, tiêu bản kiêm trị

Thực Trướng

Khí Trệ Thấp Ứ: Mạng sườn đau có lúc, ấn có cục mềm, tức, bụng đầy, ăn ít, ợ

hơi, tiểu ít, rêu lưỡi trắng nhạt, mạch Huyền

ĐIỀU TRỊ: Sơ can, lý khí, trừ thấp

Dùng bài Sài Hồ Sơ Can Tán gia giảm (Cảnh Nhạc Toàn Thư): Sài hồ, Chỉ xác, Thược dược, Cam thảo, Hương phụ, Xuyên khung

Trang 28

(Sài hồ, Bạch thược, Xuyên khung, Cam thảo, Chỉ xác, Hương phụ sơ can, lý khắ, kiện tỳ) Thêm Xa tiền tử, Trư linh, Trạch tả để lợi thấp)

Bụng đầy thêm Mộc hương, đại phúc bì để hành khắ Trường hợp nặng, thêm đại hoàng, Nhân trần, Chi tử để thanh hóa thấp nhiệt Hàn thấp bụng đầy, tiêu lỏng, thêm 'Hương Sa Lục Quân Hoàn' mỗi lần 6 Ờ 8g, ngày 2 lần với nước gừng

Nhiệt Uất Huyết Ứ: Bụng đầy cứng, đau, sắc mặt vàng sậm hoặc da mặt vàng,

đầu cổ lưng ngực bụng có vết máu vạch, môi tắm, bứt rứt, miệng khô, tiểu ắt, nước tiểu vàng, táo bón, chất lưỡi đỏ, rêu vàng dày, mạch Huyền Sác

đIỀU TRỊ: Thanh nhiệt, lợi thấp, hoạt huyết, hóa ứ

Dùng bài Nhân Trần Cao Thang (Thương Hàn Luận): Nhân trần, Sơn chi, đại hoàng, hợp với Hóa Ứ Thang gia giảm (Nghiệm Phương): đương qui, Xắch thược, đào nhân, Hồng hoa, đan sâm, Sơn giáp, Bạch truật

(Nhân trần, Sơn chi, đại hoàng để thanh nhiệt, lợi thấp, tiêu độc; đ ương quy, Xắch thược, đơn bì, đơn sâm, Thanh bì, Hương phụ để hành khắ, hoạt huyết, hóa

ứ Có thể thêm Gừng, Táo để hòa trung)

Bụng nước nhiều có thể dùng 'Bị Cấp HoànỖ để trục thủy (Kim Quĩ Yếu Lược): đại hoàng, Ba đậu, Can khương Lượng bằng nhau Ba đậu ép hết dầu thô, tán bột mịn, hoàn với mật ong Mỗi lần uống 1 - 2g

Hư Trướng

Tỳ Thận Dương Hư: Bụng đầy trướng, về chiều tối nặng hơn, mệt mỏi, sợ lạnh,

chân tay lạnh hoặc 2 chân phù lõm, tiểu ắt, sắc mặt vàng nhợt hoặc tái nhợt, lưỡi tắm nhợt, mạch Trầm Tế Huyền

đIỀU TRỊ: Ôn bổ tỳ thận, hành khắ lợi thủy

Dùng bài Chân Vũ Thang (Thương Hàn Luận): Thục Phụ tử, Sinh khương, Bạch truật, Bạch thược

Phối hợp với Ngũ Bì Ẩm gia giảm (Trung Tàng Kinh) Tang bạch bì, Sinh khương bì, đại phúc bì, Bạch linh bì, Trần bì, lượng bằng nhau, chế thành thuốc tán Mỗi lần uống 8 Ờ 12g

(Thục Phụ tử ôn bổ tỳ thận, Bạch truật, Bạch linh kiện tỳ lợi thủy, đại phúc bì, Trần bì, Tang bạch bì hành khắ lợi thủy, Sinh khương ôn tán thủy khắ, tăng tác dụng các thuốc lợi thủy; Bạch thược dưỡng can, chỉ thống, điều hòa tắnh nóng của Phụ tử)

Có thể cho uống thêm Thận Khắ Hoàn (Tế Sinh Phương): Thục địa Sơn dược, Sơn thù, đan bì Phục linh, Trạch tả, Phụ tử, Quế nhục, Ngưu tất, Xa tiền để tư âm, trợ dương, hóa khắ, lợi thủy

Can Thận Âm Hư: Bụng đầy trướng, nổi gân xanh, người gầy, da khô nóng, sắc

da sạm đen, môi tắm, miệng khô, bứt rứt, răng và nướu răng chảy máu hoặc chảy

Trang 29

29

máu cam, tiểu ắt, vàng đậm, thân lưỡi thon, đỏ thẫm, khô, mạch Huyền Tế Sác

ĐIỀU TRỊ: Tư dưỡng can thận, lương huyết, hóa ứ

Dùng bài Nhất Quán Tiễn (Liễu Châu Y Thoại): Sa sâm Mạch môn, đương quy, Sinh địa, Câu kỷ tử, Xuyên luyện tử

Hợp với Cách Hạ Trục Ứ Thang gia giảm (Y Lâm Cải Thác): Ngũ linh chi, đương qui, Xuyên khung, đào nhân, Xắch thược, đơn bì, Ô dược, Diên hồ sách, Cam thảo, Hương phụ, Hồng hoa, Chỉ xác

(Sinh địa, Bắc Sa sâm, Mạch môn, Kỷ tử tư dưỡng can thận; đương qui dưỡng huyết hòa can; Xắch thược, đơn bì thêm Huyền sâm, địa cốt bì lương huyết; Mao căn lương huyết, chỉ huyết; Ô dược, Hương phụ, Xuyên khung, đào nhân, Hồng hoa hành khắ, hoạt huyết, chỉ thống)

Trường hợp bệnh nhân hôn mê, sốt cao cần dùng viên An Cung Ngưu Hoàng Hoàn (Ôn Bệnh điều Biện): Ngưu hoàng, Uất kim, Tê giác, Hoàng liên, Chu sa, Băng phiến, Trân châu (Ngọc trai), Sơn chi, Hùng hoàng, Hoàng cầm, Xạ hương

để cấp cứu, lương huyết, giải độc, thanh nhiệt, khai khiếu

Trường hợp cổ trướng nặng gây nên khó thở cần công trục cổ trướng, có thể dùng một trong những bài sau: Bị Cấp Hoàn (Ba đậu bỏ vỏ, ép hết dầu, đại hoàng, Can khương, lượng bằng nhau, sấy khô, tán bột mịn, luyện mật ong, làm viên), mỗi lần uống 1Ờ2g với nước ấm Ngũ Công Tán (Khiên ngưu tử 120g, Tiểu hồi hương 30g, tán bột, làm viên Mỗi lần uống 1,5Ờ3g, nuốt ngày 1Ờ2 lần Gia Vị Thập Táo Thang: Đại kắch (chế dấm), Nguyên hoa, Cam toại, Hổ phách, Trầm hương, Hắc Bạch sửu, lượng bằng nhau, tán bột mịn, trộn đều) mỗi lần uống l,5-3g với nước sắc Táo tàu Chu Xa Hoàn (Cam toại, Nguyên hoa, đại kắch, đại hoàng, Hắc sửu, Mộc hương, Trần bì, Thanh bì, Khinh phấn, Binh lang) Mỗi lần uống 07,5 Ờ 1g

Nói chung cổ trướng là một chứng bệnh nan y trong nhiều loại bệnh nan y cho nên trong điều trị cần hết sức thận trọng Cần kết hợp với phương pháp điều trị Tây y, thắ dụ như có thể vừa cho thuốc trục thủy vừa phải truyền dịch cho khỏi mất tân dịch hoặc đối với các tình huống bệnh nguy kịch cần kết hợp Tây y cấp cứu kịp thời

Những bài thuốc trục thủy có thể dùng trị chứng cổ trướng (trị tiêu):

Ớ Bột Hắc, Bạch sửu Mỗi lần 1,5 Ờ 3g, ngày uống 1 Ờ 2 lần

Ớ Ngô công tán bột, Hắc bạch sửu 120g, Tiểu hồi hương 3 Ờ 5g Tán bột mịn, mỗi lần uống nuốt 1,5 Ờ 3g, ngày 1 Ờ 2 lần

Ớ Bột Cam toại, mỗi lần uống nuốt 0,5 Ờ 1g Thuốc xổ mạnh vì vậy cần lưu ý lúc dùng

Có thể dùng thang Lý Ngư Xắch Tiểu đậu Thang: Cá chép 1 con 500g, đánh vảy sạch, bỏ lòng ruột Xắch tiểu đậu 60g, không cho muối, nấu chắn nhừ lọc qua vải lấy nước uống,

Trang 30

ngày uống 1 thang, uống liền trong 2–3 tuần có kết quả tốt

BỆNH ÁN

BỆNH ÁN CỔ TRƯỚNG

(Trích trong Trung Y Lâm Sàng Chẩn Liệu Bách Khoa Toàn Thư )

Chu X, nữ, 35 tuổi

Bệnh sử: Tháng 3-1965, sau khi sinh nở, kém ăn, yếu sức Trước đây 2 tuần, thấy đi tiểu

ít, trướng bụng, chân phù Năm 1958 sau lần sinh thứ tư, cũng phát bệnh như vậy Xét nghiệm: Vòng bụng 103 cm, thể trọng 138 cân (cân Trung quốc) Tròng trắng mắt mầu vàng, da vàng chưa rõ rệt, chưa xuất hiện dấu mạng nhện (dấu sao) Tim phổi bình thường, Gan Lách không to, gõ có âm đục và chi dưới phù, ấn lõm (+)

CHẨN ĐOÁN: Cổ trướng (xơ Gan phúc thủy)

Y ÁN: Bệnh nhân sau sinh nở khí huyết đều suy, Tỳ Vị yếu, thủy thấp ứ đọng đến nỗi bụng to như cái trống, chân phù, ăn không ngon, thấp uất hóa nhiệt, nung nấu không giải được cho nên mặt và mắt vàng, tiểu ít và đỏ Dùng các phương thuốc ích khí, thanh nhiệt, lợi thấp, bệnh không giảm Đó là thủy tà bành rường, chính khí không thắng nổi

tà khí gây nên Giờ nên coi trọng lợi thủy, hỗ trợ thuốc ích khí Cho dùng Mộc phòng kỷ 12g, Xuyên tiêu mục 12g, ðiều đình lịch 12g, Sinh xuyên quân 8g, Tang bạch bì 16g, đại phúc bì 12 g, Xích linh 12g, Trư linh 12g, Xa tiền tử 40g, Hoàng kỳ 20g, Trần bì 8g, Hồng hoa 6g Sau khi uống thuốc 1 tuần, lượng tiểu tiện chưa tăng rõ rệt, nhưng trướng bụng hơi giảm, ăn cũng khá hơn, cho thấy vận hóa của Vị đã có xu thế khôi phục dần, nhưng thủy tà chưa lui, cần cho thuốc lợi thủy nặng hơn Vì vậy tăng đ ình lịch lên thành 40g; Ngày hôm tăng lượng thuốc, tiểu tiện nhiều hơn, lượng nước uống vào với lượng tiểu tiện cân bằng, những ngày sau có phần còn nhiều hơn, trướng bụng đỡ nhiều, chu vi vòng bụng cũng nhỏ đi, ăn có tiến bộ rõ rệt Uống đơn thuốc này tiếp tục 1 tháng Kiểm tra vòng bụng còn 87cm, thể trạng còn 122 cân, trọc âm di động vùng bụng không rõ nữa Kiểm tra chức năng Gan, chưa ổn định hoàn toàn Bệnh nhân vào viện ngày 1 tháng 6 năm 1965, ra viện ngày 24 tháng 7, cộng 53 ngày Tình trạng ra viện nói chung khá tốt, sau đó bệnh nhân tiếp tục đến khám 2 lần nữa Sau đó 5 tháng, viết thư

kể sức khỏe rất tốt

NHẬN XÉT: Bệnh nhân phúc thủy xơ Gan, biểu hiện chứng hậu Tỳ Vị hư nhược nhưng lại

có tình huống nghiêng về thủy thấp nặng, chính khí không thắng nồi tà khí Vì vậy trong điều kiện mới dùng thang thuốc liều cao vừa ích khí vừa khư tà Bệnh án này trước dùng thang thuốc ích khí lợi niệu, kết quả không cao, chỉ sau khi tăng liều lượng đình lịch, lượng tiểu tiện mới nhiều rõ rệt Qua đó thì thấy đối với điều trị phúc thủy xơ Gan, trọng dụng Hoàng kỳ để ích khí, kiện Tỳ, đình lịch tử để tả Phế trục thủy, rõ ràng

có tác dụng nhất định

Ngày đăng: 26/09/2016, 22:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm