MỞ ĐẦU Như bao triều đại khác tại Việt Nam và nhiều nước trên thế giới, vương triều Nguyễn cũng đã được thành lập, phát triển và lụi tàn theo nhịp phế hưng của dòng chảy lịch sử dân tộc. Với thời gian làm chủ đất nước dài ngắn khác nhau, triều đại nào cũng có ưu nhược điểm, mặt tích cực và mặt tiêu cực, không nhiều thì ít. Tuy nhiên, sự đánh giá về về những mặt này đối với vương triều Nguyễn có vẻ đặt biệt hơn so với các triều đại khác trong lịch sử nước ta. Đặc biệt ở chỗ người đời chưa có được sự nhất trí trong nhận thức và sự giống nhau trong quan điểm. Trong lịch sử nghiên cứu về triều Nguyễn thì các ý kiến, các nhận thức về vương triều này còn có sự thay đổi theo dòng chảy của thời gian. Các quan điểm đánh đuợc chia làm hai giai đoạn và ba trường phái quan điểm chính là: Giai đoạn 1: Các quan điểm trước 1990: Đánh giá cao hoặc phê phán gay gắt vương triều Nguyễn. Giai đoạn 2: Các quan điểm bắt đầu từ những năm 1990 trở lại đây: Trường phái đánh giá cả “công” và “tội” của triều Nguyễn. Một trong những vấn đề được quan tâm nhiều nhất của vương triều Nguyễn chính là sự thất bại của vương triều này trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược từ 1858 – 1884. Vì vậy, sau khi xem xét các quan điểm đánh giá về nhà Nguyễn trong lịch sử, chúng ta sẽ đi xem xét, giải thích lý do sự thất bại trên của nhà Nguyễn từ đó tiến tới đánh giá trách nhiệm của nhà Nguyễn đến đâu trong việc để nước ta rơi vào tay thực dân Pháp, bắt đầu hơn 80 năm nô lệ lầm than.
Trang 1Đề bài: Hãy trình bày những quan điểm nhìn nhận về Vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam Giải thích sự thất bại của nhà Nguyễn trong cuộc kháng chiến chống Pháp (1858 – 1884).
MỞ ĐẦU
Như bao triều đại khác tại Việt Nam và nhiều nước trên thế giới, vương triềuNguyễn cũng đã được thành lập, phát triển và lụi tàn theo nhịp phế hưng của dòngchảy lịch sử dân tộc Với thời gian làm chủ đất nước dài ngắn khác nhau, triều đạinào cũng có ưu nhược điểm, mặt tích cực và mặt tiêu cực, không nhiều thì ít Tuynhiên, sự đánh giá về về những mặt này đối với vương triều Nguyễn có vẻ đặt biệthơn so với các triều đại khác trong lịch sử nước ta Đặc biệt ở chỗ người đời chưa
có được sự nhất trí trong nhận thức và sự giống nhau trong quan điểm Trong lịch
sử nghiên cứu về triều Nguyễn thì các ý kiến, các nhận thức về vương triều này còn
có sự thay đổi theo dòng chảy của thời gian Các quan điểm đánh đuợc chia làm haigiai đoạn và ba trường phái quan điểm chính là:
- Giai đoạn 1: Các quan điểm trước 1990: Đánh giá cao hoặc phê phán gaygắt vương triều Nguyễn
- Giai đoạn 2: Các quan điểm bắt đầu từ những năm 1990 trở lại đây: Trườngphái đánh giá cả “công” và “tội” của triều Nguyễn
Một trong những vấn đề được quan tâm nhiều nhất của vương triều Nguyễnchính là sự thất bại của vương triều này trong cuộc kháng chiến chống thực dânPháp xâm lược từ 1858 – 1884 Vì vậy, sau khi xem xét các quan điểm đánh giá vềnhà Nguyễn trong lịch sử, chúng ta sẽ đi xem xét, giải thích lý do sự thất bại trêncủa nhà Nguyễn từ đó tiến tới đánh giá trách nhiệm của nhà Nguyễn đến đâu trongviệc để nước ta rơi vào tay thực dân Pháp, bắt đầu hơn 80 năm nô lệ lầm than
1 Các quan điểm đánh giá về Vương triều Nguyễn
1.1 Các quan điểm trước 1990: Đánh giá cao hoặc phê phán gay gắt vương triều Nguyễn.
1.1.1 Trường phái quan điểm đánh giá cao vương triều Nguyễn
Trang 2Trường phái quan điểm đầu tiên chúng ta nói đến là trường phái đánh giá rấtcao vuơng triều Nguyễn, đặc biệt là ca ngợi vua Gia Long, vị vua mở đầu vươngtriều, là một minh quân, là người có công thống nhất đất nước Đây là trường pháiquan điểm của các sử gia thời Sài Gòn.
Đại biểu cho trường phái quan điểm này là Trần Trọng Kim với tác phẩm
“Việt Nam sử luợc” Khi viết về Thế Tổ Cao Hoàng Nguyễn Ánh, Trần Trọng Kim
đã viết: “Bởi vậy cho nên khi vua Thế Tổ Cao Hoàng Nguyễn Ánh cất công ra bắc, lòng người theo phục, chỉ một tháng trời mà bình được đất Bắc Hà, đem giang sơn thu về một mối, nam bắc một nhà, làm cho nước ta thành một nước lớn ở phuơng Nam vậy”[3;405].
“Lúc ngài đánh xongTây Sơn thì chính trị trong nước đổ nát, phong tục huỷ hoại, việc gì cũng phải sửa sang lại Bởi vậy ở trong thì ngài chỉnh đốn pháp luật
và mọi việc cai trị cùng là sửa sang phong tục, cấm dân gian không cho lấy việc thần phật mà bày trong rượu chè ăn uống, nghiêm dụ quan lại không cho sinh sự nhiễu dân Ở ngoài thì ngài lo sự giao hiếu với nước Tàu, nước Tiêm, nước Chân Lạp, khiến cho nước Việt lúc bấy giờ trong ngoài đều được yên trị” [3; 410].
“Vua Thế Tổ là ông vua có tài trí, rất khôn ngoan, trong 25 năm trời, chống nhau với Tây Sơn, trải qua bao nhiêu lần hoạn nạn, thế mà không bao giờ ngã lòng, cứ là một niềm khôi phục Ngài lại có đức tính rất tốt của những kẻ lập nghiệp lớn, là cái đức tính biết chọn người mà dùng khiến cho những kẻ hào kiệt ai cũng nức lòng mà theo giúp Bởi vậy cho nên không những là ngài khôi phục được nghiệp cũ mà lại thống nhất được sơn hà, và sửa sang được mọi việc, làm cho nước ta lúc bấy giờ trở thành một nước cường đại từ xưa đến nay, chưa bao giờ từng thấy” [3; 424].
Trên đây thật sự là những lời ca ngợi đầy hoa mỹ của Trần Trọng Kim dànhtặng để ca ngợi Gia Long Nguyễn Ánh, vị vua đầu tiên của vương triều phong kiếncuối cùng của nước ta
Trang 3Đó là những lời nói về vua Thế Tổ, còn khi nhắc đến vua Thánh Tổ Minh
Mạng, ông viết: “Vua Thánh Tổ là một ông vua có tư chất minh mẫn, lại hiếu học,
và lại hay làm; phàm có việc gì, ngài cũng xem xét đến, và có châu phê rùi mới được thi hành.
Ngài tinh thâm Nho học, sùng đạo Khổng Mạnh, cho nên không ưa đạo mới, cho là một tả đạo lấy trời thánh ra mà mê hoặc lòng dân Bởi vậy, ngài mới nghiêm cấm và trừng trị những người theo đạo Giatô.
Về sau có nhiều nhà làm sử, vì ý riêng mà cho người là bạo quân, thì thiết tưởng điều ấy không hợp với lẽ công bằng.
Phải biết rằng nước ta từ xưa đến nay, điều gì cũng theo Nho giáo, lấy tam cương ngũ thường làm căn bản cho sự ăn ở Vua tôi, cha con, vợ chồng, ấy là cái khoá luân lý của xã hội mình Ai tháo cái khoá ấy ra thì cho không phải laòi người nữa Vậy con phải theo cha, tôi phải theo vua, ai trái với cái đạo ấy là phải tội nặng, đáng chém giết.
Lúc trong nước mình từ vua quan cho chí dân sự, ai ai cũng lấy cái lý tưởng
ấy làm lẽ phải, làm hay hơn cả, mà lại thấy có người bỏ đi theo đạo khác, nói những chuyện lúc bấy giờ không mấy người hiểu rõ ra thế nào thì tất cho là theo tả đạo, làm hư hỏng cái phong tục hay của mình Bởi vậy cho nên nhà vua mới cẩm, không cho người trong nước đi theo đạo mới.
Một ông vua nghiêm khắc như Thánh Tổ mà cấm không được, thì tất phải giết Khi cấm và giết như vậy, là vẫn tưởng mình làm việc bổn phận làm vua của mình, chớ có biết đâu là mình làm sự thiệt hại cho dân cho nước.
Vả, bao giời cũng vậy, hễ người ta súng tín một tông giáo nào, thì tất cho tông giáo của mình là hay hơn, và cho người theo tông giáo khác là thù địch với mình, rồi hễ có quyền thế là làm thế nào cũng dùng cách mà hà hiếp người khác đạo của mình ( ) Vẫn biết rằng sự giết đạo là sự không lành, nhưng phải hiểu cái trí não của người Việt Nam ta lúc bấy giờ, không rõ cái tông chỉ đạo Thiên Chúa
Trang 4ra thế nào, cho nên dẫu không phải vua Thánh Tổ đi nữa, thì ông vua khác cũng không chắc đã tránh khỏi cái lỗi giết đạo ấy”[3;425].
( )
Vua Thánh Tổ là một ông vua chuyên chế, tất thế nào cũng có nhiều điều sai lầm và có nhiều điều tàn ác nhưng xét cho kỹ thì thật ngài cũng có lòng vì nước lắm Trong lo sửa sang mọi việc, làm thành ra nề nếp chỉnh tề, ngoài đánh Tiêm dẹp Lào, làm cho nước không đến nỗi kém hèn”[3; 427].
Những lời trên đây của Trần Trọng Kim không chỉ là ca ngợi vua Thánh TổMinh Mạng mà còn đang cố bao biện, giải thích một cách chủ quan để giảm tội chonhưng sai lầm của vua, đặc biệt là sai lầm nghiêm trọng trong chính sách “cấm đạogiết đạo” được thực hiện gắt gao đến tàn khốc dưới thời vua Minh Mạng Chínhsách này đã gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc ta, một trong những nguyên nhândẫn đến sự thất bại của triều Nguyễn trước thực dân Pháp sau này
Cũng trong “Việt Nam sử lược” khi trình bày về các vua đầu triều Nguyễnnhư Thế Tổ, Thánh Tổ, Hiển Tổ, Dực Tông, Trần Trọng Kim đều nêu nguyên nhânmất nước là do chính sách bài ngoại, ngăn trở việc buôn bán, cấm đạo, không nhìn
thấy sự thay đỏi, tiến bộ của bên ngoài: “Khư khư giữ lấy thói cổ, hễ ai nói đến sự
gì mới một tý thì bác bỏ đi, như thế thì làm sao mà không hỏng việc” Trần Trọng Kim cho rằng: “Âu cũng vì thời đại biến đổi mà người mình không biến đổi, cho nên nước mình mới thành ra sự suy đồi”, “đã hay rằng vua có trách nhiệm vua, quan có trách nhiệm quan, vua Dực Tông không tránh khỏi cái lỗi với nước nhà, nhưng mà xét cho xác lý thì cái lỗi của đình thần lúc bấy giờ cũng không nhỏ”.
Nhưng lời này của Trần Trọng Kim cho thấy rằng việc tìm ra nguyên nhân thựcdân Pháp xâm lược nước ta và việc mất nước không ngoài những lý do mà thực dânPháp đã viện cớ, nêu trách nhiệm của vua quan, Trần Trọng Kim vừa có tính lên
án, lại vừa biện hộ
Trong Việt Sử tân biên, khi nói đến việc nước ta rơi vào tay thực dân Pháp,Phạm Văn Sơn không quy kết trách nhiệm vua tôi nhà Nguyễn mà cho rằng Việt
Trang 5Nam mất vào tay thực dân Pháp là một tất yếu lịch sử, hoặc ít ra cũng do trình độ
dân trí Việt Nam quá thấp kém so với người Pháp: “Nhà Nguyễn mất nước với Tây phương chỉ là vì văn minh nông nghiệp của Á Đông hết sức lạc hậu, yếu hèn, mà văn minh khoa học cùng cơ giới của phương Tây lại quá mạnh mà thôi”.
Tóm lại thông qua việc ca ngợi cũng như bênh vực cho các vua Nguyễn, việckhông xét đến trách nhiệm của nhà Nguyễn đối với việc để nước ta rơi vào tay thựcdân Pháp cuối thế kỷ XIX, tác giả Trần Trọng Kim và các sử gia Sài Gòn đã bộc lộquan điểm ca ngợi và ủng hộ vương Triều Nguyễn
1.1.2 Trường phái quan điểm phê phán, coi Triều Nguyễn là một “nguỵ triều”, một vương triều phản động, một vương triều có tội lớn với dân tộc.
Trường phái quan điểm thứ hai chúng ta tìm hiểu là trường phái phê phánvương triều Nguyễn, cho rằng đây là một “nguỵ triều” trong lịch sử dân tộc, là mộtvương triều phản động, có tội với dân tộc Các nhà sử học miền Bắc đa số đều theotrường phái quan điểm này Thông qua các tác phẩm của mình, các tác giả bày tỏquan điểm chê trách nhà Nguyễn của mình trên các khía cạnh khác nhau như sựthiết lập của vương triều, các chính sách đối nội, đối ngoại của vua quan nhàNguyên và đặc biệt các tác giả nhấn mạnh “tội” của nhà Nguyễn trong việc để nước
ta trong việc để nước ta rơi vào tay thực dân Pháp
Ngay từ năm 1961, ngay trước khi cho ấn hành tập đầu tiên của bộ Đại Nam
thực lục, Viện Sử học miền Bắc đã viết nhận định: "Những sự kiện lịch sử xảy ra trong khoảng thời gian từ Nguyễn Hoàng đến Đồng Khánh [1558-1888], những công việc mà các vua [chúa] nhà Nguyễn đã làm trong khoảng thời gian 330 năm
ấy, tự chúng tố cáo tội ác của nhà Nguyễn trước lịch sử của dân tộc chúng ta".
"Theo lệnh của các vua nhà Nguyễn, bọn sử thần của nhà Nguyễn làm công việc biên soạn Đại Nam thực lục đã cố gắng rất nhiều để tô son vẽ phấn cho triều đại nhà Nguyễn " và "Nhưng bọn sử thần ấy vẫn không che giấu nổi các sự thật của lịch sử Dưới ngòi bút của họ, sự thật của lịch sử vẫn phơi bày cho mọi người biết tội ác của bọn vua chúa phản động, không những chúng đã cõng rắn
Trang 6cắn gà nhà, mà chúng còn cố tâm kìm hãm, đày đọa nhân dân Việt Nam trong một đời sống tối tăm đầy áp bức".
Phê phán về sự thiết lập của vương triều Nguyễn, sách “Tiến trình lịch sử Việt Nam” của Nguyễn Quang Ngọc (Cb) có đoạn viết: “Khi lên ngôi Nguyễn Ánh đứng trước những khả năng to lớn để xây dựng đất nước Sau hơn 200 năm đất nước bị chia cắt trong cục diện “đàng trong đàng ngoài”, Việt Nam từ đầu thế kỷ XIX thực sự là một quốc gia thống nhất với sự hoàn chỉnh cương vực quốc gia, thống nhất thị trường tiền tệ có thể xây dựng kinh tế xã hội mạnh mẽ, mở rộng những mối quan hệ giao thương quốc tế, canh tân đất nước, vượt qua sự can thiệp, xâm lược của các thế lực thực dân phương Tây Nhưng ngay từ đầu chế độ nhà Nguyễn đã bộc lộ nhược điểm cơ bản về chính trị là: khác với các triều đại trước thường được thiết lập trên cơ sở thẳng lợi của những cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc hoặc sau khi hoàn thành nhiệm vụ chống ngoại xâm, bảo vệ độc lập củng
cố quốc gia còn triều Nguyễn, vương triều cuối cùng lại được dựng lên bằng một cuộc nội chiến mà kẻ thắng đã dựa vào thế lực ngoại bang và như vậy về khách quan là đi ngược lại nguyện vọng và quyền lợi dân tộc” [7; 203].
Còn tác giả Trần Văn Giầu, trong cuốn “Sự khủng hoảng của chế độ phong kiến nhà Nguyễn trước 1858”, lại trích lời một người Âu sang xứ nước ta sau khi Nguyễn Ánh lên ngôi rằng: “Người ta rất có thể nghi ngờ lời nói của bọn người Âu tán dương Gia Long, cho rằng dân chúng mong muốn thấy hoàng đế chính thức được khôi phục Triều Tây Sơn không phải đã mất lòng dân như vậy Thực tế, tôi
đã được biết chắc chắn qua câu chuyện với các thương gia hoa kiều đã từng sống trong xứ dưới quyền cả hai triều đại; rằng anh em Tây Sơn đã cai trị công bằng và khoan hồng hơn vị vua hiện nay hay vua chúa trước kia”[2; 9].
Qua vài sự nhận xét trên ta thấy ở trường phái quan điểm phê phán này, sự rađời của triều Nguyễn không được chào đón mà sự ra đời đó lại được coi như một
sự phản động bởi nó đã lật đổ vương triều tiến bộ, vương triều Tây Sơn
Trang 7Khi phê phán về chính sách đối nội, đối ngoại nhà Nguyễn thì tác giả
Nguyễn Ngọc Cơ có viết : “Trong khi lục quân suy tàn, tài chính khô kiệt, lòng dân oán thán thì triều đình, vua quan, sĩ phu đều khư khư ôm lấy tư tưởng bảo thủ,
cố chấp, không chịu duy tân Trong khi kỹ thuật tư bản chủ nghĩa đang phát triển mạnh mẽ, lan tràn ở nhiều nước xung quanh, thế mà vua tôi nhà Nguyễn vẫn vùi đấu vào Tứ Thư, Ngũ Kinh, ai bàn đến canh cải thì cho là tà thuyết, xảo đoạt, tạo hoá”[1; 23].
Trong lời mở đầu sách “Lịch sử Việt Nam từ 1858 - cuối XIX”, quyển 3, tập
1, của Hoàng Văn Lân và Ngô Thị Chính, có đoạn viết với nội dung phê phán nhàNguyễn tổng quát trên cả ba lĩnh vực sự thành lập, chính sách đối nội và chính sách
đối ngoại: “ Qua gần 40 thế kỷ dựng nước và giữ nước, từ thưở các vua Hùng đến thời kỳ Tây Sơn, với một sức sống kỳ lạ, dân tộc Việt Nam đã hiên ngang cùng các dân tộc khác luôn luôn có mặt trên vũ đài lịch sử.
Nhưng từ cuối thế kỷ XVIII, dân tộc Việt Nam bước vào thời kỳ thử thách hơn trước đó chưa từng có Ra đời sau mấy thế kỷ chiến tranh nông dân và là sản phẩm cuối cùng của chiến tranh nông dân dai dẳng ấy, các triều vua, từ Gia Long (1802 – 1820) đến Tự Đức (1847 – 1883) đã mang nặng ý thức phục thù không những của chính bản thân tập đoàn phong kiến nhà Nguyễn, mà còn là cúa tất cả các tập đoàn phong kiến lâu đời khác đối với phong trào nông dân chống phong kiến vốn dấy lên từ thế kỷ XVI Vì thế, khác hẳn với sự xác lập của hầu hết các triều ssại phong kiến trong lịch sử nước ta trước kia, việc Nguyễn Phúc Ánh hết nhờ phong kiến Xiêm, lại dựa vào tư bản Pháp để hấp tấp đặt chiếc ngai vàng này cho dòng họ phong kiến Nguyễn ở đất Phú Xuân năm 1802, hoàn toàn không phải
là kết quá trực tiếp hay gián tiếp của một sự hoà hoãn mâu thuẫn trong nội bộ dân tộc ở một tình thế lịch sử mới: Chiến tranh vẫn cứ tiếp diễn liên tục và rộng khắp Triều đại Nguyễn Phúc đối lập với tất cả, nên sợ sệt tất cả và phải đối phó với tất
cả, do đó lại càng “ngu đần và ngoan cố” dẫm chân tại chỗ về đối nội và đối
Trang 8ngoại Đến khi Tự Đức lên ngôi thì nền thống trị của dòng họ Nguyễn Phúc đang đứng trước nguy cơ sụp đổ.
Giữa lúc đó, thì ngày 1/9/1858, liên quân Pháp – Tây Ban Nha tấn công Đà Nẵng, chính thức nổ súng xâm lược nước ta.
Do xuất phát từ chỗ bảo vệ triệt để quyền thống trị bóc lột nhân dân của tập đoàn phong kiến Nguyễn Phúc mà, một mặt thì triều đình Huế đứng đầu là Tự Đức
đã tự hãm vào cái thế “lỗi thời, bất lực, hèn yếu” vì không cùng đứng đuợc với nhân dân chống giặc; nhưng mặt khác thì nó vẫn còn muốn cố giữ đến cùng sự trọn vẹn và tuyệt đối quyền thống trị bóc lột nhân dân đó trước giặc ngoại xâm Tính chất hai mặt đó đã trực tiếp đẻ ra các chủ trương “lấy chủ đợi khách” và chiến lược “thủ để hoà” của triều đình Huế, hoàn toàn xa lạ với truyền thống chống giặc của dân tộc ta ở các triều đại trước Kết cuộc, từ 1/9/1858 đến 5/6/1863, triều đình Huế nhanh chóng từ “thủ để hoà” – nghĩa là tự chọn thế thủ
để nhường thế công cho giặc - chuyển sang đi theo “lương tâm và hảo ý” của kẻ xâm lược, cắt đất cho giặc thừa nhận chính quyền của giặc ở Sài Gòn và ra lệnh giải tán phong trào chống giặc của nhân dân Lục tỉnh Với điều ước 5/6/1862 tập đoàn phong kiến thống trị Nguyễn Phúc đã không dám đương đầu quyết liệt với giặc và đầu hàng chúng quá sớm Sở dĩ thế là vì chính tự nó đã tạo ra cái thế bị cô lập, tự nó đã phá hoại sự thóng nhất và đoàn kết dân tộc Từ đầu, dòng họ Nguyễn Phúc đã phá hoại sức mạnh ấy với hàng loạt chính sách cực kỳ phản động về mọi mặt, trong điều kiện lịch sử chống ngoại xâm của nước ta lúc bấy giờ là nông dân”.
Sách Lịch sử Việt Nam do Viện Khoa học Xã hội của Việt Nam Dân chủCộng hoà, bản năm 1971 cũng cho rằng "triều Nguyễn phải chịu trách nhiệm hoàntoàn về tội ác trời không dung, đất không tha, để cho tên tuổi đất nước một lần nữa,sau hàng ngàn năm độc lập, bị quân cướp nước xóa khỏi bản đồ Thế giới"
"Triều Nguyễn là vương triều phong kiến cuối cùng dựng lên bằng một cuộcchiến tranh phản cách mạng nhờ thế lực xâm lược của người nước ngoài Gia Long
Trang 9lên làm vua lập ra triều Nguyễn sau khi đàn áp cuộc chiến tranh cách mạng củanông dân Triều Nguyễn là vương triều tối phản động Bản chất cực kỳ phảnđộng của chế độ nhà Nguyễn bộc lộ rõ ngay từ đầu qua những hành động khủng bố,trả thù vô cùng đê hèn của Nguyễn Ánh đối với các lãnh tụ nông dân và nhữngngười thuộc phái Tây Sơn kể cả phụ nữ và trẻ em "
"Chính quyền nhà Nguyễn hoàn toàn đối lập với nhân dân và dân tộc Nó chỉđại diện cho quyền lợi của những thế lực phong kiến phản động, tàn tạ, nó không
có cơ sở xã hội nào khác ngoài giai cấp địa chủ Vì vậy, các vua nhà Nguyễn từ GiaLong (1802-1819) đến Minh Mệnh (1820-1840), Thiệu Trị (1841-1847), Tự Đức(1847-1883) đều rất sợ nhân dân và lo lắng đề phòng các hành động lật đổ Chính
vì kiếp nhược trước phong trào nhân dân mà nhà Nguyễn không dám đóng đô ởThăng Long, phải dời vào Huế"
Ngoài ra còn các nhận định trong các tiểu mục khác như "Tăng cường bộmáy đàn áp", "Bộ máy quan lại hủ lậu mục nát", "Chế độ áp bức bóc lột nặng nề",
"Chính sách kinh tế lạc hậu và phản động", "Chính sách đối ngoại mù quáng", v.v
và trong tập II của bộ Lịch sử Việt Nam xuất bản vào năm 1985, các tác giả thuộc
Uỷ ban Khoa học Xã hội còn dùng những từ ngữ như: "triều đình nhà Nguyễn thốinát và hèn mạt", "Vương triều Nguyễn tàn ác và ngu xuẩn", "cực kỳ ngu xuẩn",
"tên chúa phong kiến bán nước số 1 là Nguyễn Ánh Nguyễn Ánh cầu cứu các thếlực ngoại bang giúp hắn thỏa mãn sự phục thù giai cấp",…
Đặc biệt khi nói đến trách nhiệm của nhà Nguyễn đối với việc mất nước, nếucác sử gia Sài Gòn không nhắc đến, không đánh giá, tránh không nói tới tráchnhiệm củ nhà Nguyễn hoặc đổi cho đó là điều tất yếu, nhà Nguyễn không cần phảichịu trách nhiệm gì, thì ngược lại, các nhà sử học miền Bắc Việt Nam trong giaiđoạn 1954-1975 có xu hướng quy trách nhiệm hoàn toàn cho các vua Nguyễn đốivới việc mất nước rằng Nguyễn Ánh đã "cõng rắn cắn gà nhà", “rước voi về dày mảtổ” và Tự Đức "bán rẻ đất nước" cho thực dân Đó là những phê phán rất gay gắt
Minh chứng cho sự quy kết trách nhiệm nặng nề này là:
Trang 10Trong tác phẩm “Việt Nam vong quốc sử”, Phan Bội Châu hết lời ca ngợinhững người yêu nước, đồng thời phê phán gay gắt kẻ phản bội, bán nước đầuhàng Ông phân tích, vào đầu thời Gia Long vua tôi còn hòa thuận với chính giáo,không thiếu xót nên thực dân Pháp không thể xâm lược Sang đầu thời Tự Đức,Việt Nam là nước yếu hèn, thực dân Pháp có thời cơ xâm lược Ông chỉ rõ, nhữngchính sách liên kết với Pháp gây lực lượng để độc quyền chính trị dẫn đến họa mấtnước sau này Từ việc vạch trần ý đồ của Nguyễn Ánh dựa vào ngoại lang đánhTây Sơn rồi phụ thuộc và Pháp, Phan Bội Châu kết luận mất nước thuộc về tráchnhiệm và bản chất của vua tôi nhà Nguyễn gây ra Ông vạch tội nhà Nguyễn theo 4tội lớn: 1- Ngoại giao hẹp hòi; 2- Nội trị lưu lạc; 3- Dân trí bế tắc; 4- Vua tôi trêndưới đều tự tư, tự lợi.
PGS TS Nguyễn Ngọc Cơ thỉ viết: “Giữa thế kỷ XIX nước ta nổi bật là sự khủng hoảng trên nhiều lĩnh vực: kinh tế, chính trị, đối nội, đối ngoại Nhà nước phong kiến Nguyễn đứng trước một thử thách to lớn: một là phải cải tổ để đáp ứng yêu cầu của lịch sử, tốt nhất là thay thế bằng một triều đại khác tiến bộ hơn, có khả năng duy tân đất nước và bảo vệ nền độc lập dân tộc Hai là nước Việt Nam bị xâm lược và bị biến thành một nước thuộc địa phương Tây Trên thực tế lịch sử cho thấy khả năng thứ nhất không xảy ra Còn khả năng thứ hai thì đã liền kề Việc mất nước Việt Nam lúc đầu không tất yếu, nhưng do phong kiến Nguyễn tiếp tục lối mòn, cự tuyệt mọi đề nghị cải cách, dẫm chân tại chỗ và tụt hậu, cuối cùng đã trở thành tất yếu”[1; 25].
Hoặc: “Hồi tưởng các cuộc chiến đấu anh dũng vô song của dân tộc Việt Nam ta ở Nam Bộ lúc bấy giờ, ruột gan chúng ta đau như cắt xé.Giá như triều đình lúc bầy giờ không phải ở trong tay bọn vua chúa nàh Nguyễn phản bội và đầu hàng, mà ở trong tay những người kế tục sự nghiệp của cuộc khởi nghĩa Tây Sơn,
kế tục sự nghiệp yêu nước và anh dũng của Nguyễn Huệ thì phong trào kháng Pháp lúc bấy giờ ở Nam Bộ chắc chắn còn mạnh mẽ hơn nhiều, nhất là đã được lãnh đạo thống nhất và kiên trì đấu tranh cho đến thắng lợi, đồng thời phong trào
Trang 11ấy chắc được ủng hộ kiên quyết của nhà nước, như vậy, đất Đồng Nai anh dũng đó
đã trở nên bức thành đồng ngăn chặn bọn cướp nước phương Tây xâm phạm đất nước chúng ta, và do đó đã bảo vệ vẹn tròn độc lập và thống nhất của tổ quốc[dẫn
theo1; 91]
Hoặc là: “Với chính sách phản động, nước Việt Nam đã suy yếu về mọi mặt
và trở thành miếng mồi ngon đổi với các tư bản phương Tây Đặc biệt đối với tư bản Pháp từ lâu đã có cơ sở bên trong nước ta nhờ sự hoạt động ngấm ngầm và liên tục của bọn gián điệp đội lốt con buôn và giáo sĩ Lịch sử lúc này đã đi tới một bước ngoặt Một là triều Nguyễn bị đánh đổ và thế vào là một triều đại khác tiến theo hướng mới của tư bản chủ nghĩa và có khả năng duy tân đất nước và bảo vệ nền độc lập dân tộc Hai là nước Việt Nam bị mất vào tay tư bản Pháp để trở thành một xứ thuộc địa Thực tế lịch sử chứng minh rằng khi tiếng súng xâm lược của tư bản Pháp bùng nổ, giai cấp phong kiến Việt Nam đã phân hoá ra hai phái chủ hoà
và chủ chiến, phái chủ hoà bao gồm phần đông bọn đại phong kiến và quan lại lớn với Tự Đức sẽ nhanh chóng câu kết với bọn cướp nước để làm tay sai cho chúng đàn áp và bóc lột nhân dân cả nước Đó là tội lớn của phong kiến nhà Nguyễn trước dân tộc, trước lịch sử”[4; 16].
Giáo sư Nguyễn Phan Quang có ý kiến như sau: Mất nước không phải là tất yếu Triều Nguyễn thua Pháp vì lúng túng về đường lối chính trị dẫn đến lúng túng vềquân sự, tuy quân lực không yếu mà tự phải thua Sự lúng túng còn thể hiện trong nỗi lo sợ trước luồng tư tưởng mới đang tràn vào Lo sợ, nhưng không có giải pháp hữu hiệu, đành thu mình đóng kín Càng lúng túng hơn khi nhà Nguyễn đồng thời phải đối phó với những mâu thuẫn nội bộ rất nghiêm trọng, mà những mâu thuẫn này lại bị sự chi phối rất mạnh của các áp lực từ bên ngoài Riêng đối với đạo Gia-tô thì triều Nguyễn đã từ lúng túng đi đến bế tắc, không đủ sức chuyển đổi tư duy để có biện pháp thích hợp.
Giáo sư sử học Nguyễn Khắc Thuần khẳng định trách nhiệm của nhà
Nguyễn đối với việc mất nước, bất luận nhìn từ góc độ nào: “Việc Pháp đánh Việt
Trang 12Nam là một tất yếu khách quan; việc nhà Nguyễn để mất nước có phải là tất yếu khách quan hay không, đó là một dấu hỏi lớn, là chủ đề của nhiều hội thảo khoa học của nhiều thế hệ nhà sử học Thực tế cho thấy không phải nhà Nguyễn buông súng từ đầu và không phải các hoàng đế nhà Nguyễn đều bạc nhược Chúng ta có quyền nhìn nhận việc mất nước từ nhiều góc độ khác nhau, nhưng nhìn từ góc độ nào thì nhà Nguyễn cũng phải chịu trách nhiệm về thảm họa mất nước".
Về phía Pháp, sử gia Gosselin nói rằng các hoàng đế An Nam phải chịu tráchnhiệm về sự đổ vỡ và xuống dốc của đất nước họ Dân xứ này, quan lại, binh línhxứng đáng có được những người cầm đầu có giá trị hơn thế Chính quyền họ đã mùquáng vì không dự liệu, không chuẩn bị gì hết
Vậy là ở trường phái quan điểm thứ hai này nhà Nguyễn đã phải gánh chịubúa rìu dư luận, những lời phê phán hết sức gay gắt về “tội” của mình, những cônglao của vương triều dường như bị phủ định sạch trơn Lý giải về thái độ đánh giátrên, giáo sư Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam cho rằng:
“Nguyên do sâu xa của vấn đề này là do bối cảnh chính trị của đất nước (Việt Nam) thời bấy giờ và cách vận dụng phương pháp luận sử học của các nhà nghiên cứu”… “Khuynh hướng này phát triển ở miền Bắc (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) trong thời gian từ 1954 phản ánh trên một số luận văn trên tạp chí Văn sử địa, Đại học sư phạm, Nghiên cứu lịch sửvà biểu thị tập trong những bộ lịch sử, lịch sử văn học, lịch sử tư tưởng Việt Nam…”.
Nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu cũng có ý kiến tương tự, cho rằng dochiến tranh Đông Dương và chiến tranh Việt Nam mà các nhà biên soạn sách đã cóthái độ khắt khe với nhà Nguyễn Theo Nguyễn Đình Đầu, việc dùng những kháiniệm như đấu tranh giai cấp, giai cấp địa chủ, giai cấp nông dân, giai cấp phongkiến, tập đoàn thống trị, chiến tranh Cách mạng, tước đoạt tư liệu sản xuất, bóc lộtsức lao động… lên xã hội nông nghiệp phương Đông trong sách Lịch sử Việt Nam
do Viện Khoa học Xã hội của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà biên soạn là gượng ép
Trang 13Nhà sử học Dương Trung Quốc thì tin là bởi “Bối cảnh chính trị của cuộccách mạng “phản đế- phản phong” cùng lập trường đấu tranh giai cấp và cải tạo xãhội chủ nghĩa đã kéo dài sự đánh giá một sắc màu tiêu cực về nhà Nguyễn…” Ôngcũng cho rằng ”Sử học là một khoa học, nhưng nó cũng không thể không mangmàu sắc chính trị.”và ”Trong nhận thức ấy, xin đừng trách nền sử học một thời đãtừng lên án nhà Nguyễn với những đánh giá mà ngày nay ta thấy thiếu sự côngbằng.”
1.2 Các quan điểm bắt đầu từ những năm 1990 trở lại đây: Trường phái đánh giá cả “công” và “tội” của triều Nguyễn.
Các quan điểm nói trên, dù khen hay chê, dù cho rằng triều Nguyễn có tộihay có công đều mang những tính hạn chế nhất định vì chỉ nhìn nhận vấn đề theomột mặt Trường phái quan điểm mới mà chúng ta sắp tìm hiểu là trường pháinghiên cứu gần đây Nó thể hiện những quan điểm đánh giá khách quan hơn, toàndiện hơn về triều Nguyễn trên tất cả các phương diện sự ra đời, chính sách đối nội,đối ngoại và trách nhiệm để mất nước vào tay thực dân Pháp Trường phái quanđiểm này được bắt đầu từ hội thảo năm 1992, 1996 bàn về kinh tế - xã hội thờiNguyễn Tuy nhiên hai hội thảo này còn nhiều hạn chế vì không tìm hiểu cặn kẽ vềvương triều Nguyễn Nhưng đến Hội thảo tháng 10/2008 về chúa Nguyễn và vươngtriều Nguyễn thì những quan điểm mới khách quan này đã được thể hiện rõ ràng vàhoàn thiện hơn Những quan điểm mới này được tập hợp trong cuốn “Lịch sử nhàNguyễn - Một cách tiếp cận mới” Trong cuốn sách, Giáo sư Nguyễn Ngọc Cơ đãtrình bày quan điểm mới của mình về từng phương diện như sau:
“1 Về sự tái lập vương triều Nguyễn:
Trong phần nhiều tác phẩm sử học viết về triều Nguyễn kể cả các tác phẩm được công bố trước năm 1945 đều cho rằng vương triều Nguyễn là vương triều phản động vì hành động chống Tây Sơn và những chính sách nội trị ngoại giao sai lầm tiếp đó của triều đại này.
Chúng tôi cho rằng nhận định đó không sai, song cần làm rõ ở một số điểm.
Trang 14Nền thống trị của nhà Nguyễn được xác lập từ năm 1802 đứng trước một loạt thách thức, có thể xem là điều bất thường của lịch sử Việt Nam Sự thắng thế của Nguyễn Ánh trước Tây Sơn có thể coi là sự thắng thế của những nhân tố bảo thủ lạc hậu đối với nữhng yếu tố tiến bộ Một trở lực lớn đã chưa được dẹp bỏ trước yêu cầu phát triển của một lực lượng sản xuất mới đang manh nha Nói cách khác, sự phát triển của kinh tế xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XVIII đã chưa thể tạo
ra được một lực lượng xã hội mới, lớn mạnh, đủ sức gạt bỏ những chướng ngại trên con đường phát triển của nó Phải chăng những hạn chế lịch sử này chính là nguồn gốc dẫn đến sự suy yếu của triều đại Tây Sơn và cắt nghĩa sự thắng thế của tập đoàn phong kiến họ Nguyễn do Nguyễn Ánh cầm đầu trong những năm đầu thế
kỷ XIX?
Đến lượt nhà Nguyễn, phải chăng cũng chính những hạn chế lịch sử đó lại quy định và làm nảy sinh những mầm mống của sự suy sụp trong những năm tiếp sau?
2 Về thể chế chính trị và các chính sách đối nội của các vua triều Nguyễn Sau thời gian dài chiến tranh liên miên, nền kinh tế đất nước trở nên tiêu điều, chính trị rối loạn, công việc cần làm trước mắt của Gia Long và các vua đầu triều Nguyễn là bắt ta xây dựng và củng cố nền thống trị trên nền tảng của ý thức
hệ Nho giáo, một ý thức hệ tuy đã lỗi thời ở phương Đông nói chung, ở Việt Nam nói riêng nhưng vẫn chưa có một cơ sở kinh tế và xã hội đủ mạnh để có thể thoát
ra khỏi vòng ảnh hưởng và chi phối của nó Có điều cần nói ở đây là do quá chú tâm đến việc vun vén quyền lực của giai cấp và dòng họ nên các ông vua nhà Nguyễn đã cho thi hành nhiều chính sách thiển cận, ngăn chặn và làm thui chột những yếu tố tiến bộ của nền sản xuất hàng hoá, manh nha xuất hiện từ thế kỷ XVIII Cũng do quá nhiều công việc đối nội, đối ngoại bề bộn cần giải quyết, cuốn hút tâm lực và do đầu óc thủ cựu, tư tưởng tự cao tự đại với mớ thuuyết Khổng, Mạnh lỗi thời chi phối nên các vua triều Nguyễn đã không bắt kịp xu thế của thời
Trang 15đại, không đưa ra được những đối sách phù hợp để tự cứu mình, cứu dân tộc trong bối cảnh chủ nghĩa tư bản châu Âu đang ráo riết bành trướng sang phương Đông.
Ở đây cần thấy rằng sự thiếu thức thời, sự mê muội và lệ thuộc thái quá vào những bài học Trung Hoa đã dẫn các vua triều Nguyễn đi từ sai lầm này đến sai lầm khác, trước hêế là ở việc củng cố chế độ quân chủ quan liêu chuyên chế ở việc tập trung quyền lực tuyệt đối trong tay nhà vua, việc mô phỏng bộ luật nhà Thanh để làm ra Hoàng triều luật lệ với những quy định hà khắc, chủ yếu là trừng trị và đối phó với những cuộc nổi dậy của nhân dân Chính sự lệ thuộc quá đáng vào các bài học Trung Hoa mà triều đình Nguyễn kiên quyết “bế quan toả cảng”, khước từ giao thiệp với các nước phương Tây, không cho phép người Âu lập phố xá, mở cửa hàng đi cùng với chính sách cấm đạo, giết đạo khốc liệt Tư tưởng Tống nho sáo rỗng ăn sâu vào các tầng lớp vua quan phong kiến thời Nguyễn đã cản trở trào lưu duy tân đổi mới khiến cho thế nước càng ngày càng suy vi, tinh thần bạc nhược đối lập với các trào lưu tiến hoá.
Nền kinh tế bị phá hoại nghiêm trọng trong những năm nội chiến đã không thể hồi phục vì nhà nước không chăm lo đúng mức đến phát triển kinh tế nông nghiệp Nạn kiêm tinh ruộng đất gia tăng khiến phẩn lớn nông dân mất đất Nạn đói thường xuyên xảy ra, thiên tai ôn dịch hoành hành làm hàng ngàn nông dân phiêu tán Trong khi đó thì công thương nghiệp lạc hậu không thể giúp gì trong việc cải thiện tình hình Chế độ công thương cũ kỹ, thuế khoá hà khắc, chính sách
bế quan toả cảng hạn chế công thương nghiệp trong khuôn khổ kinh tế phong kiêế, chống lại ảnh hưởng của kinh tế tư bản chủ nghĩa Tây phương Thái độ cầu an của giai cấp thống trị kìm hãm đã khiến cho các lực lượng sản xuất mới không nảy
nở được
Tất cả những điều đã nói ở trên hợp thành nguyên nhân suy yếu của phong kiến Việt Nam thế kỷ XIX Tuy nhiên, xã hội thời Nguyễn cũng có những bước tiến nhất định Cho nên bức tranh toàn cảnh về kinh tế, chính trị, xã hội phức tạp, đôi
Trang 16khi tự mâu thuẫn và đan xen giữa cái tiến bộ và bảo thủ, mạnh và yếu, tích cực và tiêu cực…
Vì lẽ đó mà khi nghiên cứu lịch sử triều Nguyễn, người ta đưa ra nhiều phiên bản khác nhau Bên cạnh những ý kiến phê phán, thậm chí lên án gay gắt, thì cũng lại có những ý kiến ca ngợi, biểu dương, nhất là khi nói về những “điếm sáng” trong lịch sử thời Nguyễn.
Đó là khi đề cập đến các hiện tượng kinh tế Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX, về chính sách khai hoang, thuỷ lợi, về các biện pháp cải cách hành chính, tư pháp, phương thức quản lý ruộng đất, về một số thành tựu văn học, sử học, y học, kiến trúc thậm chỉ cả một phần trong các chính sách đối nội, đối ngoại của các đời vua.
Về văn hoá thì cho dù phê phán nhà Nguyễn trong quá trình củng cố quyền lực của mình đã tìm mọi cách phục hồi Nho giáo vốn đã suy đồi trong những thế kỷ trước, biến Nho giáo thành bệ đỡ tư tưởng cho chính quyền chuyên chế vẫn có những ý kiến cho rằng dưới triều Nguyễn, giáo dục khoa cử Việt Nam đã có bước phát triển mới, tuyển chọn được nhiều người tài Còn trong khi thi hành chính sách độc tôn Nho giá, hạn chế Phật giáo, cầm đoán đạo Thiên chú thì đạo Phật nước ta vẫn có điều kiện phát triển ở các vùng nông thôn, bên cạnh là sự thăng hoa của các tín ngưỡng dân gian.
Cũng về vấn đề tôn giáo, một số tác giả cho rằng, việc cấm đạo thời Nguyễn, chẳng qua chỉ là sự kế tục các chónh sách truyền thống phương Đông, học kinh nghiệm Trung Hoa, Nhật Bản Từ thời Minh Mạng, việc cấm đạo trở nên gay gắt, nhưng “đó là một chính sách có hạt nhân hợp lý và có ý nghĩa bảo vệ an ninh quốc gia, chỉ có điều “lợi bất cập hại” mà thôi.
Về khoa học, nhất là khoa học xã hội, có nhiều thành tựu độc đáo, phát huy được truyền thống văn hiến Việt Nam
Như vậy, để đi đến ý kiến thống nhất hoàn toàn về các vấn đề lịch sử riêng lẻ thời Nguyễn, nhất là những vấn đề nhạy cảm là một công việc khó khăn, thậm chí
là không thế, còn trên phương diện đại thì hoàn toàn là có thể, bởi toàn thể các
Trang 17nhà nghiên cứu đều thừa nhận nguyên lý vè sự hiện diện của “những mặt đối lập” trong một chỉnh thể thống nhất Nói cách khác, trong khi thừa nhận có một bức tranh nền sẫm của lịch sử thời Nguyễn thì người ta vẫn có quyền quan sát những điểm sảng trong bức tranh đó với cách thức riêng và với những cám xúc riêng của mình.
Có lẽ chỉ như thế chúng ta mới có thể xem xét lịch sử một cách khách quan, công bằng, mới tránh được nhận thức chủ quan trong nghiên cứu và giảng dạy, mới có thể mở ra phương hướng để giải quyết nhiều vấn đề của lịch sử đã qua và đương đại, mới có thể đúc kết được bài học bổ ích từ quá khứ, vận dụng cho hiện tại và tương lai.
3 Về chính sách ngoại giao thời Nguyễn
Như ta đã biết, nhà Nguyễn được tái lập trong một hoàn cảnh khá đặc biệt của xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX và phải đương đâầ với hàng loạt thách thức.
Khác với một số nhận định coi là “khắt khe”, cho chính sách ngoại giao thời Nguyễn, chúng ta cần phải đặt nó trong bối cảnh lịch sử cụ thể, ví dụ như nói Việt Nam thần phục Mãn Thanh thì cần xem xét truyền thống quan hệ ngoại giao Trung
- Việt trong lịch sử (quan hệ láng giềng hoà hiếu, thân thiện) Khi nói tới nước Đại Nam hùng mạnh thời Minh Mạng đem quân sang Ai Lao và Cao Miên các năm
1827, 1835 thì phải tìm hiểu căn nguyên của vấn đề, nói rõ bản chất của sự việc, trong đó có cả việc xung đột nội bộ của các nước nói trên, hay âm mưu lợi dụng sức mạnh của Đại Nam để thoán đoạt quyền lực Còn khi nghiên cứu chính sách đóng cửa của nhà Nguyễn thì cần phải xem xét tới âm mưu bành trướng của chủ nghĩa tư bản phương Tây, tới hành vi mờ ám của các giáo sĩ đạo cơ đốc và sau đó
là sự ngăn trở của thực dân Pháp trong quan hệ trềi đình Nguyễn với nước ngoài (như với Anh, Đức, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hà Lan, Trung Quốc, Nhật Bản ) Ngoài ra, lại phải xem thái độ của nhà Nguyễn trong chính sách đối ngoại: cũng
có lúc mềm dẻo, khôn khéo Nhờ đó đã giữ được quan hệ cơ bản là tốt với Trung
Trang 18Quốc, với các nước trong khu vực và cả với cả phương Tây trong một thời gian dài.
Cuối cùng, về kết cục của nền ngoại giao thời Nguyễn thì nên xem xét ở hai phía: sai lầm của vua quan ta và âm mưu lang sói của kẻ thù
Tóm lại về chính sách ngoại giao của các vua thời Nguyễn nên được nhìn ở hai khía cạnh: tích cực và hạn chế, ở phần hạn chế có thể khẳng định: chính sách bài phương Tây thái quá dẫn đến việc cấm đạo hà khắc; thái độ mềm yếu trong đối phó với cuộc xâm lược vũ trang của bọn thực dân; thiếu quyết tâm chống giặc và thắng giặc; hành động ngăn trở cuộc kháng chiến của nhân dân, chỉ trông mong vào lương tâm và hảo ý của kẻ địhc, trông chờ vào sự cứu giúp từ bên ngoài, cuối cùng phải ký kết các hiệp ước đầu hàng Đó là phần bi đát nhất trong tramh
sử ngoại giao thời Nguyễn.
Tựu trung lại, chính sách ngoại giao của các triều vua Nguyễn tuy không hoàn toàn là sai lầm, có lúc còn có thể coi là khôn khéo nhưng đứng trước kẻ thù nham hiểm và khát vọng xâm lược của chúng, một số mặt hạn chế củ đường lối đó
đã bị khai thác triệt để và nó đã không thể cứu được đất nước khỏi hoạ xâm lăng”.
[6; 10 – 19]
Cuốn sách cũng ghi lại lại ý kiến đánh giá của Giáo sư Văn Tạo về cả mặtmạnh và yếu của nhà Nguyễn như sau:
“Vậy cái mạnh của triều Nguyễn 1802 – 1884 ở những chỗ nào?
Mặt mạnh hay những thành đạt của đất nước trong thời kỳ này ngoài hệ thống hành chính được củng cố qua cải cách của Minh Mệnh còn có:
- Phát triển kinh tế xã hội trong chừng mực nhất định, nhất là về nông nghiệp: trị thuỷ đắp đê phòng lụt, đào kênh khai ngòi, dẫn thuỷ nhập điền, khẩn hoang ở Bắc, khai thác đát đai màu mỡ ở Nam, khiến của cải xã hội gia tăng, dân
số phát triển, góp phần thúc đẩy công, thương nghiệp phát triển hơn trước.
- Phát triển giáo dục: tăng cường khoa cử, đào tạo và tuyển chọn nhân tài (những tài năng văn hoá, nghệ thuật ngày một nhiều như Nguyễn Công Trứ, Đào
Trang 19Tấn, những nhà thơ xuất sắc như Thần Siêu, Thánh Quát đều xuất hiện trong giai đoạn này).
- Phát triển văn hoá, khoa học, nhất là về lịch sử (Đại Nam Hội Điển sự lệ, Việt Sử Thông giám Cương mục, Lịch triều Hiến chương Loại chí), địa lý (Đại Nam nhất thống chí, Đại Nam nhất thống toàn đồ ) đều đạt nhiều thành tựu, nhằm phát huy nền văn minh, văn hiến Việt Nam.
Và mặt yếu hay những tư tưởng, phong cách, hành động bảo thủ, trì trệ, lạc hậu của nhà Nguyễn được thể hiện ra sao?
Đáng kể như:
- Về kinh tế thì tô thuế nặng nề, bế quan toả cảng, sản xuất chậm phát triển, đời sống nhân dân ít được cải thiện, đói kém xảy ra triền miên, những đề nghị cải cách của Nguyễn Trường Tộ, Phạm Phú Thứ không lọt được vào tai.
- Về chính trị, với cơ chế quản lý theo Tống Nho, sao chép Mãn Thanh cổ
hủ, lạc hậu khiến mâu thuẫn xã hội giữa nhân dân với triều đình, giữa giàu và nghèo ngày càng tăng, mâu thuânc đối kháng có lúc có nơi diễn ra kịch liệt biểu hiện ra ở hàng trăm cuộc khởi nghĩa nông dân, tiêu biểu như Nguyễn Hữu Cầu, Phan Bá Vành
- Về quân sự: thiếu tinh thần tự lực tự cường, thiếu đoàn kết “vua tôi đồng lòng anh em hoà mục” như thời Trần chống Nguyên, thiếu tinh thần chí cốt giữa quân và tướng (phụ tử chi vinh) như của Trần – Lê Khi thực dân đến xâm lăng thì chủ hoà, đầu hàng luôn vượt trội chủ chiến Trong nội tộc thì “Hàm Nghi Duy Tân” những viên ngọc quý không nhiều, còn những “Tự Đức” nhu nhược, “”Dồng Khánh, Khải Định, Bảo Đại ” tự ngyện làm tay sai cho để quốc lại nhiều hơn.
Theo những mặt mạnh mặt yếu kể trên thì vua chúa nhà Nguyễn vừa là tác nhân, vừa là một trong những sản phẩm của xã hội Việt Nam - một xã hội đầu thế
kỷ XIX chưa thoát ra khỏi được tầm vóc kinh tế, chính trị, xã hội trung cổ mà chính
họ cũng phải chịu trách nhiệm Trong 143 năm tồn tại của nhà Nguyễn “công và tội đều có”.
Trang 20“1 Vấn đề thống nhất đất nước
Các ý kiến cho rằng: Công lao thống nhất đất nước là do một mình Nguyễn Huệ và Nguyễn Anh đều không đúng Công cuộc thống nhất đất nước là của cả dân tộc và diễn ra trong một quá trinh đấu tranh lâu dài và gian khổ không kém gì sự nghiệp đấu tranh và giải phóng dân tộc Sau hơn hai thế kỷ nội chiến và chia cắt, công cuộc thống nhất đất nước vào thế kỷ XVIII trở thành một xu thế của lịch sử.
Sự kiện quan trọng nhất trong trong công cuộc thống nhất đất nước vào thế kỷ XVIII là sự kiện Nguyễn Huệ cũng nghĩa quân Tây Sơn dau khi đánh thắng quân Xiêm, loại bỏ thế lực chúa Nguyễn vào năm 1785 ở chiến trường miền Nam, mùa
hè 1786 ra Phú Xuân lật đổ Chúa Trịnh, đại phá quân Thanh, xóa bỏ Đàng Trong – Đàng Ngoài, thực hiện được khát vọng của nhân dân Nguyễn Huệ lại tiếp tục củng cố nền thống nhất đất nước nhưng vẫn không vượt qua được hạn chế của lịch
sử Đó là việc tồn tại hai niên hiệu, hai chính quyền Tây Sơn của Thái Đức và Quang Trung ở hai vùng kiểm soát khác nhau Năm 1792, vua Quang Trung chuẩn
bị kế hoạch hợp nhất lực lượng với vua anh là Thái Đức để đánh quân Nguyễn ở Gia Định, hoàn thành công cuộc thống nhất đất nước, thì nhà vua đột ngột qua đời, để lại một sự nghiệp thống nhất dở dang Nguyễn Ánh sau khi chiếm được Phú Xuân, năm 1802 lên ngôi ở Huế và cho quân ra Bắc đánh bại vương triều Tây Sơn, mới hoàn thành công cuộc thống nhất đất nước.
2 Vấn đề độc lập dân tộc
Trang 21Một số ý kiến muốn đặt lại vấn đề Nguyễn Ánh “cõng rắn cắn gà nhà” hay
“rước voi dày mà tổ” trong bối cảnh chế độ quân chủ chuyên chế để có cách nhìn thỏa đáng hơn Nhưng nhìn chung hành động cứu viện của Nguyễn Ánh để 5 vạn quân Xiêm sang xâm lược nước ta vào năm 1784 – 1785 với những hậu quả của nó
là không thể chạy tội trước lịch sử Hiệp ước Versailles đã được ký kết giữa Pháp
và Bá Đa Lộc người đại diện Nguyễn Ánh đi sang Pháp để xin cầu viện tuy không được thực thi, nhưng Nguyễn Ánh đã nhờ quân đội, phương tiện và chiến phí phương Tây, do Bá Đa Lộc vận động đóng góp, chiến thắng quân Tây Sơn Đây cũng là lý do để xem xét động cơ và duyên cớ sau này mà thực dân Pháp xâm lược nước ta.
Sau khi lên ngôi Hoàng Đế, Gia Long có thái độ thận trọng hơn đối với các nước phương Tây; vì tiếp xúc nhiều nên nhà vua thừa hiểu bản chất và dã tâm của
họ Từ việc hạn chế giao thiệp với phương Tây của Gia Long đến thái độ cứng rắn
và thù địch của vua Minh Mệnh và Thiệu trị; các vua Nguyễn tưởng đó là lập trường kiên định và biện pháp đúng đắn để bảo vệ chủ quyền Nhưng không ngờ nó trở thành duyên cớ để thực dân Pháp dùng vũ lực can thiệp và xâm lược nước ta dưới thời Tự Đức Khi nổ súng xâm lược nước ta, chúng đã hoàn toàn thất bại trong chiến cuộc Đà Nẵng năm 1858, mặc dù đã huy động lực lượng tối đa Vua tự Đức đã không phát huy tinh thần chiến đấu dũng cảm và sự đoàn kết chống giặc ngoại xâm nền cuộc chiến đấu của triều đình Huế và các cuộc khởi nghĩa của nhân dân về sau đều thất bại Triều Nguyễn liên tiếp ký với Pháp nhiều hàng ước, lãnh thổ và chủ quyền đất nước cũng từ đó rơi dần vào tay thực dân Pháp Với tư tưởng chủ hòa này, triều Nguyễn đưa đất nước đến vực thẳm nô lệ Không nền nặng nề với lời quy kết bán nước như trước đây, nhưng triều Nguyễn phải hoàn toàn chịu trách nhiệm trước lịch sử vì để mất nước, dân tộc ta phải chịu cảnh nô lệ dưới ách thống trị thực dân Pháp vào nửa sau thế kỷ XX KHông nên gọi các vua triều Nguyễn là “bán nước” Từ Gia Long cho đến Tự Đức, các nhà vua đó đều yêu nước, đều có ý thức bảo vệ chủ quyền và nền độc lập Sai lầm của các vua là do