1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ẢNH HƯỞNG CỦA NUÔI TRỒNG THỦY SẢN ĐẾN MÔI TRƯỜNG Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

20 2K 11

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 437 KB
File đính kèm Thủy sản và môi trường ĐBSCL.rar (199 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các nguồn chất thải sau nuôi trồng chưa được xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường vẫn được thải ra các sông, kinh, rạch trong khu vực (ở khu vực ĐBSCL theo đánh giá đã cho thấy hàng năm thải ra 456,6 triệu m3 bùn thải và chất thải nuôi trồng thủy sản) gây nên các tác động xấu đến chất lượng nước và dịch bệnh phát sinh.

Trang 1

Hình 1: Người nuôi cá tra và doanh nghiệp chế biến xuất khẩu ở ĐBSCL áp dụng theo tiêu chuẩn

Global GAP (Ngọc Yến).

ẢNH HƯỞNG CỦA NUÔI TRỒNG THỦY SẢN ĐẾN MÔI TRƯỜNG Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG



I MỞ ĐẦU

Nuôi trồng thủy sản là một trong những loại hình nông nghiệp hết sức phổ biến của nước ta Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, sản lượng thủy sản 10 tháng đầu năm 2011 ước đạt 4.612 ngàn tấn, tăng 5,4% so với cùng kỳ năm 2010, trong đó sản lượng khai thác ước đạt 2.199 ngàn tấn, tăng 5,2%; sản lượng nuôi trồng ước đạt 2.413 ngàn tấn, tăng 5,5% so với cùng kỳ năm 2010 Năm 2011 vừa qua ngành thủy sản cả nước có được kết quả đáng phấn khởi cả về sản xuất nuôi trồng, khai thác và xuất khẩu Tổng diện tích nuôi trồng thủy sản của cả nước đạt 1.099.000ha, tăng 2,5% Sản lượng thủy sản ước đạt 5,32 triệu tấn, trong đó sản lượng nuôi trồng đạt 3 triệu tấn, tăng 7,8% so với 2010 Giá trị xuất khẩu ước đạt 6 tỷ USD, tăng 19,6% so với năm 2010 chủ yếu do được giá.Thật vậy, nuôi trồng thủy sản là một ngành kinh tế mang lại nguồn lợi khá lớn cho người dân cả nước nói chung

và đặc biệt là người dân khu vực Đồng bằng sông Cửu Long - một vùng đất ngập nước điển hình với trên 90% diện tích ngập nước theo mùa mưa lũ và theo thủy triều thuộc lưu vực sông Mê Kông đổ ra biển Đông

Ngành nghề nuôi trồng thủy

sản đã nhanh chóng phát triển

suốt hơn 2 thập kỷ qua và có

những đóng góp lớn cho nên kinh

tế quốc gia Trong vòng 10 năm

từ 1995 đến 2005, diện tích nuôi

trồng thủy sản vùng Đồng bằng đã

tăng hơn 2.37 lần và sản lượng

tăng vọt hơn 3.68 lần

Trong 6 tháng đầu năm

2011, diện tích nuôi cá tra vùng

Trang 2

thu hoạch 1.933 ha, sản lượng cá thu hoạch đạt 597.324 tấn (năng suất 309 tấn/ha) với kim ngạch xuất khẩu đạt 744 triệu USD là một bước tăng đáng kể so với các ngành thủy sản khác

Đến hết quý 3/2011, diện tích thả nuôi tôm tại các tỉnh ĐBSCL là 594.421 ha, chiếm 92% diện tích nuôi tôm của cả nước Sản lượng thu hoạch đạt 209.342 tấn, bằng 70% sản lượng cả nước Năm 2011 xuất

khẩu tôm của Việt Nam lần đầu tiên đạt

con số gần 2,4 tỉ đô la, tăng 13,7% so với

năm 2010

Vì vậy, ngành nuôi tôm và cá tra

được đặc biệt quan tâm nhiều hơn so với

trước kia, nó đang dần trở thành một

trong những lĩnh vực kinh tế hết sức quan

trọng đối với người dân đồng bằng sông

Cửu Long

Tuy nhiên, do việc chưa áp dụng các tiến bộ khoa học - kỹ thuật kết hợp với việc mở rộng diện tích các ao nuôi vô tình người dân đã làm ảnh hưởng nặng nề đến môi trường nước Một điều chúng ta cần hết sức quan tâm là với các mô hình nuôi thâm canh càng cao, quy mô công nghiệp càng lớn thì lượng chất thải lại càng lớn và mức độ nguy hại cho môi trường nước càng nhiều Bên cạnh đó, các nguồn chất thải sau nuôi trồng chưa được xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường vẫn được thải ra các sông, kinh, rạch trong khu vực đã gây nên các tác động xấu đến chất lượng nước và dịch bệnh phát sinh Đây chính

là một mối đe dọa lớn đến nguồn tài nguyên - môi trường sinh thái (đặc biệt là tài nguyên nước - nguồn tài nguyên hết sức quan trọng của vùng) và cũng như đối với sức khỏe người dân đang sống ở đây Và nghiêm trọng hơn, nếu không có cách quản lý kịp thời thì tình trạng trên sẽ làm ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển bền vững nền kinh tế

- xã hội của đất nước

Vì thế, việc đưa ra một số giải pháp để quản lý có hiệu quả đối với ngành nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là nuôi cá tra hiện nay là một vấn đề cấp bách hàng đầu cần được quan tâm nhiều hơn

Hình 2: Thu hoạch tôm sú

Trang 3

II THỰC TRẠNG NUÔI TRỒNG THỦY SẢN Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG (ĐBSCL)

1 Tình hình nuôi trồng thủy sản ở ĐBSCL

a Cả nước:

Theo báo cáo của Bộ NN&PTNT: Năm 2011 là năm rất thuận lợi cho ngành nuôi trồng thủy sản, được mùa và được giá, sản lượng nuôi trồng thuỷ sản cả năm ước đạt 2.930 ngàn tấn, tăng 7,4% cùng kỳ năm 2010, trong đó tháng 12/2011 ước đạt 271 ngàn tấn Tính cả năm, cá Tra ước đạt sản lượng 1.136.253 tấn (diện tích: 5.571,6 ha); Tôm nuôi nước lợ ước đạt 435.000 tấn (diện tích: 658.000 ha); Tôm càng xanh đạt 13.000 tấn (diện tích: 8.500 ha); nhuyễn thể đạt 180.000 tấn (diện tích: 30.000 ha); cá nước ngọt ước đạt trên 800.000 tấn (diện tích: 380.000 ha)

b Đồng bằng sông Cửu Long:

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) có chiều dài bờ biển từ Long An đến Kiên Giang (Giáp Campuchia-không tính các đảo) là 780 km; trong nội địa có một mạng lưới sông ngòi dày đặc với 15 cửa sông lớn đổ ra biển; nguồn lợi thủy sản phong phú với nhiều thành phần giống loài có giá trị kinh tế cao; lực lượng lao động dồi dào; nằm tiếp giáp với Thành phố Hồ Chí Minh là một trung tâm kinh tế lớn nhất của cả nước, đây là những lợi thế rất lớn để phát triển ngành thủy sản, đặc biệt là lĩnh vực nuôi trồng thủy sản (NTTS)

Tôm sú, cá tra là các đối tượng được nuôi trồng tương đối phổ biến ở các tỉnh, thành trong vùng, đặc biệt là các tỉnh nằm ven sông Tiền và sông Hậu Sản lượng cá tra của ĐBSCL chiếm trên 95% sản lượng cá da trơn của cả nước Trong những năm qua, giá trị xuất khẩu cá tra có tốc độ tăng trưởng khá cao và đóng góp rất lớn vào tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản của cả nước (chỉ đứng sau tôm sú)

 Vùng nuôi cá tra tập trung ở các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, Vĩnh Long, Bến Tre, Sóc Trăng, Tiền Giang, Hậu Giang, và Trà Vinh

Cá tra được nuôi dưới 2 loại hình chính:

• Thâm canh trong ao:

Loại hình nuôi cá tra thâm canh trong ao phù hợp với những ưu điểm về đặc tính

Trang 4

tự phát, thiếu quy hoạch nên diện tích liên tục gia tăng Đến năm 2003, diện tích nuôi là 2.792,4 ha, tăng nhanh vào năm 2007 lên tới 5.429,7 ha; tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2003-2007 là 18,1%/năm Tốc độ tăng trưởng bình quân trong 11 năm (1997-2007) là 15,46%/năm, diện tích nuôi cá tra năm 2007 tăng gấp 4,2 lần so với năm 1997 Đến tháng 7/2008 đã triển khai nuôi cá tra được 5.350,8 ha, gần bằng với diện tích nuôi năm 2007

Hình 3: Diễn biến diện tích nuôi cá tra ở vùng ĐBSCL giai đoạn 1997-7T/2008

Trang 5

T

Địa

phương/

Năm 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007

7T/

2008

TĐTT GĐ

TĐTT GĐ 1997-2002

2003-2007

1

Long

2

Tiền

Giang

850,0 900,0 815,0 738,0 860,0 860,0 880,0 900,0 920,0 42,0 82,0 120,

0 0,23

-44,7 5

3

Bến

680, 0

4

Trà

5

Sóc

210, 5

71,9 9

6

Bạc

7

8

Kiên

9

An

Giang 440,0 400,0 600,0 400,0 401,1 650,0 860,9 765,2 815,0 807,2

1.393, 8

1.39 2,0 8,12

12,8 0

1

0

Đồng

1.826,

1.11 0,4

32,8 4

1

1

Vĩnh

336, 4

52,9 5

1

2

Hậu

199, 0

58,4 3

1

3

Cần

1.569, 9

1.24 1,9

29,8 6

Tổng

1.290,

0

1.735, 0

2.253, 0

2.123, 0

2.316, 6

2.413, 2

2.792, 4

3.325, 1

4.912, 5

3.653, 0

5.429, 7

5.35 0,8

13,3 4

18,0 9

Bảng 1: Diện tích nuôi cá tra ở các tỉnh ĐBSCL giai đoạn 1997- 7T/2008

ĐVT: ha

(Nguồn: Báo cáo của các Sở Thủy sản, Sở NN & PTNT và Cục Nuôi trồng Thủy sản,

giai đoạn 1997-7/2008)

Trang 6

• Nuôi lồng bè:

Năm 1997, nuôi cá tra lồng bè mới chỉ xuất hiện ở An Giang với 100 lồng, tương đương 20.000m3, sau đó phong trào nuôi cá tra lồng bè bắt đầu lan rộng sang các tỉnh Đồng Tháp, Cần Thơ, Vĩnh Long, Tiền Giang và đạt cao nhất về số lượng

bè vào năm 2003 (2.333 lồng); thể tích cao nhất năm 2004 đạt 683.856m3, giai đoạn

về sau hình thức nuôi lồng bè giảm xuống rất nhanh cả về số lượng và thể tích nuôi

Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 1997-2002 về số lượng bè là 47,44%/năm, về thể tích là 51,38%/năm Giai đoạn 2003-2007, tốc độ tăng trưởng bình quân âm là (-49,48%/năm về số lượng, -52,5%/năm về thể tích) do hình thức nuôi lồng bè kém hiệu quả về mặt kinh tế hơn so với nuôi cá tra trong ao Tốc độ tăng trưởng bình quân về số lượng và thể tích lồng bè nuôi qua 10 năm khoảng 4%/năm Thể tích trung bình qua các năm mỗi lồng nuôi trong vùng là 250m3/lồng, dao động trong khoảng 198-363m3/lồng

Trong vùng có 5 tỉnh nuôi cá tra lồng bè: An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, Tiền Giang và Vĩnh Long nhưng phát triển mạnh chỉ tập trung ở 2 tỉnh An Giang và Đồng Tháp Năm 2003, tỉnh An Giang số lượng lồng bè lên cao nhất là 1.804 lồng, Đồng Tháp là 300 lồng; số lượng lồng bè 2 tỉnh này chiếm khoảng 90% trong toàn vùng Năm 2004, tỉnh An Giang có thể tích nuôi lồng bè cao nhất (564.846m3), tiếp đến Đồng Tháp (75.000m3) và chỉ riêng 2 tỉnh đã chiếm 93,6% thể tích trong toàn vùng

Trang 7

Bảng 2: Số lượng và thể tích lồng bè nuôi cá tra các tỉnh ĐBSCL giai đoạn

T

T

Địa

phương/

Năm 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 7T/2008

TĐT

T GĐ

TĐTT GĐ

TĐTT GĐ

1997-2002

2003-2007

1997-2007

1

An

1.58

247 126

172

43, 01

-48,5

*

Thể tích

(m 3 )

20.00

0

40.0 00

110.00 0

380.00 0

320.00 0

437.50 0

471.14 8

564.

84 6

255.

63 5

98.1

53 24.836 33.903 47,

06

-52,0 8

2,1 9

2

Đồng

-52,7 1

*

Thể tích

(m 3 ) 0

111.

573 80.201

101.20 0

100.00

0 80.000 74.722

75.0 00

38.7 18

2.63

3 768 0

-68,1 6

*

Thể tích

(m 3 ) 0 0 2.345 2.747 3.350 5.350 7.470

9.96 0

6.00

0 0 0 0

4

Vĩnh

-53,7 2

*

Thể tích

(m 3 ) 0 0 0 0 4.200 28.350 38.150

33.2 50

7.00 0

4.00

0 3.300 2.640

-45,7 7

5

Tiền

*

Thể tích

(m 3 ) 0 0 0 0 400 400 0 800

1.00 0

1.20

0 1.200 0

Tổng 100 641 902 2.341 2.060 2.233 2.333

2.06

3 850 311 152 176

47, 44

-49,4

8 4,28 Thể tích

(m 3 )

20.00

0

151.5 73

192.54 6

483.94 7

427.95 0

551.60

0 591.490

683.

856

308.

353

105.

986 30.104 36.543

51, 38

-52,5

0 4,17 Thể tích

TB/lồng

(m 3 ) 200 236 213 207 208 247 254 331 363 341 198 208

(Nguồn: Báo cáo của các Sở Thủy sản, Sở NN & PTNT và Cục Nuôi trồng Thủy

sản, giai đoạn 1997-7/2008).

Trang 8

 Vùng nuôi tôm sú tập trung tại các tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu, Kiên Giang, Sóc Trăng, Trà Vinh, Bến Tre, Long An, và Tiền Giang

Tuy ĐBSCL chiếm diện tích nuôi tôm lớn nhất trong cả nước, là nơi cung cấp tôm chính cho thị trường trong và ngoài nước Thế nhưng việc nuôi tôm vẫn còn mang tính tự phát, không có tính qui hoạch

Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, tính đến tháng 5 năm 2010, các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long đưa 550.600ha vào nuôi tôm sú, chiếm gần 70% diện tích nuôi toàn vùng; giảm gần 16.000ha so với năm ngoái Diện tích nuôi tôm sú lớn nhất là Cà Mau 257 nghìn ha; Bạc Liêu 121,8 nghìn ha; Sóc Trăng 47,6 nghìn ha và Kiên Giang 77,2 nghìn ha Trong đó, diện tích nuôi tôm thâm canh, bán thâm canh chỉ đạt 47, 6 nghìn ha; còn lại là nuôi quảng canh, tập trung nhiều nhất ở hai tỉnh Cà Mau và Bạc Liêu Sản lượng sau thu hoạch, chỉ tính riêng ở các tỉnh ĐBSCL là 160,5 nghìn tấn, chiếm hơn 76% tổng sản lượng tôm của

cả nước; nhiều nhất là Cà Mau 68,5 nghìn tấn, Bạc Liêu 36,2 nghìn tấn, Kiên Giang 13,6 nghìn tấn

Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn qui hoạch đến năm 2015, đưa 546.000 ha mặt nước tại Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) vào nuôi tôm sú, giảm 768 ha so với năm 2010 nhưng sản lượng sẽ đạt 463.000 tấn, tăng 77.000 tấn

so cùng thời điểm, 80% sản lượng sẽ được xuất khẩu với giá trị hàng năm ít nhất là 1,5 tỉ USD

Để bảo đảm đạt kết quả mong muốn, ĐBSCL mở rộng nuôi theo chiều sâu trên địa bàn 8 tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Kiên Giang, Trà Vinh, Bến Tre, Tiền Giang, Long An, trong đó tỉnh Cà Mau có diện tích nuôi lớn nhất ĐBSCL cải tiến kỹ thuật nuôi theo hướng bền vững và áp dụng các công nghệ nuôi tiên tiến, thân thiện với môi trường như Code of Conduct – CoC, Good Aquaculture Practice - GAP (áp dụng các qui trình nuôi tốt), nuôi có trách nhiệm (Responsible Aquaculture Practice - RAP), quản lý vùng nuôi an toàn, nhằm tạo sản phẩm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường thế giới và trong nước

Hình thức nuôi phổ biến là quảng canh, quảng canh cải tiến, bán thâm canh, thâm canh Trong đó, diện tích nuôi bán thâm canh và thâm canh chiếm khoảng 20% diện tích để sản lượng nuôi bán thâm canh và thâm canh chiếm 51% tổng sản

Trang 9

lượng tôm, sản lượng nuôi quảng canh cải tiến chiếm 35%, sản lượng tôm lúa, tôm rừng chiếm 14% tổng sản lượng Năng suất tôm nuôi quảng canh phấn đấu từ 0,35-0,45 tấn/ha, nuôi quảng canh cải tiến trên ruộng lúa (tôm lúa) đạt từ 0,4-0,5 tấn/ha, nuôi tôm rừng 0,15-0,20 tấn/ha, nuôi thâm canh-bán thâm canh đạt trung bình 2,0-3,5 tấn/ha Hiện tại năng suất tôm nuôi trung bình của vùng đạt 0,7 tấn/ha/năm và phấn đấu đến năm 2015 đạt 0,85 tấn/ha Tổng sản lượng tôm sú nuôi vùng ĐBSCL

sẽ tăng từ 386.400 tấn năm 2010 lên 463.000 tấn năm 2015 Trong đó sản lượng tôm nuôi chủ yếu được đóng góp từ các tỉnh vùng Bán đảo Cà Mau

2 Thực trạng ô nhiễm môi trường do nuôi trồng thủy sản

Vùng đồng bằng sông Cửu long là một khu đất ngập nước rộng lớn như một phần cuối hạ nguồn của sông Mekong ra đến biển Đông và vịnh Thái Lan nên có một tiềm năng to lớn trong nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt và nước mặn Toàn vùng

có diện tích nuôi thủy sản nước ngọt, nước mặn trên 685.800 ha, sản lượng gần 1 triệu tấn/năm, với rất nhiều mô hình canh tác khác nhau

Một điều hết cần hết sức quan

tâm là, với các mô hình nuôi thâm

canh càng cao, quy mô công nghiệp

càng lớn thì lượng chất thải lại càng

lớn và mức độ nguy hại cho môi

trường nước càng nhiều.Vùng

ĐBSCL đang phải gánh chịu sự suy

giảm chất lượng nước ô nhiễm môi

trường do việc bùng phát thâm canh

nuôi trồng thủy sản trong suốt hai

thập niên qua, cả về diện tích nuôi và

mật độ nuôi thả tôm hoặc cá trên mỗi

mét vuông mặt nước

Các nguồn chất thải sau nuôi trồng chưa được xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường vẫn được thải ra các sông, kinh, rạch trong khu vực (ở khu vực ĐBSCL theo đánh giá đã cho thấy hàng năm thải ra

Hình 4: Phong trào nuôi cá tra ao phát triển

tự phát ở nhiều địa phương cũng là tác nhân quan trọng làm ảnh hưởng chất lượng nguồn nước mặt ở ĐBSCL (Ảnh: H.V)

Trang 10

456,6 triệu m3/ bùn thải và chất thải nuôi trồng thủy

sản) gây nên các tác động xấu đến chất lượng nước và

dịch bệnh phát sinh

Ước tính mỗi năm, việc nuôi trồng thủy sản đã thải ra môi trường nước xấp

xỉ 3 triệu tấn bùn ở dạng chất thải hữu cơ gần như chưa được xử lý Chất thải trong nuôi trồng thủy sản là bùn thải chứa phân của các loài thủy sản tôm cá, các nguồn thức ăn dư thừa thối rữa bị phân hủy, các chất tồn dư của các loại vật tư sử dụng trong nuôi trồng như: hóa chất, vôi và các loại khoáng chất Diatomit, Dolomit, lưu huỳnh lắng đọng, các chất độc hại có trong đất phèn Fe2+, Fe3+, Al3+, SO42-, các thành phần chứa H2S, NH3 là sản phẩm của quá trình phân hủy yếm khí ngập nước tạo thành, nguồn bùn phù sa lắng đọng trong các ao nuôi trồng thủy sản thải ra hàng năm trong quá trình vệ sinh và nạo vét ao nuôi Đặc biệt, với các mô hình nuôi

kỹ thuật cao, mật độ nuôi lớn như nuôi thâm canh, nuôi công nghiệp thì nguồn thải càng lớn và tác động gây ô nhiễm môi trường càng cao

Một số kết quả nghiên cứu cho thấy: Chỉ có 17% trọng lượng khô của thức

ăn cung cấp cho ao nuôi được chuyển thành sinh khối, phần còn lại được thải ra môi trường dưới dạng phân và chất hữu cơ dư thừa thối rữa vào môi trường Đối với các

ao nuôi công nghiệp chất thải trong ao có thể chứa đến trên 45% nitrogen và 22% là các chất hữu cơ khác Các loại chất thải chứa nitơ và phốtpho ở hàm lượng cao gây nên hiện tượng phú dưỡng môi trường nước phát sinh tảo độc trong môi trường nuôi trồng thủy sản Đặc biệt, nguồn chất thải này lan truyền rất nhanh đối với hệ thống nuôi cá bè trên sông, nuôi cá bao ví trong các đầm trũng ngập nước cùng với lượng phù sa lan truyền có thể gây ô nhiễm môi trường và dịch bệnh thủy sản phát sinh trong môi trường nước

Theo tính toán một cách tính gần đúng, muốn có 1 kg cá da trơn thành phẩm, người nông dân đã phải sử dụng từ 3-5 kg thức ăn, trung bình khoảng 4 kg Thực tế chỉ khoảng 17% thức ăn được cá hấp thu và phần còn lại (chừng 83%) hòa lẫn trong môi trường nước trở thành các chất hữu cơ phân hủy Như vậy, với ước tính khoảng

1 triệu tấn thủy sản thì ít nhất 3 triệu tấn chất thải hữu cơ đã tuôn ra môi trường nước ở ĐBSCL Đối với các ao nuôi công nghiệp chất thải trong ao có thể chứa đến trên 45% nitrogen và 22% là các chất hữu cơ khác Các loại chất thải chứa nitơ và

Ngày đăng: 26/09/2016, 17:45

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1:  Người nuôi cá tra và doanh nghiệp chế  biến xuất khẩu ở ĐBSCL áp dụng theo tiêu chuẩn - ẢNH HƯỞNG CỦA NUÔI TRỒNG THỦY SẢN ĐẾN  MÔI TRƯỜNG Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Hình 1 Người nuôi cá tra và doanh nghiệp chế biến xuất khẩu ở ĐBSCL áp dụng theo tiêu chuẩn (Trang 1)
Hình 2: Thu hoạch tôm sú - ẢNH HƯỞNG CỦA NUÔI TRỒNG THỦY SẢN ĐẾN  MÔI TRƯỜNG Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Hình 2 Thu hoạch tôm sú (Trang 2)
Hình 3: Diễn biến diện tích nuôi cá tra ở vùng ĐBSCL giai đoạn 1997-7T/2008 - ẢNH HƯỞNG CỦA NUÔI TRỒNG THỦY SẢN ĐẾN  MÔI TRƯỜNG Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Hình 3 Diễn biến diện tích nuôi cá tra ở vùng ĐBSCL giai đoạn 1997-7T/2008 (Trang 4)
Bảng 1: Diện tích nuôi cá tra ở các tỉnh ĐBSCL giai đoạn 1997- 7T/2008 - ẢNH HƯỞNG CỦA NUÔI TRỒNG THỦY SẢN ĐẾN  MÔI TRƯỜNG Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Bảng 1 Diện tích nuôi cá tra ở các tỉnh ĐBSCL giai đoạn 1997- 7T/2008 (Trang 5)
Bảng 2: Số lượng và thể tích lồng bè nuôi cá tra các tỉnh ĐBSCL giai đoạn 1997- - ẢNH HƯỞNG CỦA NUÔI TRỒNG THỦY SẢN ĐẾN  MÔI TRƯỜNG Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Bảng 2 Số lượng và thể tích lồng bè nuôi cá tra các tỉnh ĐBSCL giai đoạn 1997- (Trang 7)
Hình 4: Phong trào nuôi cá tra ao phát triển - ẢNH HƯỞNG CỦA NUÔI TRỒNG THỦY SẢN ĐẾN  MÔI TRƯỜNG Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Hình 4 Phong trào nuôi cá tra ao phát triển (Trang 9)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w