Các nguồn chất thải sau nuôi trồng chưa được xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường vẫn được thải ra các sông, kinh, rạch trong khu vực (ở khu vực ĐBSCL theo đánh giá đã cho thấy hàng năm thải ra 456,6 triệu m3 bùn thải và chất thải nuôi trồng thủy sản) gây nên các tác động xấu đến chất lượng nước và dịch bệnh phát sinh.
Trang 1Hình 1: Người nuôi cá tra và doanh nghiệp chế biến xuất khẩu ở ĐBSCL áp dụng theo tiêu chuẩn
Global GAP (Ngọc Yến).
ẢNH HƯỞNG CỦA NUÔI TRỒNG THỦY SẢN ĐẾN MÔI TRƯỜNG Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
I MỞ ĐẦU
Nuôi trồng thủy sản là một trong những loại hình nông nghiệp hết sức phổ biến của nước ta Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, sản lượng thủy sản 10 tháng đầu năm 2011 ước đạt 4.612 ngàn tấn, tăng 5,4% so với cùng kỳ năm 2010, trong đó sản lượng khai thác ước đạt 2.199 ngàn tấn, tăng 5,2%; sản lượng nuôi trồng ước đạt 2.413 ngàn tấn, tăng 5,5% so với cùng kỳ năm 2010 Năm 2011 vừa qua ngành thủy sản cả nước có được kết quả đáng phấn khởi cả về sản xuất nuôi trồng, khai thác và xuất khẩu Tổng diện tích nuôi trồng thủy sản của cả nước đạt 1.099.000ha, tăng 2,5% Sản lượng thủy sản ước đạt 5,32 triệu tấn, trong đó sản lượng nuôi trồng đạt 3 triệu tấn, tăng 7,8% so với 2010 Giá trị xuất khẩu ước đạt 6 tỷ USD, tăng 19,6% so với năm 2010 chủ yếu do được giá.Thật vậy, nuôi trồng thủy sản là một ngành kinh tế mang lại nguồn lợi khá lớn cho người dân cả nước nói chung
và đặc biệt là người dân khu vực Đồng bằng sông Cửu Long - một vùng đất ngập nước điển hình với trên 90% diện tích ngập nước theo mùa mưa lũ và theo thủy triều thuộc lưu vực sông Mê Kông đổ ra biển Đông
Ngành nghề nuôi trồng thủy
sản đã nhanh chóng phát triển
suốt hơn 2 thập kỷ qua và có
những đóng góp lớn cho nên kinh
tế quốc gia Trong vòng 10 năm
từ 1995 đến 2005, diện tích nuôi
trồng thủy sản vùng Đồng bằng đã
tăng hơn 2.37 lần và sản lượng
tăng vọt hơn 3.68 lần
Trong 6 tháng đầu năm
2011, diện tích nuôi cá tra vùng
Trang 2thu hoạch 1.933 ha, sản lượng cá thu hoạch đạt 597.324 tấn (năng suất 309 tấn/ha) với kim ngạch xuất khẩu đạt 744 triệu USD là một bước tăng đáng kể so với các ngành thủy sản khác
Đến hết quý 3/2011, diện tích thả nuôi tôm tại các tỉnh ĐBSCL là 594.421 ha, chiếm 92% diện tích nuôi tôm của cả nước Sản lượng thu hoạch đạt 209.342 tấn, bằng 70% sản lượng cả nước Năm 2011 xuất
khẩu tôm của Việt Nam lần đầu tiên đạt
con số gần 2,4 tỉ đô la, tăng 13,7% so với
năm 2010
Vì vậy, ngành nuôi tôm và cá tra
được đặc biệt quan tâm nhiều hơn so với
trước kia, nó đang dần trở thành một
trong những lĩnh vực kinh tế hết sức quan
trọng đối với người dân đồng bằng sông
Cửu Long
Tuy nhiên, do việc chưa áp dụng các tiến bộ khoa học - kỹ thuật kết hợp với việc mở rộng diện tích các ao nuôi vô tình người dân đã làm ảnh hưởng nặng nề đến môi trường nước Một điều chúng ta cần hết sức quan tâm là với các mô hình nuôi thâm canh càng cao, quy mô công nghiệp càng lớn thì lượng chất thải lại càng lớn và mức độ nguy hại cho môi trường nước càng nhiều Bên cạnh đó, các nguồn chất thải sau nuôi trồng chưa được xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường vẫn được thải ra các sông, kinh, rạch trong khu vực đã gây nên các tác động xấu đến chất lượng nước và dịch bệnh phát sinh Đây chính
là một mối đe dọa lớn đến nguồn tài nguyên - môi trường sinh thái (đặc biệt là tài nguyên nước - nguồn tài nguyên hết sức quan trọng của vùng) và cũng như đối với sức khỏe người dân đang sống ở đây Và nghiêm trọng hơn, nếu không có cách quản lý kịp thời thì tình trạng trên sẽ làm ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển bền vững nền kinh tế
- xã hội của đất nước
Vì thế, việc đưa ra một số giải pháp để quản lý có hiệu quả đối với ngành nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là nuôi cá tra hiện nay là một vấn đề cấp bách hàng đầu cần được quan tâm nhiều hơn
Hình 2: Thu hoạch tôm sú
Trang 3II THỰC TRẠNG NUÔI TRỒNG THỦY SẢN Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG (ĐBSCL)
1 Tình hình nuôi trồng thủy sản ở ĐBSCL
a Cả nước:
Theo báo cáo của Bộ NN&PTNT: Năm 2011 là năm rất thuận lợi cho ngành nuôi trồng thủy sản, được mùa và được giá, sản lượng nuôi trồng thuỷ sản cả năm ước đạt 2.930 ngàn tấn, tăng 7,4% cùng kỳ năm 2010, trong đó tháng 12/2011 ước đạt 271 ngàn tấn Tính cả năm, cá Tra ước đạt sản lượng 1.136.253 tấn (diện tích: 5.571,6 ha); Tôm nuôi nước lợ ước đạt 435.000 tấn (diện tích: 658.000 ha); Tôm càng xanh đạt 13.000 tấn (diện tích: 8.500 ha); nhuyễn thể đạt 180.000 tấn (diện tích: 30.000 ha); cá nước ngọt ước đạt trên 800.000 tấn (diện tích: 380.000 ha)
b Đồng bằng sông Cửu Long:
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) có chiều dài bờ biển từ Long An đến Kiên Giang (Giáp Campuchia-không tính các đảo) là 780 km; trong nội địa có một mạng lưới sông ngòi dày đặc với 15 cửa sông lớn đổ ra biển; nguồn lợi thủy sản phong phú với nhiều thành phần giống loài có giá trị kinh tế cao; lực lượng lao động dồi dào; nằm tiếp giáp với Thành phố Hồ Chí Minh là một trung tâm kinh tế lớn nhất của cả nước, đây là những lợi thế rất lớn để phát triển ngành thủy sản, đặc biệt là lĩnh vực nuôi trồng thủy sản (NTTS)
Tôm sú, cá tra là các đối tượng được nuôi trồng tương đối phổ biến ở các tỉnh, thành trong vùng, đặc biệt là các tỉnh nằm ven sông Tiền và sông Hậu Sản lượng cá tra của ĐBSCL chiếm trên 95% sản lượng cá da trơn của cả nước Trong những năm qua, giá trị xuất khẩu cá tra có tốc độ tăng trưởng khá cao và đóng góp rất lớn vào tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản của cả nước (chỉ đứng sau tôm sú)
Vùng nuôi cá tra tập trung ở các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, Vĩnh Long, Bến Tre, Sóc Trăng, Tiền Giang, Hậu Giang, và Trà Vinh
Cá tra được nuôi dưới 2 loại hình chính:
• Thâm canh trong ao:
Loại hình nuôi cá tra thâm canh trong ao phù hợp với những ưu điểm về đặc tính
Trang 4tự phát, thiếu quy hoạch nên diện tích liên tục gia tăng Đến năm 2003, diện tích nuôi là 2.792,4 ha, tăng nhanh vào năm 2007 lên tới 5.429,7 ha; tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2003-2007 là 18,1%/năm Tốc độ tăng trưởng bình quân trong 11 năm (1997-2007) là 15,46%/năm, diện tích nuôi cá tra năm 2007 tăng gấp 4,2 lần so với năm 1997 Đến tháng 7/2008 đã triển khai nuôi cá tra được 5.350,8 ha, gần bằng với diện tích nuôi năm 2007
Hình 3: Diễn biến diện tích nuôi cá tra ở vùng ĐBSCL giai đoạn 1997-7T/2008
Trang 5T
Địa
phương/
Năm 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007
7T/
2008
TĐTT GĐ
TĐTT GĐ 1997-2002
2003-2007
1
Long
2
Tiền
Giang
850,0 900,0 815,0 738,0 860,0 860,0 880,0 900,0 920,0 42,0 82,0 120,
0 0,23
-44,7 5
3
Bến
680, 0
4
Trà
5
Sóc
210, 5
71,9 9
6
Bạc
7
Cà
8
Kiên
9
An
Giang 440,0 400,0 600,0 400,0 401,1 650,0 860,9 765,2 815,0 807,2
1.393, 8
1.39 2,0 8,12
12,8 0
1
0
Đồng
1.826,
1.11 0,4
32,8 4
1
1
Vĩnh
336, 4
52,9 5
1
2
Hậu
199, 0
58,4 3
1
3
Cần
1.569, 9
1.24 1,9
29,8 6
Tổng
1.290,
0
1.735, 0
2.253, 0
2.123, 0
2.316, 6
2.413, 2
2.792, 4
3.325, 1
4.912, 5
3.653, 0
5.429, 7
5.35 0,8
13,3 4
18,0 9
Bảng 1: Diện tích nuôi cá tra ở các tỉnh ĐBSCL giai đoạn 1997- 7T/2008
ĐVT: ha
(Nguồn: Báo cáo của các Sở Thủy sản, Sở NN & PTNT và Cục Nuôi trồng Thủy sản,
giai đoạn 1997-7/2008)
Trang 6• Nuôi lồng bè:
Năm 1997, nuôi cá tra lồng bè mới chỉ xuất hiện ở An Giang với 100 lồng, tương đương 20.000m3, sau đó phong trào nuôi cá tra lồng bè bắt đầu lan rộng sang các tỉnh Đồng Tháp, Cần Thơ, Vĩnh Long, Tiền Giang và đạt cao nhất về số lượng
bè vào năm 2003 (2.333 lồng); thể tích cao nhất năm 2004 đạt 683.856m3, giai đoạn
về sau hình thức nuôi lồng bè giảm xuống rất nhanh cả về số lượng và thể tích nuôi
Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 1997-2002 về số lượng bè là 47,44%/năm, về thể tích là 51,38%/năm Giai đoạn 2003-2007, tốc độ tăng trưởng bình quân âm là (-49,48%/năm về số lượng, -52,5%/năm về thể tích) do hình thức nuôi lồng bè kém hiệu quả về mặt kinh tế hơn so với nuôi cá tra trong ao Tốc độ tăng trưởng bình quân về số lượng và thể tích lồng bè nuôi qua 10 năm khoảng 4%/năm Thể tích trung bình qua các năm mỗi lồng nuôi trong vùng là 250m3/lồng, dao động trong khoảng 198-363m3/lồng
Trong vùng có 5 tỉnh nuôi cá tra lồng bè: An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, Tiền Giang và Vĩnh Long nhưng phát triển mạnh chỉ tập trung ở 2 tỉnh An Giang và Đồng Tháp Năm 2003, tỉnh An Giang số lượng lồng bè lên cao nhất là 1.804 lồng, Đồng Tháp là 300 lồng; số lượng lồng bè 2 tỉnh này chiếm khoảng 90% trong toàn vùng Năm 2004, tỉnh An Giang có thể tích nuôi lồng bè cao nhất (564.846m3), tiếp đến Đồng Tháp (75.000m3) và chỉ riêng 2 tỉnh đã chiếm 93,6% thể tích trong toàn vùng
Trang 7Bảng 2: Số lượng và thể tích lồng bè nuôi cá tra các tỉnh ĐBSCL giai đoạn
T
T
Địa
phương/
Năm 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 7T/2008
TĐT
T GĐ
TĐTT GĐ
TĐTT GĐ
1997-2002
2003-2007
1997-2007
1
An
1.58
247 126
172
43, 01
-48,5
*
Thể tích
(m 3 )
20.00
0
40.0 00
110.00 0
380.00 0
320.00 0
437.50 0
471.14 8
564.
84 6
255.
63 5
98.1
53 24.836 33.903 47,
06
-52,0 8
2,1 9
2
Đồng
-52,7 1
*
Thể tích
(m 3 ) 0
111.
573 80.201
101.20 0
100.00
0 80.000 74.722
75.0 00
38.7 18
2.63
3 768 0
-68,1 6
*
Thể tích
(m 3 ) 0 0 2.345 2.747 3.350 5.350 7.470
9.96 0
6.00
0 0 0 0
4
Vĩnh
-53,7 2
*
Thể tích
(m 3 ) 0 0 0 0 4.200 28.350 38.150
33.2 50
7.00 0
4.00
0 3.300 2.640
-45,7 7
5
Tiền
*
Thể tích
(m 3 ) 0 0 0 0 400 400 0 800
1.00 0
1.20
0 1.200 0
Tổng 100 641 902 2.341 2.060 2.233 2.333
2.06
3 850 311 152 176
47, 44
-49,4
8 4,28 Thể tích
(m 3 )
20.00
0
151.5 73
192.54 6
483.94 7
427.95 0
551.60
0 591.490
683.
856
308.
353
105.
986 30.104 36.543
51, 38
-52,5
0 4,17 Thể tích
TB/lồng
(m 3 ) 200 236 213 207 208 247 254 331 363 341 198 208
(Nguồn: Báo cáo của các Sở Thủy sản, Sở NN & PTNT và Cục Nuôi trồng Thủy
sản, giai đoạn 1997-7/2008).
Trang 8 Vùng nuôi tôm sú tập trung tại các tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu, Kiên Giang, Sóc Trăng, Trà Vinh, Bến Tre, Long An, và Tiền Giang
Tuy ĐBSCL chiếm diện tích nuôi tôm lớn nhất trong cả nước, là nơi cung cấp tôm chính cho thị trường trong và ngoài nước Thế nhưng việc nuôi tôm vẫn còn mang tính tự phát, không có tính qui hoạch
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, tính đến tháng 5 năm 2010, các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long đưa 550.600ha vào nuôi tôm sú, chiếm gần 70% diện tích nuôi toàn vùng; giảm gần 16.000ha so với năm ngoái Diện tích nuôi tôm sú lớn nhất là Cà Mau 257 nghìn ha; Bạc Liêu 121,8 nghìn ha; Sóc Trăng 47,6 nghìn ha và Kiên Giang 77,2 nghìn ha Trong đó, diện tích nuôi tôm thâm canh, bán thâm canh chỉ đạt 47, 6 nghìn ha; còn lại là nuôi quảng canh, tập trung nhiều nhất ở hai tỉnh Cà Mau và Bạc Liêu Sản lượng sau thu hoạch, chỉ tính riêng ở các tỉnh ĐBSCL là 160,5 nghìn tấn, chiếm hơn 76% tổng sản lượng tôm của
cả nước; nhiều nhất là Cà Mau 68,5 nghìn tấn, Bạc Liêu 36,2 nghìn tấn, Kiên Giang 13,6 nghìn tấn
Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn qui hoạch đến năm 2015, đưa 546.000 ha mặt nước tại Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) vào nuôi tôm sú, giảm 768 ha so với năm 2010 nhưng sản lượng sẽ đạt 463.000 tấn, tăng 77.000 tấn
so cùng thời điểm, 80% sản lượng sẽ được xuất khẩu với giá trị hàng năm ít nhất là 1,5 tỉ USD
Để bảo đảm đạt kết quả mong muốn, ĐBSCL mở rộng nuôi theo chiều sâu trên địa bàn 8 tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Kiên Giang, Trà Vinh, Bến Tre, Tiền Giang, Long An, trong đó tỉnh Cà Mau có diện tích nuôi lớn nhất ĐBSCL cải tiến kỹ thuật nuôi theo hướng bền vững và áp dụng các công nghệ nuôi tiên tiến, thân thiện với môi trường như Code of Conduct – CoC, Good Aquaculture Practice - GAP (áp dụng các qui trình nuôi tốt), nuôi có trách nhiệm (Responsible Aquaculture Practice - RAP), quản lý vùng nuôi an toàn, nhằm tạo sản phẩm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường thế giới và trong nước
Hình thức nuôi phổ biến là quảng canh, quảng canh cải tiến, bán thâm canh, thâm canh Trong đó, diện tích nuôi bán thâm canh và thâm canh chiếm khoảng 20% diện tích để sản lượng nuôi bán thâm canh và thâm canh chiếm 51% tổng sản
Trang 9lượng tôm, sản lượng nuôi quảng canh cải tiến chiếm 35%, sản lượng tôm lúa, tôm rừng chiếm 14% tổng sản lượng Năng suất tôm nuôi quảng canh phấn đấu từ 0,35-0,45 tấn/ha, nuôi quảng canh cải tiến trên ruộng lúa (tôm lúa) đạt từ 0,4-0,5 tấn/ha, nuôi tôm rừng 0,15-0,20 tấn/ha, nuôi thâm canh-bán thâm canh đạt trung bình 2,0-3,5 tấn/ha Hiện tại năng suất tôm nuôi trung bình của vùng đạt 0,7 tấn/ha/năm và phấn đấu đến năm 2015 đạt 0,85 tấn/ha Tổng sản lượng tôm sú nuôi vùng ĐBSCL
sẽ tăng từ 386.400 tấn năm 2010 lên 463.000 tấn năm 2015 Trong đó sản lượng tôm nuôi chủ yếu được đóng góp từ các tỉnh vùng Bán đảo Cà Mau
2 Thực trạng ô nhiễm môi trường do nuôi trồng thủy sản
Vùng đồng bằng sông Cửu long là một khu đất ngập nước rộng lớn như một phần cuối hạ nguồn của sông Mekong ra đến biển Đông và vịnh Thái Lan nên có một tiềm năng to lớn trong nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt và nước mặn Toàn vùng
có diện tích nuôi thủy sản nước ngọt, nước mặn trên 685.800 ha, sản lượng gần 1 triệu tấn/năm, với rất nhiều mô hình canh tác khác nhau
Một điều hết cần hết sức quan
tâm là, với các mô hình nuôi thâm
canh càng cao, quy mô công nghiệp
càng lớn thì lượng chất thải lại càng
lớn và mức độ nguy hại cho môi
trường nước càng nhiều.Vùng
ĐBSCL đang phải gánh chịu sự suy
giảm chất lượng nước ô nhiễm môi
trường do việc bùng phát thâm canh
nuôi trồng thủy sản trong suốt hai
thập niên qua, cả về diện tích nuôi và
mật độ nuôi thả tôm hoặc cá trên mỗi
mét vuông mặt nước
Các nguồn chất thải sau nuôi trồng chưa được xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường vẫn được thải ra các sông, kinh, rạch trong khu vực (ở khu vực ĐBSCL theo đánh giá đã cho thấy hàng năm thải ra
Hình 4: Phong trào nuôi cá tra ao phát triển
tự phát ở nhiều địa phương cũng là tác nhân quan trọng làm ảnh hưởng chất lượng nguồn nước mặt ở ĐBSCL (Ảnh: H.V)
Trang 10456,6 triệu m3/ bùn thải và chất thải nuôi trồng thủy
sản) gây nên các tác động xấu đến chất lượng nước và
dịch bệnh phát sinh
Ước tính mỗi năm, việc nuôi trồng thủy sản đã thải ra môi trường nước xấp
xỉ 3 triệu tấn bùn ở dạng chất thải hữu cơ gần như chưa được xử lý Chất thải trong nuôi trồng thủy sản là bùn thải chứa phân của các loài thủy sản tôm cá, các nguồn thức ăn dư thừa thối rữa bị phân hủy, các chất tồn dư của các loại vật tư sử dụng trong nuôi trồng như: hóa chất, vôi và các loại khoáng chất Diatomit, Dolomit, lưu huỳnh lắng đọng, các chất độc hại có trong đất phèn Fe2+, Fe3+, Al3+, SO42-, các thành phần chứa H2S, NH3 là sản phẩm của quá trình phân hủy yếm khí ngập nước tạo thành, nguồn bùn phù sa lắng đọng trong các ao nuôi trồng thủy sản thải ra hàng năm trong quá trình vệ sinh và nạo vét ao nuôi Đặc biệt, với các mô hình nuôi
kỹ thuật cao, mật độ nuôi lớn như nuôi thâm canh, nuôi công nghiệp thì nguồn thải càng lớn và tác động gây ô nhiễm môi trường càng cao
Một số kết quả nghiên cứu cho thấy: Chỉ có 17% trọng lượng khô của thức
ăn cung cấp cho ao nuôi được chuyển thành sinh khối, phần còn lại được thải ra môi trường dưới dạng phân và chất hữu cơ dư thừa thối rữa vào môi trường Đối với các
ao nuôi công nghiệp chất thải trong ao có thể chứa đến trên 45% nitrogen và 22% là các chất hữu cơ khác Các loại chất thải chứa nitơ và phốtpho ở hàm lượng cao gây nên hiện tượng phú dưỡng môi trường nước phát sinh tảo độc trong môi trường nuôi trồng thủy sản Đặc biệt, nguồn chất thải này lan truyền rất nhanh đối với hệ thống nuôi cá bè trên sông, nuôi cá bao ví trong các đầm trũng ngập nước cùng với lượng phù sa lan truyền có thể gây ô nhiễm môi trường và dịch bệnh thủy sản phát sinh trong môi trường nước
Theo tính toán một cách tính gần đúng, muốn có 1 kg cá da trơn thành phẩm, người nông dân đã phải sử dụng từ 3-5 kg thức ăn, trung bình khoảng 4 kg Thực tế chỉ khoảng 17% thức ăn được cá hấp thu và phần còn lại (chừng 83%) hòa lẫn trong môi trường nước trở thành các chất hữu cơ phân hủy Như vậy, với ước tính khoảng
1 triệu tấn thủy sản thì ít nhất 3 triệu tấn chất thải hữu cơ đã tuôn ra môi trường nước ở ĐBSCL Đối với các ao nuôi công nghiệp chất thải trong ao có thể chứa đến trên 45% nitrogen và 22% là các chất hữu cơ khác Các loại chất thải chứa nitơ và