Tuy nhiên việc tổ chức thực hiện các nội dung trong các văn bản trên nói chung và quyết định của Thủ tướng về “ nội dung quản lý nhà nước và phương thức công tác dân tộc” nói riêng có ý
Trang 1ủy ban dân tộc
báo cáo tổng kết đề tài KHCN
nghiên cứu việc tổ chức thực hiện đổi mới nội dung quản lý nhà nước và phương thức
Trang 2Mở đầu
1.Tính cấp thiết của đề tài :
Tình hình dân tộc, vấn đề dân tộc từ nay đế 2010 và 2020 đã và đặt ra nhiều vấn đề chiến lược và cụ thể có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của đồng bào các dân tộc Nhu cầu nâng cao chất lượng, hiệu quả quản lý Nhà nước và phương thức công tác dân tộc là một yêu cầu tất yếu khách quan để đáp ứng tình trên Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến vấn đề dân tộc, công tác dân tộc Qua Nghị định 51/2003/QĐ-TTg và Nghị
định 53/2004/NĐ-TTg; Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương
Đảng lần thứ 7, khoá IX về công tác dân tộc, Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết trên càng thể hiện quan điểm, tầm nhìn chiến lược, sự quan tâm sâu sắc đến công tác dân tộc
Ngày 07 tháng 12 năm 2005, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định
số 1277/2005/ QĐ-TTg phê duyệt đề án trên với tên: “Nội dung nhiệm vụ chủ yếu của quản lý nhà nước và phương thức công tác dân tộc giai
đoạn 2006-2010” Đề án đã đề ra các nội dung cụ thể của quản lý nhà
nước và phương thức công tác dân tộc là định hướng rất quan trọng cho việc thúc đẩy và nâng cao chất lượng công tác dân tộc giai đoạn 2006-2010 và những năm tiếp sau Tuy nhiên việc tổ chức thực hiện các nội dung trong các văn bản trên nói chung và quyết định của Thủ tướng về “ nội dung quản
lý nhà nước và phương thức công tác dân tộc” nói riêng có ý nghĩa chính trị, kinh tế-xã hội rất quan trọng đối với công tác dân tộc hiện nay Chính vì vậy việc triển khai nghiên cứu của đè tài là góp phần tìm ra giải pháp cụ thể thực hiện có hiệu quả chức năng quản quản lý nhà nước và nâng cao chất lượng phương thức công tác dân tộc ở nước ta, đáp ứng nhu cầu đòi hỏi khách quan và bức xúc của công tác dân tộc hiện nay ở nước ta, đặc biệt là việc góp phần triển khai thực hiện có hiệu quả Quyết định 1277/2005/QĐ-TTg về đề án rất quan trọng trên đối công tác dân tộc hiện nay ở nước ta
2 Mục đích và phạm vi nghiên cứu :
Cung cấp luận cứ khoa học về lý luận và thực tiễn và đề ra các giải pháp để đổi mới nội dung quản lý nhà nước và phương thức công tác dân tộc nhằm giúp cho Uỷ ban Dân tộc cấp Trung ương và Ban dân tộc các địa phương nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và phương thức công tác dân
Trang 3tộc, thực hiện các mục tiêu và các nhiệm vụ chủ yếu cấp bách mà Nghị quyết số 24/NQ-TW của Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương
Đảng khoá IX đã đề ra
3 Đối tượng nghiên cứu :
Các vấn đề lý luận, quan điểm về công tác dân tộc, quản lý nhà nước
về công tác dân tộc thời gian qua; các vấn đề tổ chức và hoạt động thực tiễn
về công tác dân tộc của cơ quan chủ quản (UBDT ở Trung ương và địa phương) cùng một số ban ngành hữu quan đến nội dung, phương thức công tác dân tộc; bài học kinh nghiệm của một số nước trong khu vực Tình hình thực tiễn hoạt động của nọi dung quản lý nhà nước và phương thức công tác dân tộc đối chiếu với các nội dung, yêu cầu của Quyết định của Thủ tướng chính phủ về “đổi mới nội dung quản lý nhà nước và phương thức công tác dân tộc” và các tư liệu khác để đề ra các giải pháp thực hiện có hiệu quả mục tiêu và nội dung của Quyết định
4 Tình hình nghiên cứu:
- “Đổi mới nội dung, phương thức công tác dân tộc phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới” là một trong nhiệm vụ quan trọng, chủ
yếu và cấp bách mà Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung
ương Đảng khoá IX về công tác dân tộc đã đề ra Công tác dân tộc từ khi Nhà nước ta ra đời đến nay đã trải qua nhiều thời kỳ với tính chất và nhiệm
vụ khác nhau theo yêu cầu của từng thời kỳ cách mạng Nhưng đến Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX về công tác dân tộc lần đầu tiên đã đề ra vấn đề đổi mới nội dung và phương thức công tác dân tộc hiện nay ở nước ta
- Các công trình bàn về vấn đề quản lý nhà nước về công tác dân tộc
chưa nhiều song lại càng hiếm hoi đối với các công trình bàn về đổi mới nội dung quản lý nhà nước về công tác dân tộc Mặt khác, có thể nói chưa mấy công trình bàn về vấn đề đổi mới nội dung phương thức công tác dân tộc
Vì bàn về vấn đề nội dung quản lý nhà nước, phương thức công tác dân tộc
đã khó thì bàn về vấn đề đổi mới nó lại càng khó hơn
Bàn về vấn đề công tác dân tộc thời gian đần đây đáng chú ý là các
công trình : Vấn đề dân tộc và công tác dân tộc ở nước ta (Tài liệu bồi
dưỡng cán bộ về công tác dân tộc) của Uỷ ban Dân tộc và Miền núi (2001),
Một số văn kiện về chính sách dân tộc-miền núi của Đảng và Nhà nước (1965), Một số văn kiện về chính sách dân tộc-miền núi của Đảng và Nhà nước (1978), Một số văn kiện về chính sách dân tộc-miền núi của Đảng và Nhà nước (1992) , Uỷ ban Dân tộc và Miền núi- Vụ pháp chế : Một số văn
Trang 4bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực công tác dân tộc và miền núi
1993-1999 (2000), Các dân tộc thiểu số Việt Nam thế kỷ XX (2001)
Nói đến công tác dân tộc thời gian qua có thể nói được kết tụ ở việc ban hành và thực hiện chính sách dân tộc Một số công trình đã quan tâm
đến vấn đề này như : Thực hiện tốt chính sách dân tộc, nhiệm vụ có tính chiến lược của Đảng ta (Khổng Diễn- Tạp chí Dân tộc học, 3-1990), Chính sách dân tộc trong chiến lược đại đoàn kết toàn dân của Đảng ta (Lê Ngọc Thắng – Tạp chí Cộng sản 5-2002), Một số vấn đề về đời sống các dân tộc
và chính sách dân tộc (Bế Viết Đẳng- Tạp chí Dân tộc học , 3-1990), Chính sách dân tộc- Những vấn đề lý luận và thực tiễn (Nhiều tác giả, Nxb Sự thật-1990), Vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta
(Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh- Phân viện Hà nội -1995) Viện
Dân tộc: Một số vấn đề về dổi mới nội dung quản lý nhà nước và phương thức công tác dân tộc (2003), PGS TS Lê Ngọc Thắng : Một số vấn đề dân tộc và phát triển (2005)
Ngoài ra còn có các công trình mang tính tổng kết công tác dân tộc
và nghiên cứu định hướng công tác dân tộc hiện nay Đó là các công trình :
50 năm công tác dân tộc (1946-1996) của Uỷ ban Dân tộc và Miền núi (1997), 55 năm công tác dân tộc và miền núi (1946-2001) của Uỷ ban Dân tộc và Miền núi (2001) , Về công tác dân tộc trong 10 năm đối mới (Hoàng
Đức Nghi-2002), Vấn đề dân tộc và định hướng chính sách dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hoá (Viện Nghiên cứu Chính sách Dân tộc và Miền
núi-2002)
5 Phương pháp nghiên cứu :
- Thu thập thông tin tài liệu thứ cấp – Toạ đàm trao đổi khoa học:
Đề tài kế thừa kết quả nghiên cứu của đề tài cấp Bộ năm 2004 liên quan trực tiếp đến các vấn đề cơ sở khoa học của nội dung đổi mới quản lý nhà nước và phương thức công tác dân tộc; các văn bản quan trọng của Trung
ương và Chính phủ Đặc biệt trong quá trình thực hiện viết báo cáo đề tài này, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1277/2005/QĐ-TTg ngày 07-12-2005 phê duyệt Đề án: “ Nội dung nhiệm vụ chủ yếu của quản
Trang 5Trường Đào tạo Nghiệp vụ công tác dân tộc và các công trình của các nhà khoa học, quản lý bàn về công tác dân tộc trong những năm gần đây…
- Khảo sát thực tế, nghiên cứu điểm tại địa phương (tỉnh Nghệ An): Đề tài đã tiến hành khảo sát tại Phòng Dân tộc huyện Tương Dương
tỉnh Nghệ An, nghiên cứu chức năng nhiệm vụ đước giao, tìm hiểu cơ cấu
tổ chức và hoạt động trong thời gian qua của phòng; đi khảo sát tình hình công tác dân tộc tại một bản dân tộc Thái (bản Phòng huyện Tương Dương)
để tìm hiểu tâm tư nguyện vọng, đời sống và kiến nghị với chính quyền các cấp về giải quyết các vấn đề bức xúc của đồng bào; Đề tài đã tiến hành trao
đổi với ban Dân tộc tỉnh Nghệ An về các vấn đề nội dung và triển khai thực hiện Nghị định 51/2003/NĐ-CP ngày16 -5-2003, Nghị định 53/2004/NĐ-
CP ngày 18-02-2004 và đề án trên theo Quyết định 1277/2005/QĐ-TTg ngày 07-12-2005 của Thủ tướng Chính phủ
- Kết hợp các phương pháp cụ thể : Điền dã Dân tôc học, Điều tra
Xã hội học, Hệ thống, Thống kê, phân tích so sánh, đánh giá, dự báo ; đây
là các phương pháp được triển khai phục vụ cho việc xử lý và trình bày thông tin thể hiện cho các sản phẩm của đề tài
6 Đóng góp của đề tài :
- Cung cấp luận cứ khoa học và đề xuất các nội dung, kiến nghị các giải pháp nhằm phục vụ cho hoạt động của cơ quan công tác dân tộc trong việc đổi mới nội dung quản lý nhà nước và phương thức công tác dân tộc từ nay đến 2010 theo tinh thần Nghị quyết hội nghị lần thứ 7 (khoá IX) của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về công tác dân tộc đặc biệt góp phần
thực hiện Đề án “Nội dung nhiệm vụ chủ yếu cuả quản lý nhà nước và phương thức công tác dân tộc giai đoạn 2006-2010” theo Quyết định
Trang 6vụ với các chỉ tiêu cụ thể và các vấn đè liên quan đã đặt ra yêu cầu đổi mới hay phải xác định cụ thể : Nội dụng, nhiệm vụ chủ yếu của nội dung quản
lý nhà nước và phương thức công tác dân tộc Thực trạng là nội dung quản
lý nhà nước và phương thức công tác dân tộc trong những năm qua còn nhiều vấn đề chưa rõ ràng, cụ thể trên nhiều phương diện (chức năng nhiệm
vụ, bộ máy tổ chức, cơ chế điều hành ) nên đã ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả, chất lượng công tác dân tộc
I Cơ sở lý luận về đổi mới nội dung quản lý nhà nước và phương thức công tác dân tộc :
Cơ sở lý luận về đổi mới nội dung, nhiệm vụ của quản lý nhà nước và phương thức công tác dân tộc là vấn đề quan trọng để định hướng quan
điểm, mục tiêu, yêu cầu, nội dung đổi mới Thực tiễn công tác 60 năm qua của Đảng và Nhà nước, nhân dân ta đã chứng minh sức sống cuả các vấn đề
lý luận về dân tộc của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong việc nhận thức và giải quyết vấn đề dân tộc trong hoàn cảnh cụ thể của quốc gia; chứng minh sự sáng tạo của Đảng và Nhà nước ta trong việc vận dụng các vấn đề có tính nguyên tắc, nguyên lý về dân tộc vào hoàn cảnh của một
đất nước thuộc địa, nửa phong kiến vừa tiến hành cách mạng dân tộc, vừa tiến hành các mạng dân chủ vì lợi ích của số đông nhân dân lao động và của các thành phần dân tộc
Ngày nay trong bối cảnh mới của đất nước để đổi mới nội dung quản
lý nhà nước và phương thức công tác dân tộc thì các vấn đề về cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc vẫn là
Trang 7nền tảng không thể thiếu để nhìn nhận và giải quyết, nâng cao chất lượng nội dung quản lý nhà nước và hoàn thiện phưng thức công tác dân tộc
- Quan điểm của Đảng và Nhà nước về vấn đề dân tộc, công tác dân tộc:
Từ khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà (nay là Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam) đã nhận thức
đúng vị trí chiến lược của vấn đề dân tộc và công tác dân tộc ở nước ta Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề dân tộc được xây dựng trên cơ sở của học thuyết Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc; và được căn cứ vào tình hình thực tiễn dân tộc ở nước ta - một quốc gia gồm nhiều thành phần tộc người cùng chung sống lâu đời với quá trình lịch
sử, văn hoá giàu cá tính và bản sắc riêng Vấn đề dân tộc và công tác dân tộc là một trong những nội dung quan trọng trong sự nghiệp cách mạng ở nước ta Nói đến cách mạng Việt Nam ( dù trong cách mạng dân tộc, dân chủ hay trong cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng phát triển đất nước hiện nay) không thể không đề cập đến vấn đề dân tộc Vấn đề dân tộc dù trên góc độ quốc gia hay tộc người cụ thể (thuộc cộng đồng 54 tộc người)
đều là nội dung chính yếu trong quá trình tiến hành sự nghiệp cách mạng ở nước ta
Ngay từ khi thành lập, Đảng ta quán triệt sâu sắc tinh thần dân tộc của Lênin trong việc giải quyết vấn đề dân tộc trong hoàn cảnh của một quốc gia phương Đông thuộc địa, nửa phong kiến Các quan điểm về vấn đề dân tộc được thể hiện trong các văn kiện quan trọng làm kim chỉ nam cho chương trình chỉ đạo và hành động của toàn Đảng, toàn dân Hơn 75 năm qua, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề dân tộc bao gồm một số nội dung cơ bản sau :
Từ Đại hội lần thứ nhất đến nay, Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc
đều ghi rõ công tác dân tộc có vị trí chiến lược, xuyên suốt quá trình nhận
thức và giải quyết vấn đề dân tộc của Đảng và Nhà nước ta Thành tựu của cách mạng Việt Nam trong đấu tranh giải phóng dân tộc và phát triển đất nước đến hôm nay là thể hiện sinh động thành tựu về quan điểm của Đảng
và Nhà nước ta trên nhiều lĩnh vực trong đó có vấn đề dân tộc Năm 1975 với chiến thắng đế quốc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai, dân tộc Việt Nam ta bước sang giai đoạn hoà bình thống nhất, phát triển đất nước Trong bối cảnh và tình mới đó, tại Đại hội IV của Đảng năm 1976 (Đại hội được tiến hành có thời gian lâu nhất sau đại hội III là 13 năm vì hoàn cảnh chiến tranh ) Đảng ta một lần nữa khẳng định : “giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc là một nhiệm vụ có tính chiến lược của Cách mạng Việt Nam” Đại hội
Trang 8IX của Đảng một lần nữa khẳng định : “Vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc luôn luôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng”
Tư tưởng, quan điểm nhất quán đó của Đảng ta có thể nhận thấy ngày càng được củng cố vững chắc, nâng cao bởi được trải nghiệm trong thực tiễn, tầm nhìn và tính đúng đắn của nó về chỉ đạo chiến lược Nghị quyết số 24/ NQ-TW của Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX về công tác dân tộc năm 2003 một lần nữa đã tiếp tục khẳng định :
“ Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài,
đồng thời cũng là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam” Từ
Đại hội I đến Đại hội IX quan điểm về vấn đề dân tộc của Đảng ta ngày càng được coi trọng nhấn mạnh bởi tính phức tạp và nhạy cảm của vấn đề dân tộc trên thế giới và trong nước đặt ra ngày một cao hơn Tính “chiến lược, cơ bản, lâu dài” và “cấp bách” hiện nay cũng như tính “chiến lược” trước đây của vấn đề dân tộc được quy định bởi đòi hỏi của tình hình thực tiễn khách quan của nội dung vấn đề dân tộc, công tác dân tộc của cách mạng Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh
Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề dân tộc trong suốt quá trình lãnh đạo và quản lý đất nước không phải là một nhận thức và chỉ
đạo cứng nhắc mà là một quá trình nhận thức khoa học khách quan, sáng tạo tương ứng với thời kỳ cách mạng cụ thể Mỗi thời kỳ cách mạng, mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng cụ thể đặt ra khác nhau là thể hiện các sách lược cách mạng trong việc thực hiên mục tiêu, nhiệm vụ chiến lược đã
được đề ra Vấn đề dân tộc và công tác dân tộc có đặc điểm riêng trong
từng giai đoạn cách mạng Trong cách mạng dân tộc dân chủ vấn đề dân tộc
và công tác dân tộc gắn liền với yêu cầu giải phóng đất nước giành độc lập
tự do và giải phóng quần chúng lao động thoát khỏi ách nô lệ Trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, xây dựng và phát triển đất nước, vấn đề dân tộc và công tác dân tộc gắn liền với yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội, văn hoá, an ninh, quốc phòng, phát triển bền vững
Quan điểm về việc giải quyết vấn đề dân tộc trong cách mạng dân tộc dân chủ được tập trung vào giải quyết vấn đề dân tộc - quốc gia và vấn đề giai cấp Trong hoàn cảnh của một quốc gia thuộc địa nửa phong kiến vấn
đề dân tộc- quốc gia nổi lên như mục tiêu số một, có ý nghĩa tác động và chi phối đến vấn đề tộc người cụ thể (ethnie) và vấn đề giai cấp Nếu không giải phóng dân tộc khỏi sự thống trị của chế độ thực dân và phong kiến thì quyền lợi của các tộc người anh em chung sống trên lãnh thổ Việt Nam từ ngàn đời cũng như quyền lợi của giai cấp nông dân, công nhân không thể
có được Luận cương chính trị thông qua Hội nghị Trung ương tháng 10
Trang 9năm 1930 của Đảng ta đã nêu rõ : “ Xứ Đông Dương hoàn toàn độc lập, thừa nhận quyền dân tộc tự quyết” Quan điểm về vấn đề dân tộc được cụ thể hoá và thể hiện rõ hơn trong Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ nhất tháng 3 năm 1935 : “ Đảng Cộng sản thừa nhận cho các dân tộc được quyền
tự do hoàn toàn Đảng chống chế độ thuộc địa, chống hết các hình thức trực tiếp đem dân tộc này vào đàn áp, bóc lột dân tộc khác” Cũng tại Hội nghị của Đảng họp ở Bắc Kỳ từ 13-29/3/1935, một lần nữa quan điểm của Đảng
ta trong việc giải quyết vấn đề dân tộc được thể hiện cụ thể, rõ nét hơn : “
Ta chỉ có thù địch giai cấp chứ không có thù địch quốc gia và dân tộc có
đánh đổ được tụi đế quốc, phong kiến thì các dân tộc thiểu số mới thoát khỏi vòng nô lệ”
Ngoài ra điều đáng quan tâm khác là Đảng ta không chỉ nhận thức sâu sắc việc giải quyết vấn đề dân tộc- quốc gia trong mối quan hệ với vấn
đề giai cấp mà còn nhìn nhận đánh giá các dân tộc thiểu số với tư cách là một “lực lượng lớn” trong cuộc đấu tranh “cách mạng phản đế và điền địa ở
Đông Dương” và là “bộ phận của thế giới cách mạng” Trên tinh thần đó, muốn cho việc giải quyết vấn đề dân tộc có hiệu quả Hội nghị Ban chấp hành Trung ương tháng 11-1939 thấy cần thiết phải tổ chức “ban chuyên môn về vấn đề dân tộc thiểu số” để chăm lo cho công tác dân tộc với nhiều nội dung mới nẩy sinh
Thời kỳ cách mạng 1945-1954, dưới sự lãnh đạo của Chính phủ mới kháng chiến chống chế độ thực dân, phong kiến kết thúc bằng chiến thắng lịch sử Điện Biên phủ vĩ đại thì công tác dân tộc, vấn đề dân tộc trong giai
đoạn này là tiếp tục thực hiện các mục tiêu trong giai đoạn trước và được cụ thể hoá đáp ứng yêu cầu của tình hình nhiệm vụ trong giai đoạn mới Tháng
2 năm 1951, Đảng ta đã tiến hành Đại hội lần thứ II và sau đó Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã có nghị quyết về “Chính sách dân tộc thiểu số của Đảng” Với nghị quyết đó, các quan điểm công tác dân tộc đã
được trình bày một cách toàn diện trên các lĩnh vực : chính trị, kinh tế, văn hoá-xã hội, quân sự Đây là thời kỳ chúng ta mở nhiều chiến dịch đánh
địch ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi phía bắc như Việt Bắc (1947), Biên giới (1950), Hoà Bình (1950-1951),Tây Bắc (1953-1954) và từng bước thu được những thắng lợi ngày một to lớn đi đến kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp chín năm bằng chiến dịch lịch sử Điện Biên phủ Tất cả đều nói lên quan điểm đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta trong việc giải quyết vấn đề dân tộc trong quá trình thực hiện mục tiêu cao
cả của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
Trang 10Thời kỳ 1954-1975, quan điểm về vấn đề dân tộc và công tác dân tộc
được đặt ra cho phù hợp với nhiệm vụ chính trị, nhiệm vụ cách mạng to lớn
ở hai miền Bắc, Nam ở miền Bắc, vấn đề dân tộc và công tác dân tộc đặt
ra lúc này gắn liền với với công cuộc cải cách dân chủ, xây dựng chủ nghĩa xã hội vùng dân tộc thiểu số ở miền Nam nó được gắn liền với cuộc vận
động, đoàn kết các dân tộc tập trung sức người, sức của góp phần vào sự nghiệp đấu tranh chống đế quốc Mỹ và tay sai, thực hiện thống nhất đất nước
Trong thời kỳ trước đổi mới từ 1975-1985, quan điểm về vấn đề dân tộc, công tác dân tộc được Nghị quyết Đại hội IV của Đảng (1976) một lần nữa khẳng định, bổ sung, cụ thể hoá trong bối cảnh, tình hình mới :
“giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc là một nhiệm vụ có tính chiến lược của Cách mạng Việt Nam, phải tăng cường khối đoàn kết không gì lay chuyển nổi giữa các dân tộc trong cả nước, phát huy tinh thần cách mạng và năng lực sáng tạo của các dân tộc ít người trong sự nghiệp xây dựng tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước là thực hiện triệt để quyền bình đẳng về mọi mặt của các dân tộc, tạo những điều kiện cần thiết để xóa bỏ tận gốc sự chênh lệch về trình độ kinh tế và văn hoá giữa dân tộc ít người và dân tộc đông người, đưa miền núi tiến kịp miền xuôi, vùng cao tiến kịp vùng thấp, làm cho tất cả các dân tộc đều có cuộc sống ấm no, văn minh, hạnh phúc, đoàn kết giúp nhau tiến bộ, cùng làm chủ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”
Thời kỳ đổi mới từ 1986 đến nay, quan điểm về vấn đề dân tộc và công tác dân tộc của Đảng và Nhà nước ta bước sang một giai đoạn mới với tính chất và yêu cầu nội dung khác quan điểm cụ thể về vấn đề dân tộc trong cách mạng giải phóng dân tộc Khi hệ thống xã hội chủ nghĩa trên thế giới sụp đổ, các vấn đề lý luận và thực tiễn công tác dân tộc ở Liên Xô và một số nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa có những biến động, yêu cầu xây dựng đất nước trong bối cảnh tình hình mới đặt ra nhiều vấn đề mới Sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước nói chung và trong giải quyết vấn đề dân tộc nói riêng đã đặt ra cho công tác dân tộc phải được trong tình hình, bối cảnh mới đó để xem xét
Quan điểm về vấn đề dân tộc và công tác dân tộc trong thời kỳ này
được tập trung vào nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi Vấn đề phát triển kinh tế-xã hội được coi trọng trong công tác dân tộc là một trong những yếu tố tiên quyết có ý nghĩa trước mắt và lâu dài, là cơ sở để thực hiện các mục tiêu và nguyên tắc bình
đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển Chỉ có trên cơ sở đời
Trang 11sống của đồng bào các dân tộc được nâng cao thì mới có thể giải quyết có hiệu quả vấn đề dân tộc, công tác dân tộc trong tình hình mới; mới có cơ sở
để tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát triển xã hội, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, chống lại các âm mưu thù địch chia rẽ các dân tộc, củng cố an ninh quốc phòng, bảo vệ môi trường sinh thái và phát triển bền vững Các luận điểm đó được cụ thể hoá trong các Nghị quyết, Chỉ thị, Thông tri của Đảng, các Nghị định, Quyết định, Chỉ thị của Chính phủ từ năm 1989 đến nay
Các văn kiện của Đảng và Nhà nước về công tác dân tộc sau khi ban hành được quán triệt sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nhằm nâng cao nhận thức về tình hình dân tộc, yêu cầu , nhiệm vụ công tác dân tộc trong từng giai đoạn cách mạng cụ thể Việc giải quyết vấn đề dân tộc không chỉ là vấn đề mang tính chính trị-xã hội sâu sắc mà còn là còn mang tính liên ngành, tính toàn diện tác động đến nhiều cấp, nhiều ngành trong
hệ thống tổ chức nhà nước, hệ thống chính trị xã hội các cấp từ Trung ương
đến địa phương Thành quả về công tác dân tộc, chính sách dân tộc thời gian qua chính là thể hiện quan điểm đúng đắn đó của Đảng và Nhà nước
sự lãnh đạo của Đảng và 60 năm dưới chế độ Nhà nước mới là bằng chứng sinh động của quan điểm đúng đắn trong việc giải quyết vấn đề dân tộc trong hoàn cảnh của một quốc gia gồm nhiều thành phần tộc người trong cách mạng dân tộc, dân chủ và xây dựng đất nước
Cơ sở trong việc xây dựng chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước
ta là hệ thống các vấn đề thể hiện sự nhận thức, quan điểm, chủ trương về vấn đề dân tộc và việc giải quyết vấn đề dân tộc; là những luận cứ khoa học, luận cứ lý luận và thực tiễn, trên cơ sở đó để hoạch định chính sách dân tộc mang tính chiến lược và sách lược phù hợp với yêu cầu, đặc điểm tình hình,
Trang 12nhiệm vụ trong từng giai đoạn cách mạng Trên tinh thần đó khi nói đến cơ
sở trong việc đổi mới nôi dung quản lý nhà nước và phương thức công tác dân tộc của Đảng và Nhà nước chúng ta cần quan tâm và dựa trên các vấn
đề sau :
- Cơ sở vê nhận thức: Dân tộc và quan hệ dân tộc là vấn đề lớn của
lịch sử xã hội loài người và của các quốc gia đa thành phần tộc người Vấn
đề dân tộc và chính sách dân tộc là một bộ hữu cơ, tất yếu trong chiến lược phát triển của quốc gia Sự thành bại của việc giải quyết vấn đề dân tộc phụ thuộc vào việc nhận thức về vị trí, vai trò của vấn đề dân tộc của giai cấp cầm quyền trong chiến lược tồn tại và phát triển của quốc gia (1)
Vấn đề quốc gia đa dân tộc (hay nhiều thành phần tộc người) là sản phẩm khách quan của lịch sử Khi một giai cấp cụ thể lên thành lập quốc gia-dân tộc (nation), cầm quyền, lãnh đạo quốc gia thì không thể không quan tâm đến nội dung dân tộc, giải quyết mối quan hệ giữa các tộc người
và hoạch định chính sách phát triển đối với các tộc người đó Mối quan hệ giữa các tộc người trong một quốc gia đa dân tộc là vấn đề khá phức tạp trên nhiều bình diện lịch sử và hiện tại, kinh tế, văn hoá, xã hội Sức mạnh của một quốc gia, sự phát triển, tồn vong phụ thuộc vào giai cấp cầm quyền
có tập hợp được sức mạnh của các tộc người đó hay không để hướng vào công cuộc “đại sự” trong tiến trình dựng nước, giữ nước và xây dựng phát triển đất nước
Ngay từ khi mới thành lập Đảng và Nhà nước đã nhận thức sâu sắc vấn đề dân tộc - quốc gia gắn chặt với với vấn đề giai cấp và vấn đề tộc người (các thành phần dân tộc của quốc gia); gắn vấn đề dân tộc với vấn đề
độc lập quốc gia và lấy lợi ích, sự phát triển hướng tới ấm no hạnh phúc của nhân dân lao động thuộc các dân tộc đa số và thiểu số làm mục tiêu của các cuộc cách mạng xã hội từ 1930 đến nay Thực tiễn cách mạng 75 năm qua của Đảng và 60 năm qua của Nhà nước ta là bằng chứng sinh động của việc nhận thức và giải quyết vấn đề dân tộc trong điều kiện của một quốc gia nhiều thành phần tộc người
(1) Quá trình hình thành các dân tộc trên thế giới cũng như ở nước ta là quá trình phát triển của lịch sử, của các mối quan hệ tộc người về chính trị, kinh tế, văn hoá Trong xã hội công xã nguyên thuỷ, do trình độ sản xuất thấp, các cộng đồng sống biệt lập nhau, quan hệ dân tộc chưa nẩy sinh những vấn đề bức xúc về quyền lợi tồn tại và phát triển nên vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc chưa đặt ra Từ khi xã hội loài người hình thành giai cấp và nhà nước vấn đề giai cấp và dân tộc ngày càng nẩy sinh những vấn đề phức tạp, gay gắt, đôi khi một mất một còn Quan hệ dân tộc và chính sách dân tộc ngày càng phát triển ở những mức độ, cấp độ và diễn biến trên nhiều bình diện khác nhau
Trang 13Vấn đề dân tộc giữa các quốc gia cũng là sản phẩm khách quan của lịch sử phát triển của nhân loại trên hai bình diện quốc gia và tộc người Mâu thuẫn dân tộc là nguyên nhân dẫn đến xung đột dân tộc, chủ yếu là cuộc đấu tranh của các dân tộc chống lại sự nô dịch, thống trị của giai cấp phong kiến, của chủ nghĩa thực dân, đế quốc; chống lại chính sách dân tộc, chủ nghĩa dân tộc lớn, kỳ thị, chia rẽ các dân tộc của giai cấp tư sản Khi giai cấp vô sản cầm quyền với chính sách dân tộc đúng đắn theo nguyên tắc bình đẳng giữa các dân tộc, các dân tộc có quyền dân tộc tự quyết, đoàn kết công nhân các dân tộc đã tạo nên điều kiện giải quyết cơ bản vấn đề dân tộc Vấn đề dân tộc ngoài quốc gia còn biểu hiện ở nội dung có một hoặc một số tộc người sinh sống không chỉ trong một quốc gia mà ở nhiều quốc gia trong một hoặc nhiều châu lục trên thế giới (1)
Đảng và Nhà nước Việt Nam sau khi ra đời đến nay đã luôn coi trọng
và giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc quốc gia Giải quyết tốt vấn đề dân tộc quốc gia (nation) giữa Việt Nam và các quốc gia khác trong lịch sử và trong thời đại Hồ Chí Minh là hệ quả của các quan điểm đúng đắn trong việc giải quyết mối quan hệ dân tộc trên cơ sở nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ Trong nội bộ quốc gia và với các quốc gia khác đó là việc giải quyết vấn đề dân tộc, chính sách dân tộc trtên cơ sở kiên trì phát huy truyền thống “độc lập dân tộc”, và “không có gì quý hơn độc lập tự do” Chính điều đó đã tạo nên sức mạnh vật chất và tinh thần vĩ đại của dân tộc Việt Nam trong lịch sử và thời hiện đại, làm nên kỳ tích của dân tộc trong việc đánh thắng nhiều thế lực ngoại xâm hùng mạnh phương Bắc, “2 đế quốc to” là Pháp và Mỹ, bảo vệ độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia
Từ khi ra đời đến nay Đảng và Nhà nước luôn căn cứ trên yêu cầu của vấn đề dân tộc trong từng giai đoạn cách mạng để hoạch định chính sách dân tộc, từng bước thực hiện và đạt được những thành tựu cơ bản trong việc giải quyết vấn đề dân tộc ở nước ta Đó là quan điểm nhận thức đúng, khách quan và khoa học
- Cơ sở quán triệt các quan điểm cơ bản trước sau như một trong công tác dân tộc : Đảng và Nhà nước ta trong quá trình hoạch định chính
(1) Đó là các trường hợp nhiều tộc người sinh sống thành cộng đồng lớn nhỏ trong phạm
vi nhiều quốc gia như người Thái ở Thái Lan, Trung Quốc, Việt Nam; người Hmông ở Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam ; người Dao ở Việt Nam, Trung Quốc, Mỹ ; người Hoa, người Việt ở nhiều nước trên thế giới; người châu Âu tại nhiều nước châu Mỹ, châu
Đại dương Đó là sản phẩm của lịch sử, tạo nên diện mạo và bức tranh tộc người ngày một đa dạng trên thế giới mà các quốc gia có các khối cộng đồng người đó không thể không quan tâm trong quốc sách của mình
Trang 14sách dân tộc đã căn cứ trên một hệ thống các quan điểm tư tưởng cơ bản về vấn đề dân tộc và yêu cầu của chính sách dân tộc với các nội dung sau đây :
Giải quyết vấn đề dân tộc, thực hiện quản lý nhà nước và phương thức công tác dân tộc ở nước ta là giải phóng con người thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu; thực hiện dân giàu nước mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh; thực hiện dân chủ, tự do cho các dân tộc; phát huy truyền thống đoàn kết xây dựng cuộc sống ấm no hạnh phúc
Thực hiện công tác dân tộc, quản lý nhà nước và phương thức công tác dân tộc là nghiên cứu, thấm nhuần và vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào hoàn cảnh cụ thể, nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trong từng thời kỳ sao cho phù hợp như: Nắm thực trạng tình hình dân tộc từng vùng, từng địa phương; nắm tâm tư nguyện vọng của đồng bào các dân tộc; hiểu biết về phong tục tập quán , điều kiện môi trường tự nhiên, xã hội của đồng bào các dân tộc sinh sống; đề xuất, thực hiện, kiểm tra, điều chỉnh, bổ sung chính sách dân tộc; tổ chức bộ máy làm công tác dân tộc từ Trung ương đến địa phương sao cho hiệu quả
Thực hiện quản lý nhà nước và phơng thức công tác dân tộc là quán triệt và thực hiện các Nghị quyết của Đảng, Hiến pháp của Nhà nước, các chương trình của Chính phủ vì sự phát triển của đồng bào các dân tộc
Quản lý nhà nước về dân tộc ở nước ta hiện nay chủ yếu là ban hành
và thực hiện chính sách phát triển kinh tế, chính sách xã hội kết hợp với an ninh quốc phòng Để thực hiện nội dung, nhiệm vụ trên cần quán triệt quan
điểm phương pháp luận trong một quy trình : nắm Thực trạng để thấy được -> Nhu cầu, và từ đó rút ra được -> Bản chất, yêu cầu của vấn đề, để hoạch
định -> Nội dung chính sách dân tộc và vai trò chi phối của chính sách dân tộc, đồng thời cũng thấy được -> Tính phức tạp, lâu dài của chính sách dân
tộc
- Cơ sở quản lý nhà nước và phương thức công tác dân tộc là chỉ đạo thực hiện chính sách dân tộc ở Việt Nam là căn cứ vào đặc điểm lịch sử, kinh tế-xã hội, văn hoá của các dân tộc; vào trình độ phát triển của các dân tộc và của từng vùng đồng bào dân tộc sinh sống :
+ 54 dân tộc anh em ở nước ta có quá trình gắn bó lâu đời trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước Xuất phát từ hoàn cảnh xã hội, điều kiên
kiện kinh tế và nhu cầu chống ngoại xâm hình thành sớm trong lịch sử dân tộc, các dân tộc ở nước ta sớm đoàn kết, chung lưng đấu cật tạo dựng non sông , đấu tranh giữ gìn nền độc lập dân tộc Từ khi có Đảng, truyền thống yêu nước đó được tập hợp phát huy tạo thành sức mạnh trong thời đại mới
Trang 15tiếp tục làm vẻ vang truyền thống đoàn kết, yêu nước lâu đời của các dân tộc nước ta
+ Các dân tộc Việt Nam sống xen kẽ nhau Hình thái cư trú xen kẽ là
một đặc điểm nổi trội trong lịch sử cũng như hiện tại trong đời sống của cộng đồng các dân tộc Việt Nam Trong bối cảnh phát triển mới của đất nước, hình thái cư trú xen kẽ ngày càng phát triển giữa các dân tộc thiểu số với thiểu số, thiểu số với đa số Đó là xu thế khách quan tạo nên môi trường cho sự giao lưu văn hoá, hoà hợp và hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc nhằm tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau, phát triển kinh tế và đoàn kết dân tộc Tuy nhiên nếu không chú ý đúng mức đến sự bình đẳng, tương trợ, đến lợi ích dân tộc thì chính sự cư trú xen kẽ trên cũng là nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn dân tộc
+ Các dân tộc ở nước ta có trình độ phát triển không đồng đều Đó là
một thực trạng khách quan do lịch sử để lại Sự không đồng đều trước hết là
về dân số Dân số là cộng đồng dân cư về văn hoá, nó không chỉ là số lượng dân cư mà còn là môi trường để cho các yếu tố văn hoá tồn tại mạnh mẽ hay bị nguy cơ đồng hoá tự nhiên Có tộc người hàng chục triệu, hàng triệu;
có tộc người hàng chục vạn, hàng vạn; nhưng cũng có tộc người hàng ngàn, hàng trăm người Trình độ phát triển kinh tế-xã hội của các tộc người cũng rất khác nhau
+ Mỗi dân tộc ở nước ta có bản sắc văn hoá riêng tạo nên tính đa dạng trong tính thống nhất của văn hoá quốc gia Việt Nam Sự đa dạng về
bản sắc văn hoá cũng là một sản phẩm của lịch sử phát triển của các cộng
đồng người ở nước ta Bản sắc văn hoá của các dân tộc ở nước ta biểu hiện qua hệ thống các giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể (như kiến trúc, trang phục, đồ dùng sinh hoạt, công cụ sản xuất, tôn giáo, tín ngưỡng, lễ hội, tâm
lý, tình cảm, phong tục tập quán, văn học nghệ thuật) Trong quá trình phát triển của quốc gia, các yếu tố văn hoá đa dạng đó của các tộc người cũng đã tạo nên tính thống nhất của văn hoá quốc gia (như về ngôn ngữ, chữ viết, lối sống mới, ý thức quốc gia, luật pháp, quản lý hành chính)
- Cơ sở quản lý nhà nước và phương thức công tác dân tộc phải xuất phát từ yêu cầu chung và yêu cầu cụ thể của cách Việt Nam trong từng thời
kỳ Bản chất chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước đề ra trong từng giai
đoạn cách mạng là nhất quán: vì sự phát triển toàn diện của dồng bào các dân tộc để hoà nhập vào sự phát triển chung của quốc gia, rút ngắn khoảng cách phát triển giữa dân tộc thiểu số và đa số Tuy nhiên nhiệm vụ, yêu cầu chính sách dân tộc trong từng thời kỳ cách mạng không hoàn toàn giống nhau Đó là yêu cầu của thực tiễn cách mạng song đồng thời cũng là hành
Trang 16động của Đảng và Nhà nước ta về chính sách dân tộc trong hơn 75 năm qua
để có thành tựu như ngày hôm nay
Có thể nhận thấy vấn đề dân tộc, quản lý nhà nước và phương thức công tác dân tộc chính sách dân tộc một lần nữa được trình bày một cách khái quát và tương đối cụ thể trong văn kiện Đại hội, đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng ta : “ Vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc luôn luôn có
vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng Thực hiện tốt chính sách dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển; xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội, phát triển sản xuất hàng hoá, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần, xoá đói, giảm nghèo, mở mang dân trí, giữ gìn, làm giàu và phát huy bản sắc văn hoá và truyền thống thống tốt đẹp của các dân tộc; thực hiện công bằng giữa các dân tộc, giữa miền núi và miền xuôi, đặc biệt quan tâm vùng đặc biệt khó khăn, vùng trước đây là căn cứ cách mạng
và kháng chiến Tích cực thực hiện chính sách ưu tiên trong việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ dân tộc thiểu số Động viên, phát huy vai trò của người tiêu biểu, có uy tín trong dân tộc và ở địa phương Chống kỳ thị chia rẽ dân tộc; chống tư tưởng dân tộc lớn , dân tộc hẹp hòi, dân tộc cực đoan; khắc phục tư tưởng tự ti, mặc cảm dân tộc.”(1)
Quan điểm, tư tưởng chỉ đạo về vấn đề dân tộc, chính sách dân tộc trên đây của Đảng ta một lần nữa khẳng định và thể hiện tính nhất quán trong việc nhận thức và giải quyết vấn đề dân tộc trước đây và trong bối cảnh, tình hình mới ở nước ta
- Cơ sở dựa trên các nguyên tắc cơ bản về giải quyết vấn đề dân tộc của Đảng và Nhà nước ta: Trên cơ sở quán triệt cương lĩnh về dân tộc của
chủ nghĩa Mác - Lênin, ngay sau khi ra đời Đảng ta đã xây dựng những
nguyên tắc cơ bản cho vấn đề dân tộc, đó là : Bình đẳng giữa các dân tộc,
Đoàn kết giữa các dân tộc, Tương trợ giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc
Các nguyên tắc cơ bản là những cơ sở quan trọng, là định hướng xuyên suốt trong mọi thời kỳ cách mạng để hoạch định chính sách dân tộc Chính sách dân tộc trong thực tiễn cách mạng nước ta trong suốt thế kỷ XX và đầu thế
kỷ XXI rất đa dạng và phong phú, phù hợp với tính chất và yêu cầu của từng thời kỳ Các nguyên tắc cơ bản được quán triệt và xuyên suốt tạo nên tính ổn định và góp phần làm nên thành tựu vĩ đại của nhân dân ta trong sự nghiệp đấu tranh chống ngoại xâm giành lại hoà bình, thống nhất đất nước
và đang từng bước thu được những thành quả quan trọng trên con đường đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá
(1) - Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX , Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội - 2001, tr 127-128
Trang 17Bình đẳng giữa các dân tộc: Bình đẳng giữa các dân tộc là một thái
độ khách quan, thái độ chính trị đúng đắn của giai cấp cầm quyền ở một quốc gia đa dân tộc, trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với các dân tộc Đây là luận điểm quan trọng về dân tộc của học thuyết mácxít- lêninnít
được Đảng ta quán triệt và vận dụng trong việc giải quyết vấn đề dân tộc Bình đẳng về dân tộc là thực hiện quyền ngang nhau của mọi dân tộc không phân biệt đa số hay thiểu số; da trắng hay da vàng, da đen; trình độ phát triển cao hay thấp Bình đẳng về dân tộc là thực hiện quyền ngang nhau của mọi thành phần dân tộc về các lĩnh vực, các mặt của đời sống xã hội (tự quyết, chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá) thông qua các hình thức pháp lý (1)
Đoàn kết các dân tộc : Đoàn kết các dân tộc là là sự đoàn kết giữa
những người lao động thuộc các thành phần tộc người khác nhau trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, vì sự phát triển của con người và của các tộc người Đoàn kết là nguyên tắc quan trọng trong việc hoạch định và thực hiện chính sách dân tộc ở nước ta Dân tộc ta trong lịch sử vốn có truyền thống yêu nước, đấu tranh chống các thế lực ngoại xâm bảo vệ nền
độc lập dân tộc và đoàn kết trong lao động xây dựng đất nước Đoàn kết dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước ta là phát huy truyền thống yêu nước của dân tộc trong thời đại mới Đoàn kết các dân tộc là nguyên tắc ngay từ đầu được Đảng và Nhà nước ta coi trọng như một “tài sản” vô giá của quốc gia và được vận dụng một cách sáng tạo để tập hợp lực lượng, nhân tài vật lực của cộng đồng các dân tộc Việt Nam; tạo nên sức mạnh vật chất rất to lớn đánh thắng các thế lực ngoại xâm hùng mạnh của thời đại và
đang tiến hành công cuộc đổi mới, công nghiệp hoá hiện đại hoá với những thành công quan trọng bước đầu
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở đồng bào, chiến sĩ, cán bộ,
đảng viên phải nêu cao tinh thần đoàn kết mọi nơi mọi lúc trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ chính trị : “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết ; Thành công, thành công, đại thành công” Đoàn kết với vị trí, vai trò lịch sử và
(1`) - Bình đẳng còn là thực hiện nhân quyền, quyền sống mưu cầu hạnh phúc như nhau của loài người không kể là dân tộc phát triển hay chậm phát triển, không kể của kẻ đi thống trị hay các dân tộc bị nô dịch Trong yêu sách 8 điểm gửi Hội nghị Véc-xay năm
1919, Nguyễn ái Quốc đã yêu cầu đảm bảo quyền bình đẳng cho người bản xứ Trong
Tuyên ngôn độc lập năm 1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trích dẫn Tuyên ngôn độc lập
của Mỹ và Tuyên ngôn dân quyền và nhân quyền của Pháp : Tất cả mọi người đều sinh
ra có quyền bình đẳng, đó là quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc Có thể nhận thấy tư tưởng , quan điểm bình đẳng của Hồ Chí Minh có rất sớm và sau khi bắt gặp Luận cương về dân tộc của Lênin nó lại càng khẳng định và đặt nền tảng cho
Đảng ta trong vận dụng nguyên tắc này trong chính sách nói chung và chính sách dân tộc nói riêng
Trang 18hiện tại của nó là nguyên tắc quan trọng trong quá trình hoạch định và thực hiện chính sách dân tộc Có thể nói điều đó cũng chính là yếu tố tạo nên tính đặc thù của chính sách dân tộc ở nước ta thời gian qua, hiện nay cũng như về sau
Tương trợ giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc: Nguyên tắc này ra đời
trong điều kiện các thành phần tộc người ở nước ta vừa nhiều, vừa phát triển rất không đồng đều trên nhiều bình diện, với nhiều nguyên nhân chủ quan
và khách quan khác nhau Từ những lý do lịch sử, các thành tộc người ở nước ta có những trình độ phát triển kinh tế-xã hội khác nhau, cư trú sinh sống có nơi thuận lợi có nơi lại rất nhiều khó khăn cho phát triển kinh tế (trồng trọt, chăn nuôi), phát triển hạ tầng Mặt khác, đặc điểm lịch sử nên ở nước ta tiến trình dựng nước luôn đi đôi với giữ nước Sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc để xây dựng, phát triển đất nước không chỉ hao người, tốn của mà còn là nguyên nhân thường xuyên và quan trọng kéo chậm nhịp
độ phát triển của quốc gia và của các tộc người
Tương trợ giúp đỡ lẫn nhau cùng phát triển trong bối cảnh đó không chỉ là nguyên tắc mà còn là quy luật tất yếu trong chính sách, chiến lược phát triển của dân tộc Việt Nam và của các thành phần tộc người trong quốc gia Chính sách dân tộc nếu không quán triệt nguyên tắc tương trợ, không thấy được tình hình phát triển rất không đồng đều, không thấy được các nguyên nhân khách quan và chủ quan trong lịch sử và hiện tại chi phối lối sống, phong tục tập quán, chi phối dân trí; không thấy được cái tạo nên mức sống thấp, nghèo nàn của các tộc người thì sẽ hạn chế về nội dung và kết quả trong thực tiễn
Tương trợ cũng là thể hiện bản chất giai cấp và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc của nhà nước vô sản “của dân, do dân và vì dân” của
Đảng và Nhà nước ta Tương trợ là biện pháp cụ thể để thực hiện quyền phát triển của các tộc người trong một quốc gia, khắc phục tư tưởng dân tộc lớn, sự chia rẽ dân tộc, lợi dụng sự chậm phát triển để vơ vét tài nguyên thiên nhiên và bóc lột sức lao động rẻ mạt của các dân tộc chậm phát triển của giai cấp tư sản Chính sách dân tộc trong mọi thời kỳ tuy có khác nhau
về nội dung cụ thể nhưng bản chất của nó là thực hiện một trong những nguyên tắc tương trợ, đồng bào các dân tộc giúp đỡ lẫn nhau: đa số giúp đỡ thiểu số, thiểu số giúp đỡ thiểu số, thiểu số giúp đỡ đa số cùng thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội, văn hoá giáo dục, đào tạo cán bộ, đảm bảo an ninh quốc phòng các vùng miền của tổ quốc
Các nguyên tắc : bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển trong chính sách dân tộc là thể hiện bản chất của chế độ, của giai cấp
Trang 19cầm quyền vì sự cùng phát triển của các thành phần tộc người trong một
quốc gia đa dân tộc Ba nguyên tắc trên có mối quan hệ mật thiết, biện chứng với nhau, tạo nên hiệu quả của chính sách dân tộc, đồng thời cũng là phản ánh đặc điểm của chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước Việt Nam
ta Thực hiện quyền bình đẳng là một vấn đề lâu dài trên nhiều bình diện chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội, do vậy muốn thực hiện có hiệu quả quyền bình đẳng thì trong quá trình thực hiện chính sách dân tộc phải quán triệt và thực hiện được nguyên tắc đoàn kết Bình đẳng để đoàn kết, đoàn kết để thực hiện bình đẳng có hiệu quả, chất lượng Tương trợ giúp nhau cùng phát triển là giải quyết mối quan hệ dân tộc nhằm mục tiêu cùng phát triển thông qua hệ thống chính sách dân tộc trên nhiều bình diện đối với các dân tộc ở nước ta Quán triệt và thực hiện tốt nguyên tắc tương trợ giúp nhau cùng phát triển là tạo thêm các tiền đề vật chất và tư tưởng để thực hiện có hiệu quả nguyên tắc bình đẳng và đoàn kết Mỗi giai đoạn cách mạng việc quán triệt và thực hiện các nguyên tắc trên có những yêu cầu đòi hỏi khác nhau ngày càng cao và phức tạp hơn Trong bối cảnh tình hình dân tộc, tôn giáo trong nước và quốc tế có nhiều biến động cũng như trong điều kiện cơ chế thị trường thì đòi hỏi việc hoạch định và thực hiện chính sách dân tộc phải
có những đổi mới về nội dung và phương thức mới có thể đáp ứng được yêu cầu trong tình hình phát triển mới của đất nước
Tóm lại, cơ sở lý luận về đổi mới nội dung quản lý nhà nước và phương thức công tác dân tộc và vấn đề quan trọng có tính định hướng cho
sự đổi mới, cần được quán triệt và nhận thức sâu sắc, làm “kim chỉ nam” cho việc đề ra các nội dung đổi mới và thực hiện các nội dung đó trong thực tiễn Thực tiễn cách mạng 60 năm qua đã chứng minh sự thành công của việc vận dụng các cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong việc quản lý nhà nước về công tác dân tộc trong những hoàn cảnh lịch sử rất khó khăn phức tạp thời kỳ đấu tranh giành độc lập dân tộc
và xây dựng đất nước trước và sau đổi mới Những vấn đề đặt ra đối với sự
đổi mới nội dung quản lý nhà nước và phương thức công tác dân tộc hiện nay ở nước ta cần tiếp tục quán triệt các nội dung trên đây bởi nó không chỉ
là các vấn đề lý thuyết, luận thuyết thuần tuý mà nó đã đi qua máu, mồ hôi, nước mắt của nhiều thế hệ các dân tộc trong lịch sử cách mạng nước ta
II Yêu cầu đổi mới nội dung quản lý nhà nước và phương thức công tác dân tộc’’
Trang 20Nội dung quản lý nhà nước và phương thức công tác dân tộc là một trong yếu tố cơ bản trong việc thực hiện có hiệu quả công tác dân tộc, chính sách dân tộc ở nước ta Đảng và Nhà nước ta đã sớm và luôn coi trọng vấn
đề dân tộc, công tác dân tộc trong cách mạng đấu tranh giành độc lập và xây dựng đất nước trong thời bình Trong thời kỳ đổi mới, nhiều văn bản quan trọng về công tác dân tộc, về phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc
và miền núi đã được Đảng, Nhà nước ban hành Qua các kỳ Đại hội VI,VII, VIII, IX của Đảng đều khẳng định quan điểm và những nguyên tắc cơ bản trong việc giải quyết vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc như: Nghị quyết 22-NQ/TW ngày 27-11-1989 của Bộ Chính trị, Quyết định số 72-HĐBT ngày 13-3-1990 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) về một
số chủ trương cụ thể phát triển kinh tế-xã hội miền núi, Nghị quyết số NQ/TW ngày 12-3-2003 của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX về công tác dân tộc, Quyết định số 122/2003/QĐ-TTg ngày 12-6-
24-2003 của Chính phủ về việc ban hành Chương trình hành động của Chính phủ và nhiều văn bản khác là những chủ trương, đường lối quan trọng nhằm phát triển kinh tế-xã hội, đảm bảo ổn định chính trị và quốc phòng,
an ninh vùng dân tộc thiểu số
Thời gian qua, việc thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ở vùng dân tộc thiểu số đã đạt được những thành tựu quan trọng: Quyền bình đẳng giữa các dân tộc cơ bản được Hiến pháp xác định và được thể hiện trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; đoàn kết giữa các dân tộc tiếp tục được củng cố; nền kinh tế nhiều thành phần ở miền núi và các vùng dân tộc từng bước hình thành và phát triển, cơ cấu kinh tế đang chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hóa; việc triển khai thực hiện nhiều chính sách, chương trình, dự án đầu tư đã làm cho kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và
đời sống nhân dân ở nhiều vùng đồng bào dân tộc được cải thiện rõ rệt; công tác xói đói, giảm nghèo đạt được kết quả to lớn; mặt bằng dân trí được nâng lên; mục tiêu phổ cập giáo dục tiểu học và xóa mù chữ đã được thực hiện; hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú được hình thành từ Trung
ương đến tỉnh, huyện, cụm xã; văn hoá phát triển phong phú hơn; đời sống văn hoá của đồng bào được nâng cao một bước; văn hoá truyền thống của các dân tộc được tôn trọng, giữ gìn và phát huy; các loại bệnh dịch cơ bản
được ngăn chặn và từng bước bị đẩy lùi; việc khám, chữa bệnh cho vùng sâu, vùng xa được quan tâm hơn; hệ thống chính trị ở các vùng dân tộc và miền núi bước đầu được tăng cường và củng cố; tình hình chính trị, trật tự xã hội cơ bản ổn định; an ninh, quốc phòng được giữ vững
Trong quá trình đổi mới đất nước, hoạt động quản lý nhà nước và phương thức công tác dân tộc đã đạt được một số kết quả; công tác quy
Trang 21hoạch, kế hoạch được tăng cường và đổi mới Trong những năm qua Chính phủ đã chỉ đạo thực hiện khá đồng bộ công tác quy hoạch, kế hoạch Đến nay, tất cả các vùng dân tộc và miền núi đều đã có quy hoạch 1996 - 2010 Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội vùng Đông Bắc, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Bắc, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội các vùng Tây Nguyên và Bắc Trung bộ, duyên hải miền Trung và đồng bằng sông Cửu Long Tất cả các tỉnh miền núi đã có quy hoạch phát triển kinh
tế - xã hội đến 2010, đây là cơ sở quan trọng tạo ra những hành lang pháp
lý phát triển dài hạn là cơ sở xây dựng kế hoạch 5 năm và hàng năm Quy chế dân chủ từng bước được thực hiện và ngày càng có hiệu quả Trong 10 năm qua, công tác Quản lý Nhà nước về công tác dân tộc đã dần dần đi vào thưc hiện tốt quy chế dân chủ, thực hiện cơ chế: Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, nhất là từ khi thực hiện Chương trình 135 với phương châm
“Dân bàn, dân giám sát, dân tham gia các công trình” và “Xã có công trình, dân có việc làm”
Trung ương Đảng và Chính phủ ban hành nhiều chương trình quốc gia, chính sách phát triển kinh tế xã hội vùng dân tộc và miền núi như: Nghị quyết 22-NQTW ngày 27-1-1989 “về một số chủ trương chính sách lớn phát triển kinh tế-xã hội miền núi”; ban hành Quyết định 72 - HĐBT ngày 13-3-1990 của Hội đồng Bộ trưởng “về một số chủ trương, chính sách cụ thể phát triển kinh tế-xã hội miền núi”; Chương trình mục tiêu quốc gia xoá
đói giảm nghèo, theo Quyết định 133/1998/QĐ-TTg ngày 27-3-1998; Chương trình xây dựng Trung tâm cụm xã theo Quyết định số 35/QĐ-TTg ngày 13-01-1997; Chương trình phát triển kinh tế-xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi, vùng sâu, vùng xa theo Quyết định 135/1998/QĐ-TTg ngày 31-7-1998; Chương trình trợ cước trợ giá theo Nghị định số 20/1998/NĐ-CP ngày 31-3-1998; Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng theo Quyết định số 661/QĐ-TTg ngày 29-07-1997 và một số chương trình khác như Chương trình hỗ trợ dân tộc đặc biệt khó khăn, phòng chống ma tuý, hỗ trợ phát triển giáo dục đào tạo (trong đó có hệ thống Trường Dân tộc nội trú, Trường Dự bị đại học, Trường Thiếu sinh quân ), y tế, bảo tồn phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, phủ sóng phát thanh truyền hình, định canh
định cư; tài chính (vay vốn ưu đãi từ Ngân hàng Người nghèo nay là Ngân hàng Chính sách xã hội)
Công tác dân tộc thời gian qua còn tư vấn, tham gia vào nội dung chính sách dân tộc trình Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII, IX; tham gia Ban soạn thảo Nghị quyết Trung ương 7 khoá IX về công tác dân tộc Tổ chức sơ kết Chỉ thị 117-CTTW ngày 29-9-1981 của Ban Bí thư đối với đồng bào Khmer; Thông tri số 03-TT/TW ngày 17-10-1991 của Ban Bí
Trang 22thư về công tác đối với đồng bào Chăm; tổ chức tổng kết Chỉ thị 45-CTTW của Ban Bí thư đối với đồng bào Hmông; tổng kết việc thực hiện Nghị quyết 22-NQ/TW của Bộ Chính trị và Quyết định 72-HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng làm căn cứ để bổ sung hoàn thiện chính sách dân tộc trong giai đoạn mới Trong hoạt động quản lý về công tác dân tộc đã ban hành tiêu chí phân
định ba khu vực miền núi, vùng cao và ba khu vực vùng dân tộc đồng bằng, tạo cơ sở để để xây dựng các chương trình dự án quốc gia, phát triển vùng dân tộc và miền núi theo Quyết định số 42/QĐ-UB ngày 23-5-1997 và Quyết định số 21/1998/QĐ-TTg ngày 25-2-1998 của Bộ trưởng, Chủ nhiệm
Uỷ ban Dân tộc và Miền núi…
Để hoàn thiện bộ máy quản lý và thực hiện ngày môt rõ hơn chức năng nhiệm vụ của công tác dân tộc, cơ quan công tác dân tộc từng bước
được củng cố, hoàn thiện về tổ chức bộ máy các cấp đáp ứng đòi hỏi của công tác dân tộc trong tình hình mới Chính phủ đã có một số Nghị định về
tổ chức bộ máy cơ quan công tác dân tộc để ngày càng hoàn thiện hơn về cơ cấu tổ chức và chức năng nhiệm vụ như Nghị định 11/NĐ-CP, Nghị định 59/1998/NĐ-CP Qua hoạt động thực tiễn bộ máy cơ quan công tác dân tộc cần được tiếp tục hoàn thiện, Chính phủ đã ban hành Nghị định 51/2003/NĐ-CP và Nghị định 53/2004/NĐ-CP xác định cụ thể chức năng nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Uỷ ban Dân tộc, tạo điều kiện pháp lý để nâng cao chất lượng nội dung quản lý nhà nước và phương thức công tác dân tộc
Hoạt động nghiên cứu, biên soạn tài liệu và mở các lớp tập huấn, bồi
dưỡng nghiệp vụ công tác dân tộc cho các địa phương, ban ngành; tập huấn,
bồi dưỡng, đào tạo tại Trung ương và địa phương về công tác dân tộc, chính sách dân tộc cho cán bộ làm công tác dân tộc và các ngành hữu quan; nghiên cứu các đề tài khoa học, các dự án điều tra cơ bản cung cấp luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng quản lý nhà nước và hoạch định chính sách dân tộc ngày càng được triển khai có kế hoạch đáp ứng nhu
cầu thực tiễn Cạnh đó còn cho ra đời Báo Dân tộc và Phát triển, Tạp chí Dân tộc, Bản tin Chương trình 135 và từng bước đưa công nghệ thông tin
phục vụ công tác dân tộc
Uỷ ban Dân tộc đã phối hợp với nhiều cơ quan trung ương( Trung
ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Bộ Văn hoá-Thông tin, Bộ Tư lệnh
Bộ đội Biên phòng, Hội Nông dân Việt Nam ) ký kết các văn bản vận
động các dân tộc thiểu số tham gia trên các lĩnh vực hoạt động vì sự phát triển của các dân tộc Công tác tiếp đón đồng bào các dân tộc về thủ đô, giải quyết các đơn thư khiếu tố, thắc mắc của đồng bào; động viên các dân
Trang 23tộc thiểu số cả nước đoàn kết, tin tưởng và phấn đấu thực hiện sự nghiệp đổi mới đất nước Công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện chính sách dân tộc tuy còn hạn chế, song bước đầu đã mang lại hiêu quả quan trọng
Bên cạnh thành tựu trên, hoạt động quản lý nhà nước và phương thức
công tác dân tộc còn có những tồn tại : Bộ máy cơ quan công tác dân tộc
tuy có được quan tâm hoàn thiện nhưng trong nhiều năm vẫn chưa được ổn
định về cơ cấu tổ chức, thay đổi chức năng nhiệm vụ quyền hạn làm ảnh hưởng đến quá trình quản lý nhà nước và phương thức công tác dân tộc Nội dung quản lý nhà nước và phương thức công tác dân tộc chưa xác định cụ thể, rõ ràng nên không tránh khỏi những lúng túng nhất định trong quá trình quản lý; công tác dân tộc liên ngành, đa lĩnh vực liên quan toàn diện đến sự phát triển của đồng bào các dân tộc Khi xác định nội dung quản lý và thực hiện các nội dung đó trong thực tiễn là vấn đề không giản đơn, không như một ngành kinh tế, kỹ thuật cụ thể; đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc về cơ bản chưa được đào tạo về nghiệp vụ công tác dân tộc, nhiều năm qua
chưa có Trường đào tạo nghiệp vụ công tác dân tộc, nên cán bộ vào việc ở
cơ quan dân tộc Trung ương và địa phương không rõ về tiêu chuẩn, đó là một trong những nguyên nhân cơ bản của sự hạn chế, yếu kém trong công tác quản lý nhà nước và phương thức công tác dân tộc vừa qua
Trong hoạt động quản lý chưa có cơ chế rõ ràng, phân cấp quản lý về công tác dân tộc giữa Uỷ ban Dân tộc với các bộ, ban, ngành và địa phương Bộ máy tổ chức của cơ quan công tác dân tộc nhiều năm qua chưa
ổn định; việc xác định đối tượng, nội dung, phương thức công tác dân tộc cũng chưa rõ nét nên khó có thể đưa ra một hệ thống cơ chế quản lý nội bộ hoặc phối hợp với các cơ quan hữu quan một cách có hiệu quả cao
Cơ chế tài chính chưa tạo động lực cho tổ chức, cá nhân hoạt động công tác dân tộc Việc nhận thức công tác dân tộc trong các cơ quan nhà nước nói chung, cơ quan quản lý tài chính nói riêng còn hạn chế nên việc
đầu tư và tạo chính sách thu hút cán bộ cống hiến cho sự phát triển của các dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, biên giới còn hạn chế Bản thân cơ quan công tác dân tộc cũng chưa chủ trì, phối hợp với các cơ quan quản lý tài chính xây dựng chính sách đặc thù
Đối tượng quản lý, phương thức công tác dân tộc đa ngành, đa lĩnh vực; hoạt động nghiên cứu trong nhiều năm chưa chú trọng đúng mức nên hạn chế về mặt nhận thức về nội dung quản lý và phương thức công tác Tình hình đó ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả quản lý nhà nước và phương thức công tác dân tộc
Trang 24Nội dung quản lý và phương thức công tác dân tộc chưa đổi mới kịp thời đáp ứng yêu cầu của công tác dân tộc Công tác dân tộc trong thời kỳ kinh tế thị trường, công nghiệp hoá hỏi phải có sự đổi mới về nội dung quản lý và phương thức công tác Nhưng muốn đổi mới kịp với tình hình thì
bộ máy, con người, cơ chế, nội dung quản lý phải rõ ràng, đồng bộ
Vùng dân tộc miền núi hiện nay có khá nhiều chính sách, chương trình, dự án, dẫn đến tình trạng chồng chéo, khó quản lý Thậm chí trên cùng một địa bàn các chính sách với các xuất đầu tư khác nhau, gây nên hiện tượng khó hiểu, suy bì, thắc mắc trong đồng bào dân tộc Nhiều chính sách, chương trình, dự án đầu tư theo kiểu cấp phát, ban ơn, xin - cho gây tâm lý ỷ lại, không phát huy được ý thức tự vươn lên của đồng bào Sau khi kết thúc dự án đồng bào vẫn khó khăn
Những tồn tại trên là do các nguyên nhân sau đây: Nhận thức về
công tác dân tộc hiện nay chưa đầy đủ, chưa sâu sắc, toàn diện; đội ngũ cán bộ lãnh đạo trong hệ thống chính trị và ngay cả các cán bộ làm công tác dân tộc đến nay vẫn chưa nhận thức rõ được công tác dân tộc là gì, nội dung gồm những vấn đề gì, mối quan hệ với các công tác khác như thế nào dẫn
đến hoạt động không đi đúng trọng tâm, trong điểm, bỏ sót công việc hoặc chồng chéo, lấn sân Có những cá nhân cho rằng công tác dân tộc là của cơ quan làm công tác dân tộc, dẫn đến phó mặc cho cơ quan này hoặc có những cơ quan, cá nhân cho rằng mọi người đều làm công tác dân tộc Vì vậy không cần cơ quan chuyên trách làm công tác dân tộc, dẫn đến không sâu sát, thiếu thực tiễn
Quan điểm về công tác dân tộc mặc dù được Đảng, Nhà nước khẳng
định có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng, nhưng khi triển khai hoạt động trong thực tiễn về mặt quản lý nhà nước còn nhiều lúng túng từ trung ương đến địa phương Sự lúng túng thể hiện sự hạn chế và mặt nhận
thức về công tác dân tộc của các bộ, ban, ngành, địa phương và do đặc điểm
đa ngành đa lĩnh vực của công tác dân tộc chi phối Sự lúng túng biểu hiện
rõ nét ngay trong việc đặt tên cho cơ quan công tác dân tộc, vị trí cơ quan công tác dân tộc, chức năng nhiệm vụ quyền hạn, cơ cấu tổ chức có nhiều thay đổi và không mấy ổn định Có nhiệm vụ (như định canh định cư) khi thì thuộc cơ quan công tác dân tộc, khi thì thuộc cơ quan khác v.v Bộ máy cơ quan công tác dân tộc ở địa phương chậm được kiện toàn, tên gọi không thống nhất, chức năng nhiệm vụ không rõ và thiếu đồng bộ trong cả nước
Việc hoạch định chính sách dân tộc bên cạnh thành tựu còn nhiều
vấn đề chưa sâu sát, chưa bao quát, chưa đồng bộ, làm nảy sinh những vấn
đề hạn chế đến hiệu quả của chính sách Nhiều chính sách trong quá trình
Trang 25thực hiện lại nẩy sinh những vấn đề mới, tác động và làm ảnh hưởng đến mục tiêu chính sách trước (như phân định 3 khu vực, cử tuyển ) Điều đó vừa thể hiện cái khó của việc hoạch định chính sách dân tộc, vừa biểu hiện
những hạn chế của quá trình hoạch định chính sách Chậm đổi mới nhận thức trong trong việc xây dựng nội dung quản lý nhà nước và phương thức công tác dân tộc trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường, tình
hình dân tộc trong nước và quốc tế có nhiều biến đổi Đây là đòi hỏi khách quan nhưng không mấy dễ dàng đối với những người làm công tác dân tộc hiện nay Có thể nói nội dung quản lý nhà nước về công tác dân tộc được các Nghị định số 51/2003/NĐ-CP và Nghị định số 53/2004/NĐ-CP đề ra nhưng việc cụ thể hoá vào hoạt động thực tiễn là một quá trình đòi hỏi sự
đồng bộ với tổ cơ cấu tổ chức và năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc các cấp cũng như các cấp chính quyền, các ban ngành hữu
quan Chưa xây dựng được đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc ở trung
ương và địa phương, cán bộ người dân tộc thiểu số về số lượng và chất lượng đáp ứng yêu cầu công tác dân tộc trong thời kỳ từ 2005-2010 Đây là vấn đề vừa có ý nghĩa trước mắt và lâu dài vừa có tính quyết định đến chất lượng, hiệu quả nội dung quản lý nhà nước và phương thức công tác dân
tộc Chưa coi trọng đúng mức tổng kết thực tiễn tình hình dân tộc, công tác
dân tộc kịp thời để nâng cao chất lượng quản lý và phương thức công tác dân tộc Vừa qua tuy cơ quan công tác dân tộc, cùng một số bộ, ban ngành
có tiến hành tổng kết, sơ kết công tác dân tộc nhưng chưa ở tầm khái quát cao, đáp ứng yêu cầu để đề xuất, kiến nghị các vấn đề nâng cao chất lượng quản lý nhà nước và phương thức công tác dân tộc trong giai đoạn mới
Phương thức công tác dân tộc chậm được đổi mới: Từ 1986 đến nay,
nhiều người cho rằng chính sách dân tộc, công tác dân tộc đồng nghĩa với thực hiện các chương trình, dự án, chính sách cụ thể và làm theo kiểu cấp phát “nghĩ hộ, làm hộ, nói hộ”, không chú ý nắm tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, còn ít sự tham gia của người dân trong xây dựng, thực hiện chính sách, vì vậy hiệu quả không cao Đội ngũ cán bộ ngày càng xa dân, ít gần dân, nhiều người không hiểu được sâu sắc tính cách, tâm lý, nguyện vọng của nhân dân Vì vậy một bộ phận của hệ thống chính trị từ cấp cơ sở trở lên xa lạ với dân Trong khi các thế lực thù địch, tôn giáo lại có những biện pháp để gần dân, được một bộ phận dân ủng hộ, tin theo
Để đạt được các mục tiêu cụ thể đến 2010 về kinh tế, giáo dục, y tế, văn hoá, xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số, củng cố hệ thống chính trị cơ sở, giữ vững an ninh, quốc phòng mà Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7
Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX đã đề ra cần phải tiến hành đổi mới nội dung quản lý nhà nước và phương thức công tác dân tộc, phù
Trang 26hợp với đặc thù công tác dân tộc Việc nhận thức, đánh giá thành tựu và tồn tại trong quản lý nhà nước và phương thức công tác dân tộc là một yêu cầu tất yếu để tìm ra các nội dung đổi mới
Trước tình hình và yêu cầu của công tác dân tộc giai đoạn
2005-2010, theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 7 khoá IX về công tác dân tộc Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt
Đề án : ô Nội dung, nhiệm vụ chủ yếu của quản lý nhà nước và phương thức công tác dân tộc giai đoạn 2006-2010 ằ theo Quyết định số
1277/2005/QĐ-TTg ngày 07 tháng 12 năm 2005 Đây là văn bản rất quan trọng đối với sự nghiệp công tác dân tộc giai đoạn 2006-2010 và những năm tiếp theo Đề án này không chỉ mang tính chất của một đề án bình
thường mà có tính chất như một cương lĩnh của công tác dân tộc trong giai
đoạn phát triển mói của đất nước
Đề án “Nội dung, nhiệm vụ chủ yếu của quản lý nhà nước và phương thức công tác dân tộc giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2010” của
Thủ tướng Chính phủ một lần nữa khẳng định mục tiêu “là nhằm thực hiện
các nội dung công tác dân tộc có tính trọng yếu, đáp ứng yêu cầu bức thiết vì sự đoàn kết, bình đẳng, tương trợ, ổn định, tiến bộ và phát triển của các dân tộc thiểu số trong 5 năm (2006 -2010) trong công tác dân tộc của Đảng
và Nhà nước; đồng thời nhằm khắc phục những hạn chế, yếu kém của công tác dân tộc thời gian qua, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm
vụ công tác dân tộc từ nay đến năm 2010 nêu trong Nghị quyết số
24/NQ-TW của Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX về
công tác dân tộc Đồng thời đề án này cũng đã chỉ ra các yêu cầu là : “Bám
sát mục tiêu của Đề án để xây dựng, cụ thể hóa từng nội dung, nhiệm vụ chủ yếu của quản lý nhà nước và phương thức công tác dân tộc; Phân công trách nhiệm cụ thể cho từng cơ quan, đơn vị và sự phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị trong triển khai thực hiện các nội dung của Đề án; Tăng cường kiểm tra, đôn đốc các cơ quan, đơn vị được phân công thực hiện các nội dung, nhiệm vụ nêu trong Đề án bảo đảm đúng tiến độ và có chất lượng cao.”
Mục tiêu và các yêu cầu trên đây của đề án đã khẳng định ý nghĩa và tầm quan trọng của việc cần thiết phải đổi mới nội dung quản lý nhà nước
và phương thức công tác dân tộc giai đoạn 2006-2010
III- Khái quát thực trạng quản lý nhà nước về công tác dân tộc
Trang 27Quản lý là một hoạt động điều hành các hệ thống kinh tế-xã hội của một Nhà nước, một tổ chức với nhiều mục đích, yêu cầu và cấp độ cụ thể khác nhau Như trên đã trình bày, sau khi ra đời Nhà nước ta đã tập trung
điều hành đất nước với những nhiệm vụ rất cơ bản trong đó có việc điều hành quản lý nhà nước về lĩnh vực công tác dân tộc 60 năm qua ở nước ta còn ít công trình nghiên cứu, tổng kết về lý luận và thực tiễn khoa học quản
lý nói chung và quản lý nhà nước về công tác dân tộc nói riêng Vì lẽ đó mà
đến nay còn có những quan niệm , nhận thức khác nhau về quản lý và quản
lý nhà nước về lĩnh vực công tác dân tộc
Khái niệm quản lý nhà nước cũng có những quan niệm không hoàn
toàn thống nhất , tuy nhiên chúng ta cũng thấy có những điểm chung làm cơ
sở để nhìn nhận vào khái niệm quản lý nhà nước về công tác dân tộc Theo
mọt số tác giả thì Quản lý nhà nước là tổ chức, điều hành các hoạt động
kinh tế-xã hội theo pháp luật Hoặc cũng có ý kiến cho rằng Quản lý Nhà nước là một hoạt động quản lý đặc biệt đạt được mục tiêu phát triển trên
tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế-xã hội Trong nhiều giai đoạn phát triển khác nhau, hoạt động quản lý nhà nước không ngừng mở rộng và phát triển Quy trình của Quản lý hành chính Nhà nước bao gồm 7 công đoạn :
1 Quy hoạch và kế hoạch, 2 Tổ chức bộ máy hành chính, 3 Sắp xếp bố trí
và quản lý nhân sự, 4 Ra các quyết định quản lý, 5 Phối hợp, 6 Sử dụng nguồn tài lực, 7 Chỉ đạo kiểm tra, tổng kết đánh giá
Ngoài hai cơ sở lý thuyết trên (Quản lý và Quản lý nhà nước), khái niệm Quản lý Nhà nước về công tác dân tộc ở nước ta cũng là vấn đề lý
thuyết và thực tiễn còn nhiều quan niệm chưa thống nhất, thậm chí còn ít
được bàn đến Về mặt khái niệm : Quản lý nhà nước về lĩnh vực Dân tộc và miền núi chưa có ai đưa ra một khái niệm tổng quát mà trong một số tài liệu đi vào nêu ra chức năng, nhiệm vụ của quản lý nhà nước về dân tộc và miền núi Trong giáo trình chính thống của Học viện Hành chính quốc gia
có nêu Chức năng, nhiệm vụ của quản lý nhà nước về Dân tộc và Miền núi như sau : Nghiên cứu tổng hợp, đề xuất chủ trương, chính sách của Đảng
và Nhà nước, xây dựng các dự án luật về dân tộc, xây dựng các dự án phát triển kinh tế-xã hội cho từng dân tộc về miền núi ; Hướng dẫn theo dõi kiểm tra các ngành, các cấp thực hiện đường lối chủ trương về chính sách dân tộc và miền núi của Đảng và Nhà nước ; Phối hợp với các cơ quan tổ chức - cán bộ theo dõi đội ngũ cán bộ là người các dân tộc thiểu số, đề xuất
ý kiến với Bộ Giáo dục và Đào tạo để có chính sách đào tạo, bồi dưỡng sử
Trang 28dụng cán bộ là người thuộc các dân tộc thiểu số Đây là vấn đề then chốt cơ bản cần được sớm triển khai thực hiện ; Thực hiện quản lý, giám sát, kiểm tra các nguồn vốn đầu tư cho các vùng dân tộc và miền núi Cơ quan làm công tác dân tộc trực tiếp quản lý một số chương trình phát triển kinh
tế, văn hoá - xã hội ở vùng dân tộc và miền núi như xây dựng vùng kinh tế mới, vùng định canh định cư, các chương trình tài trợ của quốc tế nhằm góp phần vào chương trình "xóa đói giảm nghèo" của Chính phủ ở các vùng sâu
Xác định nội hàm của lĩnh vực Quản lý nhà nước về công tác Dân tộc
là một quá trình để làm rõ chức năng của công tác này trong quản lý và chỉ
đạo thực tiễn Việc xác định khái niệm quản lý nhà nước về lĩnh vực công tác dân tộc và miền núi là một vấn đề khoa học cơ bản nhưng chưa được nêu trong các văn bản pháp lý từ Nghị định ngày 9-9-1946 chiểu theo Sắc lệnh 58 ngày 3-5-1946 đến Nghị định 51/2003/NĐ-CP ngày 16-5-2003 Các văn bản loại hình như trên chỉ ghi là “ Nha dân tộc thiểu có nhiệm vụ nghiên cứu và giải quyết mọi vấn đề liên quan đến các dân tộc thiểu số
trong toàn cõi Việt Nam " và " Uỷ ban Dân tộc là cơ quan ngang bộ của
Chính phủ có chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực công tác dân tộc
khái niệm quản lý nhà nước về lĩnh vực ) công tác dân tộc và miền núi trên đây cho thấy
còn thiếu một khái niệm mang tính khái quát về Quản lý nhà nước về lĩnh vực công tác dân tộc và miền núi, mà với định nghĩa đó chúng ta có thể vận dụng vào chức năng quản lý lĩnh vực đặc thù này của một nhà nước kiểu mới của dân, do dân vì dân trong quá trình hoạt động của mình, hay ít ra cũng cụ thể hoá được đặc điểm tình hình của quốc gia khi có chiến tranh hoặc trong thơì bình xây dựng đất nước
Trang 29trong phạm vi cả nước ; quản lý nhà nước các dịch vụ công và thực hiện đại diện chủ sở hữu phần vốn của nhà nước tại doanh nghiệp có vốn nhà nước
thuộc Uỷ ban quản lý theo quy định của pháp luật "
Sau các văn bản đó cơ quan công tác dân tộc từ trước đến nay chưa nhiều công trình định nghĩa và xác định khái niệm quản lý nhà nước về lĩnh vực công tác dân tộc là gì ? Điều đó đã gây nên không ít lúng túng về nhận thức thật cụ thể cho đội ngũ cán bộ làm công tác này khi trả lời một khái
quát nhất, tương đối đầy đủ nhất câu hỏi : Quản lý nhà nước về lĩnh vực công tác dân tộc là gì ? Cơ sở lý luận là một trong những cơ sở chủ yếu để
định hình chức năng quản lý nhà nước về công tác dân tộc ở nước ta Đây là vấn đề quan trọng, song từ trước đến nay còn ít được bàn đến trong các công trình nghiên cứu về lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước về lĩnh vực công tác Dân tộc Mỗi quốc gia, mỗi hệ thống chính trị có một quan điểm,
hệ thống lý luận riêng làm cơ sở cho việc giải quyết các vấn đề dân tộc nói chung và quản lý nhà nước về công tác dân tộc nói riêng Hơn 75 năm sau khi Đảng ta thành lập và 60 năm Nhà nước ta ra đời, việc giải quyết vấn đề dân tộc và công tác dân tộc ở nước ta thành công là dựa trên nguyên tắc vận dụng các vấn đề lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin về dân tộc vào thực tiễn cách mạng Việt Nam Việc xác định chức năng quản lý nhà nước về công tác dân tộc trong giai đoạn hiện nay không thể tách rời các cơ sở lý luận đó
Thực tiễn gần 60 năm hoạt động của cơ quan công tác dân tộc với những bài học thành công và tồn tại cho thấy cần tiếp tục khẳng định và nghiên cứu sâu sắc và vận dụng sáng tạo các vấn đề lý luận sau đây vào
thực tiễn hoạt động của công tác dân tộc ở nước ta: Vận dụng sáng tạo các nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lên nin vào tình hình dân tộc và giải quyết các vấn đề phù hợp với thực tiễn Việt Nam ; Dựa trên các quan điểm ,
đường lối của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề dân tộc trong cách mạng Việt Nam ; Nghiên cứu, kế thừa và vận dụng quan điểm tư tưởng của Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc ở nước ta
Các cơ sở lý luận trên đây giúp cho người hoạch định mục tiêu, nội dung, nhiệm vụ quản lý nhà nước về công tác dân tộc một số nội dung quan trọng sau : Nâng cao tầm nhìn về lý luận khoa học vấn đề dân tộc và công tác dân tộc ở nước ta, trên cơ sở đó để có sự phân tích, nhận định đánh giá thực trạng tình hình dân tộc ở Việt Nam trong bức tranh chung và trong từng giai đoạn cách mạng cụ thể để hoạch định các vấn đề quản lý nhà
Trang 30nước về lĩnh vực đặc thù này ; có một định hướng mục đích của việc quản
lý nhà nước về công tác dân tộc, như trong việc xác định đối tượng, mục tiêu, yêu cầu công tác dân tộc trong một chiến lược chung và trong từng thời kỳ cách mạng ; xác định yêu cầu và đề ra chức năng nhiệm vụ cụ thể của quản lý nhà nước về công tác dân tộc Đó chính là sự vận dụng các quan điểm lý luận hay cơ cở lý luận về vấn đề dân tộc và công tác dân tộc vào xác định chức năng quản lý nhà nước về công tác dân tộc ở nước ta
Một trong cơ sở thực tiễn chi phối mạnh mẽ việc xác định chức năng
quản lý nhà nước về công tác dân tộc là cơ sở về vấn đề dân tộc ở nước ta
Việc xác định đúng các vấn đề đặc điểm tình hình thực tiễn là nắm chắc
đối tượng để tiến hành các hoạt động quản lý nhà nước thực hiện các mục
tiêu của chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước Cơ sở thực tiễn về vấn
đề dân tộc và công tác dân tộc ở nước ta thời gian qua là một thực tế rất
sinh động, cung cấp các luận cứ để xác định và làm tốt chức năng quản lý nhà nước về công tác dân tộc ở nước ta Cơ sở thực tiễn về vấn đề dân tộc ở nước ta là một vấn đề khoa học cần được nhận thức và quán triệt để có một
sự hiểu biết sâu sắc đồng bào các dân tộc nước ta với các đặc thù về lịch sử, chính trị, kinh tế-xã hội để có thể đề ra các mục tiêu, nội dung quản lý nhà nước về công tác dân tộc phù hợp với đặc trưng từng vùng, từng nhóm các dân tộc thiểu số nước ta… Thực trạng vấn đề dân tộc ở nước ta với những nội dung cơ bản trên đây là căn cứ thực tiễn thứ nhất mà hoạt động quản lý nhà nước về lĩnh vực dân tộc và miền núi cần được ý thức và quán triệt trong việc lập kế hoạch và hoạch định các nội dung, xác định các mục tiêu chung và cụ thể, của việc xây dựng chức năng nhiệm vụ quản lý…để phù hợp với đặc điểm tình hình lịch sử và thực trạng của các dân tộc ở nước ta
Cơ sở tiếp theo là bài học kinh nghiệm của hoạt động quản lý nhà nước về lĩnh vực công tác dân tộc miền núi 59 năm qua (1946-2005) Đó là
những thành tựu và tồn tại của quy trình tổ chức, xây dựng chức năng nhiệm vụ, xây dựng bộ máy, cơ chế vận hành, xây dựng nội dung quản lý nhà nước về lĩnh vực công tác dân tộc và miền núi Dưới góc độ bài học kinh nghiệm từ thực tiễn hoạt động quản lý nhà nước 59 năm qua chúng tôi nhằm cung cấp thêm luận cứ để xác định rõ chức năng quản lý nhà nước về
công tác dân tộc
Cơ sở đặt công tác dân tộc và quản lý nhà nước về công tác dân tộc trong bối cảnh trong nước và quốc tế với các vấn đề mang tính thực tiễn, thời sự Đây là vấn đề luôn đặt ra trong từng giai đoạn phát triển của cách
Trang 31mạng, là một trong những thành tố cần được xem xét để quyết định các nội dung chính sách dân tộc, công tác dân tộc và quản lý công tác dân tộc Với quan điểm đó thì trong tình hình hiện nay việc nghiên cứu xác định chức năng quản lý nhà nước về công tác dân tộc không thể không quan tâm đến môi trường xã hội tác động đến công tác dân tộc: Nguy cơ tụt hậu về kinh
tế - xã hội của vùng dân tộc và miền núi; sự bất cập về đội ngũ cán bộ tại chỗ và chính quyền cấp cơ sở; sự nhạy cảm trong việc giải quyết các vấn đề tôn giáo và sắc tộc; âm mưu lợi dụng các vấn đề dân tôc và tôn giáo của kẻ
địch để gây mất ổn định chính trị phá hoại khối đoàn kết toàn dân và thành quả kinh tế - xã hội của chính sách dân tộc mang lại cho đồng bào các dân
tộc thiểu số và miền núi
Việc vận dụng các cơ sở thực tiễn vào việc xác định chức năng quản
lý nhà nước về công tác dân tộc và miền núi là một yêu cầu tất yếu khách quan Việc quản lý nhà nước về lĩnh vực dân tộc sẽ phạm phải sai lầm, không đúng hướng nếu tách rời các luận cứ thực tiễn về vấn đề dân tộc, hoạt
động công tác dân tộc, cũng như bối cảnh tình hình chính trị - xã hội trong các thời kỳ cách mạng Đó là những nguồn thông tin cơ bản và nhạy cảm góp phần quan trọng trong việc định ra các chức năng cụ thể và nội dung quản lý nhà nước về công tác dân tộc
Quản lý nhà nước về lĩnh vực công tác dân tộc là một hoạt động chức năng của cơ quan công tác dân tộc và nằm trong bộ máy tổ chức hành chính, trong hệ thống chính trị của đất nước ta Chức năng và nhiệm vụ của cơ quan công tác dân tộc được hệ thống các văn bản pháp lý quan trọng của Nhà nước hoặc Chính phủ quy định qua các thời kỳ Các văn bản đó là :
- Sắc lệnh số 58 ngày 3-5-1946 của Chủ tịch Chính phủ về tổ chức Bộ Nội vụ, trong đó có Nha Dân tộc thiểu số
- Nghị định số 447-TTg ngày 1-2-1955 của Thủ tướng Chính phủ thành lập Ban Dân tộc trong Ban Nội chính Chính phủ và trực thuộc Thủ tướng Chính phủ
- Nghị định số 102-TTg ngày 6-3-1959 của Thủ tướng Chính phủ quy
định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Uỷ ban Dân tộc
- Nghị định số 133/CP ngày 29-9-1961 của Hội đồng Chính phủ quy
định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Uỷ ban Dân tộc
- Nghị định số 34/CP ngày 5-3-1968 của Hội đồng Chính phủ về việc sửa đổi tổ chức bộ máy của Uỷ ban Dân tộc
- Quyết định 147-CT ngày 11-5-1990 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về việc thành lập Văn phòng Miền núi và Dân tộc
Trang 32- Nghị định số 11-CP ngày 20-2-1993 của Chính phủ về chức năng nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Uỷ ban Dân tộc và Miền núi
- Nghị định số 59/1998/NĐ-CP ngày 13-8-1998 của Chính phủ về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của của Uỷ ban Dân tộc
và Miền núi
- Nghị định số 51/2003/NĐ-CP ngày 16-5-2003 của Chính phủ về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức bộ máy của của Uỷ ban Dân tộc
- Nghị định số 53/2004/NĐ-CP ngày 18-2-2004 của Chính phủ về kiện toàn tổ chức bộ máy làm công tác dân tộc thuộc Uỷ ban nhân dân các cấp
Khi nghiên cứu các cơ sở pháp lý để phục vụ cho việc xác định chức năng quản lý nhà nước về công tác dân tộc cần phải nhìn một cách toàn diện hơn đối với các nội dung chủ yếu và các vấn đề thực trạng để vận dụng vào việc xác định các chức năng
Thời kỳ từ 1946 đến nay, cơ quan công tác dân tộc được hệ thống các văn bản mang tính pháp lý của Nhà nước như : Sắc lệnh, Nghị định,Quyết
định quy định 2 chức năng cơ bản là : nghiên cứu tham mưu cho Trung
ương Đảng về công tác dân tộc và Quản lý nhà nước về lĩnh vực công tác dân tộc Bên cạnh đó các nội dung công tác dân tộc còn được định hướng bởi các điều quy định trong Hiến pháp, các Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc Tuy nhiên vấn đề đặt ra là hệ thống các văn bản trên chỉ mới quy
định các vấn đề hoặc nội dung có tính nguyên tắc, còn việc nhận thức của các cấp các ngành từ Trung ương đến địa phương về các văn bản đó như thế nào để quản lý nhà nứơc về lĩnh vực dân tộc hiệu quả là vấn đề đã và đang
mới thực sự là cơ quan ngang Bộ đứng đầu là đồng chí Chủ nhiệm Uỷ ban
và Bộ trưởng - Chủ nhiệm Uỷ ban Và có thể nói cũng từ đó chức năng
quản lý nhà nước về công tác dân tộc của cơ quan công tác dân tộc theo tinh thần Nghị định 15 - CP và Nghị định 51/2003/NĐ - CP mới được rõ nét hơn trước, cơ quan công tác dân tộc được củng cố hơn trước một bước
Trang 33Theo văn bản trên thì Uỷ ban Dân tộc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm quản lý nhà nước của mình trên các nội dung như sau :
- Trình Chính phủ và Ban hành các văn bản mang tính pháp luật để thực hiện các chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước, tuyên truyền giáo dục pháp luật trong đồng bào các dân tộc thiểu số
- Xây dựng các văn bản quy hoạch, kế hoạch xây dựng phát triển của
Uỷ ban Dân tộc trình Chính phủ; tham gia xét duyệt các luận chứng kinh
tế-kỹ thuật phát triển vùng dân tộc và miền núi; chỉ đạo và giám sát việc thực hiện các chính dân tộc của Đảng và Nhà nước
- Xây dựng các kế hoạch tài chính, quản lý giám sát, kiểm tra đánh giá việc chi, thu tài chính theo quy định và chế độ hiện hành
- Xây dựng hệ thống tổ chức bộ máy cơ quan làm công tác dân tộc trình Chính phủ theo Luật tổ Chức chính phủ và Pháp lệnh cán bộ, công chức
- Trình Chính phủ trong việc tham gia các tổ chức quốc tế, các hoạt
động quốc tế ; xây dựng các kế hoạch, theo dõi và quản lý các nội dung hoạt động quốc tế của cơ quan
- Kiểm tra, thanh tra các Bộ, ban ngành và trong hệ thống cơ quan làm công tác dân tộc trong việc thực hiện chính sách dân tộc, các chương trình kinh tế-xã hội vùng dân tộc thiểu số Giải quyết các tranh chấp, đơn thư khiếu nại, tố cáo thuộc lĩnh vực Uỷ ban Dân tộc phụ trách
- Quản lý các đơn vị hành chính sự nghiệp các doanh nghiệp nhà nước trực thuộc Uỷ ban Dân tộc
Như vậy trước khi có Nghị định 15-CP và Nghị định 11/CP năm 1993 của Chính phủ thì nội dung và chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực công tác dân tộc cũng đã được ghi trong các Sắc lệnh, Nghị định thành lập các cơ
quan công tác dân tộc như : Nha dân tộc thiểu số, Phòng quốc dân thiểu số, Tiểu ban Dân tộc, Uỷ ban Dân tộc, Ban Dân tộc Trung ương Tuy nhiên
chúng ta thấy chức năng quản lý nhà nước về công tác dân tộc trong các văn bản trước Nghị định 11/CP chưa hệ thống và tương đối toàn diện, đầy đủ
Trang 34Các văn bản pháp lý về việc thành lập cơ quan công tác dân tộc đồng thời cũng quy định bộ máy cơ quan làm công tác dân tộc ở cấp Trung ương Việc quy định bộ máy của cơ quan làm công tác dân tộc qua các thời kỳ từ
Nha dân tộc thiểu số (1946) tới Uỷ ban Dân tộc (2003) với sự thay đổi
chức danh người đứng đầu cơ quan, cơ cấu bộ máy và trực thuộc nhiều cơ quan trước khi tương đương là một Bộ đã cho thấy ảnh hưởng không nhỏ
đến hiệu quả quản lý nhà nước về lĩnh vực Dân tộc
Trong tất cả các văn bản pháp lý về việc thành lập cơ quan công tác
dân tộc ngoài việc quy định chức năng nhiệm vụ của cơ quan và nhiêm vụ của ngưới đứng đầu cơ quan thì chưa có văn bản kèm theo nào của Chính phủ và của người đứng đầu cơ quan công tác dân tộc qua các thời kỳ quy
định tiêu chuẩn cán bộ làm việc tại cơ quan công tác dân tộc Tình hình trên nằm trong thực trạng chung của bộ máy Hành chính nhà nước với cơ cấu
bộ máy và tiêu chuẩn hoá đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu của các cơ quan,
đào tạo, bồi dưỡng tạo ra đội ngũ đáp ứng yêu cầu công tác đặc thù
này Pháp lệnh cán bộ, công chức do Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban
hành 26-2-1998 là những quy định chung và mới được ban hành trong thời gian gần đây Với 60 năm qua cơ quan công tác dân tộc đã trải qua nhiều lần thay đổi tên gọi, cơ cấu và trải qua các giai đoạn cách mạng của dân tộc nhưng cũng chưa có một văn bản của cơ quan trong việc chuẩn hoá đội ngũ cán bộ cho các thời kỳ Đó là một tồn tại khách quan là một nguyên nhân rất quan trọng hạn chế hiệu quả quản lý nhà nước về công tác dân tộc thời gian qua
Nghiên cứu ,vận dụng, kế thừa, làm tăng hiệu quả của các cơ sở pháp
lý vào việc xác định chức năng và thực hiện quản lý quản lý nhà nước về lĩnh vực công tác dân tộc là một đòi hỏi khách quan của cơ quan công tác dân tộc trong việc thực hiện chức năng nhiệm vụ được Chính phủ giao phó
Hệ thống pháp luật của nước ta nói chung và các văn bản pháp lý về tổ chức cơ quan công tác dân tộc qua các thời kỳ nói riêng là cái khung cơ bản để
Trang 35cơ quan công tác dân tộc tiếp tục nghiên cứu đề xuất hoặc trực tiếp ban hành để nâng cao chất lượng quản lý nhà nước về công tác dân tộc
Từ các luận cứ phân tích trên đây về cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn và cơ sở pháp lý là những luận cứ khoa học cơ bản và chính diện để nhận thức toàn diện các vấn đề quan điểm lý luận, các vấn đề đặc điểm thực tiễn vấn
đề dân tộc và công tác dân tộc ở nước và nhận thức các vấn đề pháp lý để vận dụng, phát huy vào việc thực hiện các chức năng của cơ quan công dân tộc
Từ việc nghiên cứu các khái niệm Quản lý - Quản lý nhà nước và tham khảo các khái niệm đã từng đưa ra về Quản lý nhà nước về lĩnh vực công tác dân tộc và miền núi kết hợp với các luận cứ trên đây, chúng tôi bước đầu nêu ra khái niệm về Quản lý Nhà nước về lĩnh vực công tác dân tộc như sau :
Quản lý nhà nước về lĩnh vực công tác Dân tộc là hoạt động của các cơ quan chức năng và chính quyền các cấp liên quan đến công tác dân tộc, trong đó Uỷ ban Dân tộc và cơ quan công tác dân tộc các địa phương có vai trò chủ trì trong việc tổ chức, điều hành, kiểm tra giám sát, tổng kết và phối hợp các hoạt động nhằm thực hiện hiệu quả các chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước thông qua các chương trình, mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội, giữ vững an ninh quốc phòng vùng dân tộc thiểu số, tương ứng với từng giai đoạn cách mạng cụ thể theo quy định của luật pháp
Khái niệm trên, chúng ta có thể coi đó là phương tiện để nhìn nhận
hoạt động quản lý nhà nước về công tác dân tộc và miền núi qua các thời
(*)
– Khái niệm Quản lý nhà nước về công tác dân tộc là môt khái niệm khó, hiện còn có những quan điểm, ý kiến khác nhau Song quá trình nghiên cứu đề tài này chúng tôi mạnh dạn đưa ra quan niệm của mình về khái niệm trên (đã được chỉnh sửa bổ sung sau khi đã có trao đổi góp ý của Hội đồng nghiệm thu chính thức) để người đi sau tiếp tục có cái để nghiên cứu thêm Nếu không có cái để bàn thì không bao giờ mới có được khái niệm được đa số chấp nhận
Trang 36mới (1986 ) đến nay còn những lúng túng về nội dung quản lý nhà nước về công tác dân tộc Mặc dù đã có các Nghị định của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức bộ máy của cơ quan công tác dân tộc Trung ương nhưng trong thực tiễn việc tiến hành hoạt động quản
lý không mấy đơn giản, cụ thể như các bộ, ngành khác nếu không nói là
đó đều nói lên một điều các nhà quản lý, các cơ quan chức năng liên quan
đến công tác dân tộc đều lúng túng chưa bao quát hết yêu cầu của công tác dân tộc của đất nước đặt ra trong từng giai đoạn cách mạng cụ thể
- Từ việc các cơ quan của lý nhà nước, cơ quan lập pháp liên quan
đến công tác dân tộc trong nhiều năm chưa nắm chắc tình hình các dân tộc
cụ thể với tư cách là đối tượng quản lý, đối tượng tác động và hưởng thụ chính sách Có tình hình này là do việc nhận thức chưa đầy đủ về công tác dân tộc, không thấy rõ được tính đa dạng, phức tạp và công phu trong việc chuẩn bị các dữ kiện đối tượng của công tác dân tộc, mà đôi khi xem nhẹ và cũng “bình thường” như đối tượng công tác của một số Bộ, ngành Mặc dù công tác dân tộc đã qua nhiều năm, không ít người có thâm niên và những người công tác quản lý, lãnh đạo lâu năm ở vùng dân tộc thiểu số nhưng khi trả lời câu hỏi : đồng bào dân tộc thiểu số là ai ? ; các dân tộc thiểu số
có phải là một hay không mà chính sách triển khai lại giống nhau ở các địa phương? đều không khỏi lúng túng khi trả lời; và đôi khi trả lời cũng không chính xác
- Trong nhiều năm chưa nhận thức đầy đủ và đầu tư đúng tầm việc
nghiên cứu về các dân tộc thiểu số để có bộ dữ liệu cơ bản về các dân tộc làm cơ sở cho mọi hoạt động hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách Trong hoạt động quản lý nhà nước thời gian qua khi cần đến bộ dữ liệu cập nhật về tình hình cơ bản của các dân tộc thiểu số, các cơ quan và các nhà
Trang 37hoạch định đều phải tự đi tìm tài liệu, đôi khi không thống nhất do vậy đã
ảnh hưởng không nhỏ đến tầm nhìn khái quát vĩ mô để đề ra các hoạt động quản lý nhà nước có tính bao quát và ít thay đổi trong một thời gian nhất
định Hạn chế này đã tác động không nhỏ không chỉ đến các nhà hoạch
định nội dung quản lý, nội dung các chính sách dân tộc mà còn ảnh hưởng
đến các cơ quan hữu quan, chính quyền địa phương các cấp trong việc quản
lý và tổ chức thực hiện chính sách dân tộc
- Thiếu một cơ sở và chương trình đào tạo về nghiệp vụ công tác dân tộc tương xứng với yêu cầu của công tác dân tộc của đất nước đặt ra Nghiệp vụ chuyên môn của một ngành, lĩnh vực là một yêu cầu cơ bản trước khi tiến hành một hoạt động chuyên môn Cán bộ làm công tác chuyên môn hay quản lý chuyên môn trong lĩnh vực công tác dân tộc trong nhiều năm qua chưa có một Trường đào tạo với hệ thống chuyên môn nghiệp vụ đáp ứng ngang tầm yêu cầu và nhiệm vụ công tác dân tộc đặt ra
Đây là một điều “vô lý” song vẫn tồn tại lâu dài trong nhiều năm Những người làm công tác dân tộc đa phần trong nhiều năm qua đều thông qua kinh nghiệm, và bị “cuốn vào” công việc sự vụ triển khai thực hiện chính sách, chủ trương đường lối; và gần đây có được bồi dưỡng một số kiến thức phục vụ cho công tác dân tộc khi Trung tâm và Trường đào tạo nghiệp vụ công tác dân tộc ra đời theo Nghị định 59/1998/NĐ-CP và Nghị định 51/2003/ NĐ-CP Cho đến nay có lẽ ít có lĩnh vực công tác nào ra đời sau Cách mạng tháng Tám (1945) và đến đầu thế kỷ XXI lại chưa có một hệ thống tri thức nghiệp vụ cấp quốc gia để đào tạo, trang bị kiến thức nghề nghiệp cho những người làm công tác dân tộc các cấp và các ban ngành hữu quan đến công tác dân tộc
- Trong một thời gian dài thiếu một đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc tương xứng với yêu cầu công tác dân tộc của đất nước đặt ra ở tầm vĩ mô và vi mô Đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc là nhân tố quyết định
đến sự thành công của công tác dân tộc Tuy nhiên đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc là một bộ phận trong tổng thể cơ cấu tổ chức, chức năng nhiệm
vụ, quyền hạn của cơ quan công tác dân tộc Đội ngũ cán bộ có mối quan
hệ mật thiết và phản ánh hệ quả của các hoạt động quản lý nhà nước trong việc tiêu chuẩn hoá đội ngũ với các yêu cầu về chuyên môn nghiệp vụ, yêu cầu chính trị tương ứng với yêu cầu nhiệm vụ về công tác dân tộc được
Đảng, Nhà nước giao cho cơ quan công tác dân tộc
Trang 38Tình hình trên cho thấy đặt ra những vấn đề không kém phần “bức xúc” trong việc rất cần thiết phải đổi mới nội dung quản lý nhàn nước về công tác dân tộc, tuy rằng nội dung quản lý nhà nước về công tác dân tộc thời gian qua đang trong quá trình hoàn thiện Vậy đổi mới nội dung quản
lý nhà nước về công tác dân tộc là gì ? Với kết quả nghiên cứu bước đầu, chúng tôi cho rằng :
Thực hiện nội dung, nhiệm vụ chủ yếu của quản lý nhà nước về lĩnh vực công tác Dân tộc giai đoạn 2006-2010 là việc nhận thức và đề ra các nội dung hoạt động mới theo quy trình quản lý nhà nước phù hợp với đặc
điểm của lĩnh vực công tác dân tộc, trên cơ sở kế thừa các hoạt động quản
lý đang tiến hành nhằm làm cho hoạt động tổ chức, điều hành các hoạt
động thực hiện nhiệm vụ mang tính chủ trì trực tiếp và phối hợp của cơ quan công tác dân tộc đáp ứng yêu cầu của thực tiễn công tác dân tộc đặt
ra và đòi hỏi nhằm khắc phục tình trạng bất cập, trì trệ hiện nay
Từ quan niệm chung trên đây, chúng ta có thể nhận thấy mấy vấn đề cần quan tâm sau đây :
- Xác định rõ quy trình, nội dung, nhiệm vụ chủ yếu của quản lý nhà nước về công tác dân tộc trong giai đoạn 2006-1010 Đây là nội dung vừa
được Thủ tướng Chính phủ ban hành theo Quyết định 1277/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “ Nội dung, nhiệm vụ chủ yếu của quản lý nhà nước về công tác dân tộc giai đoạn 2006-2010” Đây một thực trạng và yêu cầu đồng thời trên một bình diện cụ thể cũng chính là thực hiện sự đổi mới quản lý nhà nước vể công tác dân tộc, cần được nhận thức đúng và nhằm khắc phục sự bất cập, hiệu quả thấp trong thời gian vừa qua Các Nghị định quy định chức năng nhiệm vụ, quyền hạn quản lý nhà nước của cơ quan công tác dân tộc vừa qua còn nhiều vấn đề cần được tiếp tục hoàn thiện để nâng cao hiệu quả quản lý về lĩnh vực công tác dân tộc Những người đã và đang thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác dân tộc đều nhận thấy rằng có nhiều vấn đề chưa rõ về quy trình quản lý nhà nước Do vậy trong hoạt
động quản lý còn nhiều nội dung , quy trình quản lý chưa rõ nên hiệu quả quản lý chưa được như mong muốn
- Nhận thức rõ tính đặc thù và yêu cầu của lĩnh vực công tác dân tộc
để xây dựng các nội dung, nhiệm vụ chủ yếu của quản lý một cách phù hợp: Tính đặc thù của lĩnh vực công tác dân tộc là một yêu cầu cần được
xác định và làm rõ để xây dựng nội dung quản lý nhà nước cho phù hợp
Trang 39Lĩnh vực công tác dân tộc có đặc thù là liên ngành, đa lĩnh vực Vì khác với
nhiều lĩnh vực chuyên môn, ngành nghề khác, lĩnh vực công tác dân tộc mang tính chính trị-xã hội, không chỉ là một chuyên môn cụ thể mà là một hoạt đông chính trị - xã hội, kinh tế-xã hội, văn hoá-xã hội tác động tới nhiều cộng đồng người trong quốc gia nhằm tạo ra sự phát triển kinh tế, mối quan hệ xã hội để các dân tộc cùng đoàn kết, phát triển vì lợi ích của các tộc người và lợi ích quốc gia Trong nhiều năm qua không phải ai và lúc nào cũng có nhận thức trên nên trong quá trình tổ chức bộ máy, hoạch định chính sách dân tộc, quản lý nhà nước về công tác dân tộc đã bộc lộ nhiều hạn chế làm ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng công tác dân tộc Đặc
điểm của công tác dân tộc là một nội dung quan trọng chi phối toàn diện các vấn đề nhận thức, tổ chức, hoạch định chính sách cũng như đề ra các nội dung quản lý nhà nước về công tác dân tộc
- Muốn thực hiện hiệu quả nội dung, nhiệm vụ chủ yếu của quản lý nhà nước về công tác dân tộc thì cần xác định rõ nội dung quản lý nhà nước về công tác dân tộc đang thực hiện (chủ yếu từ 1986 đến nay) là gì :
Nội dung quản lý nhà nước về công tác dân tộc từ 1986 đến nay được quy
định trong các Nghị định 59/1998/NĐ-CP và Nghị định 51/2003/NĐ-CP Tuy nhiên đây là vấn đề không dễ do chính các nội dung được quy định trong các Nghị định
- Đánh giá nội dung, hiệu quả quản lý nhà nước đã và đang thực hiện (với những ưu điểm, tồn tại; nguyên nhân, bài học…); đặc biệt phải thấy
được tính lạc hậu, trì trệ, bất cập của nội dung và hoạt động quản lý thời gian vừa qua : Đây là nội dung và phương pháp cần thiết trong nhận thức và
quy trình đề các nội dung quản lý nhà nước nói chung và quản lý về lĩnh vực công tác dân tộc nói riêng Chỉ có trên cơ sở nhìn nhận, đánh giá lại toàn diện các vấn đề thuộc về nội dung quản lý, quy trình quản lý nhà nước
về lĩnh vực công tác dân tộc và đối chiếu với hiệu quả thực tế mới rút ra
được những thành quả và tồn tại mà vai trò và tác động của quản lý nhà nước về công tác dân tộc mang lại đối với đồng bào các dân tộc trong việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ công tác dân tộc mà Đảng và Nhà nước giao cho cơ quan công tác dân tộc Chỉ có trên cơ sở đó mới thấy được các nội dung, quy trình nào còn trì trệ, bất cập cần phải bổ sung điều chỉnh trong hoạt động quản lý nhà nước về lĩnh vực công tác dân tộc
- Xác định rõ yêu cầu công tác dân tộc trong giai đoạn 2006-2010 :
Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX về công tác
Trang 40dân tộc đã đề ra mục tiêu, nhiệm vụ chủ yếu của công tác dân tộc giai đoạn 2006-2010 Tuy nhiên để thực hiện hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ đó, cơ quan công tác dân tộc phải chủ trì và phối hợp với các cơ quan hữu quan, chính quyền cấc cấp cụ thể hoá phù hơp với từng vùng, từng nhóm dân tộc theo lộ trình từng năm và 5 năm Cần nhận thức cụ thể yêu cầu công tác dân tộc trong giai đoạn 2006-2010 cần đạt được là gì ; mọi hoạt đông của công tác dân tộc cần hướng tới cái gì, theo các mục tiêu ưu tiên là gì để từ đó thấy được nội dung quản lý, quy trình quản lý nhà nước về công tác dân tộc phải được đổi mới như thế nào để đáp ứng các yêu cầu đó
- Xây dựng hệ thống nội dung quản lý nhà nước về công tác dân tộc theo yêu cầu đổi mới nhằm đáp ứng yêu cầu mới của công tác dân tộc đặt
ra trong giai đoạn 2006-2010: Hệ thống nội dung quản lý nhà nước về công
tác dân tộc theo tinh thần đổi mới là vấn đề không dễ dàng đặt ra Nhận thức đánh giá được cái cũ, cái đang thực hiện đã khó nhưng việc đề ra cái mới khắc phục tồn tại, trì trệ hàng chục năm lại càng khó hơn Bởi đây là
công việc đòi hỏi phải vượt lên chính mình để nhìn lại với tinh thần đổi mới
và thái độ khoa học khách quan vì sự phát triển của công tác dân tộc đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn phát triển mới của đất nước
IV - Khái quát thực trạng phương thức công tác dân tộc
Mỗi ngành, lĩnh vực hoạt động trong bộ máy nhà nước để thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình nhằm đạt các mục tiêu đề ra đều phải có phương thức công tác nhất định Phương thức công tác là thể hiện trình độ
tổ chức thực hiện của một cơ quan nhằm tới một mục tiêu nhiệm vụ đề ra với hiệu quả cao hay thấp Từ kết quả nghiên cứu vừa qua chúng tôi cho
rằng : Phương thức công tác dân tộc là hình thức và phương pháp mà cơ quan công tác dân tộc đề ra nhằm thực hiện các nội dung quản lý nhà nước
về công tác dân tộc, thực hiện nội dung công tác dân tộc, thực hiện chính sách dân tộc đạt hiệu quả một cách tốt nhất Phương thức công tác dân tộc
được hình thành trên cơ sở chức năng nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của cơ quan công tác dân tộc tương ứng với nhiệm vụ cách mạng và yêu cầu công tác dân tộc đặt ra trong từng thời kỳ Phương thức công tác dân tộc trong cách mạng dân tộc dân chủ không thể đem áp dụng hoàn toàn vào thời kỳ đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước hiện nay
Thực tiễn cho thấy, đề ra nội dung, nhiệm vụ công tác dân tộc đã khó nhưng việc làm sao để tổ chức thực hiện các nội dung công tác dân tộc, thực hiện chính sách dân tộc một cách có hiệu quả trong thực tiễn là việc