Tiêu chuẩn lâm sàng- Thăm trực tràng: Thăm khám trực tràng bằng ngón trỏ, có thể phát hiện ổ áp xe vùng dưới niêm mạc ống hậu môn, hoặc sờ được một chỗ sượng cứng ở vùng cạnh đường lược
Trang 1RÒ HẬU MÔN
Ths Bs NGUYỄN HỮU KỲ PHƯƠNG
Trang 2ĐẠI CƯƠNG
Rò hậu môn là một bệnh thường gặp trong ngoại khoa, là hậu quả nhiễm khuẩn khu trú tái diễn ở các tuyến Hermann và
Defosse
Sự nhiễm khuẩn này tạo thành áp xe
cạnh lỗ hậu môn, hoặc hóa mủ rồi vỡ vào trong lòng ống hậu môn
Như vậy, rò hậu môn và áp xe là hai giai đoạn của một quá trình bệnh lý, khi áp xe không được xử lý hoặc xử lý không tốt sẽ dẫn đến rò
Trang 3Hình : Diễn tiến
từ viêm tuyến hậu môn đến áp-xe và rò hậu môn
ÁP-XE HẬU MÔN - TRỰC TRÀNG
Trang 4NGUYÊN NHÂN
Nguyên nhân thường gặp nhất là vi trùng
E Coli, tụ cầu trùng, liên cầu trùng và đặc biệt trong bệnh cảnh của người Việt Nam thì nguyên nhân do vi trùng lao cũng
Trang 5Hình : Ổ áp-xe giữa cơ thắt
Trang 6TIÊU CHUẨN CHẨN ĐOÁN
Trang 7Tiêu chuẩn lâm sàng
Bệnh nhân thường đến bệnh viện với dấu hiệu rò dịch hoặc mủ ở cạnh hậu môn,
việc chẩn đoán rò cạnh hậu môn thông
thường không khó
môn, cảm giác tức thốn rất khó chịu, bệnh nhân không thể đi nhanh, ngồi lâu và ngồi thẳng được, thường ngồi nghiêng để né
phía bên đau
Trang 8Tiêu chuẩn lâm sàng
nghiêng hoặc tư thế quỳ chổng mông,
thấy lỗ rò cạnh hậu môn, đôi khi lỗ rò nằm tận vùng cạnh bìu hoặc cạnh môi lớn (ở
nữ)
Nhìn không thể phát hiện đường rò có
thông vào ống hậu môn hay không, muốn vậy ta cần phải thăm khám hậu môn bằng tay
Trang 9Tiêu chuẩn lâm sàng
- Thăm trực tràng: Thăm khám trực tràng bằng ngón trỏ, có thể phát hiện ổ áp xe vùng dưới
niêm mạc ống hậu môn, hoặc sờ được một chỗ sượng cứng ở vùng cạnh đường lược, là dấu tích
cũ của sự viêm nhiễm những tuyến Hermann và Defosse, chính chỗ sượng cứng này là nơi có thể giúp ta tìm thấy lỗ rò trong
Để tìm rõ rò trong, ta dùng banh hậu môn để
banh rộng lỗ hậu môn và nhìn sau khi bơm Xanh méthylène hoặc nước oxy già qua lỗ rò ngoài, có thể thấy bọt khí sủi lên hay Xanh méthylène chảy vào ống hậu môn qua lỗ rò trong, thường lỗ rò
nằm ngay dưới đường lược.
Trang 10Tiêu chuẩn lâm sàng
- Soi hậu môn là một động tác không thể thiếu trong việc chẩn đoán rò hậu môn
Việc định hướng đường rò và tìm lỗ trong của rò, cần dựa vào định luật Goodsall.
Định luật Goodsall: Năm 1990 Davis Henry Goodsall phát biểu một định luật về mối liên hệ giữa lỗ ngoài và lỗ trong của đường rò trong bệnh rò hậu môn
“Trong loại rò mà lỗ nông nằm ở nửa sau của đường thẳng ngang đi qua lỗ hậu môn thì có lỗ sâu nằm ở đường giữa sau Trong loại rò mà lỗ nông nằm ở nửa trước của đường thẳng đi ngang qua lỗ hậu môn thì đường rò đi thẳng vào trong ống hậu môn theo chiều hướng tâm”.
Gần đây Salmon nêu bổ sung thêm làm cho định luật
Goodsall hoàn chỉnh hơn, hiện nay được gọi là định luật Salmon - Goodsall
Trang 11(đường nan hoa hay căm xe)
Lỗ rò ngoài ở phía sau của đường này thì đường
rò sẽ đi cong và thông vào lỗ rò trong ở vị trí 6
giờ tại đường lược
Không áp dụng luật Goodsall khi lỗ rò ngoài ở xa
lỗ hậu môn quá 3 cm Khi đó các đường rò
thường có lỗ rò trong ở vị trí 6 giờ.
Trang 12luật Goodsall
RÒ HẬU MÔN
Trang 13Tiêu chuẩn cận lâm sàng
- X quang: Chụp đường rò có cản quang tan
trong nước tư thế thẳng nghiêng, việc chụp
đường rò giúp ta biết đường rò thế nào? Có xuyên qua cơ thắt vào trực tràng hay không?
- Chụp cộng hưởng từ vùng tầng sinh môn: cho
ta xác định rõ đường rò, tuy nhiên phương pháp này đắt tiền.
- Xét nghiệm tầm soát bệnh lao gồm: đo tốc độ lắng máu, công thức máu, IDR, tìm BK trong
đàm, PCR lao, chụp phim phổi thẳng…
- Siêu âm trong lòng ống hậu môn và trực tràng: cho phép ta xác định được đường rò
Trang 14BẢNG PHÂN LOẠI RÒ HẬU MÔN
TRỰC TRÀNG
Hình : Bốn loại rò hậu môn chính Type 1, giữa cơ thắt (intersphincteric);
type 2, Xuyên cơ thắt (trans-sphincteric); type 3, Trên cơ thắt (suprasphincteric); type 4,
Ngoài cơ thắt (extrasphincteric)
Trang 15BẢNG PHÂN LOẠI RÒ HẬU MÔN
TRỰC TRÀNG
Rò đơn giản là loại rò giữa cơ thắt, khi chỉ có 1
lỗ rò trong, 1 lỗ rò ngoài và 1 đường rò
Rò phức tạp là các loại rò khác, khi có thể có nhiều lỗ rò ngoài cũng như có thể có nhiều lỗ rò trong hay loại rò hình móng ngựa
Trang 16ĐIỀU TRỊ
Việc điều trị tùy thuộc vào từng bệnh cảnh của bệnh nhân mà có thái độ xử lý cho
thích hợp
Trang 18ĐIỀU TRỊ
tuân thủ các nguyên tắc phẫu thuật.
Nguyên tắc phẫu thuật:
- Nếu đường rò không vào trực tràng: Việc điều trị là cắt và mở đường rò, đồng thời nạo sạch tổ chức rò, đó là một tổ chức lùng nhùng hoại tử.
- Nếu đường rò thông vào trực tràng: Việc điều trị ngoài chuyện cắt mở đường rò, cần phối hợp với thắt đường rò bằng dây thun, việc thắt đường rò bằng dây thun tránh được việc cắt bỏ đường rò
xuyên cơ thắt làm đứt cơ thắt, gây ra biến chứng rất đáng sợ đó là đi cầu không tự chủ.
Trang 19ĐIỀU TRỊ
- Việc điều trị cắt mở đường rò phải rất cẩn thận, tránh làm thương tổn cơ thắt, hãy ghi nhớ một điều: “Thà thất bại trong
phẫu thuật còn hơn là cắt triệt để đường
rò làm đứt cơ thắt gây ra biến chứng trầm trọng đi cầu không tự chủ”
Trang 20ĐIỀU TRỊ
- Những ngày hậu phẫu cần phải ngâm hậu môn bằng nước muối ấm có pha Povidone (3 - 4% nồng độ), để giúp bệnh nhân
giảm đau đồng thời chống phù nề và làm sạch vết thương
- Tuyệt đối không băng kín vết thương sau cắt mở đường rò, ngược lại phải để hở
hoàn toàn, không nên mặc quần lót, quần cần rộng rãi và thông thoáng để vết
thương chóng lành
Trang 21ĐIỀU TRỊ
Nguyên tắc điều trị của rò hậu môn là phá huỷ được đường rò và bảo vệ được cơ thắt Tức là phải giữ được chức năng của hậu
môn
Không nên cắt trọn đường rò vì sẽ lấy nhiều
mô và có thể làm tổn thương cơ thắt.
tràng đã dẫn lưu, đây là rò qua cơ thắt – đi qua
cả cơ thắt trong và cơ thắt ngoài Vẫn có thể xẻ đường rò này gồm xẻ cơ thắt trong và một
phần cơ thắt ngoài Vẫn không có biến chứng
đi tiêu không tự chủ nếu cơ mu-trực tràng vẫn còn nguyên vẹn.
Trang 22ĐIỀU TRỊ
Rò hình móng ngựa thường có lỗ rò trong ở vị trí 6 giờ
và đường rò có thể lan ra phía trước và sang một hay hai bên theo khoang sau của hậu môn sâu vào các
khoang ngồi-trực tràng
– Nếu chỉ rạch và dẫn lưu ổ áp-xe hình móng ngựa sẽ có tỷ lệ tái phát cao.
– Muốn dẫn lưu tốt phải dẫn lưu khoang sau hậu môn sâu và
khoang ngồi-trực tràng qua các đường rạch riêng.
Các loại rò cao và phức tạp không nên xẻ đường rò vì
có thể làm tổn thương cơ thắt Thay vào đó, có thể đặt chỉ dẫn lưu (seton: a time honoured device, i,e, a
ligature of silk, nylon, silastic or linen) và mổ kéo vạt niêm mạc (endorectal sliding flap) phủ lên lỗ rò trong
và dẫn lưu phần còn lại của đường rò.
Các trường hợp rò không điều trị có thể gây nhiễm
trùng tái đi tái lại, hiếm khi gây ung thư và ít khi gây tử vong.
Trang 23ĐIỀU TRỊ
Các loại rò cao và phức tạp không nên xẻ đường rò vì có thể làm tổn thương cơ thắt
– Thay vào đó, có thể đặt chỉ dẫn lưu (seton: a
time honoured device, i,e, a ligature of silk,
nylon, silastic or linen) và mổ kéo vạt niêm
mạc (endorectal sliding flap) phủ lên lỗ rò
trong và dẫn lưu phần còn lại của đường rò.
Các trường hợp rò không điều trị có thể
gây nhiễm trùng tái đi tái lại, hiếm khi gây ung thư và ít khi gây tử vong
Trang 24ĐIỀU TRỊ
Cắt mở đường dò
Nguyên tắc: cắt đường dò từ lổ trong ra lổ ngoài, mở đường dò ra bề mặt (biến “đường hầm” thành “đường hào”) Đường dò sẽ lành từ đáy lên bề mặt Phương pháp này cũng cắt phần cơ thắt có liên quan Nếu
phần cơ thắt bị cắt nhiều, BN sẽ không kiểm soát vấn
đề giữ phân (són phân hay tiêu không tự chủ)
Trang 25Kỹ thuật cắt mở đường dò trong điều trị dò hậu môn
RÒ HẬU MÔN
Trang 26Nội dung điều trị:
(Penrose) từ lổ ngoài vào lổ trong, buộc quanh phần cơ thắt
có liên quan (hình 6).
cắt xuyên qua phần cơ thắt và rớt ra ngoài.
Trang 27So sánh cắt mở đường dò (hình trái) và đặt seton trong điều trị dò hậu môn
RÒ HẬU MÔN
Trang 28Bít đường dò bằng keo fibrin
Các bước chính của phương pháp bít
đường dò bằng keo fibrin trong điều trị dò hậu môn:
Phương pháp này cho tỉ lệ lành đường dò thấp
Trang 29Chuyển vạt nội trực tràng
(endorectal advancement flap)
Nguyên tắc: tách một mảnh niêm mạc thành trực tràng, chuyển xuống và khâu che lên lổ dò trong Có thể kết hợp với bơm keo fibrin vào đường dò
Đây là phương pháp lý tưởng để điều trị các đường dò cao
Trang 30– Són phân: do một phần đáng kể cơ thắt hậu
môn bị cắt đứt, hay cắt mở đường dò ở BN có trương lực cơ thắt thấp.
– Hẹp hậu môn: có thể xảy ra, nếu sau cắt
đường dò mô sợi xơ phát triển quá mức.
Trang 31BIẾN CHỨNG
Đứt cơ thắt:
của biến chứng này là đi cầu không tự chủ, việc phục hồi lại cơ thắt khá khó khăn, không phải phẫu thuật viên nào cũng giải quyết được, nếu ở một cơ sở chưa có nhiều kinh nghiệm, khi có biến chứng này thì nên gửi bệnh nhân đến một cơ sở y tế chuyên sâu
Trang 32BIẾN CHỨNG
Chảy máu sau mổ:
thuật viên xem thường việc cầm máu trong mổ, hoặc do phẫu thuật viên thắt đường rò mà sợi thun cột chồng lên
những búi trĩ của bệnh nhân, gây loét
và chảy máu từ các búi trĩ này
bệnh nhân vào phòng mổ để cầm máu
Trang 33BIẾN CHỨNG
Hẹp hậu môn
nhiều bằng dao điện vùng cơ thắt, gây hoại tử cơ thắt sẽ tạo ra biến chứng teo hẹp lỗ hậu môn, đây là một biến chứng khó điều trị, không xuất hiện ngay sau
mổ mà có khi xuất hiện sau vài tháng đến hàng năm sau, do đó cần lưu ý khi cắt đốt đường rò bằng dao điện
Trang 34TÀI LIỆU THAM KHẢO
Ira J Kodner, Robert D Fry, James W Fleshman, Elisa
H Birnbaum and Thomas E Read: Infections of
anorectum Principles of Surgery Schwartz 7 th Edi
1999: p1302 – 1309.
M.-C Marti: Anorectal abscesses and fistula Surgery of anorectal diseases Springer-Verlag 1990: p84 – 98.
Heidi Nelson, Roger R Dozois: Anus Sabiston’s
Textbook of Surgery, 16th Ed, 2001: 974-86.
Phạm Văn Năng: Kết quả điều trị bệnh rò hậu môn Tập san hội nghị hậu môn-trực tràng quốc tế TP Hồ Chí
Minh 2003: 313-315.
Heidi Nelson: Anus Sabiston’s Textbook of Surgery,
17th Ed, 2004: 1495-99.