kế hoạch phát triển ngành nông nghiệp×thực trạng phát triển ngành nông nghiệp việt nam liên hệ địa phương×các giải pháp phát triển ngành nông nghiệp việt nam hiện nay×các giải pháp phát triển ngành nông nghiệp việt nam
Trang 16. Nguyễn Hồ Quỳnh Như
7. Nguyễn Thủy Trang
8. Nguyễn Thị Thu Thảo
Trang 2MỤC LỤC
Phần I: Đánh giá thực hiện kế hoạch phát triển ngành Nông nghiệp năm 2014
phát triển ngành nông nghiệp năm 2014
1.1. Đặc điểm chung
Nền kinh tế Mỹ, EU, Nhật Bản có sự phục hồi rõ rệt,điều đó trực tiếp và gián tiếp mang lại những thuận lợi về lòng tin thị trường, đầu tư và tiêu dùng chung cho tất cả các nước, trong đó có Việt Nam, đặc biệt là kỳ vọng cải thiện chung về xuất khẩu, thu hút FDI, ODA, kiều hối, cũng như duy trì sự ổn định chung về giá cả lương thực, năng lượng, giá vàng và tỷ giá.Tuy nhiên năm 2014 nền kinh tế vẫn chưa thoát khỏi giai đoạn trì trệ,tình hình kinh tế trong nước cũng diễn biến hết sức khó khăn, thiên tai bão lũ gây thiệt hại nặng nề Những khó khăn đặt ra trong năm
2013 vẫn tiếp tục kéo dài trong năm 2014 Nền kinh tế tiếp tục tăng trưởng, song
Trang 3tốc độ chậm; khu vực kinh tế trong nước vẫn còn tiếp tục khó khăn: Khu vực FDI giữ được lợi thế tăng trưởng, nhưng không có sự đột biến trong năm 2014.
Năm 2014, giá gạo thế giới tiếp tục bị chi phối bởi giá gạo của Thái Lan Giá gạo thế giới tiếp tục giảm do Thái Lan buộc phải bán tháo số gạo tồn kho mà Chính phủ nước này đã mua theo chương trình trợ giá lúa gạo để giải phóng kho chứa và trả tiền cho nông dân
Thủ tướng yêu cầu phải đẩy nhanh tái cơ cấu nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, phát triển bền vững gắn với xây dựng nông thôn mới Ðây là đòi hỏi bức xúc cần được triển khai bằng nhiều giải pháp đồng bộ, trong đó có nhiều
cơ chế, chính sách để nâng cao giá trị gia tăng của nông sản như: nghiên cứu, ứng dụng mạnh mẽ khoa học - công nghệ vào sản xuất; khuyến khích hình thành, nhân rộng các mô hình liên kết, hợp tác trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm; khuyến khích, thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào địa bàn nông thôn
Nông nghiệp trong năm 2014 nghiêng về thị trường ngách mà ở đó những sản phẩm nông nghiệp như dế, hoa lan, cá cảnh sẽ có nhiều cơ hội để xuất khẩu vì chất lượng tương đương các nước trong khu vực nhưng giá lại rẻ hơn
Năm 2014 hoàn tấtHiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương và việc ký kết những FTA khu vực và liên khu vực khác mà Việt Nam đang tham gia đàm phán có chuyển biến tích cực như: Cộng đồng Kinh tế chung Đông - Nam Á (AEC), Hiệp định thương mại tự do với châu Âu hay Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP)
Các doanh nghiệp lớn ngành bất động sản, chứng khoán đang thử sức ở lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao, thậm chí có chiến lược đầu tư dài hạn
I.2. Thuận lợi,khó khăn
sẽ đậm hơn…từ đó mang lại nhiều việc làm và thu nhập hơn cho doanh nghiệp và nền kinh tế
- Việc đầu tư của các doanh nghiệp bất động sản,chứng khoán vào nông nghiệp giúp ngành dần lấy lại vị thế của mình trong nền kinh tế Từ đó Chính phủ có sự quan tâm đúng mức hơn, đồng thời cũng có những chính sách ưu đãi đối với lĩnh
Trang 4vực này, nhất là phát triển nông nghiệp công nghệ cao, khuyến khích DN tăng đầu tư.
- Sản phẩm được kiểm soát an toàn vệ sinh thực phẩm phù hợp với yêu cầu của các quốc gia nhập khẩu sẽ góp phần gia tăng hình ảnh cho nông sản Việt, mang lại kim ngạch xuất khẩu cao hơn, tránh những vụ kiện do hàng không đảm bảo chất lượng bị trả về và chi phí bồi thường hợp đồng Đối với thị trường nội địa, xu hướng người tiêu dùng nghiêng về các sản phẩm rau củ quả sạch nội địa, đạt tiêu chuẩn VietGap ngày một nhiều hơn
Khó khăn
- Nông nghiệp đã đạt đến đỉnh tăng trưởng do chưa thay đổi về cơ cấu
- Khi TPP được ký kết việc giảm thuế sẽ dẫn đến sự gia tăng nhanh chóng lượng hàng nhập khẩu từ các nước TPP vào Việt Nam với giá cả cạnh tranh Hệ quả tất yếu là doanh nghiệp đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt, thị phần hàng hóa của Việt Nam sẽ bị thu hẹp, thậm chí là nguy cơ mất thị phần nội địa,nguy cơ này đặc biệt nguy hiểm đối với nhóm hàng nông sản Hiện tại, nhiều mặt hàng có sức cạnh tranh yếu như rau quả, thức ăn, chăn nuôi sẽ là những đối tượng dễ bị ảnh hưởng nhất Ngoài ra, ngành Nông nghiệp còn phải đối mặt với các biện pháp kiểm dịch động thực vật và hàng rào kỹ thuật thương mại, đặc biệt là việc siết chặt các yêu cầu về vệ sinh dịch tễ
- Khu vực nông nghiệp gặp khó khăn về đầu ra và giá, đặc biệt là mặt hàng gạo Mặc dù sản xuất lúa gạo được mùa nhưng đầu ra cho cây lúa vẫn là thách thức, nhất là khi giá gạo xuất khẩu có thể chịu sức ép từ việc Thái Lan chấm dứt chương trình trợ giá lúa gạo và Trung Quốc có chủ trương tự túc lương thực, thị trường gạo toàn cầu đang rơi vào tình trạng dư cung
2.1. Kết quả thực hiện các chỉ tiêu định hướng năm 2014
Theo Tổng cục Thống kê , tổng sản phẩm trong nước ( GDP) quý I-2014 tăng khoảng 4,96% so với cùng kỳ năm 2013 Đây là mức tăng cao hơn mức tăng cùng
kỳ của 3 năm trở lại đây Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,37% (quý I-2013 tăng 2,24%), khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 4,69% (quý I-2013 tăng 4,61%), khu vực dịch vụ tăng 5,95% (quý I-2013 tăng 5,65%)
Trang 5Hình 1: Tăng trưởng GDP trong quý 1 qua các năm (đơn vị: %)
Nguồn: Tổng cục Thống kê
Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục phát triển ổn định
Giá trị sản xuất toàn ngành quý I năm 2014 theo giá so sánh 2010 ước tính đạt
165 nghìn tỷ đồng, tăng 2,43% so với cùng kỳ năm 2013, bao gồm: Nông nghiệp đạt 126,7 nghìn tỷ đồng, tăng 2,01%; lâm nghiệp đạt 5,7 nghìn tỷ đồng, tăng 4,8%; thủy sản đạt 32,6 nghìn tỷ đồng, tăng 3,71%
Dự kiến cả năm 2014, tốc độ tăng GDP của ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản đạt 2,95% trong đó tốc độ tăng giá trị sản xuất tăng từ 3,1-3,5%
Thực hiện 3 tháng đầu năm 2014
Ước tính thực hiện năm 2014
1 Tốc độ tăng GDP
của ngành
Trang 6% trong cơ cấu giá trị sản xuất ngành nông nghiệp Dự kiến cả năm giá trị sản xuất trồng trọt tăng so với năm 2013 3,1-3,4 %.
Bảng 2: Bảng đánh giá thực hiện mục tiêu phát triển trồng trọt năm 2014
STT Chỉ số đánh giá Đơn
vi
Kế hoạch năm 2014
Thực hiện
3 tháng đầu năm 2014
Ước tính thực hiện năm 2014
Trang 7tạ/ha, sản lượng 15.000 tấn; lạc 1.500 ha, năng suất 20 tạ/ha, sản lượng 3.000 tấn; rau đậu các loại 20.500 ha; năng suất 130 tạ/ha, sản lượng 266.500 tấn.
Vụ Chiêm Xuân gieo trồng 215.000 ha, trong đó: lúa 120.000 ha, năng suất
63 tạ/ha, sản lượng 756.000 tấn; ngô 17.000 ha, năng suất 43 tạ/ha, sản lượng 73.100 tấn; lạc 11.000 ha, năng suất 20,5 tạ/ha, sản lượng 22.600 tấn; khoai lang 2.500 ha, năng suất 72 tạ/ha, sản lượng 18.000 tấn; sắn 14.300 ha, năng suất 135 tạ/ha, sản lượng 193.050 tấn, trong đó săn nguyên liệu 7.000 ha, năng suất 160 tạ/ha; đậu tương 1.000 ha, rau đậu các loại 13.000 ha
Vụ Thu, Mùa trồng trọt 175.000 ha, trong đó lúa 132.000 ha, năng suất 52,5 tạ/ha, sản lượng 693.000 tấn; ngô 16.500 ha, năng suất 40 tạ/ha, sản lượng 66.000 tấn; lạc 2000 ha, năng suất 17 tạ/ ha, sản lượng 3.400 tấn; đậu tương 2.000 ha, năng suất 16 tạ/ha, sản lượng 3.200 tấn; khoai lang 3.500 ha, vừng
2000 ha, rau đậu các loại 12.000 ha
2.2.2. Ngành chăn nuôi
Thực hiện chính sách tái cấu trúc ngành theo hướng chăn nuôi tập trung theo
mô hình trang trại, gia trại, duy trì chăn nuôi nông hộ nhưng theo hình thức nông nghiệp và ứng dụng công nghệ cao, khuyến khích tổ chức sản xuất theo hướng khép kín
Đồng thời giám sát và kiểm soát dịch bệnh hiệu quả, tăng cường dịch vụ thú y, quy định chặt chẽ về quản lý và sử dụng thuốc thú y, bố trí đủ nguồn lực để phòng chống dịch bệnh Do vậy tốc độ tăng trưởng của chăn nuôi vẫn ở mức cao Tốc độ tăng giá trị sản xuất tăng khoảng 5,0-5,5%,tốc độ tăng GDP khoảng 6%, tỷ trọng chăn nuôi trong tổng giá trị sản xuất nông nghiệp ước tính đạt 37%so với cùng kỳ năm 2013
Bảng 3: Bảng đánh giá thực hiện mục tiêu phát triển chăn nuôi năm 2014
STT Chỉ số đánh giá Đơn
vị
Kế hoạch năm 2014
Thực hiện
3 tháng đầu năm 2014
Ước tính thực hiện năm 2014
Trang 8Nguồn: Cục chăn nuôi (Bộ NT&PTNT)
Năm 2014 nghiên cứu và đưa vào áp dụng các giải pháp tăng cường hiệu quả
sử dụng thức ăn chăn nuôi, giảm chi phí vào snr xuất, bào vệ mội trường ước tính quy mô đàn gia cầm tăng 5,5%, đàn lợn tăng 1,0%; sản lượng thịt hơi các loại đạt 4,6 triệu tấn, tăng 4,0%; sản lượng trứng 9,1 tỷ quả, tăng trên 12%; sữa tươi 473 ngàn tấn, tăng 11,3%; thức ăn chăn nuôi công nghiệp 14,5 triệu tấn, tăng 6,6%
2.2.3. Ngành thủy sản
Tập trung chuyển giao tiến bộ kỹ thuật kết hợp thực hiện các chính sách khuyến khích đánh bắt xa bờ; phát triển các tổ đội đoàn kết sản xuất và các hình thức dịch vụ trên biển; mở rộng mô hình quản lý cộng đồng đối với nghề cá ven bờ
Hướng dẫn phát triển bền vững nuôi tôm và nhuyễn thể đảm bảo an toàn dịch bệnh (kể cả tôm hùm); chấn chỉnh cơ bản sản xuất, kinh doanh cá tra để nâng cao hiệu quả trên cơ sở phát huy lợi thế quốc gia; mở rộng áp dụng các quy trình thâm canh nuôi cá nước ngọt, nước lạnh.Tính đến tháng 3 năm 2014 sản lượng khai thác thủy sản đạt 686 ngàn tấn, tăng 5,4 % so với cùng kì năm ngoái Giá trị xuất khẩu tháng 3 đạt 574 triệu USD, tính chung 3 tháng đầu năm giá trị xuất khẩu đạt khoảng 1,61 tỷ USD, tăng 35% so cùng kỳ năm 2013
Ước tính năm 2014, tổng sản lượng thủy sản đạt 6,2 triệu tấn; trong đó, sản lượng khai thác 2,6 triệu tấn (khai thác hải sản 2,4 triệu tấn, khai thác nội địa 200 ngàn tấn), sản lượng nuôi trồng 3,6 triệu tấn; gia trị sản xuất thủy sản tăng 3,5-4,0%
Bảng 4: Bảng đánh giá thực hiện mục tiêu phát triển thủy sản năm 2014
Trang 9Các chỉ số đánh
giá
Đơn vị
Kế hoạch năm 2014
Thực hiện 3 tháng đầu năm 2014
Ước thực hiện năm 2014
Tiếp tục tổ chức thực hiện dự án “Tổng điều tra, kiểm kê rừng”; nghiệm thu dự
án của 13 tỉnh được triển khai trong năm 2013; thực hiện điều tra, kiểm kê rừng tại
25 tỉnh
Tính đến hết 3 tháng đầu năm 2014 tổng diện tích rừng trồng tập trung 3 tháng ước tính đạt 11,5 nghìn ha, tăng 36,9% so với cùng kỳ năm trước Một số địa phương có diện tích trồng rừng nhiều là: Quảng Ngãi 2445 ha; Nghệ An 2400 ha; Quảng Ninh 2230 ha; Quảng Nam 1100 ha; Yên Bái 1036 ha; Phú Thọ 944 ha Số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 64,2 triệu cây, tăng 0,3% so với cùng kỳ năm 2013; sản lượng gỗ khai thác đạt 1190 nghìn m3, tăng 5,2%; sản lượng củi khai thác đạt 7,6 triệu ste, tăng 2,7%
Mục tiêu năm 2014 đạt tốc độ tăng GTSX khoảng 5,5-6,0%; tỷ lệ che phủ rừng đạt 41,5% (Trong đó, tỷ lệ che phủ từ cây rừng đạt 40,5%, tỷ lệ che phủ từ cây có tán như cây rừng trên đất lâm nghiệp đạt 1,0%).Bảo vệ và phát triển bền
Trang 10vững 13,5 triệu ha rừng hiện có; khoán bảo vệ 3,4 triệu ha; trồng rừng 234 ngàn ha, trong đó trồng mới rừng phòng hộ, đặc dụng 34,5 ngàn ha, trồng mới rừng sản xuất 199,5 ngàn ha; chăm sóc rừng trồng 301,3 ngàn ha; khoanh nuôi tái sinh 360 ngàn ha; cải tạo rừng tự nhiên nghèo kiệt 45,9 ngàn ha; trồng mới 50 triệu cây phân tán.
Bảng 5: Bảng đánh giá thực hiện mục tiêu phát triển lâm nghiệp năm 2014
Kế hoạch năm 2014
Thực hiện 3 tháng đầu năm 2014
Ước tính thực hiện năm 2014
Nguồn: Tổng cục lâm sản (Bộ NT&PTNT)
III. Đánh giá khái quát về tình hình phát triển ngành Nông nghiệp
3.1. Thành tựu (Điểm mạnh) cơ bản và nguyên nhân
Tốc độ tăng trưởng trong GDP ổn định
Bảng 6: Tốc độ tăng trưởng ngành trong GDP quí I qua các năm
Quí I/2011 Quí I/2012 Quí I/2013 Quí I/2014
Nguyên nhân là do chính sách tái cơ cấu ngành nông nghiệp được triển khai, ứng dụng khoa học kĩ thuật vào sản xuất nông nghiệp nhằm tăng năng suất , sản lượng, chất lượng, thu nhập cho nông dân Tổ chức lại sản xuất trên
Trang 11cơ sở liên kết, hợp tác sản xuất nhất là mối quan hệ giữa nông dân và doanh nghiệp để tạo mối liên kết bền vững
Sản xuất thủy sản tăng
Bảng 7: Tốc độ gia tăng GTSX thủy sản qua các năm Quí I/2011 Quí I/2012 Quí I/2013 Quí I/2014
Tốc độ gia
tăng GTSX
thủy sản
Nguồn: Tổng cục thủy sản (Bộ NT&PTNT)
Ước tính năm 2014, tổng sản lượng thủy sản đạt 6,2 triệu tấn; trong đó, sản lượng khai thác 2,6 triệu tấn (khai thác hải sản 2,4 triệu tấn, khai thác nội địa 200 ngàn tấn), sản lượng nuôi trồng 3,6 triệu tấn; GTSX thủy sản tăng 3,5-4,0%
Nguyên nhân: Nhờ tập trung chuyển giao tiến bộ kỹ thuật kết hợp thực hiện các chính sách khuyến khích đánh bắt xa bờ; phát triển các tổ đội đoàn kết sản xuất và các hình thức dịch vụ trên biển; mở rộng mô hình quản lý cộng đồng đối với nghề
cá ven bờ
Tổng kim ngạch xuất khẩu toàn ngành tăng
Bảng 8: Tổng kim ngạch xuất khẩu toàn ngành quí I qua các năm
Quí I/2011 Quí I/2012 Quí I/2013 Quí I/2014
Tổng kim
ngạch xuất
khẩu ngành
nông nghiệp
5,4 tỉ USD 24,43 tỉ USD 26,69 tỉ USD 29 tỉ USD
Nguồn: Cục hải quan (Bộ Công thương)
Có thể thấy trong quý I/2014 giá trị xuất khẩu ngành nông nghiệp tăng 9,4% Ước tính cả năm 2014, tổng kim ngạch xuất khẩu tăng 10,5% so với 2013
Nguyên nhân: Mặc dù Việt Nam có sự sụt giảm cả về giá trị và sản lượng xuất khẩu nên xuất khẩu gạo 3 tháng đầu năm 2014 giảm 14,9% về khối lượng và 10,4% về giá trị so cùng kỳ năm 2013; mặt hàng cao su giảm 23,1% về khối lượng
và 42% về giá trị Bù lại, giá trị xuất khẩu các mặt hàng lâm sản chính ước đạt
Trang 121,47 tỷ USD, tăng 19,6% Tuy vậy, xét chung kim ngạch xuất khẩu của toàn ngành thì vẫn đạt được mức tăng trưởng khá.
3.2. Hạn chế (điểm yếu) cơ bản và nguyên nhân
Tốc độ tăng trưởng GTSX nông, lâm sản và toàn ngành giảm
Bảng 9: Tốc độ tăng GTSX nông, lâm sản và toàn ngành quí I qua các năm
Quí I/2011 Quí I/2012 Quí I/2013 Quí I/2014
có nhiều diễn biến khó lường, cơ cấu sản xuất nông nghiệp bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập, thiếu liên kết giữa doanh nghiệp với người dân trong chuỗi sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
Bên cạnh đó, khu vực nông nghiệp còn gặp khó khăn về đầu ra và giá, đặc biệt là mặt hàng gạo Mặc dù sản xuất lúa gạo được mùa nhưng đầu ra cho cây lúa vẫn là thách thức, nhất là khi giá gạo xuất khẩu có thể chịu sức ép từ việc Thái Lan chấm dứt chương trình trợ giá lúa gạo và Trung Quốc có chủ trương tự túc lương thực
Xuất khẩu nông sản gặp khó khăn
Các số liệu thống kê vừa được công bố cho thấy, tổng kim ngạch xuất khẩu 11 mặt hàng nông sản chủ yếu trong 2 tháng qua chỉ đạt 3,84 tỷ USD, tăng 3,9%, thấp rất xa so với cùng kỳ năm 2013
Trang 13Bảng 10: KNXK toàn ngành quí I qua các năm Quí I/2011 Quí I/2012 Quí I/2013 Quí I/2014
KNXK toàn
ngành (tỷ USD)
Nguồn: Tổng cục hải quan
Trong đó, xuất khẩu 7 mặt hàng chủ yếu có số liệu thống kê về khối lượng và giá trị (gồm: gạo, cà phê, hạt điều nhân, cao su, sắn và sản phẩm sắn, hồ tiêu và chè) còn khó khăn hơn nhiều Tổng khối lượng xuất khẩu các mặt hàng này chỉ đạt 1,94 tỷ tấn, giảm 15,6% so với cùng kỳ năm trước và tổng kim ngạch cũng chỉ đạt hơn 1,73 triệu USD, giảm tới 15,5%
Những điều nói trên có nghĩa là, xuất khẩu hàng nông sản đang rơi vào tình trạng khó khăn năm thứ ba liên tiếp
Nguyên nhân của tình trạng xuất khẩu tụt dốc như vậy là do giá hàng nông sản thế giới nhìn chung vẫn biến động theo chiều hướng giảm kéo dài từ năm 2012 đến nay Các số liệu thống kê của Ngân hàng Thế giới cho thấy, giá nông sản thế giới năm 2012 đã giảm 5,8%, năm 2013 tiếp tục giảm 7,2% và tổng mức giảm trong 2 năm đã qua là 12,6%
Rõ ràng, là nước xuất khẩu hàng nông sản rất lớn, việc giá giảm sâu trong một thời gian rất dài như vậy đang đẩy nền kinh tế nói chung và nền nông nghiệp nước
ta nói riêng vào tình thế rất khó khăn
Điển hình nhất ở phương diện này là mặt hàng cao su Nếu như trong 2 tháng đầu năm 2012, để hạn chế tình trạng doanh thu giảm do giá xuất khẩu “rơi tự do”, Việt Nam đã tăng mạnh khối lượng xuất khẩu, nhưng trong cùng kỳ năm 2013, cả giá và lượng xuất khẩu đều giảm mạnh Còn 2 tháng đầu năm nay, do giá vẫn tiếp tục giảm mạnh, tổng cộng đã giảm 53% so với cùng kỳ năm 2011, nên lượng xuất khẩu cũng giảm rất mạnh Chính sự cộng hưởng giữa 2 yếu tố này đã khiến kim ngạch xuất khẩu mặt hàng cao su giảm tới 57% so với cùng kỳ năm 2011
Nhập khẩu nông sản tăng
Ở đầu vào nhập khẩu, tổng kim ngạch nhập khẩu lũy kế 14 mặt hàng nông sản
và vật tư nông nghiệp chủ yếu trong 2 tháng qua đã đạt 2,44 tỷ USD, tăng 10,3%
so với cùng kỳ năm 2013, cao gấp 2,7 lần so với nhịp độ tăng trưởng xuất khẩu Nhập khẩu nông sản tăng tốc mạnh đồng nghĩa với việc tiêu thụ nhiều loại nông sản “made in Vietnam” ở chính thị trường trong nước sẽ trở nên cực kỳ khó khăn Điển hình nhất ở phương diện này là mặt hàng ngô mà nền kinh tế đang có nhu cầu tiêu dùng rất lớn Nhập khẩu ngô đã tăng bùng nổ trong 2 tháng vừa qua, đạt
Trang 14gần 1,3 triệu tấn, bằng 57,4% tổng khối lượng nhập khẩu cả năm 2013 Chắc chắn, việc ngô nước ngoài ồ ạt đổ bộ vào thị trường trong nước như vậy sẽ làm cho việc tiêu thụ khoảng 5 triệu tấn ngô sản xuất trong nước trong năm nay rất khó khăn Giá ngô ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long hiện đã “rơi tự do” xuống còn 3.800 đồng/kg, tức là giá chỉ còn một nửa so với “thời hoàng kim” cách đây chưa xa đã
đủ cho thấy điều đó
Bên cạnh đó, hoạt động sản xuất và tiêu thụ không ít mặt hàng nông sản khác
ở thị trường trong nước cũng phải đối mặt khó khăn vì những nguyên nhân khác nhau Chẳng hạn, nếu như ngành chăn nuôi gia cầm hiện vẫn điêu đứng do dịch cúm gia cầm hoành hành, thì trước đó, những người trồng rau đã phải chấp nhận tình trạng giá rẻ như cho, do cung tăng trong khi cầu hạn chế Hay việc nông dân trồng mía tiếp tục lao đao vụ thứ hai liên tiếp khi cung đường tiếp tục lớn hơn cầu, cộng với nhập khẩu đường lậu tiếp tục tràn vào…
Những khó khăn như vậy trong tiêu thụ hàng nông sản đương nhiên không chỉ khiến nhịp độ tăng trưởng sản xuất nông nghiệp năm nay khó có thể nhích lên, mà còn đồng nghĩa với thu nhập của dân cư khu vực nông thôn không được cải thiện, dẫn đến sức mua của thị trường trong nước vẫn yếu, nên khu vực công nghiệp và dịch vụ sẽ tiếp tục thiếu thị trường để bứt phá
Dịch bệnh gia súc, gia cầm có khả năng bùng phát
Từ đầu năm 2014 đến nay, cả nước có 19 tỉnh phát sinh dịch cúm gia cầm, trong
đó có 11 tỉnh công bố dịch, 2 người tử vong do nhiễm cúm A/H5N1 Hiện nay, tình hình dịch cúm gia cầm A/H7N9 ở Trung Quốc đang diễn biến phức tạp Một số nghiên cứu về việc vận chuyển gà thải loại ở Trung Quốc cho thấy nhiều gà thải loại được vận chuyển từ phía Bắc xuống phía Nam, đưa vào các tỉnh Quảng Tây và Vân Nam giáp với Việt Nam, trong đó có qua các địa phương đã phát hiện có vi-rút A/H7N9 Vi-rút cũng đã được phát hiện trên gia cầm và người ở tỉnh Quảng Tây, giáp với 4 tỉnh biên giới phía Bắc của Việt Nam Trong khi đó hoạt động buôn bán, vận chuyển bất hợp pháp động vật và sản phẩm động vật qua biên giới vẫn chưa hoàn toàn chấm dứt Vì vậy nguy cơ vi-rút cúm A/H7N9 xâm nhập vào Việt Nam trong thời gian tới là rất cao, nhất là tại các tỉnh biên giới phía Bắc và các tỉnh có liên quan tới hoạt động buôn bán, tiêu thụ gia cầm, sản phẩm gia cầm nhập lậu không rõ nguồn gốc
Nguyên nhân là do công tác quản lí còn yếu để dịch bệnh lây lan và bùng phát
Một số điểm yếu trong công tác lãnh đạo, quản lý nông nghiệp
- Công tác quản lý chất lượng vật tư nông nghiệp, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm tuy đã tạo được sự chuyển biến nhưng chưa toàn diện và chưa đáp ứng yêu cầu vẫn là vấn đề gây nhiều bức xúc trong xã hội; tình trạng phá rừng trái phép, cháy rừng vẫn còn diễn ra gay gắt ở một số địa phương
Trang 15- Triển khai thực hiện Đề án Tái cơ cấu mới chỉ tập trung ở Bộ và các đơn vị trực thuộc; nhiều địa phương, đơn vị triển khai còn chậm, thiếu sự quan tâm đúng mức và còn lúng túng
- Hệ thống quản lý nhà nước của ngành từ Trung ương đến địa phương, chưa hoàn thiện thông suốt và đồng bộ, ảnh hưởng đến hoạt động của ngành Chỉ đạo điều hành thực hiện các nhiệm vụ của ngành có nơi có lúc thiếu quyết liệt, kém hiệu quả, nhất là các nhiệm vụ về quản lý chất lượng vật tư và đảm bảo an toàn thực phẩm
Trang 16Phần II: Dự báo tình hình ngành nông nghiệp năm 2015
1.1. Những xu hướng lớn có thể diễn ra trong năm 2015
1.1.1. Tình hình thế giới
Bước sang một giai đoạn chuyển đổi mới, bức tranh kinh tế thế giới năm 2014 trở nên sáng sủa hơn khi những nỗ lực trong việc điều hành chính sách kinh tế của các quốc gia phần nào đạt được kết quả mong muốn; kinh tế thế giới từ nay đến năm 2015 có triển vọng phục hồi khá, với sự phục hồi của phần lớn các nền kinh tế dẫn dắt đà tăng trưởng của kinh tế thế giới như Mỹ, Nhật Bản và phần lớn các nền kinh tế đang nổi và sự phục hồi của các lĩnh vực chủ yếu của kinh tế thế giới như thương mại, đầu tư
Kinh tế thế giới sẽ phải đối mặt với 3 thách thức lớn, gồm: (i) các nước mới nổi và đang phát triển vẫn chưa thoát khỏi tình trạng tồi tệ nhất, trong đó rất nhiều nước đang loay hoay tìm mô hình tăng trưởng; kinh tế Trung Quốc tăng trưởng chậm lại trong năm 2014, (ii) Hiện nay, khu vực châu Âu, đặc biệt là khu vực Eurozone đang phải đối mặt với tình trạng đình trệ tương tự như Nhật Bản trong những năm 1980-1998 khi rơi vào tình trạng tăng trưởng chậm và giảm phát (do đồng Euro lên giá và rủi ro giảm phát); và (iii) Chính sách tiền tệ nới lỏng có thể gây ra lạm phát hoặc giảm phát tại một số nước và khu vực
Quỹ tiền tệ thế giới IMF đã đưa ra dự báo kinh tế thế giới sẽ tăng trưởng ở mức 3,7% vào năm 2014, 3,9% vào năm 2015 Các nền kinh tế phát triển dự báo
có mức tăng trưởng là 2,2% trong năm 2014 và 2,3% trong năm 2015 Về nền kinh
tế Mỹ, IMF tái khẳng định dự báo tốc độ tăng trưởng kinh tế của Mỹ có thể tăng lên 2,8% trong năm 2014 và tăng lên 3% vào năm 2015 Sự phục hồi của nền kinh
tế Mỹ đang được coi là động lực chính vực dậy nền kinh tế toàn cầu Khu vực Đông Á- Thái Bình Dương được dự báo tiếp tục là khu vực có mức tăng trưởng kinh tế nhanh nhất thế giới, sẽ đạt mức 7,1% trong năm 2014 và 2015
Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hiệp quốc FAO đã đưa ra cảnh báo
về việc giá lương thực thực phẩm toàn cầu tiếp tục suy giảm vào năm 2014,2015 Xét về hàng hóa, năm 2014 tiếp tục được xem là năm của lương thực
Bên cạnh đó, nợ công và thâm hụt ngân sách chưa được giải quyết triệt để cùng với những diễn biến xung đột chính trị, thiên tai, dịch bênh,…đây là những yếu tố tiềm ẩn rủi ro tác động xấu đến nền kinh tế thế giới, cũng như nền kinh tế nước ta
Trang 171.1.2. Tình hình trong nước
Trong báo cáo “Cập nhật tình hình kinh tế khu vực Đông Á và Thái Bình Dương” công bố ngày 7/4/2014, Ngân hàng Thế giới WB đã dự báo mức tăng trưởng GDP của Việt Nam đạt 5,5% trong năm 2014 và tăng lên 5,6% trong năm 2015
Theo WB, mức tăng trưởng hiện nay của nước ta được cho là vẫn ở dưới mức tiềm năng do dự đoán những chính sách thận trọng trong kinh tế vĩ mô bao gồm chính sách tiền tệ và việc tập trung vào cải cách tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, ngân hàng cũng như việc giải phóng đầu tư của khu vực kinh tế tư nhân sẽ ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng
Lạm phát cao vẫn có nguy cơ trở lại Lạm phát tuy được kiềm chế nhưng
nguy cơ tăng trở lại vẫn còn do chưa thực hiện cải cách tiền lương, chưa thực hiện được một số loại giá (than, điện, y tế, giáo dục ) theo thị trường; tốc độ CPI vẫn cao hơn tốc độ tăng GDP; biên độ dao động lạm phát giữa các năm rất lớn chứng
tỏ tính ổn định chưa cao
Việc cân đối NSNN được dự báo vẫn tiếp tục khó khăn do hoạt động của doanh nghiệp vẫn chưa khả quan, khiến nguồn thu có khả năng bị sụt giảm Điều này sẽ ảnh hưởng đến khả năng bố trí vốn đầu tư phát triển
Quá trình thực hiện tái cấu trúc nền kinh tế cũng là yếu tố quan trọng tác động đến tăng trưởng và ổn định nền kinh tế trong nước Tuy vậy, nền kinh tế nước ta vẫn còn nhiều khó khăn thách thức Việc thực hiện các chính sách nhằm ổn định kinh tế
vĩ mô sẽ gây khó khăn nhất định đối với tăng trưởng kinh tế nói chung và ngành nông nghiệp, nông thôn nói riêng
Tình trạng hạn hán, lũ lụt, dịch bệnh trên cây trồng và vật nuôi luôn tiềm ẩn và
có thể xẩy ra trên diên rộng ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình sản xuất nông, lâm, thủy sản
Hiệp định Thương mại hàng hoá ASEAN (gọi tắt là ATIGA) chính thức có hiệu lực từ ngày 17/5/2010, đang tạo ra sự chuyển động mạnh mẽ trong thương mại hàng hoá giữa các nước ASEAN thông qua việc dỡ bỏ các loại rào cản thương mại.Theo Hiệp định này, các nước ASEAN sẽ phải xoá bỏ hoàn toàn thuế quan vào năm 2015
1.2.Nhận định về những thuận lợi, khó khăn chủ yếu của nông nghiệp Việt Nam năm 2015
Việc Việt Nam gia nhập Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) mở
ra những cơ hội phát triển mới, giúp Việt Nam gia tăng tiếp cận với các thị trường rộng lớn như Mỹ, Nhật Bản, Canada,…Tuy nhiên cùng với đó là những thách thức không hề nhỏ, trong đó lĩnh vực được cho là chịu tác động mạnh nhất đó là nông nghiệp
Trang 181.2.1. Thuận lợi
- Khi gia nhập TPP: Việt Nam có cơ hội xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp sang các nước thành viên- đây là những thị trường lớn trên thế giới, thông qua việc các sản phẩm nông, lâm, thủy sản Việt Nam có thể hưởng thuế suất 0% nếu xuất khẩu vào các thị trường mở của TPP
- Tác động của biến đổi khí hậu đã mở ra các cơ hội để thúc đẩy hợp tác toàn cầu, đa phương và song phương, qua đó Việt Nam có thể tiếp nhận hỗ trợ tài chính, chuyển giao công nghệ từ các nước phát triển
- Vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao
1.2.2.Khó khăn
- Diễn biến biến đổi khí hậu trên toàn cầu ngày càng nghiêm trọng Việt Nam đang xếp thứ 13 trong số 16 quốc gia phải hứng chịu tác động nặng nề nhất của biến đổi khí hậu
- Trình độ khoa học công nghệ còn hạn chế
- Khi gia nhập TPP:
+ Việt Nam phải mở cửa thị trường, tức phải loại bỏ 100% dòng thuế (thuế nhập khẩu) đối với các sản phẩm nông nghiệp.Khi đó, hàng nông sản các nước sẽ tràn vào Việt Nam.Nếu không có sự chuẩn bị kỹ lưỡng về cả chất lượng và giá thành, các sản phẩm của nước ta sẽ không cạnh tranh nổi với các nhãn hàng ngoại nhập.Đồng thời rào cản kỹ thuật chưa có hoặc không cao nên thị trường nội địa cũng gặp bất lợi
+ Việt Nam là một nước có lượng sản xuất nông nghiệp khá lớn, nhu cầu cao trong việc yêu cầu các đối tác mở cửa thị trường nông nghiệp cho nông sản Vấn đề khó khăn là ở nước TPP đều có xu hướng đàm phán hạn chế, họ giữ bảo hộ đối với nông sản nội địa (không mở cửa)
+ Vấn đề hàng rào kỹ thuật thương mại (TBT) và biện pháp vệ sinh dịch tễ (SPS) rất quan trọng đối với khả năng tiếp cận thị trường các nước của nông sản Việt Nam bởi dù thuế nhập khẩu vào các nước trong TPP có được cắt bỏ hết nhưng việc kiểm dịch, kiểm tra dư lượng kháng sinh, các đòi hỏi về nhãn mác bao gói của các nước vẫn ngăn chặn khả năng xuất khẩu của nông sản Việt Nam, thậm chí là còn rủi ro hơn nhiều so với thuế quan
- Thế giới tiếp tục khủng hoảng thừa lúa gạo đã đẩy thị trường xuất khẩu gạo tiếp tục bị cạnh tranh gay gắt Đặc biệt, hai thị trường truyền thống nhập khẩu gạo của Việt Nam là Philippines và Indonesia đã giảm 50% vì vậy thị trường gạo xuất khẩu
trong những năm tới được dự báo gặp nhiều khó khăn, tính cạnh tranh lớn Các
nước khác như Ấn Độ, Pakistan, trong năm vừa qua là nước xuất khẩu gạo hàng đầu Cònthị trường xuất khẩu gạo của Myanmar, Campuchia trong thời gian tới cũng có thể là đối thủ của Việt Nam về xuất khẩu gạo