Sự cần thiết của công tác giáo dục tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh cho sinh viên sư phạm trường Đại học Tây Bắc .... Tuy nhiên, kết quả mang lại chưa cao, chính vì vậy: “Vận dụng tư tưởng H
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy cô trong khoa Lý Luận Chính trị, phòng Công tác Chính trị và Quản lý người học đã tạo điều kiện động viên, giúp đỡ
em, cung cấp số liệu và những thông tin cần thiết về đề tài trong quá trình nghiên cứu
Em gửi lời cảm ơn sâu sắc tới cô Lê Thị Vân Anh - Giảng viên hướng dẫn đề tài, cô đã nhiệt tình giúp đỡ, chỉ bảo tận tình để đề tài em hoàn thành đúng thời hạn
Em xin gửi lời cảm ơn tới các bạn sinh viên sư phạm trường Đại học Tây Bắc
đã giúp đỡ em trong quá trình thực hiện đề tài
Đây là đề tài đầu tay của em, vì vậy chắc chắn còn nhiều thiếu sót, vậy kính mong sự tham gia ý kiến của thầy cô và các bạn đóng góp đề tài cho em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Sơn La, tháng 5 năm 2016
Trang 2
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài 2
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 4
6 Đóng góp của đề tài 4
7 Kết cấu của đề tài 5
CHƯƠNG 1 TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC VÀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN 6
1.1 Lý luận chung về đạo đức và giáo dục đạo đức 6
1.1.1 Khái niệm đạo đức 6
1.1.2 Giáo dục đạo đức 7
1.2 Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh 10
1.2.1 Nguồn gốc hình thành tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh 10
1.2.2 Nội dung tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh 13
1.2.3 Nội dung giáo dục tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh cho sinh viên sư phạm trường Đại học Tây Bắc 16
1.3 Tầm quan trọng của công tác giáo dục đạo đức cho sinh viên theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh 20
1.3.1 Vị trí, vai trò của sinh viên hiện nay 20
1.3.2 Sự cần thiết của công tác giáo dục tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh cho sinh viên sư phạm trường Đại học Tây Bắc 22
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN SƯ PHẠM TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC THEO TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH 24
2.1 Thực trạng giáo dục đạo đức cho sinh viên sư phạm Trường Đại học Tây Bắc theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh 25
2.1.1 Vài nét về trường Đại học Tây Bắc và đặc điểm sinh viên Trường Đại học Tây Bắc……….25
2.1.2 Thực trạng đạo đức sinh viên sư phạm Trường Đại học Tây Bắc 28
Trang 32.1.3 Thực trạng giáo dục đạo đức cho sinh viên sư phạm Trường Đại học Tây Bắc theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh 36 2.2 Một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục đạo đức cho sinh viên sư phạm trường Đại học Tây Bắc theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh 432.2.1 Nâng cao vai trò bộ môn tư tưởng Hồ Chí Minh trong giáo dục đạo đức cho sinh viên sư phạm trường Đại học Tây Bắc……… 43 2.2.2 Đổi mới hình thức và nội dung giáo dục đạo đức cho sinh viên sư phạm trường Đại học Tây Bắc………452.2.3 Phát huy vai trò của Đoàn thanh niên, Hội Sinh viên trong công tác giáo dục đạo
đức cho sinh viên sư phạm trường Đại học Tây Bắc……… 46 2.2.4 Kết hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong việc giáo dục đạo đức cho sinh viên sư phạm trường Đại học Tây Bắc……… 47
2.2.5 Tạo môi trường sống lành mạnh cho sinh viên sư phạm trường Đại học Tây Bắc……… 48
2.2.6 Sinh viên cần nâng cao hơn nữa tính chủ động, tích cực trong tự giáo dục đạo đức……… 51
KẾT LUẬN 52 TÀI LIỆU THAM KHẢO 54
Trang 4Biểu đồ 3: Nhận định của sinh viên về thực trạng đạo đức sinh viên hiện nay 32
Biểu đồ 4: Đánh giá của sinh viên về một số biểu hiện liên quan đến đạo đức sinh viên hiện nay 33
Biểu đồ 5: Các nguyên nhân dẫn đến sự xuống cấp đạo đức của sinh viên hiện nay 35
Biểu đồ 6: Nhận định của sinh viên về chất lượng giáo dục đạo đức cho sinh viên của trường Đại học Tây Bắc 39
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh - vị lãnh tụ thiên tài, người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam, anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hoá lớn đã đi xa, nhưng Người để lại cho dân tộc ta một kho tàng di sản tinh thần to lớn mang giá trị nhân văn cao cả Trong
đó, đặc biệt là tư tưởng đạo đức cách mạng Cả cuộc đời, Người phấn đấu, hi sinh cho cách mạng Việt Nam, những tư tưởng đạo đức cách mạng của Người là tấm gương sáng ngời cho toàn Đảng, toàn dân và lớp lớp thế hệ trẻ nguyện phấn đấu suốt đời học tập và noi theo
Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình Chủ tịch Hồ Chí minh đặc biệt quan tâm tới việc chăm lo, đào tạo, bồi dưỡng, giáo dục con người coi đó là nhân tố hàng đầu, quyết định cho mọi thành công, đặc biệt là các thế hệ thanh niên trong đó có một bộ phận rất lớn là học sinh và sinh viên Người cho rằng: “Thanh niên là chủ tương lai của nước nhà Thật vậy, nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh phần lớn do các thanh niên” [14; 185] Trước lúc đi xa Người không quên căn dặn Đảng ta: “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và cần thiết” [21; 510] Trong nội dung bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt lên hàng đầu vấn đề bồi dưỡng lý tưởng và đạo đức cách mạng Theo Người
để xứng đáng là lực lượng kế tục sự nghiệp cách mạng của các thế hệ cha anh thì phẩm chất hàng đầu cần có ở các thế hệ sau là sự trung thành tuyệt đối với lý tưởng, ý chí kiên định đấu tranh cho thắng lợi của lý tưởng và đạo đức cách mạng để làm gương lôi cuốn quần chúng
Từ khi đất nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, việc giữ gìn và phát huy các giá trị đạo đức truyền thống cũng như việc xây dựng các giá trị đạo đức mới ở nước ta đã và đang đặt ra nhiều vấn đề cần phải giải quyết Bên cạnh những giá trị đạo đức mới tích cực đang dần được hình thành thì trong quá trình hội nhập những cái tiêu cực đi ngược lại các giá trị đạo đức truyền thống cũng đang xâm nhập vào đời sống các tầng lớp dân cư, đặc biệt là sinh viên những người được tiếp cận sớm với hệ thống công nghệ thông tin Điều này làm xuất hiện ngày một nhiều các hiện tượng lệch chuẩn đạo đức tốt đẹp của dân tộc trong các thế hệ thanh niên, sinh viên Đó là các hiện tượng suy thoái đạo đức lối sống, chủ nghĩa cá nhân, thiếu lý
Trang 6lực, sống thử trước hôn nhân, xem trọng các giá trị vật chất mà xem nhẹ các giá trị tinh thần, quay lưng lại với các giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc đang là một vấn đề nổi cộm trong đời sống sinh viên hiện nay
Thực trạng trên đã và đang diễn ra ngày càng phổ biến trong sinh viên trong đó có sinh viên sư phạm trường Đại học Tây Bắc với những biểu hiện suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống như: tình trạng gian lận trong thi cử, coi trọng thành tích mà không quan tâm tới chất lượng, xem nhẹ việc tư dưỡng, rèn luyện đạo đức, gia tăng các tệ nạn xã hội, đua đòi, ăn chơi, cờ bạc, rượu chè mà ít đầu tư thời gian và công sức vào học tập
Xuất phát từ thực trạng đáng lo ngại trên, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chính sách, biện pháp nhằm đẩy lùi các hiện tượng tiêu cực trên như đưa môn tư tưởng
Hồ Chí Minh vào giảng dạy trong các trường Đại học, Cao đẳng, phát động phong trào học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh Nhằm giúp các thế hệ sinh viên nhận thức được các giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc, từ đó có những hành vi, thái độ đúng đắn trong đời sống hàng ngày phù hợp với các chuẩn mực đạo đức của dân tộc theo đúng tinh thần Đại hội lần thứ IX của Đảng: “Đối với thế hệ trẻ, chăm lo giáo dục, bồi dưỡng đào tạo phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng đạo đức, lối sống, văn hoá, sức khoẻ, nghề nghiệp, giải quyết việc làm, phát triển tài năng
và sức sáng tạo, phát huy vai trò xung kích trong xây dựng bảo vệ Tổ quốc” [6;126] Đối với sinh viên Trường Đại học Tây Bắc, nhà trường đã tổ chức nhiều buổi tuyên truyền về đạo đức, lối sống sinh viên, tổ chức nhiều hoạt động thiết thực, thành lập ra câu lạc bộ tuổi trẻ sống đẹp nhằm nâng cao đạo đức cho sinh viên Tuy nhiên,
kết quả mang lại chưa cao, chính vì vậy: “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức trong việc giáo dục đạo đức cho sinh viên sư phạm trường Đại học Tây Bắc”
là một nghiên cứu cấp thiết trong giai đoạn hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức là một vấn đề rất lớn đã được nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu Điều đó cũng được thể hiện ở các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, nhiều nhà khoa học, nhiều luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ nói về tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh đối với việc giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên, thế hệ tương lai của đất nước Các công trình nghiên cứu đó đã đề cập đến tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức ở nhiều gốc độ khác nhau Tiêu biểu như:
Trang 7Lê Thị Vân Anh (2014), Giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh cho sinh viên các trường đại học, cao đẳng vùng Tây Bắc trong dạy học môn tư tưởng Hồ Chí Minh, Luận án tiến
Vũ Đức Nên, Luận văn tốt nghiệp, tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh với việc giáo dục đạo đức cho sinh viên sư phạm Hải Phòng trong sự nghiệp đổi mới hiện nay
Đỗ Huyền Trang (2013), Luận văn thạc sĩ, Giáo dục đạo đức truyền thống cho sinh viên trường Đại học Tây Bắc hiện nay
Mai Đình Tuấn (2013), Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức trong giáo dục đạo đức cho thanh niên huyện Hải Hậu tỉnh Nam Định hiện nay, Luận văn tốt nghiệp trường Đại học Tây Bắc
Những công trình trên đã nói lên việc kế thừa và vận dụng đúng đắn tư tương đạo đức Hồ Chí Minh vào việc giáo dục đạo đức cho sinh viên, những người giữ vai trò quan trọng trong sự nghiệp trồng người trong tương lai Cũng như đã luận giải những vấn đề lý luận về vai trò của thanh niên và tầm quan trọng của công tác giáo dục đạo đức cho thanh niên trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc ta hiện nay theo
tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh Đồng thời cũng phân tích rõ thực trạng đạo đức của thanh niên hiện nay và đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác giáo dục đạo đức thanh niên và bồi dưỡng đạo đức cách mạng cho thế hệ tương lai của dân tộc
Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu về việc vân dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức trong việc giáo dục đạo đức cho sinh viên sư phạm trường Đại học Tây Bắc, do vậy đề tài đề xuất nghiên cứu vấn đề này nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác giáo dục đạo đức cho sinh viên sư phạm trường Đại học Tây Bắc
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
Trang 83.1 Mục đích
Trên cơ sở nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức, làm rõ thực trạng giáo dục đạo đức cho sinh viên sư phạm trường Đại học Tây Bắc, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác giáo dục đạo đức sinh viên sư phạm trường Đại học Tây Bắc theo tư tưởng Hồ Chí Minh
3.2 Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích đã nêu trên, đề tài có những nhiệm vụ sau:
- Làm rõ những nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức, vai trò của sinh viên và tầm quan trọng của công tác giáo dục đạo đức cho sinh viên sư phạm hiện nay
- Đánh giá được thực trạng đạo đức và thực trạng giáo dục đạo đức cho sinh viên sư phạm trường Đại học Tây Bắc
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng công tác giáo dục đạo đức cho sinh viên sư phạm trường Đại học Tây Bắc theo tư tưởng đạo đức
Hồ Chí Minh
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức trong việc giáo dục đạo đức cho sinh viên sư phạm trường Đại học Tây Bắc
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, nhóm nghiên cứu tập trung nghiên cứu những nội dung cơ bản nhất trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức và vận dụng vào việc giáo dục đạo đức sinh viên sư phạm trường Đại học Tây Bắc trong khoảng thời gian từ tháng 9 năm 2015 đến tháng 5 năm 2016
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở phương pháp luận
Đề tài được triển khai trên nền tảng các quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng cộng sản Việt Nam về đạo đức và giáo dục đạo đức
5.2 Phương pháp cụ thể
Đề tài sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, điều tra xã hội học
6 Đóng góp của đề tài
Trang 9- Góp phần nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức và giáo dục đạo đức cho sinh viên
- Nhận định đúng đắn, khách quan về đạo đức của sinh viên và công tác giáo dục đạo đức cho sinh viên sư phạm Trường Đại học Tây Bắc trong giai đoạn hiện nay
- Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục đạo đức cho sinh viên sư phạm Trường Đại học Tây Bắc trong giai đoạn hiện nay
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo thì đề tài gồm 2 chương:
Chương 1: Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức và giáo dục đạo đức cho sinh viên Chương 2: Thực trạng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác giáo dục đạo
đức cho sinh viên sư phạm Trường Đại học Tây Bắc theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Trang 10CHƯƠNG 1 TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC VÀ GIÁO DỤC
ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN 1.1 Lý luận chung về đạo đức và giáo dục đạo đức
1.1.1 Khái niệm đạo đức
Danh từ đạo đức được bắt nguồn từ tiếng Latinh “mos”, nghĩa là lề thói, sau đó
xuất hiện từ mới là “moralis”, có nội dung liên quan đến lề thói, đạo nghĩa Còn một danh từ thường được xem như đồng nghĩa với đạo đức là lý luận học, có nguồn gốc từ
chữ Hi Lạp là “Ethicos”, nghĩa là lề thói, tập tục Như vậy khi ta nói tới lề thói là nói
đến những lề thói, tập tục, biểu hiện mối quan hệ giữa người với người trong giao tiếp với nhau hàng ngày
Các nhà triết học duy tâm khách quan mà tiêu biểu là Hêghen cho rằng: Cội nguồn và cơ sở của tất cả những hiện tượng tự nhiên và xã hội là bản nguyên tinh thần,
lý tính được ông gọi là ý niệm tuyệt đối Ý niệm này tự vận động, phát triển và thể hiện ra thành toàn bộ những hiện tượng tự nhiên và xã hội Tuân thủ lôgic đó, G Hêghen cho rằng, đạo đức bắt nguồn từ ý niệm pháp lý, còn ý niệm pháp lý là một hình thái biểu hiện của ý niệm tuyệt đối Bậc tiếp theo trong sự phát triển ý niệm pháp
lý là pháp luật chủ quan, được G Hêghen gọi là luân lý Sự thống nhất giữa pháp luật khách quan và pháp luật chủ quan, sự thể hiện cụ thể của sự thống nhất này trong một gia đình, xã hội và quốc gia chính là bậc phát triển của ý niệm pháp lý, được G Hêghen gọi là đạo đức
Các nhà triết học duy tâm chủ quan nhìn nhận đạo đức như những năng lực bẩm sinh của con người Nhất quán với hệ thống duy tâm tiên nghiệm của mình, I Cantơ cho rằng, lý tính là nguồn gốc sinh ra các nguyên lý, chuẩn mực đạo đức
Các nhà triết học duy vật trước Mác tiêu biểu là L Phoiobac cho rằng, đạo đức chỉ tồn tại ở đâu có mối quan hệ giữa người với người, hay nói như cách nói của ông,
ở đâu có mối quan hệ giữa “tôi và anh”
Như vậy, cho dù có những khác biệt về lập trường và cách thức lý giải, tất cả những quan niệm trước Mác và ngoài Mácxít đều nhìn nhận đạo đức như một sức
mạnh có trước, tồn tại ở bên ngoài các quan hệ xã hội của con người
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, đạo đức được hình thành từ trong lao động và là sản phẩm có ý thức của con người Hình thái ý thức đạo đức là hình thái ý thức xã hội đặc biệt, nó hình thành và phát triển cùng với các hình thái ý
Trang 11thức xã hội khác, tác động đến tồn tại xã hội và có ảnh hưởng qua lại với các hình thái khác
Theo góc độ đạo đức học, đã có nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề đạo đức nhưng ở mức độ khái quát nhất chúng ta có thể hiểu đạo đức là một hình thái hình thái
xã hội bao gồm một hệ thống các quy tắc, chuẩn mực xã hội nhằm điều chỉnh hành vi đánh giá cách ứng xử con người trong quan hệ với nhau và quan hệ xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, truyền thống dân tộc, sức mạnh của dư luận xã hội Mỗi cá nhân là một thành viên của xã hội và bao giờ cũng tồn tại trong một xã hội nhất định Mọi hoạt động sống của cá nhân luôn diễn ra mối quan hệ hai chiều với các cá nhân khác và với cả xã hội Trong quá trình quan hệ qua lại với nhau các cá nhân thường đưa ra những yêu cầu, nguyên tắc, đòi hỏi cho mình, cho người khác và cho xã hội nhằm làm cho các mối quan hệ qua lại với nhau diễn ra và đảm bảo lợi ích của cá nhân tham gia vào mối quan hệ đó Những yêu cầu, nguyên tắc, đòi hỏi mà con người tự giác đưa ra và tự giác tuân thủ đó còn được gọi là các chuẩn mực đạo đức Những chuẩn mực đạo đức sẽ chi phối những chuẩn mực và quyết định hành vi, cử chỉ của cá nhân khi họ tham gia vào các quan hệ xã hội Những chuẩn mực đạo đức chính
là những chỉ bảo, gợi ý cho con người nên làm gì, không nên làm gì, nên tỏ thái độ như thế nào… Các chuẩn mực đạo đức bao giờ cũng thể hiện quan niệm về cái thiện, cái ác, lòng nhân ái, nghĩa vụ, lương tâm Đạo đức là hệ thống những chuẩn mực biểu hiện thái độ đánh giá quan hệ giữa lợi ích của bản thân với lợi ích của người khác và của cả xã hội
Như vậy đạo đức là một lĩnh vực của ý thức xã hội, là một mặt của hoạt động
xã hội, là một hình thái chuyên biệt của quan hệ xã hội, thực hiện chức năng xã hội hết sức quan trọng là điều chỉnh hành vi con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Đạo đức ra đời do nhu cầu của xã hội để điều hoà và thống nhất giữa lợi ích chung của xã hội với lợi ích riêng của cá nhân, nhằm đảo bảo trật tự xã hội và khả năng phát triển của xã hội và cá nhân, là một trong những hình thái ý thức xã hội Đạo đức là một hiện tượng xã hội
1.1.2 Giáo dục đạo đức
Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, đó là hiện tượng mà người giáo dục truyền đạt những kinh nghiệm lịch sử xã hội cho người được giáo dục, người được
Trang 12giáo dục lĩnh hội những kinh nghiệm đó để tham gia vào đời sống, tham gia vào lao động sản xuất
Giáo dục được hiểu theo hai nghĩa:
Theo nghĩa rộng: giáo dục được hiểu là quá trình hình thành nhân cách dưới sự
tác động có mục đích, có kế hoạch thông qua hoạt động của người giáo dục và người được giáo dục nhằm truyền đạt kinh nghiệm lịch sử của loài người Khái niệm giáo dục theo nghĩa rộng bao gồm cả quá trình dạy học và quá trình giáo dục theo nghĩa hẹp Giáo dục theo nghĩa rộng bao gồm cả việc học và dạy cùng các tác động sư phạm khác nhau trong nhà trường, trong gia đình và ngoài xã hội
Theo nghĩa hẹp: giáo dục là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch nhằm
hình thành ở đối tượng giáo dục về mặt tư tưởng, chính trị, đạo đức, xây dựng thái độ hành vi thói quen cư xử đúng đắn trong xã hội Giáo dục theo nghĩa hẹp xây dựng những hành vi phù hợp với chuẩn mực xã hội, giáo dục tình cảm, niềm tin, xây dựng ý thức hành vi đúng đắn
Giáo dục đạo đức là quá trình biến hệ thống các chuẩn mực đạo đức, những đòi hỏi của bên ngoài xã hội tạo thành những đòi hỏi bên trong cá nhân, thành niềm tin, nhu cầu, thói quen của người được giáo dục Giáo dục đạo đức cho người được giáo dục là phát triển nhân cách toàn vẹn của họ về mặt đạo đức xã hội chủ nghĩa, xây dựng cho họ có đầy đủ phẩm chất đạo đức xã hội chủ nghĩa cơ bản, hình thành cho họ
có ý thức đạo đức, tình cảm đạo đức và thói quen đạo đức theo những nguyên tắc đạo đức xã hội chủ nghĩa
Ý nghĩa của việc giáo dục đạo đức:
Việc giáo dục đạo đức có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với mỗi con người và toàn thể xã hội
Giáo dục đạo đức với sự phát triển nhân cách con người: giáo dục đạo đức
luôn hướng con người tới chân, thiện, mỹ luôn mơ ước và vươn tới tương lai Những mong muốn đó là một định hướng trong hành động của mỗi cá nhân và cộng đồng xã hội Giáo dục đạo đức góp phần định hướng hoạt động nhận thức, giá trị sống, giá trị đạo đức, giúp cho mỗi con người có chuẩn mực để lựa chọn thiện - ác, tốt - xấu Việc giáo dục các giá trị đạo đức cho mọi người, đặc biệt cho thế hệ trẻ là trách nhiệm của toàn xã hội, của mọi cộng đồng mà trước hết thuộc về nhà trường, gia đình, của các tổ chức đoàn thể trong xã hội Bởi giáo dục nhà trường, gia đình và xã hội là giúp cho thế
Trang 13hệ trẻ có cơ sở lựa chọn các giá trị đạo đức Giúp họ nhận thức đầy đủ trách nhiệm từng cá nhận trong xã hội hiện đại, quyền lợi của cá nhân, của tập thể nhỏ gắn liền với dân tộc, nhân loại Vì vậy, phải lấy các chuẩn mực đạo đức chung của dân tộc và nhân loại làm định hướng chi phối hoạt động nhận thức, định hướng cho hoạt động giao lưu, học tập, lao động và hoạt động xã hội của mỗi cá nhân
Giáo dục đạo đức góp phần điều chỉnh hành động của con người: trong cuộc
sống không phải lúc nào con người cũng dễ dàng thống nhất giữa nhận thức và hành động, giữa nói và làm Nhìn chung những chuẩn mực đạo đức xã hội luôn là tiêu chí
để mọi người so sánh kết quả hành động, hành vi của mình để sửa chữa
Giáo dục đạo đức với sự phát triển của xã hội: hệ thống giá trị đạo đức phản
ánh toàn bộ quan hệ của con người trong cuộc sống, giao lưu, ứng xử, trong sản xuất, trong giáo dục, văn hoá, chính trị, xã hội Việc giáo dục đạo đức chính là việc điều chỉnh hệ thống chuẩn mực đạo đức của một cộng đồng hay một dân tộc đều được thể hiện qua 5 mối quan hệ của con người với tư cách là chủ thể của quan hệ đạo đức, đó là:
+ Giáo dục trong quan hệ với bản thân: đó là những giá trị để hoàn thiện bản thân con người
+ Trong quan hệ với mọi người: thể hiện trong đời sống hằng ngày của con người, la mối quan hệ trực tiếp hay gián tiếp trong cộng đồng
+ Trong quan hệ với công việc: việc thực hiện bổn phận trách nhiệm trong công việc khi được giao phó
+ Trong quan hệ với môi trường: bao gồm việc giữ gìn và bảo vệ môi trường sống của con người, là môi trường tự nhiên và môi trường văn hoá xã hội
+ Quan hệ với lý tưởng sống của dân tộc: đó là sự thể hiện ý thức, đạo đức, lý tưởng của mỗi cá nhân không thể tách khỏi lý tưởng của dân tộc
Hơn nữa, giáo dục đạo đức còn góp phần giữ vững, ổn định chính trị, xã hội qua đó thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội, xây dựng xã hội dân giàu nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh Sự giáo dục đạo đức sẽ tạo ra sự thống nhất giữa đạo đức với chính trị, pháp luật, tạo ra sức mạnh của dư luận xã hội và các thiết chế xã hội Từ đó vai trò của giáo dục đạo đức trong sự phát triển nhân cách, phát triển xã hội ngày càng có ý nghĩa to lớn
Trang 14Về thực chất, giáo dục đạo đức là khả năng tự giáo dục, tự kiểm tra, đánh giá, thẩm định hành vi của mình để đánh thức lương tâm trong mỗi con người để mỗi chủ thể đạo đức có được những nhận thức đầy đủ sâu sắc hơn những nguyên tắc, những phạm trù, những chuẩn mực đạo đức Vì vậy, giáo dục đạo đức là chức năng hết sức
cơ bản mà bất cứ một hệ thống đạo đức nào cũng phải thực hiện, đây là hiện tượng thường xuyên, cần thiết của xã hội
1.2 Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh
1.2.1 Nguồn gốc hình thành tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh
Đạo đức Hồ Chí Minh bắt nguồn từ đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam
đã được hình thành, phát triển trong suốt quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước Quá trình đó dân tộc ta đã tạo lập cho mình một nền văn hóa riêng, phong phú và bền vững với những truyền thống tốt đẹp và cao quý Trong những truyền thống đó, truyền thống đạo đức là nổi trội hơn cả
Trước hết, đó là truyền thống yêu nước Từ văn hóa dân gian đến văn hóa bác học, từ những nhân vật trong truyền thuyết đến các tên tuổi sáng ngời trong lịch sử như: Hai Bà Trưng, Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi đều đã phản ánh chân lý đó là một cách hùng hồn Chủ nghĩa yêu nước là dòng chủ lưu chảy xuyên suốt trường kỳ lịch
sử Việt Nam, là chuẩn mực cao nhất, đứng đầu bảng giá trị văn hóa - tinh thần Việt Nam Mọi học thuyết đạo đức, tôn giáo từ nước ngoài khi du nhập vào Việt Nam đều được người Việt Nam tiếp nhận qua lăng kính của tư tưởng yêu nước đó
Truyền thống nhân nghĩa đoàn kết, tương thân, tương ái, “lá lành đùm lá rách” trong những hoạn nạn, khó khăn Truyền thống này cũng hình thành cùng một lúc với
sự hình thành dân tộc, xuất phát từ hoàn cảnh và nhu cầu đấu tranh quyết liệt với thiên nhiên và với giặc ngoại xâm Người Việt Nam quen sống với nhau trong tình làng nghĩa xóm, tắt lửa tối đèn có nhau Bước sang thế kỉ XX, mặc dù xã hội Việt Nam đã
có sự phân hóa về giai cấp, truyền thống này vẫn còn rất bền vững Hồ Chí Minh đã chú ý kế thừa, phát huy sức mạnh của truyền thống nhân nghĩa, Người nhấn mạnh bốn chữ “đồng”: đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh
Truyền thống cần cù, dũng cảm, thông minh, sáng tạo trong sản xuất và chiến đấu là cơ sở tạo nên một dân tộc ham học hỏi, không ngừng mở rộng cửa đón nhận tinh hoa văn hóa của nhân loại, từ Nho, Phật, Lão của phương Đông đến tư tưởng văn hóa hiện đại phương Tây Nhờ vị trí địa lý thuận lợi, ở giữa đầu mối của sự giao lưu
Trang 15văn hóa Bắc - Nam và Đông - Tây, người Việt Nam từ xưa đã rất xa lạ với đầu óc hẹp hòi, thủ cựu, thói bài ngoại cực đoan Trên cơ sở giữ vững bản sắc của dân tộc, nhân dân ta đã biết chọn lọc, tiếp thu, cải biến những cái hay, cái tốt, cái đẹp của người thành những giá trị riêng của mình Hồ Chí Minh là hình ảnh sinh động và trọn vẹn của truyền thống đó
Truyền thống tôn sư trọng đạo Truyền thống này đã thấm vào nhận thức, tình cảm, trở thành triết lý sống từ đó định hướng cho những hành vi cụ thể của người Việt Nam qua các thế hệ Tôn vinh người thầy giáo, nhân dân ta nhận thức một cách sâu sắc rằng để trở thành những người có ích, đóng góp cho quê hương đất nước thì phải được dạy dỗ học hành Lịch sử Việt Nam còn mãi mãi ghi ơn những người thầy đã có công đào tạo cho đất nước nhiều trí thức Người thầy được xã hội tôn vinh ở hàng quan trọng thứ nhì trong xã hội, trước hết là vua, rồi đến thầy giáo, sau mới đến cha mẹ
Truyền thống lạc quan, yêu đời trong muôn nguy, ngàn khó, người lao động vẫn động viên nhau “chớ thấy sóng cả mà ngã tay chèo” Tinh thần lạc quan đó có cơ sở từ niềm tin vào sức mạnh của bản thân mình, tin vào sự tất thắng của chân lý, chính nghĩa, dù trước mặt còn đầy gian truân, khổ ải phải chịu đựng, vượt qua
Đạo đức Hồ Chí Minh còn bắt nguồn từ sự tiếp thu có chọn lọc và phát triển những tinh hoa văn hóa, đạo đức của nhân loại, cả phương Đông và phương Tây Xuất thân trong gia đình khoa bảng, ngay từ nhỏ Hồ Chí Minh đã được tiếp thu một nền Hán học khá vững vàng Khi ra nước ngoài, Người đã không ngừng làm giàu trí tuệ mình bằng
ý chí vượt lên trên mọi khó khăn để tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại Vì vậy, trong lúc đấu tranh Hồ Chí Minh vẫn có thể viết văn bằng tiếng Anh, tiếng Pháp, sắc sảo như một nhà báo phương Tây thực thụ, nhưng khi có nhu cầu “tự bạch” thì Người lại làm thơ bằng chữ Hán Chính điều đó làm nên nét đặc sắc của Hồ Chí Minh, con người tượng trưng cho sự kết hợp hài hòa của văn hóa, đạo đức Đông - Tây
Khi ra đi tìm đường cứu nước, Nguyên Tất Thành đã được dân tộc, quê hương và gia đình trang bị cho một vốn học vấn chắc chắn, một năng lực trí tuệ sắc sảo, giúp Người phân tích, tổng kết các phong trào yêu nước chống Pháp từ cuối thế kỷ XIX sang đầu thế kỷ XX ở Việt Nam một cách khoa học Có thể mục đích, tôn chỉ, hình thức, biện pháp của các phong trào ấy khác nhau nhưng cũng vẫn chỉ xoay quanh hai đường lối: quân chủ hay dân chủ, hai phương pháp: cách mạng hay cải lương Cả hai đường lối
và phương pháp này đều không thoả mãn được yêu cầu giải phóng dân tộc trong điều
Trang 16kiện chủ nghĩa đế quốc đã trở thành một hệ thống thế giới Trong bài “Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Lênin” Hồ Chí Minh đã cắt nghĩa một cách chân thành và giản dị quá trình đến với chủ nghĩa Mác - Lênin của mình: “lúc bấy giờ, tôi ủng hộ Cách mạng Tháng Mười chỉ là theo cảm tính tự nhiên Tôi kính yêu Lênin vì Lênin là một người yêu nước vĩ đại đã giải phóng đồng bào mình Tôi tham gia Đảng Xã hội Pháp chẳng qua là vì các “ông bà” ấy - (hồi đó tôi gọi các đồng chí của tôi như thế) để tỏ đồng tình với tôi, với cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp bức Còn như Đảng là gì, công đoàn là gì, chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản là gì, thì tôi chưa hiểu” Những nhân tố nào đã giúp cho Nguyễn Ái Quốc đến được với chủ nghĩa Mác - Lênin, trước hết, đó là tư duy độc lập, tự chủ sáng tạo cộng với đầu óc phê phán tinh tường, sáng suốt trong việc nghiên cứu tìm hiểu các cuộc cách mạng tư sản hiện đại Đó là sự khổ công học tập nhằm chiếm lĩnh vốn tri thức phong phú của thời đại, kinh nghiệm đấu tranh của phong trào giải phóng dân tộc, phong trào công nhân quốc tế Cuối cùng,
đó là tâm hồn của một nhà yêu nước, một chiến sĩ nhiệt thành cách mạng, một trái tim yêu nước, thương dân, thương yêu những người cùng khổ, sẵn sàng chịu đựng những
hy sinh cao nhất vì độc lập của Tổ quốc, vì tự do, hạnh phúc của đồng bào Trong những năm bôn ba tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc đã hoàn thiện cho mình một vốn văn hoá, vốn chính trị và vốn sống thực tiễn phong phú, tạo thành một bản lĩnh trí tuệ mà không một nhà cách mạng trẻ tuổi Việt Nam nào vào thời kỳ đó có thể so sánh được Bản lĩnh đó đã nâng cao khả năng độc lập, tự chủ và sáng tạo khi tiếp thu và vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin để không rơi vào sao chép, giáo điều, rập khuôn mà biết tiếp thu và vận dụng có chọn lọc những nguyên lý phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện
cụ thể của Việt Nam
Tác động biện chứng của mối quan hệ giữa cá nhân với dân tộc và thời đại đã đưa Nguyễn Ái Quốc đến với chủ nghĩa Mác - Lênin Nhờ có thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, Nguyễn Ái Quốc đã tiếp thụ và chuyển hoá được những nhân tố tích cực và tiến bộ của truyền thống đạo đức dân tộc cũng như của văn hoá và đạo đức tiến bộ của nhân loại để hình thành đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh Tiến sĩ M Atmet (Modagat Ahmed), Giám đốc UNESCO khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, đại diện đặc biệt của Tổng giám đốc UNESCO đã đánh giá Hồ Chí Minh là một nhân vật vĩ đại đã cống hiến trọn đời mình cho sứ mệnh tự do và độc lập, trong cuộc Hội thảo quốc tế về Chủ tịch Hồ Chí Minh, anh hùng giải phóng dân tộc,
Trang 17nhà văn hoá lớn đã được tổ chức trọng thể tại Hà Nội trong hai ngày 29 và 30 tháng 3 năm 1990 Ông nói: Hồ Chí Minh đã thành công trong việc liên kết nhiều sắc thái văn hoá vào một nền văn hoá Việt Nam duy nhất Người đã làm được việc này nhờ sự hiểu biết sâu sắc và tôn trọng những đặc điểm văn hoá khác nhau Người đã hoàn thành được nhiệm vụ này, và trong việc làm và lời nói của Người, ta có thể nhìn rõ hình ảnh,
tư tưởng của nhà thơ, nhà văn, nhà nghệ sĩ dân ca, những người đem lại nguồn cảm xúc cho nhiều thế hệ nhân dân Việt Nam Cuộc đời của Người mang ảnh hưởng của những giá trị và truyền thống dân tộc, có những đóng góp vào việc tạo nên một nền văn hoá Việt Nam hiện đại
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, đạo đức không thể tách rời cuộc sống con người, nó được bắt nguồn từ tồn tại xã hội, lao động sản xuất và từ cuộc đấu tranh chống thiên nhiên của con người Vì vậy, sự phát sinh, phát triển của đạo đức được quy định bởi sự phát sinh, phát triển của tồn tại xã hội của con người Với ý nghĩa đó, tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh không phải là cái đã có sẵn, không phải là trên trời sa xuống, mà là sự phản ánh hoàn cảnh kinh tế xã hội của đất nước, là sản phẩm của thực tiễn cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, thông qua nhận thức và hành động của bản thân Hồ Chí Minh Trong khi khẳng định nguồn gốc tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là ở thực tiễn cách mạng Việt Nam, chúng ta không thể bỏ qua tính độc lập tương đối của đạo đức, sự kế thừa truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa tư tưởng đạo đức của nhân loại
Tóm lại, tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa
truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc, mà điểm nổi bật nhất là truyền thống yêu nước, lòng yêu thương con người với tinh hoa đạo đức nhân loại, trong đó đạo đức của chủ nghĩa Mác - Lênin là cơ bản, thông qua nhận thức Hồ Chí Minh để tạo nên hệ thống đạo đức mới, đạo đức cách mạng Đúng như Helen Tuốc - mêrơ viết: “Hồ Chí Minh là hình ảnh hoàn chỉnh của sự kết hợp đức khôn ngoan của Phật, lòng bác ái của Chúa, triết học của Các Mác, thiên tài cách mạng của Lênin và tình cảm của người chủ gia tộc - tất cả đều hòa hợp trong một dáng dấp tự nhiên”
1.2.2 Nội dung tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh
Một là: Trung với nước hiếu với dân
Trung, hiếu là đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam và phương Đông, được Chủ tịch Hồ Chí Minh kế thừa và phát triển trong điều kiện mới
Trang 18Trung với nước là trung thành vô hạn với sự nghiệp dựng nước, giữ nước, phát triển đất nước, làm cho đất nước “sánh vai với cường quốc năm châu” Nước là của dân, dân là chủ đất nước, trung với nước là trung với dân, vì lợi ích của nhân dân, “bao nhiêu quyền hạn đều của dân”, “bao nhiêu lợi ích đều vì dân”
Hiếu với dân nghĩa là cán bộ đảng, cán bộ nhà nước vừa là người lãnh đạo vừa
là người đầy tớ trung thành của nhân dân
Trung với nước, hiếu với dân là phẩm chất hàng đầu của đạo đức cách mạng Người dạy, đối với mỗi cán bộ đảng viên phải “tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân”, hơn nữa phải “tận trung với nước, tận hiếu với dân” [16;480]
Trung với nước, hiếu với dân là phải gắn bó với dân, gần dân, dựa vào dân, lấy dân làm gốc Phải nắm vững dân tình, hiểu rõ dân tâm, quan tâm cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí, làm cho Đảng hiểu rõ nghĩa vụ và quyền lợi của người làm chủ đất nước
Tư tưởng Hồ Chí Minh về trung với nước, hiếu với dân thể hiện quan điểm của Người về mối quan hệ và nghĩa vụ của mỗi cá nhân với cộng đồng, đất nước
Hai là: Cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư
Cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư là nền tảng của đời sống mới, là phẩm chất trung tâm của đạo đức cách mạng trong tư tưởng đạo đức cách mạng của Hồ Chí Minh
Hồ Chí Minh quan niệm cần, kiệm, liêm, chính là bốn đức tính của cong người, như trời có bốn mùa xuân, như đất có bốn phương và Người giải thích rõ ràng
Cần là lao động cần cù, siêng năng, lao động có kế hoạch, sáng tạo, lao động có năng suất cao, lao động với tinh thần tự lực cánh sinh, không lười biếng, không ỷ lại, không dựa dẫm Phải thấy rõ lao động là nghĩa vụ thiêng liêng là nguồn sống, nguồn hạnh phúc của mỗi chúng ta
Kiệm là tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm thì giờ, tiết kiệm tiền của dân, của nước, của bản thân mình, tiết kiệm từ cái to đến cái nhỏ không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi, không phô trương, hình thức
Cần, kiệm là phẩm chất của mọi người lao động trong đời sống, trong công tác Liêm là trong sạch, là luôn tôn trọng, giữ gìn của công và của dân, không xâm phạm một đồng xu, một hạt thóc của Nhà nước, của nhân dân, không tham địa vị, không tham tiền tài không tâng bốc mình
Trang 19Chính là ngay thẳng, không tà, là đúng đắn, chính trực Đối với mình thì không
tự cao, tự đại, đối với người thì không nịnh trên, khinh dưới, không dối trá, lừa lọc, luôn giữ thái độ chân thành, khiêm tốn, đoàn kết Đối với việc thì để việc công lên trên, lên trước việc tư, việc nhà Được giao nhiệm vụ gì quyết làm cho kỳ được, việc thiện dù nhỏ đến mấy cũng làm, việc ác thì dù nhỏ đến mấy cũng tránh
Liêm, chính là phẩm chất của người cán bộ thi hành công vụ khi thi hành công
vụ
Chí công là rất mực công bằng, công tâm, vô tư là không được có lòng riêng, thiên tư, thiên vị tư ân, tư huệ hoặc tư thù, tư oán, đem lòng chí công vô tư với người, với việc Khi làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, khi hưởng thụ thì mình nên đi sau, “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ” [16;568] Muốn chí công vô tư thì phải chiến thắng chủ nghĩa cá nhân
Đây là chuẩn mực của người lãnh đạo, người giữ cán công lý, không được vì lòng riêng mà chà đạp lên pháp luật
Cần, kiệm, liêm, chính có quan hệ chặt chẽ với nhau và với chí công, vô tư Cần, kiệm, liêm, chính sẽ dẫn đến chí công, vô tư Ngược lại, đã chí công vô tư, một lòng vì nước, vì dân, vì Đảng thì nhất định sẽ thực hiện được cần, kiệm, liêm, chính
Ba là: Yêu thương con người, sống có nghĩa, có tình
Yêu thương con người trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh xuất phát từ truyền thống nhân nghĩa của dân tộc, kết hợp với chủ nghĩa nhân văn của nhân loại, chủ nghĩa nhân đạo cộng sản Hồ Chí Minh coi yêu thương con người là phẩm chất đạo đức cao đẹp nhất Yêu thương con người thể hiện mối quan hệ giữa cá nhân với cá nhân trong quan hệ xã hội
Tình yêu thương con người thể hiện trước hết là tình yêu thương với đại đa số nhân dân, những người lao động bình thường trong xã hội, những người nghèo khổ, bị
áp bức, bóc lột Yêu thương con người phải làm mọi việc để phát huy sức mạnh của mỗi người, đoàn kết để phấn đấu cho đạt được mục tiêu ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành
Yêu thương con người là phải tin vào con người Với mình thì chặt chẽ, nghiêm khắc, với người thì khoan dung, độ lượng, rộng rãi, nâng cao con người lên, kể cả với những người lầm đường, lạc lối, mắc sai lầm, khuyết điểm
Trang 20Yêu thương con người là giúp cho mỗi người ngày càng tiến bộ, tốt đẹp hơn Vì Vậy, phải thực hiện phê bình, tự phê bình, giúp nhau sửa chữa khuyết điểm, phát huy
ưu điểm để không ngừng tiến bộ
Yêu thương con người là phải biết và dám dấn thân để đấu tranh để giải phóng con người
Đối với những người cộng sản, Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy học tập chủ nghĩa Mác - Lênin để yêu thương nhau hơn Người viết: Hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin là phải sống với nhau có tình có nghĩa Nếu thuộc bao nhiêu ánh sáng mà sống không có tình
có nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin được
Bốn là: Tinh thần quốc tế trong sáng
Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế là sự mở rộng những quan niệm đạo đức nhân đạo, nhân văn của Người ra phạm vi toàn nhân loại, vì Người là người Việt Nam nhất đồng thời là nhà văn hoá kiệt xuất của thế giới, anh hùng giải phóng dân tộc, chiến sĩ lỗi lạc của phong trào cộng sản quốc tế
Quan niệm đạo đức về tình đoàn kết quốc tế trong sáng của Hồ Chí Minh thể hiện trong các điểm sau:
Đoàn kết với nhân dân lao động các nước vì mục tiêu chung đấu tranh giải phóng con người khỏi ách áp bức, bóc lột
Đoàn kết quốc tế giữa những người vô sản toàn thế giới vì một mục tiêu chung, bốn phương vô sản đều là anh em
Đoàn kết với nhân loại tiến bộ vì hoà bình, công lý và tiến bộ xã hội
Đoàn kết quốc tế gắn liền với chủ nghĩa yêu nước Chủ nghĩa yêu nước chân chính sẽ dẫn đến chủ nghĩa quốc tế trong sáng, chống lại mọi biểu hiện của chủ nghĩa
sô vanh, vị kỷ, hẹp hòi, kỳ thị dân tộc
1.2.3 Nội dung giáo dục tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh cho sinh viên sư phạm trường Đại học Tây Bắc
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn xem thanh niên là lực lượng nòng cốt của đất nước,
là người chủ tương lai của nước nhà Người luôn có niềm tin lớn lao vào thế hệ thanh niên và thấy được khả năng sáng tạo to lớn của họ đối với sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ tổ quốc Người nhấn mạnh thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà Thật vậy, nước nhà thịnh hay suy, mạnh hay yếu, phần lớn là do thanh niên Xuất phát từ thực tiễn của quá trình dựng nước và giữ nước, Người khẳng đinh: “một năm khởi đầu
Trang 21từ mùa Xuân Một đời khởi đầu tuổi trẻ Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội” [13, tr 167]
Người nhận thấy thanh niên là lực lượng hùng hậu dũng cảm, có ưu thế nổi trội, trẻ khoẻ, chiếm số đông trong xã hội Hơn nữa, tuổi trẻ phải là lực lượng xung kích trên các mặt trận để bảo vệ cho sự bình an của Tổ quốc, phải giành được chủ quyền đất nước, họ phải là đầu tàu cho mọi hành động, đặc biệt là phong trào cách mạng
Chính vì vậy mà việc giáo dục đạo đức cách mạng cho sinh viên là vô cùng quan trọng nên chúng tôi chọn những nội dung sau để giáo dục đạo đức cho sinh viên
sư phạm trường Đại học Tây Bắc:
Một là: Giáo dục phẩm chất trung với nước, hiếu với dân
Đây chính là phẩm chất bao trùm nhất, quan trọng nhất đối với thanh niên, sinh viên Việt Nam trong đó có sinh viên sư phạm trường Đại học Tây Khái niệm trung, hiếu đã có trong nội dung giáo dục đạo đức truyền thống dân tộc Việt Nam và phương Đông, là chuẩn mực đạo đức phong kiến và Nho giáo đề ra Quan niệm Trung của Nho giáo là trung với vua, bó hẹp trong phạm vi quan hệ vua tôi, phải hết lòng thờ vua trong bất kỳ hoàn cảnh điều kiện nào Hiếu là hiếu với cha mẹ, phải kính trọng thương yêu và hết lòng phụng dưỡng cha mẹ mong đền đáp công ơn sinh thành, dưỡng dục Khái niệm trung hiếu đã được Hồ Chí Minh nâng cao, phát triển với ý nghĩa mới, mang tính giai cấp công nhân sâu sắc để giáo dục thanh niên Trung với nước, hiếu với dân trước hết phải có tinh thần yêu nước nồng nàn, phấn đấu hi sinh vì lợi ích của quốc gia, dân tộc, làm sao cho dân giàu, nước mạnh Đối với sinh viên sư phạm Trường Đại học Tây Bắc, trung với nước, hiếu với dân trước hết phải yêu Tổ quốc, yêu nhân dân Yêu Tổ quốc, yêu nhân dân không phải là lý thuyết, siêu hình mà được thể hiện cụ thể, thiết thực trong học tập, tu dưỡng, trong mọi hoạt động cuộc sống thường ngày Sinh viên phải tích cực trau dồi kiến thức, học tập những tấm gương sáng trong học tập chủ động rèn luyện tu dưỡng đạo đức trong sáng có lòng yêu nước sâu sắc không ngừng phấn đấu vươn lên trong học tập và trong cuộc sống Chính những phẩm chất đó đòi hỏi mỗi sinh viên cần phải tham gia vào công cuộc xây dựng
và bảo vệ đất nước
Hai là: Giáo dục phẩm chất cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư
Cần, kiêm, liêm, chính là những khái niệm đạo đức phương Đông và đạo đức truyền thống Việt Nam đã được Hồ Chí Minh sử dụng Người đã giữ lại những gì tốt đẹp của quá khứ và đưa vào những nội dung mới, cách mạng mà vẫn đúng với ý nghĩa
Trang 22ban đầu của khái niệm đó Hồ Chí Minh thường xuyên kêu gọi giáo dục mọi người thực hiện cần, kiệm, liêm, chính và Người đã giải thích rất rõ, cụ thể, dễ hiểu đối với mọi người
Đối với thanh niên, sinh viên sư phạm trường Đại học Tây Bắc đó là tinh thần, thái độ siêng năng, chăm chỉ, phải có kế hoạch sáng tạo, không nên hao tổn lãng phí thời giờ Nhiệm vụ trung tâm chính trị là học tập để nắm vững chuyên môn nghiệp vụ, nắm bắt khoa học kỹ thuật Vì vậy mỗi sinh viên phải khắc phục khó khăn, chịu khó học tập, học hỏi để không ngừng tiến bộ
Cần, kiêm, liêm, chính, chí công vô tư là gốc quan trọng của đạo đức cách mạng, con người Việt Nam, cũng là gốc cách mạng của thanh niên Hồ Chí Minh chỉ rõ:
“Trời có 4 mùa: Xuân, hạ, thu, đông Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc Người có bốn đức: Cần, kiệm, liêm, chính Thiếu một mùa thì không thành trời Thiếu một phương thì không thành đất Thiếu một đức thì không thành người” [9, tr 37]
Như vậy, việc giáo dục phẩm chất cao quý: Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô
tư yêu cầu người sinh viên sư phạm trường Đại học Tây Bắc phải luôn trau dồi đạo đức cách mạng, khiêm tốn, chống kiêu căng tự mãn, chống lãng phí xa hoa, cần kiệm trong lao động, học tập, công tác Thực hành tự phê bình và phê bình thẳng thắn để giúp nhau cùng tiến bộ
Ba là: Giáo dục tinh thần trách nhiệm, tinh thần tập thể, tinh thần đấu tranh chống lại chủ nghĩa cá nhân
Đây là điều cực kỳ quan trọng đối với sinh viên sư phạm trường Đại học Tây Bắc vì nếu sinh viên không tự giác giáo dục, rèn luyện, đặt lợi ích tập thể lên trên lợi ích cá nhân thì cá nhân chủ nghĩa có cơ hôi trỗi dậy Bởi vì chủ nghĩa cá nhân lợi mình hại người, tự do vô tổ chức, vô kỷ luật và những tính xấu khác là kẻ địch nguy hiểm của chủ nghĩa xã hội Đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không phải là giày xéo lên lợi ích cá nhân, mỗi người đều có tính cách riêng, sở trường riêng, đời sống riêng của bản thân và của gia đình mình Nếu những lợi ích cá nhân đó không trái với lợi ích của tập thể thì không phải là xấu Nhưng lại phải thấy rằng chỉ ở trong chế độ xã hội chủ
Trang 23nghĩa thì mỗi người mới có điều kiện để cải thiện đời sống riêng của mình, phát huy tính cách riêng và sở trường riêng của mình Lợi ích của cá nhân gắn liền với lợi ích của tập thể Nếu lợi ích cá nhân mâu thuẫn với lợi ích tập thể, thì đạo đức cách mạng đòi hỏi lợi ích riêng của cá nhân phải phục tùng lợi ích chung của tập thể Vì vậy đòi hỏi mỗi sinh viên sư phạm phải tự giáo dục, rèn luyện nâng cao nhận thức, hoàn thiện thế giới quan, nhân sinh quan cộng sản Tự tu dưỡng đạo đức, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa lợi ích của mình với lợi ích xã hội, phải biết làm cho lợi ích cá nhân và lợi ích của xã hội phát triển hài hoà
Bốn là: Giáo dục đạo đức cách mạng, niềm tin đối với sự nghiệp cách mạng do Đảng Cộng sản lãnh đạo
Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, là nhân tố quyết định, là người chèo lái đưa con thuyền cách mạng Việt Nam giành thắng lợi, là người giáo dục, dìu dắt, rèn luyện và tạo điều kiện cho sinh viên học tập, tu dưỡng, phấn đấu và thể hiện tài năng của mình, cống hiến cho sự nghiệp cách mạng
Thanh niên là lớp người trẻ tuổi đang phát triển để hoàn thiện nhân cách Thanh niên khao khát lý tưởng và hành động thực hiện lý tưởng, hướng tới các giá trị xã hội, nhưng lại chưa đủ kinh nghiệm và sự từng trải để có cách suy xét đánh giá các giá trị, lựa chọn giá trị theo chỉ dẫn sáng suốt của lý trí Vì thế, thanh niên rất cần đến những tác động của giáo dục xã hội để định hướng cho họ thực hiện lý tưởng mà Đảng và dân tộc ta đã lựa chon Lý tưởng cách mạng mà Hồ Chí Minh quan tâm giáo dục cho thanh niên là phấn đấu cho Tổ quốc hoàn toàn độc lập, cho chủ nghĩa xã hội toàn thắng trên đất nước ta và trên thế giới Theo Hồ Chí Minh, có giác ngộ lý tưởng mới giúp thanh niên hiểu lý tưởng đó là cao đẹp như thế nào, thấy rõ trách nhiệm của mình trong việc thực hiện lý tưởng Với nghĩa đó, giác ngộ lý tưởng cách mạng chính là giáo dục cho thanh niên lý tưởng sống và niềm tin vào sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo Song song với giáo dục lý tưởng, Hồ Chí Minh cũng yêu cầu phải bồi dưỡng chí khí cách mạng cho thanh niên Đó chính là ý chí, nghị lực, khí phách, khí tiết của người cách mạng, là tính kiên trì, nhẫn nại, vượt khó Không có chí khí cách mạng thì thanh niên không thể vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, hy sinh, mất mát trên con đường cách mạng để thực hiện lý tưởng Như vậy thì cũng không thể trở thành một người tận trung với nước, hiếu với dân được
Trang 24Tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, thanh niên không ngừng học tập, nâng cao hiểu biết chủ nghĩa Mác - Lênin, nắm vững đường lối, chủ trương của Đảng Phấn đấu
vì lợi ích chung của Đảng, của cách mạng, của giai cấp, của dân tộc, luôn đặt lợi ích chung lên lợi ích cá nhân, hết sức đấu tranh cho chủ nghĩa cộng sản, cho giai cấp công nhân và cho toàn thể nhân dân lao động Đó là tinh thần không sợ gian khổ, hi sinh:
“Đâu cần thanh niên có, đâu khó có thanh niên”; hăng hái xung phong gương mẫu trong công tác, trong học hỏi, tiến bộ, trong đạo đức cách mạng Thanh niên trở thành một trong những nguồn nội lực to lớn cho sự phát triển nhanh và bền vững, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó
Năm là: giáo dục thái độ tận tụy phục vụ cho tổ quốc và nhân dân
Theo Hồ Chí Minh, giáo dục đạo đức cách mạng cho sinh viên không phải nói những điều chung chung, thuyết giáo về đạo đức; không phải chỉ dừng lại ở tu thân, dưỡng tính, vì lợi ích cá nhân mà đạo đức phải được thể hiện trong hành động, việc làm cụ thể Hồ Chí Minh đòi hỏi thanh niên phải tự hỏi mình đã làm gì cho nước nhà, chứ không phải hỏi nước nhà đã cho mình những gì ? Hồ chí Minh nói tới đạo đức là nói tới phẩm chất của con người trong hoạt động, coi đó là những điều kiện tinh thần cần thiết để đưa hoạt động đến kết quả cuối cùng Đạo đức nảy sinh từ hoạt động thực tiễn, trong học tập, lao động, trong sinh hoạt hàng ngày Đó là điều kiện để rèn luyện đạo đức Chỉ có hoạt động trong thực tiễn thanh niên mới tự thể nghiệm mình, hình thành dần những phẩm chất đạo đức cần thiết
1.3 Tầm quan trọng của công tác giáo dục đạo đức cho sinh viên theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh
1.3.1 Vị trí, vai trò của sinh viên hiện nay
Để thành công sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước do Đảng lãnh đạo, nhằm xây dựng xã hội Việt Nam ngày càng trở nên giàu đẹp thì chúng ta cần có nguồn lực con người vững mạnh, đó phải là những con người mới, những con người phát triển toàn diện về mọi mặt, trong đó đức là gốc, là nền tảng hữu ích để giúp mình, giúp nước như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: có đức mà không có tài thì không có đủ năng lực điều hành công việc Có tài mà không có đức dẫn tới hỏng việc, có hại cho cách mạng Với chiến lược phát triển toàn diện phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc, các thế hệ trẻ Việt Nam là đối tượng cần phải chú ý đầu tiên, bởi lẽ, họ “là
Trang 25người chủ tương lai của nước nhà” và “muốn hồi sinh dân tộc Trước hết phải hồi sinh thanh niên”, trong đó đội ngũ sinh viên có vai trò hết sức quan trọng
Tại Hội nghị Trung ương bảy, khoá X, Đảng ta xác định: “thanh niên là lực lượng xã hội to lớn, là một trong những nhân tố quan trọng quyết định tương lai, vận mệnh dân tộc; là lực lượng chủ yếu trên nhiều lĩnh vực, đảm nhiệm công việc đòi hỏi
hi sinh, gian khổ, sức khoẻ và sáng tạo” [7, tr.35], trong đó có sinh viên
Sinh viên là một lực lượng xã hội đặc thù, là lực lượng tinh tuý trong thanh niên Thực tiễn cách mạng Việt Nam chỉ cho chúng ta thấy rằng, sinh viên là những người gắn bó với phong trào cách mạng của Đảng bằng nhiệt huyết, bằng lương tâm, bằng chính những phẩm chất của mình Tổ chức sinh viên yêu nước cũng đã thành lập
từ rất sớm Ngoài ra, có thể kể đến ở đây phong trào sinh viên tình nguyện hiện nay đã chứng minh được mình luôn là lực lượng xã hội đặc biệt Với họ, sức sống của tuổi trẻ, tri thức khoa học, bản lĩnh chính trị và phẩm chất đạo đức luôn gắn bó chặt chẽ với nhau Mặt khác, sinh viên còn là lực lượng dự bị cho đội ngũ trí thức của đất nước và khi họ trở thành những trí thức thì sự đóng góp của họ cho đất nước càng to lớn, càng
có ý nghĩa hơn Trong thư “Gửi Đại hội quốc tế các sinh viên xã hội chủ nghĩa”, Ph.Ăngghen viết rằng: Các bạn hãy cố gắng làm cho thanh niên ý thức được rằng giai cấp vô sản lao động trí óc phải được hình thành từ hàng ngũ sinh viên Tại Hội nghị Trung ương bảy, khoá X Đảng ta khẳng định: “Trong mọi thời đại, trí thức luôn là nền tảng xã hội, đội ngũ tri thức là lực lượng nòng cốt sáng tạo và truyền bá tri thức Bằng hoạt động sáng tạo, trí thức nước ta đã có đóng góp to lớn trên tất cả các lĩnh vực xây dựng, bảo vệ Tổ quốc” [7, tr.81-82]
Thực tiễn chỉ cho chúng ta thấy rằng, muốn có đội ngũ trí thức thì không thể không thông qua đào tạo cơ bản được Bước đầu tiên để xây dựng, đào tạo đội ngũ trí thức tương lai là đào tạo họ trong trường đại học, cao đẳng Với sinh viên, những ngày
họ học ở trường là quá trình tích luỹ tri thức cơ bản, kỹ năng, kỹ xảo, phương pháp tư duy của nghề nghiệp để tiếp tục đi sâu hơn vào sự nghiệp khoa học sau này Vì vậy, hơn bao giờ hết, vấn đề xây dựng đạo đức mới cho đội ngũ sinh viên ngày càng trở nên cấp thiết Đạo đức giúp họ ý thức được trách nhiệm của tuổi trẻ với đất nước, biết sống vì mọi người, giúp cho họ đủ nghị lực tránh xa những cám dỗ của cuộc sống đời thường, tăng cường ý chí vượt qua những khó khăn trong quá trình học tập tu dưỡng bản thân, sống có trách nhiệm với mình và với cộng đồng Ở đây, đạo đức là động lực, là sức
Trang 26mạnh thôi thúc con người dám đấu tranh chống lại cái ác, cái xấu đi ngược lại với lợi ích
xã hội, bảo vệ và phát triển cái tốt, cái thiện, làm cho xã hội ngày càng phát triển
1.3.2 Sự cần thiết của công tác giáo dục tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh cho sinh viên
Một là: Giáo dục đạo đức hướng tới mục tiêu hoàn thiện nhân cách giúp sinh viên trở thành công dân hữu ích của xã hội
Cấu trúc nhân cách của con người nói chung và của sinh viên nói riêng, giữa phẩm chất đạo đức và năng lực luôn có mối quan hệ khăng khít, trong đó, điều ưu tiên hàng đầu phải là đạo đức Nói cách khác, đạo đức là yếu tố nền tảng của nhân cách Trong thời đại ngày nay, khoa học kỹ thuật phát triển như vũ bão, sức cạnh tranh giữa các nước ngày càng mãnh liệt, để có thể tiếp cận được với tương lai, thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, sự nghiệp hoá đất nước, hơn bao giờ hết , người sinh viên hiện nay phải tìm mọi cách vươn lên nắm lấy trí thức của thời đại, phải thực sự trở thành những con người nắm vững chuyên môn, nghiệp vụ, những người có đủ tài, nhưng đây mới chỉ là điều kiện cần mà chưa đủ, người sinh viên đồng thời phải là người có đạo đức trong sáng, bởi lẽ, nếu có tài mà thiếu tình cảm đạo đức trong sáng thì cái tài đó sẽ mất phương hướng hoạt động, hoặc thậm chí còn làm nguy hại đến lợi ích của cộng đồng
Hơn nữa, nhân cách sinh viên là loại hình nhân cách “chưa hoàn chỉnh”, chưa hoàn thiện mà còn ở dạng “định hình”, trong quá trình hình thành nhân cách hoàn chỉnh, do đó, các yếu tố hợp thành nhân cách cần phải được xây dựng ,củng cố, củng
cố, phát triển để đặt đến mẫu hình nhân cách mà xã hội yêu cầu
Giáo dục đạo đức mới để hoàn thiện nhân cách sinh viên là một quá trình đấu tranh giữa cái tiến bộ với cái lạc hậu; cái tích cực với cái tiêu cực trong mỗi chủ thể đạo đức sinh viên.Theo số liệu thống kê của một số tổ chức, cơ quan hay các đề tài nghiên cứu khoa học, cũng như những đánh giá của Đảng ta về công tác sinh viên, hiện lên trước mắt chúng ta một bức tranh đa màu sắc mà ở đó có sự đan xen, lẫn lộn giữa cái tốt và cái xấu, cái tiến bộ với cái lạc hậu trong đời sống sinh viên đòi hỏi chúng ta phải khẩn trương hơn nữa, quyết liệt hơn nữa, cụ thể hơn nữa trong công tác giáo dục đạo đức cách mạng cho thế hệ trẻ hôm nay khi họ còn ngồi trên ghế giảng đường, Tại Hội nghị lần thứ bảy (khoá X) Đảng ta đề ra “Mục tiêu cụ thể trong những năm trước mắt, trọng tâm từ nay đến năm 2010 là: Nâng cao nhận thức chính trị , bồi
Trang 27dưỡng lý tưởng cách mạng cho thanh niên, nhất là học sinh, sinh viên Tập trung giáo dục, định hướng, cổ vũ thanh niên thực hiện có hiệu quả cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, tạo chuyển biến thực sự trong đạo đức, lối sống và hành động của thanh niên” [7 ,tr.44]
Hai là: Giáo dục đạo đức giúp cho sinh viên có niềm tin khoa học vào sự lãnh đạo của Đảng, vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội
Sinh viên là những chủ nhân của tương lai, là người kế tục sự nghiệp xây dựng đất nước, chính vì vậy, họ trở thành mục tiêu tấn công của các thế lực phản động, đang cản trở con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta Với chiến lược “Diễn biến hoà bình”, chúng ta từng giờ, từng ngày tác động vào sinh viên trên các mặt tư tưởng, chính trị , lối sống, đặc biệt là đạo đức nhằm làm xói mòn niềm tin đối với Đảng, làm băng hoại về mặt đạo đức với mục đích biến họ thành những con người ích kỷ, chỉ có biết mình, quay lưng với sự nghiệp xây dựng đất nước mà cha ông đã mất bao nhiêu
mồ hôi, xương máu, hy sinh phấn đấu để xây dựng, bồi đắp nên Chính vì vậy, bên cạnh việc học chữ, thì việc xây dựng đạo đức mới cho sinh viên có vai trò ngày càng quan trọng
Hiện nay, như Hội nghị Trung ương bảy, khoá X của Đảng đánh giá: “Công tác giáo dục, ngăn ngừa và đấu tranh với những tác động, lôi kéo thanh niên của các thế lực thù địch, sự truyền bá lối sống nước ngoài không phù hợp với truyền thống văn hoá dân tộc còn nhiều yếu kém, thậm chí bị buông lỏng” [7, tr.40] Thực tế ấy đòi hỏi chúng ta phải sớm khắc phục, phải giúp cho mọi thanh niên có ý thức ngăn ngừa, phòng chống mọi âm mưu thù địch của các thế lực phản động trong nước cũng như ngoài nước
Đạo đức mới sẽ giúp cho sinh viên có niềm tin khoa học vào chủ nghĩa xã hội, vào sự nghiệp cách mạng, từ đó sẽ xây dựng cho mình quan điểm đúng đắn, biến lý tưởng cao đẹp của Đảng thành hiện thực cuộc sống Đạo đức giúp sinh viên trở thành những con người có ý chí, học tập sáng tạo, chăm chỉ, có tinh thần đoàn kết, biết phấn đấu vì lợi ích chung, có lối sống lành mạnh, tôn trọng kỷ cương, phép nước, quy ước cộng đồng, có ý thức bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái
Ba là: Trang bị cho sinh viên những hiểu biết cơ bản, xây dựng bản lĩnh chính trị trước những tác động từ mặt trái của nền kinh tế thị trường
Trang 28Trong điều kiện kinh tế thị trường, khi pháp luật quản lý xã hội, quản lý kinh tế chưa hoàn chỉnh, những thói hư, tật xấu, tâm lý đòi hỏi sự hưởng thụ, ích kỷ, chỉ muốn thoả mãn nhu cầu của bản thân bằng mọi giá “bất chấp lương tâm, danh dự cũng như lòng tự trọng đạo đức” dễ trỗi dậy, chính lúc này, đạo đức phải trở thành cán cân cơ bản điều chỉnh sự nhận thức đến hành vi ứng xử của mỗi con người, đặc biệt là sinh viên-lớp người nhạy cảm, dễ tiếp thu cái tốt, nhưng cũng rất dễ ngộ nhận dẫn đến việc nhận thức sai lệch, đưa họ tới những hành vi lệch lạc, ảnh hưởng đến chính nhân cách của mình
Ngày nay đạo đức con người đang được xã hội quan tâm Dưới sự tác động từ những mặt trái của nền kinh tế thị trường, việc mở cửa hội nhập các tổ chức thương mại khu vực và thế giới dẫn đến sự lai căn, hội nhập các luồng văn hoá ngoại lai Sự tác động đó ảnh hưởng đến tất cả các tầng lớp trong xã hội, nhưng bộ phận bị ảnh hưởng nhiều nhất là bộ phận học sinh sinh viên dẫn đến xuất hiện ngày càng nhiều hiện tượng lệch chuẩn với đạo đức truyền thống của dân tộc Nó khiến cho không ít học sinh, sinh viên rơi vào chủ nghĩa cá nhân, suy thoái đạo đức, nhạt phai lý tưởng, thiếu chí tiến thủ, chạy theo lối sống thực dụng, buông thả, sa vào các tệ nạn xã hội Việc xây dựng cho họ những quan điểm, phẩm chất đạo đức mới, lối sống lành mạnh sẽ giúp cho sinh viên nhận diện được những việc làm phi đạo đức, dám đấu tranh chống lại hiện tượng tiêu cực, phản văn hoá trong xã hội (đây là một phẩm chất rất quan trọng cho mỗi sinh viên ở cương vị công tác sau này của mình), hướng sinh viên phát triển theo hướng lành mạnh, tích cực, tự tạo ra khả năng phòng chống sự băng hoại về đạo đức của bản thân, tin tưởng vào cuộc sống, từ đó, giúp họ xác định đúng đắn động cơ, thái độ học tập của mình, có hướng phấn đấu, rèn luyện để thành tài, giúp ích cho bản thân và cho xã hội
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN SƯ PHẠM TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC THEO TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH
Trang 292.1 Thực trạng giáo dục đạo đức cho sinh viên sư phạm Trường Đại học Tây Bắc theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh
2.1.1 Vài nét về trường Đại học Tây Bắc và đặc điểm sinh viên Trường Đại học Tây Bắc
Để đáp ứng yêu cầu đào tạo đội ngũ giáo viên tại chỗ, phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội ở Tây Bắc trong thời kỳ mới, ngày 30/06/1960, Bộ trưởng Bộ Giáo dục Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Nguyễn Văn Huyên đã kí Quyết định số 267/QĐ về việc thành lập Trường Sư phạm cấp II liên tỉnh, trong đó có Trường Sư phạm cấp II đặt tại Khu Tự trị Thái - Mèo
Sự ra đời của Trường Sư phạm cấp II Khu Tự trị Thái - Mèo là sự kiện lịch sử trọng đại đối với sự nghiệp phát triển văn hoá, giáo dục ở Tây Bắc Trường Sư phạm cấp II Khu Tự trị Thái - Mèo được thành lập không chỉ đáp ứng được yêu cầu đào tạo đội ngũ giáo viên tại chỗ cho các tỉnh Tây Bắc, đặc biệt là đội ngũ giáo viên dân tộc ít người ở địa phương, mà còn đặt nền móng cho một trường đại học đa ngành ở Tây Bắc về sau này
Trong 20 năm đầu tiên là thời kì Nhà trường phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức Nhưng bằng ý chí và nghị lực vượt khó, Trường đã không ngừng vươn lên, trưởng thành Đội ngũ cán bộ, giáo viên không ngừng tăng lên Công tác đào tạo có nhiều chuyển biến tích cực Các đoàn thể quần chúng ngày càng vững mạnh Thành tựu rực rỡ nhất của Nhà trường trong 20 năm xây dựng và phát triển là đã đào tạo, bồi dưỡng được 2.271 giáo viên (thuộc các hệ 7+2, 7+3, 10+3 và Cao đẳng bồi dưỡng), trong đó có 490 giáo viên người dân tộc thiểu số Đây là kết quả sự nỗ lực phấn đấu đầy tâm huyết của tập thể Đảng uỷ, Ban Giám hiệu, cùng toàn thể cán bộ, giáo viên và giáo sinh Nhà trường
Thành tựu này thực sự đã góp phần tạo cơ sở nền tảng cho Nhà trường phát triển đi lên trong các giai đoạn sau
Ngày 06 tháng 04 năm 1981, Hội đồng Chính phủ đã ra Quyết định số 146/CP, nâng cấp Trường Sư phạm cấp II (10+3) Tây Bắc thành Trường Cao đẳng Sư phạm Tây Bắc
Trường Sư phạm cấp II (10+3) Tây Bắc được công nhận là Trường Cao đẳng
Sư phạm Tây Bắc không chỉ là sự thay đổi thuần tuý về tên gọi mà còn là sự khẳng định bước phát triển mạnh mẽ về chất của Nhà trường Từ đây, Nhà trường đã đào tạo
Trang 30đội ngũ giáo viên cấp II có trình độ chuẩn quốc gia - cao đẳng sư phạm, cho các tỉnh Tây Bắc Đây là kết quả của quá trình phấn đấu xây dựng không mệt mỏi của các thế
hệ giáo viên, cán bộ, giáo sinh đã vượt qua mọi khó khăn, thử thách đưa Nhà trường không ngừng phát triển đi lên Việc công nhận Nhà trường là Trường Cao đẳng Sư phạm Tây Bắc cũng thể hiện sự quan tâm của Trung ương mà trực tiếp là Bộ Giáo dục đối với sự nghiệp giáo dục ở miền Tây Bắc của Tổ quốc, nơi mà sự nghiệp giáo dục còn gặp nhiều khó khăn, trình độ dân trí thấp, nhu cầu về giáo dục luôn đặt ra bức thiết
Năm 1982 kết thúc khóa đào tạo giáo viên 10+3 cuối cùng, Nhà trường từ đó chỉ đào tạo hệ cao đẳng chính quy, cao đẳng bồi dưỡng và Dự bị cao đẳng 7+2 Kết thúc năm học 1982 - 1983, Nhà trường đã cho ra đời những sản phẩm đầu tiên của hệ cao đẳng sư phạm chính quy
Từ năm học 1986 - 1987, Nhà trường bắt đầu mở các lớp Dự bị 1 năm để đáp ứng nguồn đào tạo, vì thời điểm này thí sinh dự thi vào Trường ít, thường không đủ chỉ tiêu tuyển sinh
Ngoài việc đào tạo giáo viên cho hai tỉnh Sơn La, Lai Châu, trong khoá học 1984 -
1987, Nhà trường còn làm nhiệm vụ đào tạo giáo viên cho Nước Cộng hoà Dân chủ nhân dân Lào, đã có 14 sinh viên hệ cao đẳng chính quy tốt nghiệp trở về nước công tác
Về công tác đào tạo đội ngũ, từ đầu những năm 1980, số lượng giáo viên của Trường tăng lên nhanh chóng Nhiều thầy, cô tốt nghiệp các trường Đại học Sư phạm
Hà Nội, Đại học Sư phạm Việt Bắc, Đại học Sư phạm Hà Nội 2, Đại học Sư phạm Vinh tiếp tục được Bộ Giáo dục điều lên tăng cường cho Nhà trường
Tuy nhiên, đội ngũ cán bộ giáo viên của Trường không ổn định, số cán bộ giảng dạy hàng năm chuyển vùng rất lớn Tình hình đó đặt ra yêu cầu phải ổn định đội ngũ cán bộ giảng dạy mới có thể củng cố được đội ngũ, nâng cao chất lượng đào tạo Trước yêu cầu đó Đảng uỷ, Ban Giám hiệu đã có tầm nhìn chiến lược về công tác quản
lí cán bộ và đào tạo đội ngũ
Trong những năm 1983 - 1985, ngoài việc tiếp tục cử các học sinh Dự bị dự thi vào các trường đại học, hàng năm, Nhà trường còn chọn 20 - 30 sinh viên đã tốt nghiệp cao đẳng sư phạm gửi đi học chuyên tu ở Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
và Trường Quản lí Giáo dục Sau khi tốt nghiệp, số sinh viên này trở về Trường công tác, bổ sung một số lượng đáng kể vào đội ngũ cán bộ giảng dạy của Trường
Trang 31Tuy vậy, Nhà trường lại phải đối mặt với một sự thật hết sức nghiệt ngã đó là sinh mệnh của Trường Cao đẳng Sư phạm Tây Bắc đã nhiều lần được đặt lên “bàn cân” của Bộ Giáo dục Đầu năm 1991, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có chủ trương sáp nhập Trường Cao đẳng Sư phạm Tây Bắc với Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 để thành lập Trường Đại học Tây Bắc, đóng tại thị xã Hoà Bình
Như vậy sau hơn 40 năm xây dựng và phát triển (1960 - 2000) là chặng đường đầy gian nan thử thách, song với bề dày truyền thống, với ý chí quyết tâm và trí tuệ tập thể, Nhà trường vẫn tìm ra giải pháp hiệu quả, có tính chất quyết định bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển đi lên của Trường Thành tựu lớn nhất trong công tác đào tạo của Nhà trường thời kỳ này là đã đào tạo, bồi dưỡng được 4.219 giáo viên có trình độ 10+3 và cao đẳng sư phạm cho sự nghiệp giáo dục các tỉnh Tây Bắc Với những thành tựu của Nhà trường đạt được trong thời kỳ này đã góp phần tạo cơ sở, nền tảng để Trường Cao đẳng
Sư phạm Tây Bắc vươn lên trở thành trường đại học đa ngành ở khu vực Tây Bắc
Tóm lại, trong 55 năm xây dựng phát triển, Trường Đại học Tây Bắc đã vượt qua mọi khó khăn gian khổ, từng bước phát triển đi lên và đạt được những thành tựu rực rỡ về tất cả các mặt Một trong những thành tựu rực rỡ nhất của Nhà trường đạt được thời gian qua là đã xây dựng được đội ngũ giáo viên cán bộ hùng hậu nhất trong lịch sử 55 năm của Nhà trường Hiện nay, Trường có 1 Phó Giáo sư, 4 Nhà giáo Ưu tú,
11 Tiến sĩ và 145 Thạc sĩ và 30 nghiên cứu sinh; Nhà trường đã đào tạo được hàng chục nghìn sinh viên thuộc các ngành Sư phạm, Nông lâm, Kinh tế, Khoa học máy tính Hầu hết những Cử nhân tốt nghiệp dưới mái Trường Đại học Tây Bắc ra trường đều có việc làm, được xã hội thừa nhận, đánh giáo cao; trong số những sinh viên tốt nghiệp, nhiều em đã trở thành giảng viên của các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và có không ít sinh viên đã thi đỗ vào các lớp Thạc sĩ của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Trường Đại học Quốc gia
Về đặc điểm sinh viên trường Đại học Tây Bắc:
Tổng số sinh viên hiện nay của trường Đại học Tây Bắc là 7352 sinh viên, trong đó tổng số sinh viên khối sư phạm là 5513 sinh viên, tổng số sinh viên khối ngoài sư phạm là 1991 Vùng tuyển sinh của nhà trường từ Hà Tĩnh trở ra và gồm cả
du học sinh Lào Với những đặc điểm tuyển sinh như vậy, cơ cấu thành phần sinh viên theo dân tộc của trường cũng rất đa dạng với đặc điểm nổi bật là sinh viên người dân
Trang 32tộc thiểu số chiếm tỷ lệ lớn 95.8% với 7042 sinh và tỉ lệ sinh viên là người dân tộc kinh là 4.2% với 305 sinh viên
Với những đặc điểm trên, sinh viên trường Đại học Tây Bắc cũng có rất nhiều đặc điểm tích cực trong hoạt động và rèn luyện đạo đức, đó là: luôn mang trong mình những nỗ lực, tinh thần đoàn kết, say mê, tìm tòi, học hỏi để nâng cao và rèn luyện đạo đức bản thân đây sẽ là những thuận lợi giúp sinh viên trường Đại học Tây Bắc hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình Sinh viên trường Đại học Tây Bắc luôn nhận được sự quan tâm, giúp đỡ, sự chỉ đạo tận tình từ phía nhà trường, của các giảng viên Cơ sở vật chất của trường ngày càng hoàn thiện và đi vào hoạt động, đem lại sự thuận tiện, hiệu quả cao trong việc hỗ trợ trong công tác học tập và rèn luyện của sinh viên
Bên cạnh những ưu điểm thì sinh viên trường Đại học Tây Bắc vẫn còn tồn tại những hạn chế nhất định, có thể thấy tỉ lệ sinh viên người dân tộc thiểu số là rất lớn cùng với đó vùng tuyển sinh của nhà trường cũng khá rộng (từ Hà Tĩnh trở ra) nên số lượng sinh viên sống tự lập là rất lớn Các yếu tố trên sẽ có những tác động, ảnh hưởng đến vấn đề đạo đức của sinh viên, việc sống xa gia đình làm cho sinh viên ít nhận được
sự quan tâm, quản lý trực tiếp từ gia đình cùng với những tác động từ môi trường xung quanh sẽ tác động tiêu cực đến sinh viên
Với tất cả những đặc điểm như trên đã tác động, ảnh hưởng sâu sắc đến vấn đề giáo dục đạo đức của sinh viên trường Đại học Tây Bắc hiện nay
2.1.2 Thực trạng đạo đức sinh viên sư phạm Trường Đại học Tây Bắc
Điểm nổi bật đầu tiên khi ta nghĩ về sinh viên, đó là những con người năng động và sáng tạo Chính sinh viên là những người tiên phong trong mọi công cuộc cải cách, đổi mới về kinh tế, giáo dục trong đầu họ luôn đầy ắp các ý tưởng độc đáo và thú vị; và họ tận dụng mọi cơ hội để biến các ý tưởng ấy thành hiện thực Không chỉ chờ đợi cơ hội đến, họ còn tự mình tạo ra cơ hội Đã có nhiều sinh viên nhận được bằng phát minh, sáng chế; và không ít trong số những phát minh ấy được áp dụng, được biến thành những sản phẩm hữu ích trong thực tiễn Với thế mạnh là được đào tạo vừa toàn diện vừa chuyên sâu, sinh viên có mặt trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội của đất nước Trong học tập, sinh viên không ngừng tự đổi mới phương pháp học sao cho lượng kiến thức họ thu được là tối đa Không chờ đợi, thụ động dựa vào thầy cô, họ tự mình đọc sách, nghiên cứu, lấy thông tin, tài liệu từ mọi nguồn Phần lớn sinh viên đều
có khả năng thích nghi cao với mọi môi trường sinh sống và học tập Họ không chỉ